Sunday, November 16, 2014

Hợp tác phát triển ở biển Đông là điều khó xảy ra

bien-dong-622.jpg
Hội thảo về những căng thẳng trên biển Đông và tương lai của một giải pháp điều hòa căng thẳng cũng như hợp tác giữa các nước trong khu vực, tại Hiệp hội Châu Á (Asia Society) ở New York, ngày 12 tháng 11 năm 2014.Courtesy Asia Society
Việt Hà, phóng viên RFA 2014-11-15
Vào chiều ngày 12 tháng 11, tại Hiệp hội Châu Á (Asia Society) ở New York, đã diễn ra một buổi hội thảo về những căng thẳng trên biển Đông và tương lai của một giải pháp điều hòa căng thẳng cũng như hợp tác giữa các nước trong khu vực.

Chiến lược lâu dài của TQ tại biển Đông

Buổi hội thảo có tên biển Đông, con đường đến Hòa bình, do Hiệp hội Châu Á tổ chức vào chiều ngày 12 tháng 11 quy tụ những học giả Mỹ và Trung Quốc với mong muốn trả lời những câu hỏi còn gây nhiều bất đồng giữa các nước và các chuyên gia quốc tế liên quan đến căng thẳng tại biển Đông. Đó là những câu hỏi về lý do tại sao tình hình trong khu vực trở nên căng thẳng hơn kể từ sau những năm 2008, 2009, liệu Trung Quốc và các nước có tranh chấp trong khu vực có thể sớm có được một hướng tiến tới giải pháp hòa bình cho những xung đột tại đây.
Nhà phân tích địa chính trị của Hoa Kỳ, Robert Kaplan, người đã có nhiều bài viết và sách về biển Đông, mở đầu cuộc hội thảo với một bài phân tích chỉ ra lý do tại sao Trung Quốc trở nên hung hăng hơn tại biển Đông thời gian qua và ý nghĩa của biển Đông trong chiến lược dài hạn của Trung Quốc trên thế giới.
Chuyên gia Robert Kaplan đã so sánh tình hình biển Đông hiện tại với sự thống trị của Trung Quốc với tình hình vùng biển Caribbean ở phía đông bán cầu với sự thống trị của Mỹ vào hồi giữa thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20. Theo ông Trung Quốc đã sử dụng một chiến lược tương tự như Mỹ đã dùng ở Caribbean để đẩy những nước khác ra khỏi khu vực này và trở thành nước thống trị vùng đông bán cầu. Vì vậy, ông lập luận biển Đông ở Châu Á cũng quan trọng với Trung Quốc không kém gì tầm quan trọng của Caribbean với Mỹ. Theo chuyên gia Robert Kaplan, cách làm của Trung Quốc tại biển Đông cũng giống như cách thức mà Mỹ đã tiến hành để thống trị vùng Caribbean.
Trung Quốc đang Phần Lan hóa các nước Việt Nam, Malaysia, và Philippines, trong khi tìm mọi cách tránh các xung đột với hải quân Mỹ.
-Robert Kaplan
“Điều mà Mỹ đã làm từ giữa thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20 là từ từ đẩy sức mạnh của châu Âu ra khỏi vùng Caribbean rộng lớn. Và Trung Quốc cũng làm tương tự theo kểu đẩy lực lượng hải quân ra ngoài để làm giảm khả năng hoạt động của hải quân Mỹ ở miền đông và biển Đông… Hành động của Mỹ ở Caribbean cũng không hiếu chiến như mọi người nghĩ. Khi chúng ta đẩy hải quân Anh Pháp ra ngoài, chúng ta cũng hợp tác với hải quân hoàng gia Anh để chống lại đường buôn bán nô lệ cũng như cách mà Trung Quốc đang làm tại biển Đông là nhẹ nhàng. Trung Quốc đang Phần Lan hóa các nước Việt Nam, Malaysia, và Philippines, trong khi tìm mọi cách tránh các xung đột với hải quân Mỹ.”
Nói về mục tiêu dài hạn độc chiếm biển Đông của Trung Quốc, chuyên gia Robert Kaplan cho biết:
“Vậy biển Đông có ý nghĩa thế nào với Trung Quốc? nó giúp Trung Quốc có sự kiểm soát không nhiều thì ít tương tự như vai trò của Caribbean đối với Mỹ. Nó cho phép hải quân Trung Quốc có tiếp cận không hạn chế tới Thái Bình Dương và quan trọng hơn là vào Ấn Độ Dương qua eo Malacca… Ấn Độ Dương là đường giao thương giữa nhiều nước trên thế giới nơi dầu và khí đốt được chuyển từ trung đông đến các thành phố lớn ở Trung Quốc, Nhật Bản và Nam Hàn…
Lý do Trung Quốc có thể có những hành động mạnh mẽ như vậy bắt đầu từ những năm 2008 trở lại đây, theo chuyên gia Robert Kaplan, là vì hải quân Trung Quốc đã đủ mạnh để có thể cho phép Trung Quốc phô trương sức mạnh và Hoa Kỳ đã quá bận rộn tại khu vực Trung Đông trong một thời gian dài mà bỏ quên Châu Á và khiến chiến lược chuyển trục của Mỹ về lại Châu Á Thái Bình Dương bị muộn mất 20 năm.

Tại sao biển Đông căng thẳng từ năm 2008?

Câu hỏi được bàn thảo khá nhiều tại hội thảo là nguyên nhân tại sao tình hình biển Đông trở nên căng thẳng hơn kể từ những năm 2008 và 2009. Học giả đến từ Trung Quốc, giáo sư Zha Daojiong, giảng dạy môn kinh tế chính trị quốc tế tại trường đại học Bắc Kinh, không đồng ý với lý giải của tác giả Robert Kaplan. Ông Daojiong cho rằng Bắc Kinh đã hoàn toàn bất ngờ trước những phản ứng mạnh mẽ và quan tâm đột ngột của các nước nhất là Mỹ vào vấn đề biển Đông bắt đầu từ năm 2008 và 2009.
001_GR368325.jpg
Bản đồ Biển Đông với đường lưỡi bò do TQ đơn phương công bố nhằm chiếm trọn Biển Đông, vị trí dàn khoan HD 981 và dàn khoan thứ hai do TQ thiết lập hồi tháng 6 năm 2014.
“Thực sự mà nói đối với phần lớn chúng tôi ở Bắc Kinh, chúng tôi rất ngạc nhiên vào khoảng những năm 2008, 2009 khi có những quan tâm mới đối với chủ quyền ở khu vực biển Đông. Sự ngạc nhiên được chỉ ra bắt đầu từ cuộc họp diễn đàn an ninh khu vực ARF ở Hà Nội mà ở đó Ngoại trưởng Hoa Kỳ Hillary Clinton đã lên tiếng mạnh mẽ, và Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc lúc đó được đưa tin là có phản ứng tức giận. Và sau nhiều năm chúng tôi biết được ông ấy đã hoàn toàn bất ngờ khi đó. Rất nhiều người chúng tôi ở Bắc Kinh cho rằng chúng tôi bị bắt buộc phải nói tới vấn đề này vốn đã ngủ yên trong nhiều thập kỷ.”
Giáo sư Zha Daojiong cũng cho rằng Việt Nam và Malaysia đã làm căng thẳng thêm tình hình khi quyết định nộp hồ sơ chung về thềm lục địa mở rộng lên Liên Hiệp Quốc vào năm 2009 bất chấp sự can ngăn từ phía Trung Quốc.
Học giả Holly Morrow, chuyên gia về địa chính trị thuộc Trung tâm khoa học và các vấn đề quốc tế Belfer của đại học Havard, thì cho rằng tình hình trở nên căng thẳng hơn bắt đầu từ năm 2008 là do những yếu tố suy yếu từ nước Mỹ và việc Trung Quốc tổ chức thành công Olympic 2008.
Ý kiến của học giả Trung Quốc và các học giả Hoa Kỳ cũng không thống nhất với nhau liên quan đến đường đứt khúc 9 đoạn mà Trung Quốc vẽ ra tại biển Đông. Các học giả Hoa Kỳ khẳng định bản đồ mà Trung Quốc vẽ ra trên biển Đông là một điều vô lý. Học giả Peter Dutton, Giám đốc viện nghiên cứu biển Trung Hoa, nói:
“Đó là một sự lộn xộn, theo luật pháp thì thì tôi tin là nó không thể có cơ sở. Tôi đã nghe các học giả Trung Quốc lập luận rằng nó có thể được chứng theo luật nhưng tôi không thấy được điều này.”

Tương lai về giải pháp hòa bình

Đó là một sự lộn xộn, theo luật pháp thì thì tôi tin là nó không thể có cơ sở. Tôi đã nghe các học giả Trung Quốc lập luận rằng nó có thể được chứng theo luật nhưng tôi không thấy được điều này.
-Peter Dutton
Câu hỏi về một tương lai cho một giải pháp hòa bình ở biển Đông cũng được bàn thảo ở phần cuối của buổi hội thảo.
Học giả Trung Quốc cho rằng việc Hoa Kỳ chuyển trọng tâm chiến lược về Châu Á Thái Bình Dương và giúp đỡ các nước Việt Nam và Philippines trong bảo vệ chủ quyền đã khiến nhiều người Trung Quốc lo ngại và nghĩ rằng Hoa Kỳ đang cố gắng kiềm chế Trung Quốc. Trong khi đó, học giả Holly Morrow thì nói quan điểm cho rằng Mỹ kiềm chế Trung Quốc chỉ đúng khi Trung Quốc tiếp tục các hành động mạnh mẽ lấn lướt các nước láng giềng để khẳng định chủ quyền và đẩy Mỹ ra khỏi khu vực.
Học giả Trung Quốc cũng nhìn nhận sự khó khăn trong việc đạt được một Bộ quy tắc về ứng xử của các bên trên biển Đông (gọi tắt là COC) vì theo ông, để bộ quy tắc có tính ràng buộc, các điều kiện cần phải có là các nước phải thống nhất về việc thiết lập những cơ chế phán xét và giám sát có tính pháp lý và điều này là rất khó.
Khả năng về hợp tác phát triển cũng được bàn tới như một hướng tiến tới giải pháp hòa bình ở biển Đông. Học giả Peter Dutton cho rằng, các nước có thể trước hết hợp tác khai thác cá vốn là điều đã xảy ra hàng thế kỷ qua tại khu vực khi ngư dân các nước cùng đánh bắt chung ở ngư trường truyền thống.
Tuy nhiên ông nhìn nhận, việc hợp tác khai thác dầu và khí đốt là điều khó có thể xảy ra. Đánh giá chung của các học giả về một triển vọng hợp tác phát triển chung trong khu vực có thể nói là không mấy sáng sủa. Nhưng đây cũng chính là hướng được nhìn nhận có thể góp phần xây dựng lòng tin giữa các nước để tiến tới một giải pháp hòa bình.

