Tuesday, April 29, 2014

Bộ trưởng Y tế: “Tôi không nghĩ đến từ chức ngay”

(Dân trí) - “Thật lòng thời điểm này tôi không nghĩ đến từ chức ngay. Nhiệm vụ quan trọng nhất lúc này là toàn ngành phải tập trung cao nhất giành giật sự sống cho các cháu. Mỗi ngày chúng tôi mong đừng có thêm cháu nào ra đi”, Bộ trưởng Bộ Y tế nói.

Ngày 29/4, tại cuộc họp báo Chính phủ thường kỳ, Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến nhận được nhiều câu hỏi của phóng viên liên quan đến trách nhiệm của ngành y khi bệnh sởi bùng phát trong thời gian qua làm chết hơn 100 trẻ em.
Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến trả lời báo chí
Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến trả lời báo chí
Với vai trò là người phụ nữ, người mẹ - Bộ Trưởng tiến gửi lời chia buồn tới các bà mẹ có con tử vong trong thời gian qua. Theo bà Tiến sự việc dù khách quan, chủ quan hay ở cấp độ quản lý nào và do ai gây ra nhưng khi đã động đến lĩnh vực sức khỏe thì người đứng đầu ngành cũng có ít nhiều liên quan đến trách nhiệm. Qua sự việc, Bộ trưởng Tiến cho biết, ngành y tế có rút kinh nghiệm trong công tác truyền thông và trách nhiệm trong việc giảm tải, khống chế lây chéo trong bệnh viện.
“Với câu hỏi có nghĩ đến từ chức không, tôi cũng nói thật lòng thời điểm này tôi cũng không nghĩ đến từ chức ngay. Tại sao tôi không nghĩ đến từ chức lúc này vì điều quan trọng nhất trong toàn ngành lúc này là phải giành giật sự sống của các cháu. Mỗi ngày chúng tôi mong đừng có thêm cháu nào ra đi”, Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến chia sẻ.
Theo Bộ trưởng Nguyễn Thị Kim Tiến, mỗi khi xuống các bệnh viện bà luôn động viên các bác sĩ không kể ngày đêm, bằng mọi cách phải cứu sống các cháu đang mang bệnh. Lực lượng cán bộ, bác sĩ ở các bệnh viện cũng như ở khâu phòng bệnh được Bộ trưởng chỉ đạo dập tắt dịch sởi càng sớm càng tốt.
Cũng theo bà Tiến, khi được lựa chọn làm Bộ trưởng, phải đặt quyền lợi của người dân lên trên hết, phải làm hết trách nhiệm, lương tâm, làm sao cống hiến được nhiều nhất. Trong quá trình làm việc, nếu không đủ năng lực theo yêu cầu của cấp trên, theo quy trình của cán bộ, không làm được nữa thì bà cũng nhẹ nhàng, thanh thản, trở về với một công việc nào đó mà cũng có thể làm tốt cho đời.
Tại buổi họp, Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến cũng cảm ơn các phương tiện thông tin đại chúng thời gian qua đã tích cực truyền thông giúp người dân đưa con đi tiêm đông, tỷ lệ trẻ được tiêm chủng đã tăng lên, đồng thời, các bệnh nhân không tập trung đến bệnh viện Nhi nữa mà tập trung điều trị tại tuyến cơ sở.
Thứ Ba, 29/04/2014 - 22:19
Quang Phong

Lại thêm một lần 30/4


vietnamwallNgày 30/4 năm nay là lần thứ 39.  Cứ mỗi lần 30/4 truyền thông lại rộ lên.  Phân tích, bình luận từ lề phải đến lề trái đều ầm ĩ, trái ngược nhau.  Chính việc ầm ĩ nầy tự nó đã nói lên sự thất bại của chế độ đương thời.  Vì, nếu tình trạng VN hiện tại thực sự tốt đẹp hơn miền Nam trước kia thì ngày 30/4, theo tiến trình tự nhiên, tự nó đã bị chìm vào quên lãng!  Nếu chế độ bây giờ thực sự tốt đẹp hơn thời VNCH thì đã hẳn không ai còn muốn nhắc lại quá khứ 39 năm trước, đó là chưa nói đến chuyện hoài niệm!  Mà không phải chỉ người miền Nam mới hoài niệm!  Vì số cán bộ, bộ đội những ngày đầu vào chiếm Sài Gòn đều đã ngỡ ngàng trước sự thật giàu có và đời sống sung mãn, tự do của người miền Nam lúc bấy giờ!  Thời điểm mà xã hội miền Nam, dù đang bị chiến tranh khốc liệt, cũng tương đương với Singapore và hơn hẳn Đại Hàn!  Qua báo chí chính thống lúc đó cũng có thể hình dung được các dòng xe nối đuôi, chạy ngày đêm không dứt chỉ để chuyên chở ‘mọi thứ văn minh’ của miền Nam ra Bắc!
Suốt 20 năm, cả khối cộng sản đã cung cấp bom đạn để chế độ CSVN dùng xương thịt của thanh niên miền Bắc tải vô Nam tàn phá và chung cuộc lại chuyển tải Tự do và tài sản của bọn “Ngụy”, “Tư bản giẫy chết” từ miền Nam ra giải phóng miền Bắc!  Vì thế người miền Bắc bị rúng động nên báo đài phải ra rả suốt ngày đêm gọi kinh tế miền Nam chỉ là “phồn vinh giả tạo”!
Những lần 30/4 đầu là thời gian “tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội”!  Là thời “yêu nước là yêu CNXH”!  Và vì thực hiện theo hai câu khẩu hiệu tiêu biểu đó nên cả nước phải ôm bụng đói.  Dân càng đói nhà nước càng tổ chức lễ mễ thật ‘hoành tráng’ ‘mừng chiến thắng 30/4’, để cung cấp một loại thực phẩm chống đói rất đặc trưng, đó là chiếc bánh “Chủ nghĩa Mac – Lenin vô địch, bách chiến bách thắng”, “Đảng ta là đỉnh cao của trí tuệ loài người”!
Dân chẳng những phải bóp bụng ăn loại bánh đó mà còn được uống thêm loại nước giải khát có nhãn hiệu ‘Tình đồng chí các nước vô sản XHCN anh em’, nhưng thật oái ăm, bánh chưa no, nước chưa đã cơn thèm thì đã bị ngộ độc!  Từ một chiếc bánh chứa nhiều nhân, nhiều màu sắc như: ‘vô địch’, ‘bách chiến bách thắng’, ‘đồng chí’, ‘vô sản’, ‘XHCN anh em’… bỗng trở thành hôi thối!  ‘Đồng chí anh’, CSVN, cho tiến quân qua Campuchia để trừng trị ‘đồng chí em’ Pol Pốt!  Cho dù những lãnh tụ phe ‘đồng chí’ nầy đều cùng một giuộc, cùng ‘anh em ruột rà’ với các lãnh tụ chóp bu CSVN trong thời gian chiến tranh Nam Bắc!  Chiến tranh du kích, ngón đòn sở trường của ‘đồng chí anh’ CSVN dùng ở miền Nam, giờ đây bị ‘đồng chí em’ áp dụng triệt để theo địa hình Campuchia nên ‘đồng chí anh’ mang dép Bình Trị Thiên cứ bị sa lầy, đến sút quai mà còn bị cả thế giới lên án, cấm vận!
Trong khi đó ‘đồng chí anh cả’ phương Bắc vì xót ruột muốn cứu đứa em út Campuchia đang bị CSVN càn quét (cho dù nó đã vâng lời ông anh cả nên điên dại đến độ giết gần 1/3 người đồng chủng mà vẫn dửng dưng)  Do đó ‘đồng chí anh cả’ phải “dạy cho VN một bài học” tại biên giới phía Bắc!  Từ anh em “môi hở răng lạnh” bỗng biến thành “bọn bành trướng bá quyền Bắc Kinh”, từ “XHCN anh em” bỗng biến thành “chủ nghĩa sô vanh nước lớn”!  Thanh niên VN tưởng được hưởng hòa bình sau cuộc chiến núi xương sông máu vô bổ, huynh đệ tương tàn, dài những 20 năm, bây giờ lại bị chết rừng chết biển nơi hai tuyến đầu đất nước!  Và, bi đát hơn, mấy mươi ngàn người VN chiến đấu rất anh dũng để bảo vệ đất nước đã hy sinh tại biên giới phía Bắc, mãi cho đến bây giờ là tháng Tư năm 2014, vẫn nhang tàn khói lạnh!  Chế độ vẫn không dám cho tổ chức tưởng niệm chỉ vì cây roi của đàn anh phương Bắc vẫn còn dứ dứ ngay trước mắt với vòng kim cô Hội nghị Thành Đô đang siết chặt trên đỉnh đầu!
Cho nên mỗi lần 30/4 là mỗi lần Tàu cộng tiến thêm được một bước trói VN vào vòng nô lệ!
- Về chính trị, hiện có đường Điện thoại Đỏ để Hà Nội nhận lệnh trực tiếp từ Bắc Kinh.  Điển hình là vụ VN chuẩn bị suốt mấy tháng và được quảng bá rùm beng việc tổ chức lễ Tưởng niệm Hoàng Sa tại Đà Nẵng, như là một động thái cố gắng hòa giải với người miền Nam, nhưng đến phút cuối Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng phải ra lệnh dẹp bỏ vì Điện thoại Đỏ đã reo!
- Về kinh tế, kế hoạch khai thác boxit dù biết rõ là sẽ bị hiểm họa môi trường và tính toán mọi cách đều bị lỗ nặng nhưng vẫn phải thi hành, rồi tài nguyên, rừng đầu nguồn … cho đến việc 90% các công ty Tàu cộng được trúng thầu xây dựng các công trình trọng điểm mà dùng toàn sản phẩm của họ, với nhân công và có cả khu tự trị, đó là bỏ qua việc chất lượng, một yếu tố vô cùng quan trọng!  Hàng hóa độc hại, tồi tệ, bị thế giới đào thãi, đem tuồn lậu vào VN bán với giá rẻ mạt, được phân phối đến tận hang cùng ngỏ hẻm làm các hãng xưởng VN chết cứng!
- Về văn hóa, VN đã có cả ngàn năm chịu ảnh hưởng Trung Quốc và hơn 60 năm Tàu cộng trực tiếp dạy dỗ đảng CSVN nhưng như thế vẫn chưa đủ?  Bây giờ họ sắp thực hiện thêm về Khổng Tử học, tự ý lập các khu phố rặt Tàu, các làng tự trị.  Còn người Tàu thì được tha hồ du nhập vào VN dưới đủ loại danh nghĩa, chưa nói đến lực lượng chui mà không ai có thể biết được thành phần và số luợng!
- Về quân sự, thì hai bên ‘trực tiếp cộng tác’ nhưng thực chất chỉ để Tàu cộng đào tạo nhân sự và chỉ huy!
Thời kỳ Olympic Bắc Kinh, bà Phó Chủ tịch TP Hồ Chí Minh được ‘vinh dự’ cầm ngọn đuốc nho nhỏ cong cong đó, chạy giữa đám đặc tình Tàu cộng với rừng cờ đỏ 4 sao, thay vì biểu diễn tại Hà Nội là thủ đô, lại sát nách Tàu mới hợp lý, thì phải là tại Sài Gòn!  Vì Sài Gòn có nguồn gốc chống Tàu cộng từ thời VNCH, nên bây giờ phải dằn mặt!  Cũng nhờ thế người Sài Gòn đã thức tỉnh!  Tự ái dân tộc của cả nước trỗi dậy.  Thành phần trong Mặt trận Giải Phóng Miền Nam, cho dù đã bị miền Bắc cho ra rìa ngay sau 1975 nhưng cam chịu vì sợ hãi, bây giờ có lác đác người ở tuổi cuối đời, đã dám từ bỏ đảng, công khai lên tiếng chống đối!  Số đảng viên thuộc loại công thần cũng đã chỉ trích công khai hơn.  Phong trào phản tỉnh càng ngày càng phát triển.  Và, việc phải đến đã đến, mùa hè 2011 nhiều thành phần, nhiều thế hệ người VN tại 2 thành phố lớn nhất nước, Hà Nội và Sài Gòn, bùng nổ biểu tình chống Tàu cộng xâm lược, mở đầu cho cao trào phản đối chế độ “hèn với giặc, ác với dân”!
Cuối tháng Giêng năm 2014 vừa rồi, hiện tượng dân sự tưởng nhớ 74 chiến sĩ VNCH đã hy sinh anh dũng tại Hoàng Sa ngày 19/1/1974, bùng nổ mạnh!  Tên tuổi và hoàn cảnh của các chiến sĩ cũng như một số thân nhân gia đình họ được truy tìm, đưa ra công luận.  Báo chí chính thống cũng vào cuộc, tường thuật, kể cả phỏng vấn trên radio – TV những sĩ quan VNCH đã chỉ huy chiến trận đó.  Nhờ thế hình ảnh chiến sĩ VNCH, một thời bị bôi nhọ lem luốc bây giờ bỗng sáng trưng trở lại.
Chế độ nào đã xả thân chiến đấu để bảo vệ Hoàng Sa?  Cũng một Hoàng Sa, chế độ nào đã bán đứng cho Tàu cộng từ năm 1958 qua công hàm Phạm Văn Đồng nhưng giấu nhẹm và mới bị phanh phui sau nầy?  Người VN đang có trong tay cứ liệu vững chắc để tự thẩm định!
Mới nhất, ngày 17/4/2014, vụ 16 người Ngô Duy Nhĩ (Uighur) vượt biên giới vào VN!  Số người nầy đã vào sâu được trong lãnh thổ VN rồi mới bị phát giác và bị săn đuổi!  Họ đã đổi từ xe hơi nầy sang xe hơi khác để tiếp tục chạy trốn nhưng không thoát.
Qua vụ nầy cho thấy nếu chỉ là người Tàu bình thường, khỏi cần nói đến bọn đặc tình, muốn vào VN thì khá dễ dàng.  Nhưng số 16 người, gồm 4 đàn bà và 2 trẻ nhỏ, đã bị săn đuổi chỉ vì họ là người Uighur, là loại mà Tàu cộng ghép tội họ là ‘nổi loạn’, là ‘khủng bố’(!) nhưng thực chất họ là một dân tộc nhỏ ở Tân Cương bị tước đoạt quyền sống ngay trên chính quê hương!  Vì thế sau khi họ thoát được qua biên giới thì Tàu cộng đã mật báo để VN tiếp tay truy đuổi (?)
Diễn biến tiếp theo, xảy ra ngay tại đồn cửa khẩu Bắc Phong Sinh, Quảng Ninh, mà qua báo chí chính thống tường thuật, là một người Uighur đã cướp được khẩu AK có 5 viên đạn trong đó, xả súng tấn công lính biên phòng!  Với chỉ 5 viên đạn thì đạn nào đã gây chết tổng cộng 7 người và làm bị thương một số khác?  Đạn nào để tử thủ, bắn trả khi bị bao vây kéo dài cả 3 tiếng đồng hồ?  Đạn nhiều như thế lấy từ đâu ra?
Phải chăng khi đối đế người Uighur đã khai ra sự thật, là họ đang tìm đường để sang nước thứ ba xin tị nạn qua ngã VN?  Nhưng VN, thay vì bảo vệ theo quy chế Liên hiệp quốc, lại nhận lệnh của Tàu cộng trục xuất họ ngay?  Trong hoàn cảnh tuyệt vọng đó họ đã phản ứng quyết liệt?  Đã nhảy lầu tự tử?  Vì thế mới có phỏng đoán là chính lính Tàu cộng trực tiếp bao vây và tấn công họ ngay tại đồn Bắc Phong Sinh!  Điều nầy là rất có thể!
Đã thế, sau khi có 2 lính VN chết và một số khác bị thương, VN cũng không giữ những người còn sống để điều tra về tội giết người, lại đem giao nạp tức thì cho Tàu cộng!  VN đã “đánh mất chủ quyền tài phán là đánh mất chủ quyền quốc gia” như nhận xét của vài luật sư trong nước qua phỏng vấn!
Sự kiện trên đã giúp cho công luận có thêm một minh chứng việc thần phục Thiên triều đại Hán của đảng CSVN!
Hơn 100 năm trước khi đập champagne hạ thủy tàu Titanic, một con tàu vĩ đại và sang trọng bậc nhất thời bấy giờ, người ta đã nói rằng đấy là một con tàu được cấu trúc không thể chìm!  “Unsinkable”!  Vì thế, giới quý tộc, thành phần giàu có và tiếng tăm nhất thời đó rất hãnh diện được là những du khách trên con tàu xa hoa lộng lẫy đó trong hải trình đầu tiên vượt đại tây dương đến New York, Hoa Kỳ.  Nhưng, đêm 14 rạng 15/4/1912, lúc con tàu mới hành trình chỉ vỏn vẹn được 4 ngày, đã lâm nạn!  745 người được cứu sống trong tổng số 2.229 người!  Khi con tàu đang từ từ chìm trong bóng đêm, giữa cảnh hỗn loạn bi thảm đó thì ban nhạc vẫn cứ tiếp tục chơi như không hề biết có biến cố.  Chơi để trấn tĩnh cá nhân, chơi để trấn tĩnh sự sợ hãi kinh hoàng của đám đông, chơi cho đến giây phút cuối cùng!  Kéo dài được 2 giờ 5 phút thì con tàu ‘không thể chìm’ đã chìm sâu trong lòng đại dương lạnh tê cóng!
Đảng CSVN hôm nay đang là ban nhạc trên tàu Titanic thời đó!  Họ tiếp tục chơi những bản nhạc ‘mừng chiến thắng 30/4’ với rất nhiều giai điệu trong khi con tàu XHCNVN của họ đang từ từ chìm!  Có điều không phải chìm vì tai nạn, mà là tất yếu của lịch sử khách quan, của một chủ nghĩa bất nhân, không tưởng.  Một thứ chủ nghĩa đã bị thế giới đào thãi từ những năm 1989 – 90!  Những nhạc bản “Chủ nghĩa Mác-Lenin vô địch, bách chiến bách thắng”, “Đảng CSVN quang vinh, là đỉnh cao của trí tuệ của loài người” cho dù có biến tấu mọi hình thức, mọi cung bậc, mọi thể loại cũng chỉ là sự huyễn hoặc, tự đánh lừa chính họ hơn là đánh lừa được người khác!
(Apr 23rd, 2014)
© Đàn Chim Việt

