Monday, June 22, 2015

Việt Nam có phải là nước nhỏ yếu?

Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam Nguyễn Chí Vịnh.
Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam Nguyễn Chí Vịnh.
Ngày 6/6, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam Nguyễn Chí Vịnh đang ở thăm Trung Quốc đã nhận lời phỏng vấn của trang Hoàn Cầu… Ông nói, "với một nước nhỏ, nếu liên minh với nước khác để chống lại nước thứ ba chính là tự sát" (1).
Câu nói đó, vượt ra ngoài phong cách ngoại giao, mang lòng tự ti: Việt Nam là nước nhỏ, nước yếu. Tâm lí này cũng được thể hiện qua phát biểu, qua thái độ của các nhân vật cao nhất của đảng Cộng Sản Việt Nam, như ông Nguyễn Phú Trọng, tổng bí thư, và ông Phùng Quang Thanh, ủy viên Bộ Chính trị, bộ trưởng Bộ Quốc phòng. Lòng tự ti này đang ngự trị trong Bộ Chính Trị và có vai trò chủ đạo trong việc định hướng các hoạt động của Việt Nam, nhất là trong các lãnh vực như ngoại giao, quân sự, kinh tế.
Bài viết này nhằm thảo luận xem Việt Nam có phải là nước “nhỏ yếu” không.
Định Nghĩa Yếu và Mạnh
Yếu hay mạnh được đo lường so với Trung Quốc, bởi vì hiện nay, Trung Quốc là nước đang lấn chiếm lãnh thổ Việt Nam, can thiệp vào việc sắp xếp nhân sự lãnh đạo chủ chốt của Việt Nam, vào các chính sách ngoại giao, quốc phòng của Việt Nam. Hiện tại, ngoài Trung Quốc ra, không có nước nào vừa có khả năng vừa có tham vọng khống chế và lấn chiếm Việt Nam như thế.
Do đó, với nước Việt Nam hiện nay: yếu là không đủ sức giữ độc lập, tự chủ trước các đòi hỏi và các hoạt động của Trung Quốc nhằm xâm lấn, tiến chiếm lãnh thổ và lãnh hải của nước Việt Nam. Mạnh là có đủ sức giữ độc lập, tự chủ.
Tương Quan Lực Lượng Giữa Trung Quốc-Việt Nam Hiện Nay
Tương Quan Biểu Kiến
Hiện nay, ai cũng thấy, Việt Nam yếu so với Trung Quốc. Về quân sự, hải quân Trung Quốc áp đảo hải quân Việt Nam cả về chất lượng lẫn số lượng. Không quân Trung Quốc trội hơn hẳn Việt Nam. Về kinh tế, năm 2014, nền kinh tế Trung Quốc lớn thứ 2 thế giới, lớn gấp 52 lần kinh tế Việt Nam về GDP danh nghĩa.
Trong giao thương, kim ngạch buôn bán giữa Trung-Việt chiếm một phần rất nhỏ tổng kim ngạch của Trung Quốc (khoảng 1.2%), trong khi chiếm tới 15% tổng kim ngạch của Việt Nam. Nền sản xuất của Việt Nam phụ thuộc rất nhiều vào nguyên liệu của Trung Quốc. Nhìn chung, về kinh tế, trong khi Trung Quốc không cần Việt Nam, Việt Nam rất cần Trung Quốc.
Tương Quan Thật Sự
Với dân số 90 triệu, lúc nào Việt Nam cũng “nhỏ” hơn Trung Quốc. Tuy nhiên, không phải lúc nào nhỏ hơn cũng yếu hơn. Một ngàn năm lịch sử từ thời Ngô Quyền tới nay đã nhiều lần nêu gương nhỏ mạnh hơn lớn. Yếu hay mạnh trong chiến tranh không chỉ là con số tuyệt đối, mà phụ thuộc rất lớn vào mật độ, vào tỉ trọng, vào ý chí…
Hơn nữa, yếu hay mạnh không chỉ tùy vào sức mạnh quân sự và kinh tế, mà phụ thuộc rất lớn vào chính trị và ngoại giao. Trong thời đại hiện nay, chính trị và ngoại giao là ở mức độ toàn cầu. Trên mặt trận Biển Đông, Việt Nam đang được sự ủng hộ của đại đa số các nước trên thế giới, trong đó bao gồm tất cả các nước G-7, còn Trung Quốc đang bị chỉ trích vì chính sách và hành động bành trướng vô lí và bất chấp tinh thần tôn trọng luật pháp quốc tế. Về mặt này, Việt Nam mạnh hơn Trung Quốc.
Hiện nay Trung Quốc còn có một thế rất mạnh so với Việt Nam, đó là đảng cầm quyền, nhà cầm quyền của họ đã khống chế đảng cầm quyền, nhà cầm quyền Việt Nam. Đây là điểm mạnh tinh thần, chính trị rất lớn của họ mà nước Việt Nam cần thoát ra nếu không muốn bị yếu so với Trung Quốc.  
Tiềm Năng Của Việt Nam
Tuy nhiên, chúng ta có thể thấy rằng Việt Nam có đầy đủ tiềm năng để trở thành một nước mạnh. Điều này không phải do chúng ta tự huyễn hoặc, mà do sự phân tích chi tiết và thấu đáo. Và chúng ta cũng hiểu điều đó qua quan sát thái độ của các quốc gia trên thế giới đối với ta, qua các bài phân tích chính trị-kinh tế của các nhà quan sát thời cuộc thế giới về tiềm năng của Việt Nam.
Một khối dân 90 triệu tự nó là khối dân lớn. Khối dân đó sống trên lãnh thổ 336 ngàn km vuông, nghĩa là có mật độ dân số 268 người/km vuông, khối dân đó đủ mạnh để bảo vệ lãnh thổ đó. Khối dân này, từ khi Ngô Quyền giành lại độc lập từ Trung Hoa cách nay hơn một ngàn năm, đã được trui rèn qua 9 cuộc chiến chống xâm lăng Trung Hoa, trong đó họ đã thắng tám cuộc, chỉ thua có một cuộc, vào năm 1400 khi đất nước được lãnh đạo bởi chính quyền nhà Hồ mà lòng dân chán ghét. Khối dân 90 triệu người đó, khi cần bảo vệ nền độc lập, đối với mục tiêu đẩy lùi quân xâm lược, không hề yếu trước Trung Quốc.
Về kinh tế, Việt Nam có tài nguyên, tài nguyên thiên nhiên và tài nguyên con người, đủ để phát triển thành quốc gia giàu có. Người viết không dùng khái niệm xưa về rừng vàng biển bạc, nhưng chắc chắn Việt Nam không ít tài nguyên thiên nhiên hơn Nhật Bản hay Hàn Quốc. Dân tộc Việt Nam, cần cù, hiếu học, có đầu óc biết tiếp thu, biết xoay sở, nếu nằm trong điều kiện thuận lợi, có khả năng phát triển và hội nhập quốc tế nhanh chóng.
Hãy nhớ rằng 150 năm trước, Việt Nam cùng trình độ phát triển với Nhật và Hàn Quốc. 50 năm trước, Việt Nam cùng trình độ phát triển với Hàn Quốc.
Vị trí địa chính trị cũng là một tài nguyên rất lớn của Việt Nam. Là bao lơn nhìn ra Biển Đông. Nằm chắn trên con đường hàng hải Bắc Nam nối liền Đông Á, Bắc Á với Ấn Độ Dương, Trung Đông, châu Phi, châu Âu. Vị thế này, nếu được sử dụng một cách thông minh và hiệu quả, sẽ mang lại sự giàu mạnh lâu dài cho đất nước.
Tương Lai của Việt Nam: Yếu hay Mạnh?
Với tiềm năng được phân tích như trên, Việt Nam hoàn toàn có thể phát triển thành mạnh, rất mạnh. Tuy nhiên, nếu ý chí và sự cố gắng của dân tộc không đủ, nguy cơ Việt Nam rơi vào vòng xoáy yếu hèn cũng không ít.
Nhiều người trong nước có vẻ bi quan về tương lai Việt Nam. Việt Nam đã thua xa Âu-Mỹ. Đã thua xa Nhật Bản. Đã thua xa Hàn Quốc. Tác giả muốn nhắc lại rằng cách nay chưa xa, năm 1960, GDP/đầu người của Việt Nam là 223 USD so với 149 USD của Hàn Quốc và 92 USD của Trung Quốc (2). Khi chiến tranh Nam-Bắc xảy ra, cùng với đà tăng cường độ chiến tranh, mức GDP đầu người của miền Nam giảm rất nhanh, xuống con số 123 USD vào năm 1970. Như vậy, miền Nam mất đà tăng trường kinh tế mạnh mẽ và nghèo đi nhanh chóng do chiến tranh. Lập luận tuyên truyền chống miền Nam lúc đó cho rằng rằng sự phồn vinh của miền Nam là giả tạo, là nhờ viện trợ của Mỹ. Thực ra viện trợ kinh tế chỉ chiếm dưới 5% tổng GDP miền Nam. Dân chúng cần biết điều này để tự tin rằng Việt Nam thực sự có tiềm năng phát triển. Hẳn nhiên chúng ta có thể tin rằng nếu không bị tàn phá bởi chiến tranh, miền Nam có đủ tiềm năng phát triển nhanh và trở thành cường quốc kinh tế như Hàn Quốc hiện nay. Miền Nam có tiềm năng đó thì cả nước Việt Nam cũng vậy.
Nâng Cao Dân Trí và Nâng Cao Dân Khí
Thời đại hiện nay là thời của khoa học, kỹ thuật. Cái vốn lớn nhất để phát triển là tri thức, là con người với tri thức cao. Nền kinh tế phát triển hiện nay là nền kinh tế dựa trên tri thức.
Con người có tri thức phải là con người tự do. Tự do thúc đẩy học hỏi, sáng tạo, phát triển tri thức. Xin đừng vin vào lập luận tự do phải có khuôn khổ để giới hạn tự do phát triển tri thức. Người có tri thức càng cao thì càng hiểu mối tương quan giữa cá nhân và cộng đồng, càng là một công dân có trách nhiệm, do đó càng là công dân tự giác có tính kỉ luật. Dân chủ và tự do không còn là lí tưởng xa vời, mà là điều kiện thực tế để phát triển. Dân chủ hóa đất nước càng sớm thì càng nâng tầm tri thức của xã hội nhanh hơn, do đó càng đưa đất nước tới chỗ giàu mạnh nhanh hơn.
Dân chủ hóa đất nước đem lại công bằng cho các tầng lớp dân chúng, các thành phần, đảng phái và khuynh hướng chính trị. Công bằng là nền tảng vững chắc cho hòa giải, hòa hợp dân tộc. Công bằng giảm thiểu các tệ nạn gây ra do tham nhũng, nhóm lợi ích… rất tai hại cho xã hội. Do đó, công bằng là nền tảng phát triển của cộng đồng. Dân chúng không thể yên tâm đổ công sức làm ăn trong môi trường không công bằng. Năm 1960 GDP/đầu người của miền Nam cao gấp 3 lần của miền Bắc (223 USD so với 73 USD) (3) một phần rất lớn do môi trường dân chủ tự do của miền Nam.
Trong môi trường dân chủ, tự do, công bằng, dân trí nâng cao nhanh, dân chúng giàu lên nhanh, và từ đó bừng khởi trong lòng mỗi người dân niềm tin vào xã hội, vào tổ quốc, vào truyền thống dân tộc, vào các giá trị sống tốt đẹp, vào chính bản thân mình. Đó là nguồn gốc của sức mạnh vô địch bảo vệ quyền tự chủ và độc lập của tổ quốc chung.  
Chế độ độc đảng nắm quyền lãnh đạo và toàn trị mang tính không dân chủ, không công bằng từ gốc rễ, nên Việt Nam cần thoát khỏi chế độ đó để cho đất nước tiến lên.  
Nâng Cao Sức Mạnh Quốc Phòng
Nền tảng lớn nhất của sức mạnh quốc phòng là tinh thần chiến đấu cao của chiến sĩ và toàn dân, đồng lòng chống kẻ thù chung để bảo vệ tổ quốc chung.
Rõ ràng nền tảng này không thể có khi quân đội thuộc về đảng và để bảo vệ đảng, chứ không thuộc về dân tộc và để bảo vệ tổ quốc chung. Rõ ràng nền tảng này không thể có khi dân chúng nhận thấy chính quyền không do họ bầu chọn, tiếng nói, ý nguyện của dân không được chính quyền lắng nghe, và rất nhiều chính sách gây tổn hại quyền lợi của họ được ban ra bất chấp lòng dân. Rõ ràng nền tảng này không thể có khi dân chúng nhận thấy chính quyền gồm những người rất rất giàu một cách bất minh trong khi đất nước chung còn nghèo đói. Rõ ràng, nền tảng này không thể có khi kẻ đang xâm lấn đất nước lại là kẻ được nhà cầm quyền xem là bạn, là đồng chí thân thiết chung chiến hào ý thức hệ! Dân chúng rất tinh tường, biết rõ ai là người ôn hòa khôn khéo nhưng quyết tâm bảo vệ tổ quốc, ai là người dâng quyền lợi chung cho kẻ xâm lấn để cầu lợi lộc riêng. Lòng dân, lòng quân đã không tin vào các nhà lãnh đạo chính trị và lãnh đạo quân đội thì đất nước tất phải rất yếu!
Dân chủ hóa đất nước là bước cần thiết khắc phục dần điểm yếu nói trên, đưa chính quyền về gần dân hơn để tạo nền tảng cho sức mạnh quốc phòng. Chính quyền đó phải thực do dân chúng bầu chọn ra, chịu sự kiểm soát thực sự của dân chúng, và do đó sẽ được dân chúng ủng hộ. Một nước Việt Nam 90 triệu dân đồng lòng dốc sức, nước Việt Nam đó phải rất mạnh.   
Một Quốc Gia cần chọn đối tác có lợi cho mình nhất. Trong hoàn cảnh hiện nay, liên minh với Mỹ, Nhật, Úc, Ấn, Tây Âu đem lợi lớn cho Việt Nam. Mỹ, Nhật, Anh, Pháp là các nước có nền công nghiệp quốc phòng tiến bộ và mạnh nhất thế giới, Việt Nam cần chọn Mỹ, Nhật, Tây Âu làm các nhà cung cấp vũ khí chính. Các liên minh quân sự tay đôi (Mỹ-Nhật, Mỹ-Úc, Nhật-Úc…), tay ba (Mỹ-Nhật-Úc…) tạo thành thế trận liên hoàn trên Biển Đông, Việt Nam nên tìm vị trí thích hợp trên mạng lưới thế trận này để vừa có thực lực quốc phòng mạnh nhất, vừa có vị trí an toàn nhất. Xin đừng vin vào lập luận “Việt Nam không liên minh với ai để chống ai” để mà khước từ bắt lấy bàn tay chìa ra của Mỹ, bàn tay mà người bình thường nào cũng thấy sẽ góp phần lớn mang lại sức mạnh cho Việt Nam. Việt Nam hoàn toàn có thể liên minh với Mỹ không nhằm chống lại Trung Quốc, nhưng không để Trung Quốc xâm chiếm Việt Nam, và qua đó bảo vệ hòa bình hiệu quả nhất cho tổ quốc mà không phải mất thêm tấc đất nào.
Thoát Lệ Thuộc Kinh tế vào Trung Quốc
Đất nước không mạnh nếu lệ thuộc kinh tế. Trung Quốc đang xâm lấn Việt Nam, Việt Nam không thể cho phép mình lệ thuộc kinh tế vào Trung Quốc. Tình trạng lệ thuộc kinh tế vào Trung Quốc đã ở mức độ báo động đỏ, khiến con dân nước Việt lo sợ cho tương lai nền độc lập của tổ quốc. Mở rộng giao thương kinh tế với các nước giàu mạnh như Mỹ, Tây Âu, Nhật Bản, Hàn Quốc…, tái cấu trúc nền kinh tế tìm đường thoát lệ thuộc Trung Quốc là những việc cần tiến hành nhanh chóng. Trên con đường đi đến sự tự chủ hơn về kinh tế đối với Trung Quốc, cần xem việc gia nhập TPP là cột mốc quan trọng mà Việt Nam cần đạt được. Đạt được mục tiêu này, dân tộc Việt Nam sẽ có một nguồn sức mạnh rất lớn ngăn chặn tham vọng xâm lấn của Trung Quốc.
Kết luận về thế mạnh và yếu của Việt Nam
Thưa quí vị độc giả, quí vị có nghĩ rằng:
1) Ba mục tiêu chiến lược: dân chủ hóa đất nước, nâng cao khả năng quốc phòng, thoát lệ thuộc kinh tế vào Trung Quốc có quá khó đối với Việt Nam không?  
2) Nếu đạt được các mục tiêu chiến lược đó, Việt Nam sẽ có Dân Trí và Dân Khí cao, có sức mạnh quốc phòng, có nền kinh tế giàu mạnh và tự chủ, nước Việt Nam như vậy có đủ mạnh để bảo vệ lãnh thổ và lãnh hải không?
Tác giả bài viết này tin rằng Việt Nam hoàn toàn có khả năng đạt các mục tiêu chiến lược nói trên. Tiềm năng Việt Nam lớn, điểm xuất phát hiện nay còn thấp, chắc chắn nếu đi đúng hướng Việt Nam sẽ phát triển nhanh trong vài thập niên tới.
Theo các tính toán riêng, sau 15 năm đi đúng hướng, năm 2030, Việt Nam sẽ có tổng GDP khoảng 700-800 tỉ USD, có dự trữ ngoại tệ khoảng 300 tỉ USD, sẽ nằm trong hệ thống các nước Tự Do Dân Chủ trên thế giới. Nước Việt Nam như vậy chắc chắn đủ mạnh để góp phần bảo vệ con đường hàng hải Biển Đông, bảo vệ hòa bình Biển Đông, bảo vệ cuộc sống thanh bình và ấm no cho dân tộc.
Việt Nam cần bắt đầu cuộc canh tân, mà nội dung chủ yếu là Dân Chủ hóa, ngay bây giờ. Lúc này, dù rất hung hăng, Trung Quốc cũng chưa đủ sức tấn công hệ thống liên kết và liên hoàn quốc tế chống lại sự độc chiếm Biển Đông. 15 năm trôi qua rất nhanh, khi đã đạt các mục tiêu nói trên, một Việt Nam Giàu Mạnh sẽ làm lệch cán cân tương quan lực lượng trên Biển Đông về phía hòa bình và toàn vẹn lãnh thổ của tổ quốc.
Nếu không bắt đầu từ bây giờ, mọi việc e rằng sẽ quá trễ. Việt Nam ngày càng yếu hơn trong vòng kiềm tỏa ngày càng siết chặt của Trung Quốc.
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1) Trang AnhBaSam, THỨ TRƯỞNG BỘ QUỐC PHÒNG VIỆT NAM PHỦ NHẬN LIÊN KẾT VỚI MỸ CHỐNG TRUNG QUỐC: NƯỚC NHỎ TÌM LIÊN MINH ĐỂ CHỐNG NƯỚC KHÁC LÀ TỰ SÁT, 
2) Wikipedia, List of countries by past and projected GDP (nominal) per capita.
3) Trần-Đăng Hồng, PhD – So sánh GDP đầu người của Việt Nam với vài nước Á Châu.