Lời Vàng Ý Ngọc

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến 

Con người mất cả liêm sỉ là con người bỏ; huống chi cả một đám người mất cả liêm sỉ, mà còn mong gì được ư?
Phan Khôi         
Mấy lúc gần đây, ngó bộ, GS Nguyễn Văn Tuấn mỗi lúc một thêm ... khó chịu. Ổng xét nét (thấy rõ) và bắt bẻ liền liền:
Những người lãnh đạo giỏi và có bản lĩnh họ không chỉ nói, mà còn thực hiện những gì họ nói. Ngay cả cách nói, mỗi một lần phát biểu họ đều để lại những câu mà báo chí có thể trích dẫn (quotable words) hay làm cho người nghe phải suy nghĩ vì nó có cái wisdom trong đó...
Nhìn lại giới lãnh đạo VN, tôi thấy hình như họ không có cái tư chất về ăn nói của chính khách phương Tây. Chính khách VN quen với đường mòn chữ nghĩa mang đậm bản chất XHCN nên họ chỉ loanh quanh những câu chữ quen thuộc.
Họ không nói được cái gì cụ thể, mà chỉ xoay quanh các khẩu hiệu quen thuộc, kiểu như “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.” Đọc qua nhiều bài phát biểu của các lãnh đạo VN tôi nhận ra vài đặc điểm chính (có thể chưa đủ) như sau:
Thứ nhất là tính chung chung, không có một cái gì cụ thể…
Thứ hai là dùng nhiều sáo ngữ…
Thứ ba là không có thông tin (lack of information). Có nhiều lãnh đạo VN quen tính nói rất nhiều, nhưng nếu chịu khó xem xét kĩ chúng ta sẽ thấy họ chẳng nói gì cả. “Chẳng nói” vì những gì họ nói ra không có thông tin, tất cả chỉ là những câu chữ lắp ráp vào nhau cho ra những câu văn chứ không có dữ liệu ...
Thứ tư là ngôn ngữ khẩu hiệu. Có thể nói rằng rất rất nhiều bài nói chuyện và diễn văn của các lãnh đạo VN chỉ là những khẩu hiệu được lắp ráp vào với nhau...
Những câu văn thượng dẫn chỉ là ý chính trong một bài viết ("Và i Đặc Điểm Trong Các Phát Biểu Của Lãnh Đạo Việt Nam”) của G.S Nguyễn Văn Tuấn. Ghi lại nguyên bài (hổng dài, chưa tới 2.000 chữ) tôi không ngại chuyện mất thì giờ mà chỉ sợ lỡ có vị lãnh đạo đọc rồi  ... nhẩy cầu Bình Lợi, hay cầu Hàm Rồng thì tội chết.
G.S. Tuấn nhận xét tuy không sai nhưng (nói nào ngay) cũng chưa hoàn toàn đúng. Quả là những lời phát biểu của giới lãnh đạo Việt Nam (thường) rất chung chung, toàn sáo ngữ, và cứ y như hô khẩu hiệu chớ không có thông tin gì ráo trọi nhưng không phải lúc nào cũng vậy đâu nha.
Ngày 15 tháng 11 vừa qua, độc giả của trang Dân Luận có vị đã  “đề xuất”  hết sức hào hứng như sau:
“Ta nên có cuộc thi xem ai nói bậy bạ hơn . Sẽ rất căng thẳng đấy!”
Có lẽ vì rất thích “không khí căng thẳng” nên (khi chưa bị túm) có lúc nhà báo Trương Duy Nhất đã bỏ công sưu tập những câu nói ấn tượng hàng năm: (“Top ten phát ngôn ấn tượng 2011,” Top ten phát ngôn ấn tượng 2012”). Sau này, vì qúi vị lãnh đạo phát biểu “liên tục” và gây ấn tượng “liên miên” nên ông ghi nhận theo ngày (“Sáu Mươi Ngày Những Phát Ngôn Ấn Tượng”).
Ngày nào mà không có đôi câu ... bất hủ: “Ta và Trung Quốc cần hòa bình, hữu nghị, hợp tác, đoàn kết để hai dân tộc cùng tiến lên chủ nghĩa xã hội.
Ông Chủ Tịch Quốc Hội Nguyễn Sinh Hùng nói về quan hệ Việt Trung như rứa đó (vào năm 2011) và chắc nghe chưa được tình nghĩa lắm nên mới đây ông Nguyễn Bắc Việt, Đại Biểu Quốc Hội tỉnh Ninh Thuận – Ủy Viên Ban Thường Vụ Tỉnh Ủy, Phó Trưởng Đoàn Đại Biểu Quốc Hội –  bèn thêm đôi câu cho thêm phần thắm thiết:
       - Thứ nhất, phải làm sao gặp gỡ tiếp xúc với Trung Quốc để làm dịu tình hình biển Đông, sớm đưa lại tình hình như trước khi xảy ra sự kiện. Thứ hai, xử lý nghiêm minh theo pháp luật các đối tượng kích động, thông báo công khai...
      - Hai nước xã hội chủ nghĩa lình xình với nhau như thế này, ai có lợi…
Nghĩ sao nói vậy, một cách hết sức hồn nhiên và hình tượng  – xem ra – đã trở nên một nét đặc trưng của giới lãnh đạo Việt Nam:
       - Đừng để cán bộ viên chức giống như con gì trong rạp xiếc, có cho nó ăn cái hột gì đó nó mới làm. (Ông Nguyễn Bá Thanh - BTTU Đà Nẵng).
       - Tòa án là cơ quan xét xử duy nhất, xét xử 2 cấp nên nếu thấy quyết định trái pháp luật thì có quyền hủy, trừ quyết định của Thủ tướng. (Chánh án Tòa tối cao Trương Hoà Bình).
Blogger Lê Anh Hùng đã có nhận xét như sau:
“... trong giới quan chức ở Việt Nam hiện nay hầu như ai cũng giữ được nét ‘hồn nhiên’ đáng yêu của mình cả. Này nhé, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã để lại dấu ấn khó phai trong lòng công chúng với lời chia sẻ:
Xảy ra chuyện như Vinashin, cuối cùng Thủ tướng đứng ra nhận trách nhiệm. Tôi nhận trách nhiệm chính trị với tư cách người đứng đầu Chính phủ, chứ tôi cũng không ra quyết định nào sai’ (!!!), hay lời giãi bày: ‘Trong sự nghiệp của mình, tôi không có chạy, không có xin, không thoái thác, từ chối nhiệm vụ nào Đảng phân công. Tôi sẽ tiếp tục thực hiện công việc mà Đảng và nhà nước giao phó’ (!!!)
 Bộ trưởng GTVT Đinh La Thăng thì khiến bao người ngẩn ngơ với lời bộc bạch: ‘Tôi bổ nhiệm ông [Dương Chí] Dũng làm Cục trưởng để cứu Vinalines (!!!), hay tuyên bốViệc đóng phí [giao thông] thể hiện sự yêu nước nên người dân phải thấy hạnh phúc và tự hào’ (!!!)
Thống đốc NHNH Nguyễn Văn Bình thật xứng đáng với danh hiệu ‘Nhân vật của năm 2011”: “Dân có vàng thì dân giàu, mà nhà nước giữ vàng (của dân) thì nước sẽ mạnh (!!!)
Bộ trưởng Xây dựng Trịnh Đình Dũng thì thật thà: ‘Câu trả lời [chất vấn] đã có nhưng lại để ở nhà (!!!); Phó Chủ nhiệm Ủy ban Biên giới Quốc gia Nguyễn Duy Chiến thì ‘đi guốc trong bụng’ người anh em ‘4 tốt 16 chữ vàng’: ‘Việc Trung Quốc cắt cáp tàu Bình Minh 2 và Viking 2 của Việt Nam là thể hiện tình cảm ‘yêu cho đòn cho vọt’ (!!!)
 Phó Chủ tịch UBND Tp Hải Phòng thì lúc nào cũng nghĩ đến dân: ‘Dân bất bình nên phá nhà anh [Đoàn Văn] Vươn (!!!); ông Cục trưởng Cục CSGT thì phàn nàn: ‘CSGT nhận hối lộ là hành vi tiêu cực chứ không phải là tham nhũng (!!!); còn Trưởng Công an huyện Văn Giang thì thổ lộ: Vụ 2 nhà báo bị 2 công an và 3 người khác hành hung tại dự án Ecopark là do họ ‘tưởng nhà báo là … người dân (!!!); v.v. và v.v.
Tôi còn tìm ra được một FB chuyên trị về “Những Phát Ngôn Ấn Tượng,” xin trích dẫn vài câu (cùng hình ảnh) xem chơi:
       - Chính phủ họp đảm bảo không có phong bì. ( BộTtrưởng, Chủ Nhiệm Văn Phòng Chính Phủ Nguyễn Văn Nên).
     
 - Hiện rất ít nước quản lý không bài bản như Việt Nam. (Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hà Hùng Cường).