Độc Tài-Sự phí phạm tột cùng!


Minh Văn
Chế độ độc tài thì không có dân chủ, vì thế mà mọi vấn đề đất nước đều tuân theo quyết định chủ quan của nhà nước. Rồi dẫn đến việc cung và cầu không bao giờ gặp nhau. “Cung” ở đây là các quyết sách do chính phủ ban hành, còn “cầu” chính là ý nguyện của nhân dân.
Vì không có các cơ cấu dân chủ hoạt động, nên không có tự do bàn bạc. Chuyện tham nhũng và lãng phí xẩy ra là điều hiển nhiên rồi. Ngay cả việc sử dụng tiền thuế của người dân làm sao cho hiệu quả và hợp lý cũng không có nốt. Lợi dụng điều này, những kẻ cầm quyền đưa ra các chủ trương và quyết định có lợi cho cá nhân và phe nhóm, trong khi lợi ích của nhân dân thì không hề được đếm xỉa đến. Từ đó mà dẫn đến sự lãng phí và sai mục đích nghiêm trọng. Ví như khi đất nước đang gặp khó khăn, lẽ ra nên dùng tiền để cứu trợ cho dân và giải quyết việc làm thì họ lại cho xây dựng khách sạn nghỉ dưỡng hay trụ sở làm việc nguy nga. Hoặc nhà nước cho triển khai những dự án to lớn, rồi lại bỏ hoang cho cỏ mọc mà không sử dụng. Trong khi đó biết bao người dân lao động thì không có chỗ ở. Những dự án mà có thể hoạt động thì cũng không mang lại hiệu quả và lợi ích tối ưu. Ấy là chưa kể những dự án lẽ ra phục vụ cho mục tiêu ngắn hạn thì người ta lại sử dụng cho dài hạn, và ngược lại.
Tài nguyên đất nước vì vậy mà bị phí phạm nghiêm trọng. Tài nguyên đất nước có thể được chia làm hai loại chính: Tài nguyên thiên nhiên và tài nguyên con người.
Về tài nguyên thiên nhiên: Bị khai thác bừa bãi và bán cho nước ngoài với giá rẻ mạt. Ví dụ: Tài nguyên có giá trị 1 đồng, nhưng nếu biết sử dụng hợp lý thì có thể thu về cho đất nước 1000 đồng. Nhưng họ lại chỉ bán lấy nửa đồng rồi đút túi, và cho rằng như vậy là thiên hạ đệ nhất cao kiến.  Những lợi ích từ việc khai thác tài nguyên cũng ít được sử dụng cho việc xây dựng và phát triển đất nước.
Về tài nguyên con người: Đó là sự lãng phí tài năng. Con người không được sử dụng đúng năng lực. Lâu nay trong xã hội Việt Nam người dân vẫn truyền miệng câu “Thứ nhất con ông cháu cha, thứ hai tiền bạc, thứ ba nhân tài” để chỉ việc tuyển dụng vị trí làm việc. Những người tài được sử dụng rất ít, nếu có được sử dụng cũng không thể phát huy năng lực, vì họ không thể hoà nhập được với cái bộ máy nhà nước tham nhũng và hành hạ người dân đó. Và rồi họ cũng chỉ có thể tồn tại một cách thoi thóp, cơ chế xin cho và mệnh lệnh hành chính đã giết chết tư duy sáng tạo nơi con người. Từ đó mà dẫn đến hiện tượng chảy máu chất xám, những người tài đành phải bỏ nước ra đi hoặc vào làm việc cho các công ty nước ngoài. Đó là sự lãng phí rất lớn, một tội ác đối với đất nước.
Trong bối cảnh xã hội dân chủ, thì người ta dù làm việc ở vị trí nào cũng đều có thể phục vụ tốt cho xã hội, không nhất thiết là nhà nước hay tư nhân, tổ chức hay độc lập. Điều quan trọng là mỗi cá nhân luôn phát huy được tốt nhất năng lực bản thân. Đãi ngộ mà họ được hưởng bao giờ cũng xứng đáng với năng lực làm việc. Trong khi đó, hệ thống pháp luật dân chủ luôn bảo hộ cho quyền sở hữu trí tuệ của con người.
Nói vậy là để thấy được cái sự lãng phí trong việc sử dụng tài nguyên con người ở xã hội ta, một đất nước còn tồn tại chế độ độc tài Cộng Sản.
Khi mà người ta sử dụng bất hợp lý nguồn lực đất nước, thì cũng giống như chuyện ngứa một đàng gãi một nẻo vậy. Ví như cô gái nọ đang ngứa ở háng, cứ nhảy lò cò lên hết cả, vậy mà anh chàng người yêu không biết, lại cứ nhắm vào chỗ cánh tay mà gãi đến độ tóe máu.
Quyền lực nằm hết cả trong tay nhà nước độc tài, từ đó mà dẫn đến việc họ nghĩ ra những chuyện trời ơi đất hỡi để mà bòn rút tiền của nhân dân.
Những đất nước càng dân chủ phát triển, thì họ luôn có một bộ máy nhà nước cấu tạo khoa học để phục vụ con người. Đồng tiền của người dân luôn được sử dụng đúng mục đích và thời điểm. Do đó mà mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất, lại còn ít bị thất thoát nữa. Kết quả là nền kinh tế của họ phát triển một cách nhanh chóng và lành mạnh.
Còn như cái anh nhà nước Việt Nam ta hiện giờ thì lại khác. Lúc đang vụ thu hoạch lúa, cần buôn Vịt để cho nó nhặt thóc rơi vãi thì lại đi buôn Bò kéo xe. Thành ra vừa lãng phí, vừa gây nên nhiều bất công xã hội.
Nguon:HNSG2015

Hội Phụ nữ Nhân quyền VN kêu gọi CQCS thả Đỗ Thị Minh Hạnh, Tạ Phong Tần và Hồ Thị Bích Khương

VRNs (29.04.2014) – Sài Gòn - Bị Hoa Kỳ áp lực về hồ sơ Nhân quyền trong tình cảnh nền kinh tế đang lao dốc chưa có điểm dừng, mà Hiệp định Đối tác chiến lược xuyên Thái Bình Dương còn chưa nằm trong tầm với của Việt Nam, chính quyền độc tài đã cân nhắc trả tự do trước thời hạn cho năm tù nhân lương tâm nổi tiếng: Cù Huy Hà Vũ, Nguyễn Tiến Trung, Vi Đức Hồi, Đinh Đăng Định và Nguyễn Hữu Cầu.


