Wednesday, May 6, 2015

Cảm xúc về buổi phát quà cho cựu thuyền nhân PST

Đào Bá Lê - Ngày 30 tháng 4 năm 1975 là ngày người dân Việt Nam Cộng Hòa mất đi quyền làm người. Từ đó chúng tôi bị phân biệt đối xử, v.v... Và chúng tôi đã chọn con đường bỏ trốn, vượt biên.

Nhân ngày 1-5-2015, chúng tôi là Anh Chị Em Cựu Thuyền Nhân PST (ACE-CTN-PST), những người bị cưỡng bức hồi hương trở về Việt Nam từ Thailand, được Hòa Thượng Thích Không Tánh mời đến chùa Liên Trì tham gia Buổi Biếu Qùa cho Bệnh Nhi Ung Ung Bướu và Cựu Thuyền Nhân. Chùa nằm ở tuyến đường Lương Định Của Q.2, Sài Gòn. Để đến được Chùa, chúng tôi phải đi tới trung tâm Q.1, rồi tìm đường băng qua khu Thủ Thiêm. Khi chúng tôi tìm đến nơi, thì nơi đây, nó là khu vực đã bị giải tỏa, chỉ còn sót lại ngôi Chùa cũ nhỏ bé, và quán nhỏ đối diện, cũng là “chốt an ninh” của côn an để kiểm soát người ra vào Chùa.

Thế nhưng khi đứng từ góc độ Chùa nhìn sang phía Q.1, thì trước mắt chúng tôi là những tòa nhà trọc trời cao vút. Từ đây tôi nhận thấy số phận của những người bị cưỡng bức hồi hương trở về Việt Nam đã bị bỏ quên mặc cho số phận. Phía Q.1 nó được ví như những người Thuyền Nhân đã được định cư, họ được sống trong những nơi tốt lành. Còn những Cựu Thuyền Nhân bị cưỡng bức trở về Việt nam, thì họ được ví như đang sống trong khu vực bị giải tỏa hoang vu, tàn tạ.

Thế giới đã thực sự quên đi hai chữ “Thuyền Nhân” rồi sao? Không, chúng tôi không thể để thế giới "Freedom" quên chúng tôi được, nhất là Liên Hiệp Quốc/Cao Ủy Tị Nạn đã không giữ những hứa hẹn đã ký kết. 

Để nhắc lại thân phận của thuyền nhân, chúng tôi xin mời quý vị nghe lại những lời tâm sự đầy nước mắt của một số CTN trong Bạch Đằng Giang Foundation, được RFI phỏng vấn tháng 7/2012.

(Hình ở phút 8'40 là đầu BS Hiển nhìn xuống bé gái đang leo lên tàu)

Ba năm sau, BDG Foundation đã bị bóp chết, và cuộc sống của các anh chị ACE-CTN- PST vẫn không ngóc đầu nổi!

Trở lại sự hội ngộ của anh chị em cựu Thuyền Nhân (ACE-CTN-PST), tại chùa Liên Trì, chúng tôi đã gặp nhau trong nhiều thời gian xa cách, có thể nói là 19 năm (1996-2015), có người không thể nhận ra nhau nữa, thật là cảm động. Họ chia sẻ cho nhau những vui buồn hiện tại và quá khứ, đặc biệt những câu chuyện ở trại tị nạn mà họ không thể quên. 

Đã đến giờ HT Thích Không Tánh mời ACE-CTN-PST vào ăn cơm chay, chúng tôi có khoảng 20 người. Sau khi dùng cơm chay xong, HT-TKT nói nên ý nghĩa của buổi phát quà và ân nhân là Bác sĩ Phan Minh Hiển, Hội trưởng Hội Compassion-Vietnam ở Pháp.

Xin xem hình ảnh và video Biếu Quà cho Cựu Thuyền Nhân:


Hòa Thượng Thích Không Tánh đang biếu quà cho các cựu Thuyền Nhân.

Các cựu Thuyền Nhân đang dùng cơm chay tại chùa Liên Trì.

Bác sĩ Hiển là vị BS Việt Nam đầu tiên đi cứu vớt người vượt biên biển đông trên con tàu Goëlo, của Hội Médecins du Monde do BS Bernard Kouchner thành lập. Xin mời xem lại phim vớt thuyền nhân trên Biển Đông, "Boat-People " của BS Phan Minh Hiển vào tháng 6.1982, cùng vớ BS Bernard Kouchner. (BS Hiển ở trần trên boong tàu Goëlo, có thể thấy mặt ở phút 2'40 và thấy nghiêng ở phút 3' khi đang kéo cụ già từ dưới ghe lên. (1)

Đồng thời Bác sĩ cũng là đại ân nhân của Thuyền Nhân Việt nam (Palawan, và Thái), vì đã an ủi tinh thần và vật chất cho đến 1996, đặc biệt cho các đồng bào tị nạn bị giam ở Khu A Biệt Khu, Sikiew Thái Lan.

Trọng kính quý ân nhân trong và ngoài nước, biết rằng kinh tế khó khăn cho mọi người, nhưng một món quà hay lá thư an ủi, dù nhỏ nhoi, là một nguồn động viên lớn lao cho anh em ACE-CTN-PST trong lúc này! 

Nhóm ACE-CTN-PST bị cưỡng bức xin được trợ giúp thông qua Hội COMPASSION-VIETNAM hoạt động ở Pháp. (2)

Hay quý vị ở Mỹ có thể gửi về cho Vì Dân Foundation (ghi Boat People/BS Hiển) (3)

Kính chân thành cảm ơn Bác sĩ Phan Minh Hiển đã ủng hộ quà cho ACE-CTN-PST.

Kính chân thành cảm tạ HT Thích Không Tánh đã tiếp đãi và phát quà cho ACE-CTN- PST.

Kính chân thành cảm ơn sự chia sẻ của phái đoàn Liên Tôn VN, đã ân cần hỏi thăm chia sẻ tình cảnh ACE-CTN-PST.

Cảm ơn những Thiện nguyện viên của Chùa đã có tấm lòng phục vụ chu đáo bữa cơm chay cho ACE-CTN-PST.
Ảnh hàng trên: Trái là BS Bernard Kouchner, bên mặt BS Hiển và chị em thuyền nhân.
Hàng dưới: Trái là Anh Bùi Mạnh Hùng (trưởng trại Palawan), và BS Hiển. Mặt là Phái đoàn BS, y tá của Médecins du Monde chào chia sẻ với trại Palawan.

Hiện nay, dựa trên những yếu tố dưới đây, chúng tôi kính xin chính phủ Hoa Kỳ, Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ, và UNHCR xác định, đánh giá lại về trường hợp hồ sơ xin tị nạn của những người bị cưỡng bức trở về Việt nam từ Thailand, đặc biệt là những Thuyền Nhân biệt giam ở Khu “A”.

1. CÔNG ƯỚC 1951
2. NGHỊ ĐỊNH THƯ 1967
3. UNHCR GIỚI THIỆU DANH SÁCH THUYỀN NHÂN
4. ĐƠN NGUYỆN VỌNG TÁI ĐỊNH CƯ CỦA THUYỀN NHÂN BỊ CƯỠNG BỨC.

Đại diện ACE-CTN PST

Đào Bá Lê

*

HỒI KÝ VỀ NGƯỜI TỊ NẠN KHU “A” BIỆT GIAM SIKIEW THAILAND

CHUYỆN KỂ NGƯỜI TRONG CUỘC

Kính thưa quí bạn đọc trong và ngoài cuộc…

Trong lịch sử tị nạn trên thế giới, chắc chẳng có nơi nào tệ hơn nơi khu “A” biệt giam.

Tên đầy đủ của trại là: TRẠI TỴ NẠN VIỆT NAM KHU “A” BIỆT GIAM SIKIEW NAKHORN RACHASIMA THAILAND.

Vào đầu năm 1995, tình hình trong trại rất căng thẳng. Cổng chính bị che bít kín, những lô cốt được xây dựng ở đầu cổng các khu như B.1-2, B.3-4, B.5-7 và khu C, còn khu A cũ, người tị nạn bị dồn về các khu B&C.

Trong giai đoạn này, khu A đang được sửa chữa theo mô hình nhà tù, họ lắp đặt 3 tháp canh, 2 tháp đặt ở khu A 5-6, một tháp ở khu A 1-2.

Cũng vào thời điểm đầu năm 1995, bỗng nhiên loa phát thanh trong trại phát đi loạt thông báo cho tất cả người Việt Nam có mặt ở trại phải mau chóng đến văn phòng đăng ký chụp hình làm thẻ ORP (Orderly Return Program) để kiểm tra dân số.

Từ đây đã tạo ra 2 nhóm. Nhóm chịu và nhóm không chịu đăng ký. Một làn sóng bất bình cho người tị nạn Việt Nam. 

Văn phòng trại ra thông báo thêm là ai không có thẻ ORP thì không được nhận thư và tiền. Thế rồi những người chống đối bị lọc ra bằng cách đưa qua khu “A” biệt giam. Thời điểm cuối cùng chuyển qua khu này là con số 1400 người. Tuy nhiên có người chỉ qua được một đêm đã đầu hàng xin đăng ký để trở về khu B-C.

Khi chuyển qua khu này, đồ dùng mang theo cũng bị giới hạn, chỗ ở tính theo đầu người chỉ 35cm chiều ngang, 2 mét chiều dài. Vậy thì làm sao để nằm, chỉ có cách là đầu người này nằm phía chân người kia. Nó được ví như xếp cá mòi vậy. Khu này không biết ai đã đặt tên cho nó là “Khu Luyện Thép” để thách đố, để hù doạ hay để khâm phục sự quả cảm của những người đang bị sự hoạch định của ai đó, nhóm nào đó, hành hạ bóc lột thuyền nhân cho đến chết.