Các bài viết được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ.

Các lực lượng đặc biệt Việt Nam đang chuẩn bị cho tranh chấp Biển Đông?

Chiến hạm Đinh Tiên Hoàng của hải quân Việt Nam tại căn cứ Cam Ranh.
Chiến hạm Đinh Tiên Hoàng của hải quân Việt Nam tại căn cứ Cam Ranh.
Theo VOA-22.06.2015
‘Quân đội Việt Nam đang chuẩn bị các lực lượng đặc biệt để có thể tấn công các cơ sở Trung Quốc trong khu vực’ là hàng tít đăng trên báo Want China Times của Đài Loan hôm nay, trích nguồn tin từ báo Kommersant có trụ sở ở Moscow.

Bài báo viết rằng cũng như các cuộc diễn tập quân sự đã được quân đội Việt Nam tiến hành từ năm 2004 đã cho thấy, máy bay chiến đấu SU-22 của Không quân Việt Nam sẽ được dùng để phát động cuộc tấn công đầu tiên chống các mục tiêu trên biển bằng tên lửa không đối địa AS-10. Các chiến đấu cơ này có thể tấn công các tàu hải quân Trung Quốc từ độ cao 2.500 tới 3.000 mét.

Cùng lúc, các chiến đấu cơ SU-30 có khả năng được dùng để yểm trợ đội máy bay dội bom SU-22. Tờ Want China Times đưa ra kịch bản là kế đó, Hải quân Việt Nam có thể đổ bộ lên các hòn đảo và bãi đá ngầm hiện do Trung Quốc chiếm đóng. Tàu đổ bộ sẽ được yểm trợ bởi máy bay, các tàu ngư lôi và hộ tống. Bài báo dẫn tin của Hệ thống Quân sự Sina ở Bắc Kinh nói rằng các tàu hộ tống lớp Tarantul được trang bị tên lửa Kh-35 do Nga chế tạo đặc biệt nguy hiểm đối với các tàu bè của Trung Quốc.

Việt Nam là nước thứ nhì trên thế giới sở hữu loại tên lửa Kh-35 do Nga chế tạo. Tầm bắn của vũ khí nguy hiểm này là 130km.

Vẫn theo kịch bản này, thì sau đó các lực lượng đặc biệt Việt Nam sẽ tiến hành các cuộc tấn công nhắm vào nhiều mục tiêu, kể cả các thương thuyền, tàu tiếp tế, các trạm radar, và các cơ sở và phương tiện khác của Trung Quốc trên các đảo nhỏ hay bãi đá, nơi mà một số ít binh sĩ Trung Quốc trú đóng.

Theo tờ Kommersant, mỗi đơn vị lực lượng đặc biệt của Việt Nam chỉ gồm từ 3 tới 5 người.

Một bài báo trên tờ Vancouver Sun của Canada viết rằng hiện nay, Việt Nam và Philippines nay đã công khai tranh chấp với Trung Quốc để giành chủ quyền hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa.

Cuộc tranh chấp đã âm ỉ từ lâu lại bùng phát mới đây vì các hoạt động qui mô lớn của Bắc Kinh để lấp biển xây đảo nhân tạo tại vùng biển đang trong vòng tranh chấp này.

Theo tờ báo, chính các hoạt động xây đảo của Trung Quốc cũng đã khiến Washington phải lên tiếng cảnh báo Trung Quốc, và tăng cường các chuyến bay tuần tra trên không phận Biển Đông.

Tờ Vancouver Sun trích lời Tổng lãnh sự Philippines Neil Ferrer nói rằng “Chúng tôi yêu cầu tất cả các bên tôn trọng luật pháp quốc tế, không chỉ ở Biển Đông, mà trong tất cả các quan hệ quốc tế. Trong nội bộ ASEAN, chúng tôi đã đi đến đồng thuận là chúng tôi mong muốn các nước khác phải tôn trọng. Chúng tôi đang tích cực kêu gọi sự tham gia của tất cả các bên liên quan trong cuộc tranh chấp, kể cả Trung Quốc”.

Tờ báo trích lời Tổng lãnh sự Việt Nam tại Vancouver Trần Quang Dũng, đồng tình với phát biểu của tổng lãnh sự Philippines. Ông Dũng nói: “Về vấn đề Biển Đông, lập trường của chúng tôi rất rõ ràng. Chúng tôi muốn vấn đề này được giải quyết dựa trên Công ước Quốc tế về Luật Biển. Chúng tôi muốn tất cả các bên liên quan tôn trọng luật này, và giúp tạo điều kiện để đạt một bộ Quy tắc Ứng xử với Trung Quốc”.

Tờ báo nhận định rằng có rất ít triển vọng là Trung Quốc sẽ lùi bước trong cuộc tranh chấp để giành chủ quyền trên hầu hết Biển Đông, làm tăng nguy cơ xung đột quân sự trong khu vực.

Trong khi đó, Philippines và Việt Nam nối lại đàm phán về việc thực thi luật pháp trên biển. Tờ Philippines Star hôm nay loan tin hai nước đang làm việc để thiết lập một cơ chế hầu có thể giải quyết hòa bình các vụ đối đầu trên biển, đặc biệt liên quan tới các vụ đối đầu vì các hoạt động đánh bắt cá bất hợp pháp trong các vùng biển thuộc chủ quyền của mỗi nước.

Từ tháng Ba năm nay, Philippines và Việt Nam đã thiết lập đường dây nóng để có thể phối hợp phản ứng trong trường hợp xảy ra các hoạt động bất hợp pháp, cũng như để hợp tác trong các hoạt động cứu nạn trên biển.

Nguồn: Want China Times, Asean Correspondent, The Philippines Star.