Hội Phụ nữ Nhân quyền Việt Nam khẳng định lập trường không tin tưởng vào thiện chí cải cách của chính quyền cộng sản Việt Nam trong động thái thả tù nhân chính trị gần đây. Động thái này, một mặt rất đáng quan tâm, nhưng mặt khác cũng “lợi bất cập hại”. Hồ sơ Nhân quyền Việt Nam sẽ vì thế mà nguội xuống trong một thời gian nhất định đối với chính giới phương Tây và các tổ chức NGO quốc tế bảo vệ Nhân quyền, và khiến chính quyền Việt Nam đạt được những giúp đỡ hữu ích để họ tiếp tục áp đặt ách cai trị độc đoán lên hơn 90 triệu người Việt Nam.

Hàng trăm tù nhân lương tâm của chúng ta hiện vẫn bị giam giữ trong điều kiện hết sức khắc nghiệt, nhiều người trong số họ đã mắc bệnh và thậm chí là những căn bệnh hiểm nghèo như trường hợp cô Đỗ Thị Minh Hạnh. Đó là động lực lương tâm khiến chúng ta phải tiếp tục những nỗ lực vận động bất chấp đảng phái, để chính quyền Việt Nam thả càng nhiều tù nhân lương tâm và càng sớm càng tốt.

Đặc biệt đáng chú ý, trong 5 tù nhân chính trị được trả tự do gần đây, không có một phụ nữ nào. Và có căn cứ để xác định rằng những nữ tù nhân lương tâm của chúng ta như Đỗ Thị Minh Hạnh, Tạ Phong Tần, Hồ Thị Bích Khương đang phải chịu bách hại và đau khổ hơn nhiều vì thái độ cứng rắn của họ. Tại sao phụ nữ, đặc biệt là những người đang bệnh tật không được ưu tiên trả tự do trước vì nhu cầu chữa bệnh cũng như những nhu cầu mang tính nhân bản, tế nhị khác?

Chị Tạ Phong Tần và cô Đỗ Thị Minh Hạnh là những người phụ nữ còn độc thân; những năm tháng tù đày đã cướp đi tuổi xuân và cơ hội lập gia đình của họ. Chị Hồ Thị Bích Khương thì đang có con trong tuổi vị thành niên thiếu sự chăm sóc và hướng dẫn của cả cha và mẹ (vì chồng chị đã mất). Vì vị trí không thể thay thế của người phụ nữ trong xã hội và gia đình, chúng ta phải ưu tiên kêu gọi nhà cầm quyền Việt Nam, chính giới quốc tế và các tổ chức NGO dành sự quan tâm đặc biệt cho ba người phụ nữ này.

Chúng tôi xác quyết rằng: chừng nào phụ nữ còn bị đàn áp và tù đày vì những hoạt động cho Nhân quyền và vì họ yêu cầu có được quyền dân sự và chính trị để can dự vào sinh hoạt chính trị-xã hội của quốc gia như trường hợp chị Bùi Thị Minh Hằng và Nguyễn Thị Thúy Quỳnh, và chừng nào những người vợ của các tù nhân lương tâm phải xao nhãng việc chăm sóc con cái vì bận thăm nuôi chồng, cha và anh em trai của mình trong tù, thì mọi tuyên bố của chính quyền Việt Nam về Nữ quyền đều vô nghĩa.

Hội Phụ nữ Nhân quyền Việt Nam kịch liệt phản đối hành vi giả tạo của chính quyền Việt Nam: một mặt trao trả tự do cho một vài tù nhân lương tâm, một mặt tiếp tục sách nhiễu và bắt giữ nhiều nhà hoạt động Nhân quyền khác. Đó không phải là sự cải thiện về Nhân quyền mà là sự đổi chác phi nhân trên cuộc sống và tự do của người dân Việt Nam.

Vì lương tâm và công lý, chúng ta phải tiếp tục vận động trong và ngoài nước để áp lực chính quyền Việt Nam thả hết tù nhân lương tâm, đặc biệt là phụ nữ.

Ngày 28 tháng 4 năm 2014

Ban điều hành Hội PNNQVN

30.04.1975 – DI HẬN NGÀN ĐỜI CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM

Vĩnh Nhất Tâm (Facebook)_Nhất Tâm tôi xin chia sẻ bài thơ này, tuy viết đã rất lâu và có một số từ đã thêm bớt… Viết từ sau ngày bỏ cấm vận trong thời của Bill Clinton làm Tổng-thống nước Mỹ…
Theo Nhất Tâm tôi trộm nghĩ rằng; tuy trần duyên này chỉ là cõi tạm đối với mỗi con người, nhưng đối với một dân tộc, một quốc gia, mà Tổ-tiên đã dày công xây dựng một giang sơn gấm vóc, là tài sản chung của Quốc Dân thuộc nòi giống Lạc Việt của chúng ta, thì nối tiếp nhau đời đời…với một cõi sơn hà dấu yêu tạo nên bằng xương máu của Cha Ông… Tuyệt đối không thể để mất trong tay một tập đoàn tôi tớ sống trên xương máu và thống khổ của người dân, nếu không muốn gọi là ngụy quyền… Bởi vì, chúng ta có chung một niềm đau vong quốc trên một quê hương bất hạnh.
Chính vì sự bất hạnh đó, đã sinh ra những Con-người thương đồng bào và yêu nước Việt, đã nuôi chúng ta trưởng thành đê phục vụ cho tha nhân chính là cho nòi giống ta chung một bọc: MẸ TRĂM CON: Vì tự do, độc lập và hạnh phúc trong một nên hòa bình công chính, mà đấu tranh cho sự sinh tồn của dân tộc, để không phụ lòng những Chiến-sĩ đã nằm xuống cho một nền độc lập, xã hội Tự do và nhân dân hạnh phúc. Không thể ba hoa như tên đại phản quốcHCM làm tay sai cho Tàu Nga, mà phát ngôn bừa bải: ”Không gì quý hơn độc lập tự do”.
Chúng ta cùng nhau xét lại từng bước và từng bước của y (HCM), là bắt đầu thực thi sứ mệnh một đảng viên của đảng CSQT (vì y đã là một tên gián điệp, một đảng viên, và một công dân nước Nga vào lúc bây giờ, là khoảng vào năm 1923, tên của y là Lý Thụy, Do một cán bộ cao cấp của đảng CS Ấn Độ cho biết. Theo sách của Minh Võ ”HCM – Nhận định tổng hợp”), từng bán cụ Phan Bội Châu cho mật thám Pháp vào năm 1925. Chuyện này không che dấu được nên đảng cs Ba Đình củng xác nhận đều ấy bằng những lời xảo trá… Y tiếp tục phá nát các đảng phái như Tân Việt Cách Mạng Đảng, và Thanh Niên Cách Mạng Đồng Chí Hội, để biến thành đảng cộng sản vào năm 1930. Từ dó thì y chờ thời để thực hiện những sứ mệnh kế tiếp do CS Nga giao phó. Một chuyện phản quốc đã rất trắng trợn, là y từng cho đảng viên rãi truyền đơn báo cho thực dân Pháp biết về ngày khởi nghĩa của Việt Nam Quốc Dân Đảng vào ngày 10.02.1930. Theo sách của Tac-già Hoàng Văn Đào ”VIỆT NAM QUỐC DÂN ĐẢNG – Lịch Sử Đấu Tranh Cận Đại 1927-1954”.
Chưa hết, sau đó y trốn ở trong hang Pắc-bó vào năm 1942, đã xảy ra nhiều chuyện động trời nào sinh con đẻ cái… còn giết cả vợ tức bà Nông Thị Xuân, mẹ của Nông Dức Mạnh. Và lúc đó là thời điêm để cùng Tàu công tức là Mao làm việc bán đứng Miền Bắc cho Tàu sau khi cắt hai đất nước, HCM luôn thỉnh ý Mao những việc kế tiếp (vì Mao và Y cùng là đảng viên đảng CSQT (Nga), nhưng Stalin tin HCM hơn là tin Mao.
Rồi tiếp sự nghiệp của một kẻ phản quốc theo sau là cướp chính quyền vào 02.09.1945, của Thủ-tướng Trần Trọng Kim vừa lập xong nội các. HCM rất nhiều sách đã viết về y, cả ngưởi ngoại quốc cũng viết về y, là dùng bằng mọi thủ đoạn để đi cầu cạnh, nài xin giữa ba thế lực ngoại nhân (Nga-Mỹ-Tàu), chính họ (Nga-Mỹ-Tàu) là những nước đang trên thế tranh hùng về chiến tranh Thị-trường, hầu khai tử chiến tranh thuộc địa của thực dân. Và y (HCM) tiến đến cắt đôi đất nước sinh ra Hiệp-định Geneve 20,07.1954, và liền sau đó thành lập nên cái gọi là: ”MTDTGPMN” (Mặt trận dân tộc giải phóng Miền Nam) vào năm 1960.
Cái mặt trận này là theo chiến thuật thuộc sứ mệnh của quan thầy Nga Tàu, để làm con chốt thí hầu che mặt Quốc-tế, mà xé bỏ Hiệp-định Geneve, và dẫn đến Hội-nghi Ba Lê 1973, là Hội-nghị sau cùng và chuẩn bị cho Mỹ rút quân trong an toàn và danh dự. Lại sau đó dùng tướng Dương Văn Minh làm TT ba ngày, tạo môi giới cho cái gọi là thành phần thứ ba, đóng vai trò bán đứng Miền Nam, bằng cách là DVM nhân danh Tổng Tư lệnh quân đội VNCH, lên đài phát thanh Sài Gòn ra lệnh quân đội buông súng đầu hàng, mà cướp nốt Miền Nam Tự Do… Và sau khi chiếm xong Miền Nam Việt Nam khai tử, là cái gọi là ”MTDTGPMN”, hay nói một cách khác là giải thể cái mặt trận này vào đầu năm 1976, sau khi cướp được MIền Nam hoàn tất.
Những lời chia sẻ trên chỉ là 1/100000 cái tội của HCM, mà Nhất Tâm tôi thuộc lớp hậu sinh xa lắc, đọc sách và theo trí nhớ kể lại những nét chính để chia sẻ về là tên đại đồ tẻ phản dân tộc, bán thầy và giết bạn bè để cướp quyền…Đó chính là động cơ duy nhất mà Nhất Tâm tôi đã viết lên những dòng thơ cho Quê-hương với thân phận là một người dân chạy giặc vào sau Quốc Nạn 30,04.1975, đang sống trên xứ ngườì khi nhìn về quê cha đất tổ, sống trong nỗi quằn quại, đau thương của một nền hòa bình nô lệ dưới sự khống chế của Hán cộng đang trên đà Hán hóa dưới mọi hình thức…
Nói tóm laị, Nhất Tâm tôi vẫn đinh ninh rằng; không nơi nào gần gũi trong tâm hồn và lẽ sống hơn là tình quê hương ta, hay nói một cách nôm na là nơi chôn nhau cắt rốn, đó là nguốn gốc, nơi sinh ra ta về cả hai mặt tinh thần và vật chất. Chính là cõi trần duyên mà mỗi chúng ta có và cưu mang mỗi trăn trở, mỗi xót xa …của mỗi vị trí và hoàn cảnh khác nhau, nhưng chung một niềm đau Quê Mẹ, dù trong hay ngoài nước, chính nơi ấy là cõi dấu yêu duy nhất của đời đời sinh ra sau chúng ta đó!
30.04.1975 – DI HẬN NGÀN ĐỜI CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM, Nhất Tâm tôi xin chia sẻ dòng thơ:
TÂM SỰ CÙNG EM
Quê hương đó! Bên kia bờ biển Thái
Nay biến thành địa ngục giữa trần gian.
Mấy mươi năm với chủ nghĩa vô thần,
Đã đảo ngược cả luân thường đạo lý.
Có phải vậy không em! Buồn quá nhỉ?
Những phố phường, hàng quán của ngày nao.
Có còn chăng…chỉ trong giấc chiêm bao,
Ta tin chắc cỏ cây còn ủ rũ.
Còn đâu nữa những bạn thân, thầy cũ
Những con đường hoa trắng có còn không?
Hay “đảng” đưa đi đến những nông trường
Biến mười ngón tay thon thành… sỏi đá
Hẳn Em biết nhiều hơn ta hết cả;
Cái “thiên đường Cộng Sản” quá điêu ngoa.
Chúng bắt em: Con “ngụy” phải chen đua,
Ðể tẩy não thành “cháu… ngoan bác vậy”
Em tuyệt đối không thể nào con “ngụy”,
Cha Em đâu theo: Mỹ, Pháp, Tàu, Nga
Rước ngoại nhân vào phá cửa, phá nhà
Phá luôn cả giang sơn và tổ quốc.
Em thừa hiểu, Cha em, người giữ nước,
Ðịnh nghĩa thế nào Cộng bảo “ngụy quân”?
Phường loạn ngôn nên dân mãi cơ bần
Ai cũng rõ trò trả thù, ngược đãi
Luôn chém giết bất nhân, không hối cãi,
Ngược lòng dân và phản bội giống nòi.
Để ngoại nhân sai bảo tợ tôi đòi
Mà cứ tưởng mình đứng ngang thiên hạ.
Nhờ cấm vận thu hồi, đâu có lạ!
Mở thương trường, đường rộng rải ăn chơi
Đóng thêm đinh, cửa ngục tới ngạt hơi
Gom tiền của, mặc tình tiêu phung phí
Mấy mươi năm, một “thiên đường ấu trĩ”,
Dân đã nghèo, lại càng phải nghèo thêm
Vác đau thương, mang trên cổ xích xiềng
Vì “ơn đảng” nên khổ DÂN, hại NƯỚC?
Em là một chứng nhân cho đất nước,
Khi vào tay của lũ giặc vô thần:
Sáng đến trường bị nhồi sọ “Mác-Lê”
Chiều về ngắm, khen “bác Hồ vĩ đại”
Ta cảm phục tuổi Em dù nhỏ dại,
Sống trong bùn vẫn trong sạch như sen.
Chẳng nhuộm màu tráo trở, trắng thay đen,
Nên tâm sự với Em: Tình nhớ nước.
Bao hoài bão như xa dần từng bước:
Lờng dặn lòng từ ngày vượt biển Ðông
Phải cứu dân ra khỏi ách cùm gông,
Đưa dân tộc thoát khỏi hầm tai vạ.
Thôi chừng ấy dòng thơ ta tâm sự:
Nỗi niềm đau viết bằng máu tâm hồn.
Trao tặng em mang dòng máu TriệuTrưng,
Mưu chí lớn: Anh-thư dòng giống Việt.
Còn trai Việt noi gương dòng tuấn kiệt
Như Ðức Trần, như Lê Lợi, Quang Trung;
Biết bao nhiêu là những bậc Anh -hùng
Noi gương sáng Tiền nhân mà giữ Nước.
Nhớ nhe Em! Tình thương Nòi, yêu Nước,
Kẻ đầu non, người cuối bể: một lòng.
Quyết đấu tranh cho nòi giống Tiên Rồng
Cho Việt-tộc thoát khỏi vòng nô lệ.
Vĩnh Nhất-Tâm
(Viết sau ngày Mỹ “bỏ cấm vận” 1990)
Nguon:HNSG2015

