Wednesday, April 30, 2014

'Ngày 30 Tháng Tư' của nước Mỹ

Lịch sử Mỹ có một biến cố giống ngày 30 Tháng Tư năm 1975 ở nước ta. Cuộc chiến tranh Nam-Bắc ở Mỹ bắt đầu năm 1861, chấm dứt trong nhiều ngày, kể từ ngày 9 Tháng Tư 1865 khi Tướng Robert Lee chỉ huy quân miền Nam chấp nhận đầu hàng Tướng Ulysses Grant miền Bắc. 

Cuộc nội chiến ở Mỹ ngắn bằng một phần tư cuộc nội chiến ở Việt Nam một thế kỷ sau; nếu chúng ta tính từ năm 1959 khi các toán quân Bắc Việt đầu tiên vượt Trường Sơn tiến vào miền Nam, cho tới năm 1975. Ngày 9 Tháng Tư năm 1865 khác ngày 30 Tháng Tư năm 1975 một điểm quan trọng nhất, đó là cung cách những người chỉ huy đối nghịch. Giữa thế kỷ thứ 19, thế giới chưa có chủ nghĩa cộng sản; chưa có “chiến tranh ý thức hệ” với bộ máy tuyên truyền gây thù hận và cuồng tín. Vì vậy con người còn đối xử với nhau theo lối tương kính và tự trọng. Trong thế kỷ 19, vũ khí cũng còn thô sơ, thường dân không bị khủng bố. Số tử binh sĩ vong cả hai miền chỉ hơn 600,000 người, trong đó hơn 200,000 người chết trận và hơn 400,000 chết vì thương tích và bệnh tật.

Nhân ngày 30 Tháng Tư năm nay, chúng ta coi lại Lịch sử Nội chiến Mỹ xem cung cách của những người chỉ huy quân đội của họ khác người Việt thế nào.

Ðầu năm 1865, lực lượng miền Nam đã rất yếu, chỉ còn kiểm soát được tiểu bang Virginia và hai tiểu bang Nam, Bắc Carolinas. Tháng Hai, phó tổng thống miền Nam đã gặp Tổng Thống Abraham Lincoln miền Bắc đề nghị ngưng chiến. Lincoln đặt điều kiện phải thống nhất cả nước, và bãi bỏ chế độ nô lệ; cho nên cuộc nghị hòa bất thành. Ngày 2 Tháng Tư, 1865, Tướng Robert Lee, chỉ huy quân đội miền Nam chỉ còn dưới tay 30,000 lính, bị tấn công tơi tả; ông gửi mật thư cho vị tổng thống miền Nam là Jefferson Davis, yêu cầu chính phủ rút ra khỏi thủ đô Richmond “ngay trong đêm nay.” Davis từ chối, Lee phải gửi thêm một thư khác: Tuyệt đối phải rút ngay!

Có thể nói “Ngày 30 Tháng Tư” của lịch sử Mỹ bắt đầu từ cuộc triệt thoái này. Vừa nghe tin chính phủ rút đi, cả thành phố hỗn loạn. Những thường dân có khả năng cũng chạy theo chính quyền; người ta tranh cướp nhau các cỗ xe ngựa và giành nhau leo lên xe lửa; cũng giống như cảnh Ðà Nẵng cuối Tháng Ba năm 1975. Có người đi đốt nhà để hôi của. Cháy lan khắp thành phố. Kho lương thực của quân đội bị phá và cướp; kho thuốc lá bị đốt; nhiều người chiếm kho rượu và sau đó đường phố đầy bọn say sưa, họ bắn lẫn nhau. Họ bắt đầu phá các cửa hàng, tranh giành nhau lấy đồ. Richmond tan hoang.

Sáng ngày 3 Tháng Tư, quân miền Bắc tiến vào, đến tòa thị sảnh chấp nhận thành phố đầu hàng. Họ tổ chức các cuộc ăn mừng, trong khi nạn cướp bóc, hôi của còn tiếp tục. Tổng Thống Lincoln đang ở gần đó, tiến vào thủ đô miền Nam. Tướng Weitsel chỉ huy quân đội chiếm đóng hỏi ông phải đối xử với dân thành phố thế nào. Lincoln trả lời: “Nếu ở địa vị ông, tôi sẽ cho họ được dễ dàng - I would let 'em up easy! Let 'em up easy!” Câu này được lịch sử ghi nhớ.

Nhưng tại Washington, thủ đô miền Bắc, nhiều người nghĩ khác. Người ta bắn 800 phát đại bác ăn mừng chiến thắng. Các ông tranh trả tiền mời rượu lẫn nhau. Có người hỏi Bộ Trưởng Quốc Phòng Edwin Stanton số phận Richmond như thế nào, ông nói: “Ðốt! Ðốt nó đi! Ðốt!” Khi Phó Tổng Thống Andrew Johnson đọc diễn văn, nói đến tên tổng thống miền Nam Davis, nhiều người hô to: “Treo cổ! Treo cổ!” Và ông Johnson đồng ý: “Tôi nói: Treo cổ hắn 20 lần!”

Trong ngày đó, Tướng Lee biết đạo quân của mình hết thức ăn. Những cuộc tìm kiếm lương thực trong mấy ngày tiếp thất bại, liên tiếp bị quân miền Bắc tấn công. Trong trận đánh ngày 7 Tháng Tư, quân miền Nam chết khoảng 8,000 người. Lee chỉ còn 15,000 quân, trước mặt là đạo quân miền Bắc 80,000 của Tướng Ulysses Grant. Lee rút quân về bên sông Appomattox. Tối ngày 7 Tháng Tư, Lee nhận được thư của Grant đề nghị đầu hàng. Ngày hôm sau, quân miền Bắc đánh, chiếm hết kho lương thực. Vòng vây thắt chặt thêm.

Sáng ngày 9 Tháng Tư năm 1865, Tướng Robert E. Lee mặc một bộ quân phục chững chạc nhất. Thấy một tùy viên ngạc nhiên, ông giải thích: “Hôm nay tôi có thể bị quân địch bắt. Làm tù binh, mình cũng phải giữ quân phục cho đàng hoàng.”

Trong cảnh mặt trận tan rã dần dần, Robert E. Lee quyết định chấp nhận gặp Ulysses Grant bàn chuyện đầu hàng. Tướng Grant đang cưỡi ngựa tới thị sát mặt trận, khoác cái áo trận của một binh nhì. Hỏi Lee đang ở chỗ nào, Grant một mình cưỡi ngựa tới. Xuống ngựa, ông đưa tay ra bắt tay, và trong đầu so sánh bộ quân phục chỉnh tề của Lee với quần áo lấm đầy bùn đất của mình: “Chúng ta đã gặp nhau rồi, hồi mình cùng đi đánh trận ở Mexico!” Quả thật, hai người từng là đồng ngũ, khi nước Mỹ chưa chia đôi. Trong khi Grant còn thích kể chuyện ở Mexico ngày xưa, thì Lee nóng nẩy yêu cầu cho biết các điều kiện đầu hàng như thế nào.

Grant viết ra: Sĩ quan và binh sĩ miền Nam sẽ bị giải giới, và được tự do; các vũ khí và đồ tiếp liệu bị tịch thu. Lee đọc xong, đề nghị cho tất cả quân sĩ miền Nam được giữ ngựa, vì đó là tài sản riêng của họ chứ không thuộc quân đội. Lúc đầu ngần ngại, sau Grant đồng ý. Sau đó, một buổi lễ được tổ chức để Robert E. Lee chính thức đầu hàng Ulysses Grant; với đầy đủ lễ nghi quân cách.

Ngày 9 Tháng Tư năm 1865, trước cảnh quân sĩ kiệt lực và đói, Tướng Gordon báo tin viện binh không tới được, Robert Lee ngồi trên một thân cây đổ, nói với tướng tùy viên Porter Alexander: “Không còn cách nào khác, tôi sẽ phải gặp Tướng Grant. Tôi muốn chết một ngàn lần chết còn hơn.” Alexander choáng váng, khuyên vị chỉ huy của mình nghĩ lại. Hãy cho quân sĩ tan hàng, trốn đi khắp miền Nam. Chỉ cần hai phần ba số lính thoát, họ sẽ lẩn trốn như thỏ trong rừng, tiếp tục chiến đấu. Nhưng Lee không đồng ý: “Mười ngàn quân lính cũng không thể chiến đấu được. Lương thực đâu mà sống? Tản mác ra, họ sẽ không còn kỷ luật. Họ sẽ phải đi cướp. Cả nước sẽ đầy những tay ăn cướp; sẽ mất bao nhiêu năm nữa đất nước mới phục hồi. Quân miền Bắc sẽ đuổi đánh, và sẽ còn nhiều cảnh tàn phá nữa.” Vị tướng già 58 tuổi nói tiếp: “Mình phải công nhận miền Nam đã thua. Hãy để cho binh sĩ lặng lẽ trở về nhà, trồng lại vườn ruộng của họ, xây dựng lại những gì chiến tranh đã tàn phá. Còn tôi, tôi sẽ chịu cảnh nhục nhã đầu hàng, và chấp nhận bất cứ hậu quả nào xảy đến cho mình.”

Ba ngày sau lá thư của Tướng Lee báo tin đầu hàng mới tới tay Tổng Thống Jefferson Davis. Ông không chịu thua, lập thủ đô mới ở North Carolina. Ngày 14 Tháng Tư, Tổng Thống Abraham Lincoln bị ám sát, hôm sau ông chết. Andrew Johnson lên thay, tố cáo chính phủ miền Nam chủ mưu, và treo giải thưởng 100,000 đô la cho ai bắt được Davis.

Ðạo quân lớn còn lại của miền Nam do Tướng Joseph Johnson chỉ huy còn 26,000 quân, đề nghị gặp Tướng William Sherman miền Bắc. Tướng Sherman từng nói với người miền Nam: “Khi nào hết chiến tranh, các bạn cần gì cứ hỏi tôi! Tôi sẽ chia thức ăn với bạn, và bảo vệ gia đình các bạn.” Ngày 17, Sherman nhận được điện tín báo tin Abraham Lincoln qua đời. Sherman nhét bức điện tín vào túi, dặn người đưa thư giữ bí mật.