Đêm Thắp nến vì tự do cho các tù nhân lương tâm

Cát Linh, phóng viên RFA2015-06-22  
Chiến dịch “Nhân quyền 2015 cho VN”
Chiến dịch “Nhân quyền 2015 cho VN”-nhanquyen2015.net
Chiến dịch “Nhân quyền 2015 cho VN” được phát động rộng rãi trong và ngoài nước nhằm kêu gọi mau chóng trả tự do cho những tù nhân lương tâm như  Tạ Phong Tần, cha Nguyễn Văn Lý, Trần Huỳnh Duy Thức...hiện đang phải chịu cảnh lao tù vì cuộc đấu tranh cho tự cho, dân chủ. Đêm thắp nến tại thành phố Portland, tiểu bang Oregon vào đêm Thứ Bảy 19 tháng Sáu vừa qua là bước thứ hai của chiến dịch này. Đây là hoạt động do Ban chấp hành cộng đồng VIệt Nam Oregon với sự cộng tác của nhóm yểm trợ dân chủ cho Việt Nam và các đoàn thể trong cộng đồng tổ chức.
Khoảng 100 người của cộng đồng Tây Bắc đã có mặt tại Portland để cùng tham dự đêm thắp nến cầu nguyện cho nhân quyền tại Việt Nam và kêu gọi trả tự do cho các tù nhân lương tâm. Ông Nguyễn Tiến Dũng, một thành viên trong ban tổ chức cho biết mục đích là hỗ trợ tinh thần và đáp ứng bước thức thứ hai của chiến dịch “Nhân quyền 2015 cho Việt Nam.”  Ông nói:
“Từ lúc hoạch định tổ chức cho đến lúc thực hiện chỉ là 1 tuần lễ nên cũng không có phổ biến ra ngoài nhiều. Mục đích của mình là tập trung 1 số đồng bào tỵ nạn cộng sản mà người ta có thể đến được cùng với những quí vị lãnh đạo tinh thần của các tôn giáo tại địa phương để thắp nến nguyện cầu cho các tù nhân lương tâm, bày tỏ quan tâm lo lắng của mình cũng như mong muốn, yêu cầu nhà cầm quyền CS VN phải trả tự do cho các nhân vật có bản án rất bất công nặng nề như Trần Huỳnh Duy Thức, Tạ Phong Tần.”
Buổi thắp nến cầu nguyện diễn ra trong khoảng 2 giờ đồng hồ với sự tham dự của các vị tu sĩ Phật giáo, Công giáo, Tinh Lành, Hoà Hảo, và đông dủ các hội đoàn của địa phương.
Linh mục Phero Nguyễn Văn Khải đến từ Rome, trong chuyến đi giảng tĩnh tân ở nhà thờ các thánh tử đạo đã có mặt trong buổi thắp nến cầu nguyện cho các tù nhân lương tâm đang bị giam cầm trong nhà tù cộng sản, linh mục cho biết tâm niện của ông khi đến buổi cầu nguyện thắp nến này:
Tôi đến tham dự cùng với mọi người cùng với các thầy bên Phật giáo, các mục sư bên Tin lành và các vị chức sắc của Cao Đài. Những tù nhân lương tâm ở VN là những con người ưu tú của dân tộc, đấy là tinh hoa của dân tộc, đấy là những con người rất can đảm
LM Phero Nguyễn Văn Khải
“ Tôi đến tham dự cùng với mọi người cùng với các thầy bên Phật giáo, các mục sư bên Tin lành và các vị chức sắc của Cao Đài. Những tù nhân lương tâm ở VN là những con người ưu tú của dân tộc, đấy là tinh hoa của dân tộc, đấy là những con người rất can đảm.  Bởi sự dấn thân của họ cho dân tộc, cho đất nước, cho dân chủ, tự do, họ đã bị nhà cầm quyền cộng sản bắt bớ giam cầm rất bất công. Tôi thấy mình phải có bổn phận phải cầu nguyện cho họ. Tôi thấy mình phải có bổn phận lên tiếng thay cho họ. Và tôi thấy đó là đòi buộc của lẽ công bằng, tình bác ái, tình yêu thương. Với tư cách là 1 linh mục thì tôi không thể ngồi yên khi thấy những người con của dân tộc VN mà tôi nói tinh hoa nhất đấy, mà họ cũng là bạn bè của tôi mà họ dấn thân vì nghĩa mà bị bắt bớ giam cầm kết án bất công như vậy được. cho nên tôi không làm được gì thì ít nhất tôi cũng phải có cầu nguyện cho họ và lên tiếng thay cho họ.”
Đêm thắp nến tại thành phố Portland, tiểu bang Oregon vào đêm Thứ Bảy 19 tháng 6, 2015 (minh họa)
Đêm thắp nến tại thành phố Portland, tiểu bang Oregon vào đêm Thứ Bảy 19 tháng 6, 2015 (minh họa)

Vài ngày trước đó, nhà báo Điếu Cày của Câu lạc bộ nhà báo tự do, tức tù nhân lương tâm Nguyễn Văn Hải cũng có buổi gặp gỡ các đại biểu quốc hội tại buổi điều trần ở Washington D.C. Ông cho biết mình đã đưa ra hai vấn đề chính, là tự do báo chí, tự do ngôn luận và thúc đẩy trả tự do cho các tù nhân lương tâm trong nước.
Không nên nhìn vào luật, vào hiến pháp của VN để biêt rằng dân VN có quyền gì. Mà thực tế, họ phải biết rằng những cái văn bản dưới luật mà VN ban hành đang tước đoạt những quyền đã được ghi trong luật và chỉ những văn bản dưới luật đó được thực hiện trong các nhà tù của VN
nhà báo Điếu Cày
Bản thân Điếu Cày cũng là một nhà đấu tranh dân chủ, một tù nhân chính trị đã đi qua 11 nhà tù trong 6 năm nên ông rất hiểu rõ tình trạng trong các nhà tù đó. Cho nên điều ông muốn khi đến buổi điều trần là:
“Tôi muốn làm rõ với các quí vị trong quốc hội Hoa Kỳ là chính quyền VN vi phạm nhân quyền 1 cách có hệ thống bằng cách ban hành hẳn 1 thông tư 37 của bộ công an về phân loại giam giữ. Và bằng thông tư này họ xây dựng hàng loạt những nhà tù trong nhà tù và hình thức giam giữ này không được ban hành trong luật.”
Thêm nữa, ông nói rằng ông muốn chuyển đến các quí vị đại biểu quốc hội một vấn đề:
“Họ không nên nhìn vào luật, vào hiến pháp của Việt Nam để biêt rằng dân VN có quyền gì. Mà thực tế, họ phải biết rằng những cái văn bản dưới luật mà VN ban hành đang tước đoạt những quyền đã được ghi trong luật và chỉ những văn bản dưới luật đó được thực hiện trong các nhà tù của Việt Nam.”
Đây là tình trạng vi phạm nhân quyền 1 cách có hệ thống của chính quyền, có mục đích, có chủ ý.
Ông Hải cũng cho biết ông có đưa ra một danh sách các tù nhân cần được hỗ trợ khẩn cấp, và trong đó có Tạ Phong Tần.
“Trong lúc thảo luận các vị đại biểu quốc hội cũng có hỏi về những trường hợp cụ thể bị trả thù trong nhà giam hay không thì tôi có đưa ra 2 trường hợp, là trường hợp của chính tôi bị giam riêng 3 tháng, đưa vào phòng biệt giam và trường hợp của Tạ Phong Tần bị giam riêng nhiều tháng rồi. Mà hình thức giam riêng này hoàn toàn không được thể hiện trong luật.”
Chiến dịch “Nhân quyền 2015 cho Việt Nam” sẽ còn lan rộng ở khắp các nơi trên thế giới để cùng kêu gọi cho nhân quyền dân chủ ở Việt Nam. Và đặc biệt, kêu gọi trả tự do cho các nhà đấu tranh dân chủ đang bị giam cầm bất công và trái pháp luật.

Đôi điều về “Hòa Giải, Hòa Hợp Dân Tộc Việt Nam”

David Thiên Ngọc (Danlambao) - Bài viết cho chuyến Mỹ du của ông Nguyễn phú Trọng. 

Sở dĩ tôi viết về HGHHDT trong bài này cho chuyến Mỹ du của ông Nguyễn phú Trọng vì tôi tin rằng ngoài những vấn đề nóng bỏng, sôi động trên chính trường QT mà nhất là Châu Á TBD, Đông Nam Á, Biển Đông và chương trình chuyển trục của Hoa Kỳ có liên quan đến sự sống còn của CSVN trước nanh vuốt của Tàu cộng thì vấn đề HGHHDT mà hơn 10 năm qua Bộ Chính Trị đảng CSVN đã có nghị quyết 36 cũng không thể thiếu vắng trong chuyến Mỹ du lần này của Nguyễn phú Trọng.

Trước khi đi vào bài viết tôi xin mạn phép đứng ra ngoài quan điểm chính trị để có những lập luận, phân tích và dẫn giải mọi sự việc liên quan đến Hòa Hợp, Hòa Giải Dân Tộc (HHHGDT) được khách quan và công bằng. Bởi có một điều rằng nguyên nhân từ đâu để có hận thù (điều không thể không có trong chiến tranh VN), mâu thuẫn, nợ nần về tinh thần, tài sản từ vật chất lẫn máu xương để cho ngày nay phải đặt ra vấn đề “Hòa Giải”. Đồng thời trong việc xử lý cái hệ lụy từ hận thù, nợ nần mọi mặt… nêu trên như thế nào để đi đến xóa bỏ? Rồi đặt ra hai từ “Hòa Hợp”? dĩ nhiên là thuận cả đôi bề về tư tưởng tình cảm, không kể nợ máu xương vì khoản này khó mà trả cho được, còn phần tài sản vật chất cùng các quyền của người dân đã bị tước đoạt thì CSVN đã khắc phục hậu quả đến đâu trong quá trình “Hòa Giải” rồi mới đi tiếp bước thứ hai là “Hòa Hợp”! Cũng giống như trong quá trình “ly hôn” của đôi vợ chồng. Khi đã ổn thỏa trong bước “hòa giải” ở tòa án có nghĩa là “hòa giải thành”, xóa tan mâu thuẫn thì mới “hòa hợp” trở lại được. Ngược lại thì “…Anh đi đường anh… tôi đường tôi…”.

Nguyên nhân và mục đích:

Để phân tích cho thấu đáo trong vấn đề Hòa Giải rồi đi đến Hòa Hợp cho dân tộc VN sau cuộc chiến tương tàn nồi da xáo thịt… ta phải tìm hiểu nguyên nhân và hậu quả. Trong trường hợp này ta dùng phạm trù “nguyên nhân” thì theo tôi có lẽ nó chưa lột hết nội hàm mà phải là “phương tiện”. Về phía cộng sản Bắc Việt (CSBV) đánh tráo khái niệm “phương tiện” ra “nguyên nhân” và lập luận rằng nguyên nhân xảy ra cuộc chiến trên là do “Đế Quốc Mỹ xâm lược MNVN” và “Ngụy Quyền SG” (họ chỉ VNCH) làm tay sai bán nước cho Đế Quốc Mỹ. Do đó CSBV phải kháng chiến chống Mỹ-Đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào - và đạt được kết quả là “Giải phóng MNVN” và là mục đích cuối cùng, là “cứu cánh” mà thâm tâm đích thực là “cưỡng chiếm MNVN”. Sau khi “cưỡng chiếm MNVN” CSBV tiến hành chủ trương "cải tạo công thương nghiệp", “cải tạo tư sản mại bản”… cái phương tiện này che giấu cho hành động “cướp trắng”, “cướp có chính sách, chủ trương”… được đem ra áp đặt đối với người dân MNVN với mục đích mơ hồ điếm xảo, cứu cánh ngụy tạo là “đấu tranh giai cấp, xóa bỏ giai cấp bóc lột” mà mục đích chính là thu vén tất cả tài sản cướp được về cho cá nhân, bè nhóm, tập đoàn CSVN nói chung cho cả CS Bắc và Nam VN (thành phần nhảy núi, ra bưng và số cán bộ đảng viên không đi tập kết ra Bắc sau năm 1954). Riêng về tài sản QG VNCH thì sau khi tập đoàn CSVN tịch thu và tự chia chát cho nhau còn lại sung công quỹ một số gọi là… cho tài sản đất nước XHCN như vụ 16 tấn vàng cướp của Nhân Dân MNVN mà đại diện là Chính Phủ VNCH đến nay vẫn còn là dấu hỏi lớn. Ở giai đoạn này CSVN “lấy cứu cánh biên minh cho phương tiện”.

Về phần con người thì CSVN lùa người dân cùng hầu hết gia đình vợ/chồng con của “ngụy quân, ngụy quyền” (từ CSVN dùng) đưa đi KTM… với mỹ từ là “cải tạo lao động XHCN”, “lao động là vinh quang”… nhưng thực chất, mục đích cuối cùng là chiếm đoạt tài sản, nhà cửa ở thành phố của những gia đình nạn nhân nói trên.

