Thursday, March 12, 2015

Lời kêu gọi Tưởng niệm sự kiện Gạc Ma tại Hà Nội và Sài Gòn

Kính thưa đồng bào Việt Nam,

Cách đây 27 năm vào ngày 14/3/1988, Trung Quốc đã đưa quân xâm chiếm bãi đá Cô Lin, bãi đá Len Đao, bãi đá Gạc Ma thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Chúng đã giết hại 64 người lính, bắn chìm 3 tàu vận tải ngay giữa vùng biển chủ quyền của Việt Nam. Kể từ ngày đó, thân xác các anh cùng những con tàu vận tải mãi mãi nằm lại giữa vùng biển khơi một thời của tổ quốc.

Không những vậy, trong những năm gần đây Trung Quốc liên tục gây hấn trên Biển Đông bằng những hành động khiêu khích cả về mặt kinh tế, chính trị, quân sự, ngoại giao. Nhiều tàu cá bị đánh chìm, nhiều ngư dân bị giết hại, nhiều hoạt động thăm dò khai thác dầu trên vùng biển Việt Nam bị Trung Quốc phá hoại. Trung Quốc gần đây còn liên tục cho cải tạo những vùng đảo chiếm được của Việt Nam thành những căn cứ quân sự khổng lồ với sân bay, cảng nước sâu và nhiều công trình quân sự hòng độc chiếm toàn Biển Đông, thực hiện mưu đồ bành trướng bá quyền nước lớn, đe doạ đến hoà bình và an ninh khu vực. Đó là điều nhân dân Việt Nam không thể chấp nhận!

Để tưởng nhớ những người lính đã ngã xuống vì chủ quyền quốc gia, để khẳng định dân tộc Việt Nam không bao giờ khuất phục ngoại bang, anh em No-U Hà Nội kêu gọi bà con Thủ Đô cùng những tỉnh lân cận về Hà Nội cùng xuống đường tưởng niệm sự kiện Gạc Ma.

Thời gian: 9h sáng thứ 7 ngày 14/3/2015
Địa điểm: trước tượng đài vua Lý Thái Tổ

Đề nghị bà con tham gia xuất hiện đúng giờ, trang phục chỉnh tề.

Đề nghị các lực lượng công an bảo vệ người dân, xử lý ngay các hiện tượng côn đồ, 
móc túi, phá đám nếu có.

Anh em No-U Hà Nội.


*

Thông báo về lễ tưởng niệm sự kiện Gạc Ma tại Sài Gòn

Câu Lạc Bộ Lê Hiếu Đằng và các nhân sĩ yêu nước Sài Gòn sẽ tổ chức tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ đã hy sinh trong trận đánh Gạc Ma chống giặc tàu xâm lược ngày 14-3-1988. 64 Liệt sĩ đã hy sinh anh dũng, quyết liệt chiến đấu với vòng tròn bất tử bằng mạng sống của mình bảo vệ đảo Gạc Ma một phần máu thịt của Tổ Quốc.

Lễ sẽ bắt đầu đúng 9 giờ sáng ngày 14.3..2015 
tại tượng đài Trần Hưng Đạo - bến Bạch Đằng - Sài Gòn.

Nghệ sĩ Kim Chi đề nghị mặc niệm toàn quốc ngày 14/3, mọi người dành một phút đúng 12 giờ trưa để mặc niệm các liệt sĩ. . Nếu ai không đến tham gia được lễ tưởng niệm mong các bạn hãy hưởng ứng lời kêu gọi của Nghệ Sĩ Kim Chi.

Nguồn: Blog Tễu

Tuyên cáo Việt Nam độc lập ngày 11 tháng 3 năm 1945

Tem in hình cờ long tinh và con số "11.3.45" cùng hàng chữ "Việt Nam" để kỷ niệm sự kiện Việt Nam độc lập. (Theo Wikipedia)


Lê Công Định - Ngày 9 tháng 3 năm 1945, khi Pháp chuẩn bị đón quân Đồng Minh đổ bộ vào Đông Dương, Nhật Bản bất ngờ đảo chính, tống giam nhiều quan chức chính quyền và tước khí giới của quân đội Pháp trên toàn cõi Đông Dương, đồng thời ra tối hậu thư đòi người Pháp phải chấp nhận vô điều kiện quyền chỉ huy của Nhật về mọi phương diện. Tại kinh đô Huế, Đại úy Kanebo Noburu diện kiến hoàng đế Bảo Đại, tuyên bố quyền lực của Pháp tại Đông Dương chính thức cáo chung và Nhật Bản đồng ý trao trả độc lập cho Việt Nam.

Hai ngày sau, ngày 11 tháng 3 năm 1945, hoàng đế Bảo Đại triệu cố vấn tối cao của Nhật là Đại sứ Yokoyama Masayuki và các viên chức lãnh sự vào điện Kiến Trung để chứng kiến lời tuyên cáo Việt Nam độc lập. Ngày 12 tháng 3 năm 1945, hoàng đế Bảo Đại lại triệu Đại sứ Yokoyama Masayuki và trao cho ông bản tuyên cáo. Ngay lập tức, báo giới khắp Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ đồng loạt loan tin Việt Nam độc lập.

“Tuyên cáo Việt Nam độc lập” là tên gọi một đạo dụ do hoàng đế Bảo Đại ban bố vào ngày 11 tháng 3 năm 1945, trong tư cách đại diện hợp pháp duy nhất của quốc dân Việt Nam đương thời, theo đó tuyên bố hủy bỏ mọi ràng buộc chính trị giữa Việt Nam và Pháp, đồng thời khai sinh một nước Việt Nam mới độc lập và có chủ quyền. Bản tuyên cáo có chữ ký của sáu vị thượng thư trong Cơ mật Viện là Phạm Quỳnh, Hồ Đắc Khải, Nguyễn Phúc Ưng Úy, Bùi Bằng Đoàn, Trần Thanh Đạt và Trương Như Đính. Toàn văn như sau:

“Cứ theo tình hình chung trong thiên hạ, tình thế riêng cõi Đông Á, chính phủ Việt Nam tuyên bố từ ngày này Hòa ước Bảo hộ với nước Pháp bị bãi bỏ và nước Nam khôi phục quyền độc lập. Nước Việt Nam sẽ gắng sức tự tiến triển cho xứng đáng một quốc gia độc lập và theo như lời tuyên ngôn chung của Đại Đông Á, đem tài lực giúp cho cuộc thịnh vương chung. Vậy Chính phủ Việt Nam một lòng tin cậy lòng thành ở Nhật Bản Đế quốc, quyết chí hợp tác với nước Nhật, đem hết tài sản trong nước để cho đạt được mục đích như trên. Khâm thử.” (Lập ngày 27 tháng Giêng năm thứ 20 triều Bảo Đại)
Nhật báo Điện tín loan tin Việt Nam độc lập.  (Theo Wikipedia)
Vào ngày 17 tháng 3, hoàng đế ban bố Dụ số 1 lấy khẩu hiệu “Dân vi quý” làm phương châm trị quốc. Ông giải tán nội các cũ, các vị thượng thư đồng loạt từ chức. Nhà sử học Trần Trọng Kim được trao nhiệm vụ thành lập tân nội các và trở thành Thủ tướng đầu tiên của Đế quốc Việt Nam.

Sau đó, trước hiểm họa đảo chính cướp chính quyền của Việt Minh, quân đội Nhật đề nghị bảo vệ chính quyền mới, nhưng hoàng đế Bảo Đại đã từ chối sự hỗ trợ đó và tái xác nhận nền độc lập của Việt Nam một lần nữa vào ngày 18 tháng 8 năm 1945. Ông đã nói một câu nổi tiếng thể hiện tầm vóc của đấng minh quân:“Ta không muốn một quân đội nước ngoài làm đổ máu thần dân ta.” Một tuần lễ sau, ông chấp nhận thoái vị và trao chính quyền lại cho Việt Minh tại kinh thành Huế.

Nhìn vương triều của tổ tiên tồn tại hơn 300 năm phải cáo chung bởi chính quyết định của mình, lòng dạ cựu hoàng vô cùng đau đớn như ông đã giãi bày trong quyển hồi ký “Con Rồng An Nam”. Tuy nhiên, khi thời cuộc đổi thay và nhằm tránh tạo cớ cho ngoại bang thọc tay vào nội tình đất nước, cựu hoàng đã biết dũng cảm từ bỏ quyền lực cá nhân và gia tộc mình.

Nếu là người tham quyền cố vị, cố sức duy trì một chế độ chính trị lỗi thời, ắt hẳn ông đã thỏa hiệp với Nhật Bản, dùng viện trợ của ngoại bang thủ lợi cho phe đảng mình và khiến người Việt đối đầu nhau trong hận thù. Vậy nên, nếu so với những kẻ sợ mất thứ chủ nghĩa lạc loài và địa vị tham nhũng, cam tâm dấm dúi thỏa hiệp với ngoại bang ở Thành Đô 45 năm sau, thì cựu hoàng Bảo Đại hiển nhiên là vị nguyên thủ quốc gia xứng đáng hơn để chúng ta tôn kính về lòng yêu thương giống nòi.

Nhân kỷ niệm 70 năm ngày Việt Nam chính thức độc lập, 11/3/1945 – 11/3/2015, tôi viết lại sự kiện lịch sử trọng đại này với ước mong các thế hệ trẻ Việt Nam nhận thức lại lịch sử nước nhà, tránh sự áp đặt bởi những thiên kiến lầm lẫn do lối giáo dục tuyên truyền gây ra, hầu có thể rút ra những bài học giá trị cho đất nước hôm nay và mai sau.

Phóng Viên Không Biên Giới thách thức chế độ kiểm duyệt của đảng CSVN

Trọng (Danlambao) - Nhân ngày Quốc tế Chống Kiểm Duyệt 12/3 năm nay, tổ chức Phóng Viên Không Biên Giới (RSF) đã hỗ trợ cho trang mạng Dân Làm Báo những kỹ thuật nhằm đập tan chế độ kiểm duyệt do nhà cầm quyền CSVN dựng lên bằng tường lửa. 

Bằng kỹ thuật có tên “mirroring”, một bản sao của Dân Làm Báo đã được đưa lên máy chủ khổng lồ của các “ông lớn” như Amazon, Microsoft và Google. Nếu tiếp tục ngoan cố dùng thủ đoạn ngăn chặn, chế độ CSVN sẽ phải hứng chịu những thiệt hại nặng nề cả về kinh tế lẫn chính trị.

Một khi không truy cập được vào những máy chủ khổng lồ, hoạt động giao dịch của hàng ngàn công ty lớn cũng sẽ bị ngưng trệ ngay lập tức. Nhờ vậy, độc chiêu này khiến cho những kẻ độc tài không dám manh động vì sợ ảnh hưởng đến túi tiền của chúng.      

Giờ đây, độc giả tại Việt Nam có thể dễ dàng truy cập Dân Làm Báo qua đường link: https://dlb1.global.ssl.fastly.net/ mà không cần sử dụng đến bất kỳ phương pháp vượt tường lửa nào.

Dân Làm Báo là một trong 9 trang mạng của 11 quốc gia nhận được sự hỗ trợ kỹ thuật của RSF, trong đó có chi phí thuê băng thông trên các máy chủ khổng lồ.