Trong tuần lễ đầu ở khu “A” biệt giam, cứ mỗi đêm an ninh trại vào khu kéo đi một số thuyền nhân ra bên ngoài trại để hành hạ, như đánh đập, hù doạ. Có người đã bị đánh gảy răng, người thị bầm mặt, có một phụ nữ bị đánh xảy thai phải cấp cứu. Có đêm an ninh ném đá vào khu, cục nào cục ấy to như nắm tay.

Thế rồi ngày qua ngày, vào một đêm tiếng kêu gào cầu cứu của đồng bào khu “A” 1-2 vì không chịu nổi sự hành hạ của ban an ninh trại và họ đã đoàn kết quyết một lòng đứng lên biểu tình. Thuyền nhân khu “A”5-6 cũng hiệp lực biểu tình bất bạo động như lời Tiến sĩ Nguyễn Đình Thắng đã chỉ dẫn qua đài VOA.

Rồi từ đây thuyền nhân khu “A” cũng đồng lòng không nhận lương thực. Phong trào tuyệt thực được thực thi, già trẻ lớn bé đều hưởng ứng một cách nghiêm túc và mạnh mẽ.

Lúc này họ cấm Cha Peter Namwong qua làm lễ. Tôi đã nghĩ ra một cách là dự lễ qua radio ở đài Chân Lý Á Châu vào mỗi buổi sáng Chúa nhật. Để nghĩ lại lúc đó, tôi có một cassette hiệu Sharp màu đỏ, trước khi bị đưa qua khu “A”, tôi có gởi một người quen khu B-C để mang được máy qua khu “A”. Tôi tìm cách liên lạc với một tay an ninh trại, họ ra giá là 150 Bat Thailand, và hợp đồng đã được thực thi.

Kể từ đấy đồng bào khu "A" 5-6 được dự lễ thông qua radio, sự việc này nhằm mục đích phục vụ thuyền nhân công giáo Khu “A” 5-6 để họ không mất niềm tin vào Thiên Chúa, khi đang phải sống trong những giai đoạn khó khăn của đời tị nạn.

Bước sang đầu năm 1996, khi nhận biết có thể bị đưa trả về Việt Nam, thì trong khu “A” lại có phong trào chế tạo ra dao để tự sát. Cách làm như sau: muỗng (thìa), do Cao Uỷ phát được đập dẹp, sau đó cắt ra làm 2, vậy ta có được 2 con dao, đầu lớn được gắn vào đầu khúc cây làm cán, đầu nhỏ làm mũi để đâm bụng, dao được mài rất bén.

Vào sáng sớm ngày 29/6/1996, tại khu “A” biệt giam, một số người bị lính Thái bao vây tràn vào bắt đi cưỡng bức đưa về Việt Nam. Trong thời điểm này là một cảnh tượng anh dũng của người bị cưỡng bức, kèm sự hãi hùng của người thực thi. Thuyền nhân lập ra một bàn thờ thắp nhang theo sự tín ngưỡng của mỗi người. Khi lính Thái ập vào, họ đã móc dao tự chế rồi đâm bụng tự sát trước mặt nhóm lính Thái máu lạnh. Một cảnh tượng mà chỉ có người trong cuộc mới có thể đưa ra cung bậc cảm xúc tột đỉnh của thân phận tị nạn tại khu “A” biệt giam. Họ là nhân chứng, và lịch sử tị nạn thuộc về họ. 

Tiếp theo là khu “A” 5-6, văn phòng cho xây thêm một lớp tường bằng gạch không nung, ở giữa có gắn khung sắt Φ8 a (a=khoảng cách) 15cm đổ bêtông. Trong giai đoạn này, đồng bào khu “A” 6-5 đang được học kỹ năng tự sát theo thế quỳ một chân và có hàng thứ tự.

Vào ngày 11/9/1996, khu “A-6 bị bao vây bởi một số lượng lớn lính Thái, xung quanh khu, họ cho gắn loa phóng thanh mở cở lớn để áp đi tiếng kêu cứu của thuyền nhân.

Tốp đầu có nhiệm vụ đập tường mở đường cho nhóm sau đột nhập vào khu. Khi lính Thái vào được trong khu 5-6, ở đây đồng bào đã lập ra bàn cúng có nhang khói và đồng thanh hô to “Human Rights” rồi tự sát theo mô hình đã được huấn luyện. Tôi đã chứng kiến một anh lính Thái cầm máy quay ghi hình, anh ta đã bị choáng váng, nét mặt tái xanh, anh ta không thể bước tiếp được rồi ôm máy quay ngồi xuống dựa lưng cạnh cái miếu, thở hổn hển như nhận ra rằng mình đã tiếp tay cho một sự việc trái với lương tâm, trái với đạo lý làm người.

Tiếp đến lính Thái đưa hết những người trong Khu 5-6 ra ngoài để được nhận dạng qua tấm hình được chụp lại từ thẻ PST, ai có tên trong hình thì họ nhốt một chỗ, ai chưa có thì nhốt một chỗ khác. Trong giai đoạn này bỗng dưng trời đổ mưa lớn, như ông trời cũng muốn chia buồn cùng đồng bào khu “A” vậy. Cơn mưa to thế mà không trôi hết những vũng máu của đồng bào đã tự sát để lại, như máu cũng muốn làm chứng cho chúng tôi, nên lính Thái phải điều động một xe bơm nước cỡ lớn đến để xịt chỗ máu đó. Có những người vì tự sát quá tay, nên chỗ đâm sâu quá không đi được, lính Thái khiêng ra, có người bị kéo đi đầu lết dưới đất, có đoạn trên nền ximăng.

Đến đây xin kính khâm phục những đồng bào tị nạn khu “A” biệt giam đã chịu đựng bao thống khổ…, chịu đựng đến giờ cuối cùng ở khu được mệnh danh là “Khu Luyện Thép”. Khi tôi viết bài này, xin lịch sử tị nạn không được phép quên chúng tôi, những người tị nạn chân chính nhất.

Qua bài viết này, kính xin được sự giúp đỡ của quý ân nhân hải ngoại cho những Thuyền Nhân bị cưỡng bức thông qua Hội Compassion-Vietnam, do Bác sĩ Phan Minh Hiển đảm trách. Kính trình Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ xem xét đánh giá lại hồ sơ xin tị nạn, cho thuyền nhân Khu “A” biệt giam có một cơ hội được tái định cư như đã mong ước.

Video Tưởng Niệm Thuyền Nhân (4)

Video Thuyền Nhân (5)

Sài Gòn, ngày 02 tháng 5 năm 2015


Đào Bá Lê

Tin mừng cho Thương Phế Binh VNCH

Cánh Dù lộng gió (Danlambao) - Mới đây sau khi họp Thượng Viện Hoa Kỳ xong Bà Janet Nguyễn người Mỹ gốc Việt đã thông báo một tin rất mừng cho Anh Em TPB/QLVNCH còn sót lại tại VN: "Thượng Viện Mỹ đã thông qua Nghị Quyết SJR5 về việc cho phép TPB/VNCH và gia đình được đi định cư tại Hoa Kỳ. Chỉ còn chờ Hạ Viện Mỹ đang họp thông qua chuyển lên cho Tổng Thống Mỹ duyệt là chương trình HO&ODP sẽ được tiếp tục khởi động lại.

Họ là những người bị bỏ quên, bị ngược đãi sau 40 năm chấm dứt cuộc chiến. Họ là những người ngã Ngựa đã hy sinh một phần thân thể cho miền Nam được hưởng những ngày Tự Do trước năm 1975, với họ phải nói là những người bị thiệt thòi nhất, mù mắt, mất chân, tay, thương tật khắp người, có những người mấy chục năm nay vẫn nằm liệt trên giường choét cả phần lưng, mông. Đương nhiên họ trở thành gánh nặng bất đắc dĩ cho những thành viên trong gia đình.

Những người còn lê lết được thì ban ngày đi bán vé số, bán nhang, bán bàn chải, bán mọi thứ kể cả đi ăn xin để kiếm sống qua ngày, số phận họ tùy thuộc vào lòng thương hại của bá tánh giúp đỡ.

Chính họ đã từng sát cánh với những người bạn Đồng Minh chặn đứng làn sóng Đỏ trước năm 1975.

Sau khi VNCH bị ông bạn Đồng Minh thí Chốt bỏ rơi thì một số đông các cựu viên chức trong chính phủ VNCH đã bị tập trung cải tạo, bù lại họ đã được phía Mỹ can thiệp cho đi định cư cả hơn 10 năm nay rồi.

Còn các Anh Em TPB/VNCH thì bị đối xử phân biệt, CSVN coi họ như những người gây tội ác, có nợ máu với họ, tuy không còn nguy hiểm cho chế độ, nhưng họ vẫn không bao giờ quên lòng thù hận, không giúp đỡ, không hỗ trợ, không có bảo hiểm sức khỏe, mọi thứ trong cuộc sống người TPB/VNCH hầu như tự túc hết, đói khát, bệnh hoạn ráng mà tự lo lấy thân.

40 năm trở thành Công Dân loại 3 (loại 2 là người Dân thường), bị thiệt thòi, bị bỏ rơi, bị khinh bỉ, bị nhục mạ, bị phân biệt đối xử, nhưng họ vẫn cắn răng chịu đựng cho dù sống một cách cơ cực trăm bề, lây lất, lê lết kiếm ăn từng bữa. Với họ sức khỏe dù giới hạn nhưng họ vẫn cố gắng bước đi bằng chiếc nạng gỗ hay chiếc xe lăn để mong kiếm những đồng tiền ít ỏi nuôi thân và phụ giúp gia đình, bớt đi gánh nặng cho vợ con.

