Monday, June 2, 2014

Trung Quốc : Gieo gió, gặp bão

Các vụ tấn công ở nhà ga Côn Minh rồi Urumqi đã làm hàng chục người thiệt mạng - REUTERS /Petar Kujundzic
Các vụ tấn công ở nhà ga Côn Minh rồi Urumqi đã làm hàng chục người thiệt mạng - REUTERS /Petar Kujundzic

RFI-Thanh Hà
Người dân Trung Quốc bắt đầu phải đối mặt với nạn khủng bố. Các vụ tấn công xảy ra ngày càng thường xuyên hơn. Nhưng đó là hậu quả từ chính sách đàn áp các sắc tộc thiểu số mà Bắc Kinh đã liên tục theo đuổi từ hàng chục năm qua.

Thông tín viên của báo Le Figaro từ Bắc Kinh, Patrick Saint Paul, phân tích về hiện tượng đe dọa khủng bố ngày càng đè nặng lên đời sống hàng ngày của người dân Trung Quốc. Người Trung Quốc ý thức được rằng hiểm họa đó có thực tương tự như tình trạng tham nhũng làm lũng đoạn kinh tế đất nước hay hiện tượng ô nhiễm không khí, thu hẹp tuổi thọ của người dân xứ này.
Từ mùa thu năm ngoái, các vụ khủng bố, tấn công ngày càng thường xuyên xảy ra và càng trở nên khốc liệt hơn. Thủ phạm những vụ khủng bố đó đã chứng minh là họ có thể ra tay ở quy mô lớn, có khả năng nhắm vào bất kỳ một mục tiêu nào và ở vào bất kỳ thời điểm nào.
Khủng bố hay bạo động không chỉ khoanh vùng ở Tân Cương, nơi đa số dân cư là người Duy Ngô Nhĩ theo đạo Hồi, nói tiếng Thổ mà đã mở rộng ra khắp mọi nơi. Tác giả bài báo điểm lại các vụ tấn công gần đây như vụ khủng bố tự sát hồi tháng 10/2013 ngay tại quảng trường Thiên An Môn, thủ đô Bắc Kinh. Quảng trường này là biểu tượng của phong trào nổi dậy mùa xuân năm 1989.
Rồi đến tháng 3/2014 là vụ thảm sát ở nhà ga Côn Minh- Vân Nam làm 29 người chết, gần 150 người bị thương. Gần đây nhất là vụ nổ tại một ngôi chợ ở Urumqi, thủ phủ Tân Cương. Chính quyền Trung Quốc liền sau đó đã tuyên chiến với quân khủng bố và hứa « nhổ cỏ tận gốc » trong vòng một năm.
Bắc Kinh luôn quy trách nhiệm cho cộng đồng người Duy Ngô Nhĩ, theo đạo Hồi và tố cáo các tổ chức khủng bố có liên hệ trực tiếp với Al Qaeda. Đảng Hồi giáo Turkestan TIP và Phong trào Hồi giáo Turkestan trong tầm ngắm của Trung Quốc và bị tố cáo theo chân các tổ chức cực đoan đang hoành hành tại các nước Trung Á sát cạnh với Trung Quốc. Tuy nhiên mối quan hệ giữa các thành phần khủng bố hoành hành tại Trung Quốc với mạng lưới Al Qaeda trước mắt chưa được chứng minh.
Theo phóng viên của Le Figaro, làn sóng tấn công nhắm vào Trung Quốc trong thời gian gần đây thể hiện bức súc ngày càng lớn của những thành phần cực đoan nhất trong cộng đồng người Duy Ngô Nhĩ : đó là những người bị bỏ quên trong tiến trình phát triển kinh tế và là những nạn nhân của chính sách đàn áp nhắm vào các sắc tộc thiểu số mà Bắc Kinh đã liên tục áp dụng từ hàng chục năm qua.
Nói cách khác, nhà báo Patrick Saint Paul cho rằng, Trung Quốc gieo nhân nào, hưởng quả nấy. Trong bối cảnh đó, tác giả e rằng, để bài trừ tận gốc rễ nạn khủng bố, để tránh cho người dân phải sống trong lo sợ, Bắc Kinh sẽ khó có thể chỉ dùng vũ lực để giải quyết một vấn đề mang nặng mầu sắc chính trị.
Nemmouche, hành trình của một tên khủng bố
Nhìn lại thời sự về nước Pháp, nhân vật được các báo nhắc đến nhất trong ngày là Mehdi Nemmouche, kẻ bị tình nghi là thủ phạm vụ xả súng tại một viện bảo tàng Do Thái ở Bruxelles hôm 24/05/2014, làm 4 người thiệt mạng. Công dân người pháp này vừa bị bắt tại Marseille. Hai tờ Libération và Le Figaro cùng chú ý đến hành trình của Nemmouche, từ một tên trộm vặt, trốn sang Syria tham gia thánh chiến để rồi trở thành một tay khủng bố, giết người. « Mehdi Nemmouche từ trộm cướp đến thánh chiến », tựa của Libération.
Le Figaro phác họa lại chân dung Mehdi Nemmouche, 29 tuổi, sinh ra tại Roubaix, một thành phố ở miền Bắc nước Pháp. Mehdi đã nhiều lần bị bắt giữ và ngồi tù vì những tội trộm cắp vặt. Từ năm 2004 đến 2006 Nemmouche đã 7 lần phải trình diện Tư pháp và đã 5 lần bị bắt giam từ năm 2001 tới nay.
Chính trong thời gian ngồi tù Mehdi đã chọn đi theo con đường của những kẻ Hồi giáo. Năm 2012 chỉ ba tuần lễ sau khi được trả tự do, Nemmouche đã bỏ trốn sang Syria và tham gia hàng ngũ djihad. Tháng 3 vừa qua, nhân vật này trở lại châu Âu qua ngả Thổ Nhĩ Kỳ và Malaysia. Theo các nhà điều tra, tất cả những hành động đó nhằm đánh lạc hướng cơ quan tình báo Pháp.
Hôm 30/05/2014, tức 6 ngày sau vụ xả súng tại Bruxelles, Nemmouche bị bắt tại nhà ga Saint Charles ở Marseille. Trên mình có mang theo mặt nạ chống khí độc, một khẩu sung AK tương tự như loại vũ khí đã được sử dụng ở Bruxelles hôm 24/05/2014 cùng với một ống kính camera GoPro. Trong đoạn băng ghi âm, một giọng nam chưa được xác định có phải là tiếng nói của Mehdi hay không, tự nhận là tác giả vụ thảm sát ở Bruxelles tuần trước. Kể từ khi bị bắt ở Marseille, Nemmouche chưa lên tiếng.
Từ trường hợp của Nemmouche, cả hai tờ Libération lẫn Le Figaro cùng nên lên nhiều nghi vấn về công tác theo dõi những nhân vật khả nghi của cơ quan an ninh Pháp. Le Figaro khẳng định Nemmouche đã ra tay được do « có những sơ hở trong ngành tình báo ».
Libération trong bài xã luận nhìn vấn đề một cách rộng hơn khi cho rằng hàng chục công dân Pháp, Anh, hay Bỉ đã gia nhập hàng ngũ những phần tử Hồi giáo cực đoan. Số này đã tìm đường sang Syria chiến đấu trước sự thờ ơ của cộng đồng quốc tế. Syria là một mắt xích yếu khi mà hàng triệu người dân xứ này đang bị quốc tế bỏ rơi. Đe dọa những phần tử cực đoan ra tay và trở thành những tên khủng bố là có thực, nhưng Libération cảnh cáo : nước Pháp không nên vượt quá những giới hạn của một nhà nước pháp quyền.
Syria và trò hề dân chủ
Vào lúc Libération mệnh danh Syria là « đất dụng võ » của những thành phần chủ trương một cuộc thánh chiến djihad, thì L'Humanité nói tới một trò hề dân chủ sắp mở ra tại quốc gia này. Ngày mai cử tri Syria sẽ bầu lại tổng thống « bầu cử dưới tiếng súng rền vang ».
Tổng thống Assad chắc chắn tái đắc cử tại một đất nước lún sâu vào nội chiến từ ba năm qua, 162.000 người chết và hàng triệu người phải di tản ra nước ngoài để tránh bom, đạn. Cử tri Syria đứng giữa hai làn đạn : một bên chiến sa của quân đội trung thành với ông Bachar Al Assad và bên kia là Mặt trận Nosra và tổ chức EIIL. Ngay từ đầu cuộc vận động tranh cử, các tổ chức Hồi giáo cực đoan đã nhiều lần nhắm vào các cuộc meeting của bên chính quyền. Lá phổi kinh tế của Syria là thành phố Alep thì vấn sống dưới các làn bom và đạn của cả bên quân đội lẫn phe nổi dậy võ trang.
Le Figaro trong một bài báo mang tựa đề « Damas đành phải chấp nhận trò hề dân chủ của ông Assad » trích lời một người dân Syria trách cộng đồng quốc tế đã bỏ quốc gia Trung đông này. Một nhân chứng lấy tên là Ali, nói với đặc phái viên của tờ báo : « Chúng tôi không có sự lựa chọn nào khác là bỏ phiếu cho ông Assad. Pháp và Mỹ chỉ tặng cho phe nổi dậy những lời hứa suông.
Trong khi đó, những đồng minh của chính quyền Damas thì đã có những hành động cụ thể. Ai cũng muốn được quay lại với một cuộc sống bình thường. Không ai ưa gì ông Bachar Al Assad nhưng họ không có giải pháp nào khác. Đối lập sống ở nước ngoài không được tín nhiệm và nếu như chế độ của tổng thống Assad có sụp đổ ngay bây giờ, thì Syria sẽ chỉ lún sâu thêm vào hỗn loạn và rơi vào tay các tổ chức cực đoan mà thôi ».
Luật hồi giáo charia, làm khách sạn hạng sang mất khách
Trong lĩnh vực xã hội Libération có một bài báo ngắn cho thấy nhiều khách sạn hạng sang đang bị tảy chay. Đó là trường hợp của Plazza Athénée và Meurice tại thủ đô Paris, của Beverly Hills, của Dorchester … tại Hoa Kỳ. Mẫu số chung của các khách sạn đang bị tảy chay đó là chủ nhân chính kiểm soát vốn của các khách sạn nói trên không ai khác ngoài quốc vương Brunei.
Vấn đề đặt ra là kể từ ngày 01/05/2014 tiểu vương quốc này áp dụng luật hồi giáo charia. Luật này cho phép áp dụng các hình phạt dã man như ném đá đến chết phụ nữ bị kết vào tội ngoại tình, hay vì tội phá thai. Tội uống rượu cũng bị xử với hình phạt tương tự. Tội phạm trộm cắp thì bị chặt tay.
Từ nhiều tuần qua, trên mạng đã rộ lên những lời kêu gọi tảy chay những khách khách sạn hạng sang có vốn của Brunei. Chỉ riêng khách sạn Beverly Hills đã thất thu 2 triệu đô la trong vỏn vẹn vài tuần lễ. Nữ hoàng trong làng truyền thông Hoa Kỳ là bà Anna Wintour vừa cho biết tạm cắt đứt giao lưu với hệ thống khách sạn Dorchester vào mùa trình diễn thời trang Fashion Week sắp tới.
Nhà tỷ phú người Anh, Richard Branson cũng vừa nhập cuộc để tẩy chay Brunei. Riêng giám đốc điều hành Dorchester tại Pháp thì phản đối những ai muốn tẩy chay. Ông cho rằng, trừng phạt như vậy không ảnh hưởng gì đến quốc vương Brunei mà chỉ tạo thêm khó khăn và đe dọa trực tiếp đến công việc làm của 3.500 nhân viên trong dây chuyền khách sạn Dorchester mà thôi.