Khi tới gặp Johnson, ông đưa cho coi bản tin. Johnson than: Ðây là tai họa lớn nhất cho miền Nam! Cuộc thảo luận về điều kiện đầu hàng kéo dài, sau cùng Sherman cho biết các điều kiện phải giống hệt như đạo quân Virginia của Tướng Lee được hưởng. Hai ngày sau, Johnson cùng với Tướng John C. Breckinridge, bộ trưởng quốc phòng miền Nam đến họp lại. Sherman mở chai rượu mang theo mời hai người, rồi viết trên giấy những điều kiện đầu hàng, rộng rãi hơn các điều Tướng Grant đòi. Johnson rất hài lòng, khen ngợi Sherman, nhưng Breckinridge bất mãn; nói: “Tướng Sherman là đồ con heo! Anh có thấy hắn cất chai rượu vào túi đem về uống một mình hay không?” Johnson giải thích, chắc là ông ta đãng trí. Breckinridge nói tiếp: “Người lịch sự ở xứ Kentucky chúng tôi không bao giờ hành động như vậy!” Ðạo quân của Johnson chính thức đầu hàng ngày 26 Tháng Tư, 1865. Sau đó, nhiều toán quân miền Nam còn tiếp tục chiến đấu; tới ngày 10 Tháng Năm, Tổng Thống Andrew Johnson tuyên bố các cuộc kháng cự đã chấm dứt. Ngày 9, ông ban lệnh đại xá cho tất cả mọi quân, dân miền Nam đã tham dự trực tiếp hay gián tiếp trong cuộc chiến, trừ một thiểu số, như các đại biểu quốc hội và tướng lãnh miền Bắc đã bỏ vào Nam, chống lại chính phủ ở Washington. Nhưng sau đó ông cũng ký ân xá cho từng người. Một sĩ quan duy nhất đã bị đem xử như tội phạm chiến tranh và chịu tử hình, là Ðại úy Henry Wirz, vì đã ngược đãi các tù binh. Ngoài ra, không một quân nhân hay công chức nào của miền Nam phải chịu cảnh “tù cải tạo.”

Tướng Lee lặng lẽ trở về trông nom trang trại của mình; sau được mời làm hiệu trưởng trường cao đẳng ở Lexington, tiểu bang Virginia quê hương ông, đến năm 1870 mới qua đời, Tổng Thống Jefferson Davis đến chủ tọa tang lễ. Davis tiếp tục cố gắng chống đối, bị bắt giam. Sau hai năm, báo chí loan tin ông bị cùm bằng xích sắt, gây ra một làn sóng phẫn nộ, ở cả miền Nam lẫn miền Bắc. Tổng Thống Andrew Johnson phải trả tự do cho ông. Lệnh truy tố ông không được thi hành. Ông trở về nhà, làm chủ một công ty bảo hiểm, đi thăm các nước Âu Châu, Canada, Cuba, đắc cử nghị sĩ, làm hiệu trưởng một trường cao đẳng, sau này biến thành đại học A&M ở Texas. Ông Davis tiếp tục tin mình có chính nghĩa trong cuộc nội chiến, ông đi diễn thuyết ở nhiều nơi, được dân miền Nam hoan nghênh; năm 1889 ông viết xong cuốn sách về cuộc nội chiến, rồi qua đời ở tuổi 81.

Cuộc nội chiến Mỹ không kết thúc giống như ngày 30 Tháng Tư trong lịch sử Việt Nam. Chính quyền miền Bắc nước Mỹ theo chế độ dân chủ. Khi dân chúng thấm nhuần những lý tưởng dân chủ tự do thì họ cũng bao dung các ý kiến đối nghịch, và chính quyền phải thuận theo lòng dân. Dân Mỹ hai miền Nam Bắc đã xây dựng lại đất nước họ, dù đến giờ nhiều người vẫn giữ những lập trường khác nhau trong rất nhiều vấn đề.

Ở Sài Gòn hai năm nay mới có những buổi tập họp bày tỏ lòng tri ân với các thương phế binh Việt Nam Cộng Hòa, tại nhà thờ Dòng Chúa Cứu Thế. Các cựu quân nhân năm nay đã họp mặt tưởng niệm Tướng Nguyễn Khoa Nam. Ở Mỹ, những hành động đó đã diễn ra ngay sau khi chiến tranh chấm dứt. Bao giờ ở Việt Nam có những ngôi trường mang tên Nguyễn Khoa Nam, bên cạnh trường Phan Thanh Giản, như ở nước Mỹ vẫn có những trường học mang tên Jefferson Davis và Robert Lee?

04-29-2014 6:59:37 PM
  Ngô Nhân Dụng

GS Stephen Young kể chuyện đưa người Việt tị nạn vào Mỹ

LTS: Cách đây gần 40 năm, trong thời gian gần 30 Tháng Tư, khi chiến tranh Việt Nam sắp chấm dứt, viễn ảnh miền Nam Việt Nam rơi vào tay cộng sản ngày càng gần, Giáo Sư Stephen Young, một người có vợ Việt Nam, yêu quê hương của vợ, cùng một nhóm thanh niên trẻ làm việc trong nhiều vị trí quan trọng tại Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ, qua Việt Nam sinh sống, đã băn khoăn về việc Hoa Kỳ bỏ rơi Việt Nam, và tìm cách vận động chính phủ cho phép một số người Việt Nam được vào Hoa Kỳ tị nạn. Sự vận động thành công của họ mở đầu cho quy chế tị nạn vào thập niên 1980. Nhân một dịp đến thăm tòa soạn, Giáo Sư Stephen Young kể lại cho nhật báo Người Việt về thời gian này, qua một cuộc phỏng vấn, tóm lược dưới đây.


 Giáo Sư Stephen Young trả lời phỏng vấn tại tòa soạn nhật báo Người Việt. (Hình: Dân Huỳnh/Người Việt)

Hà Giang (NV): Kính chào Giáo Sư Stephen Young, được biết trong thời gian gần 30 Tháng Tư năm 1975, giáo sư là một trong những người đóng vai trò quan trọng trong việc vận động chính quyền Mỹ đón nhận người tị nạn Việt Nam. Ông có thể kể lại câu chuyện hầu như rất ít người biết này?

GS Stephen Young: Tôi không phải là một chuyên viên về luật di trú nhưng đại khái theo tôi nhớ trước năm 1980, Hoa Kỳ không có một quy chế về người tị nạn gì hết. Thỉnh thoảng vì nhu cầu chính trị hay vì nhu cầu ngoại giao, thì chính phủ cho phép một số người của một nước nhập vào nước Mỹ nhưng họ không có Visa, vì luật của nước Mỹ là không có Visa cho người di cư trước năm 1980. Lúc đó thì họ gọi là Parole Authority, là một cái phép đặc biệt là bên Bộ Tư Pháp phải thương lượng với Quốc Hội, thì họ định là sẽ cho vào bao nhiêu người không có Visa. Theo tôi nhớ thì sau Thế Chiến Thứ Hai thì Mỹ đón một số người Ðông Âu, Do Thái, bị Hitler muốn tiêu diệt, sau đó có một nhóm người Hungary, hình như là ba mươi mấy ngàn người thôi, sau đó nữa thì có người Cuba đến sau khi Castro lên, áp dụng chế độ Cộng Sản ở nước họ, những người Cuba họ lấy tầu thủy họ trốn qua Florida.

Ðến năm 1975, thì thoạt đầu chính phủ Mỹ không có luật nào để đón người di cư từ Việt Nam, và như thế trên nguyên tắc, trừ những người được cấp Visa, Mỹ không nhận người di cư nào hết sau ngày 30 Tháng Tư, 1975.

NV: Vào khoảng cuối Tháng Năm, 1975, Quốc Hội cho ra đời một đạo luật gọi là “Indochina Immigration and Refugees Act,” thì vai trò của giáo sư trong việc dự luật này ra đời, và được Tổng Thống Ford phê chuẩn là gì?

GS Stephen Young: Theo tôi nhớ thì việc cho người Việt vào Mỹ đã được quyết định cuối Tháng Tư rồi, 30 Tháng Tư thì đã có phép rồi, nhưng hồi đó có hai trại lớn là Fort Chaffee ở Florida và Indiantown Gap ở Pennsylvania, thì phải có một chương trình nào đó có người giúp họ mua thức ăn, lo cho họ lúc ban đầu. Chế độ bảo trợ qua những tiểu bang, chính phủ cần một đạo luật để chi tiền. Chính phủ Mỹ không thể chi tiền nếu không có Quốc Hội chấp thuận.

Không ai ngờ sẽ mất miền Nam trong vòng một tháng, hình như Ðà Nẵng mất cho Cộng Sản ngày 30 Tháng Ba, nhà tôi là người Việt, nên tôi rất quan tâm đến tình hình Việt Nam, lúc đó tôi nhớ rõ là một ngày Chủ Nhật, nghe đài phát thanh thấy mất Ðà Nẵng thì hết hồn, vì tôi biết là mất Ðà Nẵng tức là uy tín của Tướng Ngô Quang Trưởng mất rồi, và thứ nhì thì ông Thiệu không còn giữ được miền Nam nữa, chỉ có thể hy vọng là ông Trưởng lên thay thế ông Thiệu. Thành ra ngày Thứ Hai, tôi không đi làm, tôi đi Washington, DC, để nhờ một số người bạn phát động một phong trào di cư, vì tôi thấy là bây giờ người Mỹ có bổn phận vì danh dự, vì quyền lợi, nhất là vì danh dự một nước Hoa Kỳ tranh đấu cho tự do và nhân quyền cho thế giới, mà đã có mấy triệu người Việt Nam nhờ vào Mỹ để giúp họ, mà nếu mình không giúp được họ thì mình cũng không được bỏ quên luôn, vì bỏ quên luôn thì là một hành động hèn quá, không thể chấp nhận được. Mà tôi biết là cứ để yên thì ông Kissinger và ông Ford sẽ không cứu được người nào, bằng chứng là Cambodia, chị nhớ mà, nước Mỹ không mang ai ra. Tôi nhớ là vào giờ chót, khoảng 15, 16 Tháng Tư thì khi ông đại sứ Mỹ rời Phnom Penh đem ra 17 gia đình, còn mấy người Miên kia thì cứ để lại cho bị bắt.

NV: Vâng trở lại vào cái ngày Thứ Hai sau khi ông nghe tin Ðà Nẵng đã mất, lúc đó ông đang làm gì?