Mong rằng chính phủ Hoa Kỳ vì lý do Nhân Đạo thông qua Nghị Quyết này một cách nhanh chóng để vơi đi bớt phần nào đau khổ cho các Anh Em TPB/VNCH, cũng như con cháu của các Anh Em được có điều kiện qua học tập nơi đất Nước Tự Do, không còn bị phân biệt đối xử.


06.05.2015


______________________________________

Tham khảo:

Nếu thật thế thì nghiêm trọng quá!

Bùi Tín (VOA) - Ông Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã sang Bắc Kinh trong chuyến đi thăm chính thức theo lời mời của ông Tập Cận Bình. Chuyến đi cập rập không được chuẩn bị từ trước, vội vã chỉ để đi trước cuộc sang Hoa Kỳ để gặp Tổng thống Obama đã được ấn định trong tháng 5 này. Chuyến thăm diễn ra từ ngày 7 đến ngày 10 tháng 4, 2015.

Đi cùng ông Trọng có đến 4 ủy viên Bộ Chính trị phụ trách ngành Tuyên giáo, ngành Công an, Quân đội và một phó Chủ tịch Quốc Hội, thêm ủy viên Trung ương Phạm Bình Minh, phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao. Đủ thấy tầm quan trọng ra sao.

Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình và Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại Sảnh đường Nhân dân ở Bắc Kinh, ngày 7/4/2015.

Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình và Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại Sảnh đường Nhân dân ở Bắc Kinh, ngày 7/4/2015.

Một Tuyên bố chung 9 điểm được đưa ra ngày 8/4. Đây là bản Tuyên bố chung dài nhất trong quan hệ Việt – Trung từ trước đến nay. Cũng là bản Tuyên bố đậm đà nhất về "tình nghĩa hữu nghị Trung – Việt sâu đậm do 2 lãnh tụ vỹ đại Mao Trạch Đông và Hồ Chí Minh vun đắp nên".

Bản Tuyên bố nhắc đi nhắc lại 16 chữ vàng và Bốn Tốt tiêu biểu cho tình anh em và tình đồng chí chí thiết gắn bó 2 đảng và nhân dân 2 nước cùng chung lý tưởng XHCN cao đẹp. Bản Tuyên bố kể lại sự chi viện to lớn của Đảng CS và nhân dân TQ cho Đảng CS và nhân dân VN trong "các cuộc chiến tranh chống xâm lược của nhân dân VN".

Điều đặc biệt nổi bật là bản Tuyên bố chung kể lể nhiều nhất đến những cam kết về hợp tác chiến lược toàn diện giữa 2 đảng, 2 Nhà nước, 2 Chính phủ, 2 Quốc hội, 2 Mặt Trận, về mọi mặt:chính trị, quốc phòng, quân sự, an ninh, đối ngoại, kinh tế, tài chính, thương mại, tiền tệ, tuyên huấn, đào tạo cán bộ, văn hóa, văn nghệ, truyền thanh truyền hình. Hai bên cam kết sẽ tăng thêm trao đổi hàng hóa qua biên giới, tạo điều kiện tăng đầu tư, nâng cao kỹ thuật công nghiệp, rồi hợp tác giao thông trên biển, trong biển Nam Hải, ở cửa ngõ Vịnh Bắc bộ. Tất cả đều phát triển mạnh trong kế hoạch hiện tại 2011-2016 và trong kế hoạch hợp tác 2016-2020 sắp tới.

Điều đặc biệt nổi bật là trong bản Tuyên bố chung không hề nhắc đến cuộc chiến tranh biên giới Việt – Trung đầu năm 1979, về sự kiện dàn khoan HD 981 từng gây sóng gió dữ dội trong quan hệ Việt – Trung, không hề nhắc đến những hoạt động phi pháp ngang ngược hiện tại trên vùng biển nước ta của phiá TQ, mở rộng củng cố các khu vực, các hòn đảo, bãi đá bị họ lấn chiếm.

Có những điểm mới rất quan trọng, khác hẳn với những Tuyên bố chung Việt – Trung trước đây. Đó là 2 bên cam kết sẽ hợp tác chặt chẽ trên lĩnh vực tài chính - tiền tệ - ngân hàng, trong lĩnh vực thuế và thanh toán, có hẳn một văn kiện ký riêng về vấn đề này. Đây có thể là một ràng buộc thâm hiểm nhằm gắn liền đồng tiền VN với đồng Nhân dân tệ TQ chặt chẽ hơn các ngoại tệ khác, nâng cao thanh thế của Ngân hàng đầu tư hạ tầng châu Á BIIA - Bank Investment Infrastructure of Asia - do Trung Quốc lập nên. Tuyên bố chung cũng nhiều lần nói đến hợp tác giữa hai Bộ tài chính và hai Ngân hàng Nhà nước.

Tuyên bố chung nhiều lần nhắc đến quan điểm lấy 'đại cục làm trọng' nhằm tăng cường tình hữu nghị truyền thống, thắt chặt thêm quan hệ hợp tác chiến lược toàn diện giữa 2 nước, 2 đảng theo 16 chữ vàng: láng giềng hữu nghị - hợp tác toàn diện - ổn định lâu dài - hướng tới tương lai, và quan hệ 4 tốt: láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt. Đây là một ràng buộc nữa để bỏ qua mọi sự kiện được coi là tiểu tiết như phía TQ ráo riết xây dựng sân bay, pháo đài, trạm Ra-Đa trên các đảo bị lấn chiếm.

Thế nhưng những thiếu sót, sơ hở trên của ông Nguyễn Phú Trọng và tùy tùng chuyên gia đi theo chưa phải là nghiêm trọng nhất. Báo Nhật bản Nikkei Asian Review ngày 9/4 cho biết 'Trong bản Tuyên bố chung Trung – Việt phía VN đồng ý đưa cảng Hải Phòng vào chương trình xây dựng Con Đường Tơ Lụa trên biển do Trung Quốc khởi xướng'. ( theo bài viết 'Về Tuyên bố chung Việt – Trung', trên Diễn đàn – Forum của Hải Vân và Vũ Quang Việt – 15/4).

Chủ trương xây dựng Vành đai kinh tế Tơ lụa – Silk Road Economic Belt, từ TQ qua các nước Trung Á đến Trung Đông sang tận châu Âu, với đường sắt, ống dẫn dầu và khí, dài hàng chục ngàn kilômét và xây dựng Đường Tơ lụa trên biển - Maritime Silk Road từ TQ ra biển Đông VN, xuống Ấn Độ Dương, vào Biển Đỏ rồi sang Địa Trung Hải cập các bến châu Âu và châu Phi. Đây là 2 công trình đồ sộ nhất, ban đầu chi phí hơn 50 tỷ đôla, liên hệ đến 65 nước có hơn 4 tỷ dân, được coi là tham vọng kinh tế trọng điểm rộng lớn chưa từng có trong 10 năm tới, cũng là mối quan tâm kinh tế hàng đầu của Tập Cận Bình trong giấc mơ Trung Hoa to lớn Bình thiên hạ của ông ta.

Tham vọng này cực lớn, nhưng đang vấp phải sự cản phá mạnh mẽ của Ấn Độ, Nhật Bản, các nước Trung Á thân Nga, các nước Trung Đông cũng như của Hoa Kỳ và châu Âu. TQ đang rất vất vả tìm kiếm đối tác đồng thuận cho '2 công trình thế kỷ' này.

Nếu quả thật như trên, ông Trọng đã nhẹ dạ bị sập bẫy của ông anh Cả của mình.

Có thể ông đã bị loáng mắt inh tai mất tỉnh táo do sự tiếp đón linh đình của ông tổng Tập, có duyệt đoàn quân danh dự, có 21 phát đại bác, có Đại Yến tiệc, quên mất rằng chưa có đồng thuận của Bộ chính trị, chưa có ý kiến của Quốc hội, Chủ tịch Nước và Thủ tướng Chính phủ, các quan chức chóp bu này bị đặt trước việc đã rồi. Nhân dân không ai bỏ phiếu bàu ông Trọng làm Tổng bí thư. Ông chỉ là Tổng bí thư của đảng ông ta. Ai cho ông cái quyền đứng đầu nước ta?

Nếu quả thật như trên thì cái sơ hở sai lầm cực kỳ nghiêm trọng của ông Trọng và cả đoàn VN nên gọi chính xác là gì? Có thể gọi là bán nước cho thế lực bành trướng? Ông và đoàn của ông ăn nói ra sao với toàn dân ? Tuyên bố chung có nên đưa ra trưng cầu dân ý của toàn dân?

Thì ra 'cái tròng Bắc thuộc mới' mà nguyên Bộ trưỏng ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch sớm cảnh báo đã được Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh mở đầu năm 1990, tiếp nối bởi Tổng bí thư Đỗ Mười, rồi bị thắt chặt hơn dưới thời Tổng bí thư tham quyền Lê Khả Phiêu, để rồi tiếp nối mạnh hơn nữa bởi tổng bí thư Nông Đức Mạnh, còn rước họa bô-xít vào vùng chiến lược Tây Nguyên, và nay lại được ông tổng Trọng làm cho cái tròng Bắc Thuộc thêm chặt hơn, ngẹt thở thêm, dân ta không còn chịu nổi.

Năm đời Tổng bí thư làm tôi đòi cho ngoại bang phương Bắc chưa đủ sao? Đại Hội Đảng CS thứ XII hãy trả lời rõ cho toàn đảng và toàn dân nước ta.

