Showing posts with label Xahoi-TonGiao-QuanDiem-BinhLuan. Show all posts
Showing posts with label Xahoi-TonGiao-QuanDiem-BinhLuan. Show all posts

Friday, May 24, 2024

Phật cũng phải vào biên chế

 Bình luận của blogger Nguyễn Nhơn

Sư Thích Minh Tuệ trò chuyện với người qua đường- Báo Người Lao Động

Hôm qua mưa to mát mẻ. Rảnh hơi, tôi ra vườn bứt một đám bông cúc, ngồi xếp bằng đình huỳnh chơi trò bói hoa.

Người ta hay bói tình yêu, còn tôi là công dân Việt Nam gương mẫu, tất nhiên tôi chơi trò bói thời sự.

Bứt một cánh cúc: Sư quốc doanh.

Bứt cánh thứ hai: Sư ngoài quốc doanh.

Sư ngoài, sư trong

Sư ngoài quốc doanh thì dễ rồi. Mấy tuần nay cả thế giới người Việt chộn rộn lên với ông thầy Thích Minh Tuệ, cái ông ốm teo nhưng rắn như sắt nguội, bận cái y phấn tảo đủ màu, ôm bình bát DIY bằng lòng nồi cơm điện cưa vành, đi bộ du hành học Phật từ Bắc vào Nam. A cái ông thầy này mới thiệt là kỳ: trước giờ thọ thực thì chỉ nhận cơm chay đủ ăn, ăn xong bữa trong ngày rồi thì Phật tử quỳ lạy năn nỉ cũng không nhận nữa. Người ta mang vật thực tới chờ đợi cho thầy thì chỉ nhận một phần, còn nói có các thầy khác cùng đi với mình, chia ra đi cho mỗi thầy một phần. Phật tử tặng tiền thì cười, dứt khoát không nhận, đã vậy sẵn dư một chai nước trong bình bát cầm ra tặng lại cho người ta một chai rồi bỏ đi lập tức. Ngủ thì vô nghĩa trang, cánh đồng, nhà hoang, gió mưa thì quấn y quấn bạt chịu đựng.

Lại còn thêm không xưng là sư, là thầy của bất cứ ai, cũng không tu trong chùa nào, chỉ là một công dân đang tu tập theo Phật. Không giảng pháp cũng không thuyết pháp, chỉ nói chuyện hồn nhiên như đứa trẻ nhưng Phật tử lẫn người ngoài đạo Phật cứ nhìn cách thực hành tu tập của thầy thì một mực đi theo, quét đường, rắc hoa, đảnh lễ, thắp nến, treo bạt che mưa. Thầy ngồi trong nghĩa trang, dân đi theo thắp nhang cầu nguyện cho tất cả các phần mộ quanh đó. Thầy ngồi trên đống sỏi, dân đứng ngồi xung quanh nghe thầy nói chuyện. Thầy ngồi giữa cánh đồng trơ chân rạ, dân xúm xít mang nước, che ô. Khung cảnh thực sự y hệt những gì được viết, vẽ trong các sách Phật về ngày Phật ra đời. Là sự ngưỡng vọng, yêu thương, thành kính và tận tụy một cách tự nhiên, từ trong đáy lòng, không thể dùng cách bắt buộc nào mà tạo ra được.

Không chỉ mình Thích Minh Tuệ mà còn một nhóm các sư, các thầy từ những phái tu học khác nhau trên đường bộ hành học Phật. Họ cùng gặp nhau ở một điểm: dốc lòng muốn trải nghiệm lại những gì Đức Phật đã trải và đã dạy. Họ từ chối những khả năng sở hữu vật chất và cả lời ca tụng.

Còn sư trong quốc doanh?

Dĩ nhiên con số các tăng, các ni có tên chính thức trong các chùa, các cơ sở tự viện của Giáo hội Phật giáo Việt Nam, đồng thời là bậc chân tu hay vừa vừa tu thôi, vẫn là chiếm đa số. Các sư, thầy, tăng, ni đang sống đạo hạnh, chuyên cần tu tập và chăm lo cho đời sống tâm linh an lành của một vùng đất, là chỗ dựa tinh thần của Phật tử là rất nhiều, không thể kể hết.

Xin kính cẩn đảnh lễ họ.

Nhưng…

Các sư to, sư lớn nhưng càn rỡ, xảo quyệt, lừa gạt, dâm dê, tham-sân-si đủ combo, sao mà đếm cũng mỏi tay.

Sư xin tí khí: Đại đức Thích Thanh Toàn, trụ trì chùa Nga Hoàng ở xã Hợp Châu, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc, từng dẫn nữ Phật tử vào thất định giở trò đồi bại.

Sư thích đập hộp: Đại đức Thích Thanh Cường, trụ trì chùa Cương Xá, xã Tân Hưng, TP Hải Dương đăng hình đập hộp iPhone 6 (năm đó mới ra, rất oách) và khoe dùng điện thoại Vertu giá 600 triệu đồng mới “sứng tầm” (thôi thì tha cho sư cái tội khoe của, nhưng viết trên mạng xã hội còn sai chính tả thì nhất quyết không thể tha được). Vẫn trên mạng xã hội, Sư Cường còn khoe ảnh đội mũ bộ đội, mặc áo rằn ri, cầm súng, ngồi ăn bên một bàn tiệc ê hề…

Sư cúng sao giải hạn: Thượng tọa Thích Thanh Quyết trụ trì chùa Phúc Khánh, chùa Non Nước (Hà Nội) và chùa Yên Tử (Quảng Ninh). Chùa làm giàu bằng cách nhận tiền của Phật tử để cúng sao giải hạn. Chùa nổi tiếng từ một lần từ chối cúng sao giải hạn cho một phụ nữ vì chị này thiếu 50.000 đồng so với mức giá chùa đưa ra.

Sư oan gia trái chủ: Đại đức Thích Trúc Thái Minh, trụ trì chùa Ba Vàng ở TP Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh. Sư Minh luôn luôn rao giảng kiếp trước của mỗi con người đều từng gây vô số oan gia, cho nên tất cả các biến cố, bệnh tật hay điều không mong muốn của kiếp này đều do các trái chủ trả thù. Muốn chữa bệnh hay giải trừ mọi điều bất như ý chỉ có một cách duy nhất là cúng dường tiền bạc của cải cho chùa Ba Vàng, cúng càng nhiều càng đạt được ý nguyện. Nếu chưa đạt thì là do cúng vẫn chưa đủ hoặc chưa thành tâm.