GS Stephen Young: Lúc đó tôi khoảng 30 tuổi, đang là luật sư, đang làm việc cho một hãng luật, mới làm việc được năm đầu tiên, thành ra là tôi đi Washington, DC. Tôi nhớ là mình đến đó mới gọi điện thoại cho một người bạn là Paker Borg. Parker với tôi học tiếng Việt cùng với nhau một năm trước khi đi qua Việt Nam để cùng làm việc cho chương trình Bình Ðịnh Phát Triển Nông Thôn, nhưng lúc đó Parker là phụ tá của Ngoại Trưởng Henry Kissinger, thì tôi nghĩ là tôi phải nói chuyện với Parker, gợi ý cho Parker, rồi Parker nhờ có ảnh hưởng trong Bộ Ngoại Giao xin vận động cho một chương trình tị nạn Việt Nam. Ông Parker lúc đó nói với tôi rằng: “Xin lỗi tôi không thể giúp được.” Tôi hỏi: “Tại sao anh lại không giúp?” Parker nói rằng ông đã từ chức Thứ Sáu vừa rồi, vì không thể tiếp tục làm việc với ông Henry Kissinger, vì “ông ta là người không tốt.”

Parker hơn tôi hai tuổi. Chị phải hiểu là một thanh niên cỡ 32, 33 tuổi, làm việc trong ngành ngoại giao mà lúc đó được làm phụ tá cho ngoại trưởng là đường công danh rộng mở lắm, nhưng nếu mình từ chức, mà nhất là sếp của mình là Kissinger nữa, thì coi như là tàn sự nghiệp rồi, bởi vì ông Kissinger sẽ “nhớ đời” cái việc này. Tôi nghe chuyện vừa thấy phục Parker mà vừa tức. Tôi năn nỉ Parker, nói chúng ta không thể buông xuôi được, ít nhất chúng ta cũng phải giúp một số gia đình qua, nếu không thì họ sẽ bị giết chết. Bởi vì một người thầy của tôi là Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy, bị chính Lê Duẫn ra lệnh là phải ám sát ông ấy. Nói tóm lại, tôi nói một hồi thì Parker nói: “Steve, việc này tốt nhưng khó quá, nhưng chính phủ không làm thì mình làm. Tối nay mình sẽ đi gặp ông Lionel Rosenblatt.” Lionel Rosenblatt hồi đó cũng làm ở Bộ Ngoại Giao, phụ tá cho phó ngoại trưởng. Thế là tối hôm đó ba chúng tôi vừa uống rượu vừa tìm cách giúp người Việt Nam.

NV: Rồi sau đó thì làm sao thưa giáo sư?

GS Stephen Young: Sau đó thì Thứ Ba chúng tôi một nhóm thanh niên gặp nhau, toàn những người cùng tuổi, cùng làm việc ở Việt Nam, toàn ghét Cộng Sản, trong đó có ba người là con rể Việt Nam (có vợ Việt Nam). Có lẽ vì thế chúng tôi không thể dửng dưng với những gì sẽ xảy ra cho quê hương của vợ. Ngoài ra gia đình của vợ tôi cũng gặp nhiều khó khăn vì liên hệ với tôi.

Nói tóm lại, nhóm thanh niên chúng tôi, hăng hái nhất là ba người con rể Việt Nam, gồm tôi, Ken Quinn và Al Adams, viết thư đi khắp nơi nhờ mọi người giúp. Rồi chúng tôi bầu Parker Borger làm người lãnh đạo, vì Parker từ chức rồi, không có việc làm (cười), nhưng Parker quen biết nhiều, lại dùng điện thoại trong Bộ Ngoại Giao từ phòng làm việc của Lionel Rosenblatt để liên lạc, vận động. Chúng tôi may mắn được Thượng Nghị Sĩ Edward Kennedy tích cực tiếp tay vận động hộ, cuối cùng thì chúng tôi có được một “Administrative Action” đồng ý cho phép khoảng 150,000 người, bằng số người Cuba trước đó được nhận vào Mỹ. Và đó là khởi đầu của việc chính quyền Hoa Kỳ cho phép người Việt Nam được vào nước Mỹ, dẫn đến đạo luật gọi là “Indochina Immigration and Refugees Act” sau này, mà khi rảnh hơn chúng ta sẽ nói chuyện rõ thêm.

NV: Cảm ơn ông đã dành thì giờ cho chúng tôi thực hiện cuộc phỏng vấn.
04-29- 2014 8:08:20 PM
Hà Giang/Người Việt

Nhóm cướp giả công an lột tiền chiếu bạc

Ngày 29.4, Công an quận Ba Đình (Hà Nội) cho biết đang truy nã 2 tên trong nhóm cướp giả danh công an do Bùi Trung Nhật (20 tuổi, huyện Ba Vì) cầm đầu.

Theo điều tra, sáng 6.3, Nhật đánh bạc với nhóm của Bùi Văn Toàn (21 tuổi) song bị thua. Cho rằng Toàn gian lận, Nhật bàn với Nguyễn Quang Chiều (22 tuổi, ở huyện Ba Vì) và đồng bọn kế hoạch ăn cướp để lấy lại tài sản.
Bùi Trung Nhật (ở giữa hàng thứ hai) cùng đồng bọn.
Bùi Trung Nhật (ở giữa hàng thứ hai) cùng đồng bọn.

Chiều cùng ngày, Nhật thuê phòng tại nhà nghỉ ở đường Đê La Thành (quận Ba Đình) làm nơi đánh bạc với nhóm Toàn, phân công đồng bọn mua dao gọt hoa quả làm hung khí chờ ở phòng bên cạnh.

Khi nhóm Toàn vừa tới, lấy cớ mua thuốc lá, đồ uống phục vụ đánh bạc, Nhật đi ra khỏi phòng để đồng bọn xông vào cướp tài sản.

Sau khi dọa “công an đây, bỏ hết điện thoại và tiền xuống chiếu” song không ai làm theo, Chiều gí dao vào cổ một nạn nhân đe dọa. Cướp được iPhone và 2 điện thoại, nhóm Chiều, Nhật chốt cửa bên ngoài rồi tẩu thoát.

Trong tháng 4, Nhật và 4 người ra đầu thú. Một tuần sau, Chiều cùng 2 đồng bọn bị bắt. Hai người còn lại vẫn đang bỏ trốn.

Theo nhà chức trách, nhóm Nhật quy tụ đám thanh niên mới lớn, sống lang thang, ham đánh bạc.
30/04/2014 16:13
Theo VNE

Bị lừa sang Trung Quốc làm gái trước ngày cưới

Được giải thoát trở về Việt Nam nhưng quá khứ “đi làm gái” của P. khiến người chồng tương lai không chịu làm đám cưới. Nhưng rồi, người mẹ của chàng trai đã phân tích, thuyết phục và đám cưới cũng được diễn ra.
Hà Thị P. (SN 1992, trú tại xã Đồng Văn, Quế Phong, Nghệ An) bế theo đứa con gái 8 tháng tuổi tới tham dự phiên tòa. Trong suốt thời gian xét xử, không ít lần P. rơi nước mắt khi nghĩ tới quãng thời gian đen tối sau cái ngày bị bán sang Trung Quốc. Nếu không có lòng bao dung của người mẹ chồng và chồng tương lai, có lẽ cô đã không có được hạnh phúc như thế này sau những tháng ngày mang danh phận của kẻ “làm gái mại dâm”.

Một ngày, Mai Thị Lụa (SN 1966, quê xã Giao Tiến, Giao Thủy, Nam Định) được bố mẹ P. cho ở nhờ để mở một quán tạp hóa nho nhỏ. Thỉnh thoảng, P. và Lương Thị Đ. (SN 1996) qua ốt của Lụa chơi. Ngày 9.10.2012, Lụa rủ P. và Đ. về nhà người chồng “hờ” của Lụa ở Quỳ Châu chơi. Sau đó, Lụa lại tỉ tê mời 2 cô gái ra Nam Định chơi cho biết.

Bị cáo Mai Thị Lụa trước vành móng ngựa.
Bị cáo Mai Thị Lụa trước vành móng ngựa.

Hai cô gái được đưa lên xe ô tô ra thẳng Hà Nội rồi lên Lạng Sơn sau đó được dẫn sang Trung Quốc bằng đường tiểu ngạch. Lụa bán P. và Đ. cho một người phụ nữ tên Duyên với giá 2,1 vạn nhân dân tệ rồi quay về xã Đồng Văn sinh sống như không có gì xảy ra.

“Sau khi mua hai chị em từ tay Lụa, bà Duyên bắt chúng em phải đi bán dâm. Hai chị em không chịu, ôm nhau khóc. Sau đó, em và Đ. bị tách ra mỗi người một nơi. Em bị bán cho một động mại dâm khác. Vì không chịu đi khách nên em bị họ đánh, bắt bỏ đói và nhốt vào phòng kín. Quá sợ hãi, em đành phải nhắm mắt chấp nhận. Mỗi ngày, chủ “khoán” mỗi người phải kiếm được 2.500 nhân dân tệ. Kiếm không đủ tiền sẽ bị bỏ đói, đánh đập hoặc bắt ra ngoài kiếm cho kỳ đủ, không được vào phòng nghỉ ngơi. Nhiều khi, họ bắt em phải uống thứ thuốc gì đó để “phục vụ” được nhiều khách. Trung bình mỗi ngày em phải tiếp 11-12 khách”, Hà Thị P. vẫn chưa hết kinh hãi khi nhớ về quãng thời gian đen tối của cuộc đời mình.

Sau hơn 1 tháng chịu đủ sự giày vò thể xác của khách làng chơi, P. may mắn được gặp một người Việt Nam. Sau khi nghe câu chuyện của P. người này cho mượn điện thoại để gọi về Việt Nam kêu cứu. Hà Thị P. gọi cho bà Vi Thị L. - là mẹ chồng tương lai. Sau đó, bà L. cùng người con trai nhiều lần tới nhà buộc Lụa phải đưa P. về nước.

Trước sức ép của gia đình P., Lụa đã gọi điện sang Trung Quốc bảo Duyên thả P. về. Sau gần 2 tháng bị bán vào động mại dâm, Hà Thị P. được chồng bà Duyên đưa ra khu vực biên giới để tự bắt xe về. “Về đến nơi, bà Lụa còn đe dọa em không được nói việc bà đã bán em Đ. với ai, nếu không sẽ giết chết”, P. kể.

