Friday, September 26, 2014

Tại sao phe quân đội muốn đảng sống muôn năm?

VRNs (26.09.2014) – Washington DC, USA – Khác với nhiều nước trên thế giới, Quân đội nhân dân Việt Nam không những chỉ có “quan hệ máu thịt” mà còn cả về “tiền bạc” với đảng nên việc các “dư luận viên” quân nhân và dân sự ra sức bảo vệ chủ nghĩa thoái trào Mác-Lênin cho đảng Cộng sản Việt Nam mãi mãi cầm quyền không còn là chuyện xưa nay không ai biết.


140925003


Chẳng hạn như  trước khi Hiến pháp 2013 được hòan chỉnh, Ban sọan thảo Điều 65  đã đặc biệt dành cho  “Lực lượng vũ trang nhân dân” được ưu tiên “tuyệt đối trung thành với  Đảng” rồi sau đó mới đến lượt Tổ quốc, Nhân dân,và Nhà nước.


Nhưng nhân dân, cha mẹ của bộ đội coi đó là chuyện “trái đạo” phải thay đổi. Cuối cùng thì điều này đã viết nguyên văn: “Lực lượng vũ trang nhân dân tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, Nhân dân, với Đảng và Nhà nước, có nhiệm vụ bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội; bảo vệ Nhân dân, Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa, cùng toàn dân xây dựng đất nước và thực hiện nghĩa vụ quốc tế.”


Trên nguyên tắc thì  nhân  dân phải là chủ của đất nước, quân đội, đảng và nhà nước”, nhưng quân đội đã cùng với đảng không thôi cho dân ăn bánh vẽ  “của dân, do dân và vì dân” để ép dân phải tôn sùng chủ nghĩa thóai trào và ngoại lai Mác-Lênin, phải chấp nhận một Chính phủ không do họ bỏ phiếu bầu ra và không được quyền lên tiếng và hành động chống kẻ thù Trung Quốc xâm phạm chủ quyền tổ quốc.


Hãy ngheThượng tướng Ngô Xuân Lịch, Bí thư Trung ương Đảng, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội hô hóan như thế này: “Quân đội nhân dân Việt Nam ra đời từ phong trào đấu tranh cách mạng của quần chúng, được ĐCSVN tổ chức, lãnh đạo, giáo dục và rèn luyện. Vì vậy, không có mục tiêu chiến đấu nào khác là độc lập dân tộc gắn liền với CNXH, đem lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân.”


(Trích trong “Đấu tranh làm thất bại âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội”, Tạp chí Cộng sản,ngày 15/9/2014)


Tại sao quân đội của một nước độc lập lại gắn liền mục tiêu chiến đấu của mình với Chủ nghĩa xã hội Cộng sản (CNXHCS) đã gây ra không biết bao nhiêu tội ác cho nhân loại và tại Việt Nam từ khi nó ra đời vào Thế kỷ 19 ?


Từ sự chọn lựa sai lầm lịch sử của ông Hồ Chí Minh, người lập ra đảng Cộng sản năm 1930, mà nhân dân Việt Nam đã phải sa vào 30 năm nội chiến nồi da xáo thịt từ 1945 đến 1975. Hàng chục triệu người Việt Nam ở cả hai đầu giới tuyến đã chết vô nghĩa. Đất nước đã bị hủy họai và lòng người đã li tan chưa biết đến bao giờ mới thấy bóng dáng  một Hội nghị Diên Hồng thứ hai.


CNXHCS  ở Việt Nam đã tạo ra lớp người  cầm quyền chậm tiến, lạc hậu, thích bạo lực, độc tài và  tự do vi phạm nghiêm trọng các quyền con người từ chiến tranh sang thời bình, kể từ sau khi  chính thức thống nhất đất nước, ngày 25 tháng 4 năm 1976.


Việt Nam ngày nay, sau gần 40 năm kết thúc chiến tranh, tuy đã có miếng cơm manh áo cho nhiều người nhưng còn cả triệu người khác ở vùng sâu, vùng cao và vùng xa chưa có đủ cơm ăn, áo mặc trong một đất nước có số gạo xuất khẩu đứng nhì Thế giới, chỉ sau Thái Lan, nhưng trình độ giáo dục đại chúng lại sa sút hơn nhiều quốc gia nhược tiểu trong khu vực Á Châu và Thái Bình Dương.


Vì chính sách giáo dục chậm tiến như thế, trong tổng thể chưa thoát khỏi từ chương thầy đọc trò chép nên con người hóa ra chậm tiến cả trong tư tưởng lẫn hành động đã thể hiện trong  mánh mung, chạy bằng, chạy chức, chạy quyền và tham nhũng thối nát đang làm ruỗng hệ thống cầm quyền và xã hội trên mọi lĩnh vực.


Trên khắp miền đất nước, bên cạnh những ngôi biệt thự trị giá hàng triệu dollars của các viên chức, đảng viên thì vẫn còn đầy rẫy những mái tranh xiêu vẹo chắp vá chỗ nắng, chỗ mưa và những trẻ em, phụ nữ không đủ áo quần che thân lang thang đầu đường xó chợ hoặc quây quần chồng vợ với đàn con quanh nồi khoai luộc, cơm cháy quanh niêu ở các tỉnh vùng núi miền Trung.


Đại đa số trong 90 triệu người dân sống trong chế độ CNXHCS Việt Nam năm 2014 vẫn còn nằm trong số 40 Quốc gia  chậm tiến và lạc hậu trên Thế giới. Số tội ác xã hội và tai nạn lưu thông xẩy ra hàng ngày trong nhân dân đã vượt cao hơn nhiều nước trong vùng Đông Nam Á, trung bình có từ 50 đến 100 người chết mỗi ngày.


Đáng chú ý là trong các loại tội ác xã hội, số vụ bạo lọan trong gia đình như con giết cha mẹ lấy tiền, đánh đập nhau trong các vụ tranh của, giựt nợ, đâm thuê, chém mướn xuất hiện trên các phương tiện truyền thông cũng đã gây chóng mặt và nhức nhối.


Trong một báo cáo trước  Ủy ban  Ủy ban Tư pháp của Quốc hội ngày 12/09/2014, Thanh tra Chính phủ nói rằng : “Nhiều băng nhóm tội phạm có tổ chức được triệt phá; nhiều vụ án kinh tế, tham nhũng lớn được phát hiện, khởi tố nhưng dự báo, tình hình tội phạm và vi phạm pháp luật còn diễn biến phức tạp…” (Trích báo Thanh Tra)


Tuy nhiên Thứ trưởng Bộ Công an Lê Quý Vương lại cho biết:”Năm 2014, trong bối cảnh có nhiều yếu tố tác động tiêu cực đến tình hình an ninh, trật tự, làm gia tăng tội phạm nhưng với sự chỉ đạo quyết liệt của Chính phủ, sự nỗ lực của các bộ, ngành, địa phương và sự tham gia tích cực của nhân dân trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, hoạt động của các loại tội phạm đã được kiềm chế. 


Số vụ án khởi tố mới là hơn 65.000 vụ với hơn 100.000 bị can, tăng 2,24% về số vụ, giảm 2,08% số bị can so với cùng kỳ năm ngoái. Chất lượng công tác điều tra, xử lý tội phạm có chuyển biến tích cực. Nhiều băng nhóm tội phạm có tổ chức được triệt phá. Nhiều vụ án kinh tế, tham nhũng lớn được phát hiện và khởi tố như vụ Huỳnh Thị Huyền Như lừa đảo chiếm đoạt tài sản tại Ngân hàng Công thương Chi nhánh thành phố Hồ Chí Minh; vụ tham ô tài sản xảy ra tại Tổng Công ty Hàng hải Việt Nam…”


Mặc dù đã có những con số khích lệ nhưng ông Vương vẫn nhìn nhận: “ Ngoài những vụ án tham nhũng lớn, có tổ chức được phát hiện thì tham nhũng vặt diễn ra khá phổ biến, khó phát hiện do người dân ngại tố cáo, tố giác và thiếu bằng chứng xử lý. Xu hướng sản xuất, mua bán và sử dụng các loại ma túy tổng hợp, nhất là ma túy tổng hợp dạng đá tăng nhanh. 