       - Tai nạn xảy ra là điều không ai mong muốn, song đừng đề cập đến trách nhiệm thuộc về ai, ngành nào, mà trách nhiệm thuộc về toàn dân. (Nguyễn Đạt TườngTGĐ Tổng công ty đường sắt VN).


       -EVN tăng giá điện 5% là có trách nhiệm với nhân dân. (Bộ trưởng Vũ Huy Hoàng
  •    
  •   - Đường Trường Chinh không cong hẳn mà cong mềm mại. (Ông Dương Đức Tuấn, Phó giám đốc Sở Quy hoạch kiến trúc TP.Hà Nội.
  • Tất cả những câu phát biểu hồn nhiên hay hình tượng (dẫn thượng) có điểm chung vô cùng qúi hoá là nghe cái hiểu liền, chỉ có câu sau đây  của ông chí T.B.T Nguyễn Phú Trọng là hơi bị khó:
  • “Nói biển Đông không phải chỉ là biển Đông. Nói biển Đông không phải chỉ quan hệ ta với Trung Quốc. Nói biển Đông không phải toàn bộ vấn đề biển Đông, nó chỉ có một cái chỗ quần đảo Hoàng Sa với lại quần đảo Trường Sa …”  
  • Hiểu chết liền!
    Bởi vậy khi nghe các đồng chí lãnh đạo loanh quanh những khẩu hiệu quen thuộc, đầy sáo ngữ, chả có thông tin gì ráo trọi, tất cả chỉ là những câu chữ lắp ráp vào nhau ... toàn dân nên lấy đó làm mừng. Mừng là ít ra chúng ta còn biết là họ đang hô khẩu hiệu về một vụ gì đó, chớ nói biển Đông không phải chỉ là biển Đông. Nói biển Đông không phải chỉ quan hệ ta với Trung Quốc. Nói biển Đông không phải toàn bộ vấn đề biển Đông, nó chỉ có một cái chỗ quần đảo Hoàng Sa với lại quần đảo Trường Sa …” thì (đ... mẹ) nói thiệt là chắc Trời – may ra – mới hiểu.
  • Sat, 11/15/2014 - 11:44 — tuongnangtien

Việt nam: Còn cần có Quốc hội nữa hay không?


Sau hàng loạt các vụ "lùm sùm" xung quanh các phát biểu gây cười trong nghị trường, và hành động xỉ nhục bạn Đại biểu Quốc hội (ĐBQH) của các ông nghị bà nghị thuộc Quốc hội Việt nam. Một lần nữa những ngày này dư luận xã hội ở Việt nam lại nóng lên với việc Quốc hội sẽ tiến hành lấy phiếu tín nhiệm với 50 chức danh do Quốc hội bầu và phê chuẩn trong một phiên họp kín vào ngày 15.11 sắp tới.

Vài nét về Quốc hội VN

Theo Hiến pháp Việt nam, Quốc Hội là cơ quan lập pháp, có nhiệm vụ quyết định và kiểm soát những vấn đề lớn, các chính sách và hoạt động của bộ máy nhà nước. ĐBQH là những người ưu tú về phẩm chất, năng lực, do cử tri trực tiếp bầu ra và thay mặt cử tri thực hiện quyền lực nhà nước tại Quốc Hội. ĐBQH có nhiệm vụ trình và biểu quyết thông qua các dự án luật, các nghị quyết của Quốc hội; chất vấn và bỏ phiếu tín nhiệm đối với các chức danh do Quốc hội bầu hoặc chỉ định như Chủ tịch Nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng v.v...

Tuy nhiên trên thực tế, việc hầu hết các Dự thảo Luật đều do các Bộ, Ngành trực thuộc Chính phủ - cơ quan Hành pháp đề xuất, để cho Quốc hội làm nhiệm vụ thảo luận và thông qua là chuyện thường xuyên xảy ra ở cơ quan Lập pháp cao nhất. Đó là việc đã để cho cơ quan Hành pháp làm thay việt của cơ quan Lập pháp trong việc xây dựng các bộ Luật. Đây là một đặc thù đồng thời là một nhược điểm khá trầm trọng của Quốc hội Việt nam. Đây được cho là hậu quả của vấn đề dân chủ hình thức, thiếu thực chất trong việc lựa chọn nhân sự của Quốc hội trong cơ chế "Đảng cử, Dân bầu". Nguyên nhân chính, dẫn đến việc này là do các ĐBQH đa số là không đủ năng lực, thiếu chuyên môn và hiểu biết cần có để tham gia trong công việc xây dựng pháp luật.

Điều đó dẫn tới việc các ĐBQH không làm đúng vai trò của thành viên cơ quan lập pháp, thay vì việc đề xuất, giới thiệu các dự luật quan trọng và cần thiết liên quan đến hoạt động của các tổ chức hay quyền lợi của người dân v.v... thì các ĐBQH lại đi vào các vấn đề không quan trọng, mang tính tiểu tiết thậm chí là các đề nghị xâm phạm quyền lợi hợp pháp của người dân đã được pháp luật quy định.

Từ những phát ngôn và hành động gây sốc của ĐBQH...

Vừa qua, truyền thông trong nước đề cập khá nhiều tới các phát biểu và hành động chưa phù hợp của các ĐBQH. Đó là việc liên tiếp có các ĐBQH có những phát biểu mang tính phản cảm ở nghị trường, điều đó cho thấy các vị ĐBQH này có vấn đề trong việc nhận thức và tư duy, đã khiến cho họ chưa thật hiểu những gì họ nói. Điều này đã khiến dư luận băn khoăn về chất lượng và trình độ của thành viên cơ quan lập pháp Việt Nam.

Ví dụ như, chuyện ĐBQH Nguyễn Thị Nhung thuộc Đoàn ĐBQH tỉnh Thanh hóa yêu cầu Quốc Hội xây dựng một luật mới là Luật Đặt tên, mà theo vị ĐBQH này thì quy định đặt tên phải thuần Việt, sao cho hợp văn hóa truyền thống, phong tục tập quán. Đề nghị của vị ĐBQH này được biết đã trái với quy định Điều 26 Bộ luật Dân sự nước CHXHCN Việt Nam đã quy định là “Công dân có quyền đối với họ, tên. Họ tên của một người được xác định theo tên khai sinh của người đó”. Hay đối với trẻ có cha hoặc mẹ là người nước ngoài thì Nghị định 158/2005/NĐ-CP của Chính phủ cũng có quy định rõ là: “Việc đặt tên Việt Nam hay tên nước ngoài là theo sự lựa chọn của cha mẹ.”. Cũng như việc đại biểu Trần Thị Quốc Khánh thuộc Đoàn ĐBQH Hà nội vừa đề nghị phải đưa dịch vụ "ngủ ôm trong sáng" vào danh mục cấm, cho dù dự thảo Luật Đầu tư đã quy định rất rõ là mại dâm được xếp vào một trong 6 ngành, nghề bị cấm đầu tư kinh doanh.

Hoặc chuyện TS. Luật - ĐBQH Đỗ Văn Đương, người phản đối việc quy định về quyền im lặng trong dự thảo Bộ luật Tố tụng hình sự (sửa đổi), cho rằng: “đây là chuyện kiểu như vẽ đường cho hươu chạy để bọn tội phạm lộng hành”. Không những thế, ĐBQH Đỗ Văn Đương còn cho rằng “thực chất luật sư Việt Nam chỉ bào chữa cho những người có tiền”, với lập luận luật sư đi bào chữa thì đương nhiên phải có thù lao, chứ nếu không thì “sống bằng không khí mà đi bào chữa à?". Phản ứng về phát biểu này, ông Lê Thúc Anh - Chủ tịch Liên đoàn Luật sư Việt Nam đã cho rằng, đây không chỉ là một nhận định thiếu căn cứ mà còn hoàn toàn trái với quy định tại Điều 3, luật Luật sư. Mà còn không phù hợp với nguyên tắc về đảm bảo quyền tự bào chữa và nhờ người khác bào chữa được xác định là một trong những quyền cơ bản của con người được ghi nhận trong Hiến pháp.

Mới đây nhất là sự việc ĐBQH Hoàng Hữu Phước "công kích, bôi nhọ" với mục đích cố tình làm nhục ĐBQH Trương Trọng Nghĩa thông qua các bài viết trên blog cá nhân. Được biết, cho dù cách đây chưa lâu vị ĐBQH này cũng đã từng xin lỗi và thừa nhận mình đã có những lời lẽ không đúng mực với đại biểu Dương Trung Quốc, khi nói ĐBQH Dương Trung Quốc mắc chứng "Tứ Đại Ngu".

Đánh giá các nhược điểm của Quốc hội Việt nam, chuyên gia Kinh tế Bùi Kiến Thành cho rằng: “Quốc Hội Việt Nam rất đặc biệt là nó tập hợp rất nhiều lĩnh vực với nhiều kinh nghiệm khác nhau. Ở Việt Nam mấy người vào Quốc Hội như mấy ông sư hay tướng tá là một việc hết sức khác so với các nước. Họ không bị bắt buộc phải hiểu biết về chính trị hay lập pháp, luật lệ. Nó độc đáo ở chỗ phần lớn là nghiệp dư, cứ mỗi năm tới gặp nhau chờ chính phủ đưa ra những dự án luật này luật kia rồi họp nhóm rồi cho ý kiến và cuối cùng thì bấm nút thế là xong!”

... đến bước thụt lùi của Quốc hội 

Theo kế hoạch, ngày 15.11.2014 sắp tới Quốc hội sẽ tiến hành lấy phiếu tín nhiệm với 50 chức danh do Quốc hội bầu và phê chuẩn trong một phiên họp kín. Vấn đề tại sao Quốc hội lại phải họp kín để tiến hành lấy phiếu tín nhiệm được dư luận hết sức quan tâm, vì trước đây Quốc hội đã từng tiến hành việc lấy phiếu tín nhiệm đối với các chức danh do Quốc hội bầu và phê chuẩn theo tinh thần nghị quyết 35, với các mức tín nhiệm cao, tín nhiệm vừa, và tín nhiệm thấp. Nghĩa là thay vì bỏ phiếu ở hai mức tín nhiệm và bất tín nhiệm thì người ta đã mở đường thoát bằng cách tất cả đều được tín nhiệm nhưng ở các mức khác nhau.