Sư giả danh trí thức: Thượng tọa Thích Tuệ Hải, trụ trì chùa Long Hương ở tỉnh Đồng Nai. Lập công ty bán nước tương, gạo lức, muối mè với giá thăng thiên, tuyên bố chữa khỏi hẳn tất cả các bệnh từ viêm gan, ung thư, đến HIV, COVID chỉ với nước tương gạo lức bột sắn dây… do công ty của sư bán ra.

Sư thích tiền chẵn, giảng nhân quả theo kiểu quả táo nhãn lồng: Thượng tọa Thích Chân Quang, trụ trì chùa Phật Quang ở Bà Rịa-Vũng Tàu. Sư giảng:

-Khi còn trẻ mà ham mê du lịch nhiều nơi về già sẽ bị liệt nằm một chỗ.

-Nếu hàng xóm hát karaoke làm mình khó chịu thì dán một cái băng rôn trước cửa nhà họ ghi dòng chữ “Sống hát karaoke, chết làm ma câm”.

-Vong ở Tây đang rất khổ. Họ chỉ muốn qua Việt Nam thôi.

-Nằm võng thì tổn phước.

-Phật tử lấy tiền mệnh giá thấp nhét vào tượng Phật thì năm đó sẽ gặp xui. Lấy tiền mệnh giá cao đưa tận tay thầy trụ trì thì năm đó sẽ gặp hên.

Dân mạng quý thương các vị sư ấy quá, bèn ưu ái tặng thêm nhiều pháp danh có thể xài chung cho (cùng một hạng): Thích Tí Khí, Thích Chuyển Khoản, Thích Tiền Chẵn… Riêng sư Thích Trúc Thái Minh thì tôi xin đặt thêm tên nữa: Thích Sám Hối. Bởi, sau khi bị phạt sám hối đại tăng vì dọa dẫm người dân để kiếm tiền giải oan gia trái chủ cách đây mấy năm, sư Minh lại tiếp tục bày ra trò “xá lợi tóc Phật tự chuyển động” lừa cả đám đông dân chúng u mê khóc rưng rức. Báo chí và truyền thông xã hội làm um lên, buộc Giáo hội Phật giáo Việt Nam không thể làm ngơ. Sau vụ đó, sư Minh lại… xin sám hối!

Không hiểu phong thủy ra sao mà vài năm nay Giáo hội Phật giáo Việt Nam gặp nhiều ca sư hàng độc như vậy. Cũng chẳng hiểu nhân sự thiếu thốn đến mức nào mà các sư bị kỷ luật xong lại tiếp tục được bổ nhiệm giữ chức vụ cũ, để rồi lại … sư quen chùa cũ rất chóng vánh!

Phật Thích Ca Mâu Ni không phải của riêng Giáo hội Phật giáo Việt Nam

Vào buổi tối  16/5, đùng phát có công văn của Giáo hội Phật giáo Việt Nam phát ra liên quan đến Thích Minh Tuệ. Chính cái công văn bị dân mạng chê là đầy sân si vì nó nói ông Thích Minh Tuệ không có tên trong nhân sự của bất cứ chùa hay cơ sở tự viện nào của Giáo hội Phật giáo Việt Nam, cho nên ông không phải là tu sĩ. Giáo hội cẩn thận căn dặn các chi nhánh địa phương nhắc nhở người dân để đừng nhầm lẫn ông Thích Minh Tuệ là nhà sư.

Công văn này rất xách mé, gọi tên tục của Thích Minh Tuệ chứ không gọi pháp danh của ông để tỏ rõ thái độ bề trên của kẻ đi tu có thẻ với người chỉ một mực xưng mình là một công dân đang trên đường tu học, một lòng học theo Đức Thích Ca.

Nhưng mà dân không chịu nghe theo cái công văn. Người ta cứ quét đường, rải hoa, đảnh lễ, hỏi pháp, chào đón và đi theo Thích Minh Tuệ.

Và đừng nhìn cái bề ngoài lúc nào cũng tươi cười hay cách nói chuyện hồn nhiên của Thích Minh Tuệ mà lầm. Ông không ăn nói trơn tru bóng bẩy, không lên giọng xuống giọng bổng trầm du dương hay nhấn mạnh vào các trọng tâm như nhiều Thích Chuyển Khoản thực hành rất thuần thục khi giảng pháp. Ông nói nhiều khi ngắt quãng, từ ngữ bình dân đơn giản khiến một đám Thích Tiền Chẵn bám vào đấy cười rú lên miệt thị “thằng ba trợn ôm nồi cơm điện đi lang thang”, như Thích Chân Quang lồng lộn lên bôi nhọ.

Thế nhưng hãy nghe ông đáp trả công văn của Giáo hội Phật giáo Việt Nam vào sáng 18/5/2024:

“Con không phải là tu sĩ Phật giáo, không tu tập và cũng không là nhân sự của bất cứ ngôi chùa, cơ sở tự viện nào của Giáo hội Phật giáo Việt Nam... Con cũng cảm thấy chưa xứng đáng làm tu sĩ bởi đạo đức của mình chưa đạt đến cảnh giới đó (…).

Con chưa từng nhận mình là sư hay là thầy. Con không có thị giả, cũng không nhận đệ tử. Con chỉ là một người cố gắng thực hành tu học theo Đức Phật. Đức Phật, Phật pháp không của riêng ai cả (mà) là của nhân loại (…) Phật Thích Ca Mâu Ni không phải của riêng Giáo hội Phật giáo Việt Nam”.

Trời ơi trời ơi, nốc ao chưa? Thật sướng khoái, thật chí lý, đã đời vô cùng! Nổi sóng từ mạng đến đời, rất nhiều người dẫn lại câu nói này của Thích Minh Tuệ.

Đang không tự dưng thổi gió thành bão khiến nó quật ngược lại tối tăm mặt mũi, chiều 17/5, đại diện Giáo hội Phật giáo Việt Nam phải (lật đật) quánh chánh. Ý quánh chánh rằng, Giáo hội tôn trọng quyền tự do và thực hành tín ngưỡng của tất cả mọi người, tuy nhiên, “qua sự việc ông Minh Tuệ, nhiều người đã có hành vi xúc phạm, miệt thị đối với một số chư tôn đức tăng ni cũng như đối với Giáo hội Phật giáo Việt Nam”. Thế nên phải mách mẹ để xử lý bọn chúng.