Biển Đông : Trung Quốc đề nghị Việt Nam không kiện lên tòa án quốc tế

Bên lề Diễn đàn Shangri-La, tướng Nguyễn Chí Vịnh đã gặp tướng Vương Quan Trung của Trung Quốc để trao đổi về Biển Đông - REUTERS /Edgar Su
Bên lề Diễn đàn Shangri-La, tướng Nguyễn Chí Vịnh đã gặp tướng Vương Quan Trung của Trung Quốc để trao đổi về Biển Đông - REUTERS /Edgar Su

RFI-Đức Tâm
Theo Reuters, bên lề Hội nghị Shangri-la, ở Singapore, ngày hôm qua, 01/06/2014, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam, tướng Nguyễn Chí Vịnh, cho biết là Hà Nội chưa quyết định lúc nào sẽ đưa vụ tranh chấp chủ quyền biển đảo ra trước tòa án trọng tài Liên Hiệp Quốc. Tuy nhiên, quyết định của Việt Nam tùy thuộc vào hành động của Trung Quốc ở Biển Đông.

Tướng Nguyễn Chí Vịnh cho biết rõ hơn : « Trung Quốc đã nhiều lần đề nghị chúng tôi không đưa vụ việc ra trước tòa án quốc tế ». « Câu trả lời của chúng tôi là việc này tùy thuộc vào các hoạt động và cách ứng xử của Trung Quốc ; nếu họ tiếp tục dồn ép chúng tôi, chúng tôi không có lựa chọn nào khác. Giải pháp pháp lý cũng phù hợp với luật pháp quốc tế ».
Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Nguyễn Chí Vịnh đưa ra bình luận này sau khi Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tuyên bố Việt Nam đã chuẩn bị các bằng chứng để tiến hành kiện tụng, bác bỏ các đòi hỏi của Trung Quốc đối với vùng biển của Việt Nam và Việt Nam đang xem xét thời điểm tốt nhất để làm việc này.
Hôm thứ Sáu, 30/05/2014, tại Singapore, tướng Nguyễn Chí Vịnh đã có cuộc gặp với Phó Tổng Tham mưu trưởng quân đội Trung Quốc, tướng Vương Quan Trung (Wang Guanzhong). Theo phát ngôn viên quân đội Trung Quốc, hai bên « đã trao đổi quan điểm một cách thẳng thắn » về các vấn đề an ninh, nhưng không cho biết là hai bên có đề cập đến vấn đề kiện lên tòa án trọng tài Liên Hiệp Quốc hay không.
Hãng tin Reuters cho biết, tướng Vịnh nói rằng, những nhận xét của Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe và Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Chuck Hagel tại Hội nghị Shangri-la về an ninh khu vực là « có giá trị lớn và rất có ý nghĩa ». Các nhận xét này buộc các nước trong ASEAN phải nghĩ lại rằng « vấn đề giàn khoan Trung Quốc không chỉ liên quan đến Việt Nam mà còn liên quan đến nhiều nước khác ».

Phát hiện 5 máy bay quân sự Trung Quốc quanh giàn khoan Hải Dương 981

Dân Việt - Trong ngày hôm nay, lực lượng kiểm ngư Việt Nam phát hiện 5 máy bay quân sự Trung Quốc bay nhiều vòng xung quanh khu vực giàn khoan Hải Dương 981.

 Ngày 2.6, Cục Kiểm ngư, (Tổng cục Thủy sản) cho biết: các tàu chấp pháp của lực lượng kiểm ngư Việt Nam tiếp tục theo dõi sự dịch chuyển vị trí của giàn khoan Hải Dương 981 mà Trung Quốc đang hạ đặt trái phép trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam.


Trung Quốc hạ đặt giàn khoan Hải Dương 981 trái phép tại vùng biển Việt Nam. (Ảnh: Sơn Bách/Vietnam+)


Theo quan sát của lực lượng kiểm ngư Việt Nam, phía Trung Quốc vẫn duy trì số lượng khoảng 120 tàu xung quanh khu vực giàn khoan Hải Dương 981; từ 38 đến 40 tàu hải cảnh, 10 đến 14 tàu vận tải, 15 đến 20 tàu kéo, 42 đến 47 tàu cá, 4 tàu quân sự. Đáng lưu ý là hôm nay Trung Quốc tăng cường máy bay để trinh sát xung quanh khu vực giàn khoan. Lực lượng kiểm ngư Việt Nam đã quan sát được 5 máy bay chiến đấu Trung Quốc bay nhiều vòng ở khu vực giàn khoan Hải Dương 981.

Các tàu kiểm ngư Việt Nam tổ chức hoạt động đấu tranh phản đối với cường độ cao ở cách giàn khoan Hải Dương 981 từ 6 đến 8 hải lý, tuyên truyền yêu cầu Trung Quốc rút giàn khoan và các tàu hộ tống ra khỏi vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam.

Khi các tàu chấp pháp của Việt Nam tiếp cận giàn khoan từ khoảng cách 7 đến 9 hải lý để tuyên truyền, đấu tranh đã bị các tàu Trung Quốc gồm: tàu hải cảnh, tàu kéo, và một số tàu khác ngăn cản quyết liệt, sẵn sàng hú còi, đâm va, phun nước vào các tàu kiểm ngư của Việt Nam.

Lực lượng kiểm ngư Việt Nam vẫn kiên trì bám trụ, đấu tranh yêu cầu Trung Quốc rút giàn khoan hạ đặt trái phép ra khỏi vùng biển Việt Nam. Ở khoảng cách giàn khoan Hải Dương 981 từ 20 đến 25 hải lý, khoảng 50 tàu cá của ngư dân Việt Nam vẫn tổ chức đánh bắt thủy sản tại ngư trường truyền thống và đấu tranh phản đối Trung Quốc hạ đặt trái phép giàn khoan trong khu vực phía Nam đảo Tri Tôn, thuộc vùng biển của Việt Nam.

Theo Cục Kiểm ngư, sáng ngày 2.6, tàu cá vỏ gỗ ĐNa 90152 TS của ngư dân Đà Nẵng bị tàu cá vỏ sắt số hiệu 11029 của Trung Quốc đâm chìm ngày 26.5 đã được đưa lên bờ để đánh giá thiệt hại hư hỏng và có phương án sửa chữa. Lực lượng kiểm ngư và ngư dân của Việt Nam vẫn kiên cường bám trụ, quyết bảo vệ chủ quyền quốc gia trên biển.
02/06/2014 19:00
Thanh Xuân

Căng thẳng Biển Đông và hậu quả kinh tế

Nhà máy Đài Loan ở Bình Dương treo biểu ngữ để tránh bị đốt phá - REUTERS /Stringer
Nhà máy Đài Loan ở Bình Dương treo biểu ngữ để tránh bị đốt phá - REUTERS /Stringer

Nếu căng thẳng do vụ giàn khoan Hải Dương 981 tiếp diễn, không loại trừ khả năng là Trung Quốc sẽ dùng các biện pháp trừng phạt kinh tế đối với Việt Nam. Điều này sẽ gây ra những hậu quả như thế nào, trong bối cảnh mà kinh tế Việt Nam đang lệ thuộc rất nhiều vào Trung Quốc?
Trung Quốc hiện là đối tác thương mại hàng đầu của Việt Nam, với trao đổi mậu dịch hai chiều vào năm ngoái lên tới khoảng 50 tỷ đôla, tăng 22% so với năm 2012, theo số liệu của Tổng cục Thống kê Việt Nam. Theo một tuyên bố của chính phủ Việt Nam ngày 14/04 vừa qua, hai nước đã đề ra mục tiêu tăng trao đổi thương mại song phương lên 60 tỷ đôla vào năm 2014.
Về đầu tư, theo thống kê của Cục Đầu tư nước ngoài, trong năm 2013, vốn đầu tư ngoại quốc trực tiếp FDI từ Trung Quốc vào Việt Nam đã tăng đột biến, lên đến mức hơn 2,3 tỉ đôla so với 345 triệu đôla của năm 2012, đặc biệt là đầu tư vào hai lĩnh vực bất động sản và dệt may. Ngoài ra, doanh nghiệp Trung Quốc còn đẩy mạnh tiếp cận các lĩnh vực khai khoáng, sản xuất và chế biến, xây dựng và cơ sở hạ tầng...
Cách đây không lâu, nhiều người đã lên tiếng báo động về việc Trung Quốc trúng thầu và thâu tóm hơn 90% các công trình trọng điểm quốc gia ở khắp Việt Nam. Các công ty Trung Quốc dần dần thâu tóm các công ty Việt Nam và điều này càng khiến cho các chuyên gia lo ngại về nguy cơ Việt Nam mất quyền kiểm soát kinh tế.
Chưa biết là Bắc Kinh có sẽ trả đũa kinh tế Việt Nam hay không, nhưng trước mắt, căng thẳng do vụ Trung Quốc hạ đặt giàn khoan Hải Dương 981 ở vùng biển của Việt Nam đã bắt đầu gây tác hại cho kinh tế Việt Nam do các vụ bạo loạn ở Bình Dương và Hà Tĩnh. Hàng trăm nhà máy của các công ty ngoại quốc, chủ yếu của Trung Quốc, Đài Loan và Hàn Quốc đã bị cướp bóc, đốt phá, gây đình trệ sản xuất và nhất là gây tâm lý bất an cho giới đầu tư ngoại quốc, vào lúc mà Việt Nam cần đến đầu tư ngoại quốc hơn bao giờ hết.

