Monday, July 6, 2015

Quan hệ Mỹ - Việt và chuyến thăm của ông Trọng


null
Không nhiều ồn ào quanh chuyến đi của ông Nguyễn Phú Trọng

Mặc dù ông Trọng không trực tiếp kiểm soát chính quyền, khả năng đưa ra đường lối của Đảng Cộng sản (ĐCS) là rất lớn.
Ông Trọng là người bị giằng xé giữa quá khứ và tương lai.
Hai mươi năm sau khi quan hệ ngoại giao được tái lập, nhiều người trong ĐCS vẫn nghi ngờ ý định của Hoa Kỳ trong lúc người dân Việt Nam coi quan hệ với Hoa Kỳ là quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế và an ninh.
Dù Chủ tịch Trương Tấn Sang đã gặp Tổng thống Obama ở Nhà Trắng hồi tháng Bảy năm 2013, đây là lần đầu tiên Tổng Bí thư ĐCS gặp Tổng thống Hoa Kỳ.
Trong nhiều năm qua, trở ngại là vấn đề nghi thức: ông Trọng là lãnh đạo đảng, không phải nguyên thủ quốc gia khiến người ta kêu gọi thống nhất hai vị trí giống như ở Trung Quốc. Nhưng Việt Nam tự hào về lãnh đạo tập thể và đã không thay đổi.
Nhưng hai nước hiểu rằng thắt chặt quan hệ là quá quan trọng và không thể để vấn đề nghi thức cản trở.

'Không đình đám'

Chuyến đi của ông Trọng được xem là không đình đám và ít lễ nghi. Nhưng một loạt ủy viên cao cấp của Bộ Chính trị đã có những chuyến thăm thầm lặng nhưng rất xây dựng tới Washington.
Mối quan hệ đang được vun đắp tại những cấp cao nhất và trong mọi lĩnh vực bao gồm quốc phòng, thực thi luật pháp, thương mại và đầu tư.

Việt Nam bước đi thận trọng với Biên bản Ghi nhớ hồi năm 2011 về hợp tác quốc phòng và Hoa Kỳ đã có sự kiên nhẫn hiếm thấy do ý thức được thực tế chiến lược của Hà Nội. Hai bên đã có được sự tin cậy và giờ đang thắt chặt quan hệ an ninh.
Việc bỏ một phần cấm vận vũ khí hồi năm 2014 là bước phát triển quan trọng dù chủ yếu mang tính biểu tượng.
Ông Trọng sẽ kêu gọi bỏ toàn bộ cấm vận nhưng chuyện bỏ toàn bộ cấm vận cũng sẽ không làm thay đổi căn bản quan hệ hai bên.
Nga và Ấn Độ sẽ vẫn là những nước cung cấp vũ khí hàng đầu cho Việt Nam ngay cả khi Việt Nam sản xuất nhiều vũ khí theo giấy phép hơn.
Hoa Kỳ có thể lấp đi những lỗ hổng, chẳng hạn các vũ khí chống tàu ngầm.
Hoa Kỳ muốn có thêm những chuyến cập cảng [cho tàu quân sự], nhiều hơn so với mức một năm một lần hai bên đã đồng ý hồi năm 2011.
Hai bên cũng đã có những cách để hợp tác nhiều hơn nhưng ít có khả năng Việt Nam cho phép Hoa Kỳ vào Cảng Cam Ranh.
Hoa Kỳ còn muốn triển khai trước các trang thiết bị cứu trợ, cứu nạn như họ đã làm ở Thái Lan.
Ngoài ra Hoa Kỳ sẽ thúc đẩy để có thêm tập trận hải quân song phương và đa phương với Việt Nam và đây cũng là điều quan trọng với Việt Nam vốn tăng cường đáng kể hải quân nhưng kinh nghiệm, học thuyết và đào tạo còn hạn chế.

Yếu tố Trung Quốc

Hai bên xích lại gần nhau hơn do sự táo bạo của Trung Quốc ở Biển Đông.
Dù Hoa Kỳ không có quan điểm chính thức về chủ quyền biển đảo, Washington chia sẻ sự hoảng hốt của Việt Nam trước tốc độ và quy mô xây dựng bảy đảo mới của Trung Quốc.
Nhưng hai bên lại có khác biệt liên quan tới ý nghĩa chiến lược.
Hoa Kỳ quan tâm tới tự do hàng hải, không chỉ chuyện hàng hóa trị giá 5.000 tỷ đi qua vùng biển đó, mà còn quyền ra vào hải phận của hải quân.
Hoa Kỳ coi việc xây dựng phi trường ở Hoàng Sa và Đá Chữ Thập là nhằm để có khả năng thiết lập vùng nhận dạng phòng không.
Cuối cùng, Hoa Kỳ lo ngại Trung Quốc toan cản Hoa Kỳ vào Biển Đông để triển khai tàu ngầm mang vũ khí hạt nhân.
Hà Nội có quan ngại cấp bách hơn: Họ cho rằng Trung Quốc đang tăng cường khả năng để ngăn chặn họ khai thác tài nguyên tự nhiên cũng như chặn đường tới 28 đảo và rặng đá.
Nếu Trung Quốc ngăn chặn Việt Nam tiếp tế cho các cơ sở [trên biển] của họ thì liệu Hoa Kỳ có coi đó là vi phạm tự do hàng hải và như vậy là đe dọa tới lợi ích chiến lược của Hoa Kỳ?
null
       Trung Quốc ngày càng táo bạo trên Biển Đông
Dù quan hệ song phương đã được cải thiện nhiều so với hồi năm 2014 khi Trung Quốc đặt giàn khoan lớn nhất của họ HY981 trong thềm lục địa của Việt Nam một cách khiêu khích, Hà Nội ý thức được rằng Trung Quốc vẫn còn nhiều công cụ để sử dụng nếu như họ muốn đẩy căng thẳng lên cao hoặc thực thi tuyên bố chủ quyền.
Những công cụ này bao gồm sức mạnh quân sự, lực lượng tuần duyên lớn nhất trong vùng, các đội tàu đánh cá và các tàu khai thác dầu.
Việc Trung Quốc đặt giàn khoan HY981 gần với biên giới biển của Việt Nam hồi tháng Sáu năm 2015 là nhằm để gửi tín hiệu tới Hà Nội rằng quan hệ được nâng cao giữa Hà Nội và Washington không thể cản được Trung Quốc theo đuổi các quyền lợi quốc gia.