Hên ghê, tới lần quánh chánh này Giáo hội đã chịu công nhận cái tên Minh Tuệ chứ không (dám) tiếp tục xách mé gọi là người đàn ông tên Lê Anh Tú nữa.

Túm lại, cuối cùng ý định của Giáo hội Phật giáo Việt Nam muốn Phật cũng phải vào… biên chế, đã thất bại toàn tập.

Giá như Giáo hội Phật giáo Việt Nam minh tỉnh nhìn lại sự thật là có (rất không ít) sư trụ trì các chùa, là nhân sự chính thức, là tu sĩ cao cấp của Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã vi phạm nghiêm trọng vào rất nhiều giới luật và pháp luật. Sự thật là họ chẳng hề sám hối, sửa chữa bất cứ điều gì mà vẫn tiếp tục sắm vai các bậc chân tu đạo mạo, tiếp tục lừa gạt Phật tử và người dân.

Nói theo ngôn ngữ đang thịnh hành thì họ đã vi phạm quy định về những điều tu sĩ không được làm, quy định về trách nhiệm nêu gương của trụ trì các chùa, cơ sở thờ tự, gây dư luận xấu, làm ảnh hưởng đến uy tín của Giáo hội Phật giáo Việt Nam, đạo Phật, và chùa.

Rồi học tập các vị trụ cột trong giới lãnh đạo Việt Nam vừa qua, làm đơn xin thôi tất cả các chức vụ, nghỉ công tác.

Thế có phải đã tốt đời đẹp đạo, Phật tử tán thán vang lừng không?

__________

Tham khảo:

https://www.tiktok.com/@trongtran.87/video/7359003933571812628

https://phatgiao.org.vn/giao-hoi-pgvn-noi-ro-them-cong-van-ve-hien-tuong-su-thich-minh-tue-d83684.html

https://nld.com.vn/su-thich-minh-tue-noi-gi-ve-van-ban-cua-hoi-dong-tri-su-giao-hoi-phat-giao-viet-nam-19624051722184127.htm

https://phatgiao.org.vn/giao-hoi-pgvn-thong-tin-ve-hien-tuong-su-thich-minh-tue-d83662.html

https://vietnamnet.vn/dai-duc-thich-truc-thai-minh-sam-hoi-bi-ky-luat-2235296.html

* Bài viết không thể hiện quan điểm của Đài Á Châu Tự Do.

* Nguyễn Nhơn là nhà báo Việt Nam hiện đang sống ở Thái Lan. Nhà báo Nguyễn Nhơn quan tâm đến tình hình đất nước và viết nhiều bài về các vấn đề chính trị và xã hội trong nước.

Chăm lo Phật sự hay nuôi tăng béo núc?


Tôi bắt đầu câu chuyện tuổi thơ của tôi gắn với chùa như thế nào. Cái chùa, đúng hơn là một cái am thờ Phật, do một người phụ nữ lập ra trong vùng tranh chấp trước năm 1975. Am nằm ven thị trấn, thỉnh thoảng bị pháo kích từ trên núi dội xuống, nhưng so với nơi khác thì khá bình yên, từng làm nơi tạm trú cho bà con “chạy giặc”.

Những năm ấy chiến tranh khốc liệt. Người tản cư hàng đoàn, thây người chết vung vãi khắp nơi. Nhà người phụ nữ này thành địa điểm cho dân tạm cư. Khu vườn khoảng vài hecta của bà chứa đến hơn chục gia đình đến tạm cư. Bà huy động tre nứa làm nhà cho bà con, trong đó có ngôi nhà của gia đình tôi.

Bà làm luôn cả một cái hầm tránh pháo kích, chứa gần trăm con người. Bình thường, bà còn tạo điều kiện, giới thiệu việc làm cho từng nhà. Thấy cảnh khổ đau, chết chóc, bà còn lập am thờ Phật cho bà con đêm đêm tụng kinh, niệm Phật để cầu an, kể cả cầu siêu cho những người đã chết. Thuở ấy, chưa lên mười, tôi đã cùng ba mẹ, anh em đêm đêm quỳ trước Tam bảo, tụng kinh, niệm Phật. Nhờ vậy, từ bé, tôi đã thuộc lòng gần chục bộ kinh nhật tụng.

Hàng ngày bà cần mẫn hái lá cây, phơi sấy làm thuốc chữa bệnh. Bà không lấy tiền của bất cứ ai. Chỉ cúng hoa quả. Hoa quả chính bà mua hoặc bà con mua dâng lên Tam Bảo. Bà có chồng con, nhưng cả nhà ăn chay. Riêng bà chỉ ăn trái cây và rau quả. Từ năm 1974, bà bắt đầu nhịn ăn và chỉ uống nước trong. Đúng 31 tháng 3 năm 1975, giải phóng Bình Định thì bà viên tịch. Dân xung quanh gọi bà là Bồ tát.

Tôi vẫn còn nhớ như in hình ảnh bà khi trở về cõi trên. Bà nằm trong tư thế Phật nhập Niết Bàn. Mắt nhắm. Làn da trắng sáng. Môi tươi như hoa. Khi ấy bà mới 42 tuổi.

Nói đến chuyện “Phật sự” thì tôi nhớ lại tất cả những việc bà làm. Bà là chỗ dựa tinh thần lẫn vật chất cho những người dân khốn khổ. Bà chay tịnh khi dân lâm nạn. Khó khăn bà vẫn hỉ xả và đầy tình yêu thương. Khi dân hết lâm nạn, bà lặng lẽ về với cõi Phật.

Các bạn có thấy bà khác xa với các đấng, bậc tu hành theo Đạo pháp xã hội chủ nghĩa không? Ai cũng béo núc và suốt ngày kêu gọi quyên góp. Miệng chỉ có niệm thần tiền và nhát ma dọa quỷ.

Tôi quan sát các tăng đoàn, toàn những người trai trẻ lực lưỡng. Tính ra, các chùa to như hiện nay, mỗi tăng đoàn có lẽ lớn hơn một trung đoàn lính. Họ tu tập và giúp ích gì cho cuộc sống người dân, có thể tôi không biết. Nhưng để có lương thực nuôi các tăng đoàn này, có lẽ số tiền cũng bằng dân nộp thuế nuôi quân đội.