Được giải thoát trở về Việt Nam nhưng quá khứ “đi làm gái” của P. khiến người chồng tương lai không chịu làm đám cưới. P. đau khổ lắm nhưng không dám trách người ta. Nhưng rồi, chính mẹ chồng tương lai của P. đã động viên, phân tích cho con trai hiểu. Sau đó, đám cưới cũng được diễn ra đúng như dự định trước đó. Bây giờ thì P. đã có một cô con gái 8 tháng tuổi. Hiểu nỗi khổ tâm của P. nên mọi người trong gia đình chồng không ai nhắc tới câu chuyện buồn kia nữa.

Hà Thị P. (áo trắng) và Lương Thị Đ. - hai cô gái đã bị Lụa lừa bán sang Trung Quốc.
Hà Thị P. (áo trắng) và Lương Thị Đ. - hai cô gái đã bị Lụa lừa bán sang Trung Quốc.

Khi P. đang yên ấm trong vòng tay bao dung của gia đình thì Lương Thị Đ. vẫn bặt vô âm tín. “Một lần, khi em đang mang thai được 7 tháng thì anh trai của Đ. nhờ dẫn đến nhà bà Lụa để hỏi tung tích Đ. Tới nơi, bà Lụa đẩy em ra khỏi nhà và còn đánh đập em”, P. kể tiếp. Sau đó, chính Mai Thị Lụa đã phải cùng anh trai của Đ. sang Trung Quốc tuy nhiên cuộc tìm kiếm không có kết quả.

Đến tháng 6.2013, Lương Thị Đ. được một người đàn ông Trung Quốc giúp đỡ, trốn được về Việt Nam và tố cáo hành vi của Mai Thị Lụa ra trước pháp luật.

Tại phiên tòa diễn ra vào ngày 28.4, Mai Thị Lụa thừa nhận hành vi mua bán người, tuy nhiên người đàn bà này khai bị hại P. cũng là đồng phạm của mình. Lụa cho rằng mình đưa các nạn nhân sang Trung Quốc rửa bát cho nhà hàng chứ không phải là bán cho động mại dâm. Bị cáo cũng khăng khăng các bị hại đồng tình trong việc bị bán sang Trung Quốc.

Trước đó, vào năm 2002, Mai Thị Lụa bị TAND tỉnh Quảng Nam tuyên phạt 8 năm tù giam về tội mua bán trái phép chất ma túy. Năm 2008, Mai Thị Lụa được đặc xá ra tù trước thời hạn. Chưa được xóa án tích thì Lụa gây ra vụ án buôn bán người này. Nhận thấy bị cáo có nhân thân xấu, thiếu thành khẩn khai báo, HĐXX tuyên phạt Mai Thị Lụa 9 năm tù giam. Ngoài ra, tòa buộc Mai Thị Lụa phải bồi thường 5 triệu đồng cho bị hại Hà Thị P. và 18 triệu đồng cho bị hại Lương Thị Đ.

30/04/2014 09:58
Theo Dân Trí

Nhìn nhận của những người lính trong thời bình.

Hoà Ái, phóng viên RFA
2014-04-30
Những người lính trẻ
Những người lính trẻ-Courtesy tienphong.vn
Có thể nói Việt Nam đang trong tình trạng hòa bình, sau khi những cuộc chiến tranh trước đây ngày càng lùi dần vào quá khứ. Tuy vậy, những người khoác áo lính hiện nay cũng như trước kia có nhìn nhận ra sao về công việc của họ?
Những thế hệ thanh niên VN sinh ra sau những cuộc chiến như cuộc chiến Việt Nam, rồi hai cuộc chiến trong cuối thập niên 70- cuộc chiến biên giới Tây Nam và cuộc chiến biên giới phía bắc, thường được cho là may mắn.
Ưu tư người lính thế hệ 7X
Các thế hệ từ 7X trở về sau may mắn vì không phải sống trong bối cảnh chiến tranh ngay trên quê hương mình như thế hệ cha ông trước đó. Họ được cắp sách đến trường mỗi ngày mà không phải lo sợ cảnh bom rơi đạn rớt. Họ lớn lên trong đường hướng giáo dục “con người mới xã hội chủ nghĩa” làm chủ vận mệnh đất nước.
Theo chế độ nghĩa vụ quân sự, nhiều nam thanh niên các thế hệ tiếp nối vẫn trở thành những người lính khi đất nước không còn chiến tranh. Lý tưởng quên mình bảo vệ và cống hiến cho tổ quốc của họ vẫn được hun đúc từng ngày qua các giờ học tư tưởng chính trị. Họ được cho biết nhiệm vụ hàng đầu của người chiến sĩ là phải bảo vệ bờ cõi giang sơn mà biết bao thế hệ ông cha đã ngã xuống để giữ gìn từng tấc đất.
Nhiều người lính tin tưởng rằng sự hy sinh của các chiến sĩ trong 2 cuộc chiến biên giới Tây-Nam và Việt-Trung cũng như trận hải chiến ở Gạc Ma năm 1988 được ghi nhận. Thế nhưng lý tưởng của những người lính được hình thành từ những trang sử hào hùng bị sụp đổ. Nhiều người lính bày tỏ nỗi thất vọng khi xương máu của đồng đội ngã xuống mà không được nhắc tới hay thậm chí không được tưởng niệm vì tình hữu nghị với người láng giềng khổng lồ Trung Quốc.
Làm guồng máy bảo vệ, làm tay chân để bảo vệ cho chế độ, bảo vệ cho chính quyền. Bởi vì toàn đi đàn áp dân thôi, chứ có đánh được ai đâu
Anh Vũ
Nhiều người lính phục vụ trong quân đội, trong các lực lượng quân sự nản chí vì họ không được đối đầu với “tàu lạ” để bảo vệ cho ngư dân đánh bắt ở vùng hải phận của VN. Họ uất ức vì không được lên tiếng chống đối khi chủ quyền biển đảo quê hương bị lấn lướt. Họ đau lòng khi phải tuân thủ các mệnh lệnh trấn áp người dân, nhất là những người nông dân bị mất đất mất nhà một cách oan ức. Anh Vũ, 1 người lính đã giải ngũ, chia sẻ rằng vai trò của một lính thời nay bị ép buộc phải trung thành với Đảng CSVN. Anh Vũ nói:
Người lính già đi bán hàng rong. AFP
Người lính già đi bán hàng rong. AFP
“Làm guồng máy bảo vệ, làm tay chân để bảo vệ cho chế độ, bảo vệ cho chính quyền. Bởi vì toàn đi đàn áp dân thôi, chứ có đánh được ai đâu”.Anh Vũ
Anh Vũ còn chia sẻ:
“Chả có một thế lực thù địch nào cả. Dân không bảo vệ được, biển không bảo vệ được, đất không bảo vệ được mà cứ nói là ‘thế lực thù địch’. Không có một thế lực thù địch nào ngoài một thế lực quá kém”.
Chả có một thế lực thù địch nào cả. Dân không bảo vệ được, biển không bảo vệ được, đất không bảo vệ được mà cứ nói là ‘thế lực thù địch’. Không có một thế lực thù địch nào ngoài một thế lực quá kém
Anh Vũ
Một số những người lính thuộc lực lượng Quân đội Nhân dân VN đài ACTD tiếp xúc bày tỏ không vì sự bất mãn với các chính sách đối nội đối ngoại được định hướng của Nhà nước VN không hợp lòng dân mà khiến họ xao lãng với lý tưởng cống hiến cho quốc gia. Ý chí quật cường, kiên định của tiền nhân trỗi dậy trong lòng họ hơn bao giờ hết. Những người lính này cho biết họ tiếp tục dấn thân nhưng để chống lại những cái xấu những cái ác đang tồn tại hằng ngày hằng giờ ngay trên lãnh thổ nước nhà. Họ chọn con đường đấu tranh cho quyền con người được đảm bảo trong trào lưu hòa nhập với các quốc gia văn minh, tiến bộ trên thế giới. Họ khẳng định những việc họ làm là không vô ích vì niềm tin cho một VN tự do, dân chủ, hòa bình, ấm no thật sự.
Tâm sự người lính già
Không chỉ những người lính thuộc các thế hệ sinh trưởng sau chiến tranh VN có nhân sinh quan như thế. Trao đổi với những cựu chiến binh mà trong cuộc chiến tranh VN, họ đã “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước-mà lòng phơi phới dậy tương lai” cho biết đa số họ ngộ ra rằng thế hệ mình đã bị lừa dối. Người lính Nguyễn Tường Thụy tâm tình trong một lần trao đổi với Hòa Ái:
“Quá buồn! Bởi vì sự hy sinh của đồng đội tôi đều không nghĩ hy sinh để mang lại một đất nước như thế này. Đất nước quá tồi tệ. Cũng có rất nhiều người đã cống hiến cả cuộc đời của mình thật vô nghĩa, vô vị và thậm chí còn có hại nữa là khác”.
Quá buồn! Bởi vì sự hy sinh của đồng đội tôi đều không nghĩ hy sinh để mang lại một đất nước như thế này. Đất nước quá tồi tệ. Cũng có rất nhiều người đã cống hiến cả cuộc đời của mình thật vô nghĩa, vô vị và thậm chí còn có hại nữa là khác
Người lính Nguyễn Tường Thụy
Những người lính năm xưa dành trọn tuổi thanh xuân và mạng sống của họ với niềm tin đất nước sẽ không còn cảnh đêm trường nô lệ. Và giờ đây, tuy đã già nhưng họ vẫn tiếp tục con đường tranh đấu cho lý tưởng mà họ theo đuổi suốt cuộc đời.
Những người lính chọn lựa con đường đứng về phía người dân để đấu tranh cho lẽ phải và công bằng quả quyết:
“Tôi chẳng chống chọi ai cả, chỉ nói lên sự thật và tôi mong muốn xã hội tốt đẹp lên thôi”.
“Tôi tranh đấu cho quyền tự do của con người mình, mình được phép nói, mình được phép làm. Không ai được bắt chẹt mình điều gì, không được đàn áp mình”.
Qua ghi nhận trong bài phóng sự hạn hẹp này cho thấy những người lính trong thời bình vẫn khẳng khái theo đuổi lý tưởng trung thành với Tổ quốc và nhân dân nhưng điều đó không đồng nghĩa là phải phục tùng những người đang cầm quyền “sinh sát” đối với người dân và cả đất nước.
http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/soldi-to-right-activ-04302014060747.html