'Xoay trục chiến lược'

Cả chính quyền và người dân Việt Nam đều xem Hoa Kỳ như lực cân bằng quan trọng đối với Trung Quốc. Nhưng Hà Nội muốn có đảm bảo rằng sự xoay trục chiến lược không chỉ là chính sách nhất thời của một tổng thống sắp hết nhiệm kỳ mà là chính sách sẽ được các chính quyền tương lai theo đuổi.
Và Hà Nội cũng nhấn mạnh lại rằng cốt lõi của chính sách an ninh của họ vẫn là đa phương với quan hệ gần gũi với Ấn Độ, Nga, ASEAN, Nhật Bản, cũng như Hoa Kỳ.
Về mặt kinh tế, có rất nhiều liên hệ quan trọng. Việt Nam đã trở thành nước ASEAn xuất khẩu nhiều nhất vào Hoa Kỳ và có thặng dư thương mại.
Dù thương mại song phương với Hoa Kỳ vẫn ở dưới mức 50 tỷ kim ngạch thương mại Việt - Trung, nó có ý nghĩa quan trọng hơn nhiều với nền kinh tế Việt Nam.
Trung Quốc có thâm hụt thương mại đáng kể với Việt Nam và hàng hóa rẻ của họ tràn ngập thị trường trong khi họ nhập khẩu các nguyên liệu thô như bauxite khiến dư luận bất bình vì lo ngại ảnh hưởng tới môi trường.
Đầu tư của Trung Quốc vào Việt Nam cũng mang tính chính trị và gây lo ngại về an toàn, chất lượng cũng như số lượng lớn công nhân Trung Quốc vào Việt Nam.
Việt Nam thu hút được nhiều đầu tư trực tiếp mang lại giá trị gia tăng nhiều hơn từ Hoa Kỳ, Nhật Bản và các công ty phương Tây.
Trong một khảo sát gần đây của Pew, 69% người Việt Nam được hỏi nói có quan hệ thương mại với Mỹ quan trọng hơn trong khi chỉ có 18% nói quan hệ thương mại với Trung Quốc quan trọng hơn.
null
                   Việt Nam xuất siêu vào Hoa Kỳ
Không nước nào phải thay đổi nhiều để tham gia Hiệp ước Đối tác Xuyên Thái Bình Dương TPP như Việt Nam, bao gồm giảm các lợi thế đối với doanh nghiệp nhà nước.
Điều này cũng cho phép các nhà cải cách Việt Nam thúc đẩy những cải cách cần thiết, chấm dứt những bảo hộ thiếu hiệu quả vốn ngăn cản sự phát triển.
Theo khảo sát của Pew, 89% người Việt Nam nói tư cách thành viên TPP là điều tốt, mức ủng hộ cao nhất trên thế giới.Tuy nhiên cảm trở lớn nhất đối với cải cách doanh nghiệp nhà nước và tư nhân hóa vẫn là các quan chức chính quyền vốn lo ngại rằng cải cách thị trường sẽ giảm khả năng kiếm lợi của họ.

Vấn đề nhân quyền và di sản cuộc chiến

Nhân quyền vẫn là vấn đề gai góc nhất trong quan hệ song phương.
Những người bảo thủ trong ĐCS tin rằng Hoa Kỳ dùng vấn đề nhân quyền để làm phương hại sự độc quyền quyền lực của ĐCS.
Hoa Kỳ xem chính quyền Việt Nam như đối tác chính trong vùng nhưng cũng kiên quyết đề nghị Việt Nam tuân thủ các nghĩa vụ quốc tế về nhân quyền, nhất là tôn trọng luật pháp, quyền tự do tín ngưỡng, tự do ngôn luận và tự do hội họp.
null
Vấn đề nhân quyền vẫn là gai góc nhất trong quan hệ Việt - Mỹ
Hoa Kỳ hài lòng rằng trong năm 2015, chính quyền Việt Nam chỉ bắt một nhà bất đồng chính kiến dù nhiều người khác đã bị đánh đập, sách nhiễu và trấn áp.
Dù Hà Nội đã trả tự do cho luật sư bất đồng chính kiến Lê Quốc Quân, việc họ sử dụng cáo buộc "trốn thuế" cho thấy đây là công cụ mới để tấn công các blogger và những người khác quan điểm.
Mặc dù còn nhiều vấn đề nhân quyền, Hoa Kỳ cần để ý tới những cải cách từ từ nhưng có ý nghĩa về quyền con người.
Điều này bao gồm kêu gọi của Chủ tịch Sang về chấm dứt bức cung và ép cung của cảnh sát, điều khiến cho một số cảnh sát và quan tòa bị truy tố.
Chính quyền cũng đã thôi trấn áp mạng xã hội và vô hình chung chấp nhận nó và mạng xã hội giờ là nguồn tin chủ yếu của nhiều người. Đây cũng là điểm quan trọng nữa.
Không gian cho bất đồng chính kiến và chia sẻ thông tin vẫn còn rất hạn chế nhưng nó cũng chưa bao giờ tự do như hiện nay.
Các nhà lãnh đạo dần nhận ra rằng kiểm soát internet đe dọa ngành công nghiệp phần mềm và công nghệ thông tin.
Cũng vậy, chuyện công nhân đã đòi lại được quyền lợi sau biểu tình chưa từng có hồi tháng Ba, tháng Tư năm 2015 sẽ càng làm cho đình công thêm nhiều.
Hoa Kỳ phải nhận thấy rằng dù Việt Nam vẫn là quốc gia độc đảng vốn không chấp nhận bất đồng, giới lãnh đạo đang ngày càng thích ứng với người dân hơn.
Điều này càng đúng với sự chuyển đổi lãnh đạo quan trọng dự kiến diễn ra ở Đại hội Đảng lần thứ 12 vào năm 2016 khi các quan chức trẻ hơn, được đào tạo tốt hơn, hiểu truyền thông và internet hơn bước vào các vị trí lãnh đạo.
Việt Nam đang thay đổi cho dù họ vẫn có những đợt trấn áp khi này khi khác và điều này cho thấy còn có nhiều thứ cần thay đổi.
Việt Nam vẫn là một trong các quốc gia hàng đầu về bỏ tù nhà báo và blogger.
Chuyện đóng cửa cả một tờ báo vì quá hăng hái đưa tin về tham nhũng của chính quyền đi ngược lại cam kết diệt trừ tham nhũng của chính phủ cho dù tham nhũng được xem là đe dọa sự tồn vong của ĐCS.
null
Chất độc Tác nhân Cam được cho là đã ảnh hưởng tới thế hệ thứ ba ở Việt Nam
Quan hệ song phương thể hiện mạnh mẽ nhất trong giao lưu giữa nhân dân hai nước. Trong năm 2013-2014 có hơn 16.500 sinh viên Việt Nam học tại các đại học Hoa Kỳ, chiếm 35% tổng sinh viên từ ASEAN và bằng tổng số sinh viên từ Philippines, Thái Lan và Malaysia cộng lại.
Sự trở lại của Việt kiều trong vai các doanh gia, nhà đầu tư và những người quản lý có ảnh hưởng lớn tới nền kinh tế.
Và cuối cùng là các vấn đề tồn tại từ cuộc chiến. Tới nay Hoa Kỳ đã cung cấp 130 triệu đô la để tẩy rửa Tác nhân Cam.
Nhưng vẫn chưa có ngân sách dành riêng hay đủ để tẩy rửa các khu khác ngoài sân bay Đà Nẵng như sân bay Biên Hòa hay [trợ giúp] 4,5 triệu người bị phơi nhiễm.
Hoa Kỳ nhất mực coi đây là vấn đề nhân đạo, không phải là bồi thường chiến tranh.
Nhưng nếu Hoa Kỳ muốn đẩy mạnh quan hệ, họ phải đối mặt với trách nhiệm bằng cách giải quyết quá khứ.

TBT Trọng đi Mỹ: Chuyến đi mở cục diện mới


Nếu như chuyến đi Trung Quốc của Tổng thống Mỹ Richard Nixon năm 1972 đã mở ra một cục diện mới trong tam giác quan hệ Xô-Trung-Mỹ thì chuyến đi Mỹ của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng trong những ngày này cũng sẽ mở ra một cục diện mới trong tam giác quan hệ Việt-Trung-Mỹ.
Và nếu như cái bắt tay của Tổng thống Nixon và Chủ tịch Mao Trạch Đông năm đó đã đặt nền tảng cho những biến chuyển sâu rộng trong nội địa Trung Quốc cả mấy chục năm về sau thì cái bắt tay giữa Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng và Tổng thống Barack Obama mùa hè này cũng sẽ đặt nền tảng cho những biến chuyển sâu rộng sẽ diễn ra ở Việt Nam trong nhiều năm tới.