06.05.2015


Bùi Tín

Hậu hài kịch, khán giả phải ghìm cơn mửa

…Quay mặt vào đâu cũng phải ghìm cơn mửa.
Cả một thời đểu cáng lên ngôi.
Tôi bước đi trên đất nước nghẹn lời…
(Bùi minh Quốc)

David Thiên Ngọc (Danlambao) - Thông thường từ xưa đến nay. Sau khi xem một vở bi, hài kịch nào đó, nếu có dịp khán giả gặp được diễn viên chính trong những vở kịch đã xem và hẳn nhiên sau những câu chào hỏi xã giao giữa những người chưa hề quen... mà chỉ biết một chiều (về phía khán giả) qua màn ảnh hay sân khấu mà thôi và sau đó là những câu hỏi đề cập đến những tình tiết bi hài qua vở diễn (vì thực tế có quen đâu mà hỏi han tâm sự) và hầu như tất cả những câu trả lời của diễn viên là “hề hề... kịch mà! Hề hề...” và có một điều hầu như phổ quát tuy không là quy luật là diễn viên nào diễn theo thể loại đó tùy theo năng khiếu sở trường của mình như: bi, hài, tráng, ác, thiện, trung, nịnh v.v... để có thể đem hết khả năng sở trường của mình ra hầu phục vụ khán giả và thể hiện tốt nhứt có thể cho vai diễn của mình. Ít khi có diễn viên nào kiêm nhiệm nhiều vai trong nhiều thể loại mà nhất là những vai có tính cách trái ngược mâu thuẫn nhau.

Để được gọi là thành công trong kịch nghệ là tập thể kịch tác giả, đạo diễn, diễn viên đã “đem cuộc đời thực lên sân khấu”, điều mà nó đã nằm trong giáo trình khoa văn bậc Đại Học trong nhiều năm mà người viết tiếp cận. Viết đến đây tôi xin dẫn một câu chuyện thành công trên sân khấu kịch trường. Lần đó ở hí trường Paris, trên sân khấu đang diễn một vở kịch của nhà soạn kịch lừng danh Homère. Đến đoạn cuối của vở, nhân vật nam chính bỏ rơi người yêu và đi theo quỷ dữ... thì lập tức bao nhiêu giày gót nhọn của phái nữ kể cả những đôi nạn của người khuyết tật cùng quà vặt của trẻ em tới tấp bay vù vù lên sân khấu cùng với tiếng hét la “phải cưới! phải cưới!!!” vang lên từ khán giả.

Ngay sau đó ông bầu đoàn kịch xuất hiện trên sân khấu và có đôi lời tạ lỗi là vì kịch bản của Homère chứ không phải của tệ nhân đồng thời chắp tay, mặt hướng lên trời xin tác giả Homère ở tận ngàn xanh cho phép được sửa lại kịch bản. Thế là một màn mới với đám cưới của đôi trẻ yêu nhau trong vở kịch được diễn ra với đôi vòng tay yêu thương và ánh mắt dâng trào hạnh phúc. Hàng trăm cành hoa được dâng lên ngập tràn sân khấu và trao tận tay cho đôi uyên ương lẫn bầu đoàn kịch nghệ. Trong lòng khán giả cuộc đời thực đã diễn ra trên sân khấu.

Đó là những cái chung nơi kịch trường xã hội. Bây giờ tôi xin mạn phép đôi dòng về “kịch trường chính trị VN thời ĐỒ ĐỂU”. Đáng lý ra tôi không viết những dòng này, bởi có quá nhiều bài viết như những chiếc đèn pha cao áp chiếu vào hậu trường sân khấu rồi. Nhưng sau khi xem những vở hài kịch nơi hí trường chính trị VN thời đồ đểu trong mấy ngày qua khiến tôi không ghìm được cơn mửa nên đành phải viết lên để phần nào giải tỏa bớt sự đè nén bên trong.

Nói về kịch trường chính trị VN thì kể từ khi thiếu tá quân đội Trung Quốc Hồ Quang (Hồ tập Chương) theo lệnh Đệ Tam QTCS nhận lãnh nhập vai Hồ chí Minh (Nguyễn ái Quốc, tên chung của các nhà Ái Quốc An Nam thời Pháp thuộc) lén lút ẩn mình trong hang Pắc Bó “tối núp trong hang sáng ra bờ suối đá…” luyện tập vai diễn của mình. Nói gì thì nói trong suốt quá trình “nhập vai, thay hình đổi xác” thì tên “cộng gian” này đã hoàn thành xuất sắc và hoàn hảo trong vai diễn của mình đến cuối đời mà không một mảy may lộ diện… hắn lừa cả một nửa dân tộc Miền Bắc VN và hàng triệu đảng viên của hắn với lớp áo, vỏ bọc “Cách Mạng Dân Chủ Nhân Dân” một cách ngoạn mục. Trong nhiều năm sau khi hắn về hang thì có rất nhiều tên tay sai đội lốt này hình hài nọ thậm chí mạo phạm cả thần linh, phỉ báng tôn giáo nhưng chỉ trong một sớm một chiều hình hài cũng lộ diện, rõ cốt hiện nguyên hình như các tên gọi là đại đức, thượng tọa thích “Chân Quang, thích Thanh Quyết” trong người mang “thẻ máu” cùng các tên “thích đủ thứ”… ăn nói quàng xiên gây hại cho bà tánh nhân dân làm đồi phong xã hội, ô uế chốn thiền môn, bẩn nhơ Phật pháp. Tên cộng gian thiếu tá Hồ Quang xuất thân từ hang động, cuối cùng nhắm mắt hắn cũng chui vào hang… cái hầm xí thời La Mã, một công trình đứng thứ 5 trong 10 Building tệ hại nhất hành tinh.

Sau khi hắn chui vào hầm xí thời La Mã rồi thì hậu duệ của hắn tiếp tục đóng các vai tuồng “hậu Hồ Quang” do nhà biên soạn kiêm đạo diễn “Trung Nam Hải” sắp bày. Có một điều đáng nói là các diễn viên hậu Hồ Quang cho đến ngày nay hầu hết chỉ đóng và diễn trước sau như một với bài vở có sẵn mà không hề thay vai hay đổi kịch bản và không hề hé lộ thân phận của vai tuồng. Duy chỉ có một diễn viên số 2 kế cận Hồ Quang là Lê Duẩn, tuy hắn là diễn viên chính, tuyệt đối trung thành với đạo diễn Bắc Kinh và điên cuồng lùa cả 5 triệu nam nữ thanh niên VN vào chảo lửa Trường Sơn để thực hiện mưu đồ của Đệ Tam CSQT và hắn còn nguyện hy sinh cho đến người VN cuối cùng để nuôi cuồng vọng nhuộm đỏ Đông Nam Á của quan thầy. Thế nhưng những ngày cuối cuộc đời hắn thổ lộ là “đánh (giết dân Miền Nam) đây là đánh cho Nga, Tàu”. Như vậy rõ ràng hắn chỉ là tay sai, là quân cờ, là diễn viên trong màn kịch do Trung Nam Hải sắp đặt. Điều mà hầu hết các diễn viên gạo cội, làm tay sai cho Bắc Kinh trên hí trường chính trị VN chưa hề có một ai xì ra thân phận được.

Kịch sĩ đa tài với các kiểu nhập vai.

Bỏ qua giai đoạn gần 40 năm kể từ ngày tập đoàn diễn viên CSVN với thân phận giá áo túi cơm, nâng khăn sửa túi, làm trò khỉ mua vui cho quan thầy phương Bắc đã đóng tròn vai là giết hại dân mình, cưỡng đoạt MNVN dâng cho quỷ dữ thì gần chục năm qua nơi kịch trường chính trị VN xuất hiện một kịch sĩ đa tài với mỹ danh “hàng ngoại” là Giăng Mắc Êrô… Biệt danh này có được là khi hắn diễn hề trên đài truyền hình Canal Plus, kênh chuyên về hài hước giải trí của Pháp, tuy hắn cũng cùng loài khỉ rừng sâu như đồng bọn. Hắn nhập được nhiều vai và diễn rất tự nhiên như chưa hề biết trước đó hắn đã diễn những vai và thể loại mâu thuẫn trái ngược lại với vai đang diễn trên hí trường hiện tại.

- Vai “cà lăm” đánh lận con đen.

Năm 2006 khi nhận “búa đập đầu dân” nhiệm kỳ 1 tại thành phố Hoa Phượng đỏ hắn ta mạnh dạn tuyên bố với giọng cà lăm rằng “Chống… chống tham nhũng tới cùng” nếu không chống được thì hắn ta xin trả búa lại cho “trào đờm”. Đến khi đoàn tàu Vina… lần lượt chìm vào đáy biển thì hắn cười nhẹ mà rằng “Trong việc nhận chìm các tàu Vina thì tui không có làm gì sai? Tui làm đúng mà!” bởi năm ấy khi ở thành phố cảng tui nói rằng nếu tui không chống lại được bọn chống tham những thì tui xin trả búa. Thì rõ ràng Giăng Mắc Êrô hắn làm đúng theo lời hứa chứ có gì sai? Vì hắn đã “chống… chống tham nhũng” có nghĩa rằng hắn đã chống và diệt được bọn chống tham nhũng mà cụ thể là hắn đã tung một chưởng ARS đoạt hồn mệnh “Bà Nà động chủ” phải hóa kiếp quy tiên mà oan hồn còn vất vưởng ở bán đảo Sơn Trà. Và bầy sâu của nhà hắn thoải mái vô tư mà đục khoét non sông. Vai cà lăm hắn hoàn thành xuất sắc.

- Vai “Hùng” lẫn“Hèn”.