Tuy nhiên, căng thẳng Biển Đông phải chăng cũng là cơ hội để Việt Nam thức tỉnh, quyết tâm tìm cách thoát khỏi sự lệ thuộc vào Trung Quốc, để quan hệ kinh tế giữa hai nước trở nên bình đẳng hơn?

Về phần chuyên gia tài chính Huỳnh Bửu Sơn ở Sài Gòn thì cho rằng khủng hoảng Biển Đông tuy có một số tác động đến kinh tế Việt Nam, nhưng nó cũng mở ra những cơ hội mới với việc người Việt trong và ngoài nước đồng tâm hiệp lực đối phó với hiểm họa ngoại xâm.


mag vietnam 2.6.14
(15:58)

Trung Quốc: Việt Nam leo thang căng thẳng ở Biển Đông

Tàu đánh cá của ngư dân Việt Nam bị tàu Trung Quốc đâm chìm gần giàn khoan HD 981, ngày 29/5/2014.
Tàu đánh cá của ngư dân Việt Nam bị tàu Trung Quốc đâm chìm gần giàn khoan HD 981, ngày 29/5/2014.
VOA-02.06.2014
Trung Quốc đổ lỗi cho Việt Nam về những căng thẳng trong Biển Đông hồi gần đây. Tờ China Daily số ra ngày 1 tháng 6, nói rằng tình hình Biển Đông rất đáng lo ngại, tờ báo nói rằng bất chấp những trình bày, cảnh cáo và thuyết phục từ phía Trung Quốc, phía Việt Nam 'không những tiếp tục dùng vũ lực gây gián đoạn cho các hoạt động khoan dầu của Tổng Công ty Dầu khí Hải dương Trung Quốc - CNOOC, và đưa ra những hành động nguy hiểm, mà còn khích động các cuộc bạo loạn chống Trung Quốc, gây thương vong và thiệt hại nặng nề cho các doanh nghiệp nước ngoài'.

Tờ báo tố cáo rằng những vụ bạo động này do Việt Nam khuấy động đã tác động tới quan hệ hữu nghị Việt-Trung và sự ổn định của khu vực.

Tác giả bài báo, mà tờ People Daily cho biết là một chuyên gia làm việc tại Viện nghiên cứu Quan hệ Quốc tế Đương đại Trung Quốc nói những hành động 'khiêu khích' của Việt Nam, điều tàu tới đâm vào các tàu Trung Quốc tại địa điểm giàn khoan, không những 'vi phạm chủ quyền và quyền tài phán của Trung Quốc, mà còn đe dọa nghiêm trọng quyền tự do và an toàn đi lại trên các vùng biển này'.

Tác giả nói rằng chính quyền Việt Nam đã khích động tình cảm bài Trung Quốc ở trong nước để đánh lạc hướng dư luận về sự bất bình trong công chúng đối với nạn tham nhũng trong chính quyền cũng như về tình trạng khó khăn kinh tế mà Việt Nam phải đương đầu.

Trong khi đó, phát biểu tại Hội nghị Đối thoại Quốc phòng An ninh Châu Á ở Singapore hôm 31 tháng Năm, Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam, Đại Tướng Phùng Quang Thanh, nhận định rằng trên tổng thể, 'quan hệ giữa Việt Nam và nước bạn láng giềng Trung Quốc trên các mặt đang phát triển tốt đẹp' ngoại trừ vấn đề tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông, và những 'va chạm căng thẳng như sự việc ngày 1/5/2014 khi Trung Quốc hạ đặt giàn khoan HD 981 trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam, gây lo ngại cho các nước trong khu vực và cộng đồng quốc tế.

Tướng Phùng Quang Thanh nói để không xảy ra xung đột và chiến tranh, hai nước phải hết sức kiềm chế, tăng cường hợp tác, đừng để xảy ra những hành động vuột ra khỏi tầm kiểm soát.

Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam nói muốn tránh xung đột, cần có 'nhận thức chung về trách nhiệm quốc tế, đặc biệt là vai trò, trách nhiệm của các cường quốc'.

Theo ông, các nước cần có trách nhiệm gìn giữ môi trường hòa bình, ổn định hợp tác cùng phát triển và tôn trọng luật pháp quốc tế.

Trong cùng ngày, lên tiếng tại diễn đàn an ninh Shrangri-La, Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ Chuck Hagel nhắc lại phát biểu của Tổng Thống Obama về vai trò của Hoa Kỳ 'Mỹ phải luôn luôn dẫn đầu trên sân khấu thế giới, bởi vì nếu chúng ta không làm, thì không một ai khác sẽ làm việc đó'.

Ông Hagel nói thêm rằng 'trong tư cách một cường quốc Thái bình dương, ưu tiên của Hoa Kỳ là tăng cường quan hệ đối tác với các nước bạn và đồng minh trên khắp khu vực Á Châu-Thái bình dương'.

Một trong các ưu tiên ấy là xây dựng một môi trường hòa bình, và sẽ tiếp tục phát triển, chia sẻ và duy trì các khả năng quân sự tiên tiến để có thể thích ứng với những thách thức đang gia tăng nhanh chóng trong khu vực.

Ông Hagel nói từ Âu sang Á, Hoa Kỳ đã dẫn đầu nỗ lực này trong 7 thập niên qua, và cam kết sẽ duy trì sự lãnh đạo trong thế kỷ 21.

Ông Hagel nói năm 1967, Tướng Thanh gia nhập quân đội nhân dân Việt Nam, cùng năm ông gia nhập quân đội Hoa Kỳ và được đưa sang Việt Nam. Giờ đây, hai ông gặp nhau trong cương vị Bộ trưởng Quốc phòng của nước mình, để tìm cách củng cố các quan hệ quốc phòng đang manh nha giữa đôi bên. Ông Hagel nói lịch sử đầy những oái ăm, và vì lý do đó Hoa Kỳ phải lãnh đạo và tiếp tục lãnh đạo trong tinh thần khiêm cung.

Gần 75% trẻ em dưới 14 tuổi bị bạo hành ở Việt Nam

HÒA BÌNH (NV) - Tuy Việt Nam có luật lệ nhưng vẫn có gần ba phần tư trẻ em ở Việt Nam trong khoảng tuổi từ 2 đến 14 tuổi bị cha mẹ hay các người khác trong gia đình trừng phạt bằng bạo lực.

Tài liệu của Chương Trình Quỹ Nhi Ðồng Liên Hiệp Quốc (UNICEF) tại Việt Nam nêu ra cho biết như vậy nhân dịp phát động chiến dịch “Chấm Dứt Bạo Lực Với Trẻ Em” ở Việt Nam do cơ quan vừa kể đứng ra tổ chức tại tỉnh Hòa Bình. Chiến dịch này cũng mở đầu cho “Tháng Hành Ðộng Vì Trẻ Em Năm 2014” mà nhà cầm quyền CSVN tiến hành thường chỉ có tính hình thức để nhận viện trợ.

(Hình minh họa: Hoang Dinh Nam/AFP/Getty Images)

Bên cạnh sự bạo hành, các cuộc nghiên cứu của cơ quan UNICEF thấy rằng, bóc lột sức lao động và lạm dụng trẻ em vào những công việc không thích hợp gây ra những ảnh hưởng tai hại đến sức khỏe và tâm lý của trẻ em. Các ảnh hưởng đó kéo dài từ hiện tại đến thời gian sau này, tác động lên khả năng học tập và giao tiếp xã hội, với những hậu quả tai hại trong quá trình trưởng thành của các em.

Các cuộc khảo cứu dẫn đến thống kê nói khoảng gần 3/4 trẻ em trong khoảng từ 2 tuổi đến 14 tuổi bị cha mẹ, người trông coi hay các người khác trong gia đình trừng phạt bằng bạo lực. Tại Việt Nam, mọi người đều dễ dàng nhìn thấy ở bất cứ đâu cảnh trẻ con bị các người lớn đánh bằng tay hay bằng roi. Tệ hại hơn nữa là có thể bằng bất cứ thứ gì người ta cầm trong tay.

Theo UNICEF, trong thời gian các năm từ 2006 đến năm 2011, có khoảng 5,600 vụ lạm dụng tình dục trẻ em được báo cơ quan công an. Nhưng những vụ việc bị đem ra tòa kết án thấy loan tin trên mặt báo là tỉ lệ vô cùng nhỏ so với thực tế. (TN)
06-01-2014 7:59:46 PM

Trung Quốc muốn tránh bị đưa ra tòa án quốc tế

Thứ trưởng Quốc phòng Việt Nam Nguyễn Chí Vịnh.
Thứ trưởng Quốc phòng Việt Nam Nguyễn Chí Vịnh.

VOA-02.06.2014
Một giới chức quân sự Việt Nam hàng đầu cho biết Bắc Kinh đã nhiều lần yêu cầu Việt Nam đừng đưa vụ tranh chấp Biển Đông ra trước tòa án trọng tài quốc tế.