2015 hứa hẹn sẽ là năm ''trúng mánh'' lớn đối với Dân Làm Báo, nhất là đúng vào thời điểm Chiến dịch Tranh Đấu cho Tự Do - Dân Chủ - Nhân Quyền 2015 được ''mở hàng'' tràn đầy hy vọng. 

Tù nhân từ Cổng trời trở về cướp máy bay vượt biên

Thanh Trúc, phóng viên RFA
2015-03-12
Đoàn người đấu tranh chống độc tài cộng sản đi tìm tự do.
Đoàn người đấu tranh chống độc tài cộng sản đi tìm tự do. Hình ảnh do ông Dương Văn Lợi cung cấp

Rạng sáng ngày 30 tháng Chín năm 1981, chiếc trực thăng UH1 từ thời Việt Nam Cộng Hòa mà quân đội Bắc Việt tiếp thu, cất cánh khỏi phi trường Bạch Mai, đặt Hà Nội trong tình trạng báo động khẩn cấp.

Đó là chuyến vượt thoát của 10 người gồm 3 phi công miền Bắc, 5 thành viên trong gia đình miền Nam của ông Dương Văn Lợi, tù nhân trở về từ hai trại tù khét tiếng Nam Hà và Cổng Trời ở miền Bắc.

Chuyến vượt thoát gian nan với những tình tiết bất ngờ được ông Dương Văn Lợi ghi lại trong tập sách Hà Nội Báo Động Đỏ, quyển một đã xuất bản và quyển hai chưa viết xong:

Qua Pháp đầu năm 1986, sau một năm tôi bắt đầu viết. Đầu tiên tôi viết bằng tiếng Pháp, gọi là Helicoptere De La Liberte, Hành Trình Trực Thăng Đi Tìm Tự Do, hoàn tất năm 1990.

Năm 1992, khi ông Colby, xưa là giám đốc CIA mà lúc đó ông về hưu rồi, mời tôi qua bên đó ba tháng, tôi mới bắt đầu viết cuốn Hà Nội Báo Động Đỏ tại bên Washington DC.

Tại sao Hà Nội Báo Đỏ, ông Dương Văn Lợi giải thích:

Lúc mà tôi đi là ở Hà Nội báo động ba ngày, nội bất xuất ngoại bất nhập. Tôi qua bên Tàu thì được bên đó cho biết đó là cuộc báo động lớn nhất của cộng sản Hà Nội.

Tôi đi khóa 12 Thủ Đức và tôi giải ngũ năm 1964. Từ 1964 cho đến 1975 tôi là kỷ sư công chánh, làm về xây cất. Nếu đi là lúc 1975 tôi đi một cách dễ dàng vì tôi làm cho Mỹ mà.

Những năm tù tội

Không lâu sau ngày 30 tháng Tư 1975, thấy không thể sống trong chế độ vời những chính sách trấn áp và kiểm tra hà khắc, ông Dương Văn Lợi bắt đầu tìm cách trốn đi, khởi đầu những năm dài tù tội sau đó:

Tháng Bảy 1975, 30 người đi vào rừng, phần đông là cựu quân nhân mà không đi trình diện. Anh em tổ chức chứ không phải một mình tôi, định vô rừng nếu gặp những thành phần không đầu hàng thì mình hợp tác, nếu không thì mình vượt biên qua bên Lào, bên Miên.

Ba chục người chia làm 3 nhóm đi lên vùng Tam Biên. Đến tháng Tám nhóm của ông Dương Văn Lợi bị bắt tại vùng bên giới Tam Biên, giải thẳng về Ban Mê Thuột sau đó tống về khám Chí Hòa. Hai nhóm kia cũng không may mắn hơn, họ mất liên lạc với nhau từ đó.

Giam tại Cổng Trời từ 77 đến 78. Năm 78, 79, sự thật nếu không có bọn Tàu đánh qua thì chưa biết chúng tôi sống chết ra sao bởi ai cũng biết Cổng Trời là muôn năm cho tới chết

Tháng Mười 1975, ông Dương Văn Lợi được tạm tha nhưng vẫn bị theo dõi sát. Tháng Mười Một cùng năm ông bị bắt trở lại:

Tôi thuộc diện bị tập trung cải tạo, bị đưa lên Long Khánh tháng Hai năm 1977, bị ghép tội phản động. Sau họ xét nhà thì họ bắt những tài liệu tôi làm cho Mỹ về vấn đề xây cất. Họ ghép tôi là CIA cái đó mới là nặng. Tháng Tư năm 1977 họ đưa chúng tôi ra Bắc, đầu tiên giam ở Nam Hà . Ra đó coi như mình tiêu rồi, coi như chết rồi, do đó anh em bắt đầu chống đối không chịu đi lao động. Tới Noel 1977, khoảng 12 giờ khuya họ kêu anh em cùm lại để đi lên Cổng Trời.

Giam tại Cổng Trời từ 77 đến 78 . Năm 78, 79, sự thật nếu không có bọn Tàu đánh qua thì chưa biết chúng tôi sống chết ra sao bởi ai cũng biết Cổng Trời là muôn năm cho tới chết.

Vì cuộc chiến biên giới đó mà nhiều tù nhân Cổng Trời, trong đó có ông Dương Văn Lợi, được chuyển về Thanh Hóa:

Về đó họ đưa lên cùm liền, nặng thì cùm trước như cha Lễ hay đại tá Trịnh Tiếu. Tôi với Đặng Văn Tiếp thì lên cùng lượt, sau đó nhà đá bớt người thì họ đưa lên. Cùm trong nhà đá là kinh khủng.

Cho đến năm 1981 trên đó mà bị kỷ luật thì gia đình không được tiếp tế, năm đó chết cũng nhiều. Nhưng bắt đầu từ đó thì họ biết ăn hối lộ rồi, gia đình tôi chạy 10 lượng vàng để tôi được thả tháng Tư năm 1981. Nó chịu ăn hối lộ mình mới chạy được.

Về Sài Gòn, ông Dương Văn Lợi chỉ theo lệnh trình diện tại Bộ Nội Vụ nhưng không ra trình diện ở phường. Mục đích của ông lúc đó là tìm kiếm đường đi bằng mọi giá.

Kế hoạch cướp máy bay

May sau này nhờ bà con móc nối, lại thêm sự hỗ trợ của người em là sĩ quan công an của chế độ mới, ông Dương Văn Lợi làm quen với một số phi công bộ đội chuyên lái trực thăng đang chở ngày ra tòa vì tội buôn lậu. Mọi người thảo kế hoạch cướp máy bay trốn đi:

Khi mà máy bay đậu tại phi trường Bạch Mai thì nó gỡ hết bình điện, gỡ hết không bàn, lúc đó thì phải đi tìm mua. Mãi tới 5 tháng sau thì mới tìm được cái bình điện đã 10 năm

Phi công trực thăng mà đi buôn lậu bên Kampuchia, nguyên cả phi hành đoàn đó bị bắt, ba người bị hết. Nên nhớ phi công là con ông cháu cha không chứ đâu phải nhỏ, đã bị treo giò bị kỹ luật vẫn còn ở Tân Sơn Nhất, tụi nó cũng dự định trốn.

Khi thấy kế hoạch trốn đi từ Tân Sơn Nhất không thành, mọi người chuyển hướng ra phía Bắc:

Cuối cùng anh phi công chánh người Nghệ An và có em tôi là sĩ quan công an Việt Cộng bây giờ đang ở bên Nhật Bổn, cho biết phi trường Bạch Mai chấm được thì mới bắt đầu đi tìm mua không bàn với bình điện. Khi mà máy bay đậu tại phi trường Bạch Mai thì nó gỡ hết bình điện, gỡ hết không bàn, lúc đó thì phải đi tìm mua. Mãi tới 5 tháng sau thì mới tìm được cái bình điện đã 10 năm mà khi ra Hà Nội sạc vẫn mạnh như thường.

Chiếc trực thăng đó là của anh phi công tại Hà Nội đại khái lái giỏi nhất. Anh phi công đó ngày 30 tháng Chín phải ra hội đồng kỹ luật, anh nói cuối tháng Chín mà không đi thì coi như bỏ hết. Chiếc trực thăng UH 1 đó của Bộ Chính Trị đi mà.

Máy bay thì có người lo, tôi chỉ lo vấn đề mua bình , mua không bàn, Ra ngoài đó thì em tôi có trách nhiệm đi sạc bình lại.

Đến giờ G của ngày 30 tháng Chín, dự dịnh cất cánh vào lúc 4 giờ sáng không thành với những pha gây cấn đến thót tin. Theo sắp đặt, phi công chính và phi công phụ vào phi trường Bạch Mai bằng cửa chính. Phía ông Dương Văn Lợi mang theo hai con trai, người em ruột và một người cháu:


Trực thăng mang số 576 đã hạ cánh trên lãnh thổ Trung Quốc vì cạn xăng.

Đã cam kết là không cho đàn bà đi nhưng khuya đó anh phi công đem cô hôn thê của anh ta, cô đó lại cho một người bạn nữa đi theo. Thấy hai cô gái tôi chưng hững rồi, nhưng máy bay của người ta tôi đâu có từ chối được, mà để lại thì cũng nguy hiểm, thành ra có 10 người.

Phi trường Bạch Mai chỉ có 3 chiếc trực thăng thôi, tôi định cất cánh là đúng 4 giờ sáng. Hai người vô cửa chính là anh phi công chính và phi công phụ vì còn công tác ở đó tới hết tháng chín mới ra hội đồng kỷ luật. Nhóm của tụi tôi thì đợi tại cầu Long Biên, tôi, 2 cô gái, 2 đứa nhỏ với một thằng cháu.

Đã cam kết là không cho đàn bà đi nhưng khuya đó anh phi công đem cô hôn thê của anh ta, cô đó lại cho một người bạn nữa đi theo. Thấy hai cô gái tôi chưng hững rồi, nhưng máy bay của người ta tôi đâu có từ chối được, mà để lại thì cũng nguy hiểm, thành ra có 10 người

Một anh đem bình điện thì phải đi giao thông hào, nhưng khi vô đó ban đêm mà chiếc máy bay UH 1 của mình nó nhỏ hơn chiếc MI 8 của Nga, ban đêm tối thui anh đi lố đi. Hai người vô trước đợi hoài không thấy bình điện, đợi đến 5 giờ là buổi sáng trại gia bình họ tập thể dục mà vẫn chưa thấy bình vô. Tới khi anh này trở ra, cắt hàng rào kẽm gai đưa cái bình điện vô rồi thì mừng quá.

Đó là thời gian mà phi trường Bạch Mai được lệnh canh gác cẩn mật do trước đó hai tuần đã xảy ra vụ một thiếu úy an ninh quân đội Bắc Việt tình nghi cướp trực thăng nhưng không may bị chận bắt trở lại:

Cho nên sau đó mỗi chiếc trực thăng đều có một anh lính gác đạn lên nòng. Không ngờ cái anh lính gác đó lại là em chú bác gì với anh phi công chính, ảnh mới nói tao vô sửa soạn máy bay để sáng đưa các thủ trưởng đi công tác sớm. Sẵn có cây sắt khoảng 3 gang thì làm sao mà nó đội nón sắt mà đập ngay cần cổ cho nó ngất xỉu được? Thì người anh mới mời nó hút thuốc, bật hộp quẹt đưa ra thì ảnh cứ kéo kéo cho người này cúi đầu xuống thì anh phi công phụ đập anh lính gác một cây cho xỉu rồi đưa bình điện lên ráp.