KỶ NIỆM 39 NĂM NGÀY “GIẢI PHÓNG MIỀN BẮC”


Nếu nói :  “giải phóng là giải nguy, giải cứu hay giải thoát một tình huống bất ổn cho cá nhân hay tập thể hoặc cho một nơi chốn nào đó đang lầm than cơ cực để thoát ra khỏi cảnh đói nghèo lạc hậu, hướng đến những điều kiện sống mới tốt đẹp tự do hơn” .
 Thì những ngày này đánh dấu 39 năm, kể từ 30/4/1975 ngày miền Nam bị CS Bắc Việt chiếm đóng, nhưng khung cảnh xã hội, đời sống, nhân văn con người miền Nam đã hoàn toàn  “ Giải Phóng miền Bắc” .
Nói như thế mà  không ngoa chút nào . Bởi không chỉ bằng hình ảnh thực tế  so sánh chứng minh …
  Sài Gòn, Miền Nam(trên) và Hà Nội, miền Bắc(dưới) cùng thời điểm thập niên 1970 . Miền Nam được khối thế giới tự do viện trợ chủ yếu để phát triển kinh tế, nâng cao mức sống người dân, ngược lại miền Bắc được khối CS/XHCN viện trợ vũ khí để gây chiến tranh, phát triển “nghĩa trang” đẫm máu và nước mắt .
 
Còn cụ thể hơn (một con số mà nhà nước, đảng CSVN cho là nhạy cảm chưa bao giờ dám thống kê chi tiết công bố chính thức)….Trong thời gian 39 năm ấy có gần 10 triệu cư dân miền Bắc trong đó rất đông gia đình là đảng viên CS đã lũ lượt từ giã quê cha đất tổ và thiên đàng “phân xanh phân Bắc” XHCN nghèo nàn lạc hậu kéo nhau xuôi vào khắp các tỉnh thành miền Nam định cư lập nghiệp để mong nhận được hay hướng đến những điều kiện sống khác, tốt hơn miền Bắc .
Ngược lại trong cùng thời gian ấy không có gia đình người dân miền Nam nào tự nguyện ngược ra “thiên đàng XHCN” miền Bắc để sinh cơ lập nghiệp !?.
Như một đàn chim khổng lồ suốt 30 năm (1945-1975) trong chiếc lồng sắt ngục tù CS/XHCN đã được làn gió tự do phóng khoáng (dù mới bị CS chiếm đóng) bên kia vĩ tuyến 17 phà hơi  “giải phóng” để một số đông đồng bào miền Bắc dứt khoát thoát ra khỏi cái lồng sắt CS cất cánh bay về phương Nam, vùng đất lành  chim đậu .
Chính những bước chân của hàng chục triệu đồng bào miền Bắc sau 1975 xuôi Nam ấy đã trả lời hùng hồn cho câu hỏi : Ai đã “giải phóng” ai !?
Cũng trong chiều hướng “giải phóng” – Thì sau khi đánh chiếm được miền Nam các chóp bu lãnh đạo trong bộ chính trị CSVN liền áp đặt ngay một chủ trương như “cướp ngày” gọi là “cải tạo công thương nghiệp” tại miền Nam, bức tử giết chết tức khắc một trong những nền kinh tế trẻ trung năng động nhất trong khu vực Đông Nam Á đồng thời song song với đó là tròng cái thòng lọng tập thể nhà nước hoá “Hợp tác xã nông nghiệp” dẫn đến nông dân toàn miền Nam phản kháng thụ động khiến ruộng đồng hoang hóa hiu hắt, sự bất hợp tác suốt 4 năm liền (1975-1979) tạo nên bi kịch nông dân gối đầu trên ruộng đất màu mỡ nhưng cả nước suýt đứng bên bờ vực chết đói, chính điều này đã mạnh mẽ tác động  “giải phóng” tư duy 2 ông chóp bu CSVN cắm chốt tại miền Nam là Võ Văn Kiệt và Nguyễn Văn Linh để 2 ông này lén lút tháo cái thòng lọng tập thể hoá XHCN và phá bỏ gông cùm “ngăn sông cấm chợ” tại miền Nam  .
Ngày nay 3 mặt hàng nông sản Việt Nam xuất khẩu đứng trong nhóm hàng đầu thế giới là Gạo, Cà phê và Tiêu mang về nguồn ngoại tệ quan trọng lên đến hàng chục tỷ USD/Năm là từ hàng vạn cá thể gia đình nông dân miền Nam sản xuất mà không cần đến bất cứ sự lãnh đạo nào của “nhà nước và đảng ta” ! Đó chính là sự khẳng định nhân dân miền Nam đã “giải phóng” cái  tư duy làm ăn tập thể kiểu XHCN “cha chung không ai khóc” lạc hậu do “nhà nước đảng ta” lãnh đạo áp đặt…
Và cũng quan trọng không kém, qua sự đánh chiếm miền Nam từ thực trạng tình thế của quốc gia hiện nay đã “giải phóng” cái tư duy bịp bợm ấu trĩ của các chóp bu CSVN khi….
Cứ đến tháng 4 hàng năm,  như âm thanh phát ra từ cái băng cassette rẻ tiền nhão nhoẹt, khá đông người dân cả nước chán ngấy đến lợm giọng với cái mỹ từ ăn mày từ dĩ vãng máu xương :“đảng ta lãnh đạo toàn dân chống đế quốc Mỹ xâm lược giải phóng Miền Nam” của bộ máy tuyên truyền chế độ CSVN …(dù từ năm 1973 Mỹ đã rút hết quân về nước và trước đó quân đội Mỹ đã đánh bại phát xít Nhật giải phóng Châu Á,Đông Dương trong đó có Việt Nam)  .
Trong khi cả bầy đàn họ – các chóp bu CSVN- không ai đui mù hay chột con mắt nào để không biết xấu hổ khi lùa hàng trăm ngàn thanh niên nam nữ  gọi là “xuất khẩu lao động” sang làm vợ hờ,osin,bán cơ bắp như nô lệ cho Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan những quốc gia có nền kinh tế tài chính quốc phòng giàu mạnh hơn Việt Nam nhiều lần , nơi mà “đế quốc Mỹ xâm lược” đã đổ máu xương hỗ tương gìn giữ bảo vệ hơn nữa thế kỷ qua nhưng tuyệt nhiên họ không cướp 1cm2 đất đai lãnh thổ của quốc gia nào, ngay cả với Nhật Bản kẻ bại trận trước họ, còn hơn thế, duy nhất ngoại lệ của truyền thống xứ hoa Anh đào , Hoàng Gia, lưỡng viện Quốc Hội và toàn dân Nhật Bản lần đầu tiên trong lịch sử nước mình  đã đồng lòng tôn vinh một người nước ngoài, kẻ thù không đội chung trời , người đã buộc họ ký văn kiện đầu hàng vô điều kiện,tước khí giới và chiếm đóng toàn lãnh thổ là một trong 12 vị ân nhân đã làm nên nước Nhật hùng mạnh ngày nay, đó chính là Thống Tướng quân đội Mỹ: DouglasMacArthur. (*)
Và hiện tại, 2014, chính phủ và người dân hai quốc gia Nhật-Hàn  vẫn còn tự nguyện đài thọ quân phí cho gần 100.000 binh sĩ Mỹ hiện diện trên lãnh thổ  mình canh giữ  cho sự an toàn của nền an ninh quốc gia để họ rảnh tay dồn nỗ lực phát triển kinh tế .
Có ai vui vẻ trả tiền cho một đạo quân có bản chất “đế quốc xâm lược” ăn ngủ hơn nữa thế kỷ trên đất nước mình và vẫn còn tiếp tục như thế không !?
Ngược lại thật là mỉa mai cay đắng , đất trời biên giới biển đảo chủ quyền Việt Nam lại bị “ đồng chí 4 tốt 16 vàng” CS/Trung Quốc xâm lược chiếm đoạt ?? . Giữa Mỹ và Trung Quốc ai mới đích thị là “đế quốc xâm lược” Việt Nam ?
Những thực tế nói trên đã có đủ ý nghĩa để “giải phóng” cái hình ảnh đế quốc Mỹ xâm lược trong tư duy bệnh hoạn bịp bợm lừa dối nhân dân của “đảng ta” chưa  – Hởi các “ngài” chóp bu CSVN ?
Bên cạnh đó, mới đây thôi đồng bào trong và ngoài nước đã chứng kiến một sự “Giải Phóng” tư duy con người CSVN đầy ý nghĩa …
Ngày 25/2/2014 tại Genève (Thụy Sĩ) Ông Đặng Xương Hùng, đảng viên CSVN cựu Lãnh sự Việt Nam tại Genève (2008-2012), cựu Vụ Phó Bộ Ngoại giao CH/XHCN/VN trong bài thuyết trình trước Summit for Human Rights and Democracy ông lên tiếng với cộng đồng nhân loại văn minh trên thế giới bằng lời lẽ tâm huyết như sau ( nguyên văn, trích đoạn) :