Báo South China Morning Post hôm nay tường thuật rằng hôm qua 1 tháng 6, Thứ trưởng Quốc phòng Việt Nam Nguyễn Chí Vịnh nói rằng Hà Nội vẫn chưa quyết định bao giờ sẽ yêu cầu tòa án trọng tài quốc tế phân xử cuộc tranh chấp, nhưng ông nói quyết định đó còn tùy thuộc vào những hành động của Trung Quốc ở Biển Đông.

Tờ báo dẫn lời ông Nguyễn Chí Vịnh nói rằng: 'Câu trả lời của chúng tôi (trước yêu cầu của Trung Quốc) là mọi sự còn tùy thuộc vào các hoạt động và cách hành sử của Trung Quốc, nếu họ tiếp tục lấn đẩy chúng tôi thì chúng tôi sẽ không có lựa chọn nào khác. Giải pháp pháp lý này cũng phù hợp với luật pháp quốc tế'.

Thứ trưởng quốc phòng Việt Nam đưa ra lời bình luận này sau khi Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng cho biết Việt Nam đã chuẩn bị chứng cớ cho một hồ sơ pháp lý, thách thức yêu sách chủ quyền của Trung Quốc trong các vùng biển ngoài khơi Việt Nam, và Việt Nam đang chờ thời điểm thuận tiện nhất để đệ nạp hồ sơ này.

Ông Nguyễn Chí Vịnh đã dự một cuộc họp tay đôi với Phó Tham Mưu Trưởng Quân đội Nhân dân Trung Quốc Vương Quán Trung hôm thứ Sáu tại Singapore.

Sau đó người phát ngôn của Bộ Quốc phòng Trung Quốc, Đại Tá Dương Vũ Quân, nói rằng ông Vương và ông Vịnh đã 'trao đổi quan điểm thẳng thắn với nhau' về các vấn đề an ninh. Tuy nhiên người phát ngôn này không xác nhận liệu vấn đề đưa Trung Quốc ra trước tòa án trọng tài quốc tế có được nêu lên trong cuộc gặp gỡ giữa hai nhà lãnh đạo Việt-Trung hay không.

Quan hệ giữa hai đồng minh lâu đời về ý thức hệ đã xuống dốc kể từ khi Trung Quốc hạ đặt giàn khoan dầu nước sâu trong vùng biển mà Hà Nội cho là nằm sâu trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam.

Vụ hạ đặt giàn khoan HD- 981 trong vùng biển này đã khơi mào cho các cuộc biểu tình quy mô chống Trung Quốc ở Việt Nam, và nhiều cuộc biểu tình trước các đại sứ quán Trung Quốc ở nước ngoài.

Nguồn: Smcp.com, Doisongphapluat.com

Bản đồ cổ của Trung Quốc


Tướng TQ doạ nạt: "TQ sẽ biến mình thành kẻ thù xứng tầm của Mỹ"

My Lan - theo Trí Thức Trẻ | 01/06/2014 19:41

Thiếu tướng Zhu Chenghu, giáo sư Đại học Quốc phòng Trung Quốc


(Soha.vn) - Một thiếu tướng, học giả quân sự Trung Quốc đã mạnh miệng đe doạ rằng: "Nếu các ngài coi Trung Quốc là kẻ thù, thì Trung Quốc chắn chắn sẽ trở thành kẻ thù của Mỹ".

Trả lời phỏng vấn tờ Wall Street Journal, thiếu tướng Zhu Chenghu, giáo sư Đại học Quốc phòng Trung Quốc, nói rằng, những chỉ trích của Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Chuck Hagel vớiTrung Quốc tại Diễn đàn Đối thoại an ninh Shangri-La 2014 là "vô căn cứ" và rằng "người Mỹ đang mắc phải những sai lầm chiến lược rất rất quan trọng" trong cách tiếp cận Bắc Kinh.
Tướng Zhu lớn tiếng cho rằng, thay vì lên lớp và cáo buộc Trung Quốc, Mỹ "nên đối xử với Trung Quốc như một đối tác bình đẳng chứ không phải như kẻ thù".
Ông Zhu mạnh miệng doạ rằng: "Nếu người Mỹ coi Trung Quốc là kẻ thù, người Trung Quốc chúng tôi sẽ phải tiến hành các bước để biến mình trở thành một kẻ thù xứng tầm của Mỹ. Nếu người Mỹ coi Trung Quốc là bạn, Trung Quốc sẽ là một người bạn rất trung thành, và nếu họ coi Trung Quốc là đối tác, Trung Quốc sẽ là một đối tác rất có tinh thần hợp tác".
Thế nhưng, viên tướng này thẳng thừng tuyên bố trên tờ Wall Street Journal rằng "Trung Quốc không ngu ngốc" khi tin rằng Washington muốn hợp tác với Trung Quốc.
Trước đó, trong bài phát biểu của mình tại Shangri-La, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Chuck Hagel đã đích danh tố cáo Trung Quốc "có những hành động đơn phương, gây bất ổn nhằm củng cố yêu sách chủ quyền của mình ở biển Đông". Ông chỉ trích hành động hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương 981 tại vùng biển Việt Nam và cáo buộc Trung Quốc ngăn cản Philippines tiếp cận bãi cạn Scarborough.
Trung Quốc cũng đã gặp phải những sự chỉ trích mạnh mẽ từ phía Nhật Bản và nhiều quốc gia khác vì những hành động gây hấn của mình đối với các quốc gia trong khu vực như Việt Nam, Philippines, Nhật Bản.

Chuyên gia Úc: "Vị thế của Trung Quốc không mạnh như họ nghĩ"

 Hồng Anh - theo Trí Thức Trẻ | 02/06/2014 20:17

Phó Tổng tham mưu Trưởng quân đội Trung Quốc Vương Quán Trung


(Soha.vn) - Tướng Martin Dempsey, Tổng Tham mưu Trưởng liên quân Mỹ, nhận định rằng Thái Bình Dương đang trở nên bất ổn hơn bởi "hành vi cưỡng ép và khiêu khích" của Trung Quốc.

Tại Đối thoại Shangri-La cuối tuần qua, Phó Tổng tham mưu Trưởng quân đội Trung Quốc Vương Quán Trung đã lớn tiếng chỉ trích Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Chuck Hagel sau khi ông Hagel cáo buộc Trung Quốc có những "hành động đơn phương, gây mất ổn định" ở biển Đông, bao gồm cả việc hạ đặt (trái phép) giàn khoan Hải Dương 981 trong vùng biển Việt Nam.
Tướng Vương tức giận phản bác rằng bài phát biểu của ông Hagel "sặc mùi bá chủ, đầy những từ ngữ đe doạ và doạ nạt" và "khiêu khích Trung Quốc". Luận điệu tương tự như thế này cũng được các quan chức Trung Quốc khác sử dụng khi nói về Mỹ.
Ông Vương còn trắng trợn tuyên bố rằng: "Trung Quốc chưa bao giờ kích động rắc rối. Trung Quốc chỉ bị buộc phải phản ứng lại những hành động khiêu khích của những bên khác".
Wall Street Journal (Mỹ) đánh giá, ngôn từ cứng rắn của Trung Quốc là minh chứng cho quan điểm của Bắc Kinh rằng quyền lực của Washington trong khu vực đang suy yếu, ngay cả khi cách tiếp cận ngày càng hung hăng của Trung Quốc đang khiến các quốc gia khác gần nhau hơn trong nỗ lực đối phó với quân đội ngày càng gia tăng và ảnh hưởng kinh tế của nó.
Trong khi đó, một số nhà phân tích cũng cho rằng, Trung Quốc đang cảm thấy ngày càng thoải mái với suy nghĩ mình là cường quốc hàng đầu và đang khoe khoang rằng Mỹ gần như, hoặc không thể làm gì được để ngăn chặn mình.
Tờ này dẫn lời một học giả giấu tên nhận định, ấn tượng của các quốc gia khác về Trung Quốc đã thay đổi rõ ràng trong chỉ vài năm: "Bạn có thể nói rằng, giờ đây, Trung Quốc đang hành xử như một cường quốc lớn, có quyền lực và ngoại lệ..., như thể các luật lệ không được áp dụng cho họ".
Tuy nhiên, theo Wall Street Journal, Trung Quốc cũng đang quá liều lĩnh khi chỉ trích một cách mạnh mẽ Mỹ và những đồng minh của nước này. Tờ này dẫn lời ông Rory Medcalf, giám đốc Chương trình An ninh Quốc tế tại Viện Lowy (Úc) cho rằng: "Vị thế của Trung Quốc không mạnh như họ nghĩ".