Không may vừa ráp xong thì người lính gác tỉnh dậy và bỏ chạy nhưng lại không kêu được tiếng nào. Thế là hai người phi công cố rượt theo và đánh cho anh ta ngất đi một lần nữa:

Xong rồi lên trực thăng mà trời đang tối, mở công tắc một cái thì cái đèn trên bảng điều khiển nó sáng như một cái thành phố, cho nên anh cơ phi giựt đứt sợi dây liền, tối thui luôn, rồi bắt đầu cho máy chạy. Không ngờ cánh quạt ở trên cột sợi dây cáp mà không ai để ý. Anh cơ phi nhảy lên cởi giây cáp xong rồi xuống bật lại cho máy nổ, từ đó xuống cầu Long Biên đón tụi tôi liền, đón 6 người.

Chiếc trực thăng UH 1 bốc lên cao, trực chỉ hướng Hồng Kông như đã tính toán, nhưng:

Bay hai tua trở lại thì vẫn thấy thành phố Hà Nội. Phi công mới nói chết rồi không thấy không bàn đi không được. Hên là người cơ phi sực nhớ có hộp quệt, mới quẹt lên rồi để ngay cái không bàn, bắt đầu mới đi tiếp.

Đến Bắc Kinh

Run rủi thế nào chiếc UH 1 lại đáp xuống một nơi ở Quảng Tây của Trung Quốc thay vì Hồng Kông. Thời gian đó, điểm trùng hợp là nhóm của ông Dương Văn Lợi và chiếc UH 1 đến Trung Quốc chỉ sau vụ ông Hoàng Văn Hoan, một đảng viên cộng sản cao cấp Việt Nam, bỏ trốn qua Trung Quốc không lâu. Đây cũng là thời kỳ mà mối quan hệ Việt Trung không còn mặn nồng, vì thế Bắc Kinh muốn lợi dụng sự kiện chiếc UH 1 và 10 người trốn từ Việt Nam sang để tuyên truyền chống Hà Nội. Đó cũng là lý do những người mới đến được đưa về Bắc Kinh và được tiếp đãi trọng thể như khách quí.

Bay hai tua trở lại thì vẫn thấy thành phố Hà Nội. Phi công mới nói chết rồi không thấy không bàn đi không được. Hên là người cơ phi sực nhớ có hộp quệt, mới quẹt lên rồi để ngay cái không bàn, bắt đầu mới đi tiếp

Họ cho một đại dội gác cái máy bay, đưa tụi này về tỉnh, nói là tụi này chống tập đoàn Lê Duẩn. Một tuần lễ sau Bắc Kinh cho một chiếc máy bay đặc biệt rước tụi tôi về Bắc Kinh luôn. Họ tưởng tụi tôi đi như vậy thì sẽ tị nạn tại Bắc Kinh. Tôi còn nhớ họ cho ông thứ trưởng Ngoại Vụ và thứ trưởng Bộ Công An lên chấp nhận cho tụi tôi đến Trung Quốc.

Sau một thời gian, khi nghe những người trong nhóm trình bày ý muốn gặp đại diện của Liên Hiệp Quốc ở Bắc Kinh để xin đi tị nạn tại một quốc gia khác, sự tiếp đón nồng hậu của Trung Quốc giảm hẳn:

Nghĩa là đổi 180 độ, hận thù. Tôi ở Bắc Kinh trên 6 tháng, lúc Liên Hiệp Quốc liên lạc với bên Mỹ thì bên Mỹ viết cho tôi thơ trả lời. Tôi gởi một đơn nữa thì bên đó cho người qua, nói với tụi tôi là 10 người các anh đến Mỹ thì không sao hết nhưng chúng nó có cho các anh đi đâu. Chúng nó là Tàu đó. Không ngờ là Mỹ cho đi mà Trung Quốc không cho.

Cuối cùng Hoa Kỳ nhận cho gia đình ông Dương Văn Lợi đi, nói rõ không vì lý do chính trị mà vì ông từng làm việc cho Mỹ ở Sai Gòn trước kia:

Nhưng cũng không ngờ là mấy anh em phi công không chịu, nói cho đi thì cho đi hết còn không cho đi thì không cho đi hết. Cho nên Mỹ từ chối khi đang làm giấy tờ cho tôi đi.

Hai năm rưỡi sau, từ Bắc Kinh gia đình ông Dương Văn Lợi được đưa về Liễu Châu với khuyến cáo nếu không muốn ở lại Trung Quốc thì phải vào sống trong trại tị nạn:

Mà trại tị nạn ở bên Tàu trời ơi nói không nỗi. Bắt đầu mấy anh phi công cũng nản rồi, biết là đi không được rồi...

Tại Liễu Châu, làm quen với một số người Việt từ Hà Nội hoặc Hải Phòng trốn qua Hồng Kông rồi bị bắt trả về Trung Quốc, ông Dương Văn Lợi gom góp tiền bạc để dành nhờ họ mua một chiếc thuyền cũ. Quyết định của ông là phải đi khỏi Hoa Lục và lần này bằng đường biển:

Tìm vượt đường biển từ đó lên tới Quảng Châu chỗ có biển tới 3.000 cây số lận. Nó cũng ham đi chứ nếu nó không ham đi mà lấy hết tiền thì tôi cũng kẹt bên Tàu luôn rồi.

Lo xong mọi việc, gia đình ông Dương Văn Lợi cùng khoảng 10 anh em người Việt đã giúp ông mua lại chiếc tàu chuẩn bị đi Quảng Châu:

Năm 83 là tôi đi, 300 cây số tới Quảng Châu, xuống bãi biển ở Quảng Châu.

Trốn khỏi Trung Quốc

Đó là chuyến vượt biển đầy trắc trở, tàu thì cũ nên hết hư cái này đến hỏng cái khác. Trên đường đi, ông Lợi kể là ông thấy cả 40 thuyền lớn nhỏ đi ngang mà không chiếc nào dừng lại cho đến khi được tàu Liên Xô vớt trong một cơn bão:

Tàu Liên Xô vớt thì tôi nói tôi người Đài Loan, đi đánh cá bị bão. Lên đó thì phải nói bằng tiếng Anh không thôi. Tàu Liên Xô cho hai người thợ máy xuống sửa, nếu sửa không được thì họ kéo mình vô bờ nhưng tôi biết vô là mình bị bể vì họ sẽ đưa qua tòa đại sứ gần nhất.

Thế là ông Dương Văn Lợi cố thuyết phục bên tàu Liên Xô cho chiếc thuyền nhò của ông tiếp tục cuộc hải hành. Cuối cùng, tàu cập vào một đảo nhỏ của Philippines là Dalupiri.

Liên Hiệp Quốc kêu tụi tôi là Group 14 Dalupiri, có nghĩa là 14 người lên đảo Dalupiri.

Từ đảo Dalupiri, mọi người được bốc về Manila, tiếp đến chuyển thẳng vào trại tị nạn Palawan.

Tại Palawan, ông Dương Văn Lợi xin đi định cư ở Canada. Nhưng do do thủ tục khám sức khỏe để nhập cư Canada quá nhiêu khê và quá lâu, sẵn phái đoàn Pháp chấp nhận cho đi dễ dàng và nhanh hơn, ông Dương Văn Lợi quyết định đi Pháp. Đó là năm 1985.  Mười người vượt biển trên chiếc tàu của ông còn ở lại Palawan và chỉ đến Pháp nhiều năm sau đó.

Sau chuyến vượt thoát thành công bằng trực thăng từ phi trường Bạch Mai năm 1981, Hà Nội mở phiên xử khiếm diện, tuyên án tử hình 5 người trong nhóm gồm ông Dương Văn Lợi, em ông là sĩ quan công an Dương Văn Báu, phi công chính, phi công phụ và cơ phi.

Gia đình tôi qua Pháp, em tôi là Dương Văn Báu đi sau tôi vài năm. Nó trốn từ Bắc Kinh, ra biển gặp tàu Nhật vớt và tị nạn ở Nhật Bản cách đây cũng khá lâu rồi.

Còn hai vợ chồng Lục là phi công chánh thì ở lại Bắc Kinh và bây giờ làm ăn giàu có lắm. Anh phi công phụ tên Sơn cũng ở tại Bắc Kinh. Còn một anh cơ phi cũng trốn từ Bắc Kinh qua tị nạn ở Canada , anh Đoàn, là người Thượng mà vô dân Canada rồi. Cách đây 5 năm tôi được tin là anh về thăm gia đình, vừa xuống máy bay thì bị bắt giam tại Hà Nội, từ án tử hình xuống còn án chung thân khổ sai.

Mục Đời Sống Người Việt Khắp Nơi hôm nay, Hà Nội Báo Động Đỏ và cựu tù cộng sản Dương Văn Lợi, tạm ngưng ở đây. Thanh Trúc xin hẹn quí vị tuần tới.

http://www.rfa.org/vietnamese/programs/OverseasVietnamese/priso-esca-by-helicop-03122015101054.html/03122015-priso-esca-by-helicop.mp3

Cựu binh chiến tranh VN từ Virgin Islands và những vết sẹo khó phai

Hải Ninh, phóng viên RFA
2015-03-12

Ông Harry Daniel, tham gia chiến trường ở Việt Nam trong một năm từ 1967 tới 1968. (Ảnh chụp năm 2013)Photo courtesy of Government House

Trong số khoảng 8 triệu người Mỹ tham gia cuộc chiến tranh ở Việt Nam, gần 400 người đến từ một hòn đảo nhỏ, thuộc địa của Mỹ, có tên Virgin Islands. Phần lớn những người này đều tham chiến gần hoặc trong vùng chiến sự và trở về với những vết sẹo tâm lý đến giờ vẫn chưa lành. Một bộ phim tài liệu dựng lại những ký ức và những trăn trở của nhóm cựu binh này sẽ ra mắt trong dịp kỷ niệm 40 năm cuộc chiến tranh kết thúc.

Một góc nhìn khác biệt

Harry Daniel, 66 tuổi, tham gia chiến trường ở Việt Nam trong một năm từ 1967 tới 1968. Ông tham gia sứ mệnh tìm và diệt ở Lai Khê. Người cựu binh này kể lại:

“Sứ mệnh của tôi là tìm và diệt ở trong rừng. Tôi chứng kiến rất nhiều người chết, kể cả người Việt lẫn người Mỹ. Nơi tôi tham chiến rất khốc liệt. Vào cuối ngày, sĩ quan chỉ huy điểm tên những người đã bỏ mạng, nghe mà đau đớn.”