Nếu Giáo hội được trang bị vũ khí, có khi có sức mạnh tương đương với lực lượng vũ trang của nhà nước.

Đừng tưởng ăn chay là rẻ. Tôi từng ăn chay cả tháng sau khi ba và em tôi mất. Vợ tôi lặng lẽ mua sắm đồ chay, không nói gì. Nhưng sau đó tôi mới biết, số tiền chi ăn chay đắt hơn nhiều so với ăn mặn. Lương của tôi so với giảng viên trẻ là khá cao, ăn chay chỉ rau cỏ, đậu, nấm mà còn khó khăn, huống hồ nghe nói trong chùa to, các tăng toàn ăn cao lương mĩ vị.

Tôi biết trước đây, trừ những ngôi chùa cổ với sinh hoạt đạm bạc, các chùa to chủ yếu sống bằng tiền của đại gia và quan chức. Mỗi chùa sở hữu hàng ngàn ngàn tỉ. Có chùa hàng trung bình thôi mà báo đăng trộm cướp xông vào lấy cả chục ký vàng. Một nhà sư hoàn tục còn xin 300 tỉ để lấy vợ và ăn chơi. Gọi là tiền của đại gia và quan chức, nhưng không nói ra ai cũng biết dòng tiền ấy có được từ đâu.

Những năm gần đây các ngôi chùa to với những tăng đoàn lớn hơn trung đoàn lính ấy, ắt gặp khó khăn. Không phải vì sự xuất hiện của hành giả hạnh đầu đà Thích Minh Tuệ mà vì dòng tiền trên đã cạn. Loại đại gia và quan chức đầu tư và kinh doanh tâm linh lần lượt vào tù như là nghiệp báo nhãn tiền, số còn lại bắt đầu lo sợ, hết dám chơi trò buôn thần bán thánh.

Vậy là, nói như Thích Thanh Quyết, dù bày trò cúng sao giải hạn, trục vong giải nghiệp và dù nhát ma dọa quỷ để moi tiền công chúng, nhà chùa vẫn đang bị “lỗ chổng vó”. Đa số dân ta nghèo, đã bị vắt kiệt sức nhiều năm, lấy đâu ra nhiều tiền cúng dường để nuôi các tăng đoàn ở tuổi ăn sập núi?

Người lính, ngoài hưởng phụ cấp cho tiêu vặt, họ còn phải lao động sản xuất để cải thiện bữa ăn. Trong khi các tăng thì chẳng làm gì hơn ngoài chờ ăn cúng dường. Khủng hoảng là chắc chắn và rất cần khủng hoảng như vậy để thay đổi. Không lẽ Chính phủ phải kêu gọi “giải cứu tăng” như từng kêu gọi “giải cứu heo”?

Tôi xem hình ảnh các tăng đoàn của các chùa mà liên tưởng đến giới tăng lữ thời các đế chế “nhà nước hóa tôn giáo”. Họ thuộc thành phần ngồi mát ăn bát vàng, hưởng lợi từ đặc ân của nhà nước, và đối với dân, họ có cả quyền sinh quyền sát trong tay. Nay lẽ nào tái hiện lại cái lịch sử một thời dân chúng làm nô lệ cho tăng lữ?

Việt Nam dưới thời phong kiến, có những đoạn Phật giáo thành quốc giáo, nhưng cũng chưa bao giờ giới tăng lữ được phép lộng hành. Tăng lữ không được phép hành nghề mê tín dị đoan. Tăng lữ không được phép lũng đoạn chính trị. Tăng lữ không được phép hưởng lợi từ thuế dân để được vinh thân phì gia.

Nhà vua ban cho mỗi nhà chùa mấy công đất ruộng. Nhà sư cùng dân cày cấy, tức làm công quả, để tự lo cái ăn và Phật sự. Phước sinh từ Đức. Và Đức được rèn luyện từ lao động và lối sống đạm bạc. Suốt ngày nhát ma, dọa quỷ, vòi vĩnh dân cúng dường, và nay trong sự khủng hoảng thì kêu ca không đủ tiền làm Phật sự, đó chỉ có thể là loại vô công rồi nghề, mượn áo tu để ăn bám xã hội.

Hiểu “chăm lo Phật sự” bằng lấy danh Phật ăn trên xương máu của người khổ nạn, bệnh tật là làm ô danh Phật, gieo thêm nghiệp ác trùng trùng. Chăm lo Phật sự phải là làm tiếp cái việc Phật chưa làm hết, tức tu Nhân tích Đức, tích Thiện cho dân, góp phần cho quốc thái dân an, chứ không đồng nghĩa với việc biến dân thành con mồi nuôi tăng béo núc!

 

Đạo Phật và Đạo Chùa


 Thục Quyên

Một luật sư trẻ hiện đang sống ở Việt Nam, có lần nói với tôi rằng, khi khai giấy tờ anh luôn khai mình không theo tôn giáo nào, mặc dù anh và cả gia đình anh đều theo Đạo Phật, tại nhà anh có ban thờ Phật và anh cũng cố gắng giữ năm giới trong cuộc sống hàng ngày.

Anh giải thích cho tôi hiểu rằng, ở Việt Nam hiện nay, cái gọi là đạo Phật thì không có liên quan gì đến con đường giải thoát khỏi tham sân si, như anh vẫn hiểu là cốt lõi của Đạo Phật. Đạo Phật được nhà cầm quyền cho phép hoạt động và khuyếch trương được anh gọi là Đạo Chùa, vì nó có đặc điểm chỉ xoay quanh chuyện buôn thần bán thánh và xây chùa. Do đó anh nói không thể đặt bút xuống ghi là mình theo Đạo Phật đó được.

Cách hành xử của anh luật sư trẻ này, hay cách tu tập của hành giả Thích Minh Tuệ cho thấy, họ là những người đang học và hành theo giáo lý nhà Phật: Chú tâm vào cốt lõi những lời Phật dạy, không bị hình thức ràng buộc.

Không bị hình thức ràng buộc chính là sức mạnh và sự tự do của Đạo Phật

Tu là sửa chính bản thân để tự giải thoát khỏi những thói hư tật xấu đang vây hãm mình, là không mất thời gian ngồi tìm kiếm những sai lầm yếu kém của người khác, mà đầu tư tâm trí và sức lực để tìm hiểu cốt lõi những lời Phật dạy, rồi áp dụng vào đời sống thực tế để kiểm chứng xem những lời dạy này có giúp ta xử lý được sợ hãi, khổ đau, chế tác được niềm vui thanh thản trong đời sống hàng ngày, vượt thoát được những hệ lụy của danh vọng, tiền tài, quyền hành và sắc dục, tiếp xúc được tới tự tính vô sinh bất diệt của mọi pháp, hay không?