Về thành phần quân cán chính VNCH thì CSVN lùa vào các “trại tập trung cải tạo” mà đúng nghĩa là những “trại tù CS” mà họ gọi từ hoa mỹ là “cải tạo tư tưởng, văn hóa, chính trị” để hòa nhập vào xã hội mới XHCN. Nhưng mục đích cuối cùng là “trả thù” một cách dã man. Từ “dã man” này được thể hiện qua hàng trăm ngàn nạn nhân (quân cán chính VNCH) bị bức hại, giết chết lần mòn, đày ải xác thân mà rất nhiều người phải gởi nắm xương tàn nơi bìa rừng, đầu suối mà cho đến ngày nay vợ con còn chưa tìm thấy được. Một số sống sót họ kể lại sau khi được phóng thích và được sự nhìn nhận, lên án của các tổ chức phi chính phủ và các chính phủ văn minh, dân chủ trên thế giới nghe, thấy và công nhận.

Sau ngày 30.4.1975 CSVN sa thải, sách nhiễu, đày ải hầu như toàn bộ công nhân viên kể cả các thành phần trí thức, khoa học kỹ thuật không liên quan đến quân sự, chính trị… có một số ít thuộc thành phần trí thức trong ngành giáo dục và khoa học kỹ thuật được lưu dụng nhưng trong tình trạng bị phân biệt đối xử, quản lý và theo dõi… với chính sách “tẩy não”. Nói chung là đại bộ phận các đơn vị, tổ chức trong hoạt động xã hội lẫn bộ máy chính quyền từ trung ương đến địa phương, các cấp, các cơ sở… của chính phủ VNCH đều chung một hoàn cảnh. Một con số rất lớn phải bị thất nghiệp, bị quẳng ra lề XH. Nhiều người lâm vào hoàn cảnh bi đát, nghiệt ngã thiếu thốn chưa nói là khốn cùng…

Thay vào đó là một số rất lớn cán bộ đảng viên CSVN thoát ra từ rừng núi xuống và từ Bắc tràn vào để lấp chỗ, thay thế điều hành bộ máy chính quyền MNVN mục đích xây dựng XH mới chỉ là hình thức mà nội dung và mục đích chính là cướp đoạt, thu vén cho cá nhân và gây thanh thế, bè nhóm để ngồi trên đầu người dân MNVN mà cai trị và bóc lột lâu dài. Cái giai cấp (bóc lột) mà họ đã và đang đấu tranh để xóa bỏ chỉ áp dụng cho tha nhân còn đối với họ (CSVN) lại là bản chất, là thuộc tính của tập đoàn mình.

Ngoài số quân cán chính VNCH bị CSVN trả thù khốc liệt tạm dẫn trên thì hàng triệu người dân từ cụ già đến đàn bà trẻ nít… phải liều chết băng rừng, vượt biển tìm 1 phần sống trong 10 phần chết cũng phải đứt ruột bỏ quê hương mồ mả người thân, vợ xa chồng cha xa con mà chạy trốn, tránh “họa cộng sản” để ngày nay được tô hồng với mỹ từ đầy yêu thương “khúc ruột ngàn dặm”!!!.

Về phía chính quyền VNCH thì cuộc chiến trên hai mươi năm khói lửa, máu xương là một cuộc chiến vì nhân quyền, dân chủ và độc lập. Người lính VNCH Bảo vệ Tổ Quốc trước sự xâm lăng của CSBV làm tay sai cho Nga-Tàu nhằm nhuộm đỏ Đông Nam Á theo cuồng vọng của CS đệ tam QT. Chưa có một người lính hay cán bộ nào của VNCH xâm phạm lãnh thổ, tài sản vật chất… của nhân dân Miền Bắc VN mà chỉ tự vệ, bảo vệ những gì thuộc về VNCH trong suốt hơn 20 năm cuộc chiến. Như vậy cái mục đích cuối cùng trong cuộc chiến của cả hai bên thì phần chính danh thuộc về bên nào? câu trả lời dành cho toàn dân VN để được khách quan. Đồng thời cái nguyên nhân từ đâu để có cuộc chiến thì không cần nói ra mà qua các dẫn chứng tự nó đã có câu trả lời.

Ván bài lật ngửa: 

Người xưa nói “Minh thương dễ đỡ, ám tiêu khó lường”. Nội hàm trong câu nói nó đã ám chỉ hai hạng người. “Minh thương” cho hành động của hàng chính nhân quân tử còn “ám tiêu” là dành cho phường hạ đẳng tiểu nhơn. Trên vũ đài chính trị thế giới hiện nay đã qua rồi cái thời “lọc lừa dối trá”. Thắng nhau bằng “miếng lừa”, bằng dối gian xảo trá nó không còn chỗ đứng mà cái sự hơn nó được thể hiện qua thực lực từ kinh tế, quân sự, khoa học kỹ thuật (chất xám)… những lĩnh vực ấy nó hình thành nên bức tranh chính trị mà gam màu sáng tối sẽ tùy thuộc vào nội, ngoại lực cộng sinh. Đọc chiến sử (Tàu) xưa có những vị được xem là dũng tướng tài ba, võ nghệ được ca tụng là dưới trời không đối thủ… thế nhưng giữa trận tiền còn dùng những mánh “trá bại” mà xuất chiêu “hồi mã thương” hay “đà đao” để sát hại đối thủ trong phút sơ kỳ bất ý thì lấy gì làm vinh? hay trá hàng, khổ nhục kế… lừa đối phương một cách tiểu nhơn. Những mánh lừa không trong sáng, quân tử ấy cho dù xưa hay nay nó vẫn không bao giờ được tôn vinh và tồn tại mà nó sẽ bị “lột mặt” nơi chính trường và sẽ ngã ngựa nơi trận tiền… vì những cú lừa khó thực hiện được lần thứ hai.

Những chiêu thức đó nó có từ ngàn xưa bên Sở bên Tề… tuy nhiên những cái “chước hạ nhân” đó nó vẫn còn lưu giữ trong máu của loài “Hán cộng” và nó lây truyền cho CSVN và điều tất nhiên là tất cả sẽ chuốc lấy thất bại và cô đơn trên chính trường thế giới.

Sau 40 năm tàn cuộc chiến nhưng cái lằn ranh Quốc-Cộng trong tâm thức của người VN nó vẫn còn hiện hữu chưa có dấu hiệu phai mờ. Hơn 10 năm qua đảng CSVN tung ra nghị quyết 36 những mong “hát ru” cho hàng triệu “khúc ruột ngàn dặm” ngủ mê mà thi hành quỷ kế. Nhưng CSVN đã thêm lần nữa sai lầm! Đảng CSVN cứ ngỡ rằng dưới bàn tay sắt máu, bạo cường… họ sẵn sàng tước đoạt mạng sống, nghiền nát bất cứ ai ở quốc nội dám cản đường hay đi ngược lại bánh xe của CS mà họ dán mác là “bánh xe lịch sử”. Do đó họ tung ra chiêu bài “HGHHDT” đối với “khúc ruột ngàn dặm” mà thôi mà quên rằng (hoặc chủ quan) họ có hòa giải được với hơn 80 triệu dân VN đang sinh sống trong nước và đang từng giờ đối đầu với họ hay không? Trong khi tận đáy lòng người dân chất chồng bao thù hận, nỗi niềm, oan khiêng nghiệt ngã mà hàng chục năm qua vì mạng sống của chính họ cùng chồng/vợ con lẫn chén cơm cho cả nhà mà khiến cho lưỡi họ phải thụt vào trong mà không nói được nên lời… Bởi khi tàn cuộc chiến bằng bom đạn thì CSVN điên cuồng biến cuộc chiến trên thành một cuộc chiến khác tuy không súng đạn xe tăng thiết giáp nhưng cũng ngập tràn máu lửa… mà một bên là đảng CSVN và bên còn lại là toàn dân Việt. Thế thì chiêu bài HGHHDT chỉ đối với 4 triệu người Việt hải ngoại mà hầu hết là tị nạn “tránh họa CS” có phải là sai lầm? chưa nói là ngớ ngẩn và lố bịch! Canh bạc HGHHDT trên vũ đài chính trị VN đã đến hồi lật ngửa vì con “bài tẩy” của CSVN đã bị nhân dân nắm trong tay.

Đa nguyên chính trị.

Người VN chân chính trong mọi lúc luôn tôn trọng sự công bằng và minh bạch. Không đố kỵ, trả thù nhỏ mọn mà muốn sòng phẳng công khai dưới ánh đèn của vũ đài chính trị. Dùng minh thương chứ không lén lút ám tiêu. Đảng CSVN luôn tự hào là vô địch, không đối thủ! Thế tại sao lại sợ đối lập? luôn dùng mọi phương tiện bạo cường để trấn áp triệt tiêu mọi tổ chức cho dù là tổ chức xã hội dân sự? mà những tổ chức Dân Sự này luôn cần phải có trong bất cứ một đất nước Dân Chủ-Văn Minh nào trong đó kể cả các hội đoàn, tôn giáo? Chưa nói là đảng phái chính trị! Đồng thời tước đoạt mọi quyền tối thiểu của người dân? Sợ tiếng nói của người dân? Như trên tôi đã ví von vị dũng tướng tự hào là dưới trời không địch thủ mà phải dùng “miếng lừa” hèn hạ để hạ đối phương?

Đảng CSVN làm sao chứng minh cho thế giới biết cái chính danh của mình mà họ luôn ca ngợi và tự hào? đồng thời luôn lớn tiếng cho rằng đảng được dân tin yêu trong lúc họ cương quyết dùng mọi biện pháp, bằng vũ lực, bằng pháp luật ngụy tạo mơ hồ… để triệt tiêu các đảng phải chính trị từ trong trứng nước, triệt hạ mọi tiếng nói, ý tưởng của người dân để một mình một chợ? Múa gậy vườn hoang? Không có thế lực thứ 2, thứ 3… và nhiều hơn nữa thì sao cho mình là hạng nhất, là vô địch? không một tổ chức XHDS, tổ chức chính trị của các nước văn minh nào được tự do tiếp xúc thăm hỏi, chia sẻ, giao lưu với người dân trong đó có dân oan, những nhà dân chủ, đại diện các tôn giáo, các hội đoàn… thì sao biết được lòng dân thuộc về đảng? độc đảng, độc tài, độc trị thì sao gọi là ưu việt, là văn minh tiến bộ?. 

Nhân dân VN luôn tôn trọng sự công bằng, bác ái và bao dung. Mọi tổ chức trong xã hội sẽ sẵn sàng giúp sức cho đảng CSVN lớn mạnh, tốt đẹp hơn và công nhận sự lãnh đạo, cầm quyền của đảng đối với đất nước nếu đảng CSVN thực sự chính danh, chiếm được đa số người dân ủng hộ, trao quyền lãnh đạo đất nước được thể hiện công khai trên một sân chơi công bằng và minh bạch, bằng lá phiếu của chính mình. Để thực hiện điều đó chỉ có một con đường duy nhứt là “đa nguyên chính trị”, đa đảng cùng nhau cạnh tranh tích cực để vạch ra phương án tối ưu nhằm phục vụ tốt nhất cho Tổ Quốc, Nhân Dân.

Đôi dòng về thuật ngữ “Đa Nguyên”:

"Đa nguyên " (Ngoài chính trị ra, thuật ngữ đa nguyên cũng được dùng với một số nghĩa khác trong ngữ cảnh tôn giáo, kinh tế và triết học...) luôn đồng hành với Dân Chủ, Nhân Quyền, nó là 3 ngọn đuốc sáng soi cho con đường mà mọi dân tộc bước đi để xây dựng một xã hội nhân bản và phồn vinh. Không phải đến gần đây từ "đa nguyên" mới xuất hiện để đối kháng lại với "đơn nguyên" của chế độ độc tài, độc trị mà CS áp đặt trên các nước bị nhuộm đỏ... mà nó đã có từ giữa thế kỷ thứ 4 sau công nguyên để lập nên những giá trị làm nền tảng cho những cộng đồng xã hội ngoại KiTô giáo sống thích nghi, sinh tồn trong xã hội mà lúc bấy giờ là thời hoàng kim của xã hội KiTô giáo. Chính những giá trị tinh thần của cộng đồng xã hội ngoại KiTô đó đã khiến cho những vị đứng đầu Giáo Hội Ki Tô đầy quyền lực chấp nhận cho một sự thỏa hiệp, một sự hòa mình sống chung với nền văn hóa đặc thù của xã hội ngoài KiTô tương phản với KiTô Giáo (có thể gọi là đối lập) một cách hòa bình. Những giá trị đó là "Đa nguyên". Từ đó qua hàng thế kỷ xã hội đa nguyên phát triển không ngừng trong xã hội Châu Âu với phương châm "Tương đồng trong dị biệt". Sau này triết gia Pierre Abelard (1079-1142) đã nói rõ nguyên lý này rằng: "Diversa non Adversa" (tương phản nhưng không là địch thủ) và từ đó "Đơn nguyên" Ki Tô Giáo đã trở thành "Đa nguyên".