"Bộ phim này đặc biệt là bởi vì người dân ở đảo Virgin Islands không được phép bầu cử tổng thống Mỹ thế mà họ vẫn phải đi lính. Bộ phim sẽ cho thấy được cái góc nhìn khác biệt của những người lính xuất thân từ khu vực này. "-Ông Harry Daniel

Ông Harry Daniel là một trong 20 cựu binh ở Virgin Islands chia sẻ câu chuyện chiến tranh của họ trong bộ phim tài liệu dự kiến dài 60 phút có tên Proudly We Served (tạm dịch là Chúng tôi tự hào đã phục vụ quốc gia trong cuộc chiến). Joan Keenan, một giáo viên đã về hưu ở quần đảo được giao nhiệm vụ làm giám đốc dự án và đạo diễn cho bộ phim này. Bà cho biết:

“Chúng tôi muốn kể lại câu chuyện của những người xuất xứ từ Virgin Islands tham gia cuộc chiến ở Việt Nam. Chúng tôi muốn vẽ lên một bức tranh về những gì họ đã trải qua, những gì họ cảm nhận. Bộ phim này đặc biệt là bởi vì người dân ở đảo Virgin Islands không được phép bầu cử tổng thống Mỹ thế mà họ vẫn phải đi lính. Bộ phim sẽ cho thấy được cái góc nhìn khác biệt của những người lính xuất thân từ khu vực này.”

Bà Keenan cho biết họ không có một danh sách các cựu binh Việt Nam ở Virgin Islands và phần lớn những người họ tìm được để trò chuyện là qua biện pháp truyền khẩu.

Các cuộc phỏng vấn kéo dài từ 30 phút đến một tiếng, bắt đầu bằng việc kể lại việc họ sinh trưởng ở quần đảo này, đến lúc bị gọi đi lính và tham gia chiến tranh. Bà Joan kể lại lúc đó là thời điểm giữa cuộc đấu tranh chống lại phân biệt chủng tộc ở Mỹ lên cao, trong khi đó phần lớn những người tham chiến ở Việt Nam đều được cử đi miền nam để tham gia huấn luyện. Miền Nam nước Mỹ là khu vực ủng hộ nô lệ và cũng là nơi mà tệ nạn phân biệt chủng tộc nặng nề nhất. Bà Keenan nói:


Bức tường tưởng niệm các binh sĩ Mỹ đã tử trận trong chiến tranh Việt Nam ở Washington ngày 29 tháng 3 năm 2013. AFP PHOTO / Nicholas Kamm.

“Đây cũng là một trải nghiệm đáng nhớ bởi vì họ xuất thân từ một hòn đảo nhỏ và lại là người da đen. Có nhiều người được đưa tới miền nam, tại đây họ không được vào một số nhà hàng để ăn uống, họ không thể làm một số việc nhất định. Đó cũng là những trải nghiệm mới, lần đầu tiên trong đời họ phải chứng kiến bị phân biệt chủng tộc như vậy.”

Ông Daniel được huấn luyện ở một căn cứ ở miền nam Alabama, một trong những bang mà nạn phân biệt chủng tộc còn nặng nề khi đó. Người da đen không được học ở trường hay vào nhà hàng của người da trắng. Daniel cho biết:

“Tôi đến từ đảo nơi mà tình trạng phân biệt chủng tộc là không hề có, người da đen và da trắng cùng làm việc, sinh hoạt với nhau. Vậy nên, tôi lúc nào cũng phải cẩn thận để ý, để không đi nhầm vào nơi nào đó.”

Luôn cảm thấy bất an

Đa phần các cựu binh của Virgin Islands đều ra mặt trận hoặc ở gần mặt trận. Có những người bị đưa ra chiến trường 30 ngày liên tiếp. Nhiều cựu binh chia sẻ về quãng thời gian ở Việt Nam và phản ứng của họ rất mâu thuẫn, Ông Daniel nói tiếp:

"Họ kể rằng có người ban ngày là thợ cắt tóc, bỗng dưng đêm đến lại giao du với Việt Cộng. Họ sống trong cảm giác nghi ngờ và căng thẳng nên họ luôn cảm thấy bất an. "-Ông Harry Daniel

“Một mặt họ yêu mến những người mà họ gặp gỡ. Và vì họ đến từ Virgin Islands nên họ cũng thấy gần gũi vì ở đây có nhiều loại hoa quả ở Việt Nam như ở trong đảo. Tuy nhiên, vì Việt Cộng len lỏi vào trong dân thường nên họ không thể nào tin tưởng hoàn toàn những người Việt Nam. Họ kể rằng có người ban ngày là thợ cắt tóc, bỗng dưng đêm đến lại giao du với Việt Cộng. Họ sống trong cảm giác nghi ngờ và căng thẳng nên họ luôn cảm thấy bất an.”

Một cựu binh tên Emil James kể lại thời điểm khi bom đạn của Việt Cộng rơi ngay sau lưng nơi một người đồng đội của ông ngồi, ngay bên cạnh ông. James kể trong cuộc phỏng vấn với đoàn sản xuất:

“Chúng tôi đang ngồi trên đụn cát. Tôi vẫn còn nhớ khi đó tôi quay sang anh ấy và hỏi liệu Việt Cộng có giúp chúng ta ăn mừng quốc khánh ngày 4/7 hay không. Thế rồi ngay sau khi tôi dứt lời đạn pháo nổ tung phía sau lưng anh ấy. Sức công phá của nó thổi tung anh ta về phía tôi và cả hai chúng tôi rơi xuống hố. Anh ấy sống sót nhưng là phần lưng thì… Anh ấy vẫn còn sống.”

Ra chiến trường thì là vậy, bà Joan Keenan cho biết khi trở về, những người này không hề được tiếp đón nồng hậu. Cựu binh Daniel kể lại:

“Khi đó ở Mỹ là lúc đỉnh điểm của các cuộc biểu tình phản đối chiến tranh. Chúng tôi bị gọi là những kẻ giết trẻ em. Chúng tôi bị họ nhổ nước bọt vào người, bị đuổi đánh. Chúng tôi không được chào đón như những người hùng đâu. Vì thế, nhiều cựu binh Việt Nam giờ đây thành người không nhà cửa, bị xã hội xa lánh. Họ trở thành nạn nhân của chiến tranh.”

Phần lớn những cựu binh chiến tranh Việt Nam đang ở độ tuổi ngoài 60. Họ trở về nước với bệnh rối loạn tâm lý sau sang chấn PTSD. Một số người tham gia trong dự án về bộ phim tư liệu này vẫn còn phải điều trị chứng bệnh này. Những người trực tiếp tham chiến vẫn còn nặng nề những suy nghĩ về cuộc chiến. Bà Keenan kể:

“Một số người phải uống thuốc mới ngủ được, họ gặp ác mộng. Có vài  người thậm chí còn nói với chúng tôi rằng sau cuộc phỏng vấn này có lẽ họ không còn sức trò chuyện gì được trong vài tuần vì dư âm quá nặng nề. Nhiều người mới chỉ bắt đầu tìm kiếm điều trị cho căn bệnh của họ.”

Một số cựu binh đã quay trở lại Việt Nam kể từ sau cuộc chiến để thăm lại mảnh đất này, tuy nhiên những người chưa trở lại vẫn đau đáu một nỗi ám ảnh. Cựu binh có tên là Rolando Roebuck cho biết ông đã quay lại Việt Nam vài lần kể từ khi cuộc chiến kết thúc. Ông cho rằng việc quay lại sẽ khiến quá trình hàn gắn sau chiến tranh của các cựu binh diễn ra nhanh hơn.

Góc suy ngẫm vào tháng 4 đen ...

Tôn-Thất Long
2015-03-12  
NYC152106.jpg
Người dân xếp hàng trước Đại sứ quán Mỹ tại Saigon, tháng 4/1975- Photo courtesy of Hiroji Kubota/Magnum Photos

Biến cố tháng 4 năm 75 là một cơn đại hồng thủy tràn đến với mọi người dân Miền Nam Việt Nam khi đang sống trong cảnh an bình và thịnh vượng. Một cơn bão tràn qua, có một quốc gia đã hoàn toàn bị biến mất trên bản đồ thế giới.

Có một quốc gia đã từng có một thủ đô được mệnh danh là Hòn Ngọc Viễn Đông. Có một quốc gia đã từng một thời được các nước và các dân tộc xung quanh vùng nhìn vào với một ánh mắt ngưỡng mộ và mong ước quốc gia mình được như vậy. Có một quốc gia với một nền giáo dục toàn diện và mang tính nhân văn. Có một quốc gia mà người sinh viên, người dân không hề ham muốn đi ra nước ngoài sinh sống, chỉ mong muốn học xong và quay về phục vụ lại tổ quốc.

Có một quốc gia mà người dân khi cầm hộ chiếu đi ra nước ngoài đã ngẩng cao đầu và nói "Tôi là người Việt Nam". Có một quốc gia mà chính Tổng Thống Mỹ đã trải thảm đỏ để ra đón tiếp dù quốc gia đó đang nhận viện trợ của chính nước chủ nhà. Có một quốc gia mà vị nguyên thủ đầu tiên của Singapore là ông Lý Quang Diệu đã phải thốt lên lời "Tôi ước gì Singapore được như Sài Gòn."

Tất cả đều biến mất không còn một dấu tích chỉ vì một cuộc nội chiến tương tàn Nam-Bắc, một cuộc chiến của hai hệ phái tư tưởng đối nghịch nhau. Một cuộc chiến mà người chiến thắng sau cơn men chiến thắng đã nhận ra từ cái nhìn thực tế chính họ là người cần được (hay đã được) GIẢI PHÓNG cả về NỘI DUNG lẫn TƯ TƯỞNG.

Cả một dân tộc bị cho ăn một cái bánh vẽ quá lớn, quá ngây thơ khi tin vào một chủ nghĩa vô tưởng và những con người lãnh đạo dã man, máu lạnh không tình người. Mọi người dân đã lầm tưởng khi được nghe và phác họa lên một hình ảnh đẹp đẽ, thanh bình, không còn bom đạn trên quê hương, người lính chiến cả hai phía quay trở về với con búp bê lủng lẵng móc vào cái ba lô trên vai làm quà cho con, hoặc trên tay cành hoa đẹp tặng mẹ, tặng vợ. Họ cùng quay về với xóm làng, ruộng nương và gia đình. Em bé vui đùa trên sân nhà, tiếng cười tiếng ca hát quê hương hòa bình vang lên khắp nơi. Hình ảnh sao đẹp đẽ quá, nhưng thực tế mặt nước lặng chỉ được một thoáng thôi trước khi cơn sóng dữ bắt đầu càn quét qua.

Biến cố tháng 4 đã đem đến được gì cho những người bị Giải Phóng?  Kẻ mất cha, người mất mẹ, anh em ly tán, gia đình tan nát. Một cuộc tha hương (Exodus) với hàng triệu người bỏ nước ra đi, nhiều người đã mất mạng trên con đường đi tìm đến bến bờ tự do. Tất cả biến mất chỉ còn vọng lại nỗi niềm tiếc thương chỉ vì một chủ nghĩa quá mơ hồ, nó đã tàn phá một thành quả mà biết bao nhiêu người, bao nhiêu nhân tài, bao nhiêu công sức đã đổ ra, tất cả đều trôi ra sông ra biển.

40 năm đã trôi qua nhưng hệ lụy của nó chắc chắn không dễ gì phai nhòa đi trong lòng rất nhiều người. Mỗi năm nhắc lại không phải để bày tỏ hận thù mới như nhiều người lạnh lùng kết án mà là chia sẻ với nhau những nhọc nhằn, mất mát không gì bù đắp nổi của những người trực tiếp chịu cảnh đau thương.