Những người tu theo con đường Phật chỉ dạy, có thể tự nhận là con Phật (Phật tử) nếu muốn, mà không cần phải trải qua nghi lễ phiền phức gì cả. Theo truyền thống của Phật giáo Việt Nam thì một người muốn đánh dấu ngày mình công bố tu tập theo giáo pháp của Phật dưới sự hướng dẫn của một vị tăng thì có thể xin dự một buổi lễ quy y tam bảo (Phật-pháp-tăng), nhận sẽ hành trì năm giới (Không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, không uống rượu).

Thầy tôi, một vị Hòa thượng, lúc cử hành lễ luôn luôn nghiêm túc dặn Phật tử đã xin quy y tam bảo phải luôn cố gắng sống theo Năm Giới và ôn tụng thường xuyên giới tướng mỗi tháng ít nhất một lần, để sự học hỏi và hành trì Năm Giới càng ngày càng sâu sắc và lớn rộng. Ngoài ra, nếu không ôn tụng và không cố gắng sống theo Năm Giới thì coi như việc quy y không còn hiệu lực.

Như vậy, tu sĩ hay cư sĩ đều là Phật tử đã hứa trước Phật là sẽ giữ những giới luật. Nếu không còn giữ giới luật thì dù có mang chức sắc Hòa thượng, Thượng tọa gì chăng nữa, thì cũng không còn ý nghĩa.

Thân giáo

Thân giáo là một phương thức giáo dục quan trọng trong ba phương thức giáo dục Phật giáo: Thân giáo, khẩu giáo và ý giáo, trong đó thân giáo là quan trọng nhất.

Ý tưởng và lời nói là những khả năng có thể dùng sự thông minh để học hỏi rồi truyền tiếp. Nhưng thân hành thì cần phải thực nghiệm, sống được những gì mà người khác có thể nhìn vào và noi theo.

Dù người dạy có ý tưởng cao hay, lời nói hoa mỹ, cuốn hút, mà thân hành không trang nghiêm, lời nói không đi đôi với việc làm, thì về lâu về dài không thể tạo ra sức thuyết phục và chuyển hóa người khác.

Người luật sư trẻ tôi quen, dù trên giấy tờ không phải là Phật tử, nhưng theo học đạo với những người tu sĩ Phật giáo có và không có chùa, và anh cũng học cả từ những Phật tử cư sĩ mà anh đánh giá là có một cuộc sống đậm dấu ấn của Phật giáo.

Hiện tượng hành giả Thích Minh Tuệ đang “gây bão” trên mạng xã hội và báo chí từ nhiều tuần nay có vẻ cũng do cách hành trì giới luật của ông làm người khác nhận ra là giới luật của Phật giáo không chỉ để tụng niệm mà để áp dụng vào cuộc sống thật.

Nhìn sâu vào hiện tượng này còn có thể thấy thuyết duyên sinh trong Phật giáo: duyên sinh là nương vào nhau mà phát sinh, mà biểu hiện. Điều này diễn tả trong kinh điển bằng câu: Cái này có vì cái kia có, cái này không vì cái kia không.

Không có ngoài thì sao có trong, cái trái có vì cái phải có, có cái dưới thì mới có cái trên…

Nếu Việt Nam ngày nay không có nhiều người mang hình dáng nhà tu, béo mũm mĩm, mắt liếc ngang dọc, phát ngôn lố lăng, thì ai để ý tới một ông cũng mang hình dáng nhà tu lại gầy gò, mắt trong sáng, nói ít và khi nói thì nhỏ nhẹ?

Nếu không có nhan nhản các ông mang hình dáng nhà tu đeo đồng hồ Rolex, đi xe hơi sang trọng, lặn hụp trong tiền bạc, chùa chiền,  thì ai thèm để ý tới cái ông mang hình dáng nhà tu mặc áo vá đắp, đi chân đất, ngủ ngoài nghĩa địa?

Hành giả Thích Minh Tuệ nghe nói đã đi bộ vài lần Nam-Bắc và ngược lại, cũng như, tối thiểu là tại miền Nam Việt Nam ông đâu phải là người duy nhất tu tập “theo hạnh đầu đà” (như ông chia sẻ), tại sao bây giờ mới có hiện tượng “bão” trên truyền thông?

Có lẽ trong sự bát nháo, lố lăng những năm qua, đây là cách khẳng định không nhiều lời nhưng dứt khóat của đám đông: Chúng tôi tu theo Đạo Phật, không theo Đạo Chùa.

Thursday, May 23, 2024

Sự cứu rỗi

 Võ Xuân Sơn


Mấy lần cứ nghĩ là lần cuối viết về Ngài Thích Minh Tuệ, nhưng lại cứ viết nữa. Đúng là Ngài Thích Minh Tuệ đã trở thành một hiện tượng xã hội của Việt Nam trong những ngày gần đây.

Dân tình yêu quý Ngài. Người ta mong mỏi Ngài được an toàn trong quá trình tu tập. Vì cách tu tập của Ngài thể hiện đúng bản chất của Đạo Phật, dù tự Ngài cho rằng mình không phải tu sĩ. Cách tu tập của Ngài ngược hẳn lại so với những tăng to chùa lớn trên đất nước này, những kẻ mà gần đây đã gây náo loạn xã hội với những trò kiếm tiền vô liêm sỉ.

Trong một chừng mực nào đó, có thể nói sự xuất hiện của Ngài Thích Minh Tuệ là một sự cứu rỗi cho Đạo Phật ở Việt Nam vào thời điểm khủng hoảng lòng tin của người dân vào Đạo Phật. Đồng thời, với sự xuất hiện của mình trên mạng xã hội, Ngài Thích Minh Tuệ đã làm rớt xuống những cái mặt nạ của bọn ma tăng trong các ngôi chùa hoành tráng, và của một nhóm giả trí thức.