Ông Đặng Xương Hùng, đảng viên CSVN nguyên Lãnh sự Việt Nam tại Genève (2008-2012), nguyên Vụ Phó Bộ Ngoại giao CH/XHCN/VN .
                             “ Thưa các Quý vị và các bạn,
Tôi tên là Đặng Xương Hùng, cựu Lãnh sự Việt Nam tại Genève (2008-2012), cựu Vụ Phó Bộ Ngoại giao CH/XHCN/VN đã quyết định ly khai từ bỏ Đảng cộng sản Việt Nam từ 18/10/2013. Tôi xin cảm ơn UN Watch đã cho tôi cơ hội để đề cập đến tình phi dân chủ và vi phạm nhân quyền ở Việt Nam. Đây cũng là lý do dẫn đến việc tôi quyết định ly khai đảng CSVN.
Tôi vào đảng cộng sản năm 1986. Lúc đó đảng đang có những cố gắng đổi mới. Lúc bức tường Berlin sụp đổ, đã có một vài nhân vật có tư tưởng dân chủ xuất hiện như Trần Xuân Bách, Nguyễn Cơ Thạch, Trần Quang Cơ. Nhưng họ nhanh chóng bị loại ra khỏi guồng máy lãnh đạo. Những tư tưởng dân chủ vừa nhen nhóm đã bị dập tắt.
Sau khi hệ thống xã hội chủ nghĩa quốc tế đã sụp đổ, đảng cộng sản Việt Nam vẫn tiếp tục theo đuổi chủ nghĩa Mác-Lê Nin một cách mù quáng, khước từ việc tiếp thu những tư tưởng dân chủ và nhân quyền đã trở thành phổ quát, từ đó họ đã đưa đất nước và dân tộc Việt Nam đến tình trạng khủng hoảng toàn diện như hiện nay. Từ đây tôi cũng lý giải được câu hỏi: “Tại sao Việt Nam không có tự do và nhân quyền?”. Chính đảng cộng sản là cội nguồn sinh ra mọi sự suy vong của đất nước. Trước tình hình Việt Nam ngày càng nguy cấp, tôi không thể tiếp tục im lặng mà phải công khai bày tỏ thái độ: dứt khoát từ bỏ đảng cộng sản. Lúc này đây, tôi muốn hô to với thế giới bên ngoài rằng: 
- Đất nước chúng tôi đang lâm nguy!
- Đồng bào tôi đang bị đàn áp dưới chế độ cộng sản!
- Hãy quan tâm đến tình hình nhân quyền và dân chủ của Việt Nam!
Chế độ hiện tại là chế độ độc tài, đảng trị, phục vụ quyền lợi của những người cầm quyền. Điều 4 Hiến pháp – được sửa đổi và có hiệu lực từ 1/1/2014 – quy định Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng cầm quyền tại Việt Nam, đồng thời là chính đảng duy nhất được phép hoạt động. Chủ nghĩa Mác-Lê Nin coi luật pháp chỉ là công cụ đàn áp của giai cấp thống trị. 
Hệ thống bộ máy nhà nước được xây dựng và tổ chức nhằm mục tiêu cơ bản là bảo vệ sự cai trị của đảng lên toàn xã hội, coi nhẹ nhiệm vụ bảo vệ lợi ích của công dân. Do đó, Nhà nước Việt Nam không có thái độ tôn trọng quyền của người dân. Những lãnh đạo cộng sản hiện nay đã trở thành những nhà tư bản đỏ. 
Lực lượng công an, cảnh sát được xây dựng hùng hậu. Thay vì tập trung vào nhiệm vụ chính là bảo đảm an ninh và trật tự xã hội họ lại đổ nhiều công sức vào việc theo dõi, trấn áp và ức hiếp nhân dân. Trong thể chế xã hội chủ nghĩa, công an là công cụ bảo vệ sinh mạng của chế độ – nên họ được dung túng như một lực lượng kiêu binh. Tôi rất tâm đắc với khuyến nghị của một quốc gia trong kỳ kiểm điểm định kỳ vừa rồi là Việt Nam nên đào tạo kiến thức về nhân quyền cho lực lượng công an.
Các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp (Quốc hội, Chính phủ, Tòa án) đều là bộ máy của đảng, phục vụ mục đích cai trị của đảng. Tôi đã từng phát biểu rằng Quốc hội Việt Nam chỉ là một chi bộ của Đảng. Vừa rồi, trước những đòi hỏi chính đáng và thiết tha của trí thức và nhân dân, Quốc hội vẫn bỏ phiếu thông qua sửa đổi Hiến pháp với tỷ lệ 98%. Các đại biểu Quốc hội không thể làm khác được vì họ đều là đảng viên CS. (hết trích) (**) .
Trước đó sau khi công khai tuyến bố từ bỏ đảng CS ông Đặng Xương Hùng đã từng nhận xét phát biểu :
Thực ra trên toàn thế giới chỉ còn có Trung Quốc, Việt Nam, Cuba và Bắc Triều Tiên là còn theo chủ nghĩa cộng sản thì một người bình thường người ta cũng thấy điều đó là một sự vô lý rồi ”…(***)
Ông nói với hành động nhận xét này , ông tố cáo “sự độc tài” của chế độ CS/Hà Nội, Ông hy vọng quyết định này sẽ khiến một số đảng viên khác noi theo .
Thật vậy, trong hơn 180 quốc gia thế giới tự do đa nguyên dân chủ hiện nay thì chỉ còn sót lại 4 chế độ độc tài CS, trong đó CSVN là một, vẫn độc tài toàn trị theo chủ nghĩa CS, đúng như lời ông Đặng xương Hùng nói, khi hầu hết mọi chế độ CS đã từ bỏ nó thì các chóp bu CSVN vẫn khư khư ôm lấy  thì “người bình thường người ta cũng thấy điều đó là một sự vô lý rồi”… Huống chi là ông, một viên chức ngoại giao và hơn thế, cả cái bộ chính trị với bầy đàn các chóp bu gọi là lãnh đạo CSVN, chắc chắn củng phải thấy điều đó khi họ biết ăn ngon mặt đẹp và mắt họ không bị chột con nào ! Vậy mà họ cứ một mực tung hô trước đồng bào mình rằng : “CS/XHCN là khát vọng của nhân dân (Việt Nam) ta” !?
Một thứ chủ nghĩa CS lạc hậu đầy tội ác, nhân loại đang kinh tởm lên án từ bỏ chôn lấp nó mà lại lấy đó làm “khát vọng” cho dân tộc mình !?
Chỉ có phường bịp bợm,lưu manh, lấy vinh thân phì gia cho cá nhân gia đình đặt lên trên lợi ích của quốc gia dân tộc, phản bội lại nhân dân những người đang nuôi dưỡng mình mới hành xử như thế .
“ Một trong những hành vi vô liêm sĩ mất nhân cách rất xấu hổ của một công dân,một con người là bịp bợm lừa dối dân tộc, gia đình và ngay cả với chính bản thân mình ” .
Ai là đối tượng liên quan đến nhận xét nói trên ? Cụ thể, không nhầm lẫn chút nào, dễ nhận diện ra nhất, đó chính là các chóp bu gọi là “lãnh đạo” của đảng CSVN hiện nay .
Hoàng Thanh Trúc
(*) http://www.erct.com/2-ThoVan/DLMo/12men/00-Muc_luc.htm
(**) danlambaovn.blogspot.com/…/bai-thuyet-trinh-cua-ang-xuong-hung-tai.
(***)http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/intervw-d-x-hung-02042014051700.html


