Tuesday, March 17, 2015

TTXVN nói sai về báo cáo của ông Báo cáo viên Đặc biệt của LHQ

VRNs (17.03.2015) – Sài Gòn – Thông Tấn Xã Việt Nam đưa tin, ông Heiner Beilefeldt -Báo cáo viên Đặc biệt của LHQ về Tôn giáo và Tín ngưỡng- ‘đánh giá cao sự hợp tác và tạo điều kiện của các cơ quan chức năng VN trong suốt thời gian chuyến thăm’ của ông đến Việt Nam vào cuối tháng 7.2014 vừa qua.


Cũng trích nguồn từ Thông Tấn Xã VN, trong kỳ họp 28 của Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc tại Thụy Sỹ diễn ra vào ngày 10.03, vị Báo cáo viên Đặc biệt của LHQ về Tôn giáo và Tín ngưỡng phát biểu:


“Báo cáo cũng ghi nhận những thành tựu mà Việt Nam đã đạt được trong việc thúc đẩy, bảo vệ quyền tự do tôn giáo, đặc biệt là sự phát triển số lượng tín đồ, chức sắc tôn giáo cũng như các cơ sở thờ tự tại khắp các tỉnh trong những năm vừa qua; đồng thời khuyến nghị Việt Nam tiếp tục hoàn thiện quy định pháp luật về tôn giáo và tín ngưỡng, điều tra làm rõ các cáo buộc liên quan đến tự do tín ngưỡng, tôn giáo và bày tỏ ý muốn tiếp tục hợp tác với Việt Nam trong quá trình thực hiện vai trò Báo cáo viên đặc biệt của mình.”


Đó là nội dung mà báo cộng sản đã lược dịch, còn nội dung nguyên văn của vị Báo cáo viên Đặc biệt của LHQ về Tôn giáo và Tín ngưỡng được Nhà báo Đoan Trang lược dịch như sau:


“Tôi đã nhìn thấy những bằng chứng của vi phạm nhân quyền, trong đó có việc công an bố ráp, phá hoại nhà thờ, phá đám các nghi lễ tôn giáo, bắt bỏ tù, tấn công tín đồ, thậm chí tra tấn hoặc giết người và các hành vi bức hại khác. Thật không may là một số người đồng ý gặp tôi đã bị ngăn cản, không cho gặp, bị đặt trong tình trạng thực chất là giam lỏng ở nhà. Những người khác tôi gặp thì sau đó bị trả thù, trong một số trường hợp họ bị đánh đập tàn tệ trong thời gian tôi thăm Việt Nam hoặc ngay sau đó. Hơn nữa, tính chất riêng tư của nhiều cuộc đối thoại bị vi phạm. Tình hình tệ đến mức một số cuộc gặp gỡ và thảo luận đã không thể diễn ra như kế hoạch. Đây là sự vi phạm trắng trợn các điều khoản quy định về hoạt động thăm viếng quốc gia của các Báo cáo viên đặc biệt của LHQ”.

15031700


Trích nguồn từ vietnamupr cho biết thêm, “phản hồi trước những đánh giá của Báo cáo viên, vị đại diện Chính phủ Việt Nam, Đại sứ Phạm Quốc Trụ cho biết “không hề xảy ra những gì như ông nói”. Ông Trụ nói: “Chúng tôi vô cùng thất vọng vì quan điểm phiến diện và thiên vị của Báo cáo viên dựa trên những thông tin thiếu xác thực, quan sát định kiến và lựa chọn.”


Qua đó vị đại diện Chính phủ Việt Nam cho biết sẽ không chấp nhận các khuyến nghị trong báo cáo mà Báo cáo viên đặc biệt của Liên Hợp Quốc, ông Bielefeldt đã đệ trình.”


Đặc biệt, vào hồi tháng 07.2014 vừa qua, sau khi ông Heiner Beilefeldt kết thúc chuyến tông du đến VN, để đánh giá việc thúc đẩy và bảo vệ quyền tự do tôn giáo hay tín ngưỡng, thì ông đã nhấn mạnh trong báo cáo rằng:


“Dự định đi thăm An Giang, Gia Lai và Kon Tum của đoàn không may đã bị gián đoạn từ ngày 28 đến 30 tháng 7. Tôi nhận được những thông tin đáng tin cậy là một số cá nhân tôi muốn gặp đã bị đặt dưới sự theo dõi chặt chẽ, cảnh cáo, đe dọa, sách nhiễu hoặc bị công an ngăn cản việc đi lại. Ngay cả những người đã gặp được tôi cũng không tránh khỏi việc bị công an theo dõi hoặc chất vấn ở một mức độ nhất định. Ngoài ra, việc di chuyển của tôi cũng bị giám sát chặt bởi “những cán bộ an ninh hoặc công an” mà chúng tôi không được thông báo rõ, đồng thời sự riêng tư và bảo mật của một số cuộc gặp gỡ cũng bị ảnh hưởng. Những việc này là sự vi phạm rõ ràng các điều khoản tham chiếu của bất kỳ chuyến thăm quốc gia nào”.


Cách đưa tin của Thông Tấn Xã VN được Nhà báo Đoan Trang cho là “một kiểu làm báo đê tiện”, Nhà báo Đoan Trang bình luận: “Bình thường, dối trá đã là điều khó chấp nhận. Sự dối trá ở nhà báo và/hoặc cơ quan báo chí thì nó chỉ có thể là sự khốn nạn. Và sự dối trá ở môt cơ quan báo chí có tính “chính thống” cao ngất như Thông tấn xã Việt Nam, đại diện cho các quan điểm chính thống nhà nước, thì mức độ đê tiện của nó tăng lên gấp đôi.”


“Chúng tôi không phải là Ban Tuyên giáo hay Bộ Bốn Tê, nên chúng tôi không phạt tiền Thông tấn xã Việt Nam được. Nhưng sau đây chúng tôi sẽ rất buồn lòng phải gửi bản dịch nguyên văn bản tin này của Thông tấn xã đến Báo cáo viên đặc biệt của LHQ về Tự do Tôn giáo Heiner Beilefeldt”, Nhà báo Đoan Trang bình luận tiếp.


Đồng tình với Nhà báo Đoan Trang, Blogger Nguyễn Anh Tuấn cho nhận xét: “Nhiều tờ báo nhà nước, vốn quen với vai trò công cụ nên tự nhìn nhận sứ mệnh của họ không phải là truyền thông trung thực mà thuần túy chỉ là tuyên truyền phổ biến quan điểm của nhà nước. Do đó, trong những lãnh vực nhạy cảm như nhân quyền, họ sẵn sàng bẻ cong ngòi bút, xuyên tạc sự thật hòng nhằm lấy lòng nhà nước. Nhưng họ sai ở chỗ bây giờ đâu còn là thời mà truyền thông thuộc về loa phường và báo Nhân dân nữa mà là thời đại Internet nơi thông tin có thể được kiểm chứng bằng nhiều kênh khác nhau và sự giả dối rất dễ dàng bị bóc mẽ.”


Việc làm của Thông Tấn Xã Việt Nam có thể gây ngạc nhiên với nhiều người. Nhưng thực chất, nó được luật hóa ngay tại nhiệm vụ và quyền hạn của báo chí theo Điều 6 Luật Báo chí là: “thông tin trung thực về mọi mặt của tình hình đất nước và thế giới”; Tuy nhiên các cơ quan báo chí của đảng phải thực hiện “tuyên truyền, phổ biến đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước… tăng cường khối đoàn kết toàn dân, xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc; phản ánh và hướng dẫn dư luận xã hội”.


Như vậy, nếu thông tin trung thực rằng: “ông Heiner Beilefeldt -Báo cáo viên Đặc biệt của LHQ về Tôn giáo và Tín ngưỡng- ‘đánh giá thấp sự hợp tác và không tạo điều kiện của các cơ quan chức năng VN trong suốt thời gian chuyến thăm’ của ông đến Việt Nam vào cuối tháng 7.2014 vừa qua” với những dẫn chứng cụ thể như Báo cáo, thì đi ngược lại nhiệm vụ tuyên truyền của các cơ quan báo chí của đảng và làm sao mà hướng dẫn được dư luận.


Vì thế, báo chí Việt Nam ngày nay chỉ còn chú ý ‘thông tin trung thực’ việc cô Hoa hậu này hở ngực; chị diễn viên nọ bỏ chồng… để ‘hướng dẫn dư luận xã hội’ dẫn đến hành vi của đám người xưng là ‘tuổi trẻ thủ đô’ đã ca hát, nhún nhẩy nhố nhăng ngay trước tượng đài Lý Thái Tổ trong ngày 14.03.2015 vừa qua, để ngăn cản người dân dâng hương tưởng niệm các Tử sỹ đã hy sinh do bị quân Trung Cộng sát hại khi xâm lược đảo Gạc Ma của Việt Nam năm 1988.