Báo Thanh Tra viết tiếp : “ Theo Phó Viện trưởng Viện KSND Tối cao Nguyễn Hải Phong, tình hình tội phạm và vi phạm pháp luật vẫn diễn biến phức tạp, nhất là, tội phạm có tính chất “xã hội đen”. 


Tội phạm kinh tế trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng cũng diễn biến phức tạp, phát hiện nhiều vụ phạm tội nghiêm trọng, gây thất thoát lớn tài sản của Nhà nước, doanh nghiệp… Tình hình vi phạm hành chính cũng diễn ra khá phổ biến ở nhiều địa phương, trên nhiều lĩnh vực.”


Vây đó có phải đó là kết qủa của tình trạng thi hành luật pháp chưa nghiêm, hay do tham nhũng của các quan chức, cán bộ, đảng viên đã nuôi dưỡng và tạo ra các loại tội ác trong xã hội ?


Trước tình hình này, nhân dân có trách nhiệm gì trong hòan cảnh đảng và nhà nước bị kẹt giữa “trên đe dưới búa” của Trung Quốc, hay vì Việt Nam đã bằng lòng để cho Bắc Kinh lôi vào qũy đạo tự hủy 16 chữ “Sơn thủy tương liên, Lý tưởng tương thông, Văn hóa tương đồng, Vận mệnh tương quan”  (“Láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai” ) mà đất nước mới lâm vào hòan cảnh tiến thối lưỡng nan như bây giờ ?


Trong cố gắng tìm lối thoát,  một làn sóng đòi nhà nước  can đảm tìm đường chui  ra khỏi cái xiềng kinh tế, chính trị, ngọai giao và quân sự Trung Quốc đang đù đưa trĩu nặng trên cổ mỗi người dân Việt đã nổi lên trong giới Trí thức, Thanh niên, cựu đảng viên và cựu chiến binh.


Những người này cho rằng, nếu chỉ vì phải “sống chết với lời hứa cùng nhau bảo vệ chủ nghĩa Cộng sản cho đến chết từ đời này qua đời khác” để  làm hại đất nước, kìm hãm đà tiến của dân tộc thì những người Cộng sản Việt Nam sẽ muôn đời có tội với dân tộc và Tổ tiên.


Vì những trăn trở này mà một số không nhỏ cán bộ, đảng viên, bộ đội, công an và những đơn vị khác trong dây chuỗi “lực lượng võ trang nhân dân” hơn 5 triệu người, trong số này có lối 450,000 quân chính quy, đã “tự diễn biến” và “tự chuyển hóa” vì họ không còn tin vào đảng nữa, nhất là việc đảng cứ mãi “kiên định xây dựng đất nước trên nền tảng Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng (thoái trào) Hồ Chí Minh”.


Sự chểnh mảng trong công việc hàng ngày, đề cao “chủ nghĩa cá nhân” để trục  lợi, tạo thế lực, tổ chức quyền lợi phe đảng, tham gia các “nhóm lợi ích” để đục khóet công quỹ, tiền dự án,tham nhũng, ăn chia với các Doanh nghiệp nước ngòai trong đấu thầu dự án kinh tế, xây dựng, tổ chức chạy án, chạy chức chạy quyền, chạy bằng cấp, chạy các đơn vị “hét ra bạc khạc ra vàng”và bảo vệ quyền lợi cho nhau đã “trăm hoa đua nở” trên mọi lĩnh vực, từ trung ương xuống cơ sở.


Một số Trí thức và cựu chiến binh Sỹ quan cao cấp trong nước đã khuyên Quân đội nên “đứng về phía nhân dân” theo đúng chức năng bảo vệ Tổ quốc là trên hết để tạo áp lực buộc đảng phải thay đồi đường lối để cứu nước ra khỏi vũng lầy chin h trị, kinh tế và xã hội hiện nay.


 


LUẬN ĐIỆU LẠ GIÒNG


Vậy phản ứng của đảng và quân đội ra sao trước khuyến nghị Quân đội nên can đảm nhận lấy trách nhiệm “giữ nước” mà dứt bỏ tính  ràng buộc tòan diện vào đường lối chính trị lệ thuộc Trung Quốc của Bộ Chính trị ?


Kết luận chung của các “dư luận viên” của Ban Tuyên giáo Trung ương của đảng và của Tổng Cục Chính trị Quân đội Nhân dân đã lên án yêu cầu nghiêm túc này và cáo buộc điều được gọi là các “thế lực thù địch” và  “những kẻ cơ hội trong nước” đã cấu kết với nhau thực hiện âm mưu muốn “phi chính trị hóa quân đội” để làm cho đảng tan rã, mất vị trí lãnh đạo “tòan diện” vì không còn được bảo vệ,  cuối cùng thay đổi chế độ.


Bài viết trên Tạp chí Cộng sản (15/09/2014), cơ quan lý luận hàng đầu của đảng của Thượng tướng Ngô Xuân Lịch như dẫn chứng ở trên là một bằng chứng.


Ông viết : “ Phi chính trị hóa” quân đội là một âm mưu, thủ đoạn nham hiểm trong chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch hòng chống phá cách mạng Việt Nam, với mục đích tách Quân đội nhân dân Việt Nam ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, làm cho Quân đội biến chất, không còn là công cụ bạo lực sắc bén, lực lượng chính trị tin cậy của Đảng và Nhà nước. Bởi vậy, đấu tranh làm thất bại âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội là một nhiệm vụ cấp thiết hiện nay.”


Sau khi kết luận rằng sự tan rã của các nước Chủ nghĩa Xã hội ở Liên Xô và Đông Âu (từ 1989-1991) là do quân đội đã đứng ngòai, không can thiệp để bảo vệ chế độ, tướng Lịch nói : “ Hòng tiến tới xóa bỏ chủ nghĩa xã hội (CNXH) ở các nước còn lại, các thế lực thù địch tiếp tục đẩy mạnh triển khai một cách bài bản chiến lược “diễn biến hòa bình” mà chúng đã thành công ở Liên Xô và Đông Âu, trong đó, “phi chính trị hóa” quân đội vẫn là một thủ đoạn được chúng đặc biệt coi trọng và triệt để vận dụng. Đối với Quân đội ta, chúng đã và đang sử dụng mọi biện pháp, hòng vô hiệu hóa, phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) đối với Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam. Trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận, chúng ra sức tuyên truyền phủ nhận quan điểm Mác – Lê-nin về giai cấp và đấu tranh giai cấp; xuyên tạc tư tưởng quân sự của Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối quân sự của Đảng ta, nhất là quan điểm về xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, QĐND; làm lu mờ bản chất, truyền thống của Quân đội; thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, chiến sĩ (CB, CS), làm mất phương hướng chính trị, mục tiêu chiến đấu của Quân đội. Cùng với những luận điệu kích động chống phá nền tảng tư tưởng, lý luận của ĐCSVN, nói xấu chế độ XHCN, các phương tiện truyền thông phương Tây ra sức công kích phủ nhận nguyên tắc “Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt” đối với QĐND Việt Nam. Chúng lập luận rằng: Quân đội “chỉ là công cụ của quốc gia, dân tộc”, vì thế “không cần phải đặt dưới sự lãnh đạo của đảng phái nào”…


Vì những lý do tự vệ, bảo hòang hơn vua,bất kể lợi hại cho dân cho nước miễn sao đảng tồn tại mãi để độc quyền lãnh đạo sai lầm, ông Tướng này khuyến cáo quân đội: “Trước hết, cần nắm vững phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, từ đó vạch trần có cơ sở khoa học luận điệu “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch. Trong xã hội có giai cấp, bất kỳ quốc gia nào, dù thời chiến hay thời bình đều tổ chức ra quân đội để bảo vệ chế độ chính trị và lợi ích của giai cấp cầm quyền. Bàn về xây dựng quân đội kiểu mới của giai cấp công nhân, chủ nghĩa Mác – Lê-nin đã khẳng định: về bản chất, quân đội là công cụ bạo lực vũ trang của một giai cấp, nhà nước nhất định, nhằm bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị và nhà nước tổ chức, nuôi dưỡng, sử dụng; quân đội được xây dựng theo đường lối, quan điểm chính trị của giai cấp tổ chức ra nó. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng chỉ rõ phương châm xây dựng quân đội “người trước, súng sau”; “Quân sự mà không có chính trị như cây không có gốc, vô dụng lại có hại”. Điều đó có nghĩa, không có “quân đội trung lập”, “đứng ngoài chính trị”, “phi đảng phái” như một số kẻ vẫn rêu rao. Trên thực tế, bất kỳ giai cấp nào khi lên cầm quyền điều hành đất nước cũng phải nhanh chóng nắm lấy quân đội và sử dụng quân đội làm công cụ để bảo vệ quyền lợi của giai cấp mình…… Việc đòi hỏi quân đội các nước XHCN chỉ phục tùng nhà nước, không phục tùng đảng cộng sản (cầm quyền), về thực chất là tuyên truyền cho sự chuyển hóa lập trường chính trị, thúc đẩy quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đối với quân đội và trong xã hội.”