30-4: Ngày cuối cùng của miền Nam tự do

Sợ “Giải phóng”, người Miền Nam tháo chạy ra Thái Bình Dương

Cuộc di tản vẫn tiếp tục trong đêm cho đến rạng ngày 30 tháng 4, tuy nhiên con số người Mỹ còn lại ở Sài Gòn vẫn còn nhiều. Vào lúc 1 giờ 30 sáng, Ngoại trưởng Kissinger ra lệnh cho Tòa đại sứ Mỹ phải kết thúc việc di tản vào lúc 3 giờ 45 sáng, giờ Sài Gòn, và Đại sứ Martin phải ra đi trên chuyến trực thăng trước chuyến bay cuối cùng. Tuy nhiên đến 3 giờ 45 sáng, vẫn còn có trên 400 người tại toà đại sứ Mỹ trong đó có cả Đại sứ Martin. Vào lúc 4 giờ 20 sáng, Đô Đốc Gayler đã quyết định kết thúc cuộc di tản và tất cả các phi công đều nhận được lệnh như sau: “Đây là lệnh của Tổng thống Hoa Kỳ và lệnh này phải được chuyển lại bởi bất cứ phi công trực thăng nào liên được với Đại Sứ Graham Martin. Chỉ có người Mỹ mới được phép di tản và Đại Sứ Martin phải đáp chuyến trực thăng đầu tiên. Phi cơ chở đại sứ Martin phát đi ám hiệu “Tiger, Tiger, Tiger” để báo cho biết rằng ông Martin đã được di tản”.
Vào lúc 4 giờ 58 sáng ngày 30 tháng 4, Đại Sứ Martin”bị hộ tống” lên trực thăng mang tên là Lady Ace 09, trên chiếc trục thăng này một phân đội Thuỷ Quân Lục Chiến đã được lệnh bắt giữ ông đại sứ để áp tãi lên phi cơ nếu ông ta còn chống lại lệnh di tản. Đại Sứ Hoa Kỳ Graham Martin đã cố tình cưỡng lại lệnh của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ nhưng ông lại là ân nhân của một số người Việt Nam vì nếu không có ông thì họ không có may mắn được di tản ra khỏi Sài Gòn trong những ngày cuối cùng của tháng 4 năm 1975. Theo Ngoại Trưởng Kissinger thì Đại Sứ Martin đã phối hợp di tản được 6,000 ng­ời Mỹ và trên 50,000 người Việt Nam ra khỏi Sài Gòn.
Sau khi Đại Sứ Martin bị hộ tống lên trực thăng, trong toà đại sứ lúc đó vẫn còn gần 200 người Mỹ mà trong số đó có 170 người là lính Thuỷ Quân Lục Chiến có nhiệm vụ bảo vệ cho chiến dịch di tản. Cuộc di tản vẫn tiếp tục cho đến đúng 7 giờ 53 phút sáng ngày 3O tháng 4 năm 1975 thì chiếc trực thăng CH-46 cuối cùng mới rời khỏi sân thượng của toà Đại Sứ Hoa Kỳ ở Sài Gòn mang theo Trung sĩ Juan Valdez, người lính Mỹ và cũng là người Mỹ cuối cùng rời khỏi Việt Nam.
Chuyến phi cơ trực thăng cất cánh khỏi sân thượng của tòa đại sứ Mỹ vào hồi 7 giờ 53 phút sáng ngày 30 tháng 4 năm 1975 này đánh dấu sự kết thúc của chính sách “ủng hộ miền Nam Việt Nam chiến đấu chống lại sự bành trướng của chủ nghĩa Cộng sản trong vùng Đông Nam Á của Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ qua 5 đời tổng thống:
Eisenhower, Kennedy, Johnson, Nixon và Ford trong hơn 20 năm. Đối với người Mỹ, cuộc chiến tranh đã chấm dứt nhưng đối với một số người Việt Nam thì cuộc chiến vẫn chưa tàn. Vào ngày 30 tháng 4, có một số chiến sĩ trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa vẫn còn tiếp tục chiến đấu dù rằng trong vô vọng.
Duơng Văn Minh Ra Lệnh Đầu Hàng
Vào lúc 10 giờ 24 sáng ngày 30 tháng 4 năm 1975, “Tổng thống” Dương Văn Minh đã đọc nhật lệnh trên đài phát thanh Sài Gòn ra lệnh cho tất cả mọi quân nhân thuộc Quân Lực VNCH phải buông súng đầu hàng. Ông Dương Văn Minh đã tuyên bố như sau:
“Đường lối, chủ trương của chúng tôi là hòa giải và hòa hợp dân tộc để cứu sinh mạng đồng bào. Tôi tin tưởng sâu xa vào sự hòa hợp hòa giải gữa người Việt Nam để khỏi phí phạm xương máu của người Việt Nam. Vì lẽ đó, tôi yêu cầu tất cả các anh em chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa hãy bình tĩnh ngưng nổ súng và ở đậu thì ở đó.
“Chúng tôi cũng yêu cầu anh em chiến sĩ Chính Phủ Cách Mãng Lâm Thời Cộng Hòa miền Nam ngưng nổ súng, vì chúng tôi ở đây đang chờ gặp Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam để cùng nhau thảo luận lễ bàn giao chính quyền trong vòng trật tự, tránh sự đổ máu vô ích cho đồng bào.”
“Thủ tướng “Vũ Văn Mẫu cũng đọc lời kêu gọi mọi tầng lớp dân chúng hãy chào mừng “ngày Hoà bình cho Dân tộc Việt Nam” và ra lệnh cho mọi công chức phải trở về nhiệm sở. Chuẩn Tướng Nguyễn Hữu Hạnh, Tổng Tham Mưu Phó Quân Lực VNCH nhân danh Trung tướng Vĩnh Lộc, Tổng Tham Mưu trưởng (vắng mặt), ra lệnh cho tất cả mọi quân nhân các cấp phải nghiêm chỉnh thi hành lệnh của ” tổng thống” Dương Văn Minh về vấn đề hưu chiến.
Dương Văn Minh cũng đưa ra lời kêu gọi những “người anh em bên kia” hãy ngưng mọi hoạt động gây hấn và ông ta nói rằng chính quyền của ông đang chờ đợi được gặp gỡ chính phủ Cách Mạng Lâm Thời Miền Nam Việt Nam để cùng thảo luận về ” buổi lễ bàn giao quyền hành và để tránh đổ máu cho nhân dân.” Dương Văn Minh không hề đề cập đến cũng như không đưa ra lời kêu gọi nào với Cộng sản Bắc Việt, lúc đó dường như ông cố tình làm như không biết việc chính Cộng sản Bắc Việt mới là những người lãnh đạo hàng ngũ những ” người anh em bên kia” của ông.
Ông Dương Văn Minh chỉ kêu gọi những “người anh em bên kia” trong cái gọi là “chính phủ cách Mạng lâm thời Miền Nam Việt Nam”, chắc là ông ta đã nghĩ đến những người lãnh đạo trong cái chính phủ này như Nguyễn Hữu Thọ, Huỳnh tấn Phát, Nguyễn Thị Bình v.v, nhưng ông ta không biết rằng những người mà ông ta kêu gọi đó không hề có một quyền hành nào, còn những kê có quyền hành lúc đó như Lê Đức Thọ, Ván Tiến Dũng, Phạm Hùng, ba ủy viên Bộ Chính trị đại diện cho Hà Nội đang thực sự nắm toàn quyền trong chiến dịch Hồ Chí Minh thì ông ta không có đả động tới.
Thượng Tướng Bắc Việt Văn Tiến Dũng, Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Đội Nhân Dân Bắc Việt và đồng thời cũng là Tư Lệnh Chiến trường Miền Nam Việt Nam lúc đó đang nghe lời kêu gọi của Dương Văn Minh trên đài phát thanh Sài Gòn. Ngay sau đó, thay vì tiến về Sài Gòn để “bàn giao” như lời kêu gọi của Dương Văn Minh, Văn Tiến Dũng đã ra lệnh cho “tất cả các quân đoàn, các vùng quân sự và mọi đơn vị các cấp phải tiến càng nhanh càng tốt đến các mục tiêu đã được chỉ định ở sâu trong các đô thị cũng như các tỉnh, kêu gọi địch quân đầu hàng, giao nạp vũ khí và bắt giữ tất cả các sĩ quan từ cấp thiếu tá trở lên; đập tan ngay tức khắc mọi mưu toan kháng cự. “
Ông “Tổng Thống” Dương Văn Minh không thể nào biết được rằng trưa ngày hôm đó, Bộ Chính Trị và Quân ủy Trung ương đã gửi điện văn số 516/TV ra lệnh cho các cấp lãnh đạo Chiến dịch Hồ Chí Minh phải “bắt địch đầu hàng vô điều kiện”:
“vấn đề hiện nay là bắt địch đầu hàng không điều điện chứ không phải cử người thương lương với địch để ngưng bắn tại chỗ như có nơi đã làm.
Những nơi địch chịu đầu hàng: ta kéo quân vào bắt địch, hạ vũ khí và tước vũ khí của chúng, giải tán quân đội và bộ máy chính quyền của địch, phát động quân chúng truy kích, tiêu diệt bọn gian ác và phản động còn ẩn nấp chống lại ta.
Những nơi địch không chịu đầu hang: ta cần phát động quần chúng nổi dậy, kêu gọi binh sĩ khởi nghĩa kết hợp với mũi tấn công đánh vào các điểm then chốt của địch, tiêu diệt những đơn vị ngoan cố chống lại ta, buộc chúng phải đầu hàng không điều kiện.
Phải đặc biệt chú ý chiếm lĩnh, khống chế các sân bay không để chúng sử dụng các máy bay để chống lại ta và tẩu thoát”.*198
Ngoài bức điện văn nói trên, chính Võ Nguyên Giáp thay mặt cho Bộ Chính Trị và Quân ủy Trung ương cũng đã gửi bức điện văn số 151 ngày 3O tháng 4 năm 1975 gửi cho “anh Sáu” tức là Lê Đức Thọ, “anh Bảy” tức là Phạm Hùng, “anh Tuấn” tức là Văn Tiến Dũng, “anh Tư” tức là Trần Văn Trà và “anb Tấn” tức là Lê Trọng Tấn nội dung như sau:
“Theo ý kiến của Bộ Chính Trị và Quân ủy trung ương,
1.việc chỉ đạo Ủy Ban Quân Quản Sài Gòn-Gia định (kể cả những mệnh lệnh, tuyên bố) giao cho Trung Ương Cục và Quân Ủy Miền phụ trách.
2.Hôm nay sẽ ra một lời kêu gọi của Bộ Chỉ Huy Quân giải Phóng. Chúng tôi đang dự thảo và cho phát.
3.Có thể dùng Dương Văn Minh để kêu gọi các đơn vị của địch hạ vũ khí, nhưng không phải với tư cách Tổng thống mà chỉ với tư cách một người đã sang hàng ngũ nhân dân. *198: Đại Thắng Mùa Xuân, trang 329-331.
4. Sẽ tuyên truyền lớn về thắng lơi giải pbóng Sài Gòn-Gia Định, nhưng nhấn mạnh cuộc chiến đấu đang tíếp tục nhằm hoàn toàn giải phóng miền Nam. Đã chỉ thị chuẩn bị ngày mừng chiến thắng, sau khi hoàn thành việc giải phóng miền Nam sẽ tổ chức thống nhất cả nước. Anh Tố Hữu sẽ có điện cho các Anh.
5. Mười một giờ đã nhận được tin ta cắm cờ trên Dinb Độc Lập.
Gửi các anh lời chúc đại thắng lơi.
Các anh Bộ chính Trị rất vui, rất vui . . . VĂN*199
Như vậy thì trước khi xe tăng của Cộng sản Bắc Việt ủi cổng sắt- đã được mở rộng- để vào chiếm Dinh Độc Lập, nơi mà ông “Tổng thống” Dương Văn Minh cùng với các ông “phó Tổng thống” Nguyễn Văn Huyền, “thủ tướng” Vũ Văn Mẫu cùng với một số nhân viên trong “nội các” của họ để chờ “bàn giao” cho Cộng sản thì các giới lãnh đạo ở Hà Nội đã quyết định không coi ông như là “tổng thống” mà chỉ là “một ngưới đã sang hàng ngũ nhân dân,” tức là một kẻ đầu hàng, “đầu hàng không điều kiện” như đã nòi trong văn thư số 505 cùng ngày. Các sĩ quan Cộng sản cấp dưới cũng đã nhận được lệnh này cho nên đối với họ thì những người tự nhận là tổng thống, phó tổng thống, thủ tướng v.v. đang ngồi trong Dinh Độc Lập chỉ là những kẻ đầu hang mà thôi.
Bởi vậy, vào lúc 12 giờ 15 trưa ngày 30 tháng 4, khi chiến xa mang số 879 của Lữ Đoàn Thiết Giáp 203 của quân đội cộng sản Bắc Việt ủi sập hàng rào sắt tiến thẳng vào Dinh Độc Lập, “Tổng thống” Dương Văn Minh thấy vị sĩ quan Cộng Sản đeo đầy sao vàng trên cầu vai nền đỏ, vì không biết cấp bậc của quân đội Nhân dân miền Bắc nên ông Minh tưởng rằng đang đứng trước một tướng lãnh cao cấp: *199: văn kiện Đảng: trang 332-333.
“Thưa Quan Sáu, tôi đã chờ ông từ ban sáng để trao quyền cho ông”.
Viên sĩ quan Bắc Việt chỉ huy đoàn chiến xa này là Thượng Tá Bùi Tùng đã dùng danh từ “mày tao “ xằng giọng hách dịch và đanh đá lên tiếng:
“Mày dám nói trao quyền hả? Mày chỉ là một kẻ cướp quyền và một bù nhìn. Mày làm gì có quyền nào để trao cho tao? Chúng tao lấy được quyền đó bằng khẩu súng này đây.
Ngoài ra tao xác nhận với mày là tao không phải là tướng mà chỉ là một trung tá ủy viên chính trị của một đơn vị chiến xa. Kể từ bây giờ tao cấm mày không được ngồi xuống!” *2OO
Người thuật lại những lời đối thoại trên là cựu Đại Tá Dương Hiếu Nghĩa, một người rất thân cận với ông Dương Văn Minh. Vào năm 1963 ông là Thiếu Tá ngành Thiết giáp, đã theo tướng Dương Văn Minh đảo chánh Tổng Thống Ngô Đình Diệm và đã được Dương Văn Minh tin cậy cử vào phái đoàn đi vào Chợ Lớn “đón” ông Diệm. Trên đường về Bộ Tổng Tham Mưu, Tổng Thống Ngô Đình Diệm và ông Cố vấn Ngô Đình Nhu đã bị giết trên xe thiết vận xa M-113 kể lại theo lời của Trung Tá Nguyễn Văn Binh, cựu Quận Trưởng Gò Vấp, cựu dân biểu, có mặt tại Dinh Độc Lập vào trưa ngày 30 tháng 4 năm 1975 khi quân Bắc Việt chiếm Sài Gòn. (Xuân Thời Luận, Califonia 2004, trang 141.), và từ đú cho đến nay, có nhiều người vẫn còn có nghi vấn là ông Dương Hiếu Nghĩa có thể là một trong những người có trách nhiệm trong cái chết của Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Chắc chắn rằng ông Dương Hiếu Nghĩa không phải là kẻ thù hay có hiềm khích với ông Dương Văn Minh mà đặt điều viết lại sự đối thoại trên đây nếu chuyện đó không có thật. *200 Dương Hiếu nghĩa : “Hồi Ký Dang Dở,”
Chiều hôm đó, Cộng sản không cho phép Dương Văn Minh đọc lởi đầu hàng tại Dinh Độc Lập tức là Phủ Tổng Thống của VNCH, họ đã áp giải ông đến đài phát thanh Sài Gòn để đọc lời kêu gọi như sau:
“Tổng Thống chính quyền Sài Gòn kêu gọi Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa hạ vũ khí, đầu hàng vô điều kiện quân Giải phóng Miền Nam Việt Nam. Tôi tuyên bổ chính quyền Sài Gòn, từ trung ương đến địa phương phải giải tán hoàn toàn. Từ trung ương đền địa phương trao lại cho chính phủ Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam”.
Ngay buổi chiều ngày 30 tháng 4, Đài Phát Thanh Giải Phóng loan báo kể từ nay, thành phố Sài Gòn được cải danh là ” thành Phố Hồ Chí Minh”.
Kể từ ngày hôm đó, ngày 30 tháng 4 năm 1975, Sài Gòn đã mất tên, Sài Gòn không còn nữa.
Kể từ ngày hôm đó,
Quốc gia Việt Nam Cộng Hoà không còn nữa.
Và cũng kể từ ngày hôm đó, tại Miền Nam Việt Nam Tự Do cũng không còn nữa.
04-29-2014Trần Đông PhongNguon: HNSG2015