Huyền Trang, VRNs

Buổi gặp gỡ Thương phế binh VNCH ở Huế bị hủy “vì công an phong tỏa”

VRNs (16.03.2015) - Trụ trì chùa Phước Thành ở Huế, Hòa thượng Thích Chí Thắng cho biết đã không thể tổ chức buổi gặp gỡ ‘Tri ân Quý Thương phế binh Việt Nam Cộng Hòa (TPB VNCH)’ hôm Chúa nhật 15/3 vì bị một nhóm người gồm ‘công an phong tỏa trong và ngoài nhà chùa’.
Giới chức trách tỉnh Thừa Thiên Huế vào đêm 14/3 cũng đã trục xuất các chức sắc tôn giáo thuộc Hội đồng Liên Tôn dự kiến đến tham dự buổi tri ân nói trên, Hòa Thượng Thích Không Tánh cho biết.
Hòa thượng Thích Chí Thắng, Trụ trì chùa Phước Thành ở Huế nói có một nhóm người hôm 15/3 đã phong tỏa xung quanh chùa, gồm “10 người trong chùa, ở ngoài đường thì 40 – 50 người.”
Vì thế, vị hòa thượng nói thêm, buổi gặp gỡ Tri ân TPB VNCH đã không thể diễn ra như dự kiến. Trong nhóm người đó “lưa thưa một vài người mặc sắc phục công an, số còn lại mặc thường phục.”
“Họ đứng ở hai đầu đường [xung quanh chùa] thì thương phế binh làm sao mà đến được. Họ đi rảo rảo trước chùa, dòm quanh khiến không khí dễ sợ lắm.”
Hòa thượng Chí Thắng, Phó viện trưởng Hội đồng điều hành Tăng đoàn Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất (GHPGVNTN) cho biết thêm, giới chức trách tỉnh Thừa Thiên Huế và phường An Cựu trước đó đã đe đọa không cho tổ chức buổi tri ân.
Giới chức trách cho rằng nhà chùa “lợi dụng việc phát quà cho thương phế binh” để quy tụ các chức sắc tôn giáo từ Sài Gòn “để làm chuyện chi đây?”
Đảng Cộng sản cầm quyền hiện tại vẫn coi những binh lính thời Việt Nam Cộng Hòa là ‘ngụy quân’ ‘tay sai đế quốc Mỹ’ và là lực lượng đối đầu. Trong khi đó vị trụ trì chùa Phước Thành khẳng định, việc tri ân TPB VNCH là một “việc làm từ thiện, ai cũng người Việt Nam da vàng máu đỏ. Trong chế độ cũ họ cũng bảo vệ quê hương.”
Với sáng kiến của Hòa Thượng Thích Không Tánh về chương trình, đây là lần thứ 3 chùa Phước Thành tổ chức buổi tri ân quý TPB VNCH sống ở vùng Quảng Trị và Thừa Thiên Huế nhưng không thành. Trong 2 lần trước thì nhà chùa vẫn tổ chức được.
Trong một diễn biến khác, Hòa Thượng Thích Không Tánh cho biết ông cùng các chức sắc Phật Giáo, Cao Đài, Tin Lành, đã bị giới chức trách tỉnh Thừa Thiên Huế trục xuất khỏi địa bàn tỉnh lúc nửa đêm 14/3 với lý do “nhà cầm quyền tỉnh Thừa Thiên có quyền trục xuất người ra khỏi tỉnh.”
Đoàn chức sắc kể trên thuộc Hội Đồng Liên Tôn, dự kiến sẽ tham dự buổi gặp gỡ ‘Tri ân TPB VNCH’ tại chùa Phước Thành ở Huế.
Hòa Thượng Thích Không Tánh, Tổng vụ trưởng Từ Thiện GHPGVNTN nói, khoảng 12 giờ đêm ngày 14/3, một nhóm công an “đập cửa rầm rầm khi tất cả đoàn đang nghỉ [trong khách sạn Hùng Quý ở Huế].” Hoà Thượng cho biết công an và những người mặc thường phục “đứng xúm xịt đông lắm, bao ở vòng ngoài xung quanh khách sạn và đứng ở cả lầu 2 và 3.” 
HT TKTanh
“Họ yêu cầu đuổi [chúng tôi] ra khách sạn. Họ làm dữ dằn lắm. Họ nói nếu mình không đi sẽ cưỡng chế mình. Thành thử cho nên cuối cùng, cãi qua cãi lại, giằng co. Mình thấy nó quá hùng hổ cho nên cuối cùng mới đề nghị đoàn ra khỏi khách sạn, khỏi đợi mấy vị phải cưỡng chế để có những hành vi thô lỗ như vậy đối với đoàn.”
“Ra tới đó, họ áp chế xe. Họ đoàn lên xe và ép tài xế đi theo họ. Tất nhiên là họ có một chiếc xe đi trước và một chiếc xe đi sau, và những chiếc xe honda chạy kèm bên cạnh. Họ bắt đoàn đi theo hướng của họ.”
Hòa Thượng Thích Không Tánh cũng thể hiện sự bất bình trước việc bị trục xuất nửa đêm tuy đoàn có hợp đồng với khách sạn.

Đức Thiện, VRNs

Bài thi viết 'Cộng sản & Tôi': 30/4 đen đến 30/4/2015

Cánh Dù Lộng Gió (Danlambao) - Sài Gòn vội vã, tất cả đều vội vã, người thì chạy ra tay cầm cờ đỏ sao vàng đứng đón đoàn quân ô hợp tiến vào Sài Gòn, mặt hớn hở hân hoan, vui mừng, người thì lo vơ vội vài món đồ xuống Tàu, hay chen lấn để được lên máy bay rời Sài Gòn, tất cả tạo nên một bầu không khí náo loạn, chẳng thế mà Võ Văn Kiệt đã từng nói "30/4 một nửa Nước vui mừng, một nửa Nước dở khóc" hay sao.

Đoàn quân vội đi, quần nọ áo kia, giày bố dép râu, ba lô, ruột tượng gạo, chiếu, xoong chảo, nồi niêu lòng thòng, vai mang AK, DKZ, B40, Cối 61, 82 v.v... 

Dân Sài Gòn đổ ra đường để chiêm ngưỡng đoàn quân tiến vào Thủ Đô, họ gồm những gia đình có con em theo MTGPMN hay tập kết ra Bắc, hay còn phần đông là dân cư hai bên đường vì tò mò hay hiếu kỳ xưa nay nghe 2 từ VC chưa biết VC như thế nào nên túa ra coi, hơn nữa lần đầu tiên thấy xe tăng T54 của VC vào Sài Gòn ai cũng lạ lẫm, ngỡ ngàng vì chưa bao giờ được trông thấy tận mắt. 

Những lính bộ đội trẻ măng, đi từng 2 hàng dọc tiến vào thành phố, mặt ngơ ngác như từ cung trăng rớt xuống, mắt nhìn những tòa nhà chọc trời 2 bên đường có vẻ thích thú và ngỡ ngàng. Họ cũng đã hiểu ra mình đã bị chính các đồng chí mình lừa dối, nói trước khi vào là miền Nam bị Mỹ Ngụy kềm kẹp khổ sở, cái bát mẻ cũng không có mà ăn, cái chiếu rách không có mà nằm. 

Trước tiên phải nói tới chính sách khoan hồng nhân đạo của cộng sản, chúng kêu gọi sĩ quan VNCH ra trình diện học tập vài ngày rồi cho về, cuối cùng là vô tận, đày đọa trong các trại cải tạo rừng thiêng nước độc, lao động khổ sai, đói khát, bệnh hoạn cho tới chết, nếu không được phía Mỹ bỏ tiền ra điều đình thì đừng trông có ngày ra khỏi. 

Miền Nam thật sự đổi đời, từ tự do thoải mái muốn mua sắm gì tùy ý, muốn đi đâu tùy ý không ai hỏi han trừ những người trong độ tuổi phải thi hành quân dịch. Bắt đầu phải xếp hàng chen lấn, cầm sổ hộ khẩu để mua nhu yếu phẩm hằng ngày, bắt đầu phải xếp hàng 2-3 ngày mới mua được tấm vé xe đò về quê. 

Ai cũng ngao ngán, ban ngày tranh thủ làm kiếm sống, tối về còn phải căng mắt, banh lỗ tai ra mà nghe tuyên truyền. 

Họ chiếm được miền Nam, ngoài thu gom đồ đạc chở về Bắc cả mấy tháng ròng, họ còn bày trò đổi tiền quốc gia VNCH ra tiền Hồ mấy lần với số tiền đổi nhất định để cào bằng 2 miền, số dư được chuyển vào ngân hàng để xù nợ. 

Ngoài bãi biển thì họ làm luật, bán bãi để gom vàng, ai không có bắt được thì "Má nuôi", chìm Tàu thì nuôi cá. 

Đỗ Mười chuyên gia thiến lợn ra lệnh đánh tư sản mại bản. Tất cả các nhà doanh nghiệp, buôn bán có máu mặt đều được chiếu cố hết sức kỹ lưỡng, nhiều người trắng tay, còn phải đẩy lên vùng kinh tế mới. Của cải được xung vào công quỹ toàn bộ. 

Tới thời Nguyễn Văn Linh, sau khi Liên Xô sụp đổ, NVL đã quỳ gối ôm gót chân Trung Cộng để được bảo trợ về kinh tế và mọi mặt, đổi lại xin Trung cộng cho hưởng quy chế VN thành một tỉnh tự trị trong HNTĐ. 

Khi Lê Khả Phiêu qua thăm Trung Cộng được khoản đãi bữa tiệc, sau đó Trung Cộng gài tiếp viên phục vụ LKP từ A-Z, Trung cộng nuôi con gái cho LKP đến 12 tuổi, sau đó vời LKP qua cho nhận mặt con, bắt ký vào biên bản nhượng thêm đất liền biên giới. 

Tới thời con hoang của HCM là Nông Đức Mạnh thì bán đại trà, ký đại trà, hắn đã tự nhận mình là họ Choang bên Trung Cộng. 

Sau đó Nguyễn Phú Trọng lên làm TBT thì mọi cái cứ thế tiếp diễn, ngày càng quá ra, thích bán chỗ nào thì bán, Boxit, Đà Nẵng, Thanh Hóa, Hà Tĩnh, sắp sửa Hải Vân nữa, toàn những yếu huyệt của Tổ Quốc lần lượt lọt vào tay Trung Cộng. 