Ý nghĩa lịch sử


Ta sẽ nhìn thấy ý nghĩa lịch sử của sự kiện này khi đặt nó trong tầm nhìn lịch sử.
null
Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng tiếp Bộ trưởng Quốc phòng Ashton Carter tại Hà Nội 1/6/2015
Người ta thường nói đây là lần đầu tiên người đứng đầu Đảng Cộng sản Việt Nam được tiếp đón như quốc khách ở Nhà Trắng. Chính phủ Mỹ đã vượt qua các thông lệ lễ tân để đón một vị lãnh đạo đảng (lại còn là Đảng Cộng sản) nhưng không mang chức vụ gì trong chính quyền quốc gia.
Điều này nói lên tính chất quan trọng của chuyến đi và của mối quan hệ Việt-Mỹ. Nhưng nó không phải là ý nghĩa lịch sử chủ yếu của sự kiện này.
Ý nghĩa lịch sử lớn hơn của sự kiện này là vai trò của nó trong dòng lịch sử hiện đại Việt Nam cũng như trong mối quan hệ tay ba giữa Việt Nam, Mỹ và Trung Quốc.
Từ nhiều thập kỷ nay, chính trị Việt Nam không nằm ngoài mối quan hệ tay ba Việt-Trung-Mỹ. Nói như vậy không có nghĩa là Việt Nam bị lệ thuộc vào hai nước lớn dù rằng Việt Nam phải chịu ảnh hưởng ít nhiều từ hai nước này.
Là một “đỉnh” trong “tam giác” (cũng như Mỹ và Trung Quốc), Việt Nam sẽ có cơ hội thể hiện được tính chủ động, độc lập của mình trong việc xử lý mối quan hệ với hai nước còn lại.
Cách đây 25 năm, lãnh đạo Việt Nam đứng trước một hoàn cảnh lịch sử hết sức khó khăn khi khối đồng minh Đông Âu tan vỡ, “anh cả” Liên Xô xuống dốc và rút dần cam kết, trong khi thực lực Việt Nam chỉ trông chờ chủ yếu vào ý chí và tay không.


Xử lý mối quan hệ với Mỹ và Trung Quốc trở nên một vấn đề sống còn hơn bao giờ hết.
Tháng 9 năm 1990, sau khi Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh cùng Thủ tướng Đỗ Mười bí mật đi Thành Đô gặp lãnh đạo Trung Quốc thì Ngoại trưởng Nguyễn Cơ Thạch cũng đi Washington gặp ngoại trưởng Mỹ không chính thức.
Ở Thành Đô, Trung Quốc đặt điều kiện bình thường hoá quan hệ, ông Linh ông Mười đồng ý hết. Ở Washington, Mỹ không chịu bỏ cấm vận, cũng chưa tính chuyện sớm bình thường hoá quan hệ, ông Thạch đành về tay không.
Những gì sau đó là lịch sử. Việt Nam đặt mình vào quỹ đạo Trung Quốc với hy vọng có “ông anh đỏ” chống lưng sẽ giữ được chế độ.
Ông Thạch, người đã có cuộc cãi vã với phái viên Trung Quốc Từ Đôn Tín tháng 6 năm 1990 và có “nickname” là “Mr. America”, bị “thí tốt” phải về hưu, coi như món quà cống nạp “thiên triều”. (Bạn đọc có thể tham khảo cuốn “Hồi ức và Suy nghĩ” của ông Trần Quang Cơ vừa mới từ trần để hiểu thêm về giai đoạn này).
Trong suốt hơn chục năm sau, dù Việt Nam vẫn ra sức tăng cường quan hệ với Mỹ, nhưng những sự “ra sức” này bị giới hạn nặng nề. Năm 1999, Thủ tướng Phan Văn Khải đã chuẩn bị ký Hiệp định Thương mại với Mỹ ở Auckland rồi lại phải hoãn, vì có sự ngăn chặn của một lãnh đạo còn cao hơn.

Cách nhìn mới

Lên cầm quyền năm 2001, chính quyền mới ở Mỹ của Tổng thống George W. Bush có cách nhìn mới về Việt Nam, muốn nói chuyện chiến lược với Việt Nam nhưng phía Việt Nam từ chối.
Mỹ có cách nhìn mới về Việt Nam vì họ có cách nhìn mới về Trung Quốc, coi nước này là “đối thủ chiến lược” chứ không phải là “đối tác chiến lược”. Trong 8 năm tại vị, chính quyền Bush đã có nhiều nỗ lực lôi kéo Việt Nam về phía mình và đưa quan hệ với Việt Nam lên tầm chiến lược. Một ví dụ là năm 2008, Mỹ đã chủ động mời Việt Nam gia nhập khối Đối tác Kinh tế Xuyên Thái Bình Dương (TPP).
null
Thái độ này của chính quyền Bush (con) khác hẳn với thái độ của chính quyền Bush (cha) trước đây và kể cả của chính quyền Clinton. Chủ trương của cả hai chính quyền Bush (cha) và Clinton là nhường Trung Quốc đi trước một bước trong tiếp cận với Việt Nam. Ngược lại, chính quyền Bush 2001-2008 mong muốn biến Việt Nam thành một đối tác chiến lược của Mỹ.
Trong bối cảnh thay đổi ấy, đi thăm Trung Quốc tháng 12 năm 2001 sau khi lên Tổng bí thư, ông Nông Đức Mạnh đồng ý đưa câu “chống chủ nghĩa bá quyền”, câu “mật khẩu” của Trung Quốc để tập hợp lực lượng chống Mỹ, vào Tuyên bố chung. Đây là lần đầu tiên, và cũng là lần cuối cùng, câu này có trong Tuyên bố chung giữa Việt Nam và Trung Quốc.
Đó là lần cuối cùng bởi vào tháng 7 năm 2003, sau khi Mỹ tấn công đánh chiếm Iraq chỉ trong vài tuần, Hội nghị Trung ương 8 khoá 9 ra nghị quyết lịch sử về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới” với định nghĩa mới về đối tượng và đối tác, không gắn vấn đề bạn thù với ý thức hệ nữa.


Tuy Nghị quyết 13 Bộ Chính trị năm 1988 (tác phẩm của ông Nguyễn Cơ Thạch) đã đề ra chủ trương mở sang phương Tây, phải với Nghị quyết Trung ương 8 năm 2003, cửa thông sang Mỹ và phương Tây mới thực sự mở rộng.
Chỉ trong vòng 5 tháng sau Hội nghị Trung ương 8, một loạt quan chức cao cấp của Việt Nam đồng loạt đi Mỹ, trong đó có cả Bộ trưởng Quốc phòng Phạm Văn Trà và Phó Thủ tướng Vũ Khoan.
Nghị quyết 8 cũng bỏ rào cản về ý thức hệ để Việt Nam thực sự muốn gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Quá trình Việt Nam xin gia nhập WTO đã khởi động từ giữa thập niên 1990 nhưng vẫn ì ạch cầm chừng, sau Nghị quyết 8 mới được đẩy nhanh.
Nếu như những năm 1990-2003 Việt Nam không thể lại gần vị trí có khoảng cách đều nhau giữa Mỹ và Trung Quốc chứ chưa nói đến đứng ở đó, thì sau năm 2003, vị trí đó trở nên có thể về lý thuyết tuy vẫn chưa thể trong thực tiễn.