Mấy ngày nay, cộng đồng mạng đang soi tìm những kẻ giả danh sư sãi, đi cùng Ngài Thích Minh Tuệ. Họ nghi ngờ đó là đệ tử của những tay ma tăng, trà trộn để ám hại Ngài Thích Minh Tuệ. Ít nhất thì họ cũng đã thành công trong việc vạch mặt những kẻ lợi dụng hình ảnh của Ngài Thích Minh Tuệ để quảng bá cho cái gì khác, phản lại tư tưởng chính thống của Đạo Phật.

Với những người đang bị các Youtuber, Tiktoker nghi ngờ là đệ tử của các ma tăng trà trộn vô để tiếp cận Ngài Thích Minh Tuệ với mục đích ám hại Ngài, không biết điều đó có chính xác hay không. Nhưng nếu thật sự họ đã từng là đệ tử của những tay ma tăng kia, thì nếu suy nghĩ tích cực, biết đâu họ là những người đi tìm minh sư, và Ngài Thích Minh Tuệ đã soi sáng cho họ.

Nhân đây, cho tôi gởi lời nhắn đến một vị đang đi theo Ngài Thích Minh Tuệ, người có khuôn mặt hơi dữ, trán to, và đặc biệt, các đầu ngón tay rất lớn. Ai có thể tiếp cận được với vị đó, thì khuyên vị đó đi khám bệnh tại các bác sĩ Nội tiết hoặc các bác sĩ Thần kinh. Đó là dấu hiệu to cực đầu chi, triệu chứng của bệnh tuyến yên, cần được chữa trị.

Thật sự rất mong Ngài Thích Minh Tuệ được bình yên.

Phước sinh từ đức

 Chu Mộng Long


Biết sự nguy hại của tà giáo, tôi chịu khó xem hơn cả trăm cái video trên Youtube do các tu sĩ của Giáo hội Phật giáo Việt Nam quảng bá. Từ bài nói của tăng trung ương Thích Thanh Quyết đến các thuyết pháp của tăng địa phương từ Bắc chí Nam như Thích Trúc Thái Minh, Thích Nhật Từ, Thích Chân Quang, Thích Nhuận Đức…, hết thảy không có một lời nào nói Phước sinh ra từ Đức. Chỉ thống nhất một tinh thần: Phước có được nhờ cúng dường bằng rất nhiều tiền. Tất nhiên, phương tiện thúc đẩy thực hiện điều đó là các tăng dùng Họa để đe dọa đám đông.

Chuyện cúng sao giải hạn với giá 150 ngàn đồng, Thích Thanh Quyết than thở như một nhà buôn vỡ nợ: “Thu 150 ngàn là lỗ chỏng vó!” Đến lượt Thích Trúc Thái Minh cúng vong, trục vong giải nghiệp nhân lên số tiền hàng trăm triệu để tính lãi. Tiến đến Thích Nhật Từ, Thích Chân Quang, Thích Nhuận Đức, để khỏi phải bỏ vốn rồi tính lời lãi, các tăng gom tiền chơi hụi luôn.

Chủ hụi ngoài đời gom hụi có lừa đảo con hụi thì cũng phải trả một mức lãi nào đó rồi mới chạy trốn. Chủ hụi nhà chùa thì hứa kiếp sau sẽ trả, theo nghĩa có Phật ban phước cho. Cúng 200 bao xi măng thì kiếp sau có được nhà hai tầng. Cúng 500 triệu đồng thì kiếp sau sẽ có được 5 tỷ đồng. Hiến nhà đất thì kiếp sau thành đại gia bất động sản. Chủ hụi lưu manh nhất cũng phải gọi nhà sư bằng sư tổ, vì tiền lãi đó phải chờ chết đi rồi mới có thể đòi lại được.

Có thể trò lưu manh với hứa hẹn về Phước báu ấy chẳng lừa được ai. Nhưng cái Họa mà các tăng đe dọa thì ai cũng khiếp sợ. Không cúng bằng tiền chẵn, mệnh giá cao thì sẽ tổn phước hoặc bị vong quậy, đau ốm, bệnh tật, tán gia bại sản. Con ma nó ám, ắt các Phật tử, con bệnh sợ hãi mà làm theo lời ma quỷ tuôn ra từ miệng thầy.

Tôi thú thật với các bạn rằng, từ bé, tôi đã từng học đủ các món: bói toán, xem tướng, kể cả cúng tế với pháp thuật đồng bóng. Nhưng sau khi học xong, biết đủ, thầy tôi nói ngay: “Biết cho vui. Không được hành nghề. Bởi tất cả đều là trò lừa đảo. Phước do tích Đức mà có được. Họa không phải rủi ro ngẫu nhiên thì do chính mình tạo ra!”

Tôi lấy một trải nghiệm của tôi ra để mọi người hiểu. Năm ba tôi từ trần, sau đó một năm em trai tôi đột quỵ mà mất, lập tức bà thông gia đi coi bói và báo lại, rằng tôi phải cúng giải nghiệp, nếu không thì gia đình còn tai biến và tôi phải chết. Giá tiền treo luôn vào cổ tôi: 300 triệu gửi cho người cúng giải. Cả nhà tôi hoang mang. Mẹ tôi lo lắng, khóc nhiều và bị ám thị cả tháng trời. Riêng tôi, nhờ từng học và từng được thầy tiết lộ trò lừa đảo trên mà có thần kinh thép để vượt qua. Tôi nói ngay: “Tôi thà chết, không làm chuyện ấy!” và động viên mẹ an tâm. Hơn mười lăm năm, tôi vẫn sống vui vẻ, mạnh khỏe.

Kể chuyện riêng để các bạn hiểu rằng, trò ma mị đồng bóng có thể len lỏi vào bất cứ gia đình nào. Chỉ cần lúc gia đình bạn gặp rủi ro hay đau ốm bệnh tật, bạn có thể trở thành con mồi của kẻ bịp bợm nhân danh Thần, Phật đớp lấy. Bạn không mất tiền cũng bị ám ảnh chuyện ma quỷ suốt đời.

Quan điểm của tôi, đúng như thầy tôi dạy. Rằng Họa không phải từ dưới địa ngục ma quỷ chui lên, và Phước cũng không phải từ trên trời rớt xuống. Một đời con người gặp vài lần Họa là chuyện hiển nhiên. Tâm lý tốt, thần kinh vững vàng, bạn có thể vượt qua tất cả. Càng sợ hãi, Họa càng sẽ đến nhiều lần, giống như ma quỷ nhập tâm và xui khiến vậy. Nếu Phước mà từ đâu đó mang đến, chẳng khác gì đánh bạc, loại Phước ấy chẳng bao giờ được bền lâu, thậm chí Phước thành Họa. Bạn hãy sống có nhân đức, yêu thương, chia sẻ và giúp người, trong đời thường và trong hoạn nạn, ắt bạn được người khác giúp đỡ. Phước ấy mới bền vững.