Mới đây phát hiện ra trong Cục Lưu Trữ VN có lý lịch của Thiếu Tá Hồ Quang tức HCM, trong đó nói rõ là Thiếu Tá Hồ Quang là gốc Hẹ, sau này được gài vào VN với sự tiếp tay của Võ Nguyên Giáp và Phạm Văn Đồng từ hang Pắc Pó trở ra sau đó mới tổ chức Cướp chính quyền, và lên cầm quyền, tạo thành cái đảng Cướp ngày CS bây giờ. 

Như thế Trung cộng đã có ý đồ thôn tính lâu đời, từ khi gài thành công Hồ Quang vào làm HCM để chuyển giao toàn bộ VN cho Trung Cộng sau này. /. 

Ngày 17/03/2015


Phiên tòa sơ thẩm

Vi Đức Hồi (Danlambao) - Ngày 26/1/2011, tức 23/12/2010 âm lịch, ngày ông công, ông táo lên trời. Tòa án nhân dân tỉnh Lạng sơn mở phiên tòa sơ thẩm đối với tôi về tội: “tuyên truyền chống phá nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”, theo điều 88 bộ luật hình sự của nhà nước Việt Nam. Đúng 6h sáng, một tốp công an 5 người đến mở buồng giam, dẫn giải tôi ra làm các thủ tục cần thiết để ra tòa, 6h30 tôi được áp giải ra khỏi trại, hai tay bị khóa chặt bởi chiếc khóa số 8. Ngồi trong xe kín mít chỉ có lỗ hổng nhỏ ở phía sau xe vừa để thông hơi, vừa để nhìn ra bên ngoài. Trong thùng xe có hai hàng ghế được thiết kế dọc theo xe, ưu tiên một mình tôi một ghế, ngồi ghế đối diện tôi là hai chiến sỹ công an tay cầm dùi cui vẻ mặt nghiêm nghị đang thi hành nhiệm vụ canh trừng. Phía trên đầu xe có viên sỹ quan thiếu tá trực tiếp chỉ huy tốp áp giải, canh trừng tôi ngồi cùng lái xe. Trong suốt chặng đường dài từ trại giam đến tòa án tỉnh chừng 4 cây số, trong thùng xe im lặng như tờ, tôi không chào hỏi họ và họ cũng không chào hỏi gì tôi. Mặc kệ việc ai người ấy làm, tôi chuẩn bị cho mình tinh thần để đối mặt với phiên tòa.

Xe dừng bánh, hai chiến sỹ mở cửa xe hướng dẫn tôi xuống xe, lập tức ba chiếc camera chĩa vào tôi, tôi kịp phản ứng nhanh tươi cười thật thoải mái để họ ghi hình. Nhìn thấy tốp an ninh trực tiếp lấy cung tôi, đang túm tụm đứng đối diện tưởng tôi cười với họ liền đáp trả với nụ cười tươi tắn tỏ vẻ mãn nguyện bởi nghĩ tôi không thù hằn gì với họ mà có phần cảm ơn vì sự đối xử tử tế. Họ dẫn tôi vào phòng xử án, vừa ngồi xuống ghế theo sự chỉ dẫn, viên thiếu tá chỉ huy đội bảo vệ vụ án đã quán triệt:

- Bị cáo không được tiếp xúc với bất cứ ai khi chưa được phép của chúng tôi. 

Tôi không nói gì, đảo mắt quan sát trong phòng xử án lẻ tẻ có vài an ninh đứng ngồi mà hầu hết các gương mặt tôi đã quen thuộc, tất cả đang quay hướng về phía tôi quan sát, dò xét. Mọi người ở phía ngoài lần lượt kéo nhau vào phòng, Luật sư Trần Lâm cũng bước vào. Nhìn thấy tôi, Bác đi thẳng vào chỗ tôi ngồi, lập tức an ninh áp sát tôi để theo dõi, Bác vỗ vai tôi ôn tồn:

- Thấy anh khỏe thế này là tôi mừng rồi. Họ không có thông tin nào cho gia đình anh, ngay cả vợ anh họ cũng không mời. Tôi thông báo cho vợ anh biết và bảo cứ lên để xem sao, đã đến đây rồi, đang yêu cầu họ cho vào, không biết họ giải quyết thế nào.

- Phiên tòa xử công khai cơ mà, sao lại không cho gia đình cháu biết!

- Xưa nay các vụ án chính trị vẫn thế, họ nói là xử công khai nhưng thực tế có ai vào được đâu.

- Yêu cầu không được trao đổi! đề nghị bác lên ghế trên kia ngồi! viên thiếu tá công an bảo vệ chặn lại. 

Nói rồi anh ta dắt tay Bác Trần Lâm lên hàng ghế đầu ngồi. Viên sỹ quan trưởng phòng chống phản gián, bạo loạn lật đổ công an tỉnh, người được giao trực tiếp chỉ huy theo dõi, thụ lý vụ án tôi đến gần tôi thăm hỏi:

- Anh Hồi có rét không? Ăn uống thế nào? Ngủ có đủ ấm không?

- Bình thường, tôi đáp.

- Đấy là anh được ưu tiên ở một mình một phòng đấy, nếu giam chung cùng với bọn đầu gấu, bọn nghiện hút, si đa thì anh còn khổ nữa. Thôi bình tĩnh suy nghĩ cho thấu đáo đi, rồi có thái độ thành khẩn, chúng tôi sẽ quan tâm đến anh, mọi việc tùy thuộc thái độ của anh cả đấy.

- Cảm ơn về tấm lòng “nhân đạo” của các ông, tôi sẽ vẫn sống và làm những gì theo cách nghĩ của tôi mà tôi cho là đúng.

Cuộc đối thoại cắt đứt khi tôi nhìn thấy gia đình tôi gồm: vợ tôi, em trai tôi và chị gái vợ tôi đi vào. Tôi đứng dậy định ra gặp, ngay lập tức bị hai công an bảo vệ chặn lại.

- Bị cáo ngồi yên tại chỗ! một công an lên giọng ra lệnh.

Một tốp công an theo sau người nhà tôi và chỉ dẫn chỗ ngồi để cách ly với tôi. Không được tiếp cận, tôi gọi với sang:

Xử xong, chiều vào chỗ anh có việc! Vợ tôi gật đầu thay bằng lời đáp. Viên sỹ quan an ninh thuộc tổng cục an ninh bộ công an lấn tới ngồi cạnh vợ tôi tỏ vẻ chia sẻ để phân tán uất hận của người nhà tôi đối với chế độ. Vợ tôi quay mặt đi không tiếp lời, mặt anh ta đực ra rồi lảng ra chỗ khác. Tiếng chuông điểm giờ xử án bắt đầu, mọi người ngồi xuống ghế, phòng xử án trở nên im lặng. Tôi quan sát trong phòng có khoảng trên ba chục người, tất cả đều là an ninh gồm: an ninh của tổng cục; an ninh thuộc bộ công an; an ninh tỉnh; đại diện an ninh các huyện, thành phố trong toàn tỉnh, đại diện công an thị trấn Hữu Lũng, nơi tôi cư ngụ. Duy chỉ có tôi (bị cáo), gia đình tôi (ba người) và Bác Trần Lâm, luật sư bào chữa cho tôi là người ngoài lực lượng an ninh. Thư ký tòa án yêu cầu mọi người đứng dậy để đón chào hội đồng xét xử. Chủ tọa phiên tòa mời mọi người ngồi xuống rồi tiến hành các thủ tục theo nghi thức và tiến hành tra hỏi.

- Những tài liệu được nêu trong cáo trạng đã gửi cho bị cáo xem có phải chính bị cáo viết, và đưa lên mạng internet không?

- Phải do tôi viết và chính tay tôi phát tán trên mạng internet, tôi dõng dạc đáp.

- Có ai chỉnh sửa, bổ xung không?

- Không, tất cả đều nguyên bản do tôi soạn thảo ra.

- Bị cáo có ăn năn hối cải về việc làm của mình không?

- Không, tôi nghĩ rằng việc làm của tôi không hề vi phạm về pháp luật cũng như về đạo đức nên tôi không có gì phải hối hận.

- Viết tài liệu đòi đa nguyên đa đảng, nói xấu chế độ mà bị cáo cho là không vi phạm pháp luật sao?

- Đa nguyên chính trị là động lực phát triển xã hội nên tôi nghĩ không hề có tội. Tôi không hề nói xấu chế độ, tôi chỉ nói lên hiện thực của xã hội ngày nay.

Cuộc xét hỏi diễn ra khá lâu giữa chủ tọa với tôi (bị cáo), gần kết thúc phần xét hỏi, chủ tọa quay sang hai thành viên hội thẩm hỏi:

- Hai hội thẩm có hỏi gì nữa không? Một người lắc đầu, một người lấy giọng đặt câu hỏi với tôi.

- Xã hội đang yên, đang lành, đang đà phát triển vì sao bị cáo lại đi gây bất ổn? bị cáo có bệnh lý gì không?

- Tôi đề nghị quan tòa xem lại trích ngang của tôi! Tôi đáp

- Thôi được rồi! chủ tọa cắt ngang, kết thúc phần xét hỏi.