Khái niệm về "Đa nguyên" đã được các nhà chính trị, văn hào như Benjamin Constant, Alexis de Tocqueville tôn vinh như một con đường sáng để đem lại an lành, hòa bình cho xã hội.

Còn Nietzche thì cho rằng Đa nguyên bắt nguồn từ Đa Thần Giáo, việc tạo tác các thần linh cùng các vị Anh Hùng cùng những sự vật phản ánh bản năng phóng khoáng, đa dạng của tư tưởng con người và nó cũng là khát vọng của bản ngã, của mọi con người, của mọi tầng lớp trong xã hội.

William James thì cho rằng Đa Thần biểu hiện tính chất "Đa nguyên" của vũ trụ, là tổng hợp những hình thái và nguyên lý bao trùm vũ trụ.

Theo Aristote thì con người có 2 động cơ chính là quyền sở hữu và cảm tình. Hai yếu tố này không có vị trí trong xã hội "Đơn nguyên" khép kín của Platon, Hegel, Marx. Xã hội đa nguyên rộng mở trái ngược với xã hội đơn nguyên khép kín (CSCN) xem sự tự do, sở hữu cá nhân từ vật chất đến tinh thần đều là những trở lực, là thù địch với thể chế đơn nguyên độc trị.

Còn rất nhiều các triết gia, chính trị gia nổi tiếng nói về đa nguyên nữa nhưng tựu chung lại tất cả đều cùng một tư duy về đa nguyên là sự gắn kết không thể tách rời của sự sống (muôn loài) với thiên nhiên, vũ trụ luôn đa dạng muôn chiều... qua đó đa nguyên bao trùm, chất chứa tinh thần thực tiễn, đối nghịch lại với mơ hồ ảo tưởng. Đồng thời Đa nguyên song hành với phương pháp luận thực nghiệm (Pragmatisme). Có một điều ta thấy "Đa nguyên" nó gần gũi với sự mong mỏi của người dân và xã hội VN hiện nay là nó "chấp nhận đối thoại", chấp nhận ý tưởng phát kiến của cá nhân không phân biệt dân tộc, tôn giáo hay quốc gia nào và nâng cao sự khiêm tốn, tự trọng, khách quan và bao dung. Đó là nền tảng của đạo đức muôn đời.

Nói tóm lại, với những nhận xét và lý luận của các triết gia, chính trị gia trên thế giới xưa nay thì ta có thể nói rằng xã hội đa nguyên là một xã hội rộng mở, nhân văn, đa diện... trái ngược với xã hội đơn nguyên, khóa chặt, độc tài thiển cận mà Platon, Hegel, Marx đã đề cao.

Từ xa xưa cũng chính cái ý tưởng của xã hội đa nguyên là nguyên nhân cho sự tan rã của các xã hội đơn nguyên khép kín mang hình thái bộ lạc, lạc hậu thiếu nhân bản và nhân văn. Cuối thập kỷ 80 và đầu thập kỷ 90 thế kỷ trước với sự sụp đổ của bức tường Berlin, hệ thống CNXH ở LX và Đông Âu cũng không là ngoại lệ.

Ngày nay trước thềm vận hội mới trong gam màu đa sắc của bức tranh chính trị thế giới nếu đảng CSVN chịu mở rộng tầm nhìn, đoạn tuyệt với bảo thủ, thiển cận, tự mãn, tự hào, tự kiêu… và tỏ ra thật chân thành trong chiều hướng muốn HGHHDT nhằm xóa bỏ mọi đố kỵ hận thù, xoa dịu, hàn gắn vết thương do chiến tranh phi nghĩa gây ra cho toàn dân thì trước hết phải chấp nhận đa nguyên chính trị, đa tổ chức xã hội, đa đảng cạnh tranh lành mạnh công khai trên vũ đài chính trị, thành tâm hối lỗi chuộc lại sai lầm trong quá khứ… thì cánh cửa HGHHDT sẽ từ từ hé mở đón nhận những bước đi ban đầu hướng về phía trước. Còn ngược lại thì chính đảng CSVN tỏ tường hơn ai hết.

Liệu con đường HGHHDT có khả thi với những sư kiện như sau: 

Tôi xin lược dẫn một số sự kiện, dữ liệu tiêu biểu nếu đảng CSVN lý giải một cách thành tâm, nhìn nhận sự thật thì tôi tin rằng con đường “HGHHDT” sẽ có cơ hội khả thi.

Thời gian gần đây rộ lên từ hải ngoại đến quốc nội cụm từ “Hòa giải-Hòa hợp Dân Tộc”. Tôi nghe câu này mà ngẫm nghĩ lại trong thời gian dài gần thế kỷ qua nơi vũ đài chính trị VN mà chẳng biết nói sao đành mượn lời của cụ Nguyễn Tiên Điền“Những điều trông thấy mà đau đớn lòng”. Không đau lòng sao được? Khi nhân dân VN như một cô “Gái quê” chân ướt chân ráo lạc bước lên chốn thị thành đô hội dưới ánh sáng muôn màu và bầy chồn cáo, cuối cùng “em đã bị sa chân”. Với bản chất hiền hòa và chơn chất làm sao mà có sự đề phòng, chuẩn bị để đối phó với kẻ lưu manh, điếm ngôn xảo ngữ nói một đàng rồi làm một nẻo? để chứng minh cho điều đó tôi xin sơ lược qua từng bước.

Kể từ những năm 40s của thế kỷ trước. Hồ tập Chương đã chiêu dụ các thân hào chí sĩ, các tên tuổi lớn yêu nước VN cùng nhau đứng chung dưới mái nhà “Chính phủ liên hiệp” để chung tay chống đế quốc Pháp cứu sơn hà, thử hỏi ai mà không ủng hộ?. Nhưng thật ra đây chỉ là một ngôi nhà ma của loài quỷ dữ ngụy tạo để điểm mặt từng người và dễ dàng tiêu diệt, hầu loại trừ đối thủ sau này có thể cản trở con đường "cách cái mạng" của nhân dân mà bán nước. Tất nhiên xong việc, ngôi nhà ma đó sẽ trở thành nghĩa trang mai táng các nhà chí sĩ chân chất yêu nước VN.

Sau khi Hồ tập Chương và đồng đảng đã đứng lên “cướp” chính quyền từ tay nhân dân do học giả, Thủ Tướng Trần trọng Kim đứng đầu. Từ đó xây dựng lên một nhà tù lớn trên toàn cõi Miền Bắc VN mà ngụy danh là nước VNDCCH và ra tay tàn sát nông dân (CCRĐ) kể cả những người yêu nước và từng cưu mang cả bộ sậu chóp bu đảng cướp CSVN. Tàn sát giam cầm, khổ sai văn nghệ sĩ (NV-GP) vì bản chất CS rất sợ trí thức với lý do gì ai cũng hiểu mà tôi không phải phân tích, dẫn chứng ra nhiều.

Cũng trong những năm 40s khi thế chiến thứ 2 kết thúc thì phong trào độc lập của các nước thuộc địa trên toàn thế giới nở rộ như nấm mọc sau mưa…. đó là xu thế của thời đại. Hầu hết từ Phi sang Á không một nước nào phải bỏ ra một giọt máu để giành độc lập, tự do. Thế mà tập đoàn Hồ tập Chương và bè lũ đã ngu muội nghe theo lời xúi dục của CS Nga-Tàu đem máu xương nhân dân chôn vùi nơi thung lũng Điện Biên và ngửa mặt xưng là chiến thắng “kinh thiên động địa-rúng động năm châu” với tâm thức thằng Bờm ngửa mặt nhận nắm xôi từ tay phú ông Mao-stalin.

Tiếp diễn bản chất của một kẻ dối lừa. Hiệp định Genève được ký kết để chấm dứt sự hiện diện của quân đội Pháp ở Đông Dương. Qua hiệp định này Lập trường của nước VNDCCH mà đại diện là ông Phạm Văn Đồng đã nêu lên và đưa vào nội dung hiệp định 8 điểm trong đó điểm thứ 3 như sau: "Tổ chức tổng tuyển cử tự do trong 3 nước nhằm thành lập chính phủ duy nhất cho mỗi nước".

Thế nhưng sau khi hiệp định được ký kết đúng ra toàn bộ lực lượng CS phải rút hoàn toàn về Bắc bên kia vỹ tuyến 17 để chuẩn bị tổng tuyển cử. Vậy mà CSVN chỉ rút một phần trên hình thức để che mắt Quốc Tế. Bộ phận nòng cốt được bí mật cài ở lại Miền Nam VN để làm cơ sở, hậu thuẫn cho cuộc chiến sau này cưỡng chiếm MNVN như đã định sẵn. Rõ ràng hiệp định ký một nơi mà thi hành một nẻo. Lừa đảo nhân dân Miền Nam lúc đó rằng cán bộ chỉ đi tập kết ra Bắc thời gian 3 năm để chờ tổng tuyển cử. Thế rồi chồng vợ, cha con, người thân tan đàn xẻ nghé đằng đẵng 21 năm trời mà vết thương đó đến mãi hôm nay vết sẹo vẫn chưa mờ.

Đốt dãy Trường Sơn. Làm tay sai cho Nga-Tàu đẩy gần 5 triệu quân dân, nam nữ thanh niên VN nướng vào chảo lửa Trường Sơn để mang chủ nghĩa vỹ cuồng nhuộm đỏ Đông Nam Á. Nếu không phản bội hiệp định Genève, cài đảng viên CS ở lại Miền Nam chuẩn bị mưu đồ và thực hiện tổng tuyển cử thì làm gì có cuộc chiến tranh tương tàn nồi da xáo thịt, để sau ngày 30/4/1975 huênh hoang rằng đảng đem lại hòa bình, thống nhất cho dân tộc???

Dựng ngọn cờ đánh Mỹ ư? Đuổi Mỹ ư? Vậy tại sao sau khi hiệp định Paris ký kết vẫn tiếp tục bắn giết anh em? Đốt phá làng mạc gọi là khúc ruột Miền Nam khi không còn một người Mỹ nào trên đất nước Miền Nam Việt Nam? rồi cũng xảo trá cam kết thực hiện “hòa hợp, hòa giải dân tộc” như trong hiệp định Paris điều 11 khoản IV:

Ngay sau lệnh ngừng bắn, hai phía miền Nam Việt Nam:

- Thực hiện hòa giải, hòa hợp dân tộc, xóa bỏ hận thù, nghiêm cấm mọi hành động thù địch, kỳ thị nhằm vào các cá nhân hay tổ chức đã từng cộng tác với bên này hoặc bên kia.

- Bảo đảm tự do dân chủ cho nhân dân: tự do cá nhân, tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp, tự do lập hội, tự do hoạt động chính trị, tự do tín ngưỡng, tự do đi lại, tự do di trú, tự do làm việc, quyền tư hữu, quyền tự do kinh doanh.

Hòa giải, hòa hợp dân tộc xóa bỏ hận thù ư? Gần triệu người dân quân cán chính VNCH xương bỏ núi đồi, máu rơi rừng sâu sông suối… xương cốt đa phần đến ngày nay vợ con cũng chưa được thấy tìm… cả triệu người dân MNVN đàn bà, trẻ nít phải bỏ nước ra đi một số lớn đã chìm thây trong lòng biển làm mồi cho cá, phụ nữ là nạn nhân cho hải tặc làm nhục trước mặt chồng con rồi xác thân cũng trôi theo dòng nước. Ai mà không có một quê hương, một nơi chôn nhau cắt rốn? Ai mà không có một cõi đi về, nơi đó là Quê Hương mà “Quê hương là chùm khế ngọt… quê hương là cầu tre nhỏ… là đêm trăn tỏ... Quê hương nếu ai không nhớ! Sẽ không lớn nổi thành người…” (Đỗ trung Quân). Như vậy mỗi người VN phải đứt ruột đành bỏ Tổ Quốc để chịu kiếp “ly hương” thì cái động lực và nguồn cơn không hề nhỏ, với trang viết này không đủ để tỏ bày.

Cũng trong điều 11 khoản IV HĐ Paris những cái tự do mà nhân dân MNVN phải có cũng đều bị CSVN tước đoạt. Các tù nhân lương tâm VN đang đứng sau hàng song sắt của nhà tù CS là gì? Có phải những người có dũng khí, can đảm đứng lên đòi lại những quyền tự do mà trong điều 11 khoản IV HĐ Paris đã ghi rõ?