Bạn hiếu thảo với cha mẹ, ông bà, sống tốt với những người xung quanh đã là tích Đức và hưởng Phước mỗi khi gặp Hoạ. Bởi nhờ quan hệ ấy mà bạn vượt qua mọi tai ương.

Tôi làm thầy giáo, tôi yêu học trò như con và giúp chúng lúc ngặt nghèo. Tôi không cần chúng trả ơn, nhưng khi thành đạt hoặc chỉ cần bình an, chúng vẫn trả ơn hoặc nhớ ơn và xem tôi như cha. Và như vậy cái Đức mang lại Phước cho tôi. Khi chết, tôi trả hết nợ của cuộc đời và thanh thản. Tôi không bao giờ tin có kiếp sau gặp Họa bị Ma quỷ đày đọa hay được hưởng Phước từ ân đức của Thần, Phật. Loại Thần, Phật mà ăn tiền cúng dường rồi ban Phước cho tôi, loại đó tôi khinh, như khinh đám quan chức ăn hối lộ vậy.

Saturday, April 27, 2024

Tham nhũng và quan phẩm

 


Tạ Duy Anh

Bắt đầu cầm quyền qua tranh cử năm 1959, đảng PAP và chính phủ Singapore đã ý thức về tầm quan trọng phải làm sạch bộ máy chính quyền như một nhiệm vụ mang tính sống còn.

Họ sử dụng bộ luật chống tham nhũng được thiết lập bởi người Anh, từ năm 1937. Cũng chính người Anh sau đó, vào năm 1952, đã thành lập “Ban điều tra hành vi tham nhũng” (Corrupt Practices Investigation Bureau, viết tắt là CPIB) để xử lý tình trạng gia tăng tham nhũng.

Năm 1960, sau một năm nắm quyền, ông Lý Quang Diệu thực hiện việc thay đổi Luật chống tham nhũng mà ông cho là đã lỗi thời. Đến 1963, việc thay đổi xảy ra thêm một lần nữa và tới quy định năm 1989, thì hình phạt cho tội tham nhũng ăn hối lộ ở Quốc đảo được nâng lên tới mức khắc nghiệt. Chỉ riêng phạt tiền với quan chức nhúng chàm đã tăng gấp 10 lần, trước khi anh ta bị phạt tù.

Họ sử dụng bộ luật chống tham nhũng được thiết lập bởi người Anh, từ năm 1937. Cũng chính người Anh sau đó, vào năm 1952, đã thành lập “Ban điều tra hành vi tham nhũng” (Corrupt Practices Investigation Bureau, viết tắt là CPIB) để xử lý tình trạng gia tăng tham nhũng.

Những gì ông Lý tiến hành ở Singapore, nhất là sau ba lần sửa đổi, có vẻ đang được Giáo sư Trọng áp dụng vào công cuộc đốt lò ở Việt Nam. “Ủy ban kiểm tra Trung ương” gần giống với CPIB của Singapore về nhiệm vụ và quyền hạn. Những bước thực hiện tiền tố tụng, chấp nhận lời khai của nhân chứng khi khép tội, không khác mấy cách làm của ông Lý. Và rõ ràng công cuộc “đốt lò” đang cho thấy sự không khoan nhượng trong việc chống tham nhũng mà đảng của Giáo sư Trọng tiến hành.

Hai chủ tịch nước, hai phó thủ tướng đương nhiệm buộc phải về hưu, nhiều bộ trưởng, bí thư, chủ tịch tỉnh bị tống giam và có thể sẽ còn những nhân vật khủng nữa phải bay chức… không thể nói công việc “đốt lò” không nghiêm túc. Cho dù hiệu quả thực chất, lâu dài của công cuộc chống tham nhũng ra sao, thì Giáo sư Trọng và Tô tướng quân chắc chắn đang “Ghi điểm với lịch sử”.

Chúng ta cần phải công tâm và trung thực với mình khi nói về chuyện đó.

Tuy nhiên, hàng ngày người dân đến các cơ quan công quyền, xin học cho con, vào viện chữa bệnh, kiểm định xe, thậm chí làm khai sinh, khai tử cho người thân… vẫn phải phong bao phong bì đút lót cho những người thực thi trách nhiệm, cho thấy chỉ hình phạt thôi sẽ rất khó hạ gục sức mạnh của đồng tiền. Nó cần một văn hóa chính trị, một nền quan trí, quan phẩm cao hơn nhiều mức hiện nay. Chỉ cần thấy cách hành xử khác xa nhau của kẻ tham nhũng ở Singapore và ở Việt Nam, cũng có thể rút ra nhiều điều cần phải suy ngẫm nghiêm túc.

Trong hồi ký của mình, ông Lý Quang Diệu dành ra phần quan trọng kể về việc ông làm trong sạch bộ máy chính quyền, triệt hạ không thương xót thứ mà ông gọi là “LÒNG THAM CHÂU Á”, trong đó đáng chú ý là trường hợp tham nhũng của ông Bộ trưởng Phát triển quốc gia, một người thân tín và có công riêng với ông Lý.

Xin trích:

Sự sụp đổ bi kịch nhất là trường hợp của Teh Cheang Wan, Bộ trưởng Phát triển quốc gia. Tháng 11 năm 1986, một trong những người giao thiệp cũ của ông khi bị CPIB tra vấn đã thú nhận rằng hắn từng đưa cho Teh hai khoản tiền mặt, mỗi khoản trị giá 400.000 đô la Singapore. Khoản đầu tiên là để xin phép cho một công ty phát triển giữ lại phần đất của công ty mà chính phủ đã đánh dấu để trưng thu; và khoản thứ hai để giúp cho một nhà kinh doanh mua lại phần đất của nhà nước nhằm sử dụng cho mục đích cá nhân. Hai vụ hối lộ này diễn ra vào năm 1981 và 1982.Teh Cheang Wan phủ nhận việc mình nhận tiền và cố gắng thương lượng với viên trợ lý thanh tra cao cấp của CPIB để dừng việc điều tra. Thư ký nội các báo lại việc này và nói Teh yêu cầu được gặp tôi. Tôi đáp là tôi không thể gặp ông cho đến khi nào cuộc điều tra kết thúc.