Một “dư luận viên” khác, Đại tá Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Mạnh Hưởng cũng phang lên báo Quân đội Nhân dân ngày 15/09/2014 bài viết gọi là “Niềm tin của một dân tộc không thể là sự “ảo tưởng”


Ông chỉ trích những ai bảo Chủ nghỉa Mác-Lênin đã “về vườn” không ai còn muốn lôi nó ra xài, ngòai đảng CSVN, Trung Cộng, Bắc Hàn và Cuba.


Ông cao giọng: “ Những luận điệu chống phá tinh vi và thâm độc trên được phát tán trên các phương tiện truyền thông, đặc biệt là mạng in-tơ-nét và được lặp đi, lặp lại nhiều lần, tấn công vào mọi đối tượng. Sự tấn công này rất nguy hiểm, nó dễ làm cho một số người, nhất là thế hệ trẻ lầm tưởng rằng những người đó cũng “khách quan, khoa học” khi đánh giá chủ nghĩa Mác – Lê-nin. Thế nhưng nghĩ cho kỹ thì thấy rằng, mục đích của họ là rất rõ ràng. Họ cho rằng, làm những điều đó nếu chưa thể xóa bỏ được chủ nghĩa Mác – Lê-nin, thì cũng có thể gây nên sự hoài nghi, dao động trong một bộ phận cán bộ và nhân dân ta. Đồng thời cũng có thể làm nhiễu loạn tư tưởng xã hội, dễ bề cho sự thâm nhập của các loại tư tưởng phi vô sản.”


Nói về đảng của ông, Tác gỉa báo động: “ Hiện nay, những ngón đòn chống phá trên lại càng trở nên nguy hiểm khi gắn với việc công kích trực tiếp vào sự lãnh đạo của Đảng, sự điều hành của Nhà nước. Họ lợi dụng những hạn chế, thiếu sót của Đảng, Nhà nước ta để gieo rắc sự bất bình và kích động nhân dân…”


Cần gì mà phải lợi dụng, hàng triệu chuyện đã và đang tác hại cho dân cho nước vì đảng cứ “miệt mài qúa độ mãi mà không sao vượt qua nổi một đọan đường”, đến nỗi Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng phải cảnh giác đến cuối Thế kỷ 21 cũng chưa chắc đã man “đến ngưỡng cửa Thiên đàng” của  Xã hội chủ nghĩa kiểu Việt Nam hãy còn mù mờ thì làm sao mà các dư luận viên Quân đội có thể giải thích được thế nào là “Chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc”  của Bắc Kinh ?


Bởi vì chính ông Tiến sĩ Đại tá Hưởng cũng đã “đi nước đôi” khi viết rằng: “Cũng phải thừa nhận rằng, chúng ta còn có nhiều hạn chế, còn nhiều khó khăn, thách thức trên con đường phát triển, nhưng những tiến bộ mà Việt Nam đạt được đã nói lên bản chất tốt đẹp và tính ưu việt của chế độ ta, một chế độ đang được xây dựng trên những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lê-nin. Đó đang là hiện thực, thực tế, không phải là đi theo một CNXH “viển vông”, “ảo tưởng” như họ cố tình gán ghép, xuyên tạc. Bản chất tốt đẹp và tính chất ưu việt của chế độ ta không phải tự nhiên mà có mà là kết quả của biết bao mồ hôi công sức và cả máu xương của nhiều thế hệ người Việt Nam kiên định đi theo con đường, mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH.” 


Lý luận như ông Hưởng là “trăm phẩn trăm” quân đội phải bảo vệ cho được Chủ nghĩa Mác-Lenin để cho đảng cầm quyền vĩnh viễn rồi còn gì nữa ?


Dư luận viên tiêu biểu thứ ba là Đại tá, Thạc sĩ Nguyễn Đức Thắng


cũng nhả ra những “khuôn vàng thước ngọc” bênh vực chủ nghĩa “đã bị nhân dân Nga nhổ nước bọt vào trong cuộc cách mạng không đổ máu năm 1991”, sau 70 năm sống giở chết dở với nó.


Dưới nhan đề ” Chủ nghĩa Mác – Lê-nin cần tiếp tục được bảo vệ và phát triển”, ông Thắng đã báo động và kêu gào trên báo Quân đội Nhân dân ngày 01/09/2014: “Trong hàng ngũ những người cộng sản và nhân dân, thực tế có một số người đã nhiễm phải những luận điệu tuyên truyền hết sức tinh vi, hiểm độc của các thế lực thù địch, từ đó nảy sinh t­ư tưởng bi quan, dao động, bàng quan, thậm chí đánh mất niềm tin vào chủ nghĩa Mác – Lê-nin và CNXH. Trước tình hình đó, những người cộng sản chân chính cần phải bình tĩnh, tăng cường đoàn kết thống nhất ý chí và hành động để bảo vệ các giá trị đích thực của chủ nghĩa Mác – Lê-nin và toàn bộ thành quả của cuộc cách mạng XHCN.” 


Vì vậy, ông đã không tiếc lời ca tụng cái chủ nghĩa đã “bị đào thải” :”Đối với cách mạng Việt Nam, sức sống của chủ nghĩa Mác – Lê-nin đã thể hiện trong toàn bộ tiến trình vận động và phát triển của cách mạng từ khi thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam ngày 3-2-1930 đến nay. Chủ tịch Hồ Chí Minh, người có công truyền bá và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lê-nin vào điều kiện hoàn cảnh cụ thể của cách mạng nước ta, Người đã cùng Đảng ta luôn giữ vững sự trung thành, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lê-nin, làm cho chủ nghĩa Mác – Lê-nin luôn tràn đầy sức sống hiện thực trên đất nước Việt Nam thân yêu. Thực tiễn của cách mạng Việt Nam trong hơn 80 năm qua, đặc biệt những thành tựu to lớn của công cuộc đổi mới đất nước trong gần 30 năm qua dưới sự lãnh đạo của Đảng ta, càng củng cố vững chắc niềm tin, niềm tự hào của mỗi đảng viên, cán bộ và nhân dân vào chủ nghĩa Mác – Lê-nin, vào con đường đi lên CNXH mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn.”


Nhưng “nhân dân ta nào” đã “lựa chọn” cái chủ nghĩa vô thần và đã giết hại hàng trăm triệu người trên thế giới và ở Việt Nam ? Ông Đại tá, Thạc sĩ Nguyễn Đức Thắng có dám kêu gọi đảng cho phép tổ chức một cuộc trưng cầu ý dân có Quốc tế và các Tổ chức Nhân quyền và xã hội độc lập trên thế giới kiểm soát cuộc bỏ phiếu để xem dân sẽ nói “yes” hay “no” thì sẽ rõ trắng đen ngay số “nhân dân ta” này có được bao nhiêu người ?


 


SAU BỨC MÀN SẮT


Sau khi đã đọc hết những “tư tưởng cao siêu” của các ông Ngô Xuân Lịch, Nguyễn Mạnh Hưởng và Nguyễn Đức Thắng thì có ai biết tại sao phe Quân đội đã  ra sức bảo vệ Chủ nghĩa Mác-Lênin để bảo vệ quyền lãnh đạo độc tôn, độc tài và mãi mãi cho Đảng không?