Trước việc dư luận và một số ĐBQH rất bất bình về cung cách làm ăn mang tính đối phó trong việc lấy phiếu tín nhiệm mà họ cho rằng theo lối không giống ai và không mang tính răn đe, trừng phạt đối với các chức danh quan trọng như Chủ tịch Nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ... nên Quốc hội đã quyết định tạm hoãn việc lấy phiếu tín nhiệm để xem xét và đề xuất giải pháp cho phù hợp hơn. Tuy vậy, dự thảo sửa đổi Nghị quyết được trình ra trong kỳ họp thứ 7 hầu như không có bước tiến triển gì so với trước. Nghĩa là đối tượng và ba mức tín nhiệm: tín nhiệm cao, tín nhiệm vừa, và tín nhiệm thấp vẫn được giữ nguyên như cũ, không những thế thời gian lấy phiếu từ mỗi năm một lần đổi thành một lần duy nhất vào giữa kỳ cho  cả nhiệm kỳ làm việc của Quốc hội.

Dù rằng việc lấy phiếu tín nhiệm đối với các chức danh do Quốc hội bầu và chuẩn thuận được đánh giá rằng chỉ là biện pháp để yên lòng dân của chính quyền, nhằm chứng tỏ rằng Quốc hội vẫn thực hiện chức năng giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước và người đứng đầu của các cơ quan này. Xung quanh vấn đề lấy phiếu tín nhiệm đối với các chức danh do Quốc hội bầu và chuẩn thuận, dư luận cho rằng Quốc hội cần phải công khai, minh bạch từ khâu lấy phiếu, bỏ phiếu tín nhiệm cho tới khâu xử lý kết quả thu được. Tuy kết quả của cuộc lấy phiếu lần đầu cũng không giúp giải quyết cho bất kỳ vấn đề gì, bằng chứng là những người có kết quả tín nhiệm thấp vẫn an toàn tại vị mà không chịu bất kỳ hình thức xử lý nào. Nay việc Quốc hội lại tổ chức họp kín để lấy phiếu tín nhiệm cho các chức danh Quốc hội bầu hoặc chuẩn thuận đã gây thất vọng cho đa số dân chúng, vì họ có cảm giác rằng Quốc hội đã bị phản bội họ.

Nhận xét về việc Quốc hội tiến hành họp kín để lấy phiếu tín nhiệm, PGS. TS. Hoàng Ngọc Giao, Viện trưởng Viện Chính sách Pháp luật & Phát triển cho rằng: "Theo tôi đây là bước lùi. Quốc hội mà hoạt động bí mật thì nó sai hoàn toàn với nguyên lý là cơ quan dân cử. Cái đó không ở đâu giống cả, ở nhiều nước Quốc hội còn mở cửa cho dân vào xem, kể cả còn dự các kỳ họp. Việc đó rõ ràng là quyền lực của nhân dân thì phải thực hiện một cách công khai, một cách rõ ràng, nó có tiêu chí. Quốc hội không thể có những hoạt động kiểu 'bí mật' như vậy"

Dư luận nói gì?

Từ những sai sót trong phát ngôn và hành động của không ít các vị ĐBQH kể trên không chỉ gây mất uy tín cho Quốc hội, đáng chú ý là tình trạng này xảy ra ở cơ quan quyền lực cao nhất. Nhưng điều nguy hiểm hơn là trong một vài năm gần đây, các phát ngôn và hành động kỳ quặc ấy diễn ra liên tiếp và đã trở thành tâm điểm của các kỳ họp Quốc hội. Điều đó làm cho dư luận xã hội sự lo ngại về chất lượng, phẩm chất của các ĐBQH về mọi mặt, mà theo họ đang ở tình trạng rất đáng báo động.

Lâu nay, nhiều ý kiến thấy rằng chất lượng ĐBQH thấp hoặc quá thấp chỉ là vấn đề hoài nghi, thì đến nay đã không thiếu những bằng chứng đã nêu trên để chứng minh đó là điều có thật. Qua các hoạt động của các ĐBQH cho thấy, số lượng các ĐBQH thể hiện bản thân có năng lực, trình độ thông qua việc phát biểu có trọng tâm, hoặc việc đề cập đến các vấn đề quan trọng, cấp thiết còn quá ít. Đó có lẽ là lý do lý giải việc vì sao các ĐBQH lại thường đề cập đến các vấn đề không quan trọng, như Luật Đặt tên, hay vấn đề quản lý việc "ngủ ôm trong sáng"... mà không đề cập đến các vấn đề cần thiết lớn hơn nhiều, như Luật Biểu tình hay vấn đề các chính sách khuyến khích nghiên cứu sáng chế v.v...

Về trường hợp ĐBQH Hoàng Hữu Phước xỉ nhục bạn ĐBQH, luật gia Trần Đình Thu đã cho rằng ông nghị này đã mắc chứng tâm thần thể nhẹ, mà theo luật gia này thì triệu chứng rõ nhất là ông ĐBQH này đã không làm chủ được những từ ngữ mà ông ấy viết ra. Đáng chú ý là vị luật gia đó còn lo rằng: "Đừng để một ngày nào đó, khi căn bệnh của ông Phước bùng phát bất ngờ trong một phiên họp Quốc hội đang truyền hình trực tiếp, cả thế giới phải chứng kiến một nghị sĩ Việt Nam lên cơn la hét hoặc thậm chí cởi áo quần nhảy múa điên cuồng trên màn hình."

Không chỉ thế, tại kỳ họp Quốc hội lần này, nhiều đại biểu đã lo lắng vấn đề tâm thần của ĐBQH nếu không ổn định sẽ là điều rất khó lường. Tới mức có luồng ý kiến cho rằng: "Đừng để người tâm thần ứng cử đại biểu Quốc hội" và ĐBQH Trần Du Lịch đánh giá cho rằng: “Tôi thấy tiêu chuẩn ứng cử đại biểu Quốc hội đơn giản quá, nếu cứ chung chung thế này thì một người mới từ bệnh viện tâm thần cũng ứng cử được”. ĐBQH Phạm Khánh Phong Lan, Phó giám đốc Sở Y tế TP.HCM, thẳng thắn đề nghị các ứng viên phải được khám sức khỏe tâm thần.

Việc Quốc hội quyết định họp kín khi lấy phiếu tín nhiệm lần này càng cho thấy việc lấy phiếu tín nhiệm là việc làm lấy lệ, mang tính hình thức. Điều này còn được cho là chủ trương của các cấp lãnh đạo cao nhất có mục đích nhằm vô hiệu hóa việc làm bỏ phiếu tín nhiệm có tác dụng răn đe và trừng phạt của Quốc hội. Tức là một mặt đối với dân chúng họ cố tỏ ra có vẻ quan tâm, và muốn Quốc hội làm nhiệm vụ kiểm soát các hoạt động của nhà nước, nhưng mặt khác họ cũng không muốn người dân biết kết quả của những việc làm này của Quốc hội. 

Quốc hội là cơ quan hình thức không có thực quyền

Trên thực tế, việc người dân thể hiện vai trò làm chủ của mình thông qua việc đi bỏ phiếu bầu trong các cuộc bầu cử các đại biểu của mình vào Quốc hội - cơ quan quyền lực cao nhất hoàn toàn chỉ là việc làm hình thức trong cơ chế "Đảng cử, Dân bầu". Về thực chất, người dân chỉ có quyền lựa chọn và bầu các đại biểu theo danh sách Đảng đã duyệt sẵn. Rồi kết quả ai trúng, ai trượt thì cũng do Đảng đã cơ cấu sẵn từ trước. Bằng chứng là, trong các cuộc bầu cử đó chuyện kiểm phiếu là việc làm hình thức lấy lệ, không có ai chứng kiến và người dân cũng không quan tâm đến việc ai trúng, ai trượt và tình trạng một người đi bầu thay cho cả gia đình là chuyện bình thường. Đó chính là nguyên nhân dẫn tới tình trạng hàng chục năm nay người dân thờ ơ và coi nhẹ các cuộc bầu cử, điều mà bất kỳ ai, ai cũng biết rằng chỉ là những trò hề.

Không chỉ các nhà bình luận chính trị, mà hầu hết dân chúng ở Việt nam đều có chung một nhận định cho rằng Quốc hội Việt nam không hề đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân. Trên thực chất đó chỉ là một tổ chức sinh ra từ cơ chế "Đảng cử, Dân bầu", với các ĐBQH chỉ là những ông, bà nghị gật giữ vai trò làm bình phong, nhằm hợp pháp hóa các chủ trương chính sách của Đảng CSVN. Quốc hội Việt nam thật sự là công cụ của Đảng CSVN với mục đích để lừa bịp người dân, đồng thời để che mắt quốc tế, nhằm chứng tỏ rằng ở Việt nam người dân vẫn có quyền lực và tiếng nói thông qua cơ quan dân cử cao nhất là Quốc hội.

Việc thể chế chính trị độc Đảng lãnh đạo ở Việt nam không chấp nhận cơ chế Tam quyền phân lập nhằm mục đích kiểm soát và cân bằng quyền lực giữa các bộ phận Lập pháp - Hành pháp và Tư pháp vốn phải có, điều đã trở thành thông lệ đối với nên dân chủ nghị trường. Mà được thay bằng sự lãnh đạo toàn diện, xuyên suốt từ trên xuống dưới của Đảng CSVN, nghĩ là tổ chức Đảng là cao nhất và đứng trên tất cả, kể cả Hiến pháp và pháp luật. Do đó Quốc hội hầu như không có vai trò gì đáng kể trong chính trường Việt nam và sự tồn tại của tổ chức này là điều hoàn toàn mang tính hình thức.