Thế cân bằng


Chuyến thăm Mỹ của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng sẽ đưa Việt Nam tới một vị trí có khoảng cách đồng đều giữa Mỹ và Trung Quốc, đồng thời mở ra khả năng Việt Nam vượt qua “làn phân thuỷ” để bước sang khu vực gần Mỹ hơn.
Ông Trọng và ông Obama sẽ nâng cấp mối quan hệ “đối tác toàn diện” giữa hai nước lên “đối tác toàn diện sâu rộng” với một “tuyên bố tầm nhìn chung”, thể hiện tính chiến lược trường kỳ của mối quan hệ.
Việc đoàn ông Trọng có thêm 2 Uỷ viên Bộ Chính trị nữa đi cùng cho thấy Việt Nam coi trọng mối quan hệ với Mỹ như thế nào. Tuy đoàn ông Trọng đi Trung Quốc tháng 4 vừa qua có tới 4 Uỷ viên Bộ Chính trị đi cùng Tổng bí thư, nhưng khi ông đi thăm các nước bạn bè thân thiết nhất của Việt Nam như Lào, Cuba, Nga, mỗi đoàn cũng chỉ có thêm 1 Uỷ viên Bộ Chính trị đi cùng.
Tuy đoàn đi Trung Quốc hùng hậu như thế, quan hệ với Trung Quốc trên danh nghĩa còn là “đối tác hợp tác chiến lược toàn diện” với “16 chữ vàng” và phương châm “4 tốt”, nhưng thực chất, như chính hai Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng và Tập Cận Bình nhìn nhận tại cuộc hội đàm tháng 4, độ tin cậy chính trị giữa hai nước vẫn chưa cao, hai nước cần thể hiện tinh thần “nói đi đôi với làm”. ( Xem thêm)
Trong khi đó, như Thứ trưởng Quốc phòng Nguyễn Chí Vịnh “bật mí” trong cuộc phỏng vấn tuần rồi với VnExpress, hai nước Việt, Mỹ “đã đạt được sự thống nhất không còn muốn là kẻ thù của nhau, không xâm phạm, xâm hại những lợi ích chiến lược của nhau và đặc biệt là cam kết không bao giờ đem chiến tranh đến cho nhau”.( Xem thêm)


Nếu như Hội nghị Thành Đô 1990 để lại di sản trong chính trị Việt Nam là xu hướng “chống phương Tây” giành ngôi trưởng, xu hướng “hiện đại hoá” chỉ ở ngôi thứ, thì chuyến thăm Mỹ của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng sẽ có tác động ngược lại.
Nó báo hiệu rằng xu hướng “hiện đại hoá” đang đi lên và xu hướng “chống phương Tây” đang đi xuống. Sự kiện này sẽ có ảnh hưởng không nhỏ đến kết quả Đại hội 12 của Đảng Cộng sản, dự trù nhóm họp vào cuối năm nay hoặc đầu sang năm.
Người ta thường cho rằng ông Trọng là người bảo thủ và thân Trung Quốc. Nhận định này quá giản đơn mà không thấy hết được sự phức tạp và tế nhị của chính trị và quan hệ quốc tế.
Trước kia, ông Trường Chinh cũng thường được coi là bảo thủ và thân Trung Quốc. Nhưng chính ông là người có dũng khí viết lại Báo cáo Chính trị để đề ra chính sách “đổi mới” ở Đại hội 6 năm 1986. Chính ông cũng là người vào những năm đầu thập kỷ 1960 đã có lúc ngả theo quan điểm Liên Xô về chung sống hoà bình, một quan điểm bị Trung Quốc kịch liệt chống đối.
Hồi đó người ta cũng nghĩ ông Lê Duẩn thân Liên Xô nhưng chính ông đã đồng chủ trương (cùng ông Lê Đức Thọ) đàn áp những người ủng hộ quan điểm Liên Xô mà ông và các đồng chí gọi là “nhóm xét lại”.

Đổi mới để sống còn

Một chỉ dấu cho thấy ông Trọng đã quyết định phải thúc đẩy quan hệ với Mỹ để cân bằng Trung Quốc và cũng để hiện đại hoá đất nước là ông cử ông Phạm Quang Nghị, người mà ông từng đề cử “quy hoạch” làm Tổng bí thư khoá tới, đi Mỹ tiền trạm cho ông chỉ mấy ngày sau khi Trung Quốc rút giàn khoan vào tháng 7 năm ngoái.
null
Ngay trong năm 2014, người ta đã ngầm hiểu rằng quan hệ với Mỹ tuy danh nghĩa là đối tác toàn diện nhưng thực chất đã là đối tác chiến lược.
Điều này khác hẳn với cách đây chỉ khoảng hơn chục năm, quan hệ với Trung Quốc trên danh nghĩa còn chưa gọi là đối tác chiến lược, nhưng phía Việt Nam đã ngầm hiểu là đồng minh chiến lược.
Với những sự ngầm hiểu mới (Trung Quốc là mối đe doạ chiến lược, Mỹ tiến tới là đồng minh chiến lược không chính thức), chính trị trong nước của Việt Nam sẽ có những đổi thay mới. Có thể khẳng định ngay từ bây giờ là Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ 12 sẽ không bầu một nhân vật bảo thủ, chống phương Tây lên làm Tổng bí thư.
Tuy nhiên, liệu Đại hội có bầu một nhân vật đổi mới, hiện đại hoá lên hay không thì vẫn còn là câu hỏi. Các nhóm chiếm số đông trong Ban Chấp hành Trung ương Đảng hiện nay không phải là “bảo thủ”, cũng không phải là “đổi mới”, mà là “trung dung” và “trục lợi”. Tuỳ theo diễn biến trong những tháng sắp tới mà Đại hội 12 có thể sẽ bầu một nhân vật hoặc “trung dung” hoặc “trục lợi” hoặc cũng có thể “đổi mới” lên làm Tổng bí thư.
Mặc dầu vậy, với xu thế dài hạn là Việt Nam sẽ phải đương đầu với mối đe doạ chiến lược của một Trung Quốc nhiều tiền lắm mẹo, Việt Nam sẽ không có con đường nào khác là phải đổi mới để sống còn.
Bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả, không phản ánh quan điểm của nơi tác giả làm việc.

Việt Nam đang tái cân bằng chiến lược, xoay sang Hoa Kỳ?

Tổng Bí Thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng.
Tổng Bí Thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng.
Một chuyên gia về Việt Nam đã đặt câu hỏi đó trong một bài viết đăng trên báo The Diplomat hôm nay 6/7, giữa lúc Tổng Bí Thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng bắt đầu chuyến công du chính thức tới Washington.

Giáo sư Carl Thayer trích các nguồn tin ngoại giao nói rằng Việt Nam đã dồn nỗ lực vận động để vượt qua được một số khó khăn về mặt nghi thức, Hà Nội kiên trì vận động để Tổng Thống Hoa Kỳ Barack Obama nghênh tiếp ông Nguyễn Phú Trọng tại Tòa Bạch Ốc, trong khi trong tư cách là Tổng Bí Thư Đảng Cộng sản Việt Nam, ông Trọng không có người “tương nhiệm” trong hệ thống chính trị Mỹ.