Hành trình HO

Mặc Lâm, biên tập viên RFA, Bangkok-2014-04-29
Gia đình và tù nhân chính trị đến Hoa Kỳ theo diện tỵ nạn. Files photos
Ngày 30 tháng 4 năm 1975 hàng triệu binh sĩ chế độ VNCH buông súng để sau đó hơn 200 ngàn sĩ quan và viên chức vào hơn 80 trại cải tạo trong nhà tù của chế độ mới. Những tù nhân ấy sau khi ra trại lại có một chuyến hành trình nữa mà nhà nước gọi là HO để đến Mỹ bắt đầu vào năm 1990.
Mặc Lâm tìm hiểu thêm chương trình nhân đạo có một không hai này qua lời kể của bà Khúc Minh Thơ, một trong những người vận động cho chương trình thành hình.
Từ Hội Gia đình Tù nhân Chính trị VN đến HO
Sau ngày 30 tháng 4, hai danh từ mới xuất hiện trong từ điển Việt Nam là thuyền nhân và HO. Thuyền nhân là những người không chịu sống trong chế độ mới, vượt biển đông bất chấp sóng gió, cướp biển cùng những nguy hiểm khác để tìm tự do. HO là những sĩ quan, viên chức bị cải tạo ba năm trở lên trong các nhà tù sau khi trình diện Ủy ban Quân quản tại khắp miền Nam để lên đường vào trại cải tạo gọi là học tập. Những sĩ quan viên chức này trở thành HO khi qua cuộc phỏng vấn của phái đoàn Mỹ tại tp HCM và chính thức có danh sách sang Mỹ bắt đầu bằng hai chữ HO.
Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, bên cạnh sĩ quan các cấp, những chính trị gia, nhà báo, dân biểu, lãnh đạo tôn giáo cũng cùng số phận với những người cầm súng. Tất cả đều được gọi là tù nhân cải tạo, tất cả đều bị đối xử như nhau và tất cả đều không có án.
Từ sự gợi ý của ông Lawman, một hội mang tên Gia đình Tù nhân Chính trị Việt Nam thành hình tập hợp vợ con của những người tù cải tạo để có tiếng nói chung
Cuộc sống của những tù nhân này được nuôi dưỡng bằng mồ hôi nước mắt của người thân, cha mẹ vợ con thậm chí là bạn bè, hàng xóm. Cũng có những trường hợp vợ con của họ vượt biên và nơi xa xôi tưởng chừng như mù mịt ấy những món quà nhỏ bé chắt chiu gửi về thăm nuôi họ. Sợi giây ràng buộc mong manh ấy đã ngày một bện chặt hơn khi số thuyền nhân ngày càng nhiều và ý tưởng cứu những người tù cải tạo ra khỏi đất nước một cách hợp pháp đã nảy sinh trong lòng những người vợ của họ đang sống tại Mỹ.
Một trong những người như thế là bà Khúc Minh Thơ, chồng bà là một sĩ quan đã chết trước khi trở thành một HO và bà có rất nhiều bạn bè của chồng vẫn nằm trong trại cải tạo. Bà Khúc Minh Thơ sang Mỹ năm 1977 và ý tưởng vận động cho tù nhân cải tạo vẫn thôi thúc trong lòng bà. Ông Shef Lawman, một chuyên viên của Bộ Ngoại giao Mỹ làm việc tại Việt Nam cho tới phút cuối. Do có vợ Việt ông Lawman hiểu rất rõ tình hình chính trị, văn hóa và xã hội Việt Nam và là người đầu tiên bà Khúc Minh Thơ gặp và trao đổi với ông ý tưởng của mình. Từ sự gợi ý của ông Lawman, một hội mang tên Gia đình Tù nhân Chính trị Việt Nam thành hình tập hợp vợ con của những người tù cải tạo để có tiếng nói chung.
Bà Khúc Minh Thơ kể lại giai đoạn đầu khi bà nghĩ tới bắt tay vào việc vận động này:
-Khi mà tôi qua tới đây giống như trong một con đường tăm tối mà tôi phải đi tại vì không làm cách gì ngoài tình thương của gia đình, tình thương của bạn bè mà tôi cùng với anh chị em trong hội Gia đình Tù nhân Chính trị để mà làm. Có hy vọng nhưng không bao giờ nghĩ tới mình sẽ thành công nhưng vì không thể  nào không nghĩ tới những người thân yêu ruột thịt của mình chết trong tù mà mình không làm gì được.
Khi nghe bà Khúc Minh Thơ vận động một việc làm không khác gì mò kim đáy biển như thế rất nhiều người e ngại cho sự thành công là quá ít và kéo dài vô tận vì nước Mỹ vừa mới thất bại trên chiến trường, tiếng nói không còn mạnh như xưa đối với Việt Nam và nhất là dân chúng Mỹ chưa chắc chấp thuận một gánh nặng cho hàng trăm ngàn người Việt như thế. Tuy nhiên nhạc sĩ Nam Lộc lúc đó đang làm việc cho cơ quan thiện nguyện USCC chuyên giúp đỡ người tị nạn tại Mỹ lại không bi quan như vậy căn cứ vào kinh nghiệm của ông:
Người thúc đẩy cho tôi nhiều nhất là ông Robert Funseth, ông ấy đặc trách chương trình tỵ nạn của Bộ ngoại giao, hai nữa người mà theo dõi diễn tiến của tụi tôi nhiều nhất là ông Shef Lowman, ông ấy là nhân viên của Bộ ngoại giao.....Ngoài ra bên lập pháp còn có TNS John McCain và TNS Robert Kennedy

bà Khúc Minh Thơ
-Việc tranh đấu cho những người tù nhân chính trị bị cộng sản giam giữ mà họ gọi là cải tạo rất nhiều người nghĩ rằng là một nỗ lực không tưởng, khó để thành công. Nhưng cá nhân tôi thì tôi rất tin tưởng. Cũng những suy nghĩ tiêu cực như vậy đã xảy ra trước đó cả chục năm khi cơ quan thiện nguyện USCC cùng một số cơ quan định cư khác nỗ lực thành lập chương trình ODP thành ra chúng tôi nghĩ nếu ODP thành công thì việc tranh đấu cho các tù nhân chính trị này cũng không phải là điều không tưởng.

Bà Khúc Minh Thơ trong một buổi lễ của cựu tù nhân chính trị .
Bà Khúc Minh Thơ (thứ 2 từ trái) trong một buổi lễ của cựu tù nhân chính trị .


Một người Mỹ khác có công rất nhiều trong việc vận động cho chương trình này là ông Robert Funseth, Phụ tá Thứ trưởng Ngoại giao đặc trách Chương trình Tỵ nạn. Ông là một nhà ngoại giao dành hầu như toàn bộ cuộc đời ngoại giao của ông tại Việt Nam từ khi bước chân sang cho tới khi miền Nam sụp đổ. Ông chứng kiến nhiều cảnh chiến đấu của người lính VNCH và rất hăng hái trong việc vận động tổng thống Reagan và Quốc Hội Hoa Kỳ cũng như đứng ra thương thuyết thẳng với Việt Nam về vấn đề trao đổi đối với những người tù chính trị. Bà Khúc Minh Thơ cho biết thêm về ông và những người như ông trong tiến trình giúp bà vận động:
-Người thúc đẩy cho tôi nhiều nhất là ông Robert Funseth, ông ấy đặc trách chương trình tỵ nạn của Bộ ngoại giao, hai nữa người mà theo dõi diễn tiến của tụi tôi nhiều nhất là ông Shef Lowman, ông ấy là nhân viên của Bộ ngoại giao, hiểu nhiều nhất chương trình tù nhân chính trị, cũng như những người bị bắt ở tù thành ra rất là ủng hộ tôi về vấn đề này. Ngoài ra bên lập pháp còn có Thượng nghị sĩ John McCain và Thượng nghị sĩ Robert Kennedy và hầu hết phần đông những thượng nghĩ sĩ, dân biểu mà hồi xưa là cựu chiến binh Hoa Kỳ họ hiểu hoàn cảnh của anh em họ rất là ủng hộ.
Chuyến bay HO đầu tiên
Đoạn đường vận động phía Hoa Kỳ chấp nhận thương thuyết đã gian nan, nhưng về phía Việt Nam, nơi nắm giữ vận mạng của hàng trăm ngàn tù nhân chính trị cũng không phải là dễ thuyết phục khi bản thân chính quyền đang say sưa trên chiến thắng, bà Khúc Minh Thơ kể:

Cuối cùng tôi lên gặp tòa đại sứ của Việt Nam cộng sản ở New York. Tôi nhớ là ngày 30 tháng 4...tôi được Bộ Ngoại giao và Quốc hội sắp xếp cho tôi gặp ở trên đó để đòi cho được họ thả tù nhân chính trị và định cư ở Mỹ. Ba tháng sau cái ngày cuối cùng đó thì họ chấp thuận ký cái thỏa hiệp, agreement để cho tù nhân chính trị ra đi là ngày 30/7/1989
bà Khúc Minh Thơ
-Mình vận động rất là lâu tới chừng cuối cùng tôi lên gặp tòa đại sứ của Việt Nam cộng sản ở New York. Tôi nhớ là ngày 30 tháng 4, tôi luôn luôn lấy ngày 30 tháng 4 như một điểm quan trọng, tôi được Bộ Ngoại giao và Quốc hội sắp xếp cho tôi gặp ở trên đó để đòi cho được họ thả tù nhân chính trị và định cư ở Mỹ. Ba tháng sau cái ngày cuối cùng đó thì họ chấp thuận ký cái thỏa hiệp, agreement để cho tù nhân chính trị ra đi là ngày 30 tháng 7 năm 1989.
Ngày mà ông Funseth và phái đoàn đi qua để thương thuyết cái thỏa hiệp này tôi vô tới Bộ Ngoại giao cầu chúc ông ấy thành công thì ông ấy cho tôi một lịch trình làm việc của ông ấy, tôi để cái lịch trình ấy trước mặt để mà cầu nguyện.
Khi ông Funseth tới phi trường Bangkok thì ông gọi cho vợ là bà Funseth để bà này báo tin cho tôi biết là đã ký xong. Lúc đó không thể tưởng tượng, không thể nói được lời nào vì mình đâu có nghĩ kết quả lại trọn vẹn như vậy.
Ngày 5 tháng 1 năm 1990 có lẽ là ngày lịch sử đối với hàng trăm ngàn người trong đại gia đình tù nhân chính trị Việt Nam. Chuyến bay chở nhóm HO đầu tiên ghé Bangkok làm thủ tục trung chuyển sang Mỹ đã làm cộng đồng người Việt tại Mỹ theo dõi từng giây phút. Sau bao nhiêu năm chờ đợi trong một đống tin tức lệch lạc thậm chí sai sự thật thì những tù nhân ấy đã chính thức bước chân xuống Mỹ. Nhạc sĩ Nam Lộc kể lại ngày vui mừng ấy khi ông ra phi trường đón những người tù nhân này trong nhóm người ra đi đầu tiên dưới cái tên HO 1
-Khi những người trong đợt đầu tiên đặt chân đến Hoa Kỳ thì đó là một ngày chúng tôi chờ mong, một ngày giấc mơ đã thành sự thật. Tôi đã ra phi trường đón tiếp những người đầu tiên trong số đó có anh Nguyễn Tiến Chỉnh một người bạn thân của chúng tôi từ khi còn rất trẻ. Anh là một trung úy không quân, một thành viên của ban nhạc Spot Light và là một trong những người thuộc nhóm đầu tiên đến Hoa Kỳ.
Cái chữ HO hồi đó có nhiều người hỏi tôi cho nên tôi hỏi lại những người làm việc tại BNG phòng đặc trách về người tỵ nạn thì họ nói hai chữ HO của bên Việt Nam chứ không phải của Bộ Ngoại giao hay chính phủ Hoa Kỳ...Bộ Ngoại giao họ thì thường trong ba tháng họ gửi cho chúng tôi để biết cái CT tỵ nạn đã có bao nhiêu người qua thì họ gọi là Political Prisoners Sub-Committee chứ họ không gọi là HO
bà Khúc Minh Thơ
Tuy nhiên, sau khi 5 năm trôi qua chương trình HO phải ngưng lại vì Quốc hội chỉ cho phép với giới hạn 5 năm. Sự ngưng lại ấy lại làm cho những người vận động cho chương trình một lần nữa phải tìm cách đối phó, bà Khúc Minh Thơ kể:
-Ở trong Quốc hội Bộ Ngoại giao họ nói với tôi nếu tôi xin nhiều thì Quốc hội sẽ không chấp thuận thành ra khi đầu tiên bắt đầu xin cho chương trình đó vào năm 1990 là tới 1996 là 5 năm cho chương trình HO. Sau đó ông Funseth các người bên văn phòng của McCain, Kennedy nói rằng sau đó thì sẽ xin lại thêm chứ bây giờ mà xin 10 năm, 20 năm thì họ đâu có chịu! nhưng tù nhân mà xin 5 năm thì làm sao cho đủ? Vì vậy tới năm 1996 nó ngưng thì tôi lại phải vận động để 10 năm sau, năm 2005 tôi mới có được cái thỏa hiệp thứ hai để cho chương trình HO tiếp tục, tuy nhiên những người nào đã được chấp thuận (approve) rồi thì tiếp tục ra đi cho tới khi nào tới Mỹ.
Cho tới nay hai chữ HO vẫn là cái tên chính thức cho chương trình ra đi này. Nhiều người tra tìm chữ viết tắt của HO đã không hài lòng về kết quả của nó. Một lần nữa bà Khúc Minh Thơ cho biết nguồn gốc của hai từ này, nó không phải của Mỹ mà là từ Việt Nam:
-Cái chữ HO hồi đó có nhiều người hỏi tôi cho nên tôi hỏi lại những người làm việc tại Bộ Ngoại giao phòng đặc trách về người tỵ nạn thì họ nói hai chữ HO của bên Việt Nam chứ không phải của Bộ Ngoại giao hay chính phủ Hoa Kỳ. Đầu tiên HO 1 mới kêu là HO cho tới khi HO10 thì không còn là HO nữa mà là H10. Bộ Ngoại giao họ thì thường trong ba tháng họ gửi cho chúng tôi để biết cái chương trình tỵ nạn đã có bao nhiêu người qua thì họ gọi là Political Prisoners Sub-Committee chứ họ không gọi là HO.
Theo nhạc sĩ Nam Lộc cũng là giám đốc USCC tại miền Nam California cho biết có khoảng trên dưới 200 ngàn tù nhân chính trị và gia đình đã sang Mỹ theo diện HO kéo dài cho tới năm 2008 thì mới chính thức chấm dứt.
-Đó là sự chờ đợi của tất cả những người Việt ờ hải ngoại cũng như thân nhân những người tù nhân chính trị họ vui mừng không còn chỗ nào vui hơn sau năm 1975. Đó là niềm vui cho tất cả mọi người Việt Nam.

Sự ra đi chính thức của hàng trăm ngàn tù nhân chính trị và thân nhân có thể được xem là một phép lạ của thượng đế bù đắp những khốn khổ, chết chóc mà dân tộc này phải chịu. Các thế hệ nối tiếp đã có những thành tựu trong nhiều lĩnh vực tại Hoa kỳ do con em HO thực hiện. Thành quả ấy không phải do một mình bà Khúc Minh Thơ, tổng thống Reagan, ông Funseth hay John McCain, hoặc Robert Kennedy mà là kết hợp của tất cả trong niềm tin: đây là một đất nước hình thành từ di dân, do đó mọi ý tưởng cứu người bị ngược đãi, đàn áp là phương châm đầu tiên của cả dân tộc này để rồi những người di dân sau tiếp tục phát triển, bồi đắp triết lý nhân văn ấy.
http://www.rfa.org/vietnamese/programs/LiteratureAndArts/politic-prisoner-journey-04292014055129.html

Biến cố 30 tháng 4 trong mắt các bạn trẻ

Hôm nay là ngày 30/4, một ngày lịch sử lớn của Việt nam trong thời hiện đại. Nhân dịp này Kính Hòa cùng diễn đàn bạn trẻ có cuộc trao đổi với ba bạn trẻ sinh ra, lớn lên, và học hành trong nước sau biến cố 30/4/1975.

Đất nước thống nhất nhưng thất bại

Kính HòaXin chào các bạn đến với Diễn đàn bạn trẻ ngày hôm nay, ngày có thể nói là ngày lịch sử lớn nhất của Việt nam thời hiện đại. Các bạn đều là những người sinh ra và trưởng thành sau năm 1975. Đầu tiên xin mời các bạn giới thiệu về mình và cho biết là lần đầu tiên các bạn biết về ngày 30/4/1975 vào lúc nào?
Tiến: Mình tên là Tiến hiện làm việc ở Hà nội. Mình không nhớ chính xác lần đầu tiên mình biết về ngày này là lúc nào nhưng chắc rằng lúc đó mình còn rất là bé.
Quyền: Chào các bạn mình tên là Quyền, hiện sống và làm việc tại Hà nội. Mình biết về ngày 30/4/1975 lần đầu tiên lúc mình học lớp hai.
Sỹ: Chào anh và các bạn, em tên Võ Văn Sỹ, hiện sống ở tỉnh Đắc Nông, sinh năm 1983. Sự kiện 30/4/1975 thì em biết lâu rồi, không nhớ chính xác là lúc nào nhưng chắc chắn l;úc đó em còn chơi những trò chơi của trẻ con.
Kính HòaCâu hỏi kế tiếp xin đặt cho các bạn là lần đầu tiên biết về ngày lịch sử đó, các bạn có cảm xúc như thế nào?
Tiến: Lần đầu tiên khi nghe đến sự kiện lịch sử này mình thấy rất là hào hùng, tự hào về lịch sử dân tộc là chúng ta đã đánh thắng các đế quốc sừng sỏ, thống nhất đất nước.
Quyền: Lúc đó chưa nhận thức được. Mình cảm thấy rất tự hào vì đất nước đang bị chia cắt rồi thống nhất vào làm một.
Sỹ: Khi biết sự kiện đó thì em còn rất nhỏ. Rất tình cờ lúc đó em có hô mấy khẩu hiệu, mình nghe người lớn nói lại thôi, là đả đảo Hồ Chí Minh. Rồi có một bác từ miền Bắc vào, có gặp bọn em và có tát tai hai ba đứa. Rồi cấm bọn em không được nói như vậy. Em về hỏi ba em thì ông bảo là con còn nhỏ chưa hiểu được những điều này đâu, sau này con mới hiểu. Sau đó ba em có kể 30/4 là như thế nào, và như vậy em mới biết về sự kiện đó.
Trong quá trình học ở trường phổ thông thì nhận thức của em về ngày 30/4 không có gì khác so với ban đầu. Vì mình không được tiếp xúc với các thông tin đa chiều.
- Tiến, Hà Nội
Kính HòaTrường hợp của Sỹ khá là đặc biệt vì lúc đó mà hô những khẩu hiệu mà mình có thể nói trong ngoặc kép là phản động. Lúc đó Sỹ ở đâu?
Sỹ: Lúc đó em cũng ở Đắc Nông. Gia đình em theo chế độ cũ ở Quảng Ngãi, bị đi kinh tế mới vào Đắc Nông.
Kính HòaNhư vậy là các bạn có cảm giác về ngày 30/4 khác nhau vì cái xuất phát, cái nguồn gốc gia đình của các bạn khác nhau.
Sỹ, Tiến: Vâng điều đó đúng rồi ạ.
Kính HòaDĩ nhiên là các bạn đã có tìm hiểu, không tìm hiểu đi nữa thì người ta cũng sẽ dạy các bạn trong trường học. Sỹ có khám phá gì mới sau đó khi học ở trường không?
Sỹ: Riêng em thì cái vấn đề đó nó mù mờ. Sau đó em đi học thì trên trường cô giáo có nói về chiến thắng 30/4 này, thì em cảm thấy rất là hào hùng, cảm thấy cái gì đó rất là tự hào dân tộc.
Kính HòaXin hỏi hai bạn ở Hà nội, khi các bạn được học trong trường thì các bạn có nhận xét gì không?
Tiến: Trong quá trình học ở trường phổ thông thì nhận thức của em về ngày 30/4 không có gì khác so với ban đầu. Vì mình không được tiếp xúc với các thông tin đa chiều. Điều thứ hai là mình chưa trưởng thành, không biết đặt cho mình những câu hỏi, những câu hỏi ray rức về những vấn đề lịch sử của dân tộc.
Quyền: 30/4 giải phóng miền Nam, khi học thì em còn nhỏ, chưa có nhận thức, rồi cái hệ thống giáo dục hướng mình theo cái lịch sử mà họ vẽ ra. Kể cả đến bây giờ hệ thống giáo dục cũng muốn nhồi vào đầu thế hệ trẻ sau này theo kiểu định hướng chứ không muốn cho mình biết sự thật lịch sử.