Đại diện viện kiểm sát nhân dân tỉnh trịnh trọng đọc bản cáo trạng, nội dung y hệt bản kết luận điều tra của cơ quan an ninh tỉnh và cuối cùng đề nghị mức án từ 8 đến 9 năm tù giam; tịch thu 56 triệu tiền vnđ bao gồm: tiền giải thưởng nhân quyền; tiền của Phan Văn Lợi cấp cho chi phí việc đi lại thăm hỏi, động viên khích lệ và cung cấp tiền cho các gia đình thuộc thành phần phản động và tiền nhận hỗ trợ từ nước ngoài gửi đến. Đến phần luật sư bào chữa, Bác Trần Lâm không tranh cãi với tòa mà chỉ nói lên động lực, động cơ của tôi chưa phải đến pháp luật điều chỉnh, và khẳng định tôi là người hiền lành, tử tế, rất tử tế nên đề nghị tòa cho miễn truy cứu trách nhiệm hình sự. Phần cuối tranh tụng, chủ tọa cho phép tôi phát biểu trước khi nghị án. Tôi nói vài lời ngắn gọn.

Tôi khẳng định tôi không hề chống Đảng, Nhà nước, tôi chỉ viết lên những suy nghĩ khát vọng của tôi muốn đất nước phát triển cần có dân chủ, đa nguyên chính trị. Tôi miêu tả những hiện thực khách quan đang diễn ra hàng ngày trong đời sống xã hội Việt Nam ngày nay, tôi không hề bịa đặt, lại càng không hề vu khống. Những bài viết của tôi đến giờ phút này tôi vẫn khẳng định là đúng, không hề có mầu sắc phản động. Tôi phản đối về việc tịch thu khoản tiền 56 triệu của tôi, đây là tiền giải thưởng quốc tế về nhân quyền, có đến hàng trăm người trên thế giới và ở Việt Nam có đến vài chục người đã được nhận giải thưởng này, chưa có một tiền lệ nào tịch thu giải thưởng. Tôi không đem số tiền đó để dùng vào việc hoạt động chống nhà nước Việt Nam, hoặc làm những việc phi pháp vì vậy không thể tịch thu số tiền đó của tôi được. Số tiền lệ phí đi lại hỗ trợ, động viên các gia đình tù nhân lương tâm, nó rất nhỏ, tôi đã tiêu hết và tôi nghĩ đó là việc làm hết sức bình thường của người Việt Nam, việc làm đó không liên quan gì đến pháp luật và luật pháp cũng không bao giờ điều chỉnh. Trong số tiền đó có một trăm tiền Australia và một trăm usd do một người bạn của tôi ở Úc và bên Mỹ gửi cho con trai tôi làm quà nhân dịp tết nguyên đán 2008. Cơ quan điều tra đã làm rõ và tôi đã thừa nhận, số tiền đó tôi đã mua sách vở và một chiếc xe đạp cho cháu mà cơ quan điều tra đã biết. Việc nhân danh nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra quyết định tịch thu từ tấm quà, miếng bánh của một đứa trẻ là việc làm không thể chấp nhận được, nó làm ô ế cho bộ mặt quốc thể.

- Thôi được rồi dừng lại ngay! Chủ tọa phiên tòa chỉ tay vào tôi ra lệnh.

- Tòa nghỉ giải lao, hội đồng xét xử tiến hành thủ tục nghị án, chủ tọa tuyên bố.

Tiếng chuông lại vang lên, giờ giải lao đã hết, việc nghị án đã xong. Chủ tọa nhân danh nhà nước tuyên án: xử phạt 8 năm tù giam; 5 năm quản chế sau khi hết hạn tù; tịch thu 56 triệu vnđ số tiền do hoạt động phi pháp mà có. Phiên tòa kết thúc chóng vánh, vợ tôi và chị gái tôi ứa nước mắt đứng dậy, bộ mặt của những cán bộ chiến sỹ an ninh tham dự phiên tòa ai nấy đều rạng rỡ, vẻ mãn nguyện.

Vào khoảng 14 giờ cùng ngày, tôi được ra gặp người nhà, với đôi mắt đẫm lệ cố nén đau thương uất hận vợ tôi động viên tôi:

- Bác Lâm dặn là anh cứ yên tâm, anh em ở bên ngoài sẽ cố gắng để anh được giảm án trong phiên phúc thẩm. Được thể một viên sỹ quan an ninh ra sức nhạo báng:

- Đến giờ này mà anh, chị vẫn trông chờ vào lực lượng bên ngoài để cứu giúp à! anh chị có thấy không các phiên tòa khác khi xét xử rầm rộ những bạn bè, chiến hữu đến đòi vào tham dự, vô số những nhà báo đến đưa tin, làm cho lực lượng giữ trật tự khổ sở để bảo vệ phiên tòa. Còn anh tôi chả thấy một mống nào đến động viên, an ủi anh, chẳng thấy một nhà báo nào trong và ngoài nước đến để ghi hình, đưa tin, đó là nỗi nhục nhã nhất của anh, anh có cảm nhận được không! 

- Các ông thấy không! Mặc dù vậy tôi cũng chưa bao giờ cúi đầu liếm gót các ông. Tôi vẫn ngẩng cao đầu để sống. Ở cái địa phương này chỉ có mình tôi, cho dù đất nước này chỉ còn mình tôi, tôi vẫn chiến đấu và chiến đấu đến hơi thở cuối cùng. Các ông đã thấy và rồi sẽ thấy tôi sẽ mãi mãi là là như vậy.



Trích: Đối Mặt, phần hai: Chuyện trong lao ngục

Xác minh nhóm người ngăn cản việc tưởng niệm liệt sĩ Gạc Ma

(NLĐO)- Giám đốc Công an TP Hà Nội, Thiếu tướng Nguyễn Đức Chung cho biết đang xác minh nhóm người mặc áo in dòng chữ "DLV" ngăn cản người dân đặt hoa tưởng niệm các liệt sĩ Gạc Ma tại tượng đài Lý Thái Tổ và tượng đài Quyết tử (Hà Nội) sáng 14-3.

Giám đốc Công an Hà Nội, Thiếu tướng Nguyễn Đức Chung
Giám đốc Công an Hà Nội, Thiếu tướng Nguyễn Đức Chung

Tại cuộc họp giao ban báo chí Thành ủy Hà Nội chiều 17-3, Giám đốc Công an Hà Nội, Thiếu tướng Nguyễn Đức Chung đã trả lời câu hỏi liên quan đến một nhóm thanh niên mặc áo đỏ in dòng chữ "DLV - Đấu tranh chống luận điệu xuyên tạc" có mặt tại tượng đài Lý Thái Tổ và tượng đài Quyết tử (Hà Nội) vào sáng 14-3 khi một số người dân tưởng niệm các liệt sĩ hy sinh khibảo vệ chủ quyền đất nước. Ngày 14-3 là ngày kỷ niệm 27 năm sự kiện Gạc Ma (14-3-1988), khi 64 anh hùng đã hy sinh để bảo vệ đảo Gạc Ma thuộcquần đảo Trường Sa của Việt Nam - PV)

Thiếu tướng Chung cho biết Công an Hà Nội là lực lượng chủ công được giao nhiệm vụ bảo đảm an ninh trật tự trên địa bàn thủ đô, luôn tôn trọng các hoạt động của người dân có lòng yêu nước đối với các sự kiện của đất nước, đặc biệt các sự kiện liên quan bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, các sự kiện tưởng nhớ các anh hùng, liệt sĩ - những người đã bảo vệ chủ quyền thiêng liêng đất nước.

Tướng Chung cũng xác nhận việc ngày 14-3 vừa qua có một số người dân yêu nước đã tham gia đặt lẵng hoa tại tượng đài Lý Thái Tổ, tượng đài Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh tại khu vực Hồ Gươm. “Công an Hà Nội và các lực lượng được giao nhiệm vụ bảo đảm an ninh trật tự đã tôn trọng việc thể hiện lòng yêu nước của người dân trong sáng 14-3” - tướng Chung khẳng định.

Còn với lực lượng mặc áo có in dòng chữ “DLV - Đấu tranh chống luận điệu xuyên tạc”có mặt tại tượng đài Lý Thái Tổ và tượng đài Quyết tử, Thiếu tướng Chung khẳng định đây là lực lượng tự phát, không thuộc Công an Hà Nội hay Thành ủy Hà Nội. Cũng theo người đứng đầu lực lượng công an Hà Nội, trong buổi sáng ngày 14-3, ông đã có mặt trực tiếp chỉ đạo lực lượng công an bảo đảm an ninh trật tự tại khu vực Hồ Gươm.

“Tôi cũng đã yêu cầu các lực lượng đó giải tán và sau khi chúng tôi tuyên truyền, những thanh niên này đã tản đi. Việc họ đem áo có hình logo, Công an Hà Nội sẽ xác minh và công bố với báo chí trong lần giao ban tới” - tướng Chung thông tin.

Liên quan đến phát ngôn của Trưởng ban tuyên giáo Hồ Quang Lợi trước đó về việc "Hà Nội có hơn 900 dư luận viên", Phó trưởng ban tuyên giáo Thành ủy Phan Đăng Long giải thích đây là lực lượng cộng tác viên gồm nhiều tầng lớp, thành phần, như: Cựu chiến binh, phụ nữ, thanh niên, sinh viên... tại các địa bàn quận, huyện để nắm bắt các thông tin dư luận xã hội đang quan tâm vấn đề gì. Các thông tin này sau đó sẽ được ngành Tuyên giáo tổng hợp báo cáo lãnh đạo TP để nghiên cứu bổ sung, điều chỉnh các chính sách xã hội. Ông Long cũng khẳng định lực lượng này không bao giờ xuống đường.