Càng về sau, số người nhớ về nó càng ít đi nhưng ít ra chúng ta cũng thấy được phần nào cái âm ỉ không thể nào phai của những ngày đầu mất nước. 30/4, từ lâu đã trở thành ngày bi thảm của dân tộc, tưởng niệm ngày này là một hành động đứng đắn không có gì phải bàn cãi. Chỉ sợ rằng chúng ta thiếu quyết tâm để trao lại những gì còn dang dở cho những thế hệ sau. Lịch sử không thể bị bóp méo, ai Giải Phóng ai, sẽ có một ngày cuộc chiến tương tàn, anh em chém giết nhau sẽ được đem ra nói rõ cho thế hệ sau hiểu.

40 năm đã trôi qua như là một giấc mộng và một phút mặc niệm cho một quốc gia đã mất tên!

Nhà văn Dương Thu Hương: 40 năm, nhìn lại về ngôn từ

Tường An, thông tín viên RFA
2015-03-11
DTH-tai-vp-RSF.jpg
Nhà văn Dương Thu Hương tại văn phòng RSF- Photo by Tuong An

Trong hồi ức 40 năm, đài Á Châu Tự Do hỏi chuyện nhà văn Dương Thu Hương về quan điểm của bà về những vấn đề liên quan đến cuộc chiến Bắc-Nam cũng như những hệ luỵ của nó.

Tường An: Thưa bà, cách đây đã lâu, trong một bài viết, bà có nói ngày 30/4, vào đến miền Nam bà đã ngồi trên vỉa hè và khóc. Nhân đây bà có thể giải thích về những giọt nước mắt ngày 30/4, 40 năm về trước không ạ ?


Dương Thu Hương: Vào miền Nam tôi khóc vì sao? Là bởi vì tôi hiểu đạo quân chiến thắng ở miền Bắc phụ thuộc vào một chế độ man rợ. Rất nhiều dân tộc văn minh bị tiêu diệt bởi một chế độ man rợ hơn, bởi vì họ hung hăng hơn, vì họ có thể văn minh hơn vì văn hoá nhưng họ kém về phương diện tổ chức quân sự.

Sau này tôi mới hiểu tôi cũng ngây thơ tôi khóc thế thôi. 30/4 tôi còn khóc vì một lý do khác nữa là vì chúng tôi bị lừa. Chúng tôi đi không nghĩ ngày về, nhưng mà  chúng tôi tưởng chiến thắng quân ngoại xâm nhưng thực sự hoàn toàn là không phải. Và tất cả tuổi trẻ của chúng tôi đã bị tiêu huỷ đi. Và vì vậy mà tôi khóc, trong những giọt nước mắt của tôi có cái phần chung cho dân tộc và có phần riêng của chúng tôi, của những người bạn tôi đã chết và của bản thân tôi đã hy sinh tuổi xuân một cách vô ích.»

Tường An: Thưa bà, cuộc chiến dài 21 năm mà miền Bắc gọi là «Chống Mỹ cứu nước» đã chấm dứt vào ngày  30/4, bà có nhận xét gì về cái ngày mà Việt Nam ngưng tiếng súng, ngày mà đại tướng Văn Tiến Dũng gọi là «thiên anh hùng ca vĩ đại của chiến tranh nhân Việt Nam trong thế kỷ XX » ạ?

"Tại sao cùng một thời điểm, người Mỹ tạo ra những điều kiện để tạo ra chính sách dân chủ của 2 nơi : miền nam Việt Nam và miền Nam Hàn Quốc. Tại sao Hàn Quốc chiến thắng mà Việt Nam chiến bại?-" Bà Dương Thu Hương

Dương Thu Hương: Đối với tôi ngày 30/4 có 2 phía : phía những người Việt ở miền nam thì gọi là ngày «Quốc hận», phía những người Việt ở miền Bắc thì gọi là «ngày Giải phóng của dân tộc» thì tất cả 2 cái đó thì tôi cho là cần phải xét lại ngôn từ , bởi vì ngôn từ nó cũng bấp bênh và nó cũng chao đảo với thời gian, nói tuỳ theo quan niệm con người , tuỳ theo cách nhìn con người để mà thay đổi.

Về phía những người miền Bắc tưởng rằng đó là một sự sung sướng, một chiến công lừng lẫy, một thắng lợi vô tiền khoáng hậu trong lịch sử. Bây giờ nhìn lại tôi thấy nó chỉ là một ánh đèn loé lên trên một chặng đường, mà cái chặng đường ấy phía sau khi ánh đèn ấy loé lên  thì nó đã dần dần trôi vào bóng tối. Thắng lợi ngày 30/4 là một thứ mà người ta gọi là « illusion » tức là một ảo ảnh. Bởi vì sau cái ảo ảnh ấy thì có những thực tại chồm đến và người Cộng sản ngập trong những cái thực tại ấy.

Sự thất bại liên tục của họ trên tất cả những chính trường, trên ngoại giao cũng như là đối nội.

Tường An: Bà có thể giải thích tại sao từ một chiến thắng mà người Cộng sản gọi là «cuộc kháng chiến thần thánh » họ lại trở nên thất bại sau này như bà nhận định ?

Dương Thu Hương: Cái sự chiến thắng đó đem cho họ một lòng kiêu hãnh quá độ. Cho nên cái chiến thắng ấy là mở màn cho tất cả những thất bại sau này. Và bây giờ, mặc dù họ còn giữ được chính quyền nhưng cái thất bại thì rõ ràng không ai có thể chối cãi được là họ đã trở thành một bộ phận nô lệ của triều đình Cộng sản phương Bắc và cái sự bán nước của họ dù diễn ra trong bóng tối, nhưng nhân dân và tất cả nh người có lương tâm đều đoán được một cách chính xác.

Chiến thắng 30/4 khiến cho những người Cộng sản có món mồi bở béo giống như ông Nguyễn văn Trấn viết trong cuốn «Viết cho Mẹ và Quốc hộ » - tôi cho ông Nguyễn văn Trấn là một người rất chính trực - ông ấy nói : nhà của người ta lấy, vợ của người ta ngủ v.v… và tức là một sự chiếm đoạt về mặt tài sản đối với tất cả những người mà đã chiến bại.

Họ đã thực hiện phương sách của Mao Trạch Đông, tức là «Toạ sơn quan hổ đấu» tức là để chọ người Việt đánh nhau với người Mỹ, một cuộc chiến tranh sức tàn lực kiệt để mà dễ biến thành một thứ thuộc địa nghìn năm Bắc thuộc lần thứ hai.

Tường An: Tại sao bà cho là phải xét lại chữ «Quốc hận" của những người miền Nam, những người đã thua trong cuộc chiến này,  thưa bà ?

Dương Thu Hương: Về mặt những người miền Nam mà gọi là « Quốc hận » thì họ cũng phải nhìn lại. Tại sao ? Tại sao lại là « Quốc hận » Trước khi hận những người khác họ phải hận chính họ . Tại sao cùng một thời điểm, người Mỹ tạo ra những điều kiện để tạo ra chính sách dân chủ của 2 nơi : miền nam Việt Nam và miền Nam Hàn Quốc. Tại sao Hàn Quốc chiến thắng mà Việt Nam chiến bại ?  Tại sao cùng một cơ hội lịch sử như thế, người Nam Triều Tiên họ đã chớp lấy cơ hội để biến đất nước của họ thành một xứ sở văn minh phồn thịnh, còn miền Nam thì không ? Cái đó phải xét lại.

Tường An: Từ khi sang Pháp năm 2006 cho đến nay, có vẽ như bà ít tiếp xúc với cộng đồng người Việt hải ngoại, phe chống Cộng cũng như phe thân Cộng, chắc là phải có lý do nào đó có phải không ạ?

"Tóm lại, tôi thấy cần phải chống Cộng, nhưng trước hết cần phải soi lại bản thân mình. Thế còn người Cộng sản nhìn lại ngày 30/4 như  một điều hãnh diện thì tôi đó là sự ngu ngốc."- Bà Dương Thu Hương

Dương Thu Hương: Bây giờ nhìn lại những phong trào chống Cộng của người Việt hải ngoại, ta thấy cái gì ? Trừ những vụ treo đầu dê bán thịt chó như Hoàng Cơ Minh ra, rất nhiều chính khách khác chỉ chờ cơ hội để về Việt Nam thương thuyết với Cộng sản để chia ghế. Những nhà chống Cộng ở đây tôi biết thì hoàn toàn là một thứ trò du hí để thoả mãn cái lòng tự tôn của họ. Bởi vì sống ở nước ngoài họ không có một gương mặt hãnh diện, một vị trí xứng đáng cho nên là họ nêu chiêu bài chống Cộng, nhưng lúc nào cũng ngóng chờ Cộng sản chìa tay ra để trở về chia ghế. Và có những ông Cộng sản chưa cần mời đã vội vàng đến sứ quán làm lành trước . Vì sao . vì họ thấy đấu tranh mệt mỏi quá, hàng Cộng sản đi kiếm được một chút vui thú trong cuối đời. Cho nên bây giờ muốn chiến thắng Cộng sản thì trước tiên phải chiến thắng chính bản thân mình.

Bây giờ rất nhiều Việt kiều ở nước ngoài chửi Cộng sản nhưng về trong nước lại vui thú, cho làm ăn, cho kiếm tiền, cho chơi gái rẻ. Cho nên cái tinh thần chống Cộng của tôi cũng giống như cái đuôi con chó, vẫy lên rồi vẫy xuống theo cái lợi ích của họ.»

Tường An: Từ sự phân tích những tiêu cực của  phe Cộng sản cũng như phe chống Cộng, bà có kết luận gì về cuộc đấu tranh trên chiến trường mới này ạ ?

Dương Thu Hương: Tóm lại, tôi thấy cần phải chống Cộng, nhưng trước hết cần phải soi lại bản thân mình. Thế còn người Cộng sản nhìn lại ngày 30/4 như  một điều hãnh diện thì tôi đó là sự ngu ngốc . Bởi vì bây giờ, cái đứa ngu nhất thì cũng hiểu là họ đang bán nước và sẽ còn bán nước một cách trầm trọng hơn. Và nếu không có một sự kiện nào có thể thay đổi được vận mệnh quốc gia thì chắc chắn 1000 năm Bắc thuộc lần thứ hai sẽ diễn ra. Không phải với một đoàn quân phương Bắc kéo sang nữa mà là một sự khống chế toàn bộ về mặt chính trị và kinh tế bắt đầu từ đảng Cộng sản Trung quốc đối với đảng Cộng sản Việt Nam và sau đó là hai nhà nước cùng một hệ thống mà tôi gọi là một thứ phong kiến trá hình.

Tường An: Xin cám ơn bà đã dành thì giờ cho đài Á Châu Tự Do.
http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/writer-dth-40-yrs-look-back-on-words-ta-03112015112759.html/03112015-duongthuhuong.mp3

Ai ra lệnh không được nổ súng trong trận Gạc Ma?