Ngày 2-6: Trung Quốc tăng máy bay chiến đấu quần đảo khu vực giàn khoan trái phép

(PLO)- Trung Quốc cũng duy trì khoảng 120 tàu các loại quanh giàn khoan để ngăn cản lực lượng Cảnh sát biển, Kiểm ngư của VN thực thi công vụ.
Chiều 2-6, Cục Kiểm ngư (Tổng Cục Thủy sản, Bộ NNPTNT) cho biết: quan sát tại thực địa ngày 2-6, lực lượng kiểm ngư phía Trung Quốc đã tăng cường thêm máy bay với tần suất hoạt động nhiều hơn tại khu vực giàn khoan Hải Dương 981 mà Trung Quốc xâm phạm vào vùng biển đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của VN. 
Cụ thể, trong ngày Trung Quốc đã sử dụng 5 máy bay chiến đấu quần đảo nhiều vòng nhiều vòng tại khu vực giàn khoan trái phép. Bên cạnh đó, Trung Quốc cũng duy trì khoảng 120 tàu các loại quanh giàn khoan để ngăn cản lực lượng CSB, Kiểm ngư của VN thực thi công vụ cũng như ngăn cản các tàu cá của ngư dân VN đang khai thác hải sản tại ngư trường truyền thống khu vực gần giàn khoan trái phép của Trung Quốc. Các tàu Trung Quốc gồm: 38-40 tàu hải cảnh, 10-14 tàu vận tải, 15-20 tàu kéo, 42-47 tàu cá và 4 tàu quân sự.
Trong ngày, các tàu kiểm ngư VN vẫn tiếp tục tiến vào cách giàn khoan 7-9 lý để yêu cầu phía Trung Quốc rút khỏi bất chấp sự cản trở quyết liệt, sẵn sàng hú còi, đâm va, phun vòi rồng từ các tàu Trung Quốc. Lực lượng kiểm ngư cũng đang tiếp tục theo dõi sát sao sự dịch chuyển của giàn khoan Trung Quốc.
Cùng ngày, 50 tàu cá của ngư dân VN đã tổ chức đánh bắt thủy sản, đấu tranh đòi ngư trường và phản đối Trung Quốc hạ đặt giàn khoan trái phép tại vị trí cách giàn khoan trái phép của Trung Quốc khoảng 20-25 hải lý.
Thứ Hai, ngày 2/6/2014 - 18:18
Trọng Phú

Tai nạn xe đò ở Thái Lan, 12 hành khách là người Việt tử nạn

(PLO) - Tổng số người thiệt mạng là 13 người trong tai nạn xảy ra vào sáng nay (2-6), trong đó có 12 công nhân người Việt Nam và một tài xế người Thái Lan. 
Các nạn nhân bao gồm 8 người đàn ông và 5 phụ nữ. Họ đều là công nhân Việt Nam sang Thái Lan làm việc. 


 Hiện trường vụ tai nạn. Ảnh: ThaiPBS
Vụ tai nạn xảy ra trên đường cao tốc 201, thuộc huyện Kaeng Klor. tỉnh Chaiyaphum. Nguyên nhân là do chiếc xe khách đâm vào đuôi một chiếc xe tải chở khoai mì chạy cùng chiều. Vụ va chạm khiến xe khách bốc cháy tại chỗ, những hành khách đều không chạy thoát. Đây là một trong bốn chuyến xe chở công nhân, đón tại cổng trường đại học Ramkhamhaeng ở Bangkok để đi đến tỉnh Nong Bualampoo gần biên giới với Lào.
Cảnh sát nghi ngờ tài xế đã ngủ gục nên không làm chủ tay lái. Cảnh sát Thái Lan đã có mặt tại hiện trường để khám nghiệm hiện trường và thu gom thi thể các nạn nhân. Hầu hết các thi thể đều bị cháy xém, không còn nguyên vẹn. 
Thứ Hai, ngày 2/6/2014 - 14:49
An Khương

Phó tổng tham mưu trưởng TQ: "Đường lưỡi bò" có từ 2.200 năm trước (?!)

Có tới 9/12 câu hỏi dành để chất vấn Trung Quốc thay vì chất vấn thứ trưởng quốc phòng Nga ở đó.

Tại Đối thoại Shangri-La, đại diện Trung Quốc đã phản ứng dữ dội với các bài phát biểu của thủ tướng Nhật và bộ trưởng quốc phòng Mỹ nhưng trả lời vòng vo, thiếu thuyết phục khi bị chất vấn.


 Tướng Vương Quán Trung lớn tiếng chỉ trích Mỹ và Nhật nhưng ngắc ngứ trước các câu hỏi - Ảnh: T.T.

Trong một phần trao đổi căng thẳng và kịch tính bậc nhất trong lịch sử Đối thoại Shangri-La, tướng Vương Quán Trung, phó tổng tham mưu trưởng quân đội Trung Quốc, đã đưa ra những lời chỉ trích kịch liệt với cả Thủ tướng Nhật Shinzo Abe và Bộ trưởng quốc phòng Mỹ Chuck Hagel.
Bỏ bài phát biểu đã chuẩn bị từ trước, tướng Vương dành tới hơn 10 phút độc diễn để lên án Mỹ và Nhật “có hành động khiêu khích với Trung Quốc”.
“Ông Abe và ông Hagel có sự chỉ trích một cách không tưởng tượng được với Trung Quốc - ông Vương chỉ trích - Tôi hoàn toàn không thể tưởng tượng nổi. Có cảm giác như họ có sự phối hợp với nhau chặt chẽ, họ ủng hộ nhau, họ khuyến khích nhau. Họ lợi dụng lợi thế của người nói trước trong Shangri-La và đưa ra các hành động khiêu khích, thách thức với Trung Quốc”.
“Việt Nam khiêu khích gì?”
COC là cách duy nhất ngăn chặn xung đột
Sau phần phát biểu của tướng Vương Quán Trung, Bộ trưởng quốc phòng Pháp Jean-Yves Le Drian cùng quan chức quốc phòng nhiều nước kêu gọi kiềm chế trên biển Đông để ngăn chặn nguy cơ xung đột leo thang. Ông Le Drian nhấn mạnh Bộ quy tắc ứng xử trên biển Đông (COC) “là cách duy nhất để ngăn chặn các cuộc xung đột trên biển”.
Trước đó tại Đối thoại Shangri-La, Thủ tướng Nhật Abe đã kêu gọi các nước tuân thủ luật pháp quốc tế. Còn Bộ trưởng Hagel thẳng thừng lên án những hành động gây hấn và đe dọa sử dụng vũ lực của Trung Quốc ở biển Đông và biển Hoa Đông gần đây.
“Chúng tôi sẽ không bao giờ chấp nhận sự khiêu khích dưới cái mũ là chủ nghĩa hòa bình tích cực” - tướng Vương chỉ trích việc Thủ tướng Abe tuyên bố Nhật sẽ thay đổi tư duy về quốc phòng của mình.
Tướng Vương gọi bài phát biểu của Bộ trưởng Hagel là “đầy những từ ngữ đe dọa, bá quyền, chính là yếu tố gây mất ổn định và tạo ra rắc rối”.
“Với hai bài phát biểu của Abe và Hagel, nếu ta nhìn vào những hành động họ đã tiến hành thì chúng ta phải hỏi ai là kẻ gây hấn, ai là kẻ tạo ra thách thức, cáo buộc liên quan đến chủ quyền trên biển” - ông Vương lớn tiếng.
Bài phát biểu của ông Vương rõ ràng gây xôn xao khán giả. Có tới 9/12 câu hỏi sau đó là dành để chất vấn Trung Quốc thay vì chất vấn thứ trưởng quốc phòng Nga ở đó.
Đại diện của báo Financial Times đặt câu hỏi: “Tôi không biết, không hiểu đường chín đoạn là gì. Xin ông giải thích căn cứ nó ở đâu”. Một đại biểu từ Ấn Độ nói thẳng: “Đường chín đoạn thách thức mọi luật pháp, thông lệ quốc tế”.
Một đại biểu khác hỏi: “Ông nói Trung Quốc chỉ đáp trả các hành động khiêu khích chứ không bao giờ khiêu khích. Xin ông hãy nói xem Việt Nam đã khiêu khích gì Trung Quốc ở Hoàng Sa để các ông kéo giàn khoan của CNOOC vào đó?”.
Một câu hỏi khác là: “Ông nói về xây dựng quan hệ nước lớn kiểu mới với Mỹ. Vậy Trung Quốc có định xây dựng quan hệ kiểu mới giữa nước lớn - nước nhỏ không?”.
Rất tiếc với những câu hỏi này, tướng Vương chỉ trả lời lòng vòng mà không nêu ra được bất cứ căn cứ pháp lý hợp lý nào.
Ông ta bịa đặt trắng trợn rằng đường chín đoạn Trung Quốc “đã có từ 2.200 năm” nhưng phải đợi đến năm 1949 họ mới công bố.
Ông Vương thậm chí nêu quan điểm kỳ quái là Công ước Luật biển Liên Hiệp Quốc (UNCLOS) “không áp dụng đối với các đảo và biển ở biển Đông”.
Sau đó ông ta chuyển sang cáo buộc Mỹ đang dùng UNCLOS “làm công cụ” trong khi chưa hề phê chuẩn nó.
Phủ nhận luật biển quốc tế
Phần lớn các chuyên gia thường xuyên dự Đối thoại Shangri-La thừa nhận “đây là phần đối thoại kịch tính nhất” họ từng thấy.
Giáo sư Nick Bisley thuộc Đại học La Trobe (Úc) đánh giá: “Thật sự ngạc nhiên khi thấy các cường quốc lớn lại ăn nói cứng rắn với nhau như vậy”.
Chuyên gia Christian Le Miere của Viện Nghiên cứu chiến lược quốc tế (IISS), đơn vị tổ chức Đối thoại Shangri-La, đánh giá: “Rất ngạc nhiên là phần trả lời của ông Vương về đường chín đoạn đã hoàn toàn phủ nhận hết luật biển quốc tế”.
Chuyên gia Le Miere nhận định: “Một điều thấy rõ nhất là sự cạnh tranh ảnh hưởng giữa Mỹ và Trung Quốc tại khu vực. Và giờ Nhật cũng tích cực hơn trong việc tham gia an ninh khu vực. Căng thẳng trên biển đang xảy ra nhưng khó có thể hiểu sao phía Trung Quốc lại tỏ ra cộc cằn đến như vậy. Có lẽ vì họ bị phê phán quá nhiều tại cuộc đối thoại lần này”.
Nhà phân tích Bonnie Glaser của Trung tâm Nghiên cứu chiến lược và quốc tế (CSIS) đánh giá: “Có lẽ phần tuyên bố của tướng Vương chủ yếu nhắm vào khán giả trong nước ở Trung Quốc nhiều hơn. Tôi nghĩ năm nay họ đã bị chỉ trích quá nhiều tại đối thoại. Tôi thấy rất đáng tiếc là tướng Vương đã không trả lời được nhiều câu hỏi. Ông ta dành đến 10 phút lòng vòng để nói về đường chín đoạn nhưng không giải thích được cuối cùng nó là cái gì”.
Thứ Hai, ngày 2/6/2014 - 11:10
Theo THANH TUẤN (Tuổi trẻ)
(từ Shangri-La, Singapore)

Thủ đoạn mập mờ

Photo: Thủ đoạn mập mờ 
Ngô Nhân Dụng
Một bạn đọc, ký tên Dang Nguyen , đã góp ý kiến về bức công hàm Phạm Văn Ðồng 1958 như sau: “Ðiểm khác biệt cần làm rõ là chế độ chính trị ở hai miền Nam-Bắc và cả hai đều được quốc tế công nhận là hai nước. Vì thế, nó không như lập luận của tác giả (Ngô Nhân Dụng) rằng ông Phạm Văn Ðồng nhân danh nước Việt nam - có lãnh thổ từ ải Nam Quan đến Cà Mau. Sự toàn vẹn lãnh thổ và chế độ chính trị là hai khái niệm riêng biệt - trong thời điểm lịch sử của Việt Nam.” Một độc giả khác, ký tên Tran, nhận xét: “Bức công hàm của Phạm Văn Ðồng làm người đọc cảm thấy không rõ ràng, mập mờ khó hiểu, nhất là không đề cập gì tới Hoàng Sa và Trường Sa...”