Năm 2013 đi phó hội Shangri-La hắn ta uống một lượng “thuốc liều” nhưng chưa đủ mạnh để rồi phát biểu bâng quơ… xa gần rằng “ đâu đó… thể hiện sức mạnh cường quyền, có những đòi hỏi phi lý…” nhưng vừa nói vừa run và nhìn về tướng Thích kiến Quốc, thích xâm lăng, ngạo mạn đang tỏ thái độ hung hăng trên diễn đàn. Thể hiện sự đốn mạt, khiếp nhược trước quân thù mà vứt cái thể diện Quốc Gia vào vũng lầy nhơ nhớp.

- Vai “điếm ngoại hạng”.

Năm 2014, thông điệp đầu năm với 5 điểm “Đổi mới thể chế, xóa bỏ độc quyền, nắm vững ngọn cờ dân chủ, nhà nước kiến tạo phát triển và xây dựng nhà nước pháp quyền” với ý đồ mê hoặc người dân sau bao năm dài ngập chìm trong tăm tối áp bức, bất công, khát vọng dân quyền, dân chủ hòng hướng tới tham vọng là người đứng đầu không dưới một ai trong cái đảng và chính quyền man rợ này trong kỳ “hội tề bán nước thứ 12” đầu năm 2016 sắp đến, với thâm ý là tiếp tục vận hành cỗ máy bóc lột nhân dân và thẳng tiến trên mê lộ “mãi Quốc cầu vinh”. Nhưng trong màn diễn này chỉ che mắt và lừa mỵ một số ít nhẹ dạ cả tin cùng một bộ phận cầu an nhưng khát vọng tự do dân chủ. Còn đại bộ phận nhân dân có lạ gì lối “xảo ngôn, điếm ngữ” mà hắn đã phun ra cả chục năm qua.

Cũng năm 2014, sau khi hắn mượn gan cóc tía là cậu ông trời. Nhắm mắt thốt lên những lời khí khái, mạo phạm bề trên với “…hòa bình hữu nghị viễn vông!” ở Manila làm nức lòng một số người nhẹ dạ cả tin. Nhưng ngay sau đó hắn quay về Ba Đình động ngoan ngoãn sà vào mình Dương khiết Trì, sứ giả của thiên triều mà ôm hôn thắm thiết và nhận lời chiêu dụ “đứa con hoang quay về với mẹ” trong ý nghĩa “lãng tử hồi đầu”. Song song với thân phận là đứa con hoang thì ngược lại 3 Ếch cầu cứu 4 biển 5 châu, quỳ mọp trước thềm luật pháp QT cầu xin can thiệp ngăn chặn hiểm họa xâm lăng trắng trợn của bọn bành trướng Bắc Kinh.

Những ngày cuối tháng 4.2015- Trước thềm “hội tề T.Ư 11” cực kỳ quan trọng, quyết định cho cơ hội bán nước của mình, đồng thời trong không khí mừng xuân đại thắng cướp trọn MNVN được tổ chức rình rang nhằm khoét sâu hận thù dân tộc. 3 Ếch vẽ mặt bôi vôi đọc “giễu văn” vuốt đuôi đại Hán, đội ơn thiên triều nguyện kết cỏ ngậm vành đền ơn trời biển… những mong được ngồi trên ngôi cả hầu thâu tóm giang san. Để chiếm được lòng tin của đại Hán 3 Ếch không quên nhại lại bài nhật tụng rủa xả xứ Cờ Hoa nơi mà hắn ta đang xây cả một tòa “hậu cứ”.

Tối ngày 30.4.2015, sau khi đeo mặt nạ đọc “giễu văn”, tọa kháng “giễu binh” Giăng mắc Ê rô đang mơ màng về một viễn ảnh Tây-Tàu lẫn lộn thì chuông điện thoại reo. Tiếng từ bên kia bờ đại dương xa thẳm vọng về.

- Alo anh sui! Sao lạ dzậy anh, hồi sáng anh đọc cái mửng gì vậy? Bộ anh muốn trở quẻ ha?

- Hê hê… anh sui à! “kịch mà anh!”

- Wow! Anh đúng là kịch sĩ đa tài, đa tráo trở… tui bái phục anh.

Đến đây người viết xin nhắn đến nhà thơ Bùi minh Quốc rằng đến thời điểm này thì đất nước, nhân dân VN “không còn lời để nghẹn”.

6/05/2015



Hậu quả của những kẻ thiểu năng, ôm súng đi xây dựng đất nước

Le Nguyen (Danlambao) - Thế kỷ trước đảng cộng sản Việt Nam tuân lệnh Nga-Tàu thực hiện nghĩa vụ “quốc tế cộng sản” xua quân đánh chiếm Việt Nam Cộng Hòa, độc quyền lãnh đạo xây dựng “thiên đường” xã hội chủ nghĩa đã biến VNCH từ một nước đứng nhất, nhì vùng Á Châu - Thái Bình Dương, có thủ đô Sài Gòn được mệnh danh là Hòn ngọc Viễn đông, trở thành một trong những nước kém phát triển, lạc hậu, chậm tiến nằm dưới đáy nghèo đói của khu vực và thế giới.

Ngày xưa, thuở Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) trong giai đoạn vừa xây dựng phát triển, vừa chiến đấu chống lại tham vọng xâm lăng của cộng sản, là mơ ước của Singapore, là mục tiêu cho các nước trong khu vực vươn tới. Ngày nay sau bốn thập kỷ nằm dưới sự lãnh đạo toàn diện triệt để của đảng cộng sản Việt Nam (CSVN), chúng đã hủy hoại toàn bộ con người xã hội Việt Nam, phá hủy từ giá trị tinh thần nhân văn, nhân bản đến cơ sở vật vật chất nền tảng cơ bản để Việt Nam xây dựng, phát triển đất nước bền vững hội nhập vào giòng sống văn minh tiến bộ của cộng đồng nhân loại.

Lịch sử đã chỉ ra, các thế hệ lãnh đạo CSVN, với tư duy, kiến thức giới hạn do nguồn gốc xuất thân không đàng hoàng lại mang chứng bệnh hoang tưởng, cướp chính quyền xây dựng quyền lực nhà nước trên đầu súng nên họ không đủ khả năng, không đủ tư duy nhận thức để hiểu những nghịch lý, bất hợp lý đến độ phi lý trong hệ thống lý luận của chủ thuyết cộng sản.

Những lãnh đạo CSVN với kiến thức giới hạn cộng với lòng nhiệt tình cách mạng lật đổ và chỉ thuộc nằm lòng các khẩu hiệu tuyên truyền dễ thuộc dễ nhớ của quốc tế cộng sản nên họ đinh ninh rằng đó là chân lý, là con đường giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp công nông, thành phần lao động nghèo thoát cảnh nô lệ của các lãnh chúa, của tư bản bóc lộ, hoang dã của thế kỷ trước?

Với nguồn gốc xuất thân, năng lực khiêm nhường cộng với chút gian manh khôn vặt của những kẻ du thủ du thực quen sống ngoài vòng pháp luật, lại có súng trong tay nên đa phần lãnh đạo cộng sản rơi vào trạng thái ảo tưởng, ngỡ rằng họ có quyền lực vô biên, có thể thay trời làm mưa, có thể xây dựng, phát triển kinh tế xã hội với súng đạn, luật pháp, công an, nhà tù... không màng đến kiến thức chính trị kinh tế học được loài người tiến bộ gạn lọc, đúc kết truyền lại cho đời sau học hỏi, thực hành trong tổ chức cai trị nhà nước, xã hội.

Thế cho nên với đầu óc thô sơ, lại mang chứng bệnh hoang tưởng, vĩ cuồng cộng sản nên lãnh đạo đảng, nhà nước CSVN sau nhiều thập kỷ mò mẫm, quờ quạng đi trong giấc mơ thiên đường xã hội chủ nghĩa đã đẩy đất nước, dân tộc rơi xuống đáy của chín tầng địa ngục trần gian nhưng vẫn mê sảng với những câu kinh nhật tụng đầy mê tín “...thành công vượt bậc... ngày càng có uy tín trên trường quốc tế...” nhằm “tự sướng” với nhau. Hậu quả nghiêm trọng khó khắc phục do bệnh tâm thần phân liệt cộng sản gây ra, nằm sờ sờ trước mắt đến trẻ em cũng nhận ra nhưng vẫn không giúp cho lãnh đạo cộng sản tỉnh ngộ, vứt bỏ tham vọng quyền lực, vứt bỏ chủ nghĩa cộng sản vào thùng rác lịch sử như các dân tộc đã từng mắc chứng hoang tưởng cộng sản đã làm.

Hậu quả nghiêm trọng do cộng sản “làm ra, phát tán” có rất nhiều, nhìn vào đâu, vào phương diện nào sau bốn mươi năm xây dựng xã hội chủ nghĩa đều cũng phải ghìm cơn mửa như nhà thơ Bùi Minh Quốc, một người đã từng là “bên thắng cuộc”chỉ ra. Phải nói rằng ghìm cơn mửa mọi mặt, từ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, luật pháp, giáo dục, y tế, giao thông, gia cư... môi trường sống và làm việc... Đâu đâu cũng tan nát, tan nát đúng với nghĩa thật của tan nát, nghĩa là không thể sửa chữa được nữa mà chỉ có cách duy nhất là phá bỏ toàn bộ để xây lại từ đầu.

Nhìn chung gốc rễ không thể sửa chữa, về mặt kinh tế là do 90% hợp đồng trọn gói (EPC) nhằm thực hiện kế hoạch công nghiệp hóa, hiện đại hóa lọt vào tay các nhà thầu Trung Quốc với kỹ thuật lạc hậu, máy móc chỉ ngang tầm với giá trị cân ký bán sắt vụn bởi nhà máy, hãng xưởng chưa đưa vào sử dụng đã lỗi thời, đã hỏng hóc - còn nếu như sử dụng được thì lại gây ô nhiểm môi trường vượt mức an toàn cho phép hoặc không hiệu quả kinh tế, vì chi phí vận hành cao, trở thành khúc xương khó nuốt và những kẻ lãnh đạo không não càng tiếc của đưa vào hoạt động sản xuất thì càng lỗ lã, thu không đủ bù đắp chi do kỹ thuật lạc hậu phát sinh từ nhà thầu trọn gói của Tàu Cộng gây ra.