Như vậy hầu hết người dân VN bỏ nước ra đi sau ngày Quốc hận 30/4/1975 dứt khoát đều mang trong lòng một nỗi hận, nỗi đau không dứt… Thế thì ngược thời gian một chút, tôi xin hỏi ông Trương tấn Sang ngày 25/7/2013 trong buổi diện kiến Tổng Thống Mỹ B.Obama ai đã cho phép ông thay mặt người VN ở Mỹ- Những thuyền nhân bỏ nước ra đi tránh họa cộng sản- để nói lời “Cảm ơn nước Mỹ đã tạo điều kiện cho người Mỹ gốc Việt được thành công trên cả hai lĩnh vực kinh tế và chính trị.”??? Lúc này nhìn qua lớp kính màn hình ai cũng thấy bản mặt của Trương tấn Sang dày như một lớp vữa của một bức tường ô nhục, rêu phong mục nát sắp đổ nhào.

Trở về với vấn đề hòa giải- hòa hợp dân tộc. Suốt từ đầu bài viết cho đến đây tôi đã tạm nêu ra một số ít trong vạn ngàn trường hợp có liên quan và những điểm trong chính sách mà CSVN có đề cập đến trong lĩnh vực hòa hợp-hòa giải dân tộc. Ở điểm này tôi xét thấy vấn đề hòa hợp-hòa giải dân tộc nó có hai tình huống. Thứ nhất là về mặt địa chính trị nếu CSVN ở thế cân bằng hay thượng phong thì chiêu bài hòa hợp-hòa giải dân tộc chỉ là các điều khoản trên bàn hội nghị, bàn giấy mà thôi. Nghĩa là cứ hứa suông, ký suông để đạt được mục đích, tham vọng và sau cùng thì cái hòa hợp- hòa giải đó sẽ đi vào quên lãng… chưa nói là rơi vào sọt rác… và nước cờ sắp sẵn cứ tiến lên từng bước như sau hai hiệp định Genève và Paris mà ta đã rõ, kể cả gần đây để được vào WTO, UBNQLHQ… thì CSVN cũng cam kết, hứa hẹn thực thi các điều khoản được các tổ chức thế giới đặt ra. Nhưng khi đã đạt được mục đích thì những lời hứa hẹn, cam kết kia cũng bay theo gió mà mai một với thời gian… rồi mọi sự tệ hại, xấu xa… bị thế giới chỉ trích, cười chê vẫn đâu vào đấy như cũ.

Với sự gian xảo cộng thêm lỳ lợm và vô sỉ thì CSVN không ngại một điều gì miễn sao đạt được ý đồ cho dù là sự nghiệp đó được xây dựng trên nền tảng vô đạo.

Thứ 2 nếu CSVN ở trong thế hạ phong và bị bao vây, cô lập. Thì chiêu bài hòa hợp- hòa giải dân tộc là kế hoãn binh, sống chung, hòa mình để tìm kẽ hở, điểm yếu của đối phương và chờ ngày phục hận và tiêu diệt như chúng đã làm với chiêu bài chính phủ liên hiệp năm 1946.

Ngọn Đông Phong cùng với lửa lòng dân tộc- Dòng thác cách mạng thứ 4- đã thổi lên và ngùn ngụt cháy khắp mọi miền đất nước. Bắt đầu những đóm lửa hồng là những năm đầu của TK 21. Thế là năm 2004 nghị quyết 36 của bộ chính trị T.Ư đảng CSVN đã bày ra với khúc ruột ngàn dặm.

Trong những năm cuối của TK trước và xa hơn nữa CSVN cũng đã bí mật lập ra những chi bộ đảng hoạt động lén lút ở hải ngoại từ Mỹ-Canada-Úc và Châu Âu. Với mạng lưới này chúng len lỏi xâm nhập vào cộng đồng người Việt hải ngoại và các tổ chức chính trị đối kháng lại với chế độ độc tài CSVN. Chưa thấy đủ, CSVN cũng trong NQ36 đó đã đưa tên Nguyễn thanh Sơn thứ trưởng bộ Ngoại Giao CSVN làm chủ nhiệm UB về người VN ở nước ngoài với nhiệm vụ “kiều vận”. Đến những năm gần đây nền KTVN bắt đầu thoi thóp chết lâm sàng với gần 400 ngàn/700 ngàn doanh nghiệp đã phá sản và khai tử, còn lại cũng đang lao dốc và gần chạm đáy. Những cú đấm thép của 3 Ếch Mit tơ Bin đã gãy càng sứt gọng. Lớp thì chìm vào đáy biển như Vinashin, Vinalines, Vinaconex… lớp thì chờ ngày hạ huyệt như Than khoáng sản, Tổng Cty Sông Đà… số còn lại thì giở trò bịp bợm tăng giá sản phẩm từng ngày móc túi nhân dân để bù vào khoảng chúng đã bòn rút mà xảo ngôn là “bù vào khoảng lỗ”… như EVN, VNPetro… hòng kéo dài sự sống. Thế thì con số mỗi năm gần 20 tỉ USD kiều hối đổ về là cả “một chùm khế ngọt”nếu CSVN quên đi thì hơn 3,5 triệu đảng viên “sẽ không lớn nổi thành người…”.

Nhưng sự đời thật trớ trêu. Tạo hóa đã sinh ra loài Công, loài Phụng với bộ lông muôn hồng ngàn tía, lại múa giỏi hát hay. Ngược lại loài kênh kênh đã xấu xí hằng ngày chỉ biết bu vào xác thối mà rút tỉa, giựt giành! CS là loài “Bất tri lý” như trong những bài viết trước đây tôi đã nói. Đã bất tri lý thì không phân biệt được phải trái đúng sai, đen trắng… là loại đần độn. Tên Nguyễn thanh Sơn mà người Việt hải ngoại còn gọi là “Sơn heo” nhìn bản mặt là biết xuất xứ. Trong lúc nhiệm vụ mà đảng của hắn ta giao cho hắn là kiều vận. Thế nhưng tôi nhớ không lầm là vào những ngày cuối của tháng 7/2013 khi ông Trương tấn Sang qua chầu Nhà Trắng. Để phản đối tập đoàn CSVN bán nước, một số đông người Việt hải ngoại đã biểu tình khi Trương tấn Sang diện kiến TT Obama. Trước sự kiện trên tên Nguyễn thanh Sơn nói với phố Bolsa TV rằng: “có những người chỉ vì đồng tiền, có những người chỉ vì nhu cầu cuộc sống, có những người chỉ vì có một chút thu nhập thêm mà tham gia những hoạt động…" và còn nhiều phát biểu khác gây phẫn nộ trong cộng đồng người Việt hải ngoại.

Như vậy công tác “kiều vận” của tên Sơn mà đảng CSVN đã giao cho hắn đã bị phá sản không làm nên chuyện mà còn gây phản tác dụng nữa. Đáng lẽ ra thì cái đảng thổ tả, quái thai này phải lôi đầu hắn về nước mà trị cái tội “Ngu mà láo”. Nhưng chúng ta cũng nên nghĩ lại. Hãy nghe tên Nguyễn sinh Hùng chủ tịch Quốc hội, một trong tứ trụ triều đình phát biểu vào ngày 12/6/2010 trước phiên chất vấn của các ĐB Quốc hội rằng “Hôm nay thấy sai một chút chỗ này, xử lý cách chức đi, kỷ luật đi. Ngày mai thấy sai chỗ kia cách chức đi, kỷ luật đi. Lấy ai làm việc nữa các đồng chí?” các bạn nghĩ sao? Hết biết. Cái đất nước này là của riêng của đảng CSVN?.

Vậy để đem lại độc lập tự do, dân chủ và nhân quyền cho đất nước, dân tộc VN bằng con đường hòa hợp-hòa giải có khả thi? Biết rõ điều này nên trên lộ trình tìm kiếm con đường hòa giải-hòa hợp để kéo dài sự tồn tại của chế độ. Nguyễn thanh Sơn luôn né tránh phạm trù “hòa giải” mà chỉ đề cập đến “hòa hợp” mà thôi.

Lược qua từ trên ta đã thấy rõ giữa hai con người Quốc-Cộng có hòa giải được những món nợ trong quá khứ? Mà nhất là những món nợ đó nó kết dính ăn sâu như tế bào ung thư đã di căn vào lục phủ ngũ tạng. Những vết thương đó nó không phai mờ mà nó thẩm thấu qua các thế hệ sau đời F2-F3… Ta hãy nhìn cảnh cháu nội của người tù xuyên thế kỷ Nguyễn hữu Cầu (lúc ông còn trong ngục thất) trên những bước đường xuôi ngược, nước mắt trải suốt quãng đường đi đến trại giam để thăm nuôi và suốt thời gian qua là nuôi bệnh cho ông trong những ngày trên dương thế, không biết ngắn dài, do hậu quả của tù đày tra khảo. Làm sao trong những giấc ngủ của vợ và 3 người con gái của nhà giáo yêu nước Đinh đăng Định được bình yên? Làm sao trong những bữa ăn của những người vợ trẻ, con thơ của anh Ngô thanh Kiều Phú Yên, Nguyễn công Nhựt Bến Cát-Bình Dương, cô Trịnh Kim Tiến con gái của nạn nhân Trịnh Xuân Tùng Hà Nội cùng nhiều, nhiều nạn nhân khác không chan bằng nước mắt? Làm sao trong những cơn mưa dầm hay dông bão, gió mùa đông bắc lùa qua, hàng vạn dân oan đầu bờ cuối bãi với cảnh màn trời, mà không tê buốt cõi lòng? Cách đây 76 năm (1939) cố nhạc sĩ Nguyễn văn Thương cũng đã chia sẻ trong cảnh gió lạnh đêm đông chỉ với tâm trạng của người lữ khách qua đường “…có ai thấu tình cô lữ đêm đông không nhà…???”.Trong những đêm đông không nhà có cụ già dân oan đã chết giữa công viên không một chiếc chiếu quàng thây.

Thế thì làm sao mà “Giải”? không giải được thì lẽ nào mà “hợp”??? Ví như trong một gia đình anh em bằng mặt chứ không bằng lòng, liệu cuộc sống có được bình yên và lâu dài? Nếu có bị gò ép trong tư thế chẳng đặng đừng thì cũng chỉ tính bằng ngày một với ngày hai.

Nếu muốn đi đến ngôi nhà dân chủ qua cửa ngõ “hòa hợp-hòa giải” thì ít ra thành phần đôi bên phải thật sự thành tâm. Đàng này hòa hợp-hòa giải mà một bên chỉ là kế hoãn binh để tìm phép màu hay tạo thêm mưu kế hòng hóa giải mà trong lòng luôn chất chứa súng đạn, bom mìn và một rừng âm mưu sâu độc thì đó là miệng lưỡi của những tên chính trị lưu manh hay đúng hơn là “điếm chính trị” với lời hoa mỹ giáo điều “niềm tin chiến lược” và “thành tâm chính trị” của những tên bồi bút, đĩ bút lấp ló sau lưng mách nước như cảnh “nhắc tuồng” trên những sân khấu rẻ tiền với những diễn viên vừa dốt lại vừa ngu mà bản chất thì lưu manh gian dối.

Con đường ngắn nhất để đi đến tự do, dân chủ, nhân quyền cho VN mà không đổ nhiều máu xương là đảng CSVN tự biết sức mình, nhận biết được sứ mạng lịch sử không còn nữa, từ bỏ mánh lừa “HGHHDT” hòng kéo dài sự sống và mau trao trả lại quyền lực cho nhân dân để còn hưởng được chút hồng ân trước khi cáo chung chế độ. Với đức bao dung sẵn có, dân tộc VN sẽ không cấm kỵ một khi những người cộng sản sau khi sám hối vẫn còn muốn tham gia chính trường… trên một sân chơi công bằng, minh bạch, tích cực và văn minh!

Nếu CSVN vẫn không từ bỏ thói gian manh, lọc lừa xảo trá… thì tôi xin nói một điều rằng và cũng là lời kết cho con đường HGHHDT VN.

- Bạn đã có bao giờ sống chung với lũ chưa? Ngày nào bạn chưa thoát hẳn lên bờ thì ngày đó bạn còn có thể bị lũ nhấn chìm bất cứ lúc nào chưa biết!

Và rằng - Cộng sản như loài virus… chúng chỉ ẩn náu ở một nơi nào đó trong cơ thể chúng ta khi chúng yếu. Đợi khi cơ thể chúng ta suy kém hay có vấn đề là chúng chui ra hoành hành và vật ngã chúng ta ngay.

Cuối cùng tôi cũng xin nhắc nhở cùng ông Nguyễn phú Trọng rằng chớ lú lẫn mà lặp lại lời cảm ơn chính phủ Hoa Kỳ như ông Trương tấn Sang đã trơ trẽn nói với ngài TT Hoa Kỳ B.Obama hai năm về trước.