Trong bài trước, ký giả không bàn đến dư luận hay ý kiến của thế giới đối với bức công hàm Phạm Văn Ðồng gửi Chu Ân Lai năm 1958. Tranh chấp pháp lý về chủ quyền lãnh hải giữa Việt Nam và Trung Quốc sẽ dựa trên ý nghĩa bức công hàm đó trong tương quan giữa hai đảng cộng sản, và giữa hai quốc gia do họ đang cai trị vào thời điểm họ trao đổi văn thư này.

Về điểm thứ nhất, vào năm 1958, chính quyền Cộng Sản Việt Nam tự coi họ làm làm chủ cả hai miền Nam, Bắc (hiến pháp Việt Nam Cộng Hòa cũng theo quan niệm này). Trong việc giao thiệp giữa hai bên, Cộng Sản Trung Quốc (Trung Cộng) chấp nhận quan điểm này của Cộng Sản Việt Nam (Việt Cộng). Trung Cộng chỉ lập bang giao với miền Bắc. Họ không công nhận chính quyền miền Nam, dù trong thời gian Hội Nghị Genève 1954, Chu Ân Lai đã tỏ ra muốn bắt cá hai tay, chính phủ Ngô Ðình Diệm từ chối. 

Vì vậy, khi Phạm Văn Ðồng viết cho Chu Ân Lai, ông ta nhân danh toàn thể nước Việt Nam, không riêng miền Bắc. Bây giờ đảng Cộng Sản Việt Nam muốn “nói lại,” rằng ông Ðồng không thể đem tặng Trung Cộng những quần đảo mà ông ta không có quyền quản lý, lý luận này không thể đứng vững vì mâu thuẫn với điều Việt Cộng chủ trương năm 1958.

Chúng tôi đồng ý với vị độc giả ký tên Tran, là văn thư của Phạm Văn Ðồng có vẻ mập mờ, tính chất mập mờ này chắc là do cố ý. Ðúng là bức công hàm không nhắc đến tên các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa (mà Trung Quốc gọi là Tây Sa, Nam Sa). Tuy nhiên, bản văn đã viết rằng: “Chính phủ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà ghi nhận và tán thành bản tuyên bố, ngày 4 tháng 9 năm 1958, của Chính phủ nước Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa, quyết định về hải phận của Trung Quốc.” 

Nói như vậy tức là tán thành cả văn bản lẫn ý nghĩa tổng quát trong bản tuyên bố của Trung Cộng. Mà trong bản tuyên bố đó, Bắc Kinh nêu rõ ràng tên các quần đảo trên như thuộc quyền của họ. Tán thành bản tuyên bố tức là đồng ý họ làm chủ Hoàng Sa, Trường Sa, không thể nào chối bỏ hay giải thích đã hiểu lầm được. 

Trong bản tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958 của chính phủ Bắc Kinh đoạn mang số một nói rõ ràng là các hòn đảo và chu vi quanh các đảo Ðài Loan, Bành Hồ, các quần đảo Ðông Sa, Tây Sa, Trung Sa, Nam Sa, đều thuộc Trung Quốc.

Văn thư của Phạm Văn Ðồng viết mập mờ, không nói gì đến những tên Hoàng Sa, Trường Sa. Nhưng nội dung cả bức thư viết rõ ràng là chính quyền Cộng Sản Việt Nam công nhận chủ quyền của Trung Cộng trên các quần đảo này. Phạm Văn Ðồng còn viết rằng chính phủ ông ta “tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc trong mọi quan hệ với nước Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa trên mặt bể.” Bây giờ, những người thừa kế Phạm Văn Ðồng tìm cách giải thích bằng cách dẫn chứng riêng một đoạn “tôn trọng hải phận 12 hải lý,” để nói rằng bức thư trên chỉ nói về chủ quyền 12 hải lý do Bắc Kinh nêu ra thôi, chứ không đồng ý Hoàng Sa hay Trường Sa thuộc Trung Quốc. Nhưng nói như vậy chỉ là cắt lấy một đoạn nói về một vấn đề kỹ thuật (hải phận 12 dặm biển chứ không phải 14, 15 hoặc 120 dặm). Trung Cộng sẽ nhắc Việt Cộng không nên “đoạn chương thủ nghĩa,” chỉ cắt một câu mà bỏ quên những câu quan trọng hơn trong văn thư của Phạm Văn Ðồng. Họ sẽ vạch ra ông Ðồng đã “ghi nhận và tán thành bản tuyên bố, ngày 4 tháng 9 năm 1958;” mà nội dung đầy đủ như đã nêu trên. Không những thế, ông Ðồng nói sẽ ra lệnh cấp dưới “tôn trọng quyết định ấy,” “trong mọi quan hệ với nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa trên mặt bể.” 

Viết những chữ “trong mọi quan hệ ... trên mặt bể” này là ký một “văn tự bán nước.” Bây giờ, Trung Cộng ngang nhiên đem giàn khoan HD-981vào hải phận nước ta, họ nói chỉ là thể hiện câu văn “tôn trọng quyết định ấy ... trong mọi quan hệ với nước Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa trên mặt bể.” Tóm lại, Việt Cộng không thể nào “cãi chày, cãi cối với Trung Cộng về bức công hàm năm 1958 được, dù Phạm Văn Ðồng đã cố ý viết một cách mập mờ.

Mập mờ là một thủ đoạn chính trị, đã được các đảng cộng sản sử dụng triệt để, nhất là khi nói với dân. Một câu nói mập mờ được ghi vào lịch sử là câu viết trong lời kêu gọi các cựu sĩ quan, công chức Việt Nam Cộng Hòa đi trình diện “học tập cải tạo;” trong đó mập mờ nói rằng họ hãy đem theo đồ dùng cá nhân và lương thực “đủ trong 30 ngày.” Nghe vậy, ai cũng tưởng thời gian “cải tạo” chỉ kéo dài 30 ngày là dài nhất. Mấy trăm ngàn người đã bị mắc lừa vì câu nói mập mờ này. Nhưng trong nghề nói mập mờ thì Việt Cộng chỉ là học trò của Trung Cộng.

Trong điều kiện nào thì thủ đoạn nói mập mờ sẽ thành công? Khi kẻ nói mập mờ cũng là kẻ nắm dao đằng chuôi. Một câu mập mờ, nước đôi hay nước ba, có thể giải thích bằng nhiều lối khác nhau. Khi đó, anh nào đeo khẩu súng to hoặc nắm còng số 8 trong tay, anh ấy sẽ bắt anh yếu phải chấp nhận nghe theo lối giải thích của mình.

Năm 1975, 76, các tù binh “cải tạo” đã vào trong hàng rào kẽm gai rồi thì không thể đòi hỏi Việt Cộng hiểu câu “đủ trong 30 ngày” theo lối mình, hiểu rằng chỉ đi tù 30 ngày. Năm 2014 bây giờ Việt Cộng cũng không thể bắt Trung Cộng hiểu bức thư của Phạm Văn Ðồng không nói đến tên Hoàng Sa, Trường Sa tức là không dâng cùng Hoảng Sa, Trường Sa cho Bắc Kinh. Họ quên rằng trong các thủ đoạn lưu manh thì Trung Cộng vẫn chỉ là thày của Việt Cộng. Học được thói nói năng mập mờ, đem áp dụng để đánh lừa dân chúng trong nước mình thì dễ. Nhưng không thể đánh lừa cả tên “đồng chí anh em” đã dạy trò gian trá đó cho mình; trong khi nó viện trợ cho từng cây kim, từng hạt gạo, và súng, đạn, mìn, bẫy, để theo đuổi cuộc chiến tranh “chống Mỹ tới người Việt cuối cùng!” 

Trong việc bang giao, khi nào thì người ta hay dùng thủ đoạn nói mập mờ? Thường người ta nói với nhau những điều không rõ ràng khi cả hai bên đều bị kẹt, không ai muốn nhường ai nhưng không ai muốn quyết liệt nói thẳng. Người lãnh đạo nhiều nước vẫn hay nói mập mờ để đánh lừa người nước khác. Chúng ta vẫn còn nhớ đặc sứ của ông Richard Nixon khi dụ chính phủ miền Nam tham dự hội nghị Paris đã hứa hẹn những gì với ông Nguyễn Văn Thiệu. Trong quan hệ giữa Mỹ và Việt Nam Cộng Hòa thời đó, ai cũng biết bên nào mạnh hơn, có khả năng để nói mập mờ, sau thành tráo trở. Ngày nay, ông Karzai, tổng thống Afghanistan chọn một cách đối xử khác đối với chính phủ Mỹ. Ông đòi hỏi các thỏa thuận phải viết theo ý của mình, viết rõ ràng, không thể hiểu lầm được. Ðịa vị của ông Karzai, đối với chính phủ Mỹ, cũng không mạnh hơn bao nhiêu so với ông Nguyễn Văn Thiệu thời 1970, hoặc ông Phạm Văn Ðồng đối với Trung Cộng vào năm 1958. 
Nhưng tại sao Karzai dám tỏ thái độ cứng rắn như vậy? Bởi vì ông ta không sợ, và tin rằng việc ông làm mang lại lợi ích cho dân ông. Tại sao chính phủ Mỹ phải chiều theo ý ông Karzai và người lên kế nhiệm ông? 