17/03/2015 19:51
Tin - ảnh: Thùy Dương

Kẻ trên trăm tên

Trần Gia Phụng (Danlambao) - HCM có 169 cái tên, bí danh, bút danh, bút hiệu, vừa trong thời gian hành nghề gián điệp, hoạt động bí mật, và cả trong thời kỳ cầm quyền, làm chủ tịch nước. Dầu chế độ CSVN có ca tụng gì đi nữa, có tung hê HCM đến đâu đi nữa, HCM dùng 169 tên để giấu mặt, là bằng chứng rõ ràng HCM là một kẻ xảo quyệt, gian trá, tráo trở, đạo đức giả, chuyên ném đá giấu tay, chứ chẳng hay ho gì việc ẩn danh đánh phá kẻ khác. Hồ Chí Minh không phải chỉ là “một kịch sĩ có biệt tài đánh lừa kẻ đối thoại" như Bernard Fall viết trong Les deux Viet-Nam (Nxb. Payot, Paris, 1967, tr. 102), mà HCM còn là tên lừa đảo muôn mặt, bịp bợm nhất trong lịch sử Việt Nam. (Trích: Một thế kỷ lừa đảo, sẽ xuất bản.)

*

Người xưa thường có tên húy do cha mẹ đặt, tên tục, tên thường dùng, tên thụy (sau khi chết). Nhiều người có thêm tên tự (tên chữ), tên hiệu, biệt hiệu. Ngày nay, các văn nghệ sĩ có bút danh, nghệ danh, biệt hiệu, nhà buôn có thương hiệu, tu sĩ có pháp danh (Phật giáo), tên thánh (Ky-Tô giáo), hướng đạo sinh có tên rừng ...

Trong ngành tình báo, kể cả trong tiểu thuyết gián điệp, các điệp viên thường có nhiều tên hoặc bí danh, bí số khi hoạt động để tự giấu mình và đánh lừa kẻ khác. Ngoài ra, còn có nhiều người thay tên đổi họ để lừa bịp, lừa tiền hoặc lừa tình. 

Kẻ trên trăm tên

Dầu là ngày xưa hay ngày nay, dầu thực tế hay tiểu thuyết, dầu là giới tình báo hay những kẻ lừa bịp, trên cõi đời nầy, có lẽ không ai có nhiều tên bằng Hồ Chí Minh (HCM), chủ tịch nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa tức Bắc Việt Nam trước năm 1975. 

Theo thống kê chính thức của nhà cầm quyền cộng sản hiện nay ở trong nước, trong sách Những tên gọi, bí danh, bút danh của chủ tịch Hồ Chí Minh, do Bảo tàng Hồ Chí Minh biên soạn, Nxb. Chính Trị Quốc Gia ấn hành năm 2001 ở Hà Nội, thì HCM có tất cả 169 bí danh, mà CS gọi là bút hiệu, bút danh, vừa để hoạt động, vừa để viết báo. Sách nầy còn ghi thêm một số bí danh nghi ngờ là của HCM mà người CS còn đang tìm hiểu thêm. 

Hồ Chí Minh sống khoảng 80 tuổi. Từ khi sinh ra cho đến khi chết, HCM dùng 169 bí danh, tính trung bình mỗi năm HCM có hai bí danh. Cũng theo thống kê trên đây, trong 169 bí danh nầy, từ khi sinh ra cho đến năm 1954 (64 năm), HCM dùng 133 bí danh, nghĩa là trung bình một năm cũng hai bí danh. Từ 1954, làm chủ tịch Bắc Việt Nam cho đến khi chết năm 1969 (15 năm), HCM có 36 bí danh. Vậy trung bình một năm, HCM dùng hơn hai bí danh.

Trong bài nầy, chúng ta không nhắc lại tất cả những tên và bí danh của HCM, chỉ xin nói đến một vài cái tên và bí danh đặc biệt mà thôi. 

Nguyễn Tất Thành, hy vọng thành đạt

Đầu tiên, tên khai sinh của HCM là Nguyễn Sinh Cung. Giọng địa phương nguyên quán Nghệ An của Nguyễn Sinh Cung, phát âm chữ Cung là Côông. Vì vậy có tài liệu ghi tên cúng cơm của HCM là Nguyễn Sinh Côn. (Ví dụ: Trần Quốc Vượng,Trong cõi, Nxb. Trăm Hoa, California, 1993, bài "Lời truyền miệng dân gian về nỗi bất hạnh của một số nhà trí thức Nho gia (kinh nghiệm điền dã)".)

Điều đặc biệt là anh của Nguyễn Sinh Côn tên là Nguyễn Sinh Khiêm (1888-1950). Giọng địa phương phát âm chữ “Khiêm” là “Khơm”. Như thế, một người tên Khơm, một người tên Côn. Tên hai anh em ghép lại đọc chung là “Khơm Côn”. Đọc ngược hai chữ “Khơm Côn” nầy lại (nói lái) là “Khôn Cơm”. Giọng địa phương (từ Nghệ An vào Thừa Thiên) “khôn” còn có nghĩa là “không”. “Khôn cơm” nghĩa là không có cơm mà ăn. Có người lý giải rằng vì tên của hai anh em nhà nầy “khôn cơm”, nên phụ thân là Nguyễn Sinh Sắc (sau đổi tên là Nguyễn Sinh Huy) nghèo mãi. Người ta nói vì vậy mà ông Sắc đổi tên hai con. Nguyễn Sinh Khiêm thành Nguyễn Tất Đạt. Còn Nguyễn Sinh Cung (hay Nguyễn Sinh Côn) thành Nguyễn Tất Thành, hy vọng về sau gia đình sẽ thành đạt, giàu có. 

Nguyễn Ái Quốc: Chôm tên của nhiều người

Cái tên thứ hai đáng nói của HCM là Nguyễn Ái Quốc. Nguyễn Tất Thành làm phụ bếp trên tàu Amiral Latouche-Tréville và theo tàu nầy rời Sài Gòn, đi Pháp ngày 5-6-1911. Ông đặt chân đến Marseille, hải cảng miền Nam nước Pháp, ngày 6-7-1911. Nguyễn Tất Thành làm đơn xin tổng thống Pháp được đặc ân vào học Trường Thuộc Địa Paris để ra làm quan cho Pháp, nhưng không được chấp thuận, nên Thành đành tiếp tục theo tàu hành nghề. Sau thế chiến thứ nhứt (1914-1918), Nguyễn Tất Thành trở lại Pháp giữa năm 1919. (Daniel Hémery, Ho Chi Minh, de l 'Indochine au Vietnam, Paris: Nxb. Gallimard, 1990, tr. 42.) Tại đây Nguyễn Tất Thành gặp Phan Châu Trinh, đậu phó bảng tại Thừa Thiên (Huế) năm 1901, cùng khóa với Nguyễn Sinh Huy, phụ thân của Nguyễn Tất Thành. Nhờ sự giới thiệu của Phan Châu Trinh, Thành quen với Phan Văn Trường, Nguyễn Thế Truyền. Qua ba người nầy, Thành bắt đầu tiếp xúc với giới chính trị Paris, nhất là giới chính trị đối lập với chính phủ Pháp. 

Cả bốn ông (Trinh, Trường, Truyền, Thành) cùng dùng một bút hiệu chung là Nguyễn Ái Quốc (Daniel Hémery, sđd. tt. 44-45), đồng ký bản “Revendications du peuple annamite” [Thỉnh nguyện thư của dân tộc Việt], bằng Pháp văn, do Phan Văn Trường soạn, gởi cho các cường quốc trên thế giới, đang họp Hội nghị Versailles tại Paris sau thế chiến thứ nhứt, bắt đầu từ 18-1-1919. Thỉnh nguyện thư của các ông xuất hiện lần đầu trên báo L'Humanité [Nhân Đạo] ngày 18-6-1919. 

Trong bốn người cùng dùng chung bút hiệu (Nguyễn Ái Quốc), Phan Châu Trinh, Phan Văn Trường đang bị mật thám Pháp theo dõi, không tiện ra mặt; Nguyễn Thế Truyền là sinh viên du học, đang hưởng học bỗng của Pháp để học ngành hóa học, nên không thể công khai chống Pháp; chỉ có Nguyễn Tất Thành là người mới đến, chưa bị mật thám Pháp chú ý. Nguyễn Tất Thành thường đại diện cả nhóm, dùng tên Nguyễn Ái Quốc để liên lạc với báo giới và chính giới. Dần dần Nguyễn Tất Thành dùng luôn bút hiệu Nguyễn Ái Quốc làm tên riêng của mình. Từ nay, Nguyễn Tất Thành được gọi là Nguyễn Ái Quốc.

Hồ Chí Minh: Tiếm danh hay trở lại họ cũ

Cái tên thứ ba đáng nói nữa là Hồ Chí Minh. Cũng như tên Nguyễn Ái Quốc, tên Hồ Chí Minh không phải do Nguyễn Sinh Cung chọn, mà Cung cũng tiếm danh của người khác.

Nguyên hai nhà cách mạng Việt Nam ở Trung Hoa là Hồ Học Lãm và Nguyễn Hải Thần, được sự giúp đỡ của Trung Hoa Quốc Dân Đảng, thành lập Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội gọi tắt là Việt Minh tại Nam Kinh vào tháng 1-1936. Ngoài Hồ Học Lãm và Nguyễn Hải Thần, các hội viên nòng cốt khác là Nguyễn Thức Canh, Đặng Nguyên Hùng, Hoàng Văn Hoan [bí danh là Lý Quang Hoa, thuộc chi bộ Vân Quý tức Vân Nam và Quý Châu (Guizhou) của đảng Cộng Sản Đông Dương (CSĐD).]

Năm 1937, Hồ Học Lãm đến hoạt động ở tỉnh Hồ Nam, và lấy tên là Hồ Chí Minh. (Chính Đạo, Việt Nam niên biểu nhân vật chí, Houston: Nxb. Văn Hóa, 1997, tr. 168.) Cũng trong năm nầy, trước hiểm họa xâm lăng của Nhật Bản, hai phe Quốc-Cộng Trung Hoa liên minh lần thứ hai ngày 22-9-1937. 