Nếu là nhà viết sử, tôi sẽ ...

000_Hkg9758647-250.jpg
Các bạn trẻ chụp hình gần một con vịt cao su khổng lồ tại Phú Mỹ Hưng, TPHCM hôm 28 tháng 4 năm 2014. AFP photo
Kính HòaNhư vậy thì chúng ta thấy rằng dù các bạn có các xuất phát khác nhau, nhưng thời gian trong trường của các bạn giống nhau, rồi sau đó khi ra đời các bạn có thêm suy nghĩ về cái ngày đó và các bạn có sự chuyển biến về suy nghĩ khá giống nhau. Câu hỏi cuối cùng Kính Hòa xin đặt cho các bạn là nếu các bạn là nhà viết sử Việt nam thì các bạn sẽ viết về ngày này như thế nào?
Tiến: Nếu là nhà viết sử thì em sẽ viết rằng ngày 30/4 đánh dấu sự thất bại của chế độ dân chủ đầu tiên ở Việt nam. Chế độ Việt nam cộng hòa dù sao cũng là một chế độ dân chủ, lần đầu tiên được thực hiện trên lãnh thổ Việt nam. Nó có thể có những khiếm khuyết, có nhiều cái chưa ổn, nhưng dù sao nó vẫn tốt hơn cái chế độ đảng trị độc tài mà chúng ta đang chịu đựng, đang đưa đất nước chúng ta vào bế tắc.
Quyền: Nếu được viết sử thì theo suy nghĩ của em là ngày 30/4 là ngày đất nước Việt nam không bị chia cắt nữa. Nhưng mà đó cũng là một sự thất bại to lớn của chính quyền cộng sản Việt nam đã làm cho, đã làm cho, đã làm…
Kính HòaMột cái…
Quyền: ... làm cho một đất nước đang phát triển bị thụt lùi. Vì nếu so sánh lúc đó với các nước Đông Nam Á thì chế độ Việt nam cộng hòa trong đó phát triển hơn. Và chính quyền cộng sản từ miền Bắc này vào làm cho đất nước đi xuống.
Sỹ: Nếu em viết lại lịch sử thì em viết là ngày 30/4 là ngày đau thương nhất của đất nước Việt nam. Là cái ngày thất bại rất là đáng buồn của chế độ cộng hòa non trẻ của Việt nam. Lẽ ra nó sẽ rất tốt đẹp cho người dân Việt nam nhưng nó bị mất đi, điều đó rất là đáng tiếc.
Kính HòaCác bạn còn có điều gì cần nói về cái ngày lịch sử này không?
Sỹ: Đối với em trước đây trong trường học thì em cho là một ngày gì đó rất là vinh dự của Tổ quốc Việt nam. Nhưng bây giờ điều này không còn đúng với em nữa rồi. Có thể sẽ có nhiều bạn trẻ cũng nhận ra cái điều như vậy. Đối em em thì đó là một ngày đen tối. Ừ thì cũng có người cũng sẽ cho rằng đó là ngày lễ, em cũng đồng ý rằng đó là ngày lễ trong nhiều ngày lễ của một quốc gia có rất nhiều ngày lễ như Việt nam mình. Như vậy thôi.
Em thì cứ đến 30/4 em có mong muốn là hệ thống giáo dục thay đổi để làm sao nói được cho thế hệ trẻ biết thêm sự thực lịch sử và tội ác của chế độ cộng sản này.
- Quyền, Hà Nội
Tiến: Em thì trong này 30/4 em luôn đặt ra những câu hỏi, những chất vấn, là tại sao chế độ Việt nam cộng hòa, nền dân chủ đầu tiên trên đất nước Việt nam bị thất bại, trước một chế độ mà chỉ vài năm sau đó thực tế chứng minh là nó sai, nó gây đổ vỡ và thảm họa cho nhân loại. Mà tại sao năm 1975 chế độ Việt nam cộng hòa lại thất bại trước lực lượng cộng sản này.
Em nghĩ đó là câu hỏi mà những người Việt nam nặng lòng với đất nước nên đặt ra, cứ mỗi dịp 30/4 nên đặt ra.
Quyền: Em thì cứ đến 30/4 em có mong muốn là hệ thống giáo dục thay đổi để làm sao nói được cho thế hệ trẻ biết thêm sự thực lịch sử và tội ác của chế độ cộng sản này.
Kính HòaXin cảm ơn ba bạn đã tham gia diễn đàn bạn trẻ hôm nay. Chúc các bạn có thời gian và sự yên tĩnh để suy nghiệm về ngày lịch sử lớn này của dân tộc Việt Nam. Xin cám ơn các bạn.

Ảnh & Video:Bí mật 18 tấn vàng của Nguyễn Văn Thiệu khi rời Sài Gòn?

Không biết tác giả có ghi sai hay không,16 hay 18 tấn vàng? 
Ông Thiệu & những người khác ngoài cái tên ra họ còn có chức danh và địa vị như là tổng thống, thủ tướng v.vv. Tác giả không hiễu sao lại loại bỏ những chức vị này mà chỉ ghi khơi khơi tên của họ không mà thôi..tại sao? Chẳng lẽ cái chức danh tổng thống, phó tổng thống lại là những từ ..húy kỵ.. đối với tác giả và người đọc hay sao mà không dám nhắc đến chứ. 
Chuyện 16 tấn vàng, xin mọi người hãy lắng nghe người trong cuộc tức tổng thống Nguyễn Văn Thiệu trả lời những khúc mắc này. Cũng xin nhắc lại một điều, trước khi đọc những gì việt cộng nói hoặc viết, cũng xin hãy nhớ lấy câu của chính tổng thống Thiệu nói: 
Đừng nghe những gì cộng sản nói, hãy thấy những gì họ làm: 
Chuyện ngoài lề:
Cũng liên quan đến Video trên. Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu phải từ chức vì áp lực từ mọi phía. Liên quan đến..dzăn wóa từ chức..xin mọi người hãy nghe những gì thủ tướng việt cộng Nguyễn Tấn Dũng nhà ta nói chuyện từ chức:

Sau khi xem 2 video trên, mình mới thấy tư cách lãnh đạo của người có cái gì đó khác nhau một trời một vực mặc dù có sự khác biệt với nhau về thời gian & chế độ:
Một bên từ chức cũng vì muồn tiết kiệm xương máu của toàn dân & sự toàn vẹn của lãnh thổ & đất nước. Còn..bên thắng cuộc..cứ khăng khăng giữ chức tới cùng vì..còn đảng còn mình (sic). 

----------------------------------------------------------------------------

Bí mật 18 tấn vàng của Nguyễn Văn Thiệu khi rời Sài Gòn?