Một tuần sau, sáng ngày 15 tháng 12 năm 1986, nhân viên an ninh của tôi thông báo rằng Teh đã chết và để lại cho tôi một bức thư:

Ngài Thủ tướng

Suốt hai tuần nay tôi đã rất ân hận và thực sự suy sụp. Tôi cảm thấy mình có trách nhiệm với những sự việc đáng tiếc xảy ra và tôi nên nhận toàn bộ trách nhiệm về mình. Là người phương Đông trọng danh dự, tôi phải nhận lấy hình phạt cao nhất cho lỗi lầm của mình“.

(Từ thế giới thứ ba vươn lên thứ nhất, trang 188, NXB Chính trị-quốc gia)

Cũng cùng một tội, đám quan chức Việt, khi ra tòa đều vẫn đủ trơ trẽn trưng cả thùng giấy khen, bằng khen, huân huy chương – những thứ rõ ràng ông bà ta nhận được khi đã mất phẩm cách, để mặc cả, xin xỏ, đổi chác, gây áp lực cho quan tòa nhằm giảm nhẹ về hình phạt. Rồi thì bỗng nhiên ông bà nào cũng đủ thứ bệnh nan y, đều ở đoạn cuối đời, với bộ mặt thiểu não đánh vào lòng thương hại của dư luận.

Chỉ có thể phán một câu: Rất hèn!

Nếu ở một nền chính trị thượng tôn đạo đức, đề cao danh dự, một nền quan trí, quan phẩm cao… thì những thứ đó, trong suy nghĩ của kẻ phạm tội, nên được giấu nhẹm hoặc ngấm ngầm tiêu hủy, như tiêu hủy bằng chứng về sự dối trá, ô nhục.

Vấn đề chốt lại là vì sao họ được học hành để có đủ bằng cấp, được “chọn lọc kỹ càng” mà lại dễ dàng đánh mất liêm sỉ như vậy?

Tham nhũng và tôn giáo

Ảnh trên mạng
Chu Mộng Long

Nhiều bạn khuyên: Đừng nên quan tâm đến tôn giáo, cụ thể là “mấy anh trọc” tuyên truyền về vong, về cúng dường nữa. Nên quan tâm nhiều hơn đến chính trị, cụ thể là các vấn đề tham nhũng.

Quan điểm của họ là ai ngu, bị mê hoặc thì ráng chịu. Họ không nghĩ rằng, tà giáo còn hơn cả ma túy, có thể thâm nhập vào gia đình, con cháu của họ bất cứ lúc nào, làm cho cả nhà họ sống trong sợ hãi và tán gia bại sản.

Với tôi, vấn đề nào cũng nhức nhối, cần lên tiếng ngăn chặn. Không lên tiếng ngăn chặn, mức độ tàn phá của các vấn nạn này càng leo thang. Bởi đó là tội ác, mà “tội ác như quả bóng tuyết, càng lăn càng to”. Đối với tham nhũng, càng ngày càng lộ ra mức độ leo thang với số tiền có thể lót đường từ Nam chí Bắc.

Còn tôn giáo, cụ thể là các hoạt động đồng bóng dân gian và tà giáo đã lan tràn đến mức cả đất nước chìm ngập trong lửa khói của cõi âm – từ nỗi sợ hãi dẫn đến tiền vàng, nhà đất của những người dân yếu đuối có nguy cơ gom hết về đền, chùa như một hoạt động gom hụi công khai.

Có thể phòng chống tham nhũng chưa đạt được như mong muốn, nhưng dẫu sao vẫn đang được nhà nước giải quyết bằng những vụ khởi tố ra tòa. Trong khi tà giáo thì lại được tự do hoành hành. Nó tự do đến mức, chỉ cần một cá nhân cạo trọc đầu là có thể ngang nhiên tuyên truyền mê tín dị đoan, công khai những thủ đoạn lừa đảo. Việc các tăng lữ dùng ma đe dọa dân, gieo rắc sự sợ hãi trong dân để thu gom tiền vàng, nhà đất và hứa hẹn “kiếp sau” cho dân làm ma giàu sang, phú quý là lừa đảo trắng trợn, không thể biện minh.

Tham nhũng gây tổn hại vật chất. Vật chất có thể thu hồi hoặc làm lại từ đầu. Nhưng lợi dụng tự do tín ngưỡng để lừa đảo cả một đám đông, không chỉ gây tổn hại về vật chất mà còn gây ra bấn loạn, ngu muội về tinh thần. Mức độ tàn hại của tà giáo là vô lượng. Tự nó lũng đoạn tư tưởng chính trị, nghiền nát văn hóa, giáo dục, y tế, khoa học… Sự tàn hại này để lại hậu quả đến hàng trăm năm sau cũng không khôi phục được.

Trong các bệnh lý, các triệu chứng về tinh thần là không thể điều trị được, thậm chí còn lây lan. Nhát ma dọa quỷ, gieo rắc sự sợ hãi cho một vài người có thể kéo theo nhiều người sợ hãi như một hiệu ứng tâm lý bầy đàn.

Tôi từng nói các hoạt động tà giáo giống như trò thôi miên tiêu cực, loại thôi miên dẫn dắt người yếu bóng vía vào sai lạc, hoang tưởng. Không thể trách đám con nhang bị thôi miên. Họ là nạn nhân. Dễ hình dung cuộc đời của hàng triệu tín đồ này từng bị nạn, họ không biết bấu víu vào đâu, đành bấu víu vào tôn giáo. Và khi rơi vào cái bẫy của lời hứa về nhân quả hoang đường, họ bị đám tăng lữ nhồi sọ, dẫn dắt vào con đường ma quỷ mà không biết mình đang làm nô lệ cho ma quỷ.

Tà giáo lộng hành

 Thu Phương

Ngày 25/4, trên trang Facebook cá nhân của nhà giáo, Tiến sĩ Chu Mộng Long có bài bình luận "Tham nhũng và hoạt động tôn giáo".

Bài viết bình về những hoạt động mê tín dị đoan mang tính tà giáo, đang tràn lan khắp nơi, gây tổn hại đến tinh thần và vật chất của người dân. Đồng thời, tác giả so sánh mức độ nguy hại của tà giáo với tình trạng tham nhũng đang leo thang hiện