Vì chính quyền Mỹ phải hành sử theo cung cách một chế độ tự do dân chủ, với lối sống dựa trên tính chất minh bạch, công khai. Sau thời ông Nixon, Quốc Hội Mỹ đã làm nhiều thứ luật hạn chế quyền quyết định của các vị tổng thống; trong đó có những quyền thương thuyết và thỏa hiệp trong vòng bí mật. Ở các nước khác, dù họ không làm ra những đạo luật bắt người cầm quyền phải làm mọi việc công khai, nhưng dư luận dân chúng, báo chí, các nhà chính trị đối lập, cũng có giá trị ngăn cản hoặc ràng buộc như những đạo luật.

Cũng vậy, chính quyền các nước dân chủ tự do rất khó dùng lối nói mập mờ đối với người dân của họ. Chúng ta có thể thông cảm rằng con người hay tránh không nói thẳng, không nói rõ ràng, nếu không bị bắt buộc. Vì người ta muốn tránh không quả quyết nói về bổn phận, trách nhiệm của mình đối với người khác cho rõ ràng; vì làm thế là bị ràng buộc. Các nhà chính trị trên thế giới đều thực hành câu tục ngữ của người Việt: “Làm trai cứ nước hai mà nói.”

Cho nên, trong chế độ tự do dân chủ các đại biểu của người dân phải làm ra những luật lệ bắt buộc bên hành pháp phải nói rõ ràng, chính sách của nhà nước thì không được mập mờ. Người ta tự nhiên làm như vậy vì những người nắm quyền, hành pháp cũng như lập pháp đều chịu trách nhiệm trước dân, do dân cử ra bằng lá phiếu tự do. 

Ngược lại, thủ đoạn nói mập mờ chuyên được đem áp dụng trong các chế độ độc tài chuyên chế. Kẻ cầm quyền nói nước đôi, nước ba, rồi đến lúc cần đem giải thích theo một ý nghĩa phù hợp với quyền lợi của phe đảng họ nhất. Bọn lãnh tụ độc tài chuyên chế quen thói đánh lừa dân như thế mãi cũng được; vì họ có còng số tám. Nhưng khi tính đem áp dụng mưu mẹo lừa bịp đó với những kẻ mạnh hơn mình thì cuối cùng chỉ thiệt. Thiệt hại cho riêng họ không nói làm gì, họ còn gây tai hại cho cả nước Việt Nam nữa!

http://www.nguoi-viet.com/absolutenm2/templates/viewarticlesNVO.aspx?articleid=189043&zoneid=7#.U4x-onJdXKg

Một bạn đọc, ký tên Dang Nguyen , đã góp ý kiến về bức công hàm Phạm Văn Ðồng 1958 như sau: “Ðiểm khác biệt cần làm rõ là chế độ chính trị ở hai miền Nam-Bắc và cả hai đều được quốc tế công nhận là hai nước. Vì thế, nó không như lập luận của tác giả (Ngô Nhân Dụng) rằng ông Phạm Văn Ðồng nhân danh nước Việt nam - có lãnh thổ từ ải Nam Quan đến Cà Mau. Sự toàn vẹn lãnh thổ và chế độ chính trị là hai khái niệm riêng biệt - trong thời điểm lịch sử của Việt Nam.” Một độc giả khác, ký tên Tran, nhận xét: “Bức công hàm của Phạm Văn Ðồng làm người đọc cảm thấy không rõ ràng, mập mờ khó hiểu, nhất là không đề cập gì tới Hoàng Sa và Trường Sa...”

Trong bài trước, ký giả không bàn đến dư luận hay ý kiến của thế giới đối với bức công hàm Phạm Văn Ðồng gửi Chu Ân Lai năm 1958. Tranh chấp pháp lý về chủ quyền lãnh hải giữa Việt Nam và Trung Quốc sẽ dựa trên ý nghĩa bức công hàm đó trong tương quan giữa hai đảng cộng sản, và giữa hai quốc gia do họ đang cai trị vào thời điểm họ trao đổi văn thư này.

Về điểm thứ nhất, vào năm 1958, chính quyền Cộng Sản Việt Nam tự coi họ làm làm chủ cả hai miền Nam, Bắc (hiến pháp Việt Nam Cộng Hòa cũng theo quan niệm này). Trong việc giao thiệp giữa hai bên, Cộng Sản Trung Quốc (Trung Cộng) chấp nhận quan điểm này của Cộng Sản Việt Nam (Việt Cộng). Trung Cộng chỉ lập bang giao với miền Bắc. Họ không công nhận chính quyền miền Nam, dù trong thời gian Hội Nghị Genève 1954, Chu Ân Lai đã tỏ ra muốn bắt cá hai tay, chính phủ Ngô Ðình Diệm từ chối.

Vì vậy, khi Phạm Văn Ðồng viết cho Chu Ân Lai, ông ta nhân danh toàn thể nước Việt Nam, không riêng miền Bắc. Bây giờ đảng Cộng Sản Việt Nam muốn “nói lại,” rằng ông Ðồng không thể đem tặng Trung Cộng những quần đảo mà ông ta không có quyền quản lý, lý luận này không thể đứng vững vì mâu thuẫn với điều Việt Cộng chủ trương năm 1958.

Chúng tôi đồng ý với vị độc giả ký tên Tran, là văn thư của Phạm Văn Ðồng có vẻ mập mờ, tính chất mập mờ này chắc là do cố ý. Ðúng là bức công hàm không nhắc đến tên các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa (mà Trung Quốc gọi là Tây Sa, Nam Sa). Tuy nhiên, bản văn đã viết rằng: “Chính phủ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà ghi nhận và tán thành bản tuyên bố, ngày 4 tháng 9 năm 1958, của Chính phủ nước Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa, quyết định về hải phận của Trung Quốc.”

Nói như vậy tức là tán thành cả văn bản lẫn ý nghĩa tổng quát trong bản tuyên bố của Trung Cộng. Mà trong bản tuyên bố đó, Bắc Kinh nêu rõ ràng tên các quần đảo trên như thuộc quyền của họ. Tán thành bản tuyên bố tức là đồng ý họ làm chủ Hoàng Sa, Trường Sa, không thể nào chối bỏ hay giải thích đã hiểu lầm được.

Trong bản tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958 của chính phủ Bắc Kinh đoạn mang số một nói rõ ràng là các hòn đảo và chu vi quanh các đảo Ðài Loan, Bành Hồ, các quần đảo Ðông Sa, Tây Sa, Trung Sa, Nam Sa, đều thuộc Trung Quốc.

Văn thư của Phạm Văn Ðồng viết mập mờ, không nói gì đến những tên Hoàng Sa, Trường Sa. Nhưng nội dung cả bức thư viết rõ ràng là chính quyền Cộng Sản Việt Nam công nhận chủ quyền của Trung Cộng trên các quần đảo này. Phạm Văn Ðồng còn viết rằng chính phủ ông ta “tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc trong mọi quan hệ với nước Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa trên mặt bể.” Bây giờ, những người thừa kế Phạm Văn Ðồng tìm cách giải thích bằng cách dẫn chứng riêng một đoạn “tôn trọng hải phận 12 hải lý,” để nói rằng bức thư trên chỉ nói về chủ quyền 12 hải lý do Bắc Kinh nêu ra thôi, chứ không đồng ý Hoàng Sa hay Trường Sa thuộc Trung Quốc. Nhưng nói như vậy chỉ là cắt lấy một đoạn nói về một vấn đề kỹ thuật (hải phận 12 dặm biển chứ không phải 14, 15 hoặc 120 dặm). Trung Cộng sẽ nhắc Việt Cộng không nên “đoạn chương thủ nghĩa,” chỉ cắt một câu mà bỏ quên những câu quan trọng hơn trong văn thư của Phạm Văn Ðồng. Họ sẽ vạch ra ông Ðồng đã “ghi nhận và tán thành bản tuyên bố, ngày 4 tháng 9 năm 1958;” mà nội dung đầy đủ như đã nêu trên. Không những thế, ông Ðồng nói sẽ ra lệnh cấp dưới “tôn trọng quyết định ấy,” “trong mọi quan hệ với nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa trên mặt bể.”

Viết những chữ “trong mọi quan hệ ... trên mặt bể” này là ký một “văn tự bán nước.” Bây giờ, Trung Cộng ngang nhiên đem giàn khoan HD-981vào hải phận nước ta, họ nói chỉ là thể hiện câu văn “tôn trọng quyết định ấy ... trong mọi quan hệ với nước Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa trên mặt bể.” Tóm lại, Việt Cộng không thể nào “cãi chày, cãi cối với Trung Cộng về bức công hàm năm 1958 được, dù Phạm Văn Ðồng đã cố ý viết một cách mập mờ.

Mập mờ là một thủ đoạn chính trị, đã được các đảng cộng sản sử dụng triệt để, nhất là khi nói với dân. Một câu nói mập mờ được ghi vào lịch sử là câu viết trong lời kêu gọi các cựu sĩ quan, công chức Việt Nam Cộng Hòa đi trình diện “học tập cải tạo;” trong đó mập mờ nói rằng họ hãy đem theo đồ dùng cá nhân và lương thực “đủ trong 30 ngày.” Nghe vậy, ai cũng tưởng thời gian “cải tạo” chỉ kéo dài 30 ngày là dài nhất. Mấy trăm ngàn người đã bị mắc lừa vì câu nói mập mờ này. Nhưng trong nghề nói mập mờ thì Việt Cộng chỉ là học trò của Trung Cộng.