Mặc Lâm, biên tập viên RFA, Bangkok
2015-03-12
Tàu chiến Trung Quốc trực xạ bắn vào tàu vận tải công binh của Việt Nam khiến 64 chiến sĩ Hải quân VN đã hy sinh cùng với lệnh không được nổ súng...
Tàu chiến Trung Quốc trực xạ bắn vào tàu vận tải công binh của Việt Nam khiến 64 chiến sĩ Hải quân VN đã hy sinh cùng với lệnh không được nổ súng... Files photos

Mỗi năm vào ngày 14 tháng Ba, hình ảnh cuộc tàn sát 64 bộ đội công binh Quân đội Nhân dân Việt Nam lại ám ảnh gia đình họ và người có quan tâm. Những cái chết này là một sự kiện lịch sử cần phải làm rõ ai là thủ phạm trực tiếp, trói tay bộ đội bằng chính sách kềm chế trước đội quân hung hãn Trung Quốc

Lệnh không được nổ súng

Từ đầu năm 1988 Trung Quốc đã có những hành động lấn chiếm các đảo đá thuộc quần đảo Trường Sa bằng cách đưa hai chiến hạm thị uy chung quanh khu vực. Trước hành động khiêu khích công khai ấy Việt Nam đã khởi động chiến dịch có tên Chủ quyền 88 viết tắt là CQ-88 bằng cách gửi bộ đội công binh mang vật liệu xây dựng tới nhóm đảo Cô Lin, Len Đao và Gạc Ma để xây dựng các cơ sở tại đây nhằm khẳng định sự có mặt của Việt Nam trên nhóm đảo quan trọng này.

Tuy biết trước sự hiếu chiến và quyết tâm chiếm đảo của Trung Quốc nhưng bộ đội công binh Việt Nam lại không được trang bị vũ khí và quan trọng hơn nữa họ được lệnh không được bắn trả lính Trung Quốc. Chỉ một vài bộ đội trên tàu mang vũ khí cá nhân và nhóm bộ đội tiến vào cắm cờ trên đảo Gạc Ma đã tay không đối diện với giặc. Anh Nguyễn Văn Thống một người sống sót trong khi tiến vào Gạc Ma xác nhận với Đài Á Châu Tự Do lệnh không được nổ súng này

-Bên mình lúc ra đi là quán triệt không được nổ súng bất kỳ giá nào cũng không được nổ súng.

Thượng tá Hoàng Hoan, Chỉ huy phó Chính trị trung đoàn công binh 83 kể lại với báo chí cái chết của trung úy Trần Văn Phương người đầu tiên ôm cờ chịu bị lính Trung Quốc bắn chết trước mặt đồng đội. Thượng tá Hoan xác nhận đây là hành động kềm chế trước sự hung hãn của lính Trung Quốc:
"Bên mình lúc ra đi là quán triệt không được nổ súng bất kỳ giá nào cũng không được nổ súng-Anh Nguyễn Văn Thống"
-Sau một thời gian giằng co nhau quyết liệt và xảy ra việc Phương bị thương và sau chết tại đảo và Lanh thì bị thương nằm gục xuống rồi thì anh em cùng với nhau đối với bọn Trung Quốc đó cuối cùng thì bọn nó nhanh chóng rút lui ra. Nhưng mà nó có cái chuyện, tức là nó nổ súng trước còn ta thì có thái độ kềm chế chủ yếu là mềm dẻo để giải quyết đúng đắn khẳng định rõ chủ quyền Việt Nam, tôi đã ở đây rồi! Thế nhưng phía Trung Quốc vẫn cứ nổ súng vào cán bộ chiến sĩ của xây dựng và đi giữ đảo.

Câu chuyện của 27 năm về trước vẫn nằm im trong những trang sử của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Lời kể của những bộ đội công binh không đủ sức thuyết phục dư luận cho đến khi chính một vị tướng chính thức lên tiếng về việc này. Ông là thiếu tướng Lê Mã Lương, Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân, từng giữ chức Giám đốc Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam nói trước cuộc tọa đàm kỷ niệm cuộc chiến Gạc Ma do Trung tâm Minh triết tổ chức vào năm ngoái, Tướng Lê Mã Lương cho biết:

-Nó có một câu chuyện như thế này: Có đồng chí lãnh đạo cấp cao ra lệnh bộ đội ta không được nổ súng nếu như đánh chiếm cái đảo Gạc Ma hay bất kỳ đảo nào ở Trường Sa. Không được nổ súng! Và sau này nó có một câu chuyện và nó đã được ghi vào tài liệu mà ta đã rõ rồi là khi trong một cuộc họp của Bộ Chính Trị, đồng chí Nguyễn Cơ Thạch đập bàn và nói là ai ra lệnh cho bộ đội không được nổ súng?

Những người lính hy sinh đầu tiên ấy cộng thêm con số bộ đội bị quân Trung Quốc sát hại nâng lên 64 người là một vết thương lớn cho người lính bất cứ quân đội nào khi họ không được cầm súng chống lại quân thù, tướng Lê Mã Lương chia sẻ:
"Ngài Bộ trưởng Bộ Quốc phòng hồi bấy giờ là ngài Lê Đức Anh đã ra cái lệnh như vậy mà anh Lê Mã Lương đã tường thuật trong hội thảo tưởng niệm Gạc Ma của chính Trung tâm Minh Triết tổ chức ở Khách sạn Công đoàn năm ngoái, thì bây giờ ta phải công khai cái này"-Ông Nguyễn Khắc Mai
-Trong lịch sử của Hải quân Nhân dân Việt Nam chưa có trận nào mà hải quân ta chỉ có mấy phút thôi chúng ta chết đến hơn nửa đại đội. Không có chuyện lịch sử Hải quân, lịch sử của các đơn vị chiến đấu bộ binh chỉ trong mấy phút mà tiêu như thế, trừ bom, nó bỏ trúng đội hình đang hành quân hoặc là nó thả trúng đội hình đang đóng quân còn trong đánh nhau ta cũng trong thế chủ động thì không có chuyện đó. Cho nên đó là cái nỗi đau mà nỗi đau này nó âm ỉ và nó sẽ đi với người lính cho tới khi kết thúc sứ mệnh trên cái đất này.

TS Nguyễn Văn Khải người tham dự buổi hội thảo cho biết nhận xét của ông về việc tướng Lương công khai điều mà Bộ quốc phòng Quân đội Nhân dân Việt Nam dấu kín sau sự cố Gạc Ma:

-Câu đó của Lê Mã Lương là hoàn toàn đúng bởi vì những năm 80 tôi là TS Thiếu tá và có anh họ là Lê Ngọc Hiền là Thứ trưởng Quốc phòng, Lê Trọng Tấn là Tổng Tham mưu trưởng quân đội cho nên những chuyện này chúng tôi biết cả.

Bộ trưởng Quốc phòng, Lê Đức Anh

Ông Nguyễn Khắc Mai giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Văn hoá Minh Triết cho biết vai trò của ông Lê Đức Anh lúc ấy là Bộ trưởng Quốc phòng, người được xem là đã ra lệnh cho bộ đội không được nổ súng:

-Ngài Bộ trưởng Bộ Quốc phòng hồi bấy giờ là ngài Lê Đức Anh đã ra cái lệnh như vậy mà anh Lê Mã Lương đã tường thuật trong hội thảo tưởng niệm Gạc Ma của chính Trung tâm Minh Triết tổ chức ở Khách sạn Công đoàn năm ngoái, thì bây giờ ta phải công khai cái này.

Một Bộ trưởng Quốc Phòng thấy giặc nó xâm lấn bờ cõi của mình mà ra lệnh không được chống lại, đứng im như thế cuốn cờ lên người mình để cho nó nã súng nó bắn!

Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, một nhà ngoại giao kỳ cựu, am hiểu sâu sắc vấn đề Trung Quốc đánh giá quyết định không nổ súng của Bộ trưởng Quốc phòng Lê Đức Anh:

-Tôi cho rằng lúc bấy giờ ông Lê Đức Anh được đưa lên làm Bộ trưởng Quốc phòng mà làm cái việc như thế là một việc phản quốc. Ra lệnh không được bắn lại để cho Trung Quốc nó giết chiến sĩ của mình như là bia sống thì tôi cho đó là một hành động phản động, phản quốc.

Ông Lê Đức Anh là cai đồn điền cao su của một người tình báo của Pháp chứ ông ta không phải tham gia cách mạng lâu dài gì đâu. Chẳng qua ông ấy khai man lý lịch rồi thì được lòng ông Lê Đức Thọ, ông Lê Đức Thọ cứ đưa ông ấy lên vù vù trở thành Bộ trưởng Quốc phòng, sau này thành chủ tịch nước. Cái điều đó những người biết chuyện như tôi lấy làm đau lòng lắm và cho là một nỗi nhục của đất nước.
"Cho đến hôm nay 64 người anh hùng liệt sĩ ở Gạc Ma đấy nhiều người xác vẫn còn nằm dưới biển và cái ông Nông Đức Mạnh nguyên Tổng bí thư lại trả lời rằng thôi cứ để yên như thế! Đáng lẽ anh phải... tìm cách vớt và đưa thân xác của các liệt sĩ ấy về quê mẹ thì anh lại để im..."-Ông Nguyễn Khắc Mai
Sau khi bị tàn sát, thi thể những người lính tay không súng ống ấy không phải đều được về nhà mà một số rất lớn đã trôi dạt khắp vùng biển quê hương bởi Bộ Quốc phòng Việt Nam không có một một cố gắng nào mang họ về đất liền như tất cả mọi quân đội khác trên thế giới phải làm. Ông Nguyễn Khắc Mai nhận xét:

-Cho đến hôm nay 64 người anh hùng liệt sĩ ở Gạc Ma đấy nhiều người xác vẫn còn nằm dưới biển và cái ông Nông Đức Mạnh nguyên Tổng bí thư lại trả lời rằng thôi cứ để yên như thế! Đáng lẽ anh phải can thiệp với Chữ thập đỏ quốc tế để tìm cách vớt và đưa thân xác của các liệt sĩ ấy về quê mẹ thì anh lại để im, bởi vì anh sợ Tàu mà. Động chạm đến Tàu thì anh run lên vì anh bị cầm tù rồi.

Tại sao cứ im lặng? chỉ cho mấy cái anh cấp người phát ngôn Bộ Ngoại giao nói tới nói lui một điệp khúc nhàm chán vô cùng và bọn Trung Quốc nó không thèm đếm xỉa gì tới, nó coi đấy là cái chuyện tào lao thì đấy là cái đau, đấy là cái nhục về Gạc Ma.

Ngày 14 tháng Ba mỗi năm không những là ngày giỗ chung của 64 gia đình liệt sĩ nhưng còn là ngày mà lịch sử Việt Nam sẽ phải làm rõ ai là thủ phạm chính trong cuộc tàn sát này. Mặc dù nó được phóng lớn lên thành cuộc chiến Gạc Ma nhưng người trong cuộc biết rõ đó là một cuộc chiến mà bên bị hại không được nổ súng.
http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/who-ord-no-fir-in-garma-03122015052720.html/03122015-who-ord-no-fir-in-garma.mp3

Giả nhà sư đi khất thực, kiếm tiền đánh bạc

CẦN THƠ (NV) - Lợi dụng sự tín ngưỡng của người dân, hai thanh niên khỏe mạnh đã giả nhà sư đi khất thực để kiếm tiền trả nợ do cờ bạc gây ra.