Đó là nguyên nhân dẫn tới việc các ĐBQH hiện có mặt trong Quốc hội, chỉ là những người do Đảng cử và chọn sẵn theo cơ cấu là công cụ của Đảng chứ không hề đại diện cho tiếng nói của nhân dân. Vì vậy nên các ĐBQH hầu hết là những người không có năng lực, không có đủ trình độ để đảm nhận vai trò thành viên của cơ quan Lập pháp. Thậm chí người ta còn có hoài nghi khi cho rằng: "Đừng để người tâm thần ứng cử đại biểu Quốc hội" , đây có lẽ là điều xỉ nhục đối với cơ quan quyền lực cao nhất ở Việt nam. 

Kết

Quốc hội hiện nay ở Việt nam không hề có một thực quyền gì, chứ không phải là cơ quan quyền lực cao nhất như Hiến pháp quy định. Sự có mặt của Quốc hôi ở Việt nam thực ra có cũng thế mà không có thì cũng vẫn như vậy. Nó chỉ là bình phong, và phương tiện nhằm hợp pháp hóa các chủ trương chính sách của Đảng CSVN và là vật tô điểm cho bức tranh độc đảng toàn trị  ở Việt nam. Mà ở đó tất cả mọi quyền hành điều khiển đất nước chỉ do một nhóm người nắm quyền lực chi phối.

Vậy thì ở Việt nam, sao không để Đảng làm hết mọi việc, cần gì phải có Quốc hội cho tốn tiền thuế của dân?

Ngày 13 tháng 11 năm 2014

© Kami

* Đây là trang Blog cá nhân của Kami. Bài viết không thể hiện quan điểm của Đài Á châu Tự do RFA

Kami's blog

Người nghiện ma túy và cộng đồng

000_APH2003030936048.jpgMột người nghiện đi vật vờ trên đường phố Hà Nội- AFP photo
 An Nhiên, thông tín viên RFA 2014-11-14
Ma túy đang là một vấn nạn của xã hội Việt Nam hiện nay, tại các thành phố lớn trong cả nước người nghiện ma túy ngày càng gia tăng làm phát sinh nhiều dạng tệ nạn, gây bất ổn trị an.
Thực trạng cai nghiện
Báo chí trong nước loan tin, Thiếu tướng Phan Anh Minh, Phó Giám đốc Công an Tp.HCM, đưa ra thống kê TP hiện có hơn 19,000 người nghiện, so với cuối năm 2013 tăng hơn 7,000 người, nhưng đây chỉ là con số chưa đầy đủ, có thể còn thiếu từ 50% - 80%.
Một bác sĩ đang làm việc tại trung tâm tư vấn người nghiện ma túy Tp.HCM cho biết, việc thống kê số người nghiện ma túy rất khó, hầu như phường - quận nào cũng có người nghiện, và đây là một căn bệnh mãn tính, cần được gia đình và xã hội giúp đỡ, quan tâm giúp hồi phục tâm lý thì mới có thể dứt bệnh được, còn nếu đưa vào trung tâm cai nghiện thì không ai có thể nói rằng cơn nghiện ma túy sẽ dứt điểm. Ông nói:
“Ma túy - người ta gọi đây là một căn bệnh mãn tính, nó là một căn bệnh mãn tính thì biết rồi đó, bệnh gì mà mãn tính thì phải sống với nó như tiểu đường, cao huyết áp, không có một cách nào trị khỏi. Tuy nhiên ma túy có cách điều trị của nó là kéo dài thời gian giữ sạch, tức là không sử dụng ma túy trong một thời gian nào đó, đến mức độ nào nó, nó sẽ từ bỏ được, nhưng mà có khi 5 năm, 10 năm - 20 năm nó trở lại bình thường, nó là căn bệnh tái phát. Bây giờ mà muốn điều trị hiệu quả hay không thì tùy thuộc vào người đó hay sự hỗ trợ của gia đình, không ai có thể nói chữa dứt điểm được như thế nào.”
Việc đưa những người nghiện ma túy vào các trung tâm cai nghiện có thật sự để bảo vệ cho họ và làm dứt cơn nghiện của họ không? Hay là họ trở nên hung bạo trong những điều kiện cai nghiện khắc nghiệt như làm lao động nặng nhọc, hay bị đánh đập trong trung tâm.
Một chị đề nghị được giấu tên đang làm việc tại một trung tâm cai nghiện ma túy nhỏ, trong hơn 3 năm làm việc với những gì mắt thấy - tai nghe. Chị cho biết việc những người nghiện mới vào trung tâm cai nghiện lớn đều bị các tổ trưởng đánh dằn mặt và ép làm việc nặng nhọc:
“Đầu tiên mình không làm gì hết, bước vào phòng thì đã bị ăn đòn rồi, gọi là chào phòng, đánh bầm dập như vậy đó, nó nói đố mà bố không nghe, nó kêu đi chà toilet, đấm lưng cho nó, nó nói gì cũng nghe hết. Mấy cái trường lớn nó quăng cho một bịch hột điều, nữa tiếng sau xong, không xong là bị ăn đòn. Bữa nay là làm một mẫu mía là làm đi, đứa nào đứa đó hăng hái làm mấy trăm mét đó, một tiếng là làm bao nhiêu, đứa nào đứa đó hăng hái làm, đứa nào nghỉ tay ăn một cái vô đầu liền, đánh xỉu dội nước ra làm tiếp. Làm ban ngày nó đánh chưa đủ, tối về nó đánh tiếp, đánh làm sao cho ngày mai làm kịp thì thôi.”
Người dân đang sống tại các khu xóm lao động nghèo tại Tp. HCM và Hà Nội đều cho rằng, ma túy nó đang làm hại đến những thế hệ sau này, nó gây ảnh hưởng đến đời sống chung quanh của họ, mà không được chính quyền địa phương quan tâm đến nhiều. Một anh nhân viên bảo vệ giấu tên đang cư ngụ tại quận 8 - Tp. HCM, cho biết có nói đến ma túy chỉ biết lắc đầu, ở khu anh đang ở người nghiện ma túy tràn lan, luôn xin tiền đểu những người khách lạ vào xóm, trộm cắp triền miên, hở gì có giá trị chút là mất, không ai ngăn chặn được và ngày càng nhiều hơn:
“Nghiện ngập hồi xưa đến giờ đều vậy, xì-ke, ma túy từ hồi xưa đến giờ nó cũng vậy thôi, không có dẹp được đâu, nó rất phát triển buôn bán được biết bao nhiều tiền tỷ…”
Bạn sinh viên năm 3 tên Phan Đỉnh Thiên, đang học tại Hà Nội, cư ngụ tại khu vực Mỹ Đình chia sẻ với chúng tôi, cũng từng là nạn nhân của những người nghiện ma túy nơi khu vực đang ở:
“Nơi tôi ở cũng là một trong những nơi nghiện nhất (Hà Nội), tôi đã từng bị anh chàng nghiện xin tiền, khi xin tiền người nghiện lấy cái cớ: em vừa mới ra trại, em không có tiền về xe cho em xin một ít tiền về, thật ra họ xin như vậy rất nhiều người, và ai cũng phải cho, nhưng để khỏi phiền hà mình cho họ một chút, không nhiều. Thường thường họ những người như vậy là rất tận cùng rồi, rất là nguy hiểm, gặp họ như vậy là tránh mà không tránh thì có sao đưa vậy, không dám kháng lại”
Và bạn Thiên cũng chia sẻ thêm cho những ai đi trên đường gặp những người nghiện ma túy xin tiền “đểu” để tránh không bị mang họa vào thân, vì chỉ có chính mình mới bảo vệ được mình trong xã hội Việt Nam:
“Nếu người ta hỏi xin tiền mình thì tùy vào cách ứng xử, tức là nếu mình làm quá người xin tiền đó, đưa họ đến bước đường cùng thì họ sẵn sàng làm bất cứ điều gì mà họ không cần nghĩ đến.”
Giải quyết cách nào?
000_APH2003030936049-400.jpg
Hai người nghiện ma túy chích cho nhau tại một góc công viên ở Hà Nội. AFP photo
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến nghiện ma túy ở giới trẻ, thường thì họ không có công việc ổn định, bất mãn trong gia đình, trong xã hội, không được mọi người quan tâm nên đã tìm đến ma túy. Bác sĩ tư vấn trên cho biết, đa số người nghiện ma túy đều là từ con nhà khá giả:
“Trước đây, đa số những người nghiện ma túy là con nhà giàu, do không thiếu thốn bất cứ cái gì nên nó đi tìm những thứ gì nó còn thiếu, trong đó ma túy mà cái còn thiếu, thêm điều nữa là quan tâm của gia đình, có những khi quan tâm quá mức, không quan tâm, có những khi chỉ đem tiền cho nó, nó đi học làm gì kệ nó, đến một thời điểm nào đó, cái đồng tiền nó dư không biết xài trong việc gì? Nó trải qua chơi bời nọ kia, rồi chơi ma túy, và một điểm nữa, nếu nó sống chung, chơi chung với một số bạn bè xấu thì cũng có thể sẽ nghiện.”
Bạn sinh viên tên Thiên cũng nhìn nhận rằng những bạn trẻ nghiện ma túy đều thiếu sự quan tâm từ gia đình và xã hội:
“Đa số là các bạn nghiện hư hỏng đó là sự quan tâm của gia đình, xã hội không được tốt với họ. Họ ỷ vào thân nhân mình. Để cho ngày mai thế hệ sau này, họ sẽ là gánh nặng trừ khi là họ còn trẻ họ có thể làm việc, sử dụng tiền gia đình đến lúc nào đó.”
Bạn Thiên cho biết tiếp những người nghiện ma túy thường tập trung tại các khu vực có nhiều người qua lại tại nhiều nơi ở Hà Nội và Tp.HCM:
“Những vực bến xe, những khu vực có phức tạp người qua lại, ở Hà Nội có một số khu vực như vậy tập trung, và Thành phố Hồ Chí Minh cũng như vậy.”
Chủ trương giúp người nghiện dứt bỏ được tình trạng nghiện ngập là một chủ trương đúng. Tuy nhiên công tác quản lý và phương pháp cai nghiện tại các trung tâm cai nghiện hiện nay tại Việt Nam còn quá nhiều bất cập. Việc giúp họ cai nghiện ma túy – trở về tái hòa nhập với cộng đồng xã hội là vấn đề đang cần nhà nước quan tâm và có hướng giải quyết phù hợp tránh tình trạng người nghiện trở thành đối tượng gây rối trật tự xã hội.