22/06/2015

Sở tư pháp Phú Yên đòi 'xử' luật sư Võ An Đôn

Sở tư pháp đang chỉ đạo đoàn luật sư kỷ luật tôi 

LS Võ An Đôn - Ông Nguyễn Thái Học - Trưởng ban nội chính Tỉnh ủy Phú Yên, nhiều lần chỉ đạo Sở tư pháp và Đoàn luật sư tỉnh Phú Yên kỷ luật tôi với hình thức nặng và sau đó sẽ thu hồi chứng chỉ hành nghề luật sư của tôi.

Ban nội chính Tỉnh ủy là cơ quan Đảng, thuộc một trong năm ban của Đảng (Ban tổ chức, Ban kiểm tra, Ban tuyên giáo, Ban dân vận, Ban nội chính), có chức năng tham mưu cho Thường trực Tỉnh ủy và Ban Thường vụ Tỉnh ủy về công tác nội chính. Ban nội chính phụ trách lãnh đạo các cơ quan nội chính gồm: Quân sự, Biên phòng, Công an, Viện kiểm sát, Tòa án, Thanh tra, Tư pháp, Kiểm lâm. 

Theo quy định của pháp luật và điều lệ Đảng thì Ban nội chính Tỉnh ủy không có quyền can thiệp vào công việc của Đoàn luật sư, vì Đoàn luật sư là một tổ chức xã hội nghề nghiệp độc lập, kinh phí hoạt động do các thành viên luật sư tự đóng góp, hoạt động theo luật doanh nghiệp.

'Ông trời con' Nguyễn Thái Học, trưởng ban nội
chính tỉnh Phú Yên
Ông Nguyễn Thái Học thừa biết điều này, nhưng vì quá cay cú trước thất bại nặng nề trong việc chỉ đạo Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa xử nhẹ và cho các bị cáo trong vụ án “Năm công an đánh chết dân” được hưởng án treo, gây ra sự phẫn nộ của dư luận cả nước. Thất bại này không biết đổ cho ai, nên ông Nguyễn Thái Học đã quyết liệt chỉ đạo Sở tư pháp và Đoàn luật sư tỉnh Phú Yên kỷ luật và thu hồi chứng chỉ hành nghề luật sư của tôi.

Vì sợ báo chí và dư luận biết, nên việc chỉ đạo này của ông Nguyễn Thái Học hết sức bí mật, chỉ có lãnh đạo các Cơ quan nội chính, lãnh đạo Sở tư pháp và Chủ nhiệm Đoàn luật sư biết, nên việc thu thập bằng chứng cụ thể cho từng lần chỉ đạo là hết sức khó khăn. Hơn nữa, Ông này rất ranh ma, nếu chỉ đạo việc gì đúng pháp luật thì ra văn bản đóng dấu, ký tên đàng hoàng; còn việc gì thấy không đúng pháp luật thì chỉ đạo bằng miệng, nếu cấp dưới không làm theo thì khó mà sống nổi, còn nếu nghe theo thì khi xảy ra sự việc gây hậu quả xấu thì người ghe đó chịu hoàn toàn trách nhiệm.


Ghi âm: Trưởng ban nội chính Phú Yên, ông Nguyễn Thái Học chỉ đạo ám hại luật sư Đôn 

Việc ông Nguyễn Thái Học nhiều lần chỉ đạo Sở tư pháp và Đoàn luật sư tỉnh Phú Yên kỷ luật tôi là chỉ đạo bằng miệng, không có bất kỳ một văn bản giấy tờ nào nhưng Sở tư pháp vẫn tuân lệnh làm theo, còn Đoàn luật sư tỉnh Phú Yên nhiều lần yêu cầu Ban nội chính ra văn bản chỉ đạo kỷ luật tôi để làm cơ sở giải quyết thì ông Nguyễn Thái Học không dám ra. Do đó, đến nay Đoàn luật sư tỉnh Phú Yên vẫn chưa kỷ luật tôi vì biết việc làm này là sai trái, nếu xảy ra hậu quả không tốt thì Ban chủ nhiệm Đoàn luật sư tỉnh Phú Yên gánh chịu hoàn toàn trách nhiệm, chứ ông Nguyễn Thái Học đâu có chịu trách nhiệm gì đâu.

Rất may mắn là tối hôm qua, có một anh cán bộ đang làm việc tại Sở tư pháp tỉnh Phú Yên cung cấp cho tôi Công văn số: 485/STP-BTTP, ngày 15/5/2015 của Sở tư pháp tỉnh Phú Yên, có nội dung ông Nguyễn Công Danh - Giám đốc Sở tư pháp tỉnh Phú Yên nhiều lần chỉ đạo Ban chủ nhiệm Đoàn luật sư tỉnh Phú Yên kỷ luật tôi nhưng đến nay Đoàn luật sư vẫn chưa thực hiện. 

Ngoài công văn nêu trên, tôi còn giữ một file nghi âm rất quý giá do một người quen đang làm việc ở Tỉnh ủy Phú Yên cung cấp, nội dung file ghi âm này ghi âm “Cuộc họp giao ban nội chính” thành phần dự họp gồm có ông Nguyễn Thái Học, lãnh đạo các cơ quan nội chính, chỉ đạo kỷ luật và thu hồi chứng chỉ hành nghề luật sư của tôi (File ghi âm này tôi sẽ công bố cho công luận biết vào “Phút cuối”).

“Ông trời con” này là một trong hai người quyền lực nhất tỉnh Phú Yên hiện nay, có quyền chỉ đạo Công an, Viện kiểm sát, Tòa án, Quân sự, Biên phòng, Kiểm lâm, Thanh tra, Tư pháp làm theo lệnh của mình nên nghe danh Ông này ai cũng phải khiếp sợ. Không biết là qua sự kiện này, tôi có còn sống để tiếp tục bào chữa miễn phí cho dân nghèo và người cô thân yếu thế trong xã hội hay không.

Từ giây phút này, tính mạng của tôi còn hay mất là do cộng đồng mạng và dư luận xã hội quyết định, chứ tôi không còn biết trông chờ vào ai. Mong cộng đồng mạng hãy bảo vệ tôi và bảo vệ công lý của xã hội.

LS Võ An Đôn

* Dưới đây là Công văn số: 485/STP-BTTP, ngày 15/5/2015 của Sở tư pháp tỉnh Phú Yên, có nội dung: Sở tư pháp nhiều lần chỉ đạo Ban chủ nhiệm Đoàn luật sư kỷ luật tôi nhưng đến nay Đoàn luật sư vẫn chưa thực hiện.


Nguồn: Facebook luật sư Võ An Đôn 

Thương Phế Binh VNCH viếng Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa

BIÊN HÒA (NV) - Nhân dịp kỉ niệm ngày Quân lực Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) 19 tháng 6, cùng với các thương phế binh VNCH chúng tôi đi viếng Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa.



TPB Trần Thiện Thanh Sơn vui mừng nhận ra mộ phần của một đồng đội xưa. (Hình: Việt Hùng/Người Việt)


Đoàn chúng tôi xuất phát lúc 9 giờ sáng từ Sài Gòn, thẳng hướng quốc lộ 1A về Biên Hòa, qua khu vực Suối Tiên, khoảng 300m nhìn bên tay trái, đoạn đường nhỏ dẫn vào làng Đại học Thủ Đức. Đó là con đường dẫn lên khu nghĩa trang Biên Hòa.

Đìu hiu những nấm mồ

Con đường hẹp, vắng lặng chạy lượn vòng bên bức tường cao màu xám cũ, nhìn bên ngoài chỉ thấy toàn cây cối. Chúng tôi len lỏi men theo con đường nhỏ đầy đất cát này để vào nghĩa trang.

Vừa bước vào cổng, người bảo vệ cùng với 2 nhân viên an ninh bận thường phục ra chặn lại, mời vào làm “thủ tục.” Với các câu hỏi như vào đây làm gì, thăm ai? Thế nhưng sau khi đã ký tên xong, vừa quay xe bước đi thì đã có 2 nhân viên chạy theo sát kè kè bên đoàn chúng tôi.



TPB Nguyễn Văn Quang và Nguyễn Văn Tài đang vái lạycác anh hùng tử sĩ. (Hình: Việt Hùng/Người Việt)

Chúng tôi men theo con đường nhỏ bên trong nghĩa trang, rợp đầy cây cối mọc um tùm, bên dưới là những ngôi mộ đầy hiu quạnh. Trạm ghé chân đầu tiên là Nghĩa Dũng Đài để thắp hương tưởng niệm.

Nghĩa Dũng Đài to lớn nằm sừng sững trong tiết trời âm u của mùa mưa Sài Gòn. Thanh kiếm Nghĩa Dũng trên cái tháp cao đã bị cắt ngắn, để cho người dân chạy xe bên ngoài quốc lộ 1A không còn nhìn thấy như xưa nữa. Bức tường hoen úa màu xám thời gian cho chúng tôi cái cảm giác nặng lòng đến lạ. Khói hương bay trong cái không gian im lặng buồn buồn.

Chúng tôi tiếp tục đi qua những khu mộ thấp thoáng trong rừng cây, khung cảnh điêu tàn bao trùm khắp nghĩa trang.

Những tàn cây xum xuê và cao thẳm, nằm chen lấn trên những ngôi mộ bị bỏ quên không được chăm sóc. Không ít ngôi mộ chỉ còn nắm đất, không còn tên tuổi. Lại bị rễ cây tác động, khiến cho cấu trúc bên dưới vốn đã không chắc chắn lại càng thêm tan hoang. Dường như chính quyền đang muốn biến khu nghĩa trang này thành khu rừng rậm.

Cuối cũng đoàn chúng tôi dừng chân ở cuối khu E của nghĩa trang, để thắp hương và cúng viếng các anh hùng tử sĩ đã nằm lại nơi đây.

Ước mong trùng tu mộ phần

Đang lúc cúng viếng, thì trời bổng đổ mưa như muốn khóc cho thân phận những tử sĩ đang nằm dưới lòng đất mẹ. Cơn mưa ngày càng nặng hạt, khiến cho không gian nghĩa trang vốn đã âm u lại càng thêm u buồn.



TPB Nguyễn Văn Tài (đi đầu), Nguyễn Văn Quang (mất cả 2 chân) và Trần Thiện Thanh Sơn (người đi cuối cùng) đang đi lên thắp nhang ở Nghĩa Dũng Đài. (Hình: Việt Hùng/Người Việt)


Thương phế binh (TPB) Nguyễn Văn Quang (số quân 52/711750 KBC 4506), bị mất cả 2 chân trong chiến dịch mùa hè đỏ lửa 1972 ở mặt trận Quảng Trị, tâm sự, “Hôm nay anh em chúng tôi xuống đây để viếng các anh, các anh em nằm lại ở nơi đây thật sự là những anh hùng.”

“Tôi nợ các anh ấy một lời tri ân. Tuy thân thể tôi không còn lành lặn, nhưng so với các anh em đang nằm dưới lòng đất mẹ này thì tôi còn may mắn hơn nhiều, ước mong của tôi là muốn được trùng tu lại mộ phần của các tử sĩ vô danh, để họ được yên lòng nơi chin suối.” Ông Quang cho biết thêm

Còn TPB Lê Tấn Thành (số quân 56865767) cũng bị mất cả 2 chân trong thời chiến, bùi ngùi, “Tôi có mấy đồng đội đã yên nghĩ nơi đây, hôm nay tôi xuống đây với hi vọng tìm được mộ phần của họ, nhưng dường như vô vọng. Nghĩa trang đã thay đổi quá nhiều so với ngày xưa, khiến cho tôi không tài nào có thể tìm được.”

“Nhìn những nấm mồ, không tên tuổi, chỉ còn lại nấm đất trồi lên, tôi đau lòng lắm. Mỗi con người là một số phận, nhưng sao số phận của người lính VNCH lại bi đát và đau đớn đến như vậy?” Ông Thành rưng rưng nước mắt!

Cũng với tâm tình trên, TPB Nguyễn Văn Tài (số quân 75109488), bị mất một chân trong chiến dịch Phượng Hoàng, phải dùng chân giả để đi lại, cho biết, “Tôi mong muốn chính quyền này hãy tạo điều kiện cho các thân nhân trùng tu lại mộ phần của tử sĩ. Việc đi thăm người chết mà còn gặp khó khăn thì chính quyền này chưa thật tâm muốn hòa hợp hòa giải dân tộc.”



Rất nhiều mộ phẫn chỉ còn là nắm đất, không tên tuổi bia mộ, lại bị rễ cây cày xới bên dưới. (Hình: Việt Hùng/Người Việt)


Còn TPB Trần Thiện Thanh Sơn, chú là lính tiểu đoàn 11 nhảy dù do Đại Tá Nguyễn Đình Bảo làm đại đội trưởng, chú tâm sự, “40 năm đã đi qua, mà mộ phần của các tử sĩ ở nơi đây còn quá hoang lạnh. Tôi mong muốn các ân nhân hãy giúp đỡ hay vận động một chương trình để có thể trung tu lại mộ phần cho các tử sĩ được yên lòng.”