Cho các con một ngày 30 tháng 4

1975-2014, đã 39 năm trôi qua. Lúc ấy mẹ mới 28 tuổi, tuổi đẹp cho cuộc đời, cho sự nghiệp. Bố trong binh nghiệp như tất cả các chàng trai thời ly loạn.

Khi ấy bố mẹ mỗi người một nơi, người ở Đồng Tâm- Mỹ Tho, người ở Saigon. Trong 5 năm sau đám cưới, 1970-1975, bố mẹ ở cạnh nhau chẳng được bao nhiêu. Sát 30 Tháng 4, trong bệnh viện nơi mẹ làm việc vắng dần bạn hữu. Bà nha sĩ cùng phòng hỏi mẹ di tản thế nào. Bố con thì ở xa, điện thoại khó liên lạc vì đơn vị Bố luôn thay đổi chỗ, để theo lệnh hành quân. Sự hoang mang lên đến cùng cực, với tiếng trực thăng đêm ngày bay trên bầu trời, như thúc giục, như đe doạ một việc gì sắp xảy ra.
Rồi 30 Tháng 4 năm 1975 ấy, lịch sử sang một trang mới. Nói đến bao giờ cho hết những tang thương, những thay đổi. Cho đến nỗi, có người đã viết - mỗi người trong chúng ta lúc bấy giờ, đều có riêng một ngày 30 Tháng 4.
Chỉ 39 năm, gia đình ta đã trải qua bao dâu bể của cuộc đời. Bồng bế các con qua tái định cư ở Hoa Kỳ, với sự khác biệt quá xa của hai xã hội, ngôn ngữ, cách sống và muôn vàn khó khăn khác, cả nhà mình đã cố gắng biết bao để có được ngày hôm nay.
Các con qua Mỹ lúc còn quá nhỏ, 6 và 4 tuổi, thì làm sao biết được và có được một ngày 30 Tháng 4 của riêng mình. Có chăng là các con tìm qua sách vở, qua Internet.


"Chỉ còn đây cờ vàng cạnh cờ Hoa Kỳ, nhắc các con nhớ lại những gì cha ông ta đã anh dũng chiến đấu, đã buồn bã chia tay với quê nhà."

***
Đến ít lâu trước ngày 30 Tháng 4, 2010, nhân kỷ niệm 35 năm ngày Sài Gòn sụp đổ, Hàng không mẫu hạm USS Midway mang số 41 (Aircraft Carrier 41) dành một ngày đúng vào 30 Tháng 4 cho người Việt Nam lên tàu để làm lễ tưởng niệm 35 năm tàu này trong chiến dịch mang tên “Operation Frequent Wind” đã chuyên chở hàng trăm người Việt Nam trốn chạy khỏi Sài Gòn. Ngày đó có một sự việc xảy ra thình lình không nằm trong công việc của tầu được giao phó, đó là một chiếc Cessna do một sĩ quan không quân Việt Nam Cộng Hoà chở theo vợ và 5 đứa con trốn chạy từ Việt Nam bay ra Thái Bình Dương, muốn đáp xuống tầu Midway này. Thật nguy hiểm để đáp, thế mà người phi công Việt Nam này đã liều thân, và may thay, đáp xuống an toàn. Một chi tiết đó thôi, đã biết bằng cách nào họ cũng liều để vượt thoát.
Chiếc Cessna này được lưu giữ trong tầu, họ còn làm những hình nộm gia đình vị sĩ quan không quan ấy gồm 2 vợ chồng và 5 con cho chúng ta thưởng lãm.
Sáng 30 Tháng 4, 2010, hai con và bố mẹ cùng nhau xuống San Diego từ sáng sớm, cạnh biển, chiếc Hàng không mẫu hạm Midway 41 to lớn choán một phần đẹp nhất của bãi biển xinh đẹp San Diego. Cờ Hoa Kỳ và cờ vàng ba sọc đỏ treo kín một bên thân tầu, ngạo nghễ và tươi thắm dưới bầu trời xanh màu ngọc. Người Việt ta kéo đến, xếp hàng lên tầu, nét mặt chút trầm tư như đang trở về dĩ vãng, nghĩ đến ngày này, năm ấy, mình đang ở đâu, làm gì.
Trong cái ngày cuối cùng của chế độ, lòng như lửa đốt, sân bay Tân Sơn Nhất im vắng, mọi ngã đường đổ về bến Bạch Đằng, ghe nhỏ chòng chành vật vã đẩy người cố leo lên, văng xuống sông, lúc đó trên những khuôn mặt thất thần, nhìn đâu cũng là đường cùng, quanh đây là giây kẽm gai, những người lính cầm súng sẵn sàng nhả đạn. Chỉ một đường giây kẽm gai kia, một bên là Tự Do, một bên là Tử Thần chờ đợi.
Sợ quá, tắm máu, xử tử, bỏ tù. Chỉ còn một đường là tìm cách thoát thân. Trên đường về nhà, cảnh hôi của, người thoát khỏi nhà tù, hỗn loạn, nguy hiểm vô cùng. Ông bà ngoại đóng cửa ở trong nhà, có đi đâu cũng dùng cửa sau, bà hàng xóm đập cửa sau, rủ cả nhà ra kho 11 vì có tầu đón. Ai nấy như người tê liệt, đông cứng, không biết làm gì, chẳng đói, không khát, chỉ nhìn nhau, và một ngày trôi qua.
Bây giờ nhà mình đang ở San Diego, Hoa Kỳ, bức tượng người lính Hải Quân ôm hôn một cô gái không quen, như một bày tỏ mừng vui khôn xiết khi chiến tranh kết thúc, đứng từ xa đã thấy, như một biểu tượng của nền hòa bình vừa lập lại.
Nhìn qua Hàng không mẫu hạm Midway, cờ tung bay trong gió lành, chiến tranh đã xa.
Chúng ta đi thăm tàu, tàu thật lớn, có những góc lịch sử, được giữ lại như một viện bảo tàng. Trên boong tầu, ghế ngồi được xếp ngay ngắn nhìn vào một khán đài, chờ buổi lễ vào giữa trưa, có phải họ cũng chờ những giây phút sau lời đầu hàng, chấm dứt một cuộc đời của một quốc gia 30 Tháng 4 của 35 năm trước?
Người Việt ta ở đâu đến đông thế, ai nấy đều có chút màu đen trên áo, cái “nơ” đen được phát như để tang cho đất nước thân yêu đã không còn tên trên bản đồ thế giới, chỉ còn đây cờ vàng cạnh cờ Hoa Kỳ, nhắc các con nhớ lại những gì cha ông ta đã anh dũng chiến đấu, đã buồn bã chia tay với quê nhà.
Các con thấy không, các bác đã lặng người với quốc kỳ, quốc ca, có mặt ở nơi đây, đông đủ, nhắc cho các con biết là mình đều có một ngày 30 tháng 4, cho dù hai con chưa ra đời năm 1975. Bố Mẹ và các con đến đây, dự ngày 35 năm mất nước, các con cũng có một ngày 30 tháng 4 đấy, tinh thần ấy, sẽ được nối tiếp hàng năm, đó là tinh thần yêu nước.
Chúng ta ra về, cùng đoàn người tay cầm nhiều lá cờ vàng nhỏ, nắng vẫn chan hoà, cảnh cảng San Diego, chiếc cầu Coronado cong cong, thật yên bình. Nhìn xuống cái “nơ” đen, mắt nhòa giòng lệ.
Và các con à, bố mẹ đã cho các con một ngày 30 tháng 4.

04-28-2014 4:32:09 PM
Bài và hình: Phạm Ngọc Lộ - Nguyễn Ngọc Dung

Thợ bịp kiêm lưỡi gỗ Nguyễn Thanh Sơn

Ông thợ bịp Nguyễn Thanh Sơn không từ bỏ bất cứ dịp nào, ở đâu để trổ tài bịp không bao giờ biết ngượng miệng. Cái miệng lưỡi gỗ đã thành truyền thống không đổi của ngành ngoại giao CSVN.