28 người Việt sống bất hợp pháp tại Thái Lan đã được tị nạn Canada

voice-canada-622.jpg
28 người Việt từ Thái Lan tại phi trường thành phố Vancouver, Canada hôm 13/11/2014.Courtesy VOICE Canada

Thanh Trúc, phóng viên RFA 2014-11-15

Hai mươi tám người Việt cư trú bất hợp pháp tại Thái Lan khi từ trong nước chạy sang xứ này xin tị nạn nhiều năm về trước, nhờ sự vận động trong vòng 8 năm qua của tổ chức VOICE ở Philippines mà sau cùng đã tới Canada hôm thứ Năm ngày 13 vừa qua.

VOICE và 6 năm vận động pháp lý

Đây là 28 trong số gần 100 người tị nạn từ Việt Nam chạy qua Thái, sống bất hợp pháp tại đất nước này hai ba chục năm qua. Sau 6 năm dưới sự vận động pháp lý của luật sư Trịnh Hội cùng tổ chức VOICE do anh sáng lập, họ được chính phủ Canada chấp thuận cho định cư với điều kiện người Việt ở Canada phải bảo trợ mọi chi phí xuất cảnh, lo liệu nơi ăn chốn ở cũng như giúp những người mới đến gầy dựng cuộc sống trong thời gian một năm đầu.
Từ văn phòng của VOICE ở Manila, luật sư Trịnh Hội, được coi là người có công vận động cho những thuyền nhân Việt Nam bị kẹt lại Philippines trong hơn 16 năm mà kết quả là hai ngàn người được Mỹ nhận năm 2005, một ngàn người đi Úc, Canada và Na Uy từ năm 2000 đến năm 2009, thuật lại chuyện người tị nạn Việt ở Thái Lan được Canada nhận như thế nào:
“Từ năm 2006, Trịnh Hội cùng các anh chị thiện nguyện viên trong VOICE sang Thái Lan để bắt đầu thành lập danh sách và sau đó tranh đấu bằng cách gặp những dân biểu những thượng nghị sĩ và cuối cùng là gặp được ông tổng trưởng Bộ Di Trú Canada lúc đó là ông Jason Kenney.
Cũng may mắn là sau 6 năm tranh đấu thì cuối năm 2012 ông Jason Kenney quyết định cho đồng bào sang Canada qua diện nhân đạo với hai điều kiện.
-LS Trịnh Hội
Cũng may mắn là sau 6 năm tranh đấu thì cuối năm 2012 ông Jason Kenney quyết định cho đồng bào sang Canada qua diện nhân đạo với hai điều kiện. Thứ nhất là phải tìm được những người bảo trợ lo cho họ trong một năm đầu tiên. Điều kiện thứ hai là chúng ta phải trang trải mọi chi phí.
Từ cuối năm 2012 cho đến bây giờ VOICE đã hợp tác với nhiều tổ chức như Liên Hội Người Việt Canada, sau đó là những hội đoàn khác kể cả những Phật tử của chùa Hoa Nghiêm ở Vancouver hoặc nhóm VOICE Canada, cùng đứng ra gây quĩ cho đủ số tiền mà chúng ta phải trả cho chính phủ Canada cũng như trang trải mọi chi phí ở Thái Lan. Trong hai năm rất nhiều cá nhân rất nhiều tổ chức giúp đỡ thì mới có ngày hôm nay.”
Để được ra đi hợp pháp như vậy, luật sư Trịnh Hội trình bày tiếp, những người tị nạn phải nhất mực tuân thủ luật lệ của đất nước Thái Lan mà họ là người ở bất hợp pháp trong 25 năm:
“Đầu tiên, thì từ năm 1989 khi vượt biên sang Thái Lan thì họ ở trong trại. Đến năm 1997, sau khi trại tị nạn đóng cửa thì họ ra ngoài sống và không có bất kỳ một giấy tờ nào hết. Nếu bị cảnh sát bắt thì họ phải vô tù ngồi cho đến khi có người bảo trợ ra mà thôi.
Nhóm người này không được Cao Ủy Tị Nạn công nhận là tị nạn bởi theo Cao Ủy đây là những người đã rớt thanh lọc. Khi được chính phủ Canada nhận và khi chúng ta đã vận động thành công tìm người bảo trợ, họ được phỏng vấn, khám sức khỏe, coi như qua tất cả thì họ được cấp visa và hồ sơ đi sang Canada. Nhưng cái ải cuối cùng là phải làm sao xin chính phủ Thái cấp cho họ giấy xuất cảnh. Do đó bên Canada cùng với VOICE là nhóm của Trịnh Hội ở đây đã sang Cao Ủy Tị Nạn Liên Hiệp Quốc UNHCR nhờ họ giúp đỡ, cùng lúc vận động chính quyền Thái Lan. Chờ đợi một thời gian khá lâu, sau đó được Cao Ủy Tị Nạn cùng với chính phủ Canada sắp xếp để ra tòa, đóng một số tiền phạt tượng trưng là 200 đô mỗi người.
Sau đó phải vào IDC nhà tạm giam của di trú, ở hai đêm rồi 9 giờ sáng có xe đến rước đi thẳng ra phi trường Thái rồi từ phi trường đi thẳng qua Canada.”
voice-canada-400.jpg
Nhóm 28 người Việt từ Thái Lan đến phi trường thành phố Vancouver, Canada hôm 13/11/2014. Courtesy VOICE Canada.
Chính vì thế, đến xế chiều thứ Năm 13, chiếc máy bay của Philippines Airlines đưa 28 người Việt từ Thái Lan đáp xuống phi trường thành phố Vancouver, Canada. Ra đón những người tị nạn muộn màng của đợt đầu tiên này là các thiện nguyện viên trong tổ chức VOICE ở Vancouver bên cạnh một số đồng hương của thành phố:
“Đây là Đỗ Kỳ Anh, chủ tịch của VOICE ở Canada. Hôm qua khoảng 3giờ 15 thì có 28 người tị nạn mà cuối cùng đã đến được bến bờ tự do. Đến thứ Bảy này, trong số 28 người đó thì 13 người đi Toronto, một người đi Ottawa, 7 người ở lại Vancouver và số còn lại sẽ đi Calgary.”
Nhóm 28 người đến Vancouver hôm thứ Năm là đợt đầu trong số 105 người sắp sửa rời Thái Lan nay mai:
“Cứ một người đến Canada thì phải có năm người bảo trợ. Những năm rồi VOICE đã vận động thì đã có đủ người bảo trợ cho những người tị nạn. VOICE Canada có hứa sẽ phụ một phần nào với những nhà bảo trợ đó cho nên trong những đợt vừa qua chúng tôi đã vận động quyên góp tiền. Cách đây khoảng sáu tuần thì chiến dịch gây quĩ bắt đầu trong đó VOICE Canada tổ chức những buổi gây quĩ ở Vancouver, ở Ottawa, ở Toronto. Tiền chi phí xuất cảnh cho 105 người lúc đầu dự định là 180.000 gồm tiền khám sức khỏe bên Thái Lan, visa vào Canada thì trong hai năm vừa rồi đã quyên đủ 180.000. VOICE cũng nhận được sự ủng hộ của rất nhiều người, đặc biệt ở Mỹ và khắp nơi trên thế giới theo lời kêu gọi của anh Nam Lộc.”

Mang ơn những người giúp đỡ

Sau khi hoàn tất thủ tục nhập cảnh tại phi trường Vancouver, cả 28 người được đưa về chùa Hoa Nghiêm, là nơi đồng ý cho những người từ Thái Lan đến tá túc trong thời gian đầu.
Hai mươi lăm năm, cô có nghe chăng, đi làm cho người ta, đầu tiên là làm trong nhà rồi đi làm thợ. Sống qua ngày cũng khổ cực không có giấy tờ gì, con ở một nơi mẹ ở một chỗ.
-Bà Bảnh
Một người sẽ về Ottawa, anh Huỳnh Hữu Hậu, vượt biên qua Thái Lan năm 1989, ở trại tị nạn cho tới khi đóng cửa năm 1996 thì trốn ra ngoài vì sợ bị bắt trở về nước:
“Sống thì sống chui, làm mướn cho người ta, đi chạy bàn đi giao hàng cho người ta. Nhiều khi bị công an bắt người ta lấy tiền rồi người ta thả mình đi. Lúc anh Hội qua bển thì nghe anh em nói mình tới đăng ký. Lúc đầu không có nghĩ là được đi nhưng sau này được đi thì ai cũng mừng tại vì ở bển sống chui sống nhủi. Nói chung bước được tới xứ tự do mình được hợp lệ thì mình rất là mang ơn những người giúp đỡ cho mình.”
Một người sẽ về Calgary ngày Chúa Nhật này, Bà Bảnh, được mọi người gọi là má Năm, từng trôi nổi qua ba bốn trại tị nạn ở Thái Lan cho tới khi đóng cửa phải mang con trốn ra ngoài:
“Hai mươi lăm năm, cô có nghe chăng, đi làm cho người ta, đầu tiên là làm trong nhà rồi đi làm thợ. Sống qua ngày cũng khổ cực không có giấy tờ gì, con ở một nơi mẹ ở một chỗ.
Chiều hôm qua tới đây thấy đồng bào mình ở tại đây chào đón cầm cờ này kia thì má Năm xúc động quá. Má Năm quá mừng như là chết đi sống lại, bước xuống máy bay thấy đồng bào quá vui rồi khóc chứ không nói được lời gì hết trơn. Giờ ở tại chùa Hoa Nghiêm đây.”
Người thứ ba sẽ ở lại Vancouver là anh Nguyễn Thanh Sơn, được cha mẹ cho đi vượt biển một mình đến Thái Lan năm 1990, khi lên đường đi Canada thì đã một vợ ba con:
“Sợ bị cưỡng bức về nên em trốn trại, cũng được Cao Ủy can thiệp nhưng sau đó lại bị nhốt. Đầu tiên qua đến phi trường thì phải nói nhiều người không cầm được nước mắt vì cái sự vui sướng và thấy được sự đoàn kết của cộng đồng người Việt ngoài này. Xin cám ơn tất cả sự đóng góp của đồng bào, các hội đoàn mà nhất là VOICE.”
Được biết trong tuần tới, thêm 39 người Việt tị nạn ở Thái Lan sẽ đến Canada trong đợt thứ nhì.