Theo các nguồn tin ngoại giao thì Tổng Bí Thư Trọng sẽ được Phó Tổng Thống Mỹ Joe Biden đón tiếp tại Tòa Bạch Ốc, sau đó Tổng Thống Obama sẽ tham gia các cuộc thảo luận. Có tin nói rằng ông Nguyễn Phú Trọng cũng sẽ gặp bà Hillary Clinton, nhân vật có triển vọng nhất có thể được đề cử làm ứng viên của Đảng Dân Chủ trong cuộc bầu cử tổng thống Mỹ sắp tới.

Giáo sư Thayer nhận định rằng cuộc gặp gỡ giữa Tổng Bí Thư Trọng và Tổng Thống Obama có ý nghĩa đặc biệt bởi vì cả hai nhà lãnh đạo đều sẽ rời chức vụ trong năm tới. Ông Thayer nói bất cứ sự đồng thuận nào mà hai ông đạt được trong lần gặp gỡ này sẽ đặt nền móng cho quan hệ Mỹ-Việt giữa lúc hai nước trải qua một giai đoạn chuyển tiếp chính trị, với thay đổi nhân sự ở cấp lãnh đạo cao nhất.

Năm 2013, Tổng Thống Obama và vị tương nhiệm, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang ký Hiệp định Đối tác Toàn diện, và đây sẽ là văn kiện chủ yếu làm khung cho các quan hệ song phương.

Việt Nam sẽ tổ chức Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 12 vào đầu năm 2016, đại hội này sẽ thông qua chiến lược 5 năm tới.

Theo dự kiến Thủ Tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng sẽ ghé thăm Washington sau khi đến dự phiên họp thường niên của Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc tại New York. Chủ tịch Ban Thường Vụ Quốc hội Việt Nam cũng sẽ tới thăm thủ đô Washington.

Giáo sư Thayer nói trong bối cảnh hệ thống làm quyết định của Việt Nam luôn bị che giấu dưới màn bí mật, giới phân tích quốc tế bình luận về sự hiện diện của hai phe cánh trong Bộ Chính Trị, với một bên là phe bảo thủ, trong đó có Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng, và phe cải cách, trong đó có Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng, là nhân vật được tin là đang tìm cách thắt chặt các quan hệ kinh tế và có thể quan hệ an ninh với Hoa Kỳ. Giáo sư Thayer nói có tin rằng ông Nguyễn Tấn Dũng đang vận động chức Tổng Bí Thư Đảng Cộng sản Việt Nam trong đại hội dảng sắp tới.

Theo Giáo sư Thayer thì sự khác biệt quan diểm trong các phe phái trong nội bộ Bộ Chính trị phức tạp hơn, không chia rõ rệt thành phe thân Trung Quốc hay phe thân Mỹ, mà sự khác biệt chủ yếu là trên sự đánh giá về cách xử lý các quan hệ với các cường quốc như thế nào để đừng phương hại tới các lợi ích của quốc gia.

Trong khi đó Việt Nam coi cuộc gặp giữa Tổng Thống Barack Obama và Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng như là một hành động công nhận vai trò của Đảng Cộng sản trong hệ thống chính trị Việt Nam, và sẽ dọn đường cho những chuyến công du tương tự trong tương lai.

Báo Washington Post hôm nay đăng bài viết của ông Hoàng Bình Quân, Trưởng ban Đối ngoại Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, nói rằng chuyến công du Mỹ của Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng “là tín hiệu cho thấy sự tôn trọng của Mỹ đối với lựa chọn về thể chế chính trị của Việt Nam”.

Ông Quân thừa nhận là có sự khác biệt giữa hai hệ thống chính trị, nhưng điều quan trọng là hai nước đã “tìm cách để tiến bước theo cùng hướng, đó là một nền kinh tế thị trường, bảo vệ mạnh mẽ hơn các nhà đầu tư, hòa bình và ổn định trong các vấn đề quốc tế”.

Hãng tin AP tường thuật rằng vấn đề nhân quyền vẫn là một khó khăn chủ yếu, giữa lúc chiến dịch đàn áp giới bất đồng ở Việt Nam tác động tới sự ủng hộ chính trị tại quốc hội Hoa Kỳ cho tiến trình thương thuyết Hiệp định Hợp tác Xuyên Thái Bình Dương TPP, mà các chuyên gia cho là không những mang lại lợi ích kinh tế cho Việt Nam, mà còn phục vụ các lợi ích an ninh của Việt Nam, trong bối cảnh tranh chấp Biển Đông.

AP dẫn lời ông John Sifton, đại diện của Tổ chức theo dõi nhân quyền Human Rights Watch ở Washington, nói rằng Tổng Thống Obama nên được hoan nghênh vì đã tiếp tục gây sức ép với Hà Nội, đòi phóng thích tù chính trị, tôn trọng quyền người lao động và tự do tôn giáo, nhưng ông nói vấn đề nằm ở chỗ những đòi hỏi đó đã không được đáp ứng đúng mức.

Ông Nguyễn Phú Trọng thừa nhận có những khác biệt quan điểm với Washington về vấn đề dân chủ, nhân quyền và thương mại, nhưng ông nói nên duy trì các cuộc đối thoại một cách cởi mở và xây dựng, để không cản trở các quan hệ song phương.
06.07.2015
Theo The Diplomat, The Washington Post,VOA