Do sự liên minh nầy, chính quyền Quốc Dân Đảng Trung Hoa cho phép đảng CS hoạt động công khai trở lại. Vì vậy, vào mùa thu năm 1938, đảng Cộng Sản Liên Xô, qua danh nghĩa Đệ tam Quốc tế Cộng sản, gởi Nguyễn Ái Quốc từ Liên Xô qua Trung Hoa hoạt động trở lại với tên mới là Hồ Quang. Hồ Quang liền liên lạc và điều động nhóm đảng viên thuộc cơ sở hải ngoại đảng CSĐD.

Nhờ sự giới thiệu của Hồ Học Lãm, vào gần cuối năm 1940, một số đảng viên CSĐD, dưới vỏ bọc là thành viên Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội (Việt Minh), đến Quế Lâm (Guilin/Kweilin tỉnh Quảng Tây) gặp Lâm Uất, phó chủ nhiệm hành dinh tây nam của Tưởng Giới Thạch. Lâm Uất đưa nhóm nầy đến gặp chủ nhiệm của ông ta là Lý Tế Thâm. (Hoàng Văn Hoan, Giọt nước trong biển cả, hồi ký. Portland, Oregon: Nhóm tìm hiểu lịch sử, 1991, tr. 134.) 

Do tin cậy Hồ Học Lãm, cả Lâm Uất lẫn Lý Tế Thâm đã giúp đỡ họ, và không biết nhóm nầy là những đảng viên CSĐD. Từ đó, những đảng viên CSĐD hoạt động ở Trung Hoa cũng như ở trong nước, đều sử dụng danh xưng Việt Minh, hay nói cách khác, đảng CSĐD đã chiếm dụng danh xưng tổ chức Việt Minh của Hồ Học Lãm, làm tên mặt trận chính trị của đảng CSĐD. Trong khi đó, từ cuối năm 1940, Hồ Quang (Nguyễn Tất Thành) sử dụng thông hành khác mang tên là Hồ Chí Minh. Tên nầy vốn là bí danh của Hồ Học Lãm. Hồ Chí Minh mới (Hồ Quang, Nguyễn tất Thành) ngụy trang là ký giả của một tờ báo do Cộng Sản Trung Hoa điều khiển. (Chính Đạo, Việt Nam niên biểu nhân vật chí, sđd. tr. 161.) 

Với bí danh khác là Già Thu, Hồ Chí Minh (HCM) trở về Việt Nam ngày 28-1-1941, sống ở Pắc Bó (Cao Bằng), lập Mặt trận Việt Minh ở trong nước. Tại đây, thay mặt Quốc tế Cộng sản, Già Thu tổ chức Hội nghị Ban chấp hành Trung ương đảng CSĐD lần thứ 8 từ ngày 10-5 đến ngày 19-5-1941 tại Pắc Bó. Sau đó, Già Thu tiếp tục qua Trung Hoa hoạt động khoảng từ tháng 8-1942, lấy luôn bí danh của Hồ Học Lãm là HCM, làm tên mới của mình. Hồ Chí Minh bị bắt tại trấn Thiên Bảo (Quảng Tây) ngày 29-8-1942 và được tha ngày 10-9-1943. (Chính Đạo,Hồ Chí Minh, con người & huyền thoại, tập 2, sđd. tt. 278, 283.)

Từ đây, HCM trở thành tên chính thức của Nguyễn Sinh Cung, kể cả khi lên làm chủ tịch Bắc Việt Nam năm 1954, cho đến cuối đời. Trần Quốc Vượng, một sử gia cộng sản ở trong nước, giải thích như sau về hiện tượng trên: "Nguyễn Ái Quốc sau cùng đã lấy lại họ Hồ vì cụ biết ông nội đích thực của mình là cụ Hồ Sĩ Tạo, chứ không phải là cụ Nguyễn Sinh Nhậm." (Trần Quốc Vượng, sđd. tr. 258.)

Trước sau vụ việc theo lời kể của Trần Quốc Vượng là như sau: Nguyễn Sinh Cung (Nguyễn Tất Thành, Nguyễn Ái Quốc, Hồ Chí Minh) là con của Nguyễn Sinh Sắc (Nguyễn Sinh Huy). Nguyễn Sinh Sắc là con của Nguyễn Sinh Nhậm. Trước khi đám cưới, bà vợ của Nguyễn Sinh Nhậm đã có mang với cử nhân Hồ Sĩ Tạo, cho nên Nguyễn Sinh Nhậm chỉ là người cha trên giấy tờ của Nguyễn Sinh Sắc mà thôi, còn người cha thực sự của Nguyễn Sinh Sắc là Hồ Sĩ Tạo, tức Hồ Sĩ Tạo là ông nội thực sự của Nguyễn Sinh Cung. Vì vậy, Nguyễn Sinh Cung rất bằng lòng với danh xưng Hồ Chí Minh, là họ của ông nội ruột của ông. Câu chuyện nầy, ngày nay ở quê của HCM, tức huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, ai cũng biết và ai cũng đều xác nhận là đúng sự thật.

C.B. là 'Của Bác', chứ của ai vô đó

Ngày 20-4-1953, sắc lệnh Cải cách ruộng đất (CCRĐ) đợt thứ 3 được ban hành. Nơi thực hiện đầu tiên là Thái Nguyên. Người bị đấu tố đầu tiên là bà Nguyễn Thị Năm, chủ hiệu buôn Cát Hanh Long nên người ta quen gọi là bà Cát Hanh Long. Bà Cát Hanh Long bị đem ra đấu tố ba lần và bị giết ngày 9-7-1953.

Bà Cát Hanh Long (bà Năm) là một quả phụ, nổi tiếng là nhà kinh doanh tài ba, hào hiệp, giúp đỡ nhiều người. Từ 1945 đến 1951, bà Cát Hanh Long đã từng dùng nhà mình làm nơi hội họp, nghỉ ngơi, che giấu, ăn ở, nuôi dưỡng cán bộ CS, trong đó có những nhân vật cao cấp như Trường Chinh, Lê Đức Thọ, Hoàng Quốc Việt, Lê Văn Lương, Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Chí Thanh, Lê Thanh Nghị, Lê Giản, Hoàng Tùng... Bà còn đóng góp nhiều tiền bạc cho VMCS, nên việc đấu tố và xử tử bà Cát Hanh Long gây nhiều dư luận bất bình. 

Vì vậy, trên báo Nhân Dân ngày 21-7-1953, xuất hiện bài viết nhan đề là “Địa chủ ác ghê” của tác giả C.B. nhằm trấn an dư luận. Bài báo lên án nặng nề địa chủ Cát Hanh Long (Nguyễn Thị Năm) cùng hai con là những địa chủ gian ác, bóc lột, dã man. Bài báo còn tố cáo gia đình bà Cát Hanh Long vừa trực tiếp, vừa gián tiếp giết chết 260 người.


Theo hồi ký của Hoàng Tùng, từng là bí thư Trung ương đảng CSVN, khi nghe tin cố vấn Trung Quốc yêu cầu xử tử bà Cát Hanh Long, có người báo tin cho HCM biết. Họp Bộ chính trị đảng CS, HCM nói: “Tôi đồng ý người có tội thì phải xử thôi, nhưng tôi cho là không phải đạo nếu phát súng đầu tiên lại nổ vào người đàn bà, mà người ấy lại giúp đỡ cho cách mạng. Người Pháp nói không nên đánh vào đàn bà, dù chỉ đánh bằng một cành hoa.” (Internet: Hồi ký Hoàng Tùng, mục“Những kỷ niệm về Bác Hồ”.) Hoàng Tùng còn cho biết rằng khi cố vấn Trung Quốc nhiều lần đề nghị, HCM nói rằng: “Thôi tôi theo đa số, chứ tôi vẫn cho là không phải.”

Theo một tài liệu mới xuất bản vào giữa năm 2014, tác giả là một người đã từng là ký giả báo Nhân Dân Hà Nội, có nhiệm vụ viết bài tường thuật vụ xử án bà Cát Hanh Long, khi xảy ra vụ án thì: 1) Hồ Chí Minh bịt râu, hóa trang để đến dự đấu tố. 2) Trường Chinh đeo kính đen để khỏi bị nhận diện khi tham gia cuộc đấu tố. 3) Sau khi bà Năm bị giết, cán bộ mua một cái hòm thật rẻ tiền để chôn địa chủ “gian ác”. Vì rẻ tiền nên hòm nhỏ quá, bỏ xác người chết vào không lọt. Cán bộ CS kết án bà Năm thêm lần nữa, là chết rồi mà còn phản động, không chịu chui vào hòm. Cán bộ CS liền đứng lên đạp xác bà Năm xuống; xương gãy kêu răng rắc rất rợn người. (Trần Đĩnh, Đèn cù, Hoa Kỳ: Người Việt Books, 2014, tr. 86.) 

Sự hiện diện của HCM và Trường Chinh trong phiên tòa đấu tố nầy chứng tỏ tầm mức quan trọng của cuộc đấu tố bà Cát Hanh Long và cũng chứng tỏ cả hai đều quyết tâm giết bà Cát Hanh Long ngay khi mở đầu cuộc CCRĐ năm 1953.