Thứ trưởng Bộ Ngoại giao CSVN Nguyễn Thanh Sơn (thứ hai từ phải sang) và các 'kiều bào' thăm mộ ở Nghĩa trang Bình An. (Hình: Pháp luật TP)

Trên báo Pháp Luật Thành Phố ở Sài Gòn ngày Thứ Hai 28/4/2014, tường thuật chuyện ông Thứ trưởng Ngoại Giao CSVN Nguyễn Thanh Sơn đưa vài “kiều bào” đến thăm nghĩa trang quân đội ở Biên Hòa sau khi đã đưa họ tới một vài đảo tại quần đảo Trường Sa. Tờ báo trưng ra hình và lời phát biểu của 3 người là ông David Nguyễn (Houston,TX), ông Lý Kiến Trúc (quận Cam Calfornia) và ông Bùi Duy Tâm (San Francisco, California).

Trong bản tin này, tờ Pháp Luật Thành Phố kể là “Ông Sơn chỉ vào một ngôi mộ và nói: “Đây là ngôi mộ các anh làm từ năm 1975, người dân đã quét vôi lại cho các anh”. Chỉ vào tấm bia mộ cũ mang tên hạ sĩ Hà Hữu Lộc, Tiểu đoàn 4, Trung đoàn 43, ông Sơn tiếp: “Bia mộ vẫn còn nguyên phiên hiệu, đơn vị…Những ngôi mộ thế này xây từ ngày xưa có ai phá đâu. Chân lý ở đâu, sự thật ở chỗ nào khi các anh cứ hô hào, kêu gọi chống cộng, nói rằng cộng sản không làm gì cho nghĩa trang. Trong khi đồng đội quý vị nằm đây, một cent quý vị cũng không đóng góp. Nếu đất nước không có đại đoàn kết thì những ngôi mộ kia có còn những tấm bia nguyên vẹn như vậy không?”.

Trước hết là chuyện “còn nguyên”. Suốt nhiều chục năm trời, Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa nơi an nghỉ của khoảng 16,000 tử sĩ VNCH, từng thuộc quyền quản trị của quân đội CSVN, không ai được đặt chân tới. Tượng “Tiếc Thương” (tác giả là điêu khắc gia Nguyễn Thanh Thu) dựng ở cổng vào đã bị giật đổ. Cỏ dại, cây dại mọc um tùm thành một thứ rừng hoang che lấp tất cả các ngôi mộ.


Một ngôi một với bia bị vỡ, hư hại, khác với lời tuyên truyền của ông Nguyễn Thanh Sơn. (Hình: Internet)

Nhà cầm quyền tỉnh Bình Dương từng có kế hoạch mở một con đường xa lộ xuyên qua nghĩa trang này. Nếu không có sự vận động của một tổ chức người Việt tại Hoa Kỳ với Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ để vận động với Bộ Ngoại Giao CSVN, duy trì nghĩa trang quân đội VNCH vì lý do nhân đạo thì nghĩa trang này ngày nay đã biến mất.

Cho đến khi ông thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cho chuyển quyền quản trị sang cho dân sự thì nghĩa trang này thuộc quyền quản trị của huyện Dĩ An và đổi tên là “Nghĩa trang nhân dân Bình An”. Từ khoảng năm 2006, sau nhiều lần nhờ Bộ Ngạoi Giao Mỹ vận động , tổ chức VAF (Vietnamese American Foundation) mới được chấp thuận cho việc trùng tu lại Nghĩa trang quân đội Biên Hòa với các khoản quyên góp và vận động ngân khoản bên này.

Song song với nhóm VAF, thời gian này, còn có một nhóm khác là QGNT Heritage cũng quyên góp tiền bạc để trùng tu lại các ngôi mộ, cũng qua sự ủng hộ và giúp đỡ của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ. Trong một cuộc phỏng vấn trên báo Người Việt ngày 12/6/2006, ông Nguyễn Duy Linh của QGNT Heritage cho hay, trong chuyến về đầu tiên “mướn người làm sạch cỏ gần 500 ngôi mộ với chi phí khoảng 20,000 đồng VN một ngôi mộ”.

Ông cho biết thêm dịp đó là “Hiện chúng tôi đã ký hợp đồng với công ty để trùng tu khoảng 12,000 ngôi mộ trong tổng số hơn 17,000 ngôi mộ tại nghĩa trang. Công ty đòi giá trung bình 600,000 đồng VN/mộ. Chúng tôi đang thương lượng cho giá thấp xuống”.

Trong một cuộc phỏng vấn của đài RFA ngày 31/8/2013, ông Nguyễn Đạc Thành của hội VAF nói rằng hội của ông đã bắt đầu “tôn tạo lại nghĩa trang quân đội Biên Hòa từ tháng Ba 2012”. Đã hoàn thành một số việc như ông kể: “Tính tới bây giờ thì bốn cầu thang đi vào Nghĩa Dũng Đài đã hoàn tất, chúng tôi đã ủi bứt đi cái nhà vệ sinh, cái vọng gác của bộ đội, làm sạch và tráng xi măng, trồng hoa bên trong Nghĩa Dũng Đài nơi thờ phượng trong đó có Vành Khăn Tang. Tức nhiên là cái vòng tròn cao ở trên thì đắp lại những chỗ bị bể, và ở dưới thì chúng tôi đã ủi bằng phẳng, tráng xi măng lối đi bên trong của Nghĩa Dũng Đài rồi xây con lươn và trồng bông, xây bàn thờ với bức tường đá đen có lư hương, trang trí cây kiểng để quan khách và thân nhân đến viếng thăm nghĩa trang có nơi đặt lễ vật, dâng hương và tưởng niệm người quá cố.”

Ông cho hay thêm là “Chúng tôi có một số anh em, đã bảo trợ cho 20 ngôi mộ, Hai chục ngôi mộ này là xây làm kiểu mẫu để sau này bà con muốn tôn tạo lại mộ thân nhân của mình thì đúng theo những cái mộ đó. Chúng tôi muốn từ đây về sau tu bổ mộ là đúng theo một kiểu, không cao không thấp, bằng nhau để nghĩa trang được khang trang”.

Trong một số dịp trả lời trên báo chí ở Mỹ, ông Nguyễn Đạc Thành (cựu thiếu tá binh chủng thiết giáp, từng đi tù cải tạo rồi sang Mỹ diện HO) cho hay ông được sự hỗ trợ tiền bạc của nhiều người ở Mỹ. Tuy nhiên, việc làm của VAF cũng như QGNT Foundation cũng bị rất nhiều nhóm hay cá nhân người Việt hải ngoại đả kích thậm tệ, coi như mắc bẫy “Nghị quyết 36”.

Trên tờ Pháp Luật Thanh Phố, ông Nguyễn Thanh Sơn đặt câu hỏi là “Nếu nhân dân không tôn trọng, không lấy nghĩa đồng bào, nghĩa tử là nghĩa tận… thì làm gì còn mộ như thế này. Các vị cứ nói cộng sản tàn phá trong khi nghĩa trang thì còn nguyên mộ. 40 năm nay nếu không có nhân dân địa phương chăm sóc, vun đắp thì mộ có còn không?”

Trả lời cho ông Nguyễn Thanh Sơn, ngay trên tờ Thanh Niên ở Sài Gòn ngày 5/2/2013 có một ký sự ngắn về thăm viếng “Nghĩa trang nhân dân Bình An”. Trong đó, kể chuyện “Chú Út”, một người lính tiểu đoàn 6 TQLC  “dọn dẹp mộ phần, hương khói, rồi hướng dẫn thân nhân tìm kiếm” suốt từ những năm 77-78 đến giờ.

Một số bài viết tường thuật của những người tới Nghĩa trang Quân đội Biên Hòa tìm mộ  hay bốc mộ thân nhân đã kể các câu chuyện trả tiền cho một số người dọp dẹp cỏ, nhang đèn tại đây. Nhưng ông Nguyễn Thanh Sơn thì vơ hết công lao tình nguyện vào cho “nhân dân địa phương chăm sóc, vun đắp”. Lại còn sỉ vả là người Việt hải ngoại “một cent quý vị cũng không đóng góp”.

Cái ông thứ trưởng lưỡi gỗ Nguyễn Thanh Sơn từng bị ném đá tới tấp ở bất cứ dịp nào ông ta phát ngôn. Khi người Việt hải ngoại biểu tình chống chủ tịch nước Trương Tấn Sang đến Tòa bạch Ốc hồi Tháng Bảy năm ngoái, Thứ trưởng Ngoại Giao CSVN Nguyễn Thanh Sơn bô bô nói trên “Phố Bolsa TV” rằng “có những người chỉ vì đồng tiền, có những người chỉ vì cuộc sống, có những người chỉ vì một chút thu nhập thêm mà tham gia những hoạt động...” chống ông Sang.

Trong bản tin đài BBC viết về lời bình luận đó của ông Sơn, đài BBC cho hay có khoảng 30,000 lượt người đọc theo dõi và rất nhiều người ném đá. Một người bút danh Tiên lãng viết trên BBC: “Đường đường là thứ trưởng mà chụp mũ rẻ tiền y như “dư luận viên” CSVN quen ăn cắp, vơ vét bán rẻ lương tâm, liêm sỉ vì tiền nên nhìn đâu cũng nghĩ ai cũng có thể bị đồng tiền mua rẻ như họ”.

Cũng trên cái “Phố Bolsa TV”, ông Nguyễn Thanh Sơn trả lời cuộc phỏng vấn nói về việc tiếp xúc với nghị sĩ gốc Việt tại Canada là Ngô Thanh Hải ngày 12/3/2014 tại văn phòng ông nghị sĩ. Trong đó ông Sơn thuật lại rằng Thượng Nghị sĩ (Hải) đã “hoàn toàn nhất trí” với quan điểm của ông ấy về việc Việt Nam đã xử sự hợp tình hợp lý với những người bất đồng chính kiến vi phạm pháp luật Việt Nam cũng như đồng ý với quan điểm của ông Sơn rằng Linh Mục Nguyễn văn Lý là “người quậy phá”.

Khi trả lời phóng viên Tường An của đài RFA về cuộc tiếp xúc đó, ông Ngô Thanh Hải nói rằng chính ông “đã vận động với Bộ Ngoại Giao Canada can thiệp cho  Linh mục Nguyễn Văn Lý đi chữa bệnh thì không lý do gì mà tôi đồng ý với ông Nguyễn Thanh Sơn rằng linh mục nguyễn Văn Lý là người quậy phá cả”.

Chỉ một vài vụ việc như kể trên, cho thấy cái chủ trương tuyên truyền bất chấp sự thật của những kẻ cầm quyền tại Việt Nam vẫn với cái não trạng không hề thay đổi suốt nhiều chục năm qua. Ở cái chức Thứ trưởng Chủ nhiệm Uỷ ban Nhà nước về người VN ở nước ngoài, ông Nguyễn Thanh Sơn lại phải múa lưỡi gỗ tới tối đa phục vụ cho các chủ trương được đề ra trong Nghị quyết 36.

Ở hải ngoại, đặc biệt là ở Mỹ ông chỉ lén lút đi gặp một vài kẻ mà ông coi như một thứ “đại diện” kiều bào để tuyên truyền nhưng chẳng đại diện cho ai. Thách ông loan báo công khai từ trước là ông sẽ tới đâu, gặp ai, lúc nào ở nước Mỹ. Khi đó, ông sẽ biết đám đông “kiều bào” thật sự sẽ đón rước ông thế nào. Chỉ sợ ông chạy như chuột. (TN)

04-28-2014 6:59:46 PM
Tư Ngộ/Người Việt

Video: cảnh khám xét tiệm vàng Hoàng Mai