Hiện nay kiểm điểm lại các nhà máy, công xưởng quốc doanh lẫn tư doanh từ nhỏ đến trung được xây dựng với gói thầu trọn gói của các nhà thầu Tàu cộng đa số đã “trùm mền”. Số còn lại đang hoạt động cũng chỉ là để thể hiện sự hiện diện nhằm báo cáo thành tích chứ không chứng minh được hiệu quả của nó trong phát triển kinh tế nói riêng và cũng không chỉ ra Việt Nam đang từng bước vững chắc đi vào tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nói chung.

Về luật pháp thì quốc hội cộng sản thường xuyên soạn thảo, bàn thảo dự thảo luật cùng với chính quyền trung ương, chính quyền địa phương, các cơ quan ban ngành, gần như ngày nào cũng có văn bản dưới luật đưa vào thực thi trong cuộc sống. Có một số luật, văn bản không nhỏ, theo thống kê chính thức của nhà nước đưa ra là mỗi năm có cả vạn “luật”, “văn bản dưới luật” vi phạm quy phạm phát luật do các quan chức nhà nước làm ra, phát tán!

Điều đáng sợ hơn, là các cơ quan lập pháp, các quan chức cộng sản chỉ có làm ra “luật”trời ơi đất hởi, xe cán chó chó cán xe và luật pháp liên quan đến quyền dân sự, quyền chính trị, quyền làm người... do đảng, nhà nước cộng sản Việt Nam buộc phải làm ra, cũng bởi do ràng buộc với các văn kiện ký kết, cam kết quốc tế để nhận được hỗ trợ, viện trợ “cứu đói”của các tổ chức từ thiện quốc tế và của các nước dân chủ giàu mạnh trên thế giới vẫn không được nghiêm chỉnh thi hành.

Hiện thực luật pháp trong nước xã hội chủ nghĩa cũng đã chỉ ra, luật pháp của cộng sản làm ra chỉ để đối phó với áp lực quốc tế cũng như là để trấn áp, hạn chế quyền của người dân đến độ đã có quan chức cao cấp của đảng, nhà nước đau khổ thốt lên rằng: “Việt Nam có một rừng luật nhưng chỉ có sử dụng mỗi luật rừng.”

Vê việc phát triển mở rộng đường sá, cầu cống xây dựng nhà ở, khu vui chơi giải trí qua chính sách đất đai sở hữu toàn dân, thực chất cũng chỉ là phá hoại làm giàu cho một thiểu số và làm cho đa số dân nghèo nghèo hơn. Đến thời điểm này không còn ai mơ hồ với chính sách đất đai sở hữu toàn dân, đích thực nó chính là phương tiện để cho cán bộ, đảng viên quan chức nhân danh phục vụ phát triển kinh tế xã hội, cướp đi quyền lợi ích hợp pháp của người dân thấp cổ bé họng, chia chác cho thân nhân, giòng họ phe nhóm chứ không nhằm mục đích phục vụ phúc lợi xã hội và lợi ích cộng đồng.

Cụ thể là quan chức cấu kết với các nhóm lợi ích lập quy hoạch bến cảng, phi cảng, khu công nghiệp, khu căn hộ cao cấp, phóng đường mới... phục vụ phát triển kinh tế xã hội và “rải quân” đi tắt đón đầu - nghĩa là cho tay chân đi thu gom đất ruộng, đất vườn giá rẽ như bèo trong vùng quy hoạch để biến thành đất nhà ở, thành khu công nghiệp...một mình một chợ hét giá trên trời và lẽ ra quyền lợi đó thuộc về những người nông dân chân lắm tay bùn lại lọt vào tay của quan tham có súng nên chúng rất hăng hái trong việc cưỡng chế, giải phóng mặt bằng?

Trên đây chỉ là vài nét sơ sài về đám thảo khấu cộng sản Việt Nam với đầu óc không não, trong tay ôm khẩu súng nên ngộ nhận tưởng rằng chúng có sức mạnh vạn năng trong quá trình xây dựng, phát triển đất nước. Từ ngộ nhận đó nên những kẻ thiểu năng, ôm súng đi xây dựng, phát triển đất nước đã gây ra hậu quả khó khắc phục và muốn cho đất nước tốt hơn, không có cách nào khác là xóa bỏ chế độc tài toàn trị, loại trừ độc quyền lãnh đạo của đảng cộng sản Việt Nam.

Điển hình như tham nhũng, tiêu cực trong giải tỏa đền bù, nạn đút lót để được phục vụ ưu tiên trong các bệnh viện công, nạn thầy gạ trò đổi tình lấy điểm, nạn công an đánh chết người trong nhà tạm giam tạm giữ, nạn cảnh sát giao thông chặn xe thu tiền mãi lộ, nạn rút ruột công trình xây dựng hạ tầng cơ sở, nạn mua quan bán chức... Tất cả những vi phạm luật pháp như vừa kể trong chế độ độc tài toàn trị cộng sản, không những không thể ngăn chận hay đẩy lùi mà ngày càng nghiêm trọng hơn và những kẻ phạm pháp không những sống nhởn nhơ ngoài vòng pháp luật, chúng còn mạnh miệng thách thức những ai tố cáo chúng. Hiện nay có rất ít người dân không thấy, giải pháp duy nhất khả thi là xóa bỏ chế độ độc tài toàn trị mới có thể khắc phục được các tệ nạn vừa kể.

Mặc dù vậy, một khi chế độ cộng sản sụp đổ, được thay thế bằng chính thể dân chủ tuy có một số hậu quả nghiêm trọng có thể khắc phục ngay và có số hậu quả nghiêm trọng khác vẫn không thể khắc phục được mà phải cần thời gian 5 năm, 10 năm hoặc lâu hơn nữa. Cụ thể như việc phát triển đường xá, cầu cống, khu công nghiệp, nhà máy hảng xưởng, khu đô thị, khu gia cư...do các tay súng, thiểu năng trí tuệ, thiếu kiến thức xây dựng phát triển không đúng quy trình nên bày biện la liệt không đâu vào đâu, chỉ có cách đập bỏ xây cái mới, vừa rẻ hơn sửa chữa lại vừa đúng với tiêu chuẩn “đô thị hòa bình”văn minh của nhân loại.

Chẳng hạn như hiện nay quy hoạch xẻ lô xây nhà ở với mặt tiền hẹp, đường nội bộ nhỏ bằng đường của cả trăm năm về trước vào thời Pháp thuộc xây dựng, lúc dân cư thưa thớt, phương tiện di chuyển chỉ xe ngựa, xe hai bánh là thứ xa xỉ... và ngày nay xây dựng, phát triển theo tư duy “trăm năm trước” ai cũng thấy là nó nhếch nhác, không ngang tầm với các khu đô thị văn minh tiên tiến của thế giới đương đại. Đó là những gì con mắt tay ngang nhìn thấy hiển hiện trên mặt đất mà đã thấy kinh khủng, ghê rợn thì những thứ nằm ngầm dưới mặt đất, mắt thường không nhìn thấy như hệ thống cống rãnh, hệ thống cung cấp nước sạch, hệ thống điện ngầm, hệ thống internet, điện thoại... còn rùng rợn đến mức nào?

Tuy nhiên, dù nằm dưới mặt đất không ai thấy nhưng với những gì đập vào mắt mỗi ngày như việc các nhà thầu sử dụng lao động chân tay đào rồi đắp đắp rồi đào, mưa nhỏ thì nước cống hôi thối trào lên, mưa lớn thì nước ngập mênh mông như biển cũng đủ cho người dân thấy tài nghệ của những kẻ lãnh đạo lăm lăm khẩu súng với cái đầu trống rỗng giành độc quyền xây dựng, phát triển đất nước nên đã trở thành những kẻ phá hoại siêu hạng.

Thật ra hậu quả về mặt vật chất của những kẻ du côn, côn đồ cộng sản ôm súng đi xây dựng xã hội chủ nghĩa đã đáng ghê sợ nhưng vẫn không ghê sợ bằng hậu quả tinh thần - những thứ không thể nhìn thấy, không sờ mó được nhưng hậu quả của nó cực kỳ nghiêm trọng, dù có xóa bỏ chế độ toàn trị, loại trừ độc quyền lãnh đạo của đảng cộng sản vẫn còn hiện hữu trong nếp sống nếp nghĩ, trong tâm tư tình cảm của một bộ phận không nhỏ suy thoái đạo đức lối sống, lặn ngụp trong xã hội băng hoại, tiêm nhiễm lối sống dối trá, sính diễn trò hơn sống trung thực với tư duy nhận thức bằng chính con người thật, đúng nghĩa là một con người.

Tóm lại hậu quả về mặt vật chất của đất nước do cộng sản, những kẻ sính súng đạn không có não để lại tuy có nghiêm trọng nhưng giải pháp phá bỏ tất để làm lại từ đầu, là có thể khắc phục được hậu quả - điển hình như chúng ta có thể tháo dỡ kỹ thuật, máy móc lạc hậu do nhà thầu trọn gói Trung Quốc xây dựng hay đập bỏ tất những gì do những kẻ thiểu năng, ôm súng làm ra. Thế nhưng hậu quả về mặt tinh thần của con người Việt Nam do thời gian dài bị cộng sản tẩy não, nhồi nhét đã làm cho biến thái, không phải một sớm một chiều là có thể thay đổi, thay thế mà cần phải có thời gian gột rửa để trở lại nếp sống, nếp nghĩ bao dung nhân ái, bất khuất kiêu hùng của giống giòng Đại Việt. Đó là điều những người có lòng với đất nước cần phải suy nghĩ, hành động khi cộng sản không còn trên đất nước Việt Nam, vì xây dựng, phát triển đất nước hiệu quả phải bắt đầu từ những con người Việt Nam mang hồn Việt Nam tài năng và đức hạnh.