Lúc đó, chỉ có giới cán bộ cao cấp và một số người trong báo Nhân Dân (trong đó có Trần Đĩnh) mới biết được C.B. đích thị là ai? Còn đại đa số dân chúng, trong thời gian dài, không biết C.B. là ai? Gần đây, trên Internet, có tài liệu phát hiện C.B. là bút hiệu của HCM dùng trên 147 bài đăng trên nhật báo Nhân Dân từ tháng 3-1951 đến tháng 3-1957. Những người làm việc trong báo Nhân Dân giải thích rằng hai chữ C.B. là “của bác”, chứ còn ai vô đó nữa. Ngày nay, bộ Hồ Chí Minh toàn tập đã được phổ biến rộng rãi. Mọi người có thể vào từ tập 6 (1951-1952), sẽ thấy rất nhiều bài viết HCM ký tên C.B. đăng trên báo Nhân Dân, và đăng lại trong sách nầy; ví dụ các trang 186, 187, 188-190, 202-204, 209-212, 215-220... (Hồ Chí Minh toàn tập, tập 6, 1951-1952, in lần thứ hai, Hà Nội: Nxb. Chính Trị Quốc Gia, 2000.) Hồ Chí Minh lên tiếng có thể nhắm cho đảng viên biết rằng vụ xử tử bà Cát Hanh Long là chủ trương của đảng để chấm dứt chuyện bàn tán, phê bình.

Như vậy có nghĩa là bên ngoài thì HCM tỏ ra rất đạo đức, thương tiếc nạn nhân, nhưng bên trong, chính HCM là người quyết định cái chết của ân nhân Nguyễn Thị Năm. Đúng là “khẩu Phật tâm xà”, một kẻ đạo đức giả gian ác, nham hiểm như Nguyễn Du đã mô tả: “Bề ngoài thơn thớt nói cười,/ Mà trong nham hiểm giết người không dao.” (Truyện Kiều câu 1815-1816.)

Trần Dân Tiên, T.Lan: Thổi ống đu đủ

Thổi ống đu đủ là trò chơi của trẻ con Việt Nam, dùng cọng lá đu đủ làm ống, chấm nước xà phòng rồi thổi thành bong bóng bay lên trời. Trong văn học, có hai tác giả chuyên thổi ông đu đủ hết sức tài ba là Trần Dân Tiên và T. Lan. Trần Dân Tiên là tác giả sách Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch, và T. Lan là tác giả sách Vừa đi đường vừa kể chuyện.

Quyển sách thứ nhứt xuất hiện lần đầu ở Trung Quốc năm 1948, sau đó ấn hành ở Paris năm 1949. Sau năm 1954, Nx, Văn Nghệ Hà Nội tái bản năm 1955, rồi Nxb. Sự Thật tái bản nhiều lần, và sau năm 1975, Nxb. Trẻ tái bản ở Sài Gòn.

Sách Vừa đi đường vưa kể chuyện được đăng lần đầu trên báo Nhân Dân năm 1961 và sau đó Nxb. Sự Thật tái bản nhiều lần. Những tái bản sau cùng do Nxb. Trẻ ở Sài Gòn đảm trách.

Lúc đầu, người ta không biết hai tác giả Trần Dân Tiên và T. Lan là ai? Người ta cũng không tìm ra hai người nầy ở đâu, vì chẳng ai có đứng ra nhận mình là Trần Dân Tiên hay T. Lan. Tuy nhiên dần dần người ta cũng tìm được hai bút danh nầy đều là của HCM. Trước hết, các phiếu sách trong thư viện nhà nước đề là: “Trần Dân Tiên, T. Lan: tìm HCM”. Điều nầy cho người đọc tự động hiểu rằng Trần Dân Tiên và T. Lan chính là HCM. Tuy nhà cầm quyền CS không chính thức xác nhận điều nầy, nhưng những nhà nghiên cứu trong nước hầu như đồng thừa nhận Trần Dân Tiên và T. Lan là HCM. Có tài liệu cho biết bản gốc sách của T. Lan hiện còn được cất giữ ở Phủ chủ tịch Hà Nội.

Trong sách Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch, Trần Dân Tiên đã viết trong phần đầu sách: "Một người như Hồ Chủ tịch của chúng ta, với đức khiêm tốn nhường ấy và đương lúc bề bộn bao nhiêu công việc, làm sao có thể kể lại cho tôi nghe bình sinh của người được?” (Trần Dân Tiên, Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch, Nxb. Sự Thật, Hà Nội 1976, tr. 9.) Một người dùng một cái tên khác viết sách, tự khen mình là khiêm tốn không muốn nói về mình, rồi sau đó, suốt trong quyển sách lại kể lể, tự đề cao sự nghiệp của mình, thì không biết nên xếp kẻ đó vào loại người gì đây?

Trong sách nầy, chẳng những HCM tự đề cao mình mà còn chê bai những anh hùng dân tộc như Hoàng Hoa Thám, Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, hoặc đả kích các nhà đấu tranh khác như Nguyễn Hải Thần, Nguyễn Tường Tam, Vũ Hồng Khanh, hoặc triệt hạ tổ chức hay đảng phái khác.

Cuối sách nầy, Trần Dân Tiên viết: "Nhân dân gọi Chủ tịch là cha già của dân tộc, vì Hồ Chủ tịch là người con trung thành nhất của Tổ quốc Việt Nam." (Trần Dân Tiên, sđd. tr. 149.) Lời nầy cho thấy HCM muốn gợi ý để được người Việt Nam gọi ông là cha già của dân tộc, nhưng không được hưởng ứng, nên ông quay qua dùng chữ "bác". Ở đây lại thấy HCM thậm khôn, vì trong cơ cấu gia tộc Việt Nam, bác là anh của cha, bác lớn hơn cha và đứng trước cha trong sinh hoạt đại gia đình, hoặc lễ nghi tế tự.

Sách Vừa đi đường vưa kể chuyện do HCM tự kể tự viết, nhưng dùng một cái tên khác là T. Lan, một cán bộ đi theo HCM trên bước đường công tác. Câu chuyện bắt đầu từ khi HCM hoạt động ở Pháp từ năm 1919, rồi những năm hoạt động ở Nga, Trung Hoa, cho đến khi về nước và chiến dịch 1950. Dĩ nhiên luôn luôn xen kẻ những lời xưng tụng HCM là người yêu nước, đầy sáng kiến, tài ba, khoan dung...

Hồ Chí Minh sáng tạo ra hai con rối Trần Dân Tiên và T. Lan trong hai quyển sách do HCM viết ra trên đây, nhắm thổi ồng đù đủ để ca tụng chính mình, tự quảng cáo mình, huyền thoại hóa tên mình, mà một người tự trọng bình thường không bao giờ làm thế. Những người không biết Trần Dân Tiên và T. Lan là ai, nhất là các trẻ em ngây thơ, được học hai quyển sách nầy trong nhà trường, nên một thời lầm lẫn tôn sùng thần tượng HCM. Tuy nhiên khi lớn lên, biết được sự thật là Trần Dân Tiên và T. Lan chỉ là HCM trá hình, thì chẳng những sẽ thất vọng mà còn khinh bỉ. Thì ra HCM cũng có ngón nghề thổi ống đu đủ, tự bơm, tự nổ. Khổ một điều, ai phát hiện kẻ đạo diễn của hai tên thổi ông đù đủ nầy, thì ngậm mà nghe chứ không dám nói ra, vì nói ra sẽ bị báo cáo và bị CS bắt bỏ tù.

Trên trăm tên để làm gì?

Hồ Chí Minh có 169 tên, không ai có thể nhớ hết được. Ngay cả HCM có thể cũng không nhớ hết được. Một câu hỏi đặt ra là HCM dùng nhiều tên, nhiều bí danh để làm gì?

Thông thường, một người không dùng tên mình, mà dùng một tên khác trong công việc, vì sợ lộ bí mật, muốn giấu mặt, giấu lý lịch, nhất là trong những hành vi thiếu trong sáng, phi pháp, bất chính. Càng nhiều tên càng muốn giấu mặt thật kỹ. Ngay cả vua Bảo Đại (trị vì 1926-1945) cho đến tháng 8-1945 không biết HCM là ai? (Bảo Đại, Con rồng Việt Nam, California: Nxb. Xuân Thu, 1990, tr. 188.)

Hồ Chí Minh hầu như muốn “chôn” luôn tên do cha mẹ đặt ra tức tên Nguyễn Sinh Cung, dùng trên một trăm tên khác nhau tùy vào giai đoạn hoạt động trong cuộc đời của HCM:

Từ nhỏ cho đến khi đến Pháp năm 1919: 11 tên
Từ 1920 đến khi về nước năm 1941:        73 tên
Từ 1941 đến 1945 (cướp chính quyền):   13 tên
Từ 1946 đến 1954 (thời chiến tranh):       36 tên
Từ 1955 đến 1969 (chủ tịch nước):           36 tên 
Cộng:                                                       169 tên

Nhìn vào bảng thống kê trên đây, từ khi còn nhỏ cho đến năm 1919 (khoảng 30 năm), HCM có 11 tên, tuy là ít so với tổng số tên trong toàn cuộc đời HCM, nhưng có thể nói là đã nhiều so với cả đời người bình thường. Lý do có thể là ngay từ khi vừa mới lớn, HCM mặc cảm hay xấu hổ về nguồn gốc gia đình mình, vì vậy tránh dùng tên do gia đình đặt. 

Nguyên do là khi mới lớn ở nguyên quán (Nam Đàn, Nghệ An), chắc chắn HCM nghe được dân làng truyền miệng về nguồn gốc của cha mình. Đó là Nguyễn Sinh Nhậm chỉ là cha hờ của Nguyễn Sinh Sắc (Huy), tức ông nội hờ của HCM, còn Hồ Sĩ Tạo mới là cha thật của Nguyễn Sinh Huy (Sắc) tức ông nội thật của HCM. Đây là một điều rất xấu hổ trong xã hội nề nếp Việt Nam ngày xưa, nhất là ở nông thôn, nơi mà người người biết nhau, nhà nhà biết nhau. Điều nầy có thể ám ảnh Nguyễn Sinh Cung và tạo ra tâm lý bất thường nơi người thanh niên từ khi mới lớn cho đến cuối đời, sợ người ta phát hiện cha mình là đứa con hoang. 