Lời nguyền chính trị

Kính Hòa, phóng viên RFA
2015-07-06
Ông Nguyễn Văn Linh được truyền thông chính thống Việt nam xem là cha đẻ của cái gọi là “đổi mới,” chuyển đổi chính sách kinh tế bao cấp sang việc chấp nhận thực tế thị trường
Ông Nguyễn Văn Linh được truyền thông chính thống Việt nam xem là cha đẻ của cái gọi là “đổi mới,” chuyển đổi chính sách kinh tế bao cấp sang việc chấp nhận thực tế thị trường- File photo
Hai nhà chính trị
Tên tuổi hai nhà chính trị Việt nam được giới blogger nhắc đến nhiều trong tuần qua là cựu Thứ trưởng ngoại giao Trần Quang Cơ vừa từ trần, và ông Nguyễn Văn Linh nguyên Tổng bí thư đảng cộng sản, được giới chức Việt nam kỷ niệm 100 năm ngày sinh một cách trọng thể.
Người ta nhắc nhiều đến ông Trần Quang Cơ vì khí phách của ông như lời một blogger bình luận, là ông chống lại ý kiến của những người đứng đầu nước Việt nam ở giai đoạn đầu thập niên 90 trong chính sách đối ngoại với Trung quốc. Ông từ chối nhận lãnh chức vụ Bộ trưởng ngoại giao, điều mà ông Nguyễn Vĩnh vốn là một thuộc cấp của ông cho là rất hiếm hoi trong hàng ngũ lãnh đạo cao cấp. Người ta nhắc tới ông Cơ nhiều nhất là về quyển hồi ký của ông liên quan đến hội nghị Thành Đô dẫn đến bình thường hóa quan hệ với Trung quốc. Quyển hồi ký không được in ở Việt nam mà chỉ lưu truyền trên mạng, trong đó ông đề cập nhiều đến những nhân nhượng quá đáng mà các nhà lãnh đạo đảng cộng sản lúc ấy dành cho Trung quốc.
Nếu ông Trần Quang Cơ được nhiều trang blog không chịu sự kiểm soát của đảng nhắc tới, thì trên báo chí chính thống người ta ít nhắc tới ông, mà thay vào đó là ông Nguyễn Văn Linh. Ông Linh được truyền thông chính thống Việt nam xem là cha đẻ của cái gọi là “đổi mới,” chuyển đổi chính sách kinh tế bao cấp sang việc chấp nhận thực tế thị trường. Rất nhiều lời tán dương ông Linh trên báo chí Việt nam, đặc biệt có một bài báo chạy hàng chữ đậm rằng ông Linh là người… Không chấp nhận đa nguyên đa đảng!
Ngược lại với báo chính thống, ông Linh bị nhiều chỉ trích trên các trang blog.
Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn cho rằng ở thời buổi hiện nay mà gióng lên ý tưởng của ông Linh rằng không chấp nhận đa nguyên đa đảng là một điều lạ.
Còn danh hiệu cha đẻ của đổi mới cũng được các blogger hoài nghi rằng có phải chính ông Linh là kiến trúc sư của cái gọi là đổi mới ấy hay không, vì gần 30 năm sau, nhiều tài liệu được công khai, người ta thấy rằng ông Linh không phải là một người can đảm đi đến những quyết định chính trị như vậy. Hơn nữa có nhiều bằng chứng cho thấy ông Linh lại là một người bảo thủ với nhiều nỗi sợ hãi khi chứng kiến chủ nghĩa cộng sản sụp đổ khắp nơi trên thế giới vào giai đoạn những năm 1989-1990. Chính điều này đẩy ông thành kẻ mà nhiều người cho rằng có tội khi chủ trương ký hiệp định Thành Đô với Trung quốc. Trang blog Bauxite Việt nam bình luận:
Đánh giá một nhân vật lịch sử chính là phải đứng ở góc độ dân tộc, chứ không phải trên lập trường của một đảng: Người đó đã làm gì cho đất nước, chứ không phải đã làm gì cho đảng. Lịch sử đã đánh giá Trần Ích Tắc, Lê Chiêu Thống nghiêm khắc như thế nào, sẽ đánh giá những kẻ đang tâm bán đứng dân tộc qua thỏa thuận Thành Đô, mà di lụy của nó cho đến nay vẫn chưa biết hết, như thế ấy.
Còn Tiến sĩ Hà Sĩ Phu thì cho rằng ông Linh là kẻ có tội nhiều hơn công:
“Cuối cùng do sự bố trí của phe thân Trung Cộng ông Nguyễn Văn Linh đã cầm đầu phái đoàn đi sang Thành Đô, là hành động vô cùng tệ hại, đưa Việt Nam vào một quỹ đạo không thể ra được. Tôi nghĩ rằng ông Nguyễn Văn Linh đổi mới cũng chẳng qua là cứu Đảng thôi nhưng cũng do chuyện cứu Đảng mà trình độ lại non và quan điểm lại bảo thủ nên cuối cùng phải đi vào quỹ đạo Thành Đô cho nên cái tội nhiều hơn công rất nhiều.”
Và cuối cùng khi bàn về cái gọi là đổi mới, thì Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn xem đó chẳng phải là điều gì hay ho, vì vốn cuộc sống luôn cần một sự đổi mới.
Còn một điều khác nữa là bản chất của cái gọi là đổi mới là quay về với những gì đúng đắn hợp lẽ tự nhiên, phá đi những rào cản mà chính những người cộng sản tạo ra cho dân tộc và cho chính mình. Để nói về giai đoạn thay đổi đó, ngôn ngữ của đảng cộng sản hay dùng từ cởi trói, nhưng dường như là không có người lạ nào trói họ cả.
30 năm sau
Những quyết định chính trị trong những năm 1989-1990 đã định hình nước Việt nam với hoàn cảnh đối ngoại, và những xáo trộn xã hội đặc biệt của nó.
Sự thành công của ông Nguyễn Văn Linh, hay là sự thất bại của ông Trần Quang Cơ đã để lại một nước Việt nam gắn chặt về ý thức hệ với Trung quốc ngày nay.
Blogger Song Chi viết bài Nước còn hay mất. Bà cho rằng trong thời buổi hiện đại hiện nay, một kịch bản Trung quốc đưa quân xâm lược để đặt Việt nam thành quận huyện là khó có thể xảy ra. Tuy vậy với sự lệ thuộc Trung quốc ngày càng nhiều về kinh tế, văn hóa, bên cạnh sự cam kết chính trị trung thành với ý thức hệ của giới lãnh đạo,… thì Trung quốc cũng không cần dụng binh làm gì.
Sự lệ thuộc văn hóa Trung quốc lên đến đỉnh điểm trong hàng loạt công trình xây Văn miếu thờ Khổng Tử trong thời gian qua. Điều mà nhà báo Danh Đức gọi là Dịch xây Văn Miếu. Ông viết trên trang blog của thời báo Kinh tế Sài gòn:
Không phải là bài ngoại, song cái gọi là “văn hóa tương đồng” nhất định phải có giới hạn của nó, chứ không thể cứ “đánh đồng làm một” mãi. Trong lịch sử, quả là Nho giáo đã chiếm vị trí quan trọng ở Việt Nam, song ảnh hưởng đó cũng đã kết thúc hơn 100 năm nay rồi và Việt Nam đang là một quốc gia độc lập, nên không thể tùy tiện hay vì bất cứ lý do gì khác mà tái du nhập những di tích của sự lệ thuộc đó.
Cựu Thứ trưởng ngoại giao Trần Quang Cơ
Cựu Thứ trưởng ngoại giao Trần Quang Cơ 1927 - 2015