06.05.2015

Bức tường Berlin của CSVN bao giờ sụp đổ?

Góc nhìn cá nhân về bức tường Berlin

Phan Châu Thành (Danlambao) - Một phần tư thế kỷ trước, 1990, bức tường Berlin chia cắt Đông và Tây nước Đức, chia đôi dân tộc Đức hùng mạnh bậc nhất Châu Âu và hàng đầu thế giới, sụp đổ. Bức tường đó cũng là tượng trưng cho rào chắn phía tây của “phe” XHCN, mà sự sụp đổ của nó vừa kéo theo vừa là kết quả của sự tan rã của tám nước cộng sản Đông Âu và hơn 13 nước “cộng hòa” cộng sản thuộc Nga đô hộ, kể cả “cái nôi cộng sản”- nước Nga…

Tôi đã nhiều lần đến trước bức tường Berlin khi nó còn tồn tại, từ phía Đông và nhìn sang phía Tây với nhiều hình dung và câu hỏi về nửa kia của dân tộc Đức mà tôi ngưỡng mộ hàng đầu Châu Âu (tất nhiên trừ Hitler và giai đoạn Quốc xã của nước Đức, sau là trừ cả Marx và nước Đức cộng sản…). Giống như suốt thời thơ ấu đến khi đi du học, sống trên đất Bắc XHCN, hầu như tôi dành trọn trí tưởng tượng và tình cảm của tuổi thơ để hình dung và nghĩ về nửa nước và nửa dân tộc Việt phía Nam sông Bên Hải - Miền Nam quê Nội của tôi… Rất may mà tôi đã hình dung Miền Nam và người dân Nam cho mình qua chính cha mình và những lời kể (hay không kể, nhưng thể hiện ra) của cha tôi về quê Nội họ Nội, chứ không phải (chỉ) qua tuyên truyền của xã hội CS miền Bắc. Tôi đã mơ một ngày mình sẽ được qua sông Bến Hải về quê Nội, nhưng không phải là cầm súng bắn người Nam và nằm lại đó như nhiều bạn học thời thơ ấu của tôi… Cũng như, khi là sinh viên, tôi mơ một ngày vượt qua bức tường Berlin để đến với nửa kia của dân tộc Đức vĩ đại (và cả phương Tây đang “giẫy chết”) mà tìm hiểu và học hỏi, nhưng không phải là đơn giản là chạy sang Tây Đức như nhiều bạn học của tôi đã làm mà tôi không dám…

Năm 1975, tôi đã kịp được qua sông Bến Hải trước khi đi du học, và đã tưởng là mình đã trở về quê Nội không cầm súng, rằng không có gì ngăn cách và khác biệt nữa giữa hai miền quê Nội - Ngoại của tôi. Sau 1990, tôi cũng đã đến miền Tây nước Đức và Berlin vài lần, tự cho mình cái cảm giác đã “vượt qua bức tường Berlin” (đã bị đập vỡ nhưng còn ghi trong ký ức sinh viên của tôi) khi đi từ Tây sang Đông Berlin, và cảm nhận sức mạnh lớn lao của cả dân tộc Đức đã kết lại thành một, trong hơi thở của Đức – mà tôi gọi là trong tư tưởng tiên phong của nước Đức. (Tiên phong thì hay lỡ trớn, và hai kẻ lỡ trớn “vĩ đại” của Đức là Marx và Hitler…)

Ở đây, tôi xin bật mí lý do tại sao tôi thần tượng dân tộc Đức. Là vì tôi mê Triết học, mà Nhân Loại có hai cái nôi triết học lớn nhất là nước Hi Lạp cổ đại (với ba nhà đại triết học Socratet, Platon và Aristote), và nước Đức (với F.Hegel, I.Kant, G.Leibniz, L.Feuerbach, F.Nietzsche… mà K.Marx chỉ lẻ kẻ hậu sinh chuyên ăn cắp ý tưởng của tiền nhân rồi xào nấu thành các quái thai như chủ nghĩa cộng sản). Cái nôi thứ ba, nếu có, hiện đang còn “tranh cãi”, tôi tin rắng đó là nước Mỹ với hệ tư tưởng dân chủ của số đông người dân, từ gần ba thế kỷ nay (với các nhà tư tương dân chủ như A.Tocquerville, Waldo Emerson …) – còn nhiều người lại muốn tin rằng đó là nước Tàu (với Khổng và Mao?!...). Tôi cũng tin có thể châu Á sẽ là cái nôi triết học-tư tưởng thứ tư của Nhân loại, nhưng khoảng 3-5 thế kỷ nữa - khi nền dân chủ thế giới mà nước Mỹ đang dẫn đầu, suy tàn, chăng?!

Bức tường Berlin của Việt Nam mang tên “ngày 30 tháng 4”

Sau chục năm du học, tôi về nước khi bức tường Berlin ở Đức vẫn còn đó, và khi tôi tưởng như sông Bên Hải không còn ngăn cách hai miền nước Việt, thì tôi lại đau lòng nhận thấy, thực tế một bức tường Berlin vô hình khác của người Việt đã được CSVN dựng lên (còn vững chắc hơn nhiều) giữa hai nửa dân tộc Việt: bên cộng sản phản dân chủ và bên dân chủ - không cộng sản, ngay sau ngày 30/4/1975. Đôi khi người ta nói bức tường Berlin VN đó là giữa “bên thắng cuộc” và “bên thua cuộc”, nhưng tôi cho đó là nhầm lẫn lớn, vì “bên thắng cuộc” có rất nhiều người hy sinh chỉ vì độc lập dân tộc và xã hội dân chủ chứ không phải vì chế độ cộng sản – vốn phản dân chủ và bán độc lập dân tộc cho CS Tàu.

Vâng, ngay lập tức từ 30/4/1975 CSVN đã dựng lên bức tường Berlin giữa những người Việt bằng hàng loạt những chính sách, chiến dịch và hành động tán ác, vô nhân tính của “kẻ chiến thắng” với những người dân “bị thua cuộc”, đi ngược hoàn toàn đạo đức dân tộc Việt sau mỗi cuộc chiến tranh. Những người Việt trong hàng ngũ quân đội VNCH và thân nhân, những tổ chức xã hội dân sự dân chủ của VNCH sau 30/4/1975 đã chỉ là những người công dân Việt (vì họ đã chính thức bỏ súng xuống và tự giải thể để đất nước có Hòa bình), đã lại bị chính quyền CSVN cầm súng trong “hòa bình” đó đàn áp trả thù tàn khốc và toàn diện suốt mấy chục năm sau, cho đến nay đã 40 năm còn chưa dứt…

Không muốn (và không thể) kể lại hết những sự tàn ác của CSVN với nhân dân miền Nam không theo CS trong suốt 40 năm qua trên phạm vi cả nước, tôi chỉ muốn nói về “một mẩu” bức tường Berlin VN đó đã được dựng lên và ngăn cản sự hàn gắn trong gia đình tôi thế nào…

Cha tôi và bác ruột tôi (hai người tập kết 54) có một người em trai duy nhất năm 75 là sĩ quan thông dịch của quân đội VNCH, và tất nhiên bị bắt đi cải tạo, để lại thím tôi nuôi 13 đứa em nheo nhóc (đứa lớn nhất bằng tôi). Không biết bằng cách nào, sau nhiều tháng đi lại, và trong sự phản đối của bác tôi (người cộng sản chức to hơn và cho rằng chú tôi đáng bị đi cải tạo), ba tôi đã xin cho chú tôi được về nhà với điều kiện… phải nộp nhà ở SG cho chính quyền quân quản và đưa gia đình đi kinh tế mới… Thế là 13 đứa em họ tôi đang được ăn học yên ấm ở Sài Gòn, sau 30/4/75 vui mừng đón hai ông bác CS về để… biến chúng thành người miền núi đói rách, bệnh tật và thất học… trong chớp mắt kinh hoàng. Còn tôi, một thằng anh họ, vốn ăn trong hầm ngủ trong rừng ở miền Bắc thì được về thành phố và du học… Chú tôi đã phải cảm ơn anh mình vì “ơn cứu mạng” nhưng tôi thấy giữa anh em họ đã có một bức tường vô hình ngăn cách không bao giờ hàn gắn được, đến trước khi cha tôi mất và rất ân hận vì cả cuộc đời mình, vẫn còn đó bức tường chia cắt anh em… Và các em con chú thím tôi, liệu chúng có yêu quí được chị em tôi? Không, ngay lập tức chúng tôi thấy một bức tường dầy và cao khủng khiếp được dựng lên trong xã hội, giữa chúng tôi…, không phải do các anh chị em tôi tự dựng lên.