Tất nhiên đây là chuyện “hòn đất ném đi thì hòn chì phải ném lại”, hay là chuyện “có vay thì phải trả”, song phẳng quyền lợi “cưa 2” bình đẳng trong thế giới giang hồ hảo hán.


Nghĩa là đảng còn thì quân còn mà đảng có ăn thì quân cũng phải có phần. Vì vậy không ai phải ngạc nhiên khi thấy Quân đội đang là chủ nhân của nhiều Công ty “khủng” trong tòan bộ guồng máy kinh tế của Đảng và Nhà nước.


Guồng máy kinh tài của quân đội là do vốn đầu tư 100% của Nhà nước mà Nhà nước thì lấy tiến đóng thuế của dân và của các Doanh nghiệp khác.


Về nhân lực, hệ thống Doanh nghiệp, Ngân hàng, Công ty của quân đội sử dụng quân đội làm việc là phần lớn do đó thành công hơn các Công ty khác, dù của Nhà nước hay hợp doanh nhờ vào tinh thần “làm việc có kỷ luật”, không làm đàng hòang sẽ “mất nồi cơm” nên anh nào cũng sợ xanh mặt.


Theo thông tin trên Nhịp Cầu Đầu Tư tháng 01/2013 thì đứng đầu các Công ty do Quân đội Nhân dân làm chủ là :”Tập đoàn Viễn thông Quân đội (Viettel) là gương mặt tiêu biểu nhất trong các doanh nghiệp quân đội. Ông Nguyễn Mạnh Hùng, Phó tổng giám đốc Viettel, cho biết doanh thu năm 2012 của Viettel đạt hơn 140.058 tỷ đồng, tăng 18,5% so với năm 2011, lợi nhuận gần 25.000, tăng gần 40% so với năm 2011.


Mặc dù nền kinh tế Việt Nam trong năm qua gặp nhiều khó khăn nhưng những con số này đã cho thấy rằng, Viettel đã có một năm kinh doanh ấn tượng. Điều này càng nổi trội khi đặt Viettel bên cạnh một ông lớn khác trong ngành viễn thông là Tập đoàn Bưu chính Viễn thông (VNPT). Theo đó, doanh thu của VNPT trong năm qua đạt 130.390 tỷ đồng nhưng lợi nhuận của hãng thu về chỉ đạt 8.500 tỷ đồng.”


Báo này viết tiếp: “Không chỉ hơn về mặt doanh thu và lợi nhuận, tầm vóc của Viettel cũng vượt trội khi đưa thương hiệu ra nước ngoài và biến Viettel trở thành một thương hiệu quốc tế. Trong khi đó, VNPT gần như vẫn chỉ dẫm chân tại thị trường Việt Nam. Tính đến năm 2012, doanh thu riêng về dịch vụ viễn thông tại nước ngoài của Viettel đạt gần 600 triệu USD, tăng trưởng 45%. Hiện tại Viettel đã có mặt tại 7 thị trường nước ngoài, trong VNPT mới chỉ bắt đầu lên kế hoạch vào Myanmar.”


“Sau Viettel có lẽ là Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân đội (MB)”, báo này viết tiếp, “Vào những ngày đầu năm 2013, MB công bố đạt trên 3.024 tỷ đồng lợi nhuận năm 2012, giữ vị trí quán quân trong khối các ngân hàng thương mại cổ phần. Đây được xem là một trong những tin tốt lành hiếm hoi trong lĩnh vực ngân hàng, lĩnh vực đang phải đối mặt với nhiều khó khăn khi tỉ lệ nợ xấu cao và lợi nhuận bị suy giảm.


Đây không phải là năm duy nhất Ngân hàng Quân đội kinh doanh tốt. Nhìn lại chỉ số kinh doanh trong 3 năm gần đây cho thấy sự phát triển bền vững ổn định chứ không chỉ là ăn may. Điều này thể hiện rất rõ qua 4 chỉ số tăng trưởng bình quân giai đoạn 2009-2011 của MB doanh thu (52,6%), lợi nhuận (45,4%), lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu – ROE (21,2%) và lợi nhuận trên vốn – ROC (31,9%).


Ngòai ra, vẫn theo Nhịp cầu Đầu tư, Quân đội còn làm chủ các đại công ty khác như : “Tổng công ty Xăng dầu Quân đội, Tổng công ty 28, Tân Cảng Sài Gòn, Tổng công ty Đông Bắc, Tổng công ty Xây dựng Trường Sơn, Công ty Xuất nhập khẩu Tổng hợp Vạn Xuân (Vaxuco), Công ty Bay dịch vụ Miền Nam, Tổng công ty Thành An, cũng hoạt động kinh doanh khá tốt.”


Như vậy là đã rõ tại sao phe Quân đội không chỉ “tuyệt đối trung thành” với Tổ quốc, Nhân dân thôi mà còn với Đảng nữa như đã ghi trong Hiến pháp 2013.


Nhưng không có gì tồn tại mãi mãi trên cõi đời này. Tan rã “trong nháy mắt” của các Chính phủ Xã hội chủ nghĩa Cộng sản trong Liên bang Xô viết và Đông Âu từ 1989 đến 1991 là bài học nhãn tiền.


Vậy khi đảng không còn nữa thì gia tài “vĩ đại” của Quân đội sẽ về tay ai, Tổ Quốc và Nhân dân có được đồng xu nào không ?


Phạm Trần

28.9: Ngày Quốc tế cho Quyền Được Biết

Dân Làm Báo - Mỗi năm vào ngày 28 tháng 9, khoảng 100 quốc gia và 60 tổ chức phi chính phủ tổ chức chào mừng ngày Quốc Tế - Quyền Được Biết. Đối với thế giới, quyền được tiếp cận thông tin là một quyền làm người quan trọng và thiết yếu cho sự minh bạch và trách nhiệm của nhà nước. Quyền Được Biết cũng tạo cơ hội cho công dân tham gia tích cực và hiệu quả cho những quyết định liên quan đến sự điều hành đất nước.

Ngày Quốc Tế cho Quyền Được Biết bắt đầu vào năm 2002 khi những tổ chức quốc tế về tự do thông tin trên khắp thế giới tụ họp tại thủ đô Sofia của Bulgaria và thành lập mạng lưới FOI - Freedom of Information - Tự do thông tin. Đây là một mạng lưới toàn cầu hoạt động nhằm cổ xúy quyền được tiếp cận thông tin cho tất cả mọi người, cũng như lợi ích đạt được bởi những chính phủ mở rộng, minh bạch và có trách nhiệm.

Ngày 28 tháng 9 là ngày mà các thành viên của FOI, các chính phủ và tổ chức nhân quyền quốc tế cùng nhau chia sẻ kinh nghiệm, phương thức và những thành quả đạt được trong tiến trình phát triển tự do thông tin.

Sau hơn 10 năm phát động toàn cầu, ở nhiều quốc gia thành quả của Quyền Được Biết đã vượt xa mục tiêu ban đầu. Nhiều nước đã mở rộng thông tin không những cho công dân của nước mình mà còn tham gia vào một hệ thống dữ kiện to lớn để cùng chia sẻ những thông tin liên quan đến lợi ích liên quốc gia.


VIDEO:Ca sĩ Thế Sơn “Hát Cho Tự Do”: Dân phải biết! Thức tỉnh đi!



Nguyễn Thị Thanh Bình (Danlambao) - Và rồi chúng ta vẫn còn đây trao cho nhau quá nhiều giấc mộng. Mộng ngắn mộng dài, mộng lớn mộng con mà chẳng thấy một anh hùng hào kiệt nào chịu khó mộng vá trời… cao, để trời cao còn ngó xuống nên thôi cũng đành gói ghém bằng khúc ca của những bước chân đồng hành, bằng ngọn lửa của những tiếng gọi con tim: Hát Cho Biển Đông, rồi Hát Cho Tự Do, Hát Cho Việt Nam và sẽ còn hát cho một ngày mai biết đến bao giờ…

Phải rồi, hát lên đi, hát cho Độc Lập, hát cho Dân Chủ, Nhân Quyền… và “làm” những đêm không ngủ đồng bào ơi! Mặc dù biết đâu rồi cũng chỉ thao thức như một Trần Tế Xương: “Thiên hạ có khi đang ngủ cả. Việc gì ta thức một mình ta?”

Hãy cùng với ca sĩ có trái tim và giọng ca nồng nàn yêu thương nhất Thế Sơn, trong một bài phổ thơ xẹt-nhanh-như-chớp của nhạc sĩ Quốc Toản, để mong mỏi mang đôi cánh âm nhạc vực dậy những điều bưng bít không-được-biết, đồng loạt cùng nhau nhắc nhở, tra hỏi đến kỳ cùng. 

“Muốn là được”, phải được. Chỉ sợ lòng mình chưa muốn đủ mà thôi! Ở đây tôi chợt tâm đắc với nhạc sĩ Hoàng Ngọc-Tuấn trong một câu trả lời phỏng vấn hôm nào với mình: “Nghĩ cho cùng dưới mọi chế độ độc tài. Nhân dân không đứng lên thì nhân dân đều bại.” Nghe chí lí hơn, khi “nhại” theo câu thơ nổi tiếng của nhà thơ Nguyễn Duy: “Nghĩ cho cùng mọi cuộc chiến tranh. Phe nào thắng thì nhân dân đều bại.” Có phải?

Hoàng Ngọc Tuấn
Một ngoặc đơn ở đây, “Hát Cho Tự Do” do một nhóm Facebook gợi hứng từ chiến dịch “Chúng Tôi Muốn Biết” của Mạng Lưới Blogger VN khởi xướng, hòa cùng nhịp đập thế giới Ngày Quốc Tế “thực thi” Quyền Được Biết “International Right to Know Day” 28/9 hàng năm. Chương trình được lồng trong một đêm ca nhạc yêu nước lúc 8 giờ tối (giờ Cali) ngày thứ bảy 27/9 này và sẽ được phát “live” qua YouTube. Hoan hô cô Trưởng Ban Tổ Chức Nguyễn Nguyên Dung, và chúng ta sẽ cùng nhịp bước xoáy động một vài lời ca tiếng hát mãnh liệt, cảm xúc trong và ngoài nước, với Thu Sương ở Pháp, Nguyễn Tiến Dũng ở Cali… sẽ là những giọng ca đóng góp nhiều nhạc phẩm cho chủ đề “Chúng Tôi Muốn Biết”, như một hưởng ứng mạnh mẽ cùng với những tổ chức xã hội dân sự khác, cho phong trào tiếp tục nở rộ, lan tỏa. Bà con ở Nam Cali chắc ghé qua được Hội Trường Viện Việt Học, để có dịp thấy được sức mạnh của tin học đã mang mọi người lại gần nhau và của những trái tim nhiều trăn trở quê hương.

Vâng, không phải một người, mà một người huy động mời gọi một người và cứ thế tiếp nối, tiếp nối. Như tôi vừa mời thêm nhà thơ “Nếu Có Yêu Tôi” Ngô Tịnh Yên... Cho những bước chân không có vấn đề sẽ thay đổi những bước chân có vấn đề, và con số nhập dòng hưởng ứng đầu tiên sẽ ví như những nhạc trưởng “kỳ tài” thu hút cả một dàn ca giao hưởng. “Hội tụ sông về tranh đấu cho một dòng tự do” bạn nhé.

Ngô Tịnh Yên
Hay nói theo cách nói một bài viết của bình luận gia Vũ Đông Hà, là khi chúng ta vượt qua được chính mình, một ngập chìm của dòng sông sợ hãi, để trỗi dậy phanh phui những điều muốn biết và cần phải “Làm” cho ra lẽ của bến bờ sự thật. Mà không lẽ chúng ta cứ sợ và sợ mãi? Sợ cái gì mà không dám sống dám chết cho những điều mình tin là đúng, là vô phương hết thuốc chữa không thể thay đổi nổi? Hãy thử phóng thích nỗi sợ hãi đang tìm cách vây khổn, giam hãm mình, khi nhất quyết tin rằng tôi sẽ vượt qua sợ hãi dù bất cứ giá nào và rằng tôi sẽ không để sợ hãi khuất phục mình!

“Muốn biết” hẳn nhiên là một ước vọng, một khát khao, và khi niềm ước vọng khát khao ấy đủ lớn sẽ biến thành một thôi thúc dữ dội của mệnh lệnh, và trở thành thứ trách nhiệm thiêng liêng của một con dân “phải biết”, hoặc sẽ xác quyết đòi cho được quyền thông tin bạch hóa công dân. Nhất là trong những nỗi bức thiết liên quan đến vận mệnh, sự sống còn của một quốc gia, một dân tộc mình.
Mật ước Thành Đô 1990 lẽ nào cũng là một ký kết phó thác đất nước cho những đầu mối hiểm họa dâng bán, để rồi: “… chấp nhận làm khu vực tự trị thuộc chính quyền trung ương tại Bắc Kinh, như Trung Quốc đã dành cho Nội Mông, Tây Tạng, Quảng Tây…”, mang máng như thứ công hàm ô nhục 1958 của “bác” Đồng? Thời hạn 30 năm đã gần kề, những diễn biến không thể chối cãi của những suy đoán có căn cứ và có thật. Vậy thử hỏi chúng ta còn muốn biết điều gì đau đớn hơn thế nữa? Muốn biết đôi mắt sáng của một Nguyễn Cơ Thạch đã ôm đầu bứt tai: “Một ngàn năm Bắc thuộc lại trở về.”, thì liệu có ai dám đứng lên cứu nước bẻ gãy những xiềng xích? “Có dám” xin thưa không còn là một thách đố, mà là một bổn phận cần kíp như chưa bao giờ! Ôi, thật không sai như một câu thơ của Liêu Thái: “Đất nước này là của lũ mèo giấu cứt.”, khiến nhà thơ Nguyễn Viện cũng phải đồng tình: “Tôi cũng chỉ muốn Tự Do với cây búa.”

“Muốn biết” như nhạc sĩ Việt Khang chỉ cần hỏi han bằng những nghẹn ngào âm thanh: “Việt Nam còn hay đã mất?”, là đã bị nhà cầm quyền CSVN như chạm nọc tống vào ngục tối những 4 năm, nói chi đến một câu trả lời, một cuộc đối thoại quyết liệt.

Vậy điều tôi muốn biết có lẽ là: Những tướng sĩ tài ba của Việt Nam trốn tiệt nơi hầm trú ẩn an toàn nào, để không thấy buồn, thấy nhục, thấy trách nhiệm đứng lên vạch hỏi “giai cấp cầm quyền” này giùm, về một thỏa hiệp quy hàng Kỷ Yếu Thành Đô mà không ai không nhận biết được, từ những dấu hiệu ngày càng đánh mất sạch sành sanh niềm tin của nhân dân. Lời hiệu triệu Tổ Quốc Trên Hết đầy nhân tâm nào mang chúng tôi theo cùng, thay vì cứ phải ngồi nhìn, phải đối diện với một quốc hội “quốc thước” bù nhìn.

Đã là tướng sĩ và là tướng sĩ Việt Nam, thì không thể không xứng đáng với tên gọi anh hùng đã kinh qua những cuộc chiến-tranh-thần-thánh và như thế không phải chỉ là những tôn vinh một thứ sĩ-diện-hảo. Xin đừng làm anh nhũn(g) đọc trại ra là anh hèn nhũn, mềm nhũn, tham nhũng!

Vừa rồi những chữ ký khá dũng cảm của 20 vị cựu tướng lãnh dâng “sớ kiến nghị” không biết có làm ai đó chao chọng chút nào, hay chỉ đủ để gãi ngứa theo kiểu “ngồi buồn gãi háng lăn tăn” cho Lũ? Nếu vì đức khiêm cung thấy mình không hề xứng hai chữ “anh hùng” thì xin cũng đừng làm anh (k)hùng ngu ngơ trước hiện tình đất nước. Vâng, chỉ có anh khùng mới làm vậy, mới ngu ngơ như một kẻ bàng quan không biết gì, không hay gì về một chủ quyền đất nước sắp bị tước đoạt, bạo ngược.

Nỗi khùng nhất là đường đường mang tiếng quân-đội-nhân-dân, nhưng lại xếp nhân dân đứng chực sau đít Đảng (coi chừng bị đá đít), thì rõ ràng là không những quyền làm người (dân) bị tổn thương, mà cả những vấn đề bảo vệ an ninh đất nước cũng sẽ không được tôn trọng đúng mức.

Hai câu nhạc mà ca sĩ Thế Sơn đã chuyên chở rất tới, rất có hồn: “Này non sông, ai có quyền không bảo vệ. Này nước nhà, sao tướng sĩ mãi ngủ mê?”, có lẽ đó cũng là điều tôi muốn biết muốn hành động muốn tra vấn từng ngày từng giờ! 

Hãy noi gương thần tượng của chúng ta và của riêng tôi: Một tướng quân “công thần” đầy dũng khí cách mạng và nghệ sĩ nhân văn tầm cỡ Trần Độ, một tinh thần ngời sáng sẵn sàng thách đố mọi hiểm nguy để đóng góp tận tình tận lực cho đất nước. Ở đây tôi xin được làm một cuộc khấn vái mặc niệm các vong linh liệt sĩ chiến sĩ, nhất là tướng Độ hãy linh thiêng phù hộ cho những vị tướng tiếp nối có cùng tâm huyết, có cùng nguyện vọng để dìu đất nước này đi lên, và không thể đi qua Tàu phù, đi theo Tàu khựa.

Còn bạn, điều bạn muốn biết và cần làm kế tiếp có phải là: Có hay Không một cuộc thăm dò ý dân đầy dự phóng, dự báo nay mai?





Người tù bất khuất, xuyên thế kỷ Trần Tư đã được tự do

Chí Sĩ Trần Tư

Nguyễn Thu Trâm, 8406 (Danlambao) - Theo nguồn tin từ Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ đánh đi từ Washington DC hôm nay 25 tháng 9​ năm 2014​ thì ông Trần Tư, một tù nhân chính trị với bản án chung thân, chấp hành án tại trại giam Ba Sao, Nam Hà đã được phóng thích vào ngày 24 tháng 9 và vừa về đến gia đình tại số nhà 23 Đường Số 10, khu phố 4, phường An Phú, quận Hai​, Sài gòn vào lúc 5 giờ sáng hôm nay, giờ Việt Nam. Điện Thoại: (+84)942 305 591​.

Xin được nhắc lại rằng Ông Trần Tư sinh ngày 20 tháng 01 năm 1941 trong một gia đình Công Giáo tại làng Phủ Cam, xã Thủy Trường quận Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên, nay là phường Phước Vĩnh, thành Phố Huế. Là cựu học sinh trường Pellerin từ năm 1952 cho đến năm 1959, là một trong những học trò cưng của ba vị Bề trên Frère Jérôme, Frère Antonin, và Frère Camille. Năm 1960, ông Trần Tư nhập ngũ, được huấn luyện thành hạ sĩ quan thông dịch viên tùng sự trong một đơn vị thuộc Lực Lượng Đặc Biệt của Quân Đội Đồng Minh Hoa Kỳ tham chiến tại Việt Nam. Sau năm 1975, ông Trần Tư không ra trình diện ban quân quản Sài Gòn để tập trung cải tạo mà trốn về Miền Tây tìm đường vượt biên và ông đã bị bắt, bị đưa đi cải tạo tại trại giam K1, Cái Tàu, thuộc V 26 Bộ Công An, nằm trên địa bàn huyện U Minh, tỉnh Minh Hải từ năm 1976 cho đến năm 1981.

Thầy Giáo Anh Ngữ Trần Tư tại trại tỵ nạn Panatnikhorn, Thái Lan

Năm 1986 ông Trần Tư vượt biên thành công đến trại tỵ nạn Panatnikhom Thái Lan, nơi ông đã phục hoạt Liên Đoàn Hướng Đạo Sinh La Vang để trợ giúp đồng bào tỵ nạn trong trại, đặc biệt, với sự trợ giúp của tổ chức COERR, ông Trần Tư đã thành lập Trung Tâm Giảng Dạy Tiếng Anh cho người tỵ nạn tại các trại Panatnikhom, Sathu và Sikiw trước khi ông được đến định cư tại Ontario, California, Hoa Kỳ vào cuối năm 1986.

Ông Trần Tư tại California
Không lâu sau khi được định cư tại Hoa Kỳ, ông Trần Tư đã thành lập công ty dịch vụ du lịch ASIA TRAVEL nhằm tạo lợi tức để giúp đỡ cho các thuyền nhân còn kẹt lại tại các trại tỵ nạn ở Thái Lan.
Sau 4 năm định cư tại Hoa Kỳ, vào năm 1990 ông Trần Tư nhập nội trong vai một nhà từ thiện, về ủy lạo quần áo, thuốc Tây và sữa bột cho các bệnh nhân Phong đang điều trị tại trại phong Thanh Bình, xã An Khánh, Thủ Thiêm, bên kia sông Sài Gòn. Trong chính thời gian về nước làm từ thiện này, ông Trần Tư đã xây dựng và phát triển được Liên Đảng Cách Mạng Việt Nam, một tổ chức chính trị xã hội nhằm tập hợp những người yêu nước có khát vọng chấn hưng dân tộc, quang phục quê hương và đấu tranh một cách ôn hòa nhằm giành lại tự do dân chủ và nhân quyền cho dân tộc Việt Nam.
Năm 1993, lần thứ hai ông Trần Tư trở về Việt Nam để tiếp tục kiện toàn tổ chức và phát triển đội ngũ của Liên Đảng Cách Mạng Việt Nam cũng như để phổ biến phương hướng đấu tranh mới trong tình hình thế giới có nhiều chuyển biến tích cực, nhất là sự sụp đổ hoàn toàn của các nước cộng sản ở Đông Âu. Không may là ngay sau khi về đến Sài Gòn chưa hoạt động được bao lâu thì ông Trần Tư đã bị bắt giữ.
Cơ quan an ninh của CSVN tiến hành khám xét nhà của ông ở gần Giáo Xứ Thiên Thần, tại số 354 thuộc Khu An Bình, An Phú, quận Thủ Đức, và đã tịch thu một số tài liệu của tổ chức cùng số hiện kim là 195.000 Đô La Mỹ. Với chứng cứ là các tài liệu về dân chủ, nhân quyền và về phương hướng đấu tranh ôn hòa cùng với số tiền gần 200.000 Mỹ Kim được phát hiện tại nhà, ông Trần Tư bị tòa án của CSVN tại Sài Gòn xét xử và kết án tù chung thân với tội danh âm mưu lật đổ chính quyền. 

Sau khi bị kết án tù, ông Trần Tư bị đưa ra thi hành án tại trại tù A20 Xuân Phước, ở một thung lũng Tử Thần thuộc huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên. Đến ngày 28 tháng 10 năm 1994 sau một vụ nổi dậy của các tù nhân chính trị tại đó, bộ công an CSVN đã chuyển ông Trần Tư cùng một số tù chính trị trọng phạm như Giáo Sư Đoàn Viết Hoạt, Giáo Sư Nguyễn Đình Huy, Thượng Tọa Thích Hải Đăng, ông Trương Văn Sương, ông Lê Trọng Quang, Trần Mạnh Quỳnh, Lý Tống cùng hàng trăm tù chính trị khác ra Bắc, giam giữ tại trại tù Ba Sao, Nam Hà. Với chế độ tù đày khắc nghiệt, đói khát triền miên, bệnh tật không thuốc men điều trị, trong điều kiện thời tiết quá cực đoan, không ít tù nhân đã vĩnh viễn gởi lại nắm xương tàn ở nhà tù nhỏ đó. 

Một số tù nhân khác còn sống sống sót đã lần lượt mãn án tù và đã trở về với gia đình. Một số khác có quốc tịch Mỹ thì được sự can thiệp của chính phủ Mỹ và đã được trở về Mỹ như các anh Lý Tống, Jimmy Quỳnh. Riêng ông Trần Tư, vì mới là thường trú nhân của Hoa Kỳ, nhưng chưa nhập quốc tịch, nên không được sự can thiệp của chính phủ Mỹ, lại do tinh thần quật cường, bất khuất của một cựu quân nhân QLVNCH cùng chí hiên ngang của một tù nhân chính trị, ông Trần Tư đã không cúi đầu trước bạo quyền, không khuất phục trước chế độ cộng sản, và luôn nêu cao dũng khí của một huynh trưởng Hướng Đạo trước các tên giám thị và cán bộ quản giáo, nên ông vẫn tiếp tục bị giam cầm bị hành hạ tại nhà tù nhỏ Ba Sao, khi đến nay ông đã bước sang tuổi 72, với ngót 20 năm tù đày lao lý.
Có một điều cần được minh bạch ở đây là khi ông Trần Tư bị cơ quan an ninh của cộng sản bắt giam và kết án tù chung thân với tội danh âm mưu lập đổ chính quyền, dù không có bất cứ bằng chứng nào mang tính chất bạo lực về hoạt động lật đổ chính quyền của ông Trần Tư mà chỉ có một số tài liệu về các cuộc Cách Mang Nhung ở Ba Lan và Đông Âu cùng với số tiền 195.000 Mỹ Kim mà cơ quan an ninh đã thu giữ như là một bằng chứng để buộc tội ông âm mưu lật đổ chính quyền. Trong khi đó, những người thuộc tổ chức của ông Trần Tư ở hải ngoại thì hoàn toàn làm ngơ trước bản án tù chung thân mà nhà cầm quyền CSVN đã tuyên phạt ông, bởi trong tổ chức một số người vu cáo rằng ông Trần Tư biển thủ số tiền 195.000 Mỹ Kim đó để mua đất, sắm nhà cho vợ con ở Sài Gòn, thật oan khuất cho một chính khách đã dấn thân, đã hy sinh tất cả mọi phúc lợi của bản thân, của gia đình khi định cư trên đất Mỹ, thành lập được ASIA TRAVEL với lợi tức hàng trăm ngàn Mỹ kim mỗi năm, để trở về xây dựng cơ sở, kiện toàn tổ chức để đấu tranh cho quê hương được tự do, cho dân tộc hưởng đầy đủ các quyền làm người.

Để minh oan cho tù nhân chính trị Trần Tư, chúng tôi đã liên lạc với các tổ chức Human Rights Watch Asia, Amnesty International và được họ cung cấp biên bản tịch thu số hiện kim khi công an tiến hành khám xét tư gia của ông tại Sài Gòn. Chúng tôi xin phép được đăng tải biên bản khám xét và tịch thu tài liệu cũng như tiền bạc của cơ quan an ninh Việt Nam khi họ bắt giam ông Trần Tư với mong mỏi các chiến hữu của tù nhân Trần Tư xóa bỏ định kiến và những nghi hoặc về hành động biển thủ số tiền 195.000 Mỹ kim của tổ chức mà suốt cả một thời gian dài họ đã nghi oan cho ông Trần Tư. Ngay khi chưa nhận được biên bản khám xét và tịch thu tang vật này, chúng tôi đã hoàn toàn tin vào sự trong sáng của tù nhân chính trị Trần Tư, bởi một người từng thừa hưởng một nền giáo dục căn bản của các Frère ở trường Pellerin, là một giáo dân có lòng tin kính như ông lại được trưởng thành trong quân đội Việt Nam Cộng Hòa và khá thành đạt trong lĩnh vực kinh doanh du lịch tại Hoa Kỳ thì ông Trần Tư không phải là hạng người “mua danh ba vạn, bán danh ba đồng” để đổi lấy cuộc đời tù ngục bằng một số tiền không bằng lợi tức hàng năm của ông như thế.
Hội Ái Hữu Tù Nhân Chính Trị Và Tôn Giáo Việt Nam hân đón mừng chí sĩ Trần Tư, một người tù xuyên thế kỷ vừa rời khỏi địa ngục trần gian. Xin chúc mừng bà Nguyễn Ngọc Hoa và đại gia đình sắp được đoàn tụ với người chồng, người cha khả kính vì đáp đền ơn tổ quốc, nợ núi sông mà phải lụy vòng lao lý ngót phần tư thế kỷ.
Cũng theo nguồn tin từ Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ thì Tổng Lãnh Sự Quán Hoa Kỳ tại Sài Gòn đã đến thăm hỏi sức khỏe và đang hoàn thiện hồ sơ xuất cảnh để người tù bất khuất Trần Tư được sớm trở về Hoa Kỳ đoàn tụ với gia đình trong vài ngày tới.

Mong rằng các tổ chức và cá nhân đang hoạt động vì dân chủ nhân quyền cho Việt Nam, các cựu tù nhân chính trị kịp thời ghé qua thăm gặp và chúc mừng chí sĩ, người bạn tù bất khuất Trần Tư trong những ngày ngắn ngủi ông lưu lại Việt Nam.


Dân Sài Gòn khốn đốn vì nước máy đen như nước cống

SÀI GÒN (NV) - Nước máy đen như nước cống, bốc mùi nồng nặc, ngả màu đỏ, vàng... nhưng hàng trăm người dân vẫn phải sử dụng từ nhiều tháng qua.


Nhiều người dân vẫn phải bất chấp để sử dụng loại nước dơ bẩn này. (Hình: báo Dân Trí)

Theo phản ánh của người dân ở khu phố 2, phường Tân Sơn Nhì, quận Tân Phú, hiện tượng nước máy đen như nước cống bắt đầu xuất hiện khoảng 3 tháng nay.

Báo Dân Trí dẫn lời ông Trần Văn Mua, đại diện cho hơn 80 hộ dân ở phường Tân Sơn Nhì, cho biết, dân cư ở đây đang sử dụng hệ thống nước máy của công ty cấp nước Tân Hòa trong tình trạng bị ô nhiễm nặng đã hơn 3 tháng nay. Thời gian đầu, nước chỉ ngả màu vàng, màu như “nước sâm” nhưng khoảng một tuần nay, nguồn nước từ vòi xả ra đen ngòm, có mùi lạ.

“Mỗi lần rửa hồ nước trong nhà như là đạp phải bùn non vậy, nó đen sì. Nước đen này tôi chỉ sử dụng để giội cầu, chùi rửa nhà vệ sinh là chính,” vợ ông Trần Văn Mua cho biết.

Còn ông Nguyễn Mạnh Thắng, lo lắng nói, “Nhà tôi xả nước liên tục vẫn không hết. Càng xả nước càng đen và đục. Mọi sinh hoạt cá nhân trong nhà đều bị ảnh hưởng.”

Muốn có nước sinh hoạt, không còn cách nào khác là phải xả ít nhất 30 lít ban đầu ra ngoài. Không chỉ gây lãng phí, việc sử dụng loại nước đen như nước cống này còn tiềm ẩn nhiều nguy cơ độc hại. Nhằm đối phó với nước bẩn, mọi người dùng khá nhiều xô chậu để dự trữ nước mưa sử dụng hoặc để đựng loại nước bẩn rồi cho lắng cặn mới sử dụng.

Dù bực tức, ngao ngán nhưng trước sự chây ì của các giới chức CSVN có trách nhiệm, song hàng trăm người dân hàng ngày vẫn phải liều mình sử dụng loại nước dơ bẩn này. Số ít sợ mối nguy hại đã tự đi mua nước sạch nơi khác về dùng. Hoặc sử dụng nước đóng bình để nấu ăn.

Người dân đã nhiều lần phản ánh sự việc lên khắp nơi và trực tiếp kêu cứu đến công ty Cấp Nước Sài Gòn nhưng tình trạng này vẫn chưa được giải quyết. (Tr.N)
09-25-2014 1:37:04 PM

Hành khách trên xe bị ném đá đã bị hỏng mắt trái

HUYỀN VI - Thứ Sáu, ngày 26/9/2014 - 17:59
(PLO)- Chiều ngày 29-6, BV Chợ Rẫy cho biết đã phẫu thuật lấy mắt trái bị hỏng ra khỏi hốc mắt cho bệnh nhân Trương Triệu Lương, 56 tuổi, ở quận 6, TP.HCM. Ông Lương là nạn nhân bị đối tượng xấu ném đá trúng vào mắt trái khi đang đi trên xe khách từ Gia Lai về TP.HCM vào tối ngày 24-9.