Nhìn hàng trăm ngôi mộ của những người lính ngày xưa còn nằm lại nơi này là chứng nhân của những đổi thay tàn khốc bởi sự chuyển dịch của thời gian và bởi sự ác độc của con người. Cứ như họ bình thản đi qua sự quên lãng, sự vô tình...

Cuộc chiến đã qua đi qua 40 năm. Thế nhưng, nghĩa trang Biên Hòa vẫn là tâm điểm của việc hòa hợp hòa giải dân tộc. Bây giờ, khu nghĩa trang đã được chính quyền cộng sản đổi thành tên Nghĩa Trang Nhân Dân Bình An, thế nhưng nhìn khung cảnh nơi đây, sự bình an chắc còn lâu mới đến nơi này.
06-21-2015 6:25:30 PM
Việt Hùng/ Người Việt

Lần đâu tiên trong lịch sử, Nghệ An công bố thiên tai hạn hán

NGHỆ AN (NV) .- Hạn hán nghiêm trọng làm mùa màng cây cối chết khô và đã có người chết vì nắng nóng khủng khiếp kéo dài, tỉnh Nghệ An “ban hành quyết định công bố thiên tai vì hạn hán”.


Hàng trăm hồ đập trong tỉnh Nghệ An đã khô trơ đáy do hạn hán. (Hình: VNExpress)

Lần đầu tiên trong lịch sử, người ta thấy tỉnh Nghệ An phải công bố “thiên tai vì hạn hán” trên toàn tỉnh đã làm cho 2 người thiệt mạng vì nắng nóng ở xã Nghi Thạch huyện Nghi Lộc và vụ mùa hè thu trong tỉnh này “có nguy cơ mất trắng”.

Theo bản tin của tờ Lao Động hôm Chủ Nhật 21/6/2015 “Huyện Anh Sơn có đến 1,800 ha chè đang bị hạn, đứng trước nguy cơ chết khô. Người trồng chè điêu đứng vì phải mất nhiều năm sau mới có thể tái tạo được vườn chè cho thu hoạch. Trên phạm vi toàn tỉnh có đến 3,000 ha chè thiếu nước, có nguy cơ chết khô.”

Tờ Lao Động cho hay “vụ hè thu này Nghệ An gieo cấy 56,000 ha lúa, nhưng mới gieo cấy được 42,440 ha, trong đó có trên 4,500 ha đã bị chết khô. Ngoài ra, hàng chục ngàn ha ngô, chè, mía và các loại cây trồng khác đang trong tình trạng khô cháy, không thể phục hồi do hạn hán.”

Theo Sở Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn Nghệ An viết trên trang mạng từ đầu tháng Sáu thì “Hiện nay vụ Hè thu đang trong thời kỳ gieo cấy, nhưng tình hình thời tiết trên địa bàn tỉnh diễn biến hết sức bất lợi, nắng nóng kéo dài, gió tây nam thổi mạnh, nhiệt độ phổ biến từ 39 – 40 0C và không có mưa. Vì vậy, tình hình thiếu nước khô hạn và xâm nhập mặn đã xảy ra trên diện rộng, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất, đời sống dân sinh, nhiều nơi dân không có nước sinh hoạt.”

Tin tức cho hay phần lớn các hồ chứa nước trong tỉnh có mực nước xuống rất thấp, chỉ còn khoảng  20% tới 30% dung tích thiết kế. Nhiều trạm bơm lấy nước dọc sông Lam không hoạt động được vì thiếu nước.

Với tình hình mùa màng sản xuất nông nghiệp bị hạn hán làm cho khô cháy thế này, nạn đói kém có thể nhìn thấy đối với một số dân không nhỏ. Trông nhờ vào những mảnh vườn, thửa ruộng nhỏ bé để sống, giới nông dân miền Trung Việt Nam đang đối diện với tương lai bất định.


Gần 3,000 hécta cây chè (trà) tại Nghệ An đã bị chết khô vì hạn. (Hình: VNExpress)

Tuần trước, ngày 17/6/2015, VNExpress cho hay “Mưa ít, nắng nóng kéo dài hơn một tháng qua khiến hàng chục hồ nước lớn ở Hà Tĩnh cạn nước. Nhiều diện tích đất đã phải bỏ hoang vì không có nước tưới...”

Nạn hạn hán tại miền trung Việt Nam năm nay từ Nghệ An đến Ninh Thuận, Bình Thuận được coi là nghiêm trọng nhất từ trước đến nay. Dự báo khí tượng nói mùa nắng nóng có thể kéo dài cho đến Tháng 9. Ngay từ giữa Tháng Ba vừa qua, nhà cầm quyền trung ương đã phải xuất 40 tỉ đồng, 30 tấn ngô giống và 200 tấn gạo cứu đói do hạn hán kéo dài ở tỉnh Ninh Thuận.

Ngày 12-6-2015, báo mạng VNExpress nói “Hạn hán kéo dài cả tháng qua khiến mực nước nhiều sông hồ ở huyện Hướng Hóa (Quảng Trị) xuống thấp kỷ lục. Thiếu nước sinh hoạt trầm trọng khiến người dân phải mua nước với giá 150-180 nghìn đồng/m3”. (TN)

06-21- 4:42:20 PM

Đi thăm cựu tù lương tâm người Ê Đê tại Đắc Lắc

06-21- 2015 11:35:48 AM
Luật sư Nguyễn Văn Đài

Được sự giúp đỡ của Quĩ tù nhân lương tâm tại Úc châu, anh Chu Mạnh Sơn và tôi đã có chuyến đi thăm các cựu tù nhân lương tâm người Ê Đê và thân nhân của họ tại Đắc Lắc.


 Hai cựu tù lương tâm Nguyễn Văn Đài và Chu Mạnh Sơn thăm vợ tù nhân lương tâm Y Kurr ở Tây nguyên. (Hình: FB Nguyễn Văn Đài)


Chuyến đi này đã được thông báo trước tới cơ quan an ninh, nên là chuyến đi công khai. Mặc dù vậy, khi đang ngồi trong phòng chờ lên máy bay tại Nội Bài, thì cũng có một nhân viên an ninh theo dõi cho tới khi tôi bước vào bên trong máy bay. Còn anh Chu Mạnh Sơn đi từ Sài Gòn lên Buôn Mê Thuật.

Khi xuống sân bay Buôn Mê Thuật, tôi đã thấy rất nhiều nhân viên an ninh địa phương đứng chờ bên ngoài, công an mặc sắc phục thì đang sắp xếp các chuyến xe taxi. Lát sau, khi tôi và anh Sơn gặp nhau. Anh Sơn kể lại lúc anh ra sân bay đón tôi, thì anh thấy xe an ninh Bộ Công an, an ninh tỉnh rất nhiều ở khu vực sân bay, anh nghĩ là có đoàn khách quốc tế hay phái đoàn chính phủ tới thăm Buôn Mê Thuật. Điều này làm anh lo lắng là tôi sẽ không tới được.

Chúng tôi được người bạn đồng tù người Ê Đê là Senat Ksor đón và đưa về nhà của anh. Chúng tôi ngồi chơi, hỏi thăm sức khỏe, công việc của anh và gia đình. Uống ly café đặc sản của Tây nguyên do chính người nhà anh pha chế. Tránh làm phiền gia đình anh, chúng tôi ra quán ăn trưa và sau đó bắt đầu một hành trình dài đi thăm các cựu tù nhân lương tâm.

Chúng tôi bắt khởi hành từ khoảng 12.30 trưa cho tới hơn 7 giờ tối mới trở lại nhà Senat, trong một hành trình gần 200km. Trong chuyến đi, chúng tôi tới thăm 7 gia đình cựu tù nhân lương tâm người Ê Đê và 2 gia đình thân nhân của hai tù nhân đang bị giam giữ tại Thái Nguyên. Ba gia đình khác do đường xa và khó đi nên chúng tôi không tới được.

Hầu hết các cựu tù người Ê Đê đều từng phải chịu mức án trên dưới 10 năm tù. Trong thời gian họ còn ở trong tù, vợ con của họ phải chịu biết bao vất vả. Phần lớn các gia đình đều có con cái còn nhỏ, người vợ một mình phải làm lụng vất vả nuôi con ăn học, thỉnh thoảng phải tiết kiện để gửi chút quà cho chồng trong tù.



Vợ chồng ông Y Het chụp hình chung với hai khách phương xa, LS Nguyễn Văn Đài (phải) và Chu Mạnh Sơn (trái). (Hình FB Nguyễn Văn Đài)

Sau khi người chồng mãn hạn tù trở về, cuộc sống của họ dần dần bớt khó khăn do có sự đóng góp công sức của người chồng. Tất cả các cựu tù đều phải chịu hình phạt quản chế 5 năm. Nên việc đi lại của họ gặp nhiều khó khăn. Thỉnh thoảng vẫn bị an ninh địa phương hỏi thăm, sách nhiễu.

Trong số các gia đình mà chúng tôi tới thăm, thì khó khăn nhất là gia đình của Y Kurr. Anh bị bắt năm 2004, và bị án sơ thẩm là 21 năm, phúc thẩm giảm xuống còn 17 năm. Trước đây bị giam ở nhà tù Nam Hà, từ năm 2012 thì bị chuyển tới nhà tù Phú Sơn, tỉnh Thái Nguyên. Từ khi anh bị bắt, một mình vợ anh phải vất vả nuôi con còn nhỏ, và nuôi bố mẹ. Bản thân chị cũng có nhiều bệnh tật, sức khỏe rất yếu.

Chỉ kể: thỉnh thoảng Y Kurr được gọi điện về nhà, anh xin chị gửi cho anh thuốc chữa bệnh, một chút thực phẩm là lá đu đủ phơi khô, cua đồng rang khô và nghiền nhỏ. Chị nói mấy tháng trước tiết kiệm được chút tiền định mua quà gửi cho anh thì người bố ốm nặng, phải đi viện nên hết tiền. Tháng vừa rồi cũng tiết kiệm được một chút thì bản thân chị lại phải đi viện. Bác sĩ nói chị phải mổ để cắt u sơ, nhưng chị không đủ tiền để tiến hành phẫu thuật.

Mới hôm trước, Y Kurr lại gọi về nhắc chị gửi thuốc và thực phẩm cho anh. Chị kể cho anh nghe chuyện ốm đau của bố, con và bản thân mình. Chị chỉ thấy phía anh im lặng và tiếng thở dài thất vọng. Chị hiểu là anh tuyệt vọng lắm, đã không giúp được gì cho vợ con, gia đình mà còn làm phiền nữa. Nước mắt chị ứa ra, không biết nói sao để an ủi người chồng.

Chị nói tiếp là án của anh còn dài, hai vợ chồng sức khỏe đều đau yếu. Chẳng biết Chúa gọi họ về lúc nào. Đã gần 5 năm rồi chị chưa có cơ hội đi thăm anh. Chị nghĩ có lẽ hai vợ chồng khó có cơ hội gặp lại nhau trên đất này, có thể họ chỉ còn cơ hội gặp lại nhau trên thiên đàng.

Tôi hỏi chị mong ước điều gì? Chị trả lời trong nước mắt là mong được cùng người con đi thăm người chồng, người cha yêu quí của chị và con chị trước khi Chúa gọi chị về.

Chuyến đi Đắc Lắc của chúng tôi có thể nói là thành công. Khi chúng tôi đã chứng kiến trực tiếp cuộc sống của những người cựu tù nhân lương tâm, thân nhân của tù nhân lương tâm. Trong suốt chuyến đi, an ninh địa phương có đi theo chúng tôi, nhưng họ không cản trở. Sau khi chúng tôi rời khỏi các gia đình, thì an ninh địa phương có tới hỏi thăm, nhưng không có gì căng thẳng.

Có thể nói đây là một tiến bộ vượt bậc so với năm 2012. Khi đó tôi, anh trai của anh Phùng Mai và một người cựu tù Ê Đê có giúp đỡ tài chính cho một số gia đình tù nhân lương tâm. An ninh Đắc Lắc đã biết và họ đã tiến hành sách nhiễu, đe dọa, khủng bố những người nhận giúp đỡ, người đi giúp đỡ trong một thời gian dài.

Trước khi kết thúc bài viết này, cho tôi thay mặt những gia đình cựu tù nhân lương tâm và thân nhân của họ được gửi những lời cảm ơn chân thành tới Quĩ tù nhân lương tâm, đồng bào Việt Nam hải ngoại đã giúp đỡ trước đó và chuyến đi vừa qua.

Chúng tôi mong muốn Quĩ tù nhân lương tâm và đồng bào hải ngoại tiếp tục giúp đỡ cho những người Ê Đê vẫn còn trong lao tù.