Trong điều kiện nào thì thủ đoạn nói mập mờ sẽ thành công? Khi kẻ nói mập mờ cũng là kẻ nắm dao đằng chuôi. Một câu mập mờ, nước đôi hay nước ba, có thể giải thích bằng nhiều lối khác nhau. Khi đó, anh nào đeo khẩu súng to hoặc nắm còng số 8 trong tay, anh ấy sẽ bắt anh yếu phải chấp nhận nghe theo lối giải thích của mình.

Năm 1975, 76, các tù binh “cải tạo” đã vào trong hàng rào kẽm gai rồi thì không thể đòi hỏi Việt Cộng hiểu câu “đủ trong 30 ngày” theo lối mình, hiểu rằng chỉ đi tù 30 ngày. Năm 2014 bây giờ Việt Cộng cũng không thể bắt Trung Cộng hiểu bức thư của Phạm Văn Ðồng không nói đến tên Hoàng Sa, Trường Sa tức là không dâng cùng Hoảng Sa, Trường Sa cho Bắc Kinh. Họ quên rằng trong các thủ đoạn lưu manh thì Trung Cộng vẫn chỉ là thày của Việt Cộng. Học được thói nói năng mập mờ, đem áp dụng để đánh lừa dân chúng trong nước mình thì dễ. Nhưng không thể đánh lừa cả tên “đồng chí anh em” đã dạy trò gian trá đó cho mình; trong khi nó viện trợ cho từng cây kim, từng hạt gạo, và súng, đạn, mìn, bẫy, để theo đuổi cuộc chiến tranh “chống Mỹ tới người Việt cuối cùng!”

Trong việc bang giao, khi nào thì người ta hay dùng thủ đoạn nói mập mờ? Thường người ta nói với nhau những điều không rõ ràng khi cả hai bên đều bị kẹt, không ai muốn nhường ai nhưng không ai muốn quyết liệt nói thẳng. Người lãnh đạo nhiều nước vẫn hay nói mập mờ để đánh lừa người nước khác. Chúng ta vẫn còn nhớ đặc sứ của ông Richard Nixon khi dụ chính phủ miền Nam tham dự hội nghị Paris đã hứa hẹn những gì với ông Nguyễn Văn Thiệu. Trong quan hệ giữa Mỹ và Việt Nam Cộng Hòa thời đó, ai cũng biết bên nào mạnh hơn, có khả năng để nói mập mờ, sau thành tráo trở. Ngày nay, ông Karzai, tổng thống Afghanistan chọn một cách đối xử khác đối với chính phủ Mỹ. Ông đòi hỏi các thỏa thuận phải viết theo ý của mình, viết rõ ràng, không thể hiểu lầm được. Ðịa vị của ông Karzai, đối với chính phủ Mỹ, cũng không mạnh hơn bao nhiêu so với ông Nguyễn Văn Thiệu thời 1970, hoặc ông Phạm Văn Ðồng đối với Trung Cộng vào năm 1958.
Nhưng tại sao Karzai dám tỏ thái độ cứng rắn như vậy? Bởi vì ông ta không sợ, và tin rằng việc ông làm mang lại lợi ích cho dân ông. Tại sao chính phủ Mỹ phải chiều theo ý ông Karzai và người lên kế nhiệm ông?

Vì chính quyền Mỹ phải hành sử theo cung cách một chế độ tự do dân chủ, với lối sống dựa trên tính chất minh bạch, công khai. Sau thời ông Nixon, Quốc Hội Mỹ đã làm nhiều thứ luật hạn chế quyền quyết định của các vị tổng thống; trong đó có những quyền thương thuyết và thỏa hiệp trong vòng bí mật. Ở các nước khác, dù họ không làm ra những đạo luật bắt người cầm quyền phải làm mọi việc công khai, nhưng dư luận dân chúng, báo chí, các nhà chính trị đối lập, cũng có giá trị ngăn cản hoặc ràng buộc như những đạo luật.

Cũng vậy, chính quyền các nước dân chủ tự do rất khó dùng lối nói mập mờ đối với người dân của họ. Chúng ta có thể thông cảm rằng con người hay tránh không nói thẳng, không nói rõ ràng, nếu không bị bắt buộc. Vì người ta muốn tránh không quả quyết nói về bổn phận, trách nhiệm của mình đối với người khác cho rõ ràng; vì làm thế là bị ràng buộc. Các nhà chính trị trên thế giới đều thực hành câu tục ngữ của người Việt: “Làm trai cứ nước hai mà nói.”

Cho nên, trong chế độ tự do dân chủ các đại biểu của người dân phải làm ra những luật lệ bắt buộc bên hành pháp phải nói rõ ràng, chính sách của nhà nước thì không được mập mờ. Người ta tự nhiên làm như vậy vì những người nắm quyền, hành pháp cũng như lập pháp đều chịu trách nhiệm trước dân, do dân cử ra bằng lá phiếu tự do.

Ngược lại, thủ đoạn nói mập mờ chuyên được đem áp dụng trong các chế độ độc tài chuyên chế. Kẻ cầm quyền nói nước đôi, nước ba, rồi đến lúc cần đem giải thích theo một ý nghĩa phù hợp với quyền lợi của phe đảng họ nhất. Bọn lãnh tụ độc tài chuyên chế quen thói đánh lừa dân như thế mãi cũng được; vì họ có còng số tám. Nhưng khi tính đem áp dụng mưu mẹo lừa bịp đó với những kẻ mạnh hơn mình thì cuối cùng chỉ thiệt. Thiệt hại cho riêng họ không nói làm gì, họ còn gây tai hại cho cả nước Việt Nam nữa!
Ngô Nhân Dụng
http://www.nguoi-viet.com/absolutenm2/templates/viewarticlesNVO.aspx?articleid=189043&zoneid=7#.U4x-onJdXKg

Tướng Thanh bị chỉ trích vì gọi Trung Quốc là 'bạn'

SINGAPORE (NV) - Nhiều người bày tỏ sự thất vọng và phẫn nộ khi ông Phùng Quang Thanh, bộ trưởng Quốc Phòng Việt Nam gọi Trung Quốc là “bạn” và so sánh xung đột chủ quyền Việt-Trung như “mâu thuẫn gia đình.”


Ðại Tướng Phùng Quang Thanh phát biểu tại Diễn Ðàn Shangri-La, Singapore. (Hình: Roslan Rahman/AFP/Getty Images)

Trong diễn văn tại Diễn Ðàn Shangri-La ở Singapore, ông Thanh nói rằng: “Quan hệ giữa Việt Nam và 'nước bạn láng giềng Trung Quốc' về tổng thể trên các mặt đang phát triển tốt đẹp, chỉ còn tồn tại vấn đề tranh chấp chủ quyền trên biển Ðông và đôi khi cũng có những va chạm gây căng thẳng.” Cũng theo ông Thanh, “trên thực tế, ngay ở trong quốc gia hay mỗi gia đình cũng còn có những mâu thuẫn, bất đồng, huống chi là các nước láng giềng với nhau còn tồn tại tranh chấp về biên giới, lãnh thổ hoặc va chạm là điều khó tránh khỏi.”

Một blogger có nickname là “Cầu Nhật Tân” nhận định, phát biểu của ông Thanh đã đưa Hoa Kỳ và Nhật vào “thế việt vị.”

Trước đó, cũng tại diễn đàn này, diễn ra rong ba ngày, từ 30 Tháng Năm đến 1 Tháng Sáu, ông Chuck Hagel, bộ trưởng Quốc Phòng Hoa Kỳ, công khai cáo buộc Trung Quốc gây bất ổn ở biển Ðông và xem vụ giàn khoan 981 là hành động đe dọa quá trình phát triển của khu vực. Ông Hagel nhấn mạnh, Hoa Kỳ sẽ không làm ngơ khi có quốc gia khác coi thường luật pháp quốc tế.

Trước ông Hagel, với tư cách một diễn giả chính của diễn đàn, ông Shinzo Abe, thủ tướng Nhật, khẳng định Nhật sẽ ủng hộ tối đa cho nỗ lực bảo đảm an ninh vùng biển và bầu trời, duy trì tự do hàng hải và tự do hàng không của các quốc gia ASEAN.

Ông Abe nhấn mạnh, tất cả các quốc gia phải tôn trọng luật pháp quốc tế. Cụ thể là các tuyên bố về chủ quyền trên biển phải dựa vào luật lệ quốc tế. Không quốc gia nào có thể dùng vũ lực hay hăm dọa để khẳng định chủ quyền. Tranh chấp về chủ quyền trên biển phải được giải quyết bằng các biện pháp hòa bình.

Ở diễn đàn tại Singapore lần này, Việt Nam cử Ðại Tướng Phùng Quang Thanh dẫn đầu một phái đoàn gồm 20 viên chức tham dự. Ông Thanh là đại biểu duy nhất gọi Trung Quốc - bên tạo ra tình trạng căng thẳng do đòi chủ quyền gần như trên toàn bộ biển Ðông, khiến cộng đồng quốc tế lo ngại - bằng cụm từ “nước bạn láng giềng.”

Thay mặt chính quyền Việt Nam, ông Thanh “đề nghị Trung Quốc rút giàn khoan ra khỏi vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của Việt Nam và cùng Việt Nam đàm phán để giữ được hòa bình ổn định và quan hệ hữu nghị hai nước.”

Theo truyền thông Việt Nam, trong ngày 31 Tháng Năm, khi ông Thanh đang phát biểu ở Singapore, “nước bạn láng giềng” của ông Thanh đã gia tăng tấn công các tàu đánh cá của ngư dân Việt Nam. Lợi dụng ưu thế về kích thước, tàu cảnh sát biển mang số hiệu 3401 của “nước bạn láng giềng” đã đâm vào tàu cảnh sát biển mang số hiệu 8001 của Việt Nam sáu lần. Phóng viên của tờ Lao Ðộng cho biết, cũng trong ngày 31 Tháng Năm, một tàu vận tải lớn của “nước bạn láng giềng” đã cặp giàn khoan 981 để cung cấp thêm mọi thứ cần thiết cho giàn khoan này tiếp tục hoạt động trong khu vực đặc quyền kinh tế của Việt Nam. (G.Ð.)

06-01-2014 7:27:16 PM