"Xã hội đen" quyết tâm ngăn cấm hoạt động Tin lành ở Bình Dương?

Hội thánh Tin lành Mennonite Bình Dương vào  ngày10/11/2014 sau khi bi côn an chìm và côn đồ tấn công đập phá
Hội thánh Tin lành Mennonite Bình Dương vào ngày10/11/2014 sau khi bi côn an chìm và côn đồ tấn công đập phá-RFA
Gia Minh, biên tập viên RFA, Bangkok 2014-11-16
Hội thánh Tin lành Mennonite độc lập tại đường D10, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương vào chủ nhật 16 tháng 11 tiếp tục bị những thành phần bất hảo tấn công khi tín hữu đang tập trung nhóm họp tại đó.
Liên tục tấn công
Giờ nhóm thờ phượng Chúa của Hội thánh Tin lành Mennonite độc lập tại đường D10, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương từ tuần trước được dời vào 8 giờ sáng để tránh trường hợp nhóm vào buổi tối những thành phần bất hảo tấn công tín đồ dễ dàng hơn.
Tuy nhiên biện pháp đó của Hội thánh vẫn không thể ngăn chặn được những thành phần mặc thường phục, sử dụng những vật dụng để phá cửa nhà, cũng như đá, ná bắn đá để tấn công vào cơ sở của Hội thánh từ tháng 6 cho đến nay.
Đúng vào 8 giờ sáng ngày 16 tháng 11, hơn chục mục sư và tín hữu đến được bắt đầu nhóm thờ phượng Chúa vào ngày chủ nhật thì những thành phần tấn công cũng ra tay như những lần trước.
Sau khi nhận được tin khẩn báo, chúng tôi liên lạc được với mục sư phụ trách đang có mặt là Mục sư Trần Minh Hòa và ông thuật lại những gì đang diễn ra tại điểm nhóm như sau:
Bây giờ hội thánh của chúng tôi đang nhóm lại, đang cầu nguyện. Sáng hôm nay 8 giờ côn đồ tràn vào và hiện bây giờ họ đang đập cửa cổng, cửa rào, họ muốn tràn vào nhà. Tình hình rất khẩn cấp, họ có thể tràn vào nhà
Mục sư Trần Minh Hòa
Bây giờ hội thánh của chúng tôi đang nhóm lại, đang cầu nguyện. Sáng hôm nay 8 giờ côn đồ tràn vào và hiện bây giờ họ đang đập cửa cổng, cửa rào, họ muốn tràn vào nhà. Tình hình rất khẩn cấp, họ có thể tràn vào nhà.
Có chừng khoảng 15 người nhóm, vì họ chặn lại không cho ai vào. Những người nhóm gồm những người ở lại tại chỗ và một số đến sớm hơn có thể vào trong. Côn đồ hiện đang đập cửa ở phía dưới, và chúng tôi đang ở lầu hai.
Những côn đồ mà chúng tôi nhận diện được là những người từng đến trong những chủ nhật trước. Họ mặc đồ bình thường, chúng tôi gọi đến cơ quan an ninh, mà chưa có cơ quan nào can thiệp. Chúng tôi không biết như thế nào, vẫn đang cầu nguyện.
Chúng tôi liên lạc với công an phường Thới Hòa, đơn vị phụ trách địa bàn có cơ sở của hội thánh Tin lành Mennonite độc lập để hỏi về tình hình lực lượng ăn mặc thường phục dùng bạo lực tấn công người dân ở đó, thì như cách thường gặp là người phụ trách sau khi nghe chúng tôi xưng tên, đơn vị làm việc và yêu cầu được hỏi thì bị từ chối bằng cách buộc phải đến tận nơi để tiếp xúc như sau:
Ở đây báo đài muốn trao đổi trực tiếp thì đến đây gặp trưởng công an Thới Hòa.
Nhu cầu tín ngưỡng
Theo Mục sư Trần Minh Hòa cho biết thì vào đêm ngày thứ tư 12 tháng 11 vừa qua, công an địa phương đã đến tại cơ sở của Hội thánh để kiểm tra hộ khẩu. Trong đoàn cùng đi có ba cô gái ăn mặc hở hang, tóc nhuộm vàng nên một bà lớn tuổi có mặt đã lên tiếng phản đối dữ dội. Kết quả cuộc kiểm tra hộ khẩu là bản thân mục sư Trần Minh Hòa cùng 9 người khác bị mời về đồn công an làm việc. Nội dung được Mục sư Trần Minh Hòa cho biết lại như sau:
Chúng tôi chỉ nhóm lại để thờ phượng Đức Chúa Trời, và lớp học của chúng tôi chỉ để học Kinh Thánh mà thôi. Nếu có điều gì sai, các anh cứ lập biên bản xử lý, còn nếu chúng tôi không có gì sai thì hãy để cho chúng tôi được nhóm, được thờ phượng
Mục sư Trần Minh Hòa
Họ hỏi điểm nhóm của chúng tôi có đăng ký hay chưa. Chưa được phép cấp của chính quyền tại sao cứ hoạt động mãi khi mà chính quyền chưa cho phép. Chúng tôi nói đó là vấn đề tự do tín ngưỡng, chúng tôi được thờ phượng Đức Chúa Trời của chúng tôi, và chúng tôi nhóm họp để thờ phượng. Trước đây chúng tôi có đăng ký mà các anh không cho, và cứ cương quyết không cho nên chúng tôi vẫn chứ nhóm lại. Chúng tôi không làm điều gì trái pháp luật, chính sách Nhà nước cả. Chúng tôi chỉ nhóm lại để thờ phượng Đức Chúa Trời, và lớp học của chúng tôi chỉ để học Kinh Thánh mà thôi. Nếu có điều gì sai, các anh cứ lập biên bản xử lý, còn nếu chúng tôi không có gì sai thì hãy để cho chúng tôi được nhóm, được thờ phượng.
Trong một cuộc trả lời phỏng vấn Đài RFA, một viên chức tại Ban Tôn giáo tỉnh Bình Dương, phủ nhận mọi thông tin hội thánh Tin lành Mennonite độc lập tại thị xã Bến Cát tỉnh Bình Dương bị những thành phần bất hảo tấn công, đánh đập và quậy phá. Người này cũng nói rằng không hề có công nhân làm việc tại khu vực đó có nhu cầu sinh hoạt với hội thánh Tin lành Mennonite. Nếu có thì Ban Tôn giáo tỉnh này sẽ cấp phép.
Một công nhân đang làm việc cho một nhà đầu tư ở địa phương là anh Đoàn Ngọc Hải lại cho biết bản thân anh ta tham gia sinh hoạt với hội thánh Tin lành Mennonite độc lập tại đường D10, thị xã Bến Cát hơn một năm nay rồi. Do đó trong tháng này anh bị công an bắt với cáo buộc ‘gây rối trật tự công cộng’, tịch thu mọi giấy tờ chứng minh nhân dân, giấy tờ xe máy…. Họ cũng đến nhà máy nơi anh này làm việc để có ý kiến.
Trước những hành xử của phía cơ quan công quyền đối với bản thân mình, anh Đoàn Ngọc Hải có ý kiến:
Tôi thấy họ sai trái về luật pháp rồi. Về tín ngưỡng, tôn giáo thì người Việt Nam được quyền tự do mà. Nhưng tôi thấy hơi bất an vì tôi là công nhân, sợ ảnh hưởng đến công việc; tuy nhiên tôi chỉ trông cậy vào Chúa thôi, ‘ý Chúa được nên’ mà.
Tôi thấy họ sai trái về luật pháp rồi. Về tín ngưỡng, tôn giáo thì người VN được quyền tự do mà. Nhưng tôi thấy hơi bất an vì tôi là công nhân, sợ ảnh hưởng đến công việc; tuy nhiên tôi chỉ trông cậy vào Chúa thôi, ‘ý Chúa được nên’ mà.
anh Đoàn Ngọc Hải
Kêu gọi lên tiếng
Những người trong cuộc như mục sư Trần Minh Hòa, tín đồ Đoàn Ngọc Hải cho rằng việc hội thánh Tin lành Mennonite độc lập lại thị xã Bến Cát tỉnh Bình Dương liên tục bị tấn công kể từ tháng 6 cho đến nay và trầm trọng nhất là trong tháng 11 này chứng tỏ cho thấy cơ quan chức năng tỉnh Bình Dương đang bấp chấp Hiến pháp và luật pháp của Việt Nam nhằm triệt hạ điểm nhóm, sinh hoạt tôn giáo của họ.
Như lời Mục sư Trần Minh Hòa mà quí thính giả vừa nghe thì nếu chính quyền, cơ quan chức năng thấy hội thánh có những việc làm sai với qui định của pháp luật thì cứ ra văn bản xử lý; trong trường hợp này hành xử của chính quyền là không ra mặt mà lại dùng những thành phần mặc đồ thường phục với những hành vi bạo động, khủng bố tinh thần tín hữu, phá hoại cơ sở tôn giáo là điều khuất tất.
Vào ngày 12 tháng 11 vừa qua Hội Cựu Tù nhân Lương tâm Việt Nam ra Lời kêu gọi mọi thành phần trong xã hội tham gia chiến dịch ‘Phản đối bạo hành tra tấn. Lời kêu gọi cho biết ngày 16 tháng 11 là Ngày Quốc tế Khoan dung. Theo những người kêu gọi thì ‘đã đến lúc chúng ta suy tư và cân nhắc tôn trọng quyền của người khác. Hệ lụy của lòng bất dung là một xã hội bất an’.