Có thể là Nho giáo không còn ảnh hưởng nhiều trong xã hội Việt nam, nhưng trên bình diện chính trị ý thức hệ, dường như một cụm từ khác đã thay thế, đó là xã hội chủ nghĩa. Điều mà blogger Cánh Cò mượn lời các quan chức Bắc Kinh mà gọi đó là một …. Đại cục vô hình mà tới giờ dường như các nhà lãnh đạo Việt nam chưa thoát ra được.
Và chính ý thức hệ đó trở thành một trở ngại cho công cuộc cải cách giáo dục mà nhiều trí thức Việt nam lo lắng hàng chục năm nay.
Trang blog Bauxite Việt nam kể lại câu chuyện đối thoại giữa nhóm Đối thoại giáo dục do Giáo sư Ngô Bảo Châu chủ xướng và một số ý kiến phản biện.
Nhóm Đối thoại giáo dục đề nghị một điều quan trọng trong cải cách Đại học là thành lập Hội đồng ủy thác để điều hành. Tiến sĩ Ngô Doãn Đãi cho rằng đề nghị này không thể thực hiện được vì theo luật giáo dục Việt nam thì Đảng cộng sản lãnh đạo các trường Đại học.
Một người tham gia phản biện nhóm Đối thoại giáo dục là dịch giả Đinh Bá Anh, lại cho rằng hiện nay nền giáo dục Việt nam không thể cải cách được vì nó không chịu một sức ép nào cả. Ông cho rằng nó có thể được cải cách nếu có một ý chí chính trị mạnh mẽ nào đó, nhưng ông tiếp lời là chuyện đó chưa xảy ra vì hiện nay chính trị Việt nam là một nền chính trị chịu sức ép từ nhóm lợi ích chứ không có viễn kiến.
Có lẽ câu chuyện cải cách giáo dục lại một lần nữa đi vào bế tắc.
Đứng trước tình trạnh xã hội chính trị hiện nay, Giáo sư Nguyễn Đình Cống cho rằng có một điều gì đó như là một lời nguyền mà nước Việt đang gánh chịu, lời nguyền đó theo ông xuất hiện sau khi cuộc chiến Việt nam tương tàn kết thúc:
Có thể những người cầm đầu phe bại trận đã không có một lời nguyền nào nhưng hàng vạn, hàng chục vạn những người khác đã công khai hoặc bí mật nguyền rủa vì cho rằng họ bị đối xử bất công, tàn bạo, bị phản bội lời hứa và lòng tin. Đó là những người bị triệu tập vào các trại cải tạo, bị giam giữ không kết án, bị tước đoạt tài sản và tự do, bị ép buộc đến các vùng kinh tế mới, bị trở thành “thuyền nhân”với không biết bao nhiêu tai họa.
Giáo sư Nguyễn Đình Cống là người công khai tuyên bố rằng muốn cho Việt nam phát triển thì phải từ bỏ chủ nghĩa cộng sản và ý thức hệ Mác Lê Nin, nền tảng của cấu trúc nhà nước Việt nam hiện tại.
Trong lãnh vực tư pháp, cấu trúc nhà nước ấy không chấp nhận sự cân bằng quyền lực như ở mô hình các quốc gia theo thể chế tư bản dân chủ. Đó cũng là điều mà Luật sư Nguyễn Văn Thân cho rằng nó làm cho Việt nam không thể xây dựng nên nhà nước Pháp quyền được. Ông viết:
Muốn xây dựng một nhà nước pháp quyền thì trước hết phải có sự phân quyền giữa hành pháp, lập pháp và tư pháp và một hệ thống tư pháp thật sự độc lập. Nhưng Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay vẫn đứng trên pháp luật và cai trị một cách tùy tiện. Chánh án Tòa án Nhân dân Tối cao Trương Hòa Bình là một thành viên Ban Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản thì làm sao tòa án có thể độc lập?
Nhưng mô hình mới nào cho Việt nam để thoát khỏi bế tắc?
Tác giả Vũ Hoàng Nguyên viết trên trang Ngàn Lau rằng cần phải thận trọng, đừng lập lại sai lầm của những người cộng sản nữa:
Cần phải xác định một điều là không có cơ chế nào trên thế giới này hoàn hảo. Chúng ta không đi tìm một cơ chế hoàn hảo bởi nếu chúng ta vẫn mang tư tưởng tìm một cơ chế hoàn hảo thì tự chúng ta sẽ lập lại sai lầm của đảng cầm quyền hiện giờ, tức là đưa đất nước dân tộc vào Xã Hội Chủ Nghĩa mà chính những người lãnh đạo không biết cái Xã Hội Chủ Nghĩa đó ra sao, khi nào được hình thành. Chúng ta cũng không đem bất cứ cơ chế của quốc gia nào đó vào áp dụng trên dân tộc của mình bởi chúng ta sẽ vấp phải sai lầm mà đảng CSVN đang sai lầm.
Nhưng cho đến bao giờ?
LS Nguyễn Văn Thân viết rằng so với những mầm mống dân chủ hình thành ở nước Anh trước đây thì Việt nam đã muộn đến 800 năm.