Bà nội tôi, dù được hai con trai lớn tôn vinh là “Gia đình cách mạng vẻ vang”, là cả “Mẹ VN Anh hùng nữa”, từ sau 75 lại bỏ đi tu và không “nhìn nhận” hai người con trai đó – Nội chỉ thương chú út đang khổ ải với đàn con nheo nhóc phương xa, và thương những người con rể, cháu rể khác của Nội đang bị đi tù cải tạo mà đa số đã không có ngày trở về trong thế giới này – Nội và họ gặp nhau ở thế giới của Phật – một lần hiếm hoi Nội đã tâm sự với tôi như thế… Sau 30/4/75 Nội tôi đã không nhận bác và cha tôi là con mình nữa, cho đến lúc Nội mất vẫn cương quyết im lặng thế, thì có nghĩa là quê Nội tôi đã hoàn toàn từ chối, chối bỏ những đứa con cộng sản của mình rồi… Chị em chúng tôi thấm hiểu điều đó, nên chị em chúng tôi không ai trở thành cộng sản được, vì không ai muốn bị quê hương, giòng tộc mình chối bỏ… Bức tường băng giá giữa người mẹ miền Nam và các con CS sau 21 năm xa cách đó ai đã dựng lên? Không phải Nội tôi mà chính bác và cha tôi cùng đảng CS của họ, qua những gì họ làm trên đất nước này sau 30/4/1975. Thực sự thì tôi thấy cha và bác tôi sau 1975 còn cô đơn ở Sài Gòn hơn 21 năm tập kết trên đất Bắc của họ trước đó, vì chính họ đã nhận ra những sai lầm theo CS không thể cứu vãn của mình.

Bây giờ đã đến thế hệ con cháu chúng tôi, liệu giữa chúng có những bức tường khủng khiếp như thế của hai ba thế hệ trước? Có, và vì nó truyền kiếp từ hai ba thế hệ, trong suốt 40 năm qua, nên lại càng khủng khiếp, càng đè nặng lên thế hệ thứ tư hôm nay…

Từ sau 30/4/1975 nếu chú thím tôi phải đưa 13 đứa con nheo nhóc làm cuộc hành trình “tự cải tạo” lên các cái gọi là “kinh tế mới”, thì đó cũng là lúc các anh chị, các em tôi (con chú thím và con các cô gì chú bác bên Nội tôi khác) bắt đầu cuộc hành trình ngược lại của họ để trở lại Sài Gòn, ngay từ trong những cơ cực tuổi thơ. 40 năm qua là 40 năm hành trình tìm về lại Sài Gòn và ra đi (vượt biên) của các anh chị em họ Nội tôi - bị ngày 30/4/75 bỗng chốc cướp mất tương lai. Họ hiện nay dù đang định cư ở đâu, hải ngoại hay trong nước, đều cố gắng sống và giữ một điều: không theo cộng sản. Và điều đó chắc chắn là “tài sản” quí giá nhất họ truyền lại cho thế hệ thứ tư – vì làm sao các chị họ tôi là vợ những cán binh VNCH có chồng bị CSVN bắt đi cải tạo sau 30/4/1975 và không bao giờ trở về lại có thể nuôi dậy con họ trong hơn 40 năm qua để trở thành thân cộng được?! Mỗi lần đến thăm những người chị đó (mà tôi trong sâu thẳm coi họ như những vị anh hùng) và những đứa cháu đó, tôi đều thầm cảm ơn những cán binh VNCH- những anh rể tôi mà chưa hề biết mặt - dù đã bỏ xác đâu đó trên núi rừng miền bắc nhưng vẫn phù hộ cho vợ con để các gia đình Việt còn có thể hướng tới tương lai không cộng sản, qua thế hệ các cháu tôi…

Trong họ nội tôi, tất nhiên, cũng có những con “vịt đen” đáng ghét đáng khinh, mà những năm qua chúng lớn lên thành bọn “cách mạng 30 tháng 4”. Điển hình trong đó là hai thằng em con dượng Út tôi. Chúng nó thần tượng cộng sản như cha và bác tôi nên chúng thành cộng sản cuồng tín và ngu muội, tham ác. Hôm nay, một thằng là thượng tá trưởng công an phường và một là tổng giám đốc gì đó rất tham nhũng. Với bọn này thì người dựng lên “bức tường Berlin VN” lại là... tôi.

Vậy là đến thế hệ thứ tư, cái bức tường Berlin mà CSVN dựng lên sau ngày 30/4/1975 vẫn còn nguyên sức nặng chắc, mà chiều dài và độ cao của nó ngày càng tăng thêm, số lượng súng đạn và lính lác CS canh gác xung quanh ngày càng nhung nhúc tham tàn hơn.

Vâng, chỉ trong một gia đình nhỏ bé có các con và các cháu ở cả hai bên chiến tuyến trước ngày 30/4/1975 như của Nội tôi, mà cả hai bên đều làm tất cả để hòa hợp vì cả hai bên đều rất muốn hòa hợp làm một gia đình suốt 40 năm qua, mà không được! Có vô số những bức tường được chính quyền dựng lên từ sau 1975 đó mà không cá nhân hay nhóm hội, gia đình nào có đủ sức vượt qua trước những họng súng trực sẵn nơi của CS – nên nó còn xa cách hơn hai bờ Bến Hải…

Bao giờ bức tường Berlin VN sụp đổ?

Ngày 30/4/2015 vừa qua CSVN đã lại “ăn mừng chiến thắng” ầm ĩ bằng cả diễu binh tuần hành – chà đạp và khoét sâu thêm nỗi đau của đa số người Việt, mà trong bài này tôi phải gọi là CSVN đã dựng cao thêm và đắp dầy hơn nữa, trang bị thêm nhiều súng đạn để canh gác bức tường Berlin VN đó giữa những người Việt, gia đình Việt, xã hội Việt, thì làm sao họ hòa hợp dân tộc Việt được đây?

Thực chất là CSVN không muốn vì không thể hòa hợp dân tộc Việt được. Chúng biết rõ, điều kiện tiên quyết để hòa hợp dân tộc là không còn những họng súng cộng sản của chúng canh gác cho những bức tường Berlin vô hình chia cắt giữa người Việt với nhau khắp nơi nơi và trong mỗi gia đình Việt như tôi đã chỉ ra trên. Nhưng nếu buông súng đạn canh gác các bức tường Berlin VN đó thì chế độ CSVN này sụp đổ liền. Vì vậy, chống hòa hợp dân tộc chính là cách để CSVN kéo dài chế độ đảng trị. Hay, nói như CS tự nhận: “hòa hợp dân tộc Việt đối với CSVN là tự sát”, vì dân tộc Việt sẽ không chấp nhận CS, như Nội tôi suốt mấy chục năm sau 1975 và trước khi ra đi cũng không chấp nhận những đứa con cộng sản lạc loài của mình…

Ngày hòa hợp Dân tộc chỉ đến khi chế độ CSVN sụp đổ, CSVN không thể làm gì cho hòa hợp dân tộc ngoài “đi chết đi, CSVN!” (hay ngoài khoét cho đau thương hơn như 30/4 vừa qua).

Chỉ khi nào dân Việt các bên những bức tường Berlin VN đó bẻ gẫy hay làm tịt ngòi những họng súng đen ngòm thường trực của CSVN, rồi toàn dân “vác búa” đập nhẹ mỗi người vài vài cái là nó đổ. Nhưng việc đào móng nó để hủy tận gốc CS hôi tanh thì còn cần thêm ít thời gian nữa, dù cũng chả khó khăn gì ngoài việc cần phải có tấm lòng dân tộc mà người Việt luôn sẵn có, chỉ không được (cộng sản để) dùng nó đúng cách mà thôi…

6/05/2015



Dùng túi xách tay đưa di cốt liệt sỹ Su-22 về quê nhà

Bạn đọc Danlambao - Bộ quốc phòng CSVN đang phải gánh chịu chỉ trích dữ dội vì sự thiếu tôn trọng khi dùng túi xách tay để vận chuyển di cốt liệt sỹ Nguyễn Anh Tú về quê nhà tại Hải Phòng.

Thiếu tá Nguyễn Anh Tú và thượng tá Lê Văn Nghĩa được nói là những phi công Su-22 đã hy sinh sau vụ va chạm máy bay tại đảo Phú Quý hồi tháng 4 vừa qua.

Ngày 3/5/2015, một buổi lễ truy điệu lớn đối với hai liệt sỹ Su-22 đã diễn ra tại Sài Gòn với sự tham dự của nhiều tướng tá cấp cao trong quân đội.

Đến trưa ngày 5/5/2015, một buổi lễ đón di cốt liệt sỹ Nguyễn Anh Tú về quê nhà đã được diễn ra tại sân bay Cát Bi, Hải Phòng.

Ngay lập tức, hình ảnh di cốt liệt sỹ Tú bọc trong một túi xách tay màu đen đã khiến dư luận tỏ ra hết sức phẫn nộ.

Di cốt liệt sỹ Nguyễn Anh Tú bị bọc trong túi xách tay khiến dư luận phản cảm
Bức ảnh buổi lễ cho thấy có sự xuất hiện của 1 sỹ quan quân đội đi trước, 2 người lính mang di cốt theo sau.

Thoạt nhìn, người ta sẽ nghĩ đây là một túi hành lý xách tay, loại dưới 7 kg thường được mang theo miễn phí trong các chuyến bay dân sự. 

Sự luộm thuộm này khiến nhiều người cho rằng bộ quốc phòng CSVN đã thiếu tôn trọng đối với liệt sỹ Tú. Không hề có một buổi lễ đón trang nghiêm dành cho người lính đã hy sinh.


Tổng thống Obama ra tận sân bay tham dự buổi lễ phủ cờ và đón những binh lính tử trận về nhà
Trên các mạng xã hội, hình ảnh này cũng đã được so sánh với những nghi thức phủ cờ trang nghiêm, bi hùng của quân đội Hoa Kỳ trong các buổi lễ đón binh sỹ tử trận về an nghỉ tại quê nhà.

Sự tương phản rõ rệt như trên cũng đủ để khiến những người lính và gia đình họ cảm thấy chạnh lòng.

Bạn đọc Danlambao
danlambaovn.blogspot.com