Lực lượng nào sẽ làm thay đổi Việt Nam?

Biểu tình chống Trung Quốc tại Hà Nội, ngày 13/5/2014.
Biểu tình chống Trung Quốc tại Hà Nội, ngày 13/5/2014.
Rất nhiều người có chung một nỗi băn khoăn: Bao giờ thì Việt Nam được dân chủ hoá? Để trả lời câu hỏi ấy, hầu như ai cũng biết một cuộc cách mạng dân chủ ở Việt Nam chỉ có thể xảy ra với một trong hai tình huống: Một, từ trên xuống; và hai, từ dưới lên.
Dân chủ hoá từ trên xuống là một cuộc cách mạng lý tưởng nhất bởi nó nhanh nhất và ít bị trả giá nhất: Đó là các cuộc cách mạng đã diễn ra tại Liên Xô và Đông Âu vào cuối thập niên 1980 và đầu thập niên 1990, khi giới lãnh đạo ý thức là không thể kéo dài nguyên trạng và chấp nhận thay đổi chế độ ngay cả khi biết với sự thay đổi ấy họ sẽ mất tất cả quyền lực.
Theo tôi, một cuộc cách mạng loại này rất khó xảy ra ở Việt Nam. Có hai lý do chính.
Thứ nhất, ở Việt Nam không có, và sẽ không có một nhà lãnh đạo nào, dù sáng suốt đến đâu, có quyền lực để tự mình quyết định những sự thay đổi lớn lao liên quan đến số phận của cả chế độ. Kết cấu quyền lực ở Việt Nam khác hẳn ở các quốc gia cộng sản khác trước đây cũng như hiện nay: Ở các nước ấy, chủ tịch đảng cũng đồng thời là chủ tịch nước. Khi nắm trong tay cả hai chức vụ ấy, người ta dễ dàng trở thành kẻ quyết định cuối cùng. Ở Việt Nam, ngược lại, người lãnh đạo đảng và người lãnh đạo nhà nước và chính phủ khác nhau, do đó, không ai thực sự có quyền quyết định những vấn đề lớn cả. Tất cả đều phải thông qua ý kiến tập thể, ít nhất của Bộ Chính trị. Để cả tập thể ấy thống nhất với nhau về việc thay đổi chế độ để dân chủ hoá là một không tưởng.
Thứ hai, chắc chắn Trung Quốc sẽ không thể chấp nhận Việt Nam được dân chủ hoá trước. Khi thấy Việt Nam có dấu hiệu rục rịch từ bỏ chủ nghĩa cộng sản, chắc chắn Trung Quốc sẽ can thiệp ngay. Trong tình hình hiện nay, khi Việt Nam bị lệ thuộc vào Trung Quốc trong rất nhiều lãnh vực, từ kinh tế đến chính trị, những sự can thiệp ấy rất dễ thực hiện.
Bởi vậy, triển vọng lớn nhất của xu hướng dân chủ hoá ở Việt Nam là từ dưới lên. Tuy nhiên, ở đây lại có một vấn đề lớn: Lực lượng nào sẽ đảm nhiệm công việc thay đổi theo chiều hướng dân chủ ấy? Để trả lời câu hỏi ấy, các nhà bình luận chính trị và xã hội có thói quen nhìn vấn đề từ góc độ kinh tế - xã hội với những thành phần giai cấp khác nhau.
Trước hết, đông đảo nhất ở Việt Nam là các nông dân. Trong nhiều năm qua, những kẻ bị áp bức và bóc lột nhiều nhất ở Việt Nam cũng là các nông dân. Những cuộc biểu tình đông đảo và gây chú ý trong dư luận nhất cũng gắn liền với nông dân. Lý do dễ hiểu: một trong những yếu tố quan trọng nhất bị giới lãnh đạo Việt Nam khai thác để làm giàu và phân phối lợi nhuận để mua chuộc sự trung thành của các đảng viên chính là đất đai. Việc cướp đất ấy dẫn đến sự bất mãn của nông dân ở nhiều địa phương khác nhau. Lâu nay, rải rác đây đó, có các cuộc biểu tình của nông dân nhằm chống lại lệnh cưỡng chế của chính quyền.
Nhưng những sự bất mãn và các cuộc biểu tình ấy có thể dẫn đến việc làm thay đổi chế độ hay không? Câu trả lời hầu như chắc chắn: Không. Lý do đầu tiên là hầu hết nông dân thường chỉ nghĩ đến những cái lợi cụ thể trước mắt: khi chính quyền cướp đất của mình thì mình vùng lên tranh đấu, nhưng khi chính quyền cướp đất của người khác thì người ta dễ khoanh tay đứng ngó, hoặc, khi tình hình căng thẳng quá, chính quyền chỉ cần nhân nhượng một tí, họ cũng dễ dàng thoả mãn và từ bỏ mọi toan tính chống đối. Lý do thứ hai là tuy nông dân chiếm một phần lớn dân số nhưng họ bị cô lập về phương diện địa lý: làng này xuống đường tranh đấu, làng khách chưa chắc đã biết. Từ việc cô lập về địa lý dẫn đến sự cô lập về truyền thông và hậu quả là không có nhiều người biết. Điều này dẫn đến hai hậu quả khác: Một, ít người ủng hộ; và hai, khó phát triển thành những cuộc xuống đường rầm rộ để có thể uy hiếp được chính quyền.
Còn lực lượng công nhân? Ở Việt Nam, giai cấp công nhân càng ngày càng lớn và đời sống kinh tế của họ cũng gặp rất nhiều khó khăn. Tuy nhiên, sự bất mãn của họ, nếu có, thường nhắm vào chủ nhân của xí nghiệp hơn là vào chính quyền. Chủ nhân của các công ty lớn lại thường gắn liền với người ngoại quốc, do đó, thù hận của họ cũng hướng ra bên ngoài. Đó là lý do tại sao cho đến nay, hầu hết các cuộc đình công hay biểu tình thường diễn ra trong các xí nghiệp và công ty do người ngoại quốc làm chủ.
Giới thanh niên và trí thức Việt Nam hiện nay có thể được xem là thành phần “tiến bộ” nhất: Nhiều người trong họ thấy được những sự bất lực và bế tắc của nhà cầm quyền cũng như có khát vọng được tự do. Tuy nhiên, “nhiều” không có nghĩa là đa số. Khác với ở Ai Cập và các quốc gia Trung Đông trong cách mạng mùa xuân đầu năm 2011, nơi tỉ lệ thanh niên, dù đã tốt nghiệp đại học, thất nghiệp rất cao, ở Việt Nam, về phương diện kinh tế, thanh niên không đến nổi quá khó khăn, do đó, rất khó hy vọng họ sẽ kết tập lại thành một trận chung để đấu tranh cho dân chủ.
Một thành phần khác có khả năng đương đầu với chính quyền là các tôn giáo. Ở tôn giáo nào cũng có những người phản kháng, nổi bật nhất là Cao Đài, Hoà Hảo, Phật giáo và Công giáo. Hai tôn giáo đầu chỉ giới hạn ở các tỉnh phía Nam; Phật giáo thì bị quá phân tán; chỉ có Công giáo là tương đối thống nhất, và do đó, khá mạnh, nhưng dù mạnh đến mấy thì, một mặt, Công giáo cũng chỉ chiếm khoảng 10 phần trăm dân số; mặt khác, do chỉ là một thiểu số, họ khó trở thành những nhà lãnh đạo cho phong trào dân chủ trong cả nước.
Nói tóm lại, từ góc độ kinh tế và xã hội, sẽ không có lực lượng nào đủ sức để chống lại chính quyền, thậm chí, gây sức ép để chính quyền phải thay đổi chế độ.
Một vấn đề có thể được đặt ra: Tại sao tất cả các thành phần trên không thể kết hợp lại với nhau để thành một lực lượng duy nhất và mạnh mẽ? Dĩ nhiên, điều đó có thể xảy ra, và trong hoàn cảnh Việt Nam hiện nay, đó là niềm hy vọng duy nhất để có dân chủ. Có điều: khi nào, và với điều kiện nào, tất cả các thành phần trên có thể đứng lại được với nhau? Câu trả lời: Tinh thần dân tộc hay chủ nghĩa quốc gia (nationalism). Người Việt Nam, bất kể thành phần kinh tế, xã hội và tôn giáo, sẽ đoàn kết lại khi đất nước bị uy hiếp và khi chính quyền bất lực, thậm chí, đầu hàng trước những sự uy hiếp ấy. Tất cả những sự uy hiếp ấy chỉ đến từ một nguồn: Trung Quốc.
Nói cách khác, theo tôi, lực lượng đấu tranh cho dân chủ tại Việt Nam chỉ đoàn kết và trở thành mạnh mẽ khi Trung Quốc gia tăng mức độ lấn chiếm biển đảo và khi chính quyền Việt Nam càng lộ rõ bản chất nhu nhược của họ trong thế trận đối đầu với tham vọng bành trướng ấy.

* Blog của Tiến sĩ Nguyễn Hưng Quốc là blog cá nhân. Các bài viết trên blog được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ.