Saturday, July 12, 2014

Chọn ai: Thời gian quyết định không còn dài nữa


co my-trung











Theo nhiều nguồn tin hành lang “không có cách gì kiểm chứng”, thì trung ương đảng đang rất lo ngại về nội dung cuộc gặp Trung Quốc-Mỹ (Đối thoại Chiến lược và Kinh tế Mỹ-Trung) đang diễn ra tại Bắc Kinh trong hai ngày 08-09/07/2014 (1).
Nỗi lo của đảng là liệu rằng Mỹ và Trung Quốc, sau hàng loạt những phát ngôn leo thang của hai nước về việc Trung Quốc đang dùng các giàn khoan dầu bành trướng Biển Đông, đã nhận ra quyết tâm của nhau và “sự lừng chừng của Việt Nam”, nên có thể sẽ đi đến một thỏa hiệp “gạt Việt Nam sang một bên” nhằm chia chác các lợi thế địa chính trị của Việt Nam cho lợi ích riêng của các cường quốc. Nếu có thỏa thuận đó thì “thân phận” Việt Nam sẽ như thế nào?
Trước tiên, việc Mỹ muốn ủng hộ Việt Nam và tác động vào đảng cầm quyền để từ đó dựng lên một phe chính quyền thân Mỹ là điều có thể xẩy ra. Tuy nhiên, đó chỉ là điều kiện cần, điều kiện đủ là bản thân phe này phải tự mình mạnh lên và nắm quyền chủ động khi tình thế đòi hỏi quyết tâm hành động. Bất kỳ vì một lý do gì làm cho phe này lừng chừng lại và đưa Việt Nam vào một tình thế “muốn có cả Mỹ và Trung Quốc là đồng minh” để “vừa giữ nước vừa giữ đảng trong chiến lược lâu dài” thì điều kiện đủ lại không có để điều kiện cần kia xẩy ra được. Đảng hãy nhớ rằng các cường quốc họ đối lập trong chiến lược nhưng luôn có sự hợp tác khi cả hai cùng có lợi trong từng thời điểm.
Điểm qua những tuyên bố gần đây nhất của ông Nguyễn Phú Trọng, Tổng Bí Thư đảng CSVN, thì dường như đảng vẫn chưa dứt khoát muốn thoát Trung. Ngày 1/7 phát biểu trước cử tri Hà Nội “bức xúc” vì tình hình biển Đông, ông vẫn nói về Trung quốc như “người bạn láng giềng lớn, muốn hay không cũng phải ăn đời ở kiếp với nhau”, và cho rằng làm gì thì cũng phải “giữ được an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ chế độ, bảo vệ Đảng, bảo vệ nhân dân, không để nội bộ rối ren” (2).
Dù đảng có nói gì đi nữa, tôi biết đảng thừa hiểu rằng chỉ có thể dựa vào Mỹ để ngăn cản âm mưu lấn chiếm lãnh thổ của Trung Quốc đối với Việt Nam nên hôm nay họ “lo lắng không yên” cũng là phải. Đảng biết kịch bản các nước lớn bắt tay để chia chác lợi ích trên vai các nước nhỏ là chuyện xưa nay không thiếu. Nhưng với những tuyên bố như trên từ người lãnh đạo cao nhất nước, làm sao Mỹ yên tâm để “bắt tay” với Việt Nam?
“Khu tự trị Việt Nam”
Mỹ và Trung Quốc, trong chiến lược đường dài dĩ nhiên họ là đối thủ, nhưng trong chiến thuật ngắn hạn, sự liên minh tạm thời là điều luôn luôn có vì những lợi ích kinh tế. Nhất là Mỹ, bản thân nhà nước Mỹ xây dựng trên học thuyết Tư Bản, có nghĩa là các bước đi ngoại giao, chính trị, quân sự nào đó… thì cũng chỉ phục vụ cho lợi ích kinh tế. Trong quan hệ Mỹ-Trung-Việt cũng thế, khi Mỹ xét chọn, kết quả kinh tế sẽ là yếu tố quyết định cho quả cân nghiêng về bên nào.
Trừ khi Trung Quốc xâm phạm đến Mỹ (hoặc những đồng minh lâu đời của Mỹ) một cách thẳng thắn và bá đạo thì khác, còn lại đối với những nước mà quan hệ “chưa đạt được gì cụ thể” như kiểu Việt Nam thì dù Trung quốc có “bắt nạt” kiểu nào, mà Việt Nam lại vẫn “lừng khừng” muốn “bắt cá hai tay”, Mỹ dĩ nhiên phải tính toán “được-mất”. Trong tình thế đó thì lợi ích kinh tế sẽ là yếu tố chi phối quan trọng, theo đó Mỹ sẽ chọn chiến thuật mà cả Mỹ và Trung Quốc đều có sự hài lòng tương đối. Việt Nam với một thị trường tiêu thụ chỉ bằng 8% thị trường Trung Quốc, kim ngạch Mỹ- Trung cũng cao hơn kim ngạch Mỹ-Việt gấp hơn 10 lần, dĩ nhiên Mỹ phải ưu tiên Trung Quốc hơn Việt Nam trong các quyết sách đối ngoại ngắn và trung hạn của mình theo nhu cần trong từng thời điểm.
Về địa chính trị, biết rằng vai trò của Việt Nam là quan trọng ở Biển Đông và với dự án Kênh Đào Kra, nhưng Mỹ cũng không thể bảo vệ Việt Nam được nếu đảng cầm quyền Việt Nam không tỏ ra một thiện chí cho thấy họ thật sự coi trọng quan hệ Việt-Mỹ hơn quan hệ Việt-Trung. Đó là nói về mặt lý thuyết chiến lược, còn lý thuyết chiến thuật ngắn hạn hiện nay thì Mỹ cũng không thể bảo vệ Việt Nam được khi mà về công khai, chưa có hiệp ước quân sự hay đồng minh chiến lược nào được ký kết chính thức giữa hai nước.
Trong quá khứ đến hiện tại (và nhiều khả năng là sẽ còn tiếp diễn ở tương lai), Việt Nam (dưới sự dẫn dắt của đảng CS) đã nhiều lần từ chối các bàn tay mà Mỹ chìa ra cho mình, khiến cho quan hệ Mỹ-Việt chiều rộng thì có mà chiều sâu thì chưa vì vốn dĩ thể chế hai bên khác nhau, và đa số người dân Việt Nam (trong và ngoài nước) đều không tin cậy chính quyền Việt Nam, thì làm sao Mỹ tin cậy đảng cầm quyền Việt Nam để cùng tiến vào chiều sâu được?
Mỹ cần Việt Nam cho chiến lược của Mỹ ở Thái Bình Dương và Đông Nam Á, nhất là trong chính sách xoay trục hiện nay không ? Khẳng định là có. Chính vì thế nên từ năm 1991 Mỹ xem xét bỏ cấm vận, tái lập quan hệ đại sứ, ủng hộ cho Việt Nam vào Asean, WTO… cấp quy chế có lợi cho Việt Nam trong hiệp định thương mại Việt-Mỹ… khi các ông thủ tướng Việt Nam sang Mỹ vận động và xin giúp đỡ. Mới nhất là Mỹ đã “thông cảm” cho Việt Nam được tạm hoãn và thi hành dần dần một số điều kiện để vào TPP bất chấp nội lực của Việt Nam là yếu nhất và mô hình chính trị “không giống ai” của Việt Nam trong khối đó. Sự kiên nhẫn của chính phủ Mỹ với đảng cầm quyền Việt Nam theo tinh thần “chúng ta cùng thắng” (win-win) là thiện chí ai cũng có thể thấy và không thể phủ nhận.
Thế nhưng bất chấp các thiện chí trên của Mỹ, đảng cầm quyền luôn lý luận rằng quan hệ với Mỹ không cần thiết bằng quan hệ với Trung Quốc, vì mục tiêu giữ đảng và đường lối XHCN. Ngay cả khi lúc này, dù đa số nhân dân (và các đảng viên thân Mỹ) cũng đã biết rằng dã tâm của Trung Quốc là lấn chiếm lãnh thổ (cả trên biển và đất liền) của Việt Nam. Dùng miếng mồi ý thức hệ XHCN để chi phối hệ thống chính trị Việt Nam, Trung Quốc đã và đang tiến tới việc biến Việt Nam chỉ còn là một quốc gia độc lập trên danh nghĩa nhưng trong thực tế thì ở tư thế như một “tỉnh tự trị” của Trung Quốc. Các điều kiện cần của âm mưu này đều đã thể hiện ra bằng các thỏa thuận “ngầm” song phương mang tính áp chế và ràng buộc mà đến nay phe chính quyền đang xì ra cho dân biết dần dần.
Cường quốc thôn tính nước nhỏ tưởng chỉ có một bài bản. Đó là làm nước nhỏ suy yếu về nội lực, phụ thuộc về kinh tế-chính trị-quân sự… cô độc về ngoại giao để không phản kháng được. Điều này đảng cũng biết, thế nhưng đảng vẫn đưa Việt Nam sa vào ngày càng sâu. Trong các bước đi quan trọng, Trung Quốc đều muốn Việt Nam phải đi theo và đi sau mình. Sự kiện Trung Quốc cản trở Việt Nam gia nhập WTO là một ví dụ gần và dễ thấy nhất.
cat luoi bo















Sau năm 1972, Mao Trạch Đông chủ động bắt tay với Mỹ để phát triển kinh tế theo học thuyết “mèo trắng mèo đen” của Đặng Tiểu Bình để tái thiết Trung Quốc. Dù thế, họ vẫn ép đảng tiếp tục đánh Mỹ “đến người Việt Nam cuối cùng” và coi Mỹ là “thù địch”. Sau khi thành công trong việc làm Việt Nam xa lánh Nga và Mỹ, Trung Quốc đi các bước tiếp theo là tất yếu, xâm lấn lãnh thổ và tìm cách “chi phối chính trị để gián tiếp đô hộ”. Tiến công chi phối-phá hoại toàn diện từ kinh tế, chính trị, an ninh quân sự cho đến việc hôm nay là các giàn khoan… tất cả là một bài bản nhịp nhàng logic và là chiến lược lâu dài.
Vậy quan hệ thân thiết với Mỹ hay với Trung Quốc, quan hệ nào có lợi và bất lợi cho Việt Nam hơn, chắc mọi người Việt “tử tế” đều thấy rõ. Đảng, dù “lú” tới mấy, chẳng lẽ không thấy sao, nhưng dường như đảng không muốn chọn lối đi tốt nhất cho đất nước và cho dân tộc. Nguyên nhân nằm ở đâu?
Gần đây nhất, Mỹ và các đồng minh trong khu vực Đông Á đều chính thức lên tiếng là sẽ ủng hộ Việt Nam nếu Việt Nam thoát Trung cũng như cải cách chính trị để nội lực mạnh lên, nhằm phụ họ trong việc kềm chế Trung Quốc trong đường dài, nhưng phe đảng quyền vẫn tỏ ra không muốn thực hiện. Điều đó dĩ nhiên làm các nước phương Tây và đồng minh Đông Á càng có cơ sở để hoài nghi việc liệu họ có nên giúp đỡ Việt Nam mạnh mẽ hơn không? hay là họ giúp Việt Nam lúc này để rồi sau này Trung Quốc hưởng lợi vì Việt Nam vẫn là đàn em của Trung Quốc?
Nếu Việt Nam cứ tiếp tục chọn con đường trở thành “khu tự trị và là tiền đồn ĐNÁ” của Trung Quốc như lâu nay, thì tôi tin rằng Mỹ sẽ bỏ rơi Việt Nam mà thỏa hiệp với Trung Quốc để làm dịu đi sự căng thẳng vì mấy cái giàn khoan lúc này. Nếu Việt Nam là “ông em” của “ông anh Trung Cộng” thì dĩ nhiên các “đại ca” như Mỹ sẽ không quan trọng đàn em nữa mà đàm phán với “ông anh-người có quyền quyết định”. Đó là phong cách làm việc của tư bản, nhanh gọn lẹ và đúng người đúng việc.
Điều này đã bắt đầu hé lộ khi chúng ta thấy các phát biểu của Tập Cận Bình (*) với John Kerry tại Bắc Kinh trong ngày 09/07/2014. Một mặt Trung Quốc khẳng định với Mỹ là lập trường của họ trong tranh chấp Biển Đông (với Việt Nam) hiện nay là đúng và sẽ không từ bỏ, một mặt Trung Quốc không muốn đối đầu với Mỹ và đề nghị củng cố thương mại để cùng nhau kiếm tiền. Tập Cận Bình dùng những từ ngữ mang tính hàm ý rất cao như “Đối đầu TQ – Mỹ chắc chắn sẽ là một thảm họa (Mỹ-Trung không nên vì một Việt Nam “thấp kém và không nhất quán” như thế mà đi đến đối đầu?). Phát ngôn của Tập Cận Bình hàm ý như thế e rằng không sai mấy nếu Việt Nam không nhanh chóng tỏ rõ lựa chọn đối ngoại của mình.
Nội dung quan chức hai bên như John Kerry và Tập Cận Bình nói ra cho thấy khả năng thỏa hiệp Biển Đông theo mô thức “bỏ Việt Nam qua một bên” là có cơ sở để nhận định nếu Việt Nam vẫn cứ “thiếu nhất quán” như lâu nay. Nếu đảng cầm quyền Việt Nam vẫn tự huyễn hoặc rằng Biển Đông, kênh đào Kra và cảng Cam Ranh là những lợi thế địa chính trị để mặc cả với Mỹ hơn là thiện chí chân thành hợp tác để hai bên cùng có lợi thì Mỹ sẽ bỏ thật. Công thức thỏa hiệp có thể dự đoán theo kịch bản: tranh chấp lãnh hải với các nước Philippin, Nhật Bản, Hàn Quốc (các đồng minh của Mỹ lâu nay) thì Trung Quốc nên và phải dừng lại (ít nhất là tạm thời trong lúc này) vì các nước này Mỹ không thể bỏ. Còn lại là Nga cứ ở Cam Ranh, Trung Quốc cứ lấy Hoàng Sa-Trường Sa và Mỹ sẽ giữ kênh đào Kra. Thế là xong vấn đề Việt Nam, và ba cường quốc Mỹ-Nga-Trung Quốc tạm chấm dứt vấn đề Biển Đông để quay qua các khu vực khác. Kịch bản đó đối với Việt Nam chính là thời kỳ Hán thuộc lần thứ 3.
Cơ hội cuối cùng cho tất cả
Một quốc gia Do Thái Giáo nhỏ bé như Israel mà quyết tâm lập quốc và làm mình lớn mạnh lên được trong một khu vực toàn các quốc gia Hồi Giáo, là nhờ làm đồng minh với Mỹ-Âu châu. Dù khác nhau về hình thức nhưng giống nhau về bản chất trong kiểu như Việt Nam ở sát bên Trung Quốc. Vậy vì cái gì mà đảng cầm quyền Việt Nam không thể đưa đất nước làm được như dân Do Thái, phải chăng vì chủ nghĩa Mác Lê và quyết tâm tiến lên CNXH quan trọng hơn lãnh thổ và sự hùng mạnh, tự chủ của quốc gia-dân tộc trong một tư thế như Israel hôm nay?
Chừng nào đảng còn muốn giữ quan hệ cộng sản và XHCN cho “giống Trung Quốc” thì sẽ không có ông Mỹ- ông Âu nào có thể giúp gì được cho Việt Nam vì họ không tin và không cần mối quan hệ “thiếu nhất quán” đó. Nếu các quan chức trung ương đảng thuộc phe thân Mỹ lo sợ sự thỏa hiệp này sẽ làm Việt Nam “mất nước” như tôi nghe đồn sáng nay thì hãy nhanh chóng hành động trước khi quá trễ, đây là CƠ HỘI CUỐI CÙNG CỦA ĐẢNG để chọn con đường chuyển hóa từ trên xuống trước khi cuộc cách mạng quần chúng từ dưới lên xảy ra (mà các điều kiện cần và đủ đang dần hội tụ rồi). Coi chừng đây cũng là cơ hội cuối cùng, mà chọn lựa sai lầm sẽ “sai một ly đi một dậm”: sẽ dẫn đến mất nước và mất cả đảng.
Chuyện xưa không xét, nếu Hoàng Sa-Trường Sa mất lúc này, dân tộc Việt Nam “có đầy đủ thông tin và thẩm quyền” để nhận định: “tội là ở đảng”.
Nguyễn An Dân
(Ngày 09/07/2014)
(1) http://vietnamnet.vn/vn/chinh-tri/185125/ong-tap-can-binh–doi-dau-voi-my-se-la-tham-hoa.html
(2) http://vietnamnet.vn/vn/chinh-tri/183735/tong-bi-thu–khong-ai-chon-duoc-lang-gieng.html
________________
LTS (CH): Tác giả gửi trực tiếp cho Chuyển Hóa. Bài viết thể hiện quan điểm của tác giả.

Sáu mươi năm ngày đất nước bị chia đôi


Tạ Quang Bửu ký hiệp định Geneve
Phần I: Hiệp Định Geneve 1954
Bối cảnh lịch sử
Cuộc chiến tranh giữa Pháp và Việt Minh 1946 -1954 đã được 8 năm , hai bên đều mệt mỏi thiệt hại nhiều nhân mạng. Điện Biên Phủ, trận đánh lớn nhất trong cuộc chiến này bắt đầu ngày 13-3-1954, quân Pháp yếu thế rõ rệt so với Việt Minh.
Gần cuối tháng 3 Pháp chính thức yêu cầu Mỹ cho oanh tạc ồ ạt cứu ngay mặt trận, Tổng thống Eisenhower và Bộ tham mưu, các cố vấn tòa Bạch ốc nghiên cứu kế hoạch rồi tham khảo ý kiến các vị đại diện Quốc hội. Giới Lập pháp đòi Hành pháp phải thực hiện 3 điều kiện để được Quốc hội ủng hộ:
- Phải có sự tham gia các nước Đông nam Á, các nươc Liên hiệp Anh
- Pháp phải trả độc lập cho Việt, Mên, Lào
- Pháp phải ở lại chiến đấu chống CS
TT Eisenhower theo yêu cầu các vị đại diện Quốc hội cử ngoại trưởng Dulles vận động Anh, Pháp và các nước Đông nam Á tham gia liên minh quân sự. Mặc dù khẩn khoản xin Mỹ oanh tạc cứu nguy nhưng Pháp không chịu tham gia Liên minh và đi tìm hòa bình vì bị trong nước chống đối. Người dân, báo chí Pháp cho rằng cuộc chiến nay chỉ là đánh thuê cho Mỹ. Pháp tin tưởng vào Hội nghị Genève sẽ khai mạc ngày 26-4-1954, họ cho biết trường hợp nếu không ký được Hiệp định sẽ tiếp tục cuộc chiến. Người Anh bác bỏ lời mời của Mỹ tham gia Liên minh và tin tưởng vào Genève, chỉ tham gia chiên tranh nếu Hội nghị trở ngại. Mỹ khuyên Pháp tiếp tục cuộc chiến không tham gia Hội nghị, họ coi Genève là sự thất bại vì sẽ phải nhường đất cho Cộng Sản, họ biết rằng các cường quốc Tây phương cũng như Cộng sản chủ trương chia đôi Việt Nam, trong lúc này Anh và Nga đã ngầm chủ trương như vậy.
Mỹ thất bại không cứu được ĐBP vì Anh không chịu tham gia Liên minh mà Quốc hội yêu cầu.
Hiệp định Genève  
Ngày 26-4 Hội nghị Genève (2) khai mạc để giải quyết các vấn đề Triều Tiên và Đông Dương. Cuộc thảo luận Triều Tiên tại Genève không đạt kết quả. Ngày 7-5-1954 ĐBP thất thủ, phái đoàn Pháp bị mất mặt tại Hội nghị, cuộc họp thảo luận về Đông Dương thực sự bắt đầu ngày 8-5-1954. Các nước tham dự và đại diện gồm Anh, ngoại trưởng Eden; Pháp, Bidault, sau ngày 19-6 là Chauvel; Mỹ, Thứ trưởng ngoại giao Smith; Nga, ngoại trưởng Molotov; Trung cộng, Thủ tướng Chu ân Lai; Quốc gia Việt Nam, Nguyễn Quốc Định, đầu tháng 7 là Trần Văn Đỗ; Việt Minh Thủ tướng Phạm văn Đồng. Hiệp định được ký kết ngày 20-7-1954 gồm 4 văn kiện
1- Hiệp định đình chiến tại Việt Nam
2- Hiệp định đình chiến tại Lào
3- Hiệp định đình chiến tại Cao Mên
4- Tuyên bố cuối cùng, không có chữ ký
Phái đoàn Quốc gia Việt Nam và Hoa Kỳ không ký vào bất cứ văn kiện nào của Hiệp định
Hiệp Định Genève đình chiến ở Việt Nam gồm 6 chương 47 điều (Xin sơ lược)
Chương I – Giới tuyến quân sự tạm thời, khu phi quân sự. Thời hạn rút quân không quá 300 ngày từ 20-7
Chương II- Nguyên tắc và cách thức thi hành Hiệp định. Điều 14- Trong khi chờ tổng tuyển cử thống nhất đất nước, mỗi bên phụ trách quản trị hành chánh khu vực của mình. Thời hạn rút Hà nội 80 ngày, Hải dương 100 ngày, Hải phòng 300 ngày.
Chương III- Cấm đem thêm quân đội, nhân viên quân sự, vũ khí đạn dược mới vào căn cứ quân sự.
Chương IV –Tù binh và thường dân bị giam giữ: Thời hạn 30 ngày để trao trả tù binh.
Chương V- Điều khoản linh tinh
Chương VI Ban Liên Hợp và Ủy hội quốc tế ở Việt Nam: Ủy hội quốc tế kiểm soát đình chiến gồm Ấn độ (chủ tịch), Gia Nã Đại, Ba Lan.
Thứ trưởng quốc phòng Tạ Quang Bửu đại diện Việt Minh ký
Thiếu tướng Henri Deteil thay mặt Tư lệnh Đông dương ký
Bản tuyên bố cuối cùng ngày 21-7-1954 gồm 13 điểm (3)
Bản tuyên bố cuối cùng về tái lập hòa bình Đông Dương không mang chữ ký của bất cứ phái đoàn nào tham dự hội nghị, trong đó điều 7 nói nguyên văn: “Hội nghị tuyên bố, giải pháp cho những vấn đề chính trị ở Việt Nam dựa trên cơ sở tôn trọng độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ sẽ cho phép người dân Việt Nam được hưởng nền tự do cơ bản thông qua kết quả tổng tuyển cử tự do sẽ được tổ chức tháng 7-1956”
Sau khi Hội nghị khai mạc được một tháng và một tuần, vào ngày 4-6-1954, người Pháp đã trao trả độc lập hoàn toàn cho chính phủ Quốc gia Việt Nam “Thủ tướng Bửu lộc dồn nỗ lực vào việc điều đình nhằm mục đích kiện toàn độc lập cho Việt Nam. Sau ba tháng vận động và thảo luận, ông đi tới kết quả là ký kết với chính phủ Pháp hai hiệp ước ngày 4-6-54. Như thế ông đã hoàn tất sứ mạng được giao phó và thỏa mãn ý nguyện mà Quốc Trưởng Bảo Đại đã ấp ủ từ 1949” (4)
Việt Nam được độc lập hoàn toàn một tháng rưỡi từ 4-6 cho tới 20-7 thì bị chia đôi
Dưới đây là nhận định, ý kiến của các nhà bình luận Tây phương: Jean Lacouture, ký giả lão thành người Pháp nói trong “Kết Thúc Một Cuộc Chiến, Đông Dương năm 1954” chương 23 (5) Xin sơ lược. Tám năm chiến tranh, 400,000 người chết, ba tháng thảo luận từ 26-4 tới 21-7, ông Trần Văn Đỗ chống lại sự chia đôi đất nước. Tuyên bố sau cùng ngày 21-7 định ngày Tổng tuyển cử cho Việt Nam vào tháng 7-1956, cần có sự tham khảo giữa hai miền từ 20-7-1955 về trước.
Tại VN, thời hạn 300 ngày để hai bên rút quân về trên hoặc dưới vĩ tuyến 17, sau 30 ngày trao trả tù binh. Tại Lào từ tháng 6 tới tháng 8 có hiệu lực. Tại Mên từ tháng 7 tới tháng 8 có hiệu lực
“Nói về quan điểm người Việt nam, thái độ hoàn toàn bác bỏ (Hiệp định) của chính phủ Bửu Lộc và chính phủ Ngô Đình Diệm rất đáng kính trọng. Người Việt chân chính Quốc gia hay Cộng sản không ai có thể chấp nhận chia đôi đất nước dù chỉ là trong một khoảng thời gian”(6)
Việc chia đôi VN do hai mục đích chính của Pháp: cứu Quân đoàn viễn chinh; để cho Quốc gia Việt nam thiết lập cơ sở sau một biên giới vững chắc. Từ cuối tháng 6 Pháp ủng hộ việc chia đôi, từ ngày 10-6 Pháp đòi chia VN tại vĩ tuyến 18. Cuối tháng 6, đồng minh Anh Mỹ đề nghị tại vĩ tuyến 17. Phía Việt Minh mới đầu đòi chia tại vĩ tuyên 13, mười hai ngày sau họ chuyển tới vĩ tuyến 14. Ngày 13-7 Phạm văn Đồng nhượng bộ lên tới vĩ tuyến 16 dưới áp lực Chu Ân Lai và Dulles khi ngoại trưởng Mỹ này tới Paris đã tạo áp lực lên phía CS. Thủ tướng Mendes-France đòi đưa lên xa hơn. Đêm 19-7 đưa lên cao hơn một một ít dặm và trưa 20-7 Molotov, ngoại trưởng Nga đồng ý quan điểm của Anh-Mỹ (ngày 29-6) lấy vĩ tuyến 17.
Một viên chức ngoại giao cao cấp của Pháp đã tham dự hội nghị cho rằng: Thỏa thuận ngày 20-7 khiến phía Pháp có lợi. Ông ta lý luận tình hình quân sự lúc đó rất nguy kịch, ta khó mà giữ được Hà nội cho dù gửi thêm hai sư đoàn tuyển mộ cũng không giúp gì được. Hà Nội có thể bị cắt khỏi Hải phòng chỉ trong một ngày. Nếu rui lui trong lửa đạn sẽ thiệt hại nặng. Hải phòng cũng sẽ phải rút….mien Nam sẽ bị đe dọa vì ta tập trung lực lượng ở miền Bắc.
Từ những thông tin đó ta thấy chia đất nước tại vĩ tuyến 13 đúng với thực trạng hơn là tại vĩ tuyến 17 mà chúng ta đã làm được. Có nghĩa là người Pháp đã đòi được nhiều hơn thực trạng chiến trường. Về ngày bầu cử người Pháp ấn định nó thật xa hay không xác định ngày càng tốt và giao trách nhiệm cho Ủy hội quốc tế. Vào ngày 15-7 Nga đề nghị cuối năm 1955. Lúc 5 giờ chiều ngày 20-7, mọi người đồng ý với Molotov đề nghị hai năm, Mỹ và Pháp muốn hoãn lại ít nhất 18 tháng.
Về thời hạn rút quân Pháp đề nghị 380 ngày, Việt Minh đề nghị ba tháng, sau cùng thỏa thuận 300 ngày. Khác với Munich tháng 9-1938 để tránh chiến tranh, Genève tháng 7-1954 vì Pháp quá mệt mỏi sau tám năm khói lửa.
Thủ tướng Mendes-France trình bầy kết quả trước Quốc hội ngày 22-7 cho biết kết quả Hiệp Định không tốt đẹp. Chính phủ không bị chỉ trích nhiều, đối lập cũng không đả phá, cả chủ bại và chủ chiến cũng tỏ vẻ ủng hộ. Quốc hội chấp thuận với đa số phiếu lớn sau ba lần biểu quyết ngày 23-7. Báo Le Figaro ngày 21-7 viết: Chúng ta đau buồn vì quyền lợi của chúng ta ở Viễn đông mất một nửa, phần còn lại cũng bị lung lay. Thế giới Tự do phải nhường đất cho CS, cũng đau buồn nhưng dù sao cũng cám ơn Thủ tướng Mendes-France đã khiến cho máu của người Pháp không còn chẩy cho một cuộc chiến vô vọng.
Ngày 21-7, Tổng thống Eisenhower trả lời phỏng vấn nói ông không chỉ trích những gì đã làm ở Genève vì ông không có giải pháp nào hay hơn để đề nghị. Ngoại trưởng Pháp Chauvel nói: “không có kết thúc tốt đẹp cho một việc tồi tệ”. Eden nói cùng một ý nghĩ nhưng mang vẻ lạc quan “Chúng tôi đã cố gắng hết mình”. Tôi xin đề cập nhận định về Genève. Fredrik Logevall, Giáo sư sử Mỹ, nói trong cuốn Tro Tàn Cuả Chiến Tranh, Sự Suy Tàn Của Một Đế Quốc Và Sự Thành Hình Một Việt Nam, phần năm (7)
Logevall nói hòa ước đình chiến giữa Pháp và Việt Minh chia đôi (VN) tại vĩ tuyến 17, và khu phi quân sự chiều ngang 6 dặm dọc theo vĩ tuyến. Pháp rút vào Nam, Việt Minh ra Bắc, Hiệp định cấm hai bên không được liên kết quân sự với nước khác và nhận viện trợ quân sự. Thành lập Uỷ hội quốc tế do Ấn độ làm chủ tịch để kiểm soát, Hiệp định công nhận đường phân chia chỉ là tạm thời như trong tuyên bố sau cùng, một văn kiện không có chữ ký mà chỉ được xác nhận bằng miệng (8) trong phiên họp cuối cùng trưa 21-7. Ranh giới chỉ là tạm thời không được coi là biên giới quân sự hay chính trị. Tuyên bố cuối cùng dự trù một cuộc tổng tuyển cử bằng phiếu kín trên toàn cõi VN vào tháng 7-1956 với sự tham khảo đại diện hai miền trước đó một năm (tháng 7-1955).
Mỹ và chính phủ QGVN không ưng thuận kết quả Hiệp định. Thứ trưởng ngoại giao Mỹ Smith nói chúng tôi sẽ tiếp tục tìm sự thống nhất bằng bầu cử có Liên hiệp quốc giám sát để bảo đảm dân chủ.
Thủ tướng Mendes-France nói: tối 20-7 một khó khăn đè nặng lên mọi cố gắng của chúng ta mà ta không thể chống lại, ông nói người dân Pháp đòi phải tìm hòa bình, không có gì sai lầm tối đó (20-7). Tôi đã thấy tận mắt ý muốn của đại chúng mà ta đã thấy rõ, vâng tôi đã thấy định mệnh hướng về ý muốn ấy.
Từ 1945 tới tháng 7-1954 Pháp đã đưa sang tổng cộng 489,560 người lính tại Đông Dương gồm 233,467 người Pháp, 72,833 người Lê Dương, 122,920 Bắc Phi, 60,340 Phi châu. Ngoài ra còn hằng trăm ngàn quân bản xứ Đông Dương hoặc các nước Liên kết (Việt, Mên, Lào) khi kết thúc Hội nghị Genève, khoảng 110,000 người thuộc Liên hiệp Pháp bị thiệt mạng.
Logevall nói: Một câu hỏi được đặt ra là tại sao Việt Minh không đòi được nhiều hơn? Hay nói khác đi tại sao người Pháp đàm phán giỏi hơn là đánh trận? Trước đó Bidault nói Pháp yếu thế hơn Việt Minh trong ván bài, Điện Biên Phủ thất thủ, Hải Phòng, Chấu thổ bị đe dọa, Quân đội QGVN đào ngũ nhiều, tám trăm người một ngày. Người dân trong vùng thuộc Pháp tại Bắc kỳ (châu thổ) mất tinh thần, trong khi đó người dân Pháp đòi tìm hòa bình, đáng lý phải chia ở vĩ tuyến 13.
Một nhà ngoại giao Pháp tham dự hội nghị nói đúng ra chia ở vĩ tuyến 13 chứ không phải 17 vì Pháp yếu thế tại mặt trận. Nhưng sự thật lại không thế, câu châm ngôn xưa “Ta chỉ thắng tại bàn hội nghị nếu thắng tại chiến trường” lại không đúng trong trường hợp này. Các sử gia giải thích kết quả của Genève là do áp lực của Sô viết và Trung cộng đối với Việt Minh, đó là điểm quan trọng nhất.
Các siêu cường Cộng sản không muốn leo thang chiến tranh để tránh Mỹ can thiệp trực tiếp. Nga, Tầu muốn tỏ sự sống chung hòa bình tại Á châu và trên thế giới để tăng uy tín, Trung cộng muốn củng cố ảnh hưởng tại Đông Dương và ngăn cản tham vọng bành trướng của Việt Minh. Mấy tuần trước khi có Hội nghị người ta đã trao đổi nhau chủ trương phân chia, Trung Cộng đóng vai chính trong việc kết thúc cuộc chiến Đông Dương. Các viên chức Việt Minh buồn phiền vì áp lực quan thầy Cộng Sản là điều rõ ràng. Sau phiên họp chót Phạm Văn Đồng nói với người phụ tá: Họ phản bội chúng ta (ám chỉ Chu Ân Lai). Việt minh đàm phán giữa năm 1954 vì sợ Mỹ can thiệp.
Nga Tầu đề nghị hoãn tổng tuyển cử 6 tháng mà Phạm Văn Đồng đã đề nghị, Việt Minh tin là họ sẽ thắng trong cuộc bầu cử toàn quốc. Người Tây phương nghĩ là Hồ Chí Minh sẽ thắng cử nên đã muốn định ngày xa hơn hoặc không định ngày. TT Eisenhower nói có thể 80% người dân muốn bỏ phiếu cho ông Hồ Chí Minh CS hơn là bỏ cho Quốc trưởng Bảo Đại. Cả Chu Ân Lai và Molotov đều không muốn thúc dục bầu cử sớm, ngày 23-6 trong một phiên họp tại Berne Thủ tướng Pháp nói tổng tuyển cử khi nào dân hai miền đã bình tâm trở lại. Chu Ân Lai nói đàm phán thỏa thuận chính trị sẽ do hai chính phủ VN trực tiếp bàn với nhau, ông không hề nói họ cần thương thuyết ngay. Ngày 16-7-1954 Molotov đề nghị tổng tuyển cử tháng 6-1955, sau đó ông nói tháng nào trong năm 1955 cũng được. Tây phương từ chối, Molotov đề nghị tháng 7-1956 tức hai năm sau.
Người Mỹ chỉ mong Hội nghị Genève tan vỡ không ký kết, Logevall khen Mendes-France hứa tìm hòa bình trong một tháng, nếu thất bại ông sẽ từ chức và ông đã thành công, ông ta cương quyết vừa hoàn thành sự thỏa thuận và đạt được sự nhượng bộ (bên VM) cho Pháp. Tại Mỹ Eisenhower họp báo cùng ngày nói một Hiệp định được ký kết ngăn chận đổ máu, nhưng ông nhấn mạnh Mỹ không tham gia, không bị ràng buộc gì với Hiệp định vì nó có những điều mà Mỹ không ủng hộ (mất đất). Nhiệm vụ chúng ta là thành lập Liên minh chống bành trướng tại Đông Nam Á. Ông cũng biết là Hiệp định tốt đẹp hơn là Pháp và Tây phương mong đợi. Ông cảm thấy những lời cứng rắn của Mỹ qua bài diễn văn tháng 9-1953 của Dulles đã có kết quả, ngoại trưởng Mỹ đã đe dọa trừng phạt Trung cộng nếu họ trực tiếp can thiệp cuộc chiến.
Mỹ đe dọa can thiệp Đông Dương bằng quân sự khiến Nga, Trung cộng e ngại và ép Việt Minh phải nhượng bộ sau cùng.
Trước cuộc tổng tuyển cử dự trù tháng 7-1956, Mỹ có hai năm để xây dựng chính phủ miền nam VN khi không còn thực dân.
(Hết phần I)
© Trọng Đạt
© Đàn Chim Việt

Trang mạng yểm trợ nhân quyền toàn cầu movements.org

movements
Trang mạng nhân quyền movements.org và người điều hành David Keyes-Photo: RFA

Việt-Long- Richard Finney - RFA 2014-07-11

Nhà báo Richard Finney của đài Á Châu Tự Do phỏng vấn ông David Keyes, giám đốc điều hành trang mạng, hôm thứ năm, 10 tháng 7, 2014
RICHARD FINNEY: Ông vui lòng nói về trang web của ông và cho biết ông hy vọng những gì ở trang web ấy.
DAVID KEYES: Movements.org (với chữ Movements viết số nhiều) là một phương tiện truyền thông liên lạc mới, do tổ chức Thăng tiến nhân quyền kiến tạo. Nó kết nối những người hoạt động nhân quyền và những người bất đồng chính kiến ở những xã hội đóng kín với mọi người trên thế giới, nhất là những người có tài năng độc đáo có thể giúp họ. Và nó tạo cơ hội cho những cá nhân trong nhiều lãnh vực khác nhau, từ báo chí đến tạo dựng chính sách, đến quan hệ công chúng, các nghệ sĩ, ca sĩ... những người đóng góp trực tiếp vào cuộc tranh đấu cho nhân quyền. Chúng tôi thấy được là một số lượng đông đảo những người hoạt động nhân quyền ở những nước như Syria, Iran, Trung Quốc, và Nga đang hết sức cần giúp đỡ. Và mặt khác, còn có rất nhiều người mang ý nguyện và thiện chí giúp đỡ họ mà không có một cơ chế hay phương tiện thích hợp để qua đó mà giúp đỡ.   Đó là lý do chúng tôi thiết lập website movements.org.
RICHARD FINNEY: Về tổ chức Thăng tiến Nhân quyền, đó có phải là một tổ chức được lập ra riêng cho việc vận hành website ấy, hay có chút tiểu sử nào trước đó?
DAVID KEYES: Advancing Human Rights được ông Robert Bernstein và tôi thành lập vào năm 2010. Robert Bernstein cũng là người sáng lập tổ chức Human Rights Watch và từng là giám đốc nhà xuất bản Random House trong 25 năm. Chúng tôi lãnh nhận movements.org vào khi Jared Cohen sáng lập nó, trước khi ông ta sang làm với Google, và nay Jared là một trong những nhà điều hành của Google. Chúng tôi nhận 250 ngàn đô la từ Google, mất ba năm để đưa website movements.org trở lại trên mạng internet, tô điểm trang bị cho nó thành một công cụ mà chúng tôi cho là rất có giá trị đối với những nhà hoạt động nhân quyền trong các xã hội khép kín.  Rồi web movements.org thường tổ chức hội họp, và từng là nơi hướng dẫn cách làm cho nhiều việc, và chúng tôi tin rằng với tính năng thiết lập được những đường dẫn giữa những người hoạt động nhân quyền với những người có thể giúp họ, phương tiện này thực sự là tương lai của nhân quyền.
RICHARD FINNEY:  Cơ sở của ông ở đâu, và bao giờ website movements.org mới hoạt động?
DAVID KEYES: Chúng tôi đặt cơ sở ở thành phố New York. Và hôm nay, ngày 10 tháng 7, 2014, chính là ngày movements.org khởi sự hoạt động.
RICHARD FINNEY: Đã có ai bắt đầu vào trang web và sử dụng mạng lưới này chưa?
DAVID KEYES: Tất nhiên là có. Chúng tôi tiếp xúc bằng phương thức thử nghiệm beta với những người hoạt động nhân quyền ở Iran, Syria, Trung Quốc, Nga và Á Rập Xê-Út, với vài nơi khác.  Và nhiều người trong số đó gửi yêu cầu của họ về thông tin báo chí, hay muốn tiếp xúc với những nhân vật làm chính sách, tức là những nhân vật quan trọng trong các chính quyền. Họ đòi cả những nhạc phẩm tưởng niệm những người hoạt động đã bị sát hại. Rồi khắp thế giới người ta đăng nhập và bung rộng mối liên lạc một cách rất cụ thể và xác thực.
RICHARD FINNEY: Ông đã tiếp xúc được với bao nhiêu người, ở những nước nào?
DAVID KEYES: Có chừng mấy trăm người đã thử cái trang mạng này, cả những người hoạt động nhân quyền lẫn những người có tài năng để giúp họ. Và như thế hôm nay, vào lúc này, nó đã mở cửa ra với thế giới, và chúng tôi hy vọng sẽ có hằng ngàn, hằng chục ngàn, ngay cả hằng trăm ngàn người nào cần đến sự giúp đỡ thì sẽ tìm được sự giúp đỡ.
RICHARD FINNEY: Nhưng ông làm cách nào để quảng bá phương tiện này đến những nơi đặc biệt đóng kín, ví dụ như Lào, Việt Nam hay Trung Quốc? Làm sao người ta biết đến nó được?
DAVID KEYES: Giới truyền thông khắp thế giới đã lưu ý. Chúng tôi làm một số cuộc phỏng vấn bằng tiếng Á Rập. Một đài truyền hình tiếng Kurd vừa tiếp xúc với chúng tôi. Chúng tôi tweet tin tức này cho 323 ngàn người, là một số lượng khá đông đảo những người quan tâm đến hàn quốc và kỹ thuật. Rồi chúng tôi cũng sắp sửa lăn mình vào công việc khó nhọc trong mấy tuần lễ tới, để truyền bá tin tức về mình, truyền bằng miệng, bằng phương tiện truyền thông, truyền thông xã hội để thông báo với mọi người rằng đang có một công cụ mới này đây, nó có khả năng giúp củng cố nhân quyền.
RICHARD FINNEY: Nếu có thể, ông vui lòng cho tôi một ví dụ về việc một người có thể được giúp cách nào - giả dụ một người nào đó ở Việt Nam, một blogger chẳng hạn, đang đối diện với án tù, hay một người hoạt động nhân quyền ở Trung Quốc cảm thấy thòng lọng đang xiết lại quanh mình. Thì nói thực tế, họ có thể làm gì để được giúp?
DAVID KEYES: Những người ấy có thể có được kết nối tới một danh sách trọn vẹn những mối truyền thông nào trên thế giới mà thích nghe câu chuyện của họ. Họ có thể liên lạc với những người làm nghệ thuật có khả năng gây dựng được mối liên lạc đa văn hóa để thông hiểu hoàn cảnh khó khăn của người thân trong gia đình họ bị bỏ tù. Họ có thể tìm một luật sự nếu họ quyết định trốn chạy khỏi nước và cần một nơi tị nạn. Theo tôi đó là ba ví dụ nổi bật nhất. Họ còn có thể liên lạc với một người làm chính sách, tức là một nhân vật công quyền, ở một nước tự do, người mà có thể nêu vấn đề với các viên chức Việt Nam trong các cuộc họp chẳng hạn.
RICHARD FINNEY: Tôi đoán chừng ông đã có một số mối liên lạc với những người ở Trung Quốc. Ông có sẵn số liệu không, và có thể cho biết bao nhiêu người không?
advancing-human-rights
Biểu hiệu của tổ chức Advancing Human Rights, advancinghuamnrights.org
DAVID KEYES: không, tôi không có con số chính xác. Nhưng phương tiện này chưa tác động vào truyền thông ở Trung Quốc, dù chúng tôi đã chú trọng rất nhiều đến việc thăng tiến nhân quyền, và cũng đã được chú ý nhiều, vì nó là chỗ khởi phát ý kiến đặt lại tên cho con đường trước tòa đại sứ Trung Quốc là Khu phố Lưu Tiểu Ba, rồi Ủy ban Chuẩn chi Hạ viện vừa biểu quyết cho việc đổi tên như vậy. 31 dân biểu của cả hai đảng Dân Chủ và Cộng Hòa ký tên vào bức thư biện luận cho sự thay đổi này, Hội đồng thành phố thủ đô Washington ủng hộ. Rồi chính phủ Trung Quốc đã nhiều lần tỏ ra phẫn nộ và lên tiếng phản đối, lên án kịch liệt ý kiến do tổ chức Thăng tiến nhân quyền đề nghị. Tôi cho rằng phương tiện kỹ thuật movements.org này sẽ khiến cho những kẻ độc tài, kể cả chính quyền Trung Quốc, phải sợ hãi thêm đôi chút, và hy vọng điều đó sẽ khuyến khích những người bất đồng chính kiến thêm chút mạnh dạn, và chuyển cán cân lực lượng khỏi bàn tay những kẻ bạo ngược.
RICHARD FINNEY: Tất nhiên ông cũng lưu ý tới những xứ sở mà chúng tôi truyền thanh đến, gồm Miến Điện, Campuchia, Lào, Bắc Hàn, Việt Nam, và Trung Quốc, cũng như bên trong Trung Quốc, gồm Tân Cương và Tây tạng. Thế thì ông có ý tưởng gì đặc biết đối với những nơi đó không?
DAVID KEYES: Hiển nhiên Bắc Hàn sẽ là nơi khó vào nhất, xét trên mức độ xâm nhập của internet rất thấp. Chúng tôi đang lo tới những xứ châu Á không có tự do, dân số trên 15 triệu người. Chúng tôi chưa đủ trang bị để đối phó với tất cả các nền độc tài và các xã hội đóng kín. Phải  chú trọng đến phần lớn nhất của mảng lớn, và phần tệ nhất của mảng tồi tệ. Nhưng tôi cho là nó sẽ có công dụng với người ở Việt Nam và Miến Điện, cũng như hy vọng chắc chắn là có công dụng với Trung Quốc, vì ở đó quá nhiều câu chuyện được tấm gương Lưu Tiểu-Ba thu nhỏ lại: như những luật sư đi tù cần sự yểm trợ của thế giới. Những vụ việc và tên tuổi của họ phải được đưa đến nhiều chính quyền khẳp thế giới để  họ gây áp lực với chính quyền Trung Quốc. Thiếu áp lực toàn cầu như vậy thì sẽ rất ít có những khích lệ cho những nhà độc tài trả tự do cho tù nhân chính trị. Nên tôi thấy có mối liên hệ trực tiếp giữa những sự liên lạc.... Tôi thấy có trợ giúp trực tiếp bằng cách kết nối những người đã bị nhận lãnh mũi dùi đàn áp của Trung Quốc, những người phải đi tù, những thân nhân đã bị ngược đãi, và nối kết họ với mọi người khắp thế giới, những ai có thể nêu tên những người bị đàn áp lên và giúp giải quyết nỗi khó khăn của họ.
liu-xiao-bo
Khôi nguyên Nobel hoà bình Lưu Tiểu-Ba, người tù lương tâm ở Trung Quốc - Courtesy of thetimes.co.uk
RICHARD FINNEY: Và ông có hy vọng rằng những người ở những khu vực mục tiêu khác nhau sẽ có thể vượt qua được hệ thống kiểm duyệt thông thường hay những ngăn trở kỹ thuật trên mối liên lạc internet với những người bên ngoài như ông chẳng hạn?
DAVID KEYES: Tôi nghĩ những nhà hoạt động nhân quyền trong các xã hội đóng kín đã trở nên thông thạo một cách khó ngờ đối với những mưu lừa của kiểm duyệt. Chúng tôi biết nhiều người sử dụng truyền thông giao tế xã hội ngay tại Iran và Trung Quốc dù có lệnh cấm chính thức. Hẳn là họ cũng có óc sáng tạo tương đương đối với những mưu mẹo kiểm duyệt. Không phải là chuyện dễ, nhưng có rất nhiều cách, từ những proxy, tức là web trung gian đến những PPN, là những hệ thống ứng dụng chuyên nghiệp, đều có thể giúp những người hoạt động nhân quyền khả năng phá vỡ những rào cản Internet.
RICHARD FINNEY: Ông có nghĩ đến điều gì quan trọng mà khán thính giả của chúng tôi cần phải biết, nhưng có thể tôi đã không nghĩ ra để hỏi?
DAVID KEYES: Tôi chỉ muốn khuyến khích những người bất đồng chính kiến trên khắp châu Á cũng như tất cả những nền độc tài hãy đăng nhập trang mạng movements.org, để họ có thể sẽ ngạc nhiên về những gì họ tìm thấy ở đó. Và chắc chắn nếu chỉ dùng Anh ngữ, thì những ai có những tài năng khác nhau mà họ tưởng là không giúp được cho nhân quyền, thì thực ra tài năng của họ vẫn có thể giúp tăng cao sự nhận biết, sự phát hiện (những sự kiện về nhân quyền) ở phương Tây và thế giới tự do.  

Trung Quốc cố tình quên vai trò chủ đạo của Mỹ trong khu vực

20140710_111118-600.jpg
Hội thảo quốc tế lần thứ 4 về biển Đông tại Trung tâm Chiến lược và Nghiên cứu quốc tế ở Washington DC bắt đầu ngày 10 tháng 7 năm 2014.RFA photo

Việt Hà, phóng viên RFA 2014-07-11
Mở đầu ngày thứ hai buổi hội thảo biển Đông tại Trung Tâm Chiến lược và Nghiên cứu Quốc tế là bài phát biểu quan trọng của Thứ trưởng Ngoại giao Mỹ, ông Michael Fuchs. Bài phát biểu của đại diện chính phủ Mỹ một lần nữa nhấn mạnh sự quan tâm của Mỹ tới khu vực này và vai trò dẫn dắt của Mỹ nói chung. Ông Michael Fuchs cũng cho rằng Trung Quốc đã dường như quên mất vai trò chủ đạo quan trọng của Mỹ khi Trung Quốc cố tình thực hiện những hành động mà ông gọi là gây hấn:
Có người gọi Hoa Kỳ là kẻ bên ngoài và bảo chúng tôi là không nên can thiệp vào các vấn đề khu vực. Nhưng họ quên mất một thực tế là nhiều thập kỷ qua Hoa Kỳ đã là một cường quốc khu vực Thái Bình Dương. Sự ổn định thống nhất của khu vực này là quyền lợi của chúng tôi. Những gì diễn ra ở đây cũng ảnh hưởng đến Mỹ. Họ lờ đi nhu cầu ngày một tăng từ các đồng minh và đối tác của Mỹ trong khu vực đối với sự hiện diện và can thiệp của Mỹ tại khu vực Thái Bình Dương. Mỹ muốn tham gia một cách sâu hơn vào khu vực này trong tương lai.
Hoa Kỳ không thể áp đặt giải pháp với vấn đề này. Những nước có liên quan cần phải tìm ra cách tốt nhất để giải quyết vấn đề một cách hòa bình và theo đường lối ngoại giao.
- Ông Michael Fuchs 
Theo ông Michael Fuchs, việc Mỹ can dự vào tranh chấp biển Đông, khiến các nước tuân thủ luật quốc tế cũng đồng nghĩa với việc bảo vệ quyền lợi của Mỹ tại khu vực này. Thứ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ cũng nói đến những việc mà Mỹ đã thực hiện trong suốt thời gian qua để góp phần làm giảm căng thẳng tại khu vực này bao gồm đối thoại và hợp tác với Trung Quốc, ASEAN, giúp đỡ các nước như Philippines, Việt Nam xây dựng khả năng bảo vệ biển, củng cố vị thế của Mỹ trong khu vực, thúc đẩy các bên tiến tới đạt được bộ quy tắc về ứng xử của các bên trên biển Đông (COC).
Biện pháp giải quyết tranh chấp được ông Michael Fuchs đưa ra bao gồm việc ngưng ngay lập tức các hành động đang tiến hành và không thực hiện thêm bất cứ hành động nào khác để giữ nguyên hiện trạng. Theo ông đây là biện pháp cần thiết đầu tiên để giảm căng thẳng trước khi tiến tới những bước tiếp theo.
Vị đại diện chính phủ Mỹ, Michael Fuchs, cũng khẳng định Mỹ chỉ đóng vai trò là người đưa lời khuyên và không thể là người áp đặt các giải pháp:
Hoa Kỳ không thể áp đặt giải pháp với vấn đề này. Những nước có liên quan cần phải tìm ra cách tốt nhất để giải quyết vấn đề một cách hòa bình và theo đường lối ngoại giao. Nhưng trách nhiệm của chúng tôi và một số nước khác là thúc đẩy một môi trường phù hợp, những đối thoại có lợi dẫn đến giải pháp hòa bình cho vấn đề này.
Trung Quốc nói Mỹ là người gây bất ổn
_nh_1-250.jpg
Chuyên gia Bonnie Glaser thuộc Trung Tâm Chiến lược và Nghiên cứu Quốc tế
Trong phần thảo luận về vai trò của Mỹ ở biển Đông, chuyên gia Bonnie Glaser thuộc Trung Tâm Chiến lược và Nghiên cứu Quốc tế cho rằng thời gian qua Hoa Kỳ đã cho các nước thấy sự quan tâm của mình với những căng thẳng trong khu vực bằng những hành động cụ thể mà điển hình là tại bãi Second Thomas Shoal (hay còn gọi là bãi Cỏ Mây) do Philippines kiểm soát và tại khu vực đặt giàn khoan dầu HD 981 gần quần đảo Hoàng Sa. Chuyên gia Bonnie Glaser nói:
Một điểm cần phải chú ý là sự sẵn sàng đang tăng lên từ phía Mỹ trong việc triển khai vũ khí của mình khi căng thẳng lên cao ở khu vực Thái Bình  Dương. Chúng ta thấy trường hợp điển hình ở bãi Cỏ Mây nơi máy bay do thám của Hải quân Mỹ được triển khai đến. Gần đây nhất là vụ giàn khoan dầu của Trung Quốc gần quần đảo Hoàng Sa, Mỹ đã cho máy bay do thám P3 bay qua đây. Cho nên theo tôi đây là tín hiệu cho thấy Mỹ muốn giải pháp hòa bình và cố gắng ngăn chặn các hành động xâm lấn.
Theo bà Bonnie Glaser, vai trò quan trọng của Mỹ tại đây chính là giúp định hình việc thay đổi chính sách của Trung Quốc, qua đó làm giảm căng thẳng trong khu vực.
Một điểm cần phải chú ý là sự sẵn sàng đang tăng lên từ phía Mỹ trong việc triển khai vũ khí của mình khi căng thẳng lên cao ở khu vực Thái Bình  Dương.
- Chuyên gia Bonnie Glaser
Học giả Trung Quốc, Tiến sĩ Chu Shulong thuộc trường đại học Thanh Hoa, Bắc Kinh tóm lược những ý kiến của người Trung Quốc cho rằng thực sự những căng thẳng đang diễn ra tại biển Đông là do những hành động từ Hoa Kỳ, không phải từ Trung Quốc:
Hoa Kỳ đã khiến căng thẳng lên cao tại biển Đông trong những năm gần đây….đặc biệt căng thẳng tại biển Đông đã lên cao trong 4 năm qua sau khi Hoa Kỳ chuyển trục chiến lược… Trung quốc cho rằng Hoa Kỳ đang tìm cách gây rắc rối ở biển Đông bằng việc chuyển trục chiến lược.
Theo ông Chu Shulong, Hoa Kỳ đã không công bằng khi đối xử với các nước trong khu vực, cụ thể là Hoa Kỳ đã bệnh vực Philippines và Việt Nam trong việc quốc hội Việt Nam thông qua luật biển vào năm 2012. Ông Chu Shulong cũng nói Mỹ là nước gây nhiều cuộc chiến tranh gần đây, mà điển hình là cuộc chiến Iraq còn Trung Quốc không phải là nước gây ra những cuộc chiến trên thế giới.
Trung Quốc đang có ý đồ gì tại Hoàng Sa và Trường Sa
Đáng chú ý trong ngày hội thảo cuối là bài phát biểu của cựu Phó đô đốc hải quân Nhật, Yoji Koda. Phó đô đốc Koda trình bày bài thuyết trình của mình kèm bản đồ về khu vực quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và bãi Scarborough Shoal. Theo ông, hành động xây đường băng trên đảo Gạc Ma của Trung Quốc thời gian gần đây và việc lấy bãi Scarborough Shoal từ Philippines vào năm 2012 nằm trong một chiến lược quân sự lâu dài của Trung Quốc.
Theo Phó đô đốc Yoji Koda, bãi Scarborough shoal ở một vị trí và diện tích thích hợp cho toàn bộ tàu chiến của Trung Quốc. Với việc kết hợp bãi này với sân bay và căn cứ quân sự trên đảo Phú Lâm và sân bay đang xây dựng trên đảo Gạc Ma, Trung Quốc có thể tiến tới kiểm soát toàn bộ biển Đông về mặt quân sự, kinh tế và chiến lược.
Phó đô đốc Yoji Koda nhận định Hoa Kỳ và Nhật bản đã chậm trong việc nhận ra ý đồ này của Trung Quốc nên đã không có hành động kịp thời từ năm 2012 để ngăn chặn hành động lấy bãi Scarborough Shoal của Trung Quốc.
Khía cạnh pháp lý trong vụ kiện của Philippines
paul-reichler-itlos-20131204-250.jpg
Luật sư Paul Reichler, người tư vấn pháp lý trong vụ kiện của Philippines
Luật sư Paul Reichler, người tư vấn pháp lý trong vụ kiện của Philippines cũng có một bài phát biểu được chú ý trong ngày hội thảo cuối. Luật sư Reichler lần lượt đưa ra các điểm phản bác lại những lập luận của Trung Quốc về vụ kiện này. Theo luật sư, lập luận của Trung Quốc cho rằng tòa trọng tài quốc tế không có quyền xét xử vụ kiện là không đúng vì Philippines không kiện Trung Quốc liên quan đến việc phân chia ranh giới trên biển mà chỉ liên quan đến việc giải thích những yếu tố đi kèm liên quan đến các đảo và bãi đá nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của Philippine.
Mặc dù những đảo, bãi đá này nằm trong vùng lưỡi bò mà Trung Quốc vẽ ra nhưng không nằm trong vùng chồng lấn của hai nước ở phía bắc của Philippines. Vì vậy luật sư Paul Reichler tin tưởng hoàn toàn về quyền phán quyết của tòa liên quan đến vụ kiện, bất luận Trung Quốc có tham gia hay không. Theo dự kiến, phán quyết sẽ được đưa ra vào khoảng thời gian từ ngày 7 đến 18 tháng 7 năm 2015.
Sự tin tưởng và những lợi thế của Philippines trong vụ kiện cũng được nói đến trong mối tương quan với một vụ kiện tương tự khác giữa Bangladesh và Ấn Độ trong tranh chấp trên vịnh Bengal. Tòa Quốc tế hôm thứ ba đã ra phán quyết có lợi cho Bangladesh, và Ấn độ sau đó cũng đã lên tiếng hoan nghênh, chấp nhận phán quyết của tòa. Vụ kiện này được cho là một ví dụ tương tự và gần nhất với vụ kiện của Philippines với Trung Quốc, và là minh chứng cho việc giải quyết một tranh chấp lâu dài trên biển giữa hai nước láng giềng một cách hòa bình.
Hội thảo lần thứ 4 về biển Đông khép lại vào buổi trưa ngày 11 tháng 7 với phần thảo luận về các biện pháp xây dựng lòng tin. Các học giả một lần nữa nhấn mạnh tầm quan trọng của ASEAN trong việc góp phần xây dựng lòng tin giữa các bên trong tranh chấp biển Đông.

http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/cn-forget-us-leadership-role-region-vh-07112014162349.html/07112014-biendong-vh.mp3/inline.html

PICS:Phi đội máy bay vận tải chiến lược hùng hậu của Không quân Mỹ

 Việt Hà - theo Trí Thức Trẻ | 12/07/2014 08:30


(Soha.vn) - Có tất cả 4 loại máy bay vận tải quân sự chiến lược đã hoạt động trong Không quân Mỹ gồm C-135 Stratolifter, C-141 Starlifter, C-17 Globemaster III và C-5 Galaxy.

Dưới đây là một số hình ảnh về các loại máy bay vận tải quân sự chiến lược của Không quân Mỹ
Boeing C-135 Stratolifter là loại máy bay vận tải quân sự chiến lược được phát triển từ mẫu thử máy bay chở khách phản lực Boeing 367-80 từ đầu thập niên 1950 (đây cũng là khung cơ sở cho loại B-707). C-135 thực hiện chuyến bay đầu tiên vào ngày 17/8/1956, có tất cả 803 chiếc đã được sản xuất trong giai đoạn 1954-1965.
Boeing C-135 Stratolifter là loại máy bay vận tải quân sự chiến lược được phát triển từ mẫu thử máy bay chở khách phản lực Boeing 367-80 từ đầu thập niên 1950 (đây cũng là khung cơ sở cho loại B-707). C-135 thực hiện chuyến bay đầu tiên vào ngày 17/8/1956, có tất cả 803 chiếc đã được sản xuất trong giai đoạn 1954-1965.
Thông số cơ bản: Kíp lái 5-7 người; dài 41,53m; sải cánh 39,88m; cao 12,7m; trọng lượng rỗng 44.663 kg; trọng lượng có tải 135.000 kg; trọng lượng cất cánh tối đa 146.000 kg. Máy bay được trang bị 4 động cơ phản lực Pratt & Whitney TF-33-PW-102 công suất 80 kN mỗi chiếc hoặc 4 động cơ CFM International CFM56 công suất 96 kN mỗi chiếc cho tốc độ tối đa 933 km/h; tầm hoạt động 5.550 km; trần bay 15.200m.
Hiện tại trong Không quân Mỹ C-135 đã bị thay thế bởi các loại máy bay vận tải mới có tính năng cao hơn, tuy nhiên các phiên bản khác của nó như máy bay tiếp dầu KC-135 Stratotanker hay máy bay trinh sát điện tử RC-135 Rivet Joint vẫn còn hoạt động. Trong ảnh là những máy bay tiếp dầu KC-135 đang thực hiện màn diễu binh "Voi đi bộ".
Thệ hệ máy bay vận tải chiến lược tiếp theo là Lockheed C-141 Starlifter thuộc biên chế Bộ chỉ huy không quân cơ động (AMC) Mỹ. C-141 cất cánh lần đầu ngày 17/12/1963, có 285 chiếc được sản xuất trong giai đoạn 1963-1968.
Thông số cơ bản: Kíp lái 5-7 người; dài 51,3m; sải cánh 48,8m; cao 12m; trọng lượng rỗng 65.542 kg; trọng lượng cất cánh tối đa 147.000 kg. Máy bay được trang bị 4 động cơ turbofan Pratt & Whitney TF33-P-7 công suất 90,1 kN mỗi chiếc cho tốc độ tối đa 912 km/h; tầm hoạt động 4.723 km, tầm bay chuyển sân 9.880 km; trần bay 12.500m.
Khác với C-135 có rất nhiều biến thể, C-141 Starlifter chỉ có 3 phiên bản A, B và C. Toàn bộ số C-141 của Không quân Mỹ đã ngừng hoạt động vào năm 2006.
Boeing C-17 Globemaster III là loại máy bay vận tải quân sự chiến lược giữ vai trò xương sống của Không quân Mỹ. C-17 Được McDonnell Douglas phát triển từ thập niên 1980 tới đầu thập niên 1990, máy bay chính thức ra mắt ngày 14/7/1993, tính đến thời điểm năm 2012 đã có tất cả 250 chiếc được chế tạo.
Thông số cơ bản: Kíp lái 3 người; dài 53m; sải cánh 51,75m; cao 16,8m; trọng lượng rỗng 128.100 kg; trọng lượng cất cánh tối đa 265.350 kg. Máy bay được trang bị 4 động cơ turbofan Pratt & Whitney F117-PW-100 công suất 180 kN mỗi chiếc cho tốc độ tối đa 830 km/h; tầm hoạt động 4.482 km khi tải nặng hoặc 10.390 km khi chở lính dù; trần bay 13.716m. C-17 có thể mang tối đa 77.519 kg hàng hoặc lên tới 158 lính dù trong khoang.
Hiện tại ngoài phiên bản gốc C-17A thì Globemaster III đã có thêm 2 biến thể gồm C-17A "ER" - Tên không chính thức của C-17As do việc bổ sung không gian cánh, nâng cấp này được đưa vào sản xuất từ năm 2013 với tổng số 13 máy bay và biến thể C-17B - Thiết kế bố sung 2 rãnh cánh tà, một bộ phận hạ cánh chính bổ sung trên thân máy bay, động cơ mạnh hơn và các hệ thống khác để máy bay cất và hạ cánh trong khoảng cách ngắn hơn.
Lockheed C-5 Galaxy là máy bay vận tải lớn nhất của Mỹ đồng thời cũng là một trong những máy bay vận tải quân sự lớn nhất thế giới. C-5 Galaxy thực hiện chuyến bay đầu tiên ngày 30/6/1968, chính thức ra mắt tháng 6/1970, đã có tổng cộng 131 chiếc được sản xuất gồm 81 chiếc C-5A (1968-1973) và 50 chiếc C-5B (1985-1989).
C-5 được Quân đội và Chính phủ Mỹ sử dụng rất hạn chế. Không quân Hoa Kỳ hiện có 94 chiếc C-5 trong biên chế tính đến tháng 10/2011 gồm 36 chiếc hoạt động, 37 chiếc niêm cất dự bị và 21 chiếc trong Không quân vệ binh quốc gia.
Từ năm 2006 Không quân Mỹ đã triển khai chương trình nâng cấp C-5 lên chuẩn C-5M với khoảng 70 thay đổi so với các đời trước. Đặc biệt, động cơ mới của hãng General Electric sẽ giúp giảm tiếng ồn và tiết kiệm 10% nhiên liệu.
Thông số cơ bản: Kíp lái 7 người; dài 75,31m; sải cánh 67,89m; cao 19,84m; trọng lượng rỗng 172.370 kg; Trọng lượng có tải 348.800 kg; trọng lượng cất cánh tối đa 381.000 kg. Máy bay được trang bị 4 động cơ turbofan General Electric TF39-GE-1C công suất 190 kN mỗi chiếc cho tốc độ tối đa 932 km/h; tầm hoạt động 4.440 km khi chở 119.400 kg; trần bay 10.600m với tổng trọng lượng 279.000 kg. C-5 Galaxy có thể mang tối đa tới 122.470 kg hàng.
Hiện nay, các máy bay vận tải C-5 Galaxy đang thực hiện nhiệm vụ chuyên chở các loại hàng hóa siêu trường siêu trọng cũng như thực hiện nhiệm vụ vận tải chiến lược cho các hoạt động trên toàn thế giới của Quân đội Mỹ.