Hơn nữa, HCM lớn lên trong thời đại khoa bảng Hán học. Con ông phó bảng, nghĩa là cũng con nhà có học, mà thanh niên nầy lại không có học vị, chẳng có bằng cấp gì, vì nếu có học vị, có bằng cấp giấy tờ, thì HCM không thay đổi tên tuổi vì thay đổi thì văn bằng hết giá trị. Vì những mặc cảm trên đây, HCM thay đổi tên họ nhiều lần ngay cả trước khi hoạt động chính trị và gián điệp.

Từ năm 1920 cho đến năm 1954, tức từ khi tham gia hoạt động chính trị ở Pháp, rồi gia nhập đảng CS Pháp, qua Nga (Liên Xô), qua Trung Hoa, về Việt Nam, đến khi lên làm chủ tịch Bắc Việt Nam, HCM có 122 tên. 

Cần chú ý là từ năm 1920 trở đi, xảy ra một khúc quanh quan trọng trong đời HCM. Đó là HCM gia nhập đảng Xã Hội Pháp, rồi đảng Cộng Sản Pháp. Vì vậy, HCM được Đệ tam Quốc tế Cộng sản (ĐTQTCS) chọn qua Liên Xô để huấn luyện năm 1923, Tuy nhiên HCM không đủ trình độ văn hóa, nhất là ngôn ngữ và toán học để học chủ nghĩa Mác-xít, vì HCM chỉ mới học tới lớp 6 ở trường Quốc Học Huế, lại chưa biết tiếng Nga. Do đó, tại Học Viện Thợ Thuyền Đông Phương ở Moscow, HCM chỉ học cấp tốc về nghề gián điệp, làm nhân viên tình báo cho ĐTQTCS để mưu sinh. Nghề nầy phù hợp với khả năng ứng xử linh động mau lẹ của một người giảo quyệt như HCM, vốn là một kẻ giang hồ, lăn lóc trên các bến tàu trong các chuyến hải hành quốc tế.

Vì là một gián điệp chuyên nghiệp, được đào tạo chính quy tại Học Viện Thợ Thuyền Đông Phương ở Moscow, HCM có thói quen thay họ đổi tên của một gián điệp, thường dùng tên giả để hoạt động. Hơn nữa, những hoạt động của HCM là hoạt động chính trị tả phái khuynh đảo, phá hoại nên phải luôn luôn thay đổi tên họ để tránh bị theo dõi và bắt giam.

Trong thời gian hoạt động tranh đấu cướp chính quyền, cần phải ẩn trốn, cần phải tránh né, HCM dùng nhiều bí danh, có thể cho là bình thường, Tuy nhiên, điều đặc biệt là trong giai đoạn từ 1955 đến khi chết (1969), tức thời kỳ làm chủ tịch nước, quyền uy tột đỉnh, không còn phải sợ ai cả, HCM vẫn sử dụng 36 tên giả trên báo chí, không đề tên thật. 

Đường đường là chủ tịch một nước độc tài toàn trị, chẳng còn sợ ai, tại sao lại phải dùng nhiều tên giả để viết báo? Như thế phải có âm mưu gì? Nếu những âm mưu nầy không gian trá, không bất chính, thì tại sao HCM phải giấu tên? Điều nầy cho thấy HCM là một người bản chất xảo quyệt, mang não trạng bệnh hoạn của một tên đại bịp, chuyên lừa đảo người khác, ném đá giấu tay. 

Hơn nữa, HCM là con người hết sức tham vọng, chủ trương thổi tên HCM thành một huyền thoại cao quý, để cho dân chúng ngưỡng mộ HCM, không muốn ai nghĩ xấu về HCM, nên HCM đặt tên HCM riêng ra một bên. Trong lúc đó, khi có nhu cầu tự ca tụng mình, hay tấn công người khác, ném đá giấu tay, thì HCM dùng đến bí danh, chứ không dùng tên mình, dù đang là chủ tịch nước, nhằm bảo vệ thanh danh riêng của HCM. Đây là tâm lý của một người sùng bái cá nhân trong các chế độ độc tài.

Kết luận

Tóm lại, HCM có 169 cái tên, bí danh, bút danh, bút hiệu, vừa trong thời gian hành nghề gián điệp, hoạt động bí mật, và cả trong thời kỳ cầm quyền, làm chủ tịch nước. Dầu chế độ CSVN có ca tụng gì đi nữa, có tung hê HCM đến đâu đi nữa, HCM dùng 169 tên để giấu mặt, là bằng chứng rõ ràng HCM là một kẻ xảo quyệt, gian trá, tráo trở, đạo đức giả, chuyên ném đá giấu tay, chứ chẳng hay ho gì việc ẩn danh đánh phá kẻ khác. 

Hồ Chí Minh không phải chỉ là “một kịch sĩ có biệt tài đánh lừa kẻ đối thoại" như Bernard Fall viết trong Les deux Viet-Nam (Nxb. Payot, Paris, 1967, tr. 102), mà HCM còn là tên lừa đảo muôn mặt, bịp bợm nhất trong lịch sử Việt Nam. (Trích:Một thế kỷ lừa đảo, sẽ xuất bản.)

(Toronto, Canada)


Trần Đại Quang đi Mỹ, tướng Chung ở nhà bán đứng dư luận viên

Tướng CA Hà Nội Nguyễn Đức Chung họp báo 'bán đứng' dư luận viên và tay sai của đảng
Người Quan Sát (Danlambao) – Báo VNExpress và Thanh Niên chiều 17/03/2015 đưa tin: “Công an Hà Nội xác minh nhóm người ngăn cản việc tưởng niệm liệt sỹ Gạc Ma”. Trên mạng xã hội Facebook trước đó đã loan truyền rất nhiều hình ảnh một nhóm thanh niên mặc áo đỏ với logo làm từ quốc huy Việt Nam tự xưng là Dư Luận Viên (DLV) đã có nhiều cử chỉ khiêu khích quấy rối việc tổ chức tưởng niệm tại công viên Lý Thái Tổ (Hà Nội). Điều này nói lên điều gì?


Nếu quan sát kỹ các diễn biến trước đây, từ năm 2014, lực lượng thanh niên DLV này luôn có kế hoạch phá rối, khiêu khích các hoạt động tưởng niệm các sự kiện lịch sử như hải chiến Hoàng Sa (19/1/1979), chiến tranh biên giới Việt – Trung (17/02/1979), thảm sát Hoàng Sa (14/03/1988)… tại địa điểm công viên Lý Thái Tổ, thuộc khu vực Hồ Hoàn Kiếm (Hà Nội). Nhóm này luôn được sự che chắn, bảo kê của lực lượng an ninh thường phục, dân phòng, và công an.

Một trong số các gương mặt nổi bật trong nhóm này như Trần Nhật Quang, Hoàng Thị Nhật Lệ, Nguyễn Quang Bách (Phích Nước Nóng), Đỗ Anh Minh, Thắng Còng, Thế Đức, Dũng Mèo Đen… sau khi hoàn thành nhiệm vụ còn có những bài tường thuật diễn biến rất hả hê. 

Mới đây nhất, ngày 14/03/2015, tại công viên Lý Thái Tổ, nhóm DLV này đã dùng cờ đỏ búa liềm, liên tục gây hấn với những thành viên No-U Hà Nội tham gia buổi tưởng niệm liệt sỹ Gạc Ma.



Và có khá nhiều an ninh cấp cao thuộc CA thành phố Hà Nội đứng quan sát diễn biến.

Tuy nhiên, trong khi chuyến viếng thăm Hoa Kỳ của Bộ trưởng Bộ Công an Trần Đại Quang đang diễn ra, thì có vẻ gió đã đổi chiều.

Tuyên bố của dư luận viên Hoàng Thị Nhật Lệ sau khi bị tướng Nguyễn Đức Chung bán đứng
Phát biểu trước báo chí, Giám đốc Công an Hà Nội, Thiếu tướng Nguyễn Đức Chung “khẳng định nhóm người trên không thuộc quản lý của công an thành phố và Ban Tuyên giáo.”

“Về nhóm thanh niên mặc áo đỏ in dòng chữ “DLV”, ông Chung cho biết, có thể đó là lực lượng tự phát, công an thành phố đang xác minh và khi có kết quả sẽ thong tin tới báo chí. Là người trực tiếp chỉ đạo công tác đảm bảo an ninh tại hiện trường, tướng Chung cho hay đã yêu cầu giải tán nhóm thanh niên trên và sau khi được thuyết phục họ đã tự động rút đi”

Tức là ông Chung xác nhận ông có mặt tại hiện trường, và việc phủ nhận mối lien hệ với nhóm DLV trên là hình thức gỡ gạc mặt mũi cho Bộ trưởng Bộ Công an Trần Đại Quang trong lúc chuyến viếng thăm Mỹ đang diễn ra.

Hoặc nhiều khả năng, chính thiếu tướng Nguyễn Đức Chung chủ động bán đứng nhóm dư luận viên này để phục vụ cho một lợi ích cá nhân nào đó. 

Điều này cho thấy rất rõ, DLV chỉ là những con cờ được sử dụng theo chiến thuật gây hấn, quấy rối, nếu cần, công an Hà Nội sẽ phủ nhận không tiếc thương.


Rõ ràng, đảng cộng sản đã bán đứng dư luận viên để phục vụ cho những mục đích riêng. Đây cũng là một bài học đắt giá cho nhóm thanh niên DLV Hà Nội.