Tờ Người Lao Ðộng đưa tin, ngày 11 tháng 3, 2015, phòng An Ninh Xã Hội, công an thành phố Cần Thơ, đã lập biên bản vi phạm và bắt làm cam kết không tái phạm đối với 2 thanh niên giả danh nhà sư đi khất thực. Ðồng thời tiến hành lập hồ sơ để đưa 2 người này vào Trung Tâm Bảo Trợ Xã Hội theo diện người lang thang không có nơi cư trú.

Sư giả Ngô Văn Khánh trước và sau khi bị công an phát hiện. (Hình: Người Lao Ðộng)

Trước đó, vào ngày 10 tháng 3, công an phường Cái Khế, quận Ninh Kiều, đã mời ông Ngô Văn Khánh (33 tuổi), ngụ xã Khánh Hòa, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang và Huỳnh Hùng Hải (36 tuổi), ngụ phường Châu Phú B, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang, để làm rõ về hành vi giả danh nhà sư đi khất thực trong nội ô thành phố Cần Thơ.

Tại cơ quan điều tra, cả hai khai nhận, do trước đó đi cờ bạc, thiếu nợ nên trốn khỏi địa phương, đến thành phố Châu Ðốc, tỉnh An Giang, cư ngụ. Tại đây, ông Khánh và ông Hải được một người phụ nữ tên Huệ (chưa rõ địa chỉ) hướng dẫn giả nhà sư để đi hành khất.

Bà Huệ bán cho mỗi người 1 bộ đồ nhà sư để hành nghề khoảng 700,000 đồng (khoảng $33). Mỗi ngày, người phụ nữ này cho tiền ông Khánh và ông Hải đi từ Châu Ðốc xuống các địa phương gần đó để khất thực và đến chiều về nộp lại cho “sư phụ” 200,000 đồng/người.

Giáo Hội Phật Giáo CSVN cấm tất cả ni sư tại các chùa ở Việt Nam không được đi khất thực. (Tr.N)

03-11-2015 3:55:41 PM

Có đường ống hàng trăm tỷ, dân vẫn thiếu nước xài

SÀI GÒN (NV) - Mặc dù nhà cầm quyền đã đầu tư gần 822 tỷ đồng để lắp đặt đường ống cấp nước sạch từ năm 2011, song cho đến nay người dân ở huyện Cần Giờ vẫn xài nước từ sà lan chở đến.

Tờ Tuổi Trẻ cho biết, nhà cầm quyền thành phố Sài Gòn đã đầu tư tuyến ống cấp nước sạch Cần Giờ và đưa vào hoạt động từ năm 2011, với công suất 85,000 m3/ngày đêm, đủ cung cấp nước sạch cho 300,000 người dân tại huyện này đến năm 2025, song thực tế lượng nước qua tuyến ống trên hiện chỉ khoảng 4,000 m3/ngày. Trong khi đó, theo ông Thái Tân Sĩ, trưởng phòng Quản Lý Ðô Thị huyện Cần Giờ, trung bình mỗi ngày huyện tiêu thụ 8,000-9,000m3 nước sạch.


Hiện nay nhiều nơi ở Cần Giờ dân vẫn phải dùng nước từ sà lan chở đến. (Hình: Tuổi Trẻ)

Theo nguồn tin trên, công ty cấp nước Sài Gòn-Sawaco cung cấp nước trực tiếp qua hệ thống đường ống này cho toàn bộ thị trấn Cần Thạnh, xã Long Hòa, một phần xã Bình Khánh và khu vực ấp An Nghĩa, xã An Thới Ðông. Còn một nửa lượng nước còn lại được chở bằng sà lan lấy từ quận 7, quận 4 về bơm vào 21 điểm để cấp cho các xã Bình Khánh, Tam Hiệp, An Thới Ðông, Lý Nhơn...

Theo các đơn vị liên quan, trong khi chờ phủ kín mạng lưới đường ống cấp nước ở huyện Cần Giờ để cấp nước sạch cho các khu vực còn lại, các đơn vị vẫn có thể lắp đặt các họng lấy nước trực tiếp từ đường ống cấp trên.

Chẳng hạn, nếu có “họng nước” khu vực cầu An Nghĩa, xã An Thới Ðông thì khoảng cách vận chuyển nước từ sà lan đến các vệ tinh ở huyện Cần Giờ từ 45 km xuống còn 28km so với các điểm lấy nước ở quận 4 và quận 7 như hiện nay, tiết kiệm được ngân sách thành phố tiết kiệm được hơn 10 tỷ đồng mỗi năm.

Ông Nguyễn Văn Toàn Châu, giám đốc xí nghiệp cấp nước sạch Cần Giờ, thuộc Sawaco cho biết, việc lắp đặt các 'họng nước' đơn giản: “Chỉ cần kéo đường ống, lắp van, đồng hồ... trong vòng ba ngày có thể hoàn thành.” Việc khảo sát vị trí lắp đặt các 'họng nước' đã được thông báo cho Sawaco từ lâu, gần đây nhất là trong năm 2014.

Theo ông Châu, có thể việc lắp đặt các 'họng nước' phải có quá trình khảo sát, phải xin phép các cơ quan quản lý đường sông, có những vị trí không thực hiện được phải đổi qua dời lại, có nơi khảo sát xong không thực hiện được do vướng luồng tuyến...

Vì vậy, để “chữa cháy,” trước mắt Sawaco dự kiến đầu tư 'họng nước' tại khu vực cầu An Nghĩa trong tháng 3, 2015 và tại ấp An Bình thuộc xã An Thới Ðông trong năm nay, nhằm hạ nhiệt dư luận. (Tr.N)

03-11- 2015 3:57:23 PM

Mỹ yêu cầu VN ngưng cho phép Nga sử dụng căn cứ Cam Ranh

RFA 11.03.2015
000_Hkg7400179.jpg
Cựu Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Leon Panetta nói chuyện với các thành viên của tàu USNS Richard E. Byrd khi con tàu thả neo tại vịnh Cam Ranh của Việt Nam hôm 03 tháng 6 năm 2012.AFP PHOTO / POOL / Jim Watson

Một viên chức Bộ ngoại giao Hoa Kỳ giấu tên nói rằng Washington có yêu cầu Hà nội ngưng cho phép Nga sử dụng căn cứ Cam Ranh để tiếp nhiên liệu cho các máy bay ném bom trong các chuyến phô tương sức mạnh tại khu vực Thái Bình Dương.

Hãng thông tấn Reuters loan tin này hôm qua và dẫn thêm lời viên chức ngoại giao vừa nêu rằng nước Mỹ tôn trọng quyền của Việt Nam được hợp tác với bất cứ quốc gia nào, nhưng Hoa Kỳ yêu cầu Việt Nam bảo đảm không để Nga sử dụng căn cứ Cam Ranh nhằm tiến hành những hoạt động có thể làm tăng căng thẳng trong vùng.

Phát biểu của viên chức ngoại giao giấu tên của Hoa Kỳ được đưa ra vào khi tướng Vincent Brooks chỉ huy lục quân Mỹ tại Thái Bình Dương nói là các máy bay ném bom của Nga gia tăng những chuyến bay tại một khu vực đầy căng thẳng giữa Trung Quốc, Nhật Bản và một số quốc gia Đông Nam Á. Ông này còn nói rõ máy bay Nga còn có những chuyến bay mang tính khiêu khích đến quanh đảo Guam, nơi có căn cứ không quân lớn của Mỹ ở Thái Bình Dương.

Tướng Vincent Brooks không nói rõ là có bao nhiêu chiếc máy bay Nga thực hiện các chuyến bay khiêu khích như thế, và thực hiện vào lúc nào. Nhưng ông khẳng định rằng điều đó bắt đầu xảy ra sau khi bắt đầu có căng thẳng giữa Nga và Mỹ sau những diễn biến chính trị tại Ukraine, nơi Nga sát nhập bán đảo Crimea và trợ giúp quân ly khai tại miền đông nước này.

Cũng theo lời tướng Brooks thì những chuyến bay này ngoài việc phô trương sức mạnh còn dùng để thu thập tin tức tình báo.

Hãng thông tấn Reuters nhắc lại là hồi tháng giêng năm nay Bộ quốc phòng Nga có nói rằng một máy bay tiếp liệu kiểu Ilyushin 78 đã sử dụng căn cứ không quân Cam Ranh của Việt Nam để tiếp nhiên liệu cho máy bay ném bom Con Gấu Tupolev 95.

Chưa thấy Việt Nam lên tiếng về lời đề nghị của phía Hoa Kỳ mà viên chức ngoại giao giấu tên vừa được Reuters loan đi.

Căn cứ Cam Ranh vốn là căn cứ quân sự của Mỹ thời chiến tranh Việt Nam. Sau chiến tranh Việt Nam Cam Ranh trở thành một căn cứ của hải quân Liên Xô. Vào năm 2001, tổng thống Vladimir Putin loan báo chấm dứt hợp đồng, rời khỏi căn cứ Cam Ranh.

Trong thời gian gần đây căn cứ này cũng đã mở cửa cho các tàu chiến Mỹ vào để sửa chữa.

Đừng bắt thế hệ sau trả giá!

11/03/2015 22:54

Sai lầm từ khâu lập quy hoạch dự án, khảo sát, thiết kế, thi công, quản lý, bảo trì… dẫn đến tai nạn rình rập tại những đoạn Quốc lộ 1 vừa nâng cấp xong và đưa vào sử dụng