Ngày 25.4.1975, đại sứ Martin điện cho Kissinger báo rằng đã nghĩ ra cách đưa Thiệu và Khiêm rời khỏi miền Nam bí mật. Martin giao cho tướng Timmes tổ chức cuộc ra đi. Chuyến bay của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu mang số 231 đi Đài Loan vào lúc 9 giờ 20 đã mang theo 18 tấn vàng của ngân khố Sài Gòn?...
Không khí tại Dinh Hoa Lan rộn rịp lên sau tuyên bố từ chức của ông Thiệu.
Cựu trung tướng Trần Văn Đôn, nghị sĩ quốc hội, thất bại trong việc toan tính tự giới thiệu mình với Pháp như một ứng cử viên thay Thiệu, giờ chót quyết định ủng hộ người bạn xưa của ông là cựu trung tướng Dương Văn Minh. 
Tướng Đôn trước đây hầu như không thấy xuất hiện ở Dinh Hoa Lan, bây giờ vô ra thường xuyên. Tuy Dương Văn Minh và Trần Văn Đôn cùng tham gia cuộc lật đổ hai anh em Diệm – Nhu và đều xuất thân là những sĩ quan quân đội Pháp nhưng ngoài đời hai người rất ít quan hệ với nhau vì tánh tình rất khác nhau.
Ông Minh thích thể thao từ nhỏ, đã từng là thủ môn của đội bóng Thủ Dầu Một những năm 40, một đấu thủ quần vợt có hạng và mãi sau này ông vẫn cầm vợt ra sân tuần ba buổi tại câu lạc bộ CSS. Khác với phần đông các tướng lãnh Sài Gòn đều mê gái, ông Minh có một cuộc sống gia đình rất gương mẫu. 
Tướng Đôn ngược hẳn: ông như nhân vật Don Juan, các phụ nữ đẹp trong giới thượng lưu Sài Gòn khó thoát khỏi tay ông nếu lọt vào tầm ngắm của ông. Dù không hợp nhau nhưng Minh và Đôn vẫn tôn trọng nhau.
Người ta cũng thường thấy xuất hiện một số tướng về hưu như trung tướng Nguyễn Hữu Có, chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh… Thẳng thắn mà nói số tướng tá chung quanh ông Minh lúc này không có nhiều và cũng ít có gương mặt nổi bật. Các tướng tá đương quyền, thuộc thế hệ sau, đều phò Thiệu hoặc Kỳ. 
Nếu xảy ra một cuộc đối đầu quyền lực với Nguyễn Cao Kỳ, chắc chắn nhóm ông Minh sẽ gặp khó khăn. Lực lượng của ông Minh quá mỏng. Do lâu ngày tách khỏi quân đội, ông Minh không còn tay chân thân tình của mình trong hàng tướng tá. 
Trong các buổi họp hàng tuần của nhóm ông Minh chỉ thấy có mặt hai nhân vật quân sự thuộc thế hệ đã qua: đó là cựu trung tướng Mai Hữu Xuân và cựu trung tướng Lê Văn Nghiêm, đều không còn ảnh hưởng trong quân đội.
Khi nhân vật tình báo Mỹ Charles Timmes gián tiếp nói cho Kỳ biết đại sứ Mỹ Martin ủng hộ giải pháp Dương Văn Minh và không ủng hộ cá nhân ông, Kỳ không giấu giếm lập trường của ông là sẽ chống ông Minh không khác chống cộng sản. Tướng không quân Nguyễn Cao Kỳ vẫn nuôi tham vọng trở lại chính trường. 
Ngay sau khi Thiệu ra lệnh rút khỏi Ban Mê Thuột, từ Khánh Dương trên Cao Nguyên – nơi ông có một nông trại – Kỳ đáp máy bay trực thăng về Sài Gòn nhờ tướng Cao Văn Viên, đang là tổng tham mưu trưởng, thuyết phục Thiệu giao quân cho Kỳ đi ngăn chặn sự tiến quân của quân giải phóng và bảo vệ Sài Gòn. Trong hồi ký của mình (“Buddha’s Child”), Kỳ kể đã gặp Cao Văn Viên.
Nguyễn Văn Thiệu, vàng, Trần Văn Đôn, nghị sĩ quốc hội
Chân dung Nguyễn Văn Thiệu 
Kỳ hỏi” “Tình hình Ban Mê Thuột thế nào rồi?”.
Viên đáp: “Rất khó khăn. Chúng ta không có thừa quân vì phải bảo vệ Sài Gòn”.
Kỳ: “Tôi không cần nhiều quân. Cho tôi vài tiểu đoàn thủy quân lục chiến hoặc dù, và chừng 20 đến 25 chiến xa, tôi sẽ tìm cách phá vỡ sự bao vây. Tôi sẽ trực diện với quân địch và chiến đấu”.
Dừng một lúc, Kỳ hỏi Viên: “Anh có nghĩ là tôi sẽ thành công?”
Viên trả lời: “Nếu anh chỉ huy lực lượng đó, tôi nghĩ là thành công”.
Kỳ: “Vậy thì hãy để tôi hành động”.
Viên: “Đáng tiếc tôi không ở vào vị trí có thể lấy một quyết định như thế. Quyết định này thuộc thẩm quyền của tổng thống Thiệu”.
Kỳ: “ Ô kê, hãy gọi cho Thiệu, báo cho ông ta tôi đang ở đây và nói với ông ta biết đề nghị của tôi…”
Viên gọi điện cho Thiệu, nhưng tổng tham mưu trưởng không nói chuyện được với vị tổng chỉ huy của mình. Thông qua một tùy viên của Thiệu, Viên để lại một báo cáo. Nhưng sau đó, viên trợ lý này gọi lại tướng Viên và cho biết:
“Tổng thống cảm ơn tướng Kỳ rất nhiều về đề nghị của ông nhưng tổng thống cần có thời gian để suy nghĩ về đề nghị của ông”.
27 năm có đủ lâu để suy nghĩ cho một quyết định như thế? Tôi vẫn chờ câu trả lời của Thiệu. Có lẽ  ông ta sợ tôi sẽ làm gì đó tại Sài Gòn với đơn vị xe tăng hơn là sợ đối phương có thể làm gì với quốc gia”.
Thật sự đây chỉ là canh bạc xì phé mà Kỳ tung ra với Thiệu. Cả Cao Văn Viên và Nguyễn Văn Thiệu không ai tin rằng Kỳ sẽ cầm quân ra mặt trận vào lúc đó và sẵn sàng hy sinh mạng sống của mình để bảo vệ cái ghế tổng thống của Thiệu. 
Điều mà cả hai nghĩ là có quân trong tay Kỳ sẽ tính tới lật đổ Thiệu và giành lấy quyền bính mà ông ta đã để lọt ra khỏi tay hồi năm 1967. Tự cho mình quá hiểu Kỳ, Thiệu đương nhiên gạt qua một bên “đề nghị viển vông” ấy.
Vào lúc CIA có  ý định lật đổ Thiệu, ông Kỳ lại được nhà báo Mỹ Robert Shaplen của báo New Yorker tích cực vận động để quay trở lại chính quyền. Từ đầu Shaplen luôn ủng hộ Kỳ. Shaplen có ảnh hưởng khá lớn đối với tòa đại sứ Mỹ, nhưng cuộc vận động này bất thành. Nếu quân giải phóng chưa vào Sài Gòn ngày 30-4-1975, chắc chắn Kỳ cũng sẽ tìm cách đảo chính ông Minh.
Ngày 25-4-1975, ông Thiệu rời Sài Gòn một cách bí mật; địa chỉ đến là Đài Loan. Trước đó, quyền tổng thống Trần Văn Hương thúc hối đại sứ Martin phải áp lực để ông Thiệu rời Việt Nam sớm bởi “sự hiện diện của ông Thiệu gây khó khăn cho ông”! 
Từ ngày 21-4 sau khi tuyên bố từ chức, ông Thiệu và gia đình vẫn ở trong Dinh Độc Lập. Ông Thiệu rời Dinh Độc Lập vào lúc 7 giờ 30 tối. Cùng đi với ông Thiệu có tướng Trần Thiện Khiêm, cựu thủ tướng và là người bạn thân của Thiệu. 
Bà Thiệu và bà Khiêm đã rời Sài Gòn trước đó vài ngày. Bà Khiêm mang theo cả người giúp việc. Theo sự tố giác của linh mục Đinh Bình Định, người rất gần gũi với linh mục Trần Hữu Thanh, thì trong quân đội vào đầu tháng 3 có nhen nhúm một kế hoạch kết hợp Thiệu và Khiêm thành một liên danh tranh cử tổng thống nhiệm kỳ 3 vào cuối năm 1975, nếu chế độ Sài Gòn còn kéo dài. Chính Thiệu cũng từng tiết lộ kế hoạch này với đại sứ Martin và cho rằng nếu ông làm tổng thống một nhiệm kỳ nữa thì ông sẽ có điều kiện mở rộng dân chủ!
Chi tiết về cuộc “trốn chạy” của ông Thiệu – vâng phải gọi đó là cuộc trốn chạy – được các tài liệu CIA sau này tiết lộ như sau:
Ngày 25-4-1975, đại sứ Martin điện cho Kissinger báo rằng ông ta đã nghĩ ra cách đưa Thiệu và Khiêm rời khỏi miền Nam một cách bí mật. Martin giao cho tướng Mỹ Timmes tổ chức cuộc ra đi của Thiệu.
Timmes điện cho Thiệu và cho biết ông ta có thể dùng một chiếc trực thăng để  đưa Thiệu từ Dinh Độc Lập đến phi trường Tân Sơn Nhất. Nhưng ông Thiệu trả lời rằng ông ta muốn đi bằng ô tô để ghé tổng tham mưu trước và “uống một ly rượu với 22 tướng tá” đến chào từ biệt ông ta tại đây. 
Hình như nơi Thiệu và Khiêm ghé lại là nhà riêng của ông Khiêm. Từ tổng tham mưu, Chính nhân viên CIA Frank Snepp và tướng Timmes đưa Thiệu và Khiêm vào sân bay. Timmes giới thiệu Snepp với Thiệu: “Đây là một chuyên viên phân tích cừ khôi của tòa đại sứ, hơn nữa anh còn là một tài xế đẳng cấp”. 
Khi ô tô  đi vào sân bay quân sự Tân Sơn Nhất, Timmes khuyên ông Thiệu cúi người xuống “ như thế an toàn cho tổng thống”. Timmes sợ lính gác nhận ra tổng thống của họ chạy ra nước ngoài và biết đâu sẽ manh động. Timmes hỏi bà Thiệu và con gái, ông Thiệu trả lời: “Họ đang shopping ở Lon Don mua đồ cổ". 
Đại sứ Martin đứng chờ sẵn ông Thiệu bên cạnh chiếc máy bay C-118. Trước khi lên máy bay ông Thiệu vỗ vai cảm ơn Frank Snepp. Trong bài viết riêng của mình liên quan đến giây phút này  trong quyển “The VietNam War rememberd from all sides” của Christain G. Appy, Frank Snepp có kể rằng ông Thiệu bắt tay Sneep và nói  “tiếng Anh bằng giọng Pháp” với Snepp rằng: “Cảm ơn, cảm ơn tất cả mọi chuyện”. 
Nhưng sau đó Snepp lại tự hỏi ông Thiệu cảm ơn chuyện gì? “Tôi nghĩ chúng ta (tức người Mỹ) đã mất 58.000 thanh niên tại đây – ông Thiệu cảm ơn chuyện đó? Hay đơn giản cảm ơn vì bản thân mình chuồn đi được?” Đại sứ Martin theo Thiệu vào tận bên trong máy bay. 
Ông ta nói với Thiệu “Chúc may mắn” rồi mới bước xuống lên ô tô của mình. Chuyến bay của Thiệu mang số 231 đi Đài Loan vào lúc 9 giờ 20. Có tin đồn Thiệu mang theo 16 tấn vàng của ngân khố Sài Gòn. Thật sự số vàng ấy vẫn ở lại miền Nam. Nhưng theo Kỳ thì “ Thiệu mang theo 17 tấn hành lý và nhiều triệu đô la tiền mặt. Ông ta không cần chuồn với số vàng của ngân khố quốc gia”.
Dân Sài Gòn dửng dưng (và không ngạc nhiên) khi hay tin sự “trốn chạy” của Thiệu ra nước ngoài. Họ không ngạc nhiên vì Nam Việt Nam đã từng chứng kiến không biết bao nhiêu những cuộc đào tẩu như thế của những kẻ một thời lãnh đạo Miền Nam. 
Trường hợp của ông Thiệu cũng thế thôi, nằm trong sự dự đoán trước của nhiều người. Trung tá phi công Minh, bạn học của Hoàng Đức Nhã ở Lycee Yersin Đà Lạt, được Nhã kéo về chỉ huy đội bay trực thăng riêng của tổng thống Thiệu trong nhiều năm, gặp tôi ở Dinh Độc Lập tối 29-4-1975 đã bày tỏ sự bất mãn của anh với cách cư xử của Thiệu đối với những người đã từng là thân tín của ông ta.
Lý Quí Chung (1940-2005), bút danh Chánh Trinh, là một nhà báo, và cũng là một dân biểu và nghị sĩ đối lập dưới thời chính quyền Việt Nam Cộng hòa. Ông từng giữ chức Bộ trưởng Bộ Thông tin trong chính phủ tồn tại 2 ngày của Tổng thống Việt Nam Cộng hòa cuối cùng Dương Văn Minh. Ông là một nhân vật có điều kiện nhìn sâu vào bên trong bộ máy chính quyền Sài Gòn. Từ góc nhìn của ông, người đọc có thể thấy những sự kiện, biến động chính trị - xã hội, cũng như một số góc khuất trong chính trường Sài Gòn từ 1965 đến 1975.
Ông mất ngày 3.3.2005 tại Sài Gòn.