Kỳ vọng gì ở chuyến đi Mỹ của ông Nguyễn Phú Trọng

Gia Minh, biên tập viên RFA, Bangkok
2015-07-06
Trước chuyến công du Hoa Kỳ tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng gặp cựu Tổng thống Mỹ Bill Clinton tại Hà Nội ngày 2 tháng 7, 2015
Trước chuyến công du Hoa Kỳ tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng gặp cựu Tổng thống Mỹ Bill Clinton tại Hà Nội ngày 2 tháng 7, 2015- Photo courtesy VOV
Dư luận tiếp tục chú ý đến hiệu quả thực sự của chuyến công du của tổng bí thư đảng cộng sản Việt Nam- Nguyễn Phú Trọng, sang Hoa Kỳ trong những ngày này.
Ngoài một số ý kiến nêu ra các tiến triển đạt được trong quan hệ Việt- Mỹ sau 20 năm bình thường hóa; nhiều người khác vẫn cho rằng còn quá sớm để nói đến kết quả của chuyến đi. Thậm chí có ý kiến còn thẳng thừng cho là không đánh giá cao về chuyến đi này.
Hồi hộp chờ đợi!
Trước khi lên đường sang Hoa Kỳ, tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng có một cuộc trả lời phỏng vấn báo chí Mỹ ngay tại trụ sở Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam vào chiều ngày 3 tháng 7 vừa qua.
Theo nhiều người thì dù trong bài trả lời phỏng vấn, ông Nguyễn Phú Trọng có thừa nhận vai trò của Hoa Kỳ trong tình hình hiện nay ở khu vực Biển Đông nhưng nhiều vấn đề quan trọng khác cũng mang tính chung chung như lâu nay.
Giáo sư Nguyễn Đình Cống, một trí thức gần đây có nhiều bài viết phản biện về chủ thuyết Mác- Lê Nin và đường lối của đảng cộng sản Việt Nam, nói về quan tâm đối với chuyến công du Hoa Kỳ của ông Nguyễn Phú Trọng cũng như đánh giá về khả năng có thay đổi gì nơi nhân vật này:
“Nói chung chuyện này cả nước đang hồi hộp theo dõi thôi, cũng chưa biết thế nào! Tại vì ông Trọng trong một thời gian dài vừa rồi tỏ ra là con người gắn kết với Trung Quốc, ông tỏ ra kiên trì (với) chủ nghĩa Mác- Lê Nin, ông tỏ ra là con người như ở đây người ta xếp vào loại ‘bảo thủ’. Không biết có gì xui đẩy ông để như thế nào!? Thành ra hiện nay người ta cũng đang còn theo dõi thôi, chứ còn những lời phát biểu của ông mà tôi nghe được cũng chỉ nói chung chung thôi; chưa có gì để chứng tỏ ông ta trở cờ cả. Vì ‘cờ’ và ngọn gió của ông Trọng thì từ trước đến nay trong nước đều cho ông thuộc nhóm bảo thủ. Nhất là trong vụ 100 năm ngày sinh ông Nguyễn Văn Linh vừa rồi. Tôi theo dõi thì thấy ông Trọng ca ngợi ông Linh hết điều về những điều mà người ta cho rằng ông Linh là người bảo thủ ví dụ như kiên trì đường lối Mác- Lê nin, không bao giờ chấp nhận tam quyền phân lập, không thể chấp nhận đa nguyên- đa đảng; và vấn đề nhân quyền chẳng hạn thì mấy hôm nay cũng chưa thấy có chuyển biến gì cả. Thành ra trong nước cũng phập phồng theo dõi thôi, chưa dám đánh giá gì cả.”
Nhà báo Võ Văn Tạo từ Nha Trang cũng bày tỏ một tâm trạng hồi hộp tương tự của giáo sư Nguyễn Đình Cống; đồng thời cũng có những nhận định về tình thế hiện nay của Việt Nam:
Những lời phát biểu của ông mà tôi nghe được cũng chỉ nói chung chung thôi; chưa có gì để chứng tỏ ông ta trở cờ cả. Vì ‘cờ’ và ngọn gió của ông Trọng thì từ trước đến nay trong nước đều cho ông thuộc nhóm bảo thủ
Giáo sư Nguyễn Đình Cống
“ Hiện nay tình hình Biển Đông sôi sục; trước tình thế như vậy ban lãnh đạo Việt Nam không thể nào giữ nguyên lập trường mà người dân mỉa mai là ‘lập trường Lê Chiêu Thống, Trần Ích Tắc’ được. Và phải có cái gì đó để thể hiện để còn giữ được chút gì trong cái gọi là ‘niềm tin’ của nhân dân. Họ cố tình giữ cho được cái đó, chứ nếu không giữ được thì sẽ bùng phát những chuyện rất lớn và có thể đổ ngay trong ngày một ngày hai. Do đó họ phải có chính sách chìa bàn tay ra nắm lấy bàn tay của Mỹ và của một số các quốc gia khác đã chìa ra để hợp tác trong vấn đề Biển Đông, khống chế tham vọng ngông cuồng và nguy hiểm của Trung Quốc.”
Phó giáo sư Vũ Tường thuộc Đại học Oregon, Hoa Kỳ trong bài viết tựa đề ‘Chính trị Việt Nam qua chuyến đi Mỹ của ông Trọng” đăng trên BBC nêu rõ “Xin phép được tiết lộ trước kết luận của bài viết: Nói chung chúng tôi không đánh giá cao chuyến đi của ông Trọng”.
Hy vọng nơi thế hệ lãnh đạo mới!
Một luật sư hiện sống tại Canada, ông Vũ Đức Khanh thì nói rõ nếu có gì thay đổi ở Việt Nam thì chỉ có thể xảy ra vào năm tới sau khi đại hội đảng 12 kết thúc với thành phần lãnh đạo mới mà thôi.
“Thế hệ lãnh đạo mới ví dụ như thế hệ của ông phó thủ tướng Vũ Đức Đam, hay ông Phạm Bình Minh, ông Nguyễn Thiện Nhân. Những người đó được đào tạo khá cơ bản và bài bản ở các quốc gia Phương Tây. Họ đang ở trong giai đoạn bước vào Bộ Chính Trị hay đã ở trong Bộ Chính Trị như ông Nguyễn Thiện Nhân rồi. Thế hệ đó ở thời điểm mấu chốt của Việt Nam mà theo tôi nghĩ sẽ có những thay đổi rất quan trọng từ năm 2016 trở đi.”
Vụ kiện đường lưỡi bò của Trung Quốc
Trong thời gian tổng bí thư đảng cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng đang thăm Mỹ thì tại Tòa án Trọng tài thường trực ( PCA) ở La Haye, Hà Lan diễn ra phiên điều trần đầu tiên về vụ kiện do Philippines đứng đơn về đường lưỡi bò của Trung Quốc tại Biển Đông.
Nhà nghiên cứu Biển Đông hiện sinh sống tại Pháp, ông Trương Nhân Tuấn, nói về diễn tiến của vụ kiện này và ý nghĩa của nó:
“Theo lịch trình, ở phiên họp đầu tiên này, Tòa sẽ làm hai việc: thứ nhứt là tuyên bố về thẩm quyền của Tòa đối với vụ kiện. Thứ hai là về sự hợp lệ của hồ sơ Phi. Dĩ nhiên là vụ kiện này có quan hệ mật thiết đối với với VN.
Nói chung chúng tôi không đánh giá cao chuyến đi của ông Trọng
Phó giáo sư Vũ Tường
TQ đã tuyên bố không tham gia vụ kiện. Lập luận đáng ghi nhận của TQ qua bản tuyên bố nhằm trả lời vụ kiện :thứ nhất Tòa không có thẩm quyền vì cốt lõi của vụ kiện liên quan đến “chủ quyền lãnh thổ” mà điều này không thuộc phạm trù của Công ước Quốc tế về Biển 1982. Thứ hai vụ kiện liên quan đến vấn đề “phân chia ranh giới biển” mà điều này TQ đã bảo lưu năm 2006 ( loại trừ mọi biện pháp trọng tài có mục đích phân chia ranh giới biển).
Theo tôi, rất có thể Tòa sẽ không có thẩm quyền để phân xử ở một số điều trong hồ sơ của Phi vì các điều này liên quan đến chủ quyền cũng như một số việc phân định biển mà TQ đã bảo lưu. Nhưng ở các điều như về hiệu lực pháp lý của đường chữ U, hay một số điều liên quan các bãi đá chìm, nổi mà TQ đã chiếm và mới xây dựng, thì tuyên bố của Tòa liên quan trực tiếp đến VN. Đường chữ U chín đoạn, cũng như hành vi của TQ ở các đảo TS, là nhưng quan ngại hàng đầu của VN hiện nay.
Về mối liên quan giữa việc xây dựng một cách gấp rút các bãi đá và vụ kiện của Phi, tôi cho rằng nó có quan hệ với nhau. Hành vi xây dựng và mở rộng các bãi đá của TQ đã đặt Tòa vào việc đã rồi. Việc xây dựng của TQ có một không hai trong lịch sử thế giới.
Hành vi xây dựng đảo của TQ đã xóa hết những vềt tích, những bằng chứng, chắc chắn sẽ đưa Tòa vào thế khó xử. Theo tôi đây là hành vi cố ý của TQ. Họ muốn đặt quốc tế vào việc đã rồi. Dầu thế nào thì mọi sự mập mờ về pháp lý đều có lợi cho TQ.”
Tin cho biết đích thân ngoại trưởng Philippines, ông Albert Del Rosario dần đầu phái đoàn nước ông đến để trình bày tại phiên tòa.
Việt Nam là quốc gia bị đe dọa trực tiếp bởi tuyên bố chủ quyền gần như trọn Biển Đông của Trung Quốc; thế nhưng cho đến nay chính quyền Hà Nội vẫn chưa có những biện pháp quyết liệt như Philippines là kiện Trung Quốc ra trước một tòa án quốc tế.
Ngoài những tuyên bố phản đối của người phát ngôn Bộ Ngoại giao, gần đây thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tại hội nghị cấp cao Mê Kong- Nhật Bản tại Tokyo có phát biểu về việc Trung Quốc cải tạo, xây dựng quy mô những đảo nhân tạo ở Trường Sa. Theo ông Dũng đó là hành động vi phạm luật pháp quốc tế, vi phạm Tuyên bố ứng xử của các bên tại Biển Đông DOC.

Nước Mỹ không cờ hoa, không đoàn nào đón Nguyễn Phú Trọng

FB:  https://www.facebook.com/nambui1954








Chuyến bay cùa TBT cộng sản VN Nguyễn Phú Trọng hạ cánh xuống sân bay Mỹ lúc 18 giờ 30 giờ Hà nội.
Không cờ hoa, không chính khách, không đoàn đội hay báo chí nào đón tiếp. Kể cũng quá sốc cho báo chí Việt nam khi trong nước ồn ào chuẩn bị cho chuyến đi của ông Trongn từ cả hai tuần trước nay.
Dưới đây là ảnh chụp từ truyền hình trung ương, do phóng viên báo Tuổi trẻ Thủ đô đăng lên facebook và nhân gửi nhờ chúng tôi chia sẻ :
Hình ảnh một nhóm lèo tèo, không đoàn đội hay chính khách nào đón. Không báo chí hay phóng viên nước ngoài nào quan tâm.
Đặt chân tới nhà người ta mời mà không ai ra đón, vậy là ai mời ? Lầu năm góc hay Chính phủ Mỹ ? Đảng cộng hòa hay Dân chủ mời ?
Khách đến mà úi sùi thế này thì chắc các cuộc gặp sẽ còn nhạt đến thế nào ?
Nguyen Ly.