 Ông Trương Triệu Lương, bị hư mắt trái do bị ném đá khi đang đi trên xe khách từ Gia Lai về TP.HCM.
Ông Lương được chuyển từ bệnh viện tỉnh Đắk Lắk vào Bệnh viện Chợ Rẫy vào tối 25-9. Tại đây, các bác sĩ Chợ Rẫy đã phẫu thuật mắt cho nạn nhân nhưng vì vết thương quá nặng nên không thể cứu được mắt trái.
Các bác sĩ cho biết hòn đá ném trúng mắt ông Lương đã khiến nhãn cầu trái gần như vỡ đôi. Nên e kíp phẫu thuật buộc phải phẫu thuật hủy bỏ nhãn cầu, chỉ giữ lại võng mạc để sau đó gắn mắt giả. Ngoài chấn thương mắt ông Lương còn bị gãy xương mũi. Sau khi được các bác sĩ chăm sóc, sức khỏe của nạn nhân đã ổn định.
Đây là một trong số rất nhiều hành khách bị ném đá trong thời gian gần đây trên các xe khách lưu thông trên quốc lộ 14 ngang qua địa phận một số huyện của tỉnh Đắk Lắk.
HUYỀN VI

Công khai tài sản quan chức cho toàn dân là vi hiến?

(PL)- Ngay cả khi người kê khai khi giải trình bảo rằng tài sản đó có do “em cho, bố mẹ cho”, cơ quan chức năng thấy không hợp lý có quyền tiến hành xác minh ngay.
Ngày 25-9, tại hội nghị tập huấn pháp luật về phòng, chống tham nhũng năm 2014 trên địa bàn TP.HCM, liên quan đến vấn đề có nên công khai bản kê khai tài sản cho toàn dân biết hay không, ông Phí Ngọc Tuyển, Phó cục trưởng Cục Chống tham nhũng (Thanh tra Chính phủ), cho rằng: “Nếu đem công khai cho toàn dân biết thì không lường trước được, hậu quả không nhỏ, như thế sẽ vi hiến chắc chắn. Chúng ta chưa được phép công khai rộng rãi”. Hội nghị này do Hội đồng Phổ biến giáo dục pháp luật TP.HCM phối hợp với Thanh tra TP tổ chức.
Không thể công khai cho khắp bàn dân thiên hạ
Theo ông Tuyển, bản kê khai tài sản hiện nay được công khai với toàn thể cán bộ, công chức, viên chức của cơ quan, tổ chức, đơn vị nơi người đó thường xuyên làm việc. Bản kê khai của người ứng cử ĐBQH, đại biểu HĐND ngoài việc công khai tại nơi thường xuyên làm việc còn phải công khai tại hội nghị cử tri. Tuy nhiên, với chuyện công khai cho toàn dân biết, ông Tuyển cho rằng chúng ta không thể công khai bản kê khai tài sản cho khắp bàn dân thiên hạ biết được.
Có nghi ngờ tham nhũng là có quyền xác minh tài sản của cán bộ. Ảnh minh họa: HTD
Trao đổi với báo chí bên lề hội nghị, ông Phí Ngọc Tuyển phân tích Hiến pháp luôn bảo vệ quyền tài sản của công dân, cán bộ, công chức cũng là công dân, nếu đem công khai bản kê khai của họ thì vi phạm Hiến pháp. Ông Tuyển cũng cho biết các nước cũng có công khai bản kê khai tài sản cho toàn dân nhưng người ta chỉ công khai tờ phụ mà thôi. Còn nếu công khai toàn bộ bản kê khai, trong đó có thông tin chi tiết về tài sản thì không thể. “Như Indonesia, người ta công khai trên mạng nhưng không phải ai cũng xem được, anh muốn xem bản kê khai thì phải được cấp tài khoản, đồng thời trải qua cuộc phỏng vấn vì sao anh cần bản kê khai đó chứ không phải lên mạng là thấy đâu” - ông Tuyển thông tin.
Về vấn đề giải trình nguồn gốc tài sản, bấy lâu nay khi “bỗng dưng” bị lộ ra khối tài sản khủng, các quan chức, cán bộ hay biện minh tài sản đó không phải sở hữu của họ, là sở hữu của vợ con, người thân… rất khó xử lý. Trước tình hình này, ông Tuyển cho hay nếu tài sản đó hình thành trước 1-2-2013 (thời điểm Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật Phòng, chống tham nhũng có hiệu lực) thì không ai có quyền hỏi nguồn gốc số tài sản đó ở đâu mà có. Tuy nhiên, sau ngày đó nếu có số tài sản tăng thêm sẽ bị truy tới cùng.
 “Đối với các dinh thự của cán bộ mà báo chí phản ánh, cơ quan nào quản lý cán bộ ấy sẽ yêu cầu cán bộ đó trả lời về nguồn gốc dinh thự ở đâu mà có” - ông Tuyển nói.
Có nghi ngờ tham nhũng là có quyền xác minh
Tại hội nghị, ông Phí Ngọc Tuyển đặt vấn đề làm sao để biết được người kê khai tài sản có trung thực hay không. Tính trung thực cũng là một yêu cầu quan trọng mà người kê khai tài sản phải thực hiện. “Năm ngoái ở tỉnh Hậu Giang, chúng tôi có xác minh một trường hợp, người này còn khai cả chuyện đám cưới của con, bởi vì không thể giấu được đâu. Trong xã hội này có khoảng 10% có khả năng “làm số” (kiểm toán, kế toán) chứ nhiều đồng chí cứ ảo tưởng là sẽ lấp lửng được. Có người còn nói là tôi có cái ô tô, trước khi kê khai tôi bán đi, kê khai xong tôi mua lại, thế là tôi không phải ghi vào bản kê khai. Anh không trốn được đâu, anh bán ô tô thì anh còn có số tiền đó, chạy đi đâu được” - ông Tuyển nói.
Trên tinh thần đó, ông yêu cầu phải kê khai cụ thể, không thể chung chung. “Nếu nói anh có miếng đất tại quận Gò Vấp thì ai mà đi xác minh được, anh phải ghi rõ ràng, không có tọa độ thì phải có địa chỉ cụ thể ở số mấy, đường gì để cơ quan chức năng xác minh tài sản đó. Hay có đồng chí kê khai có cả cửa hàng để kinh doanh, buôn bán thì ít nhất cũng phải kê ra là anh đã bỏ bao nhiêu tiền để kinh doanh, giấy tờ nào có thể xác minh được. Như thế cơ quan chức năng có thể “soi” được tài sản đó” - ông Tuyển lý giải.
Cũng theo ông Tuyển, trước đây khi người có thẩm quyền yêu cầu hoặc khi cán bộ bị tố cáo có hành vi tham nhũng thì mới xác minh tài sản nhưng nay chỉ cần có kê khai, giải trình là đã có thể yêu cầu xác minh. Ngay cả khi người kê khai giải trình bảo rằng tài sản đó có do “em cho, bố mẹ cho”, cơ quan chức năng thấy không hợp lý cũng sẽ có quyền tiến hành xác minh ngay. “Chỉ cần có nghi ngờ tham nhũng là có quyền xác minh” - ông Tuyển nhấn mạnh.
Thứ Sáu, ngày 26/9/2014 - 02:40
TÁ LÂM

TP.HCM kiên quyết xử lý người có hành vi tham nhũng
Phát biểu tại hội nghị, Phó Chủ tịch UBND TP.HCM Tất Thành Cang khẳng định nếu chúng ta không làm tốt công tác phòng, chống tham nhũng sẽ ảnh hưởng xấu đến tình hình phát triển kinh tế-xã hội, an ninh, quốc phòng… và làm xói mòn niềm tin của người dân. Vì vậy, ông Cang đề nghị lãnh đạo của 24 quận, huyện phải làm tốt việc kê khai tài sản trong nội bộ cơ quan mình, tránh hình thức. Nếu phát hiện người có hành vi tham nhũng, TP sẽ xử lý kiên quyết, bất kể người đó là ai.