Dự án nâng cấp mở rộng Quốc lộ 1 (QL1) từ Nam chí Bắc dài gần 1.000 km, dự kiến đến cuối năm 2015 cơ bản hoàn thành. Tuyến huyết mạch này đạt kỷ lục về huy động vốn, kỷ lục về khối lượng công trình nhưng cũng kỷ lục về... hiểm họa tai nạn giao thông (TNGT) từ những ngày khởi công.
Quy chuẩn an toàn không phù hợp
Ai đã từng lái ô tô hoặc xe máy trên một số đoạn đường QL1 mới vừa được nâng cấp mở rộng, đặc biệt là các dự án thành phần thiết kế theo tiêu chuẩn đường cấp 3 chỉ có 1 làn ô tô 1 chiều, đều cảm nhận được sự bất tiện và không an toàn.
Việc thi công nâng cấp, mở rộng Quốc lộ 1 phát sinh nhiều vấn đề khi tuyến Bắc - Nam này chạy qua khu vực đông dân cư. Trong ảnh: Người dân ở Thanh Hóa tự ý tháo dải phân cách để mở lối trên Quốc lộ 1 Ảnh: Thanh Tuấn
Việc thi công nâng cấp, mở rộng Quốc lộ 1 phát sinh nhiều vấn đề khi tuyến Bắc - Nam này chạy qua khu vực đông dân cư. Trong ảnh: Người dân ở Thanh Hóa tự ý tháo dải phân cách để mở lối trên Quốc lộ 1 Ảnh: Thanh Tuấn
Ban ngày, tại các đoạn đường có CSGT kiểm tra, xe chạy tốc độ chậm rì theo từng đoàn dài thật “dễ thương” nhưng khi không có CSGT thì lấn tuyến vượt mặt như phim hành động! Ban đêm, xe tải nặng và xe khách đường dài chạy nhiều, lực lượng CSGT ít có mặt, lúc bấy giờ xe máy và người dân sinh hoạt ven đường thường trở thành nạn nhân.
Mục tiêu dự án nâng cấp mở rộng QL1 không ngoài các nguyên tắc cơ bản là phải bảo đảm an toàn giao thông (ATGT). Tuy nhiên, những tai nạn thương tâm xảy ra nhiều trong quá trình triển khai thực hiện thi công cáchạng mục công trình của dự án trên suốt QL1 thời gian qua có phần do phương án bảo đảm ATGT không được chuẩn bị tốt hoặc không được nhà thầu thực hiện, thiếu kiểm tra, giám sát, chế tài từ chủ đầu tư và các cơ quan quản lý hữu quan.
Khi tai nạn xảy ra, cũng không có những đánh giá, phân tích nguyên nhân đúng sự thật, xử lý khắc phục qua loa. Có lẽ ai cũng mong đợi có con đường tốt qua địa phương mình nên dễ dàng bỏ qua hậu quả tai nạn trước các sức ép về vốn, về tiến độ, về giải phóng mặt bằng, thậm chí về chỉ tiêu thành tích.Thế nhưng, tai nạn rình rập tại những đoạn QL1 vừa nâng cấp xong đưa vào khai thác sử dụng lại có thể do một nguyên nhân khác, đó là lỗi từ kỹ thuật, xuyên suốt các công tác lập quy hoạch dự án, khảo sát, thiết kế, thi công, quản lý, bảo trì.
Nhiều sai lầm
Hệ thống tiêu chuẩn kỹ thuật ngành, đặc biệt là các tiêu chuẩn thiết kế liên quan đến ATGT cho QL1 bộc lộ nhiều bất cập. Tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN) thường chỉ cứng nhắc vào chuyện quyết định cấp đường, từ đó tính ra các thông số kinh tế kỹ thuật như vận tốc, trắc ngang đường…, thậm chí các thông số liên quan an toàn như tầm nhìn, bán kính đường cong, tổ chức giao thông… cũng cứ theo cấp đường đã được phê duyệt. Chỉ cần quyết định chọn cấp đường không đúng là mất ngay tính hiệu quả, sự bền vững và an toàn của dự án.
Cụ thể, dự án nâng cấp mở rộng QL1 chia ra nhiều dự án nhỏ qua từng địa phương hoặc vùng. Từng dự án thành phần lại có cấp đường khác nhau phụ thuộc vào lưu lượng xe và tính chất, đặc điểm khu vực hưởng lợi từ dự án, gồm cả đường cao tốc, cấp 1, cấp 2, cấp 3, cấp 3 “châm chước” (khái niệm chưa có trong TCVN). Ở các dự án nâng cấp mở rộng đường cấp cao từ cấp 2 trở lên, TNGT xảy ra do chưa kịp thi công các hạng mục về tổ chức giao thông như cọc tiêu, biển báo, sơn đường, dải phân cách, thoát nước…
Trong khi đó, với các dự án thiết kế đường cấp 3 (theo TCVN 4054-2995), chỉ có 1 làn ô tô mỗi chiều, không có dải phân cách cứng ở giữa. Do phần lớn chủng loại xe lưu thông trên QL1 vận tốc không đều, có nhu cầu vượt xe thường rất lớn nên nguy cơ TNGT trong thời gian sắp đến chắc chắn xảy ra rất nhiều. Phải nói ngay là với QL, dứt khoát không có cấp 3, vì với 1 làn ô tô chạy mỗi chiều và cho phép vượt là đã quá lạc hậu và không bảo đảm ATGT.
Đúng ra, nếu thiết kế nâng cấp mở rộng toàn dự án đều là 4 làn ô tô (mỗi chiều 2 làn) theo tiêu chuẩn đường cấp 2 trở lên (đây cũng là chỉ đạo và mong muốn của Thủ tướng Chính phủ) thì quá an toàn và tạo hiệu quả bền vững. Rất tiếc, vì những lý do nào đó mà các đơn vị tư vấn đã vận dụng máy móc hoặc không tính toán chính xác lưu lượng xe và chọn cấp đường đúng theo TCVN 4054-2005, để rồi lãnh đạo Bộ Giao thông Vận tải quyết định chọn đường cấp 3, dẫn đến những chuyện dở cười dở khóc, rủi ro xảy ra ngay trên các đoạn đường vừa nâng cấp.
Chắc chắn trong tương lai, các thế hệ sau của chúng ta sẽ phải tiếp tục trả giá vì cách làm đường theo tư duy cũ kiểu như sửa chữa, nâng cấp QL1 bây giờ.
(*) Xem Báo Người Lao Động từ số ra ngày 9-3
Không có dự án đầu tư giao thông vận tải nào trên thế giới mà không gặp rủi ro. Bài toán ATGT luôn có lời giải mở và bền vững nếu Bộ Giao thông Vận tải làm tốt từ công tác quy hoạch, thiết kế, xây dựng tiêu chuẩn và tất nhiên cần quyết tâm đổi mới từ tư duy đến con người.

Người dân tự ý tháo dải phân cách
Thời gian gần đây, tuyến QL1 chạy qua địa bàn các huyện Quảng Xương, Tĩnh Gia, Hoằng Hóa, Hà Trung... của tỉnh Thanh Hóa bị người dân tự ý tháo dải phân cách và bảng chống chói để mở lối đi trái phép, gây thiệt hại tài sản nhà nước và tạo thành các “điểm đen” mới cho người và phương tiện tham gia giao thông. Đến ngày 11-3, Chi cục Quản lý Đường bộ II báo cáo có 34 điểm bị người dân tự ý mở lối đi, tháo bỏ 47 cục bê-tông dải phân cách cứng và 24 bảng chống chói.
Trước tình hình trên, UBND tỉnh Thanh Hóa đã có công văn yêu cầu các cấp chính quyền phối hợp với Ban Quản lý dự án 1 và nhà thầu thi công khắc phục tình hình, xử lý nghiêm đối với những đối tượng cố tình vi phạm.
T.Tuấn

TS Phạm Sanh

Nhậu say, đánh cả công an

(NLĐO)- Sau khi đi nhậu về, bị công an phường ra tín hiệu dừng xe kiểm tra, đối tượng Quang đã đánh 2 công an bị thương.
Chiều 12-3, Cơ quan CSĐT Công an quận Cái Răng (TP Cần Thơ) cho biết, đang hoàn tất hồ sơ khởi tố bị can đối với Mã Cẩm Quang (27 tuổi, ngụ phường Lê Bình, quận Cái Răng, TP Cần Thơ) về hành vi chống người thi hành công vụ.
Theo điều tra, tối 3-3, sau khi đi nhậu về, Quang điều khiển xe mô tô chạy trên đường Trần Hưng Đạo (thuộc phường Lê Bình) nhưng không đội mũ bảo hiểm. Tổ tuần tra công an phường ra tín hiệu yêu cầu Quang dừng xe để kiểm tra. Tuy nhiên, Quang không chấp hành mà còn lên ga bỏ chạy nên bị lực lượng công an truy đuổi.
Mã Cẩm Quang tại cơ quan công an
Mã Cẩm Quang tại cơ quan công an
Khi bị công an đuổi kịp, Quang dừng xe lao tới đánh Thượng sĩ Lư Hiếu Trung và Thiếu úy Lê Đình Tuyến bị thương. Sau đó, Quang bỏ trốn và bị Công an quận Cái Răng phát hiện, bắt giữ.
Tại cơ quan công an, Quang khai nhận do uống rượu say, không điều khiển được hành vi và không nhớ là đã từng đánh công an. Hiện cơ quan điều tra đang tạm giữ nghi phạm này để điều tra.
Tin-ảnh: C.Linh

Thơ bị khắc sai chính tả tại Tượng đài Mẹ Việt Nam Anh hùng


(NLĐO) - Hàng loạt bài thơ được khắc trên các phiến đá trắng trong khuôn viên Công trình Tượng đài Bà Mẹ Việt Nam Anh hùng ở tỉnh Quảng Nam bị khắc sai lỗi chính tả

Tại buổi họp báo tuyên truyền kỷ niệm 40 năm ngày giải phóng tỉnh Quảng Nam (24.3.1975 - 24.3.2015) và 85 năm ngày thành thành lập Đảng bộ tỉnh Quảng Nam (28.3.1930 – 28.3.2015) vào chiều 12-3, ông Nguyễn Chín, Phó chủ tịch UBND tỉnh Quảng Nam, thừa nhận có tình trạng khắc chữ sai lỗi chính tả trên các phiến đá trắng trong khuôn viên Công trình Tượng đài Bà Mẹ Việt Nam Anh hùng - công trình văn hóa cấp quốc gia sẽ được khánh thành vào ngày 24-3.
 Thơ bị khắc sai chính tả tại Tượng đài Mẹ Việt Nam Anh hùngSai chính tả trong bài Đất nước của tác giả Tạ Hữu Yên
Ông Chín cho biết, đã chỉ đạo các đơn vị liên quan chỉnh sửa lại những chỗ bị khắc sai chính tả. Mười đoạn thơ khắc trên đá trắng dựng tại khu vực tượng đài được chọn từ các tác phẩm tiêu biểu, khắc họa hình ảnh người mẹ ở cả 3 miền Bắc, Trung và Nam. Những đoạn thơ trên đã được Hội Văn học nghệ thuật tỉnh thẩm định, lãnh đạo tỉnh duyệt, nhưng trong quá trình khắc lên đá thì đã xảy ra những lỗi không đáng có.
Công trình Tượng Đài Bà Mẹ Việt Nam Anh Hùng lấy nguyên mẫu từ mẹ Nguyễn Thị Thứ (xã Điện Thắng, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam) có 11 người con và cháu hy sinh trong hai cuộc đấu tranh chống Pháp và Mỹ). Công trình được xây dựng trên khuôn viên rộng 15 ha, khởi công từ tháng 7-2007 với tổng mức đầu tư hơn 411,2 tỉ đồng, tọa lạc tại khu vực núi Cấm (xã Tam Phú, TP Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam). Đây là công trình văn hóa cấp quốc gia, được chọn từ phác thảo của họa sĩ Đinh Gia Thắng và kiến trúc sư Nguyễn Luận.
12/03/2015 20:49
Tin-ảnh: Tr.Thường

Thượng tá công an tử nạn trên xa lộ Hà Nội

Va chạm với xe đầu kéo khi đang lưu thông trên Xa lộ Hà Nội, thượng tá công an TP HCM tử nạn.

Trước đó, khoảng gần 6h ngày 10/3, ông Nguyễn Xuân T. (55 tuổi, ngụ quận 1) điều khiển xe máy lưu thông trên Xa lộ Hà Nội theo hướng từ Thủ Đức về trung tâm thành phố.
Thuong ta cong an tu nan tren xa lo Ha Noi
Chiếc xe máy của thượng tá công an bị bẹp dúm biến dạng sau vụ TNGT trên XLHN. 
Khi đến cách cầu Rạch Chiếc (phường Trường Thọ, quận Thủ Đức, TP HCM), xe máy của ông T. xảy ra va chạm với xe đầu kéo container khiến nạn nhân bị bánh xe cán tử vong; chiếc xe máy bị bẹp dúm hư hỏng hoàn toàn.
Theo thông cáo của Đảng ủy Phòng Tham mưu công an TP HCM, ông T. mang cấp hàm thượng tá và nguyên là Chuyên viên Giám đốc Công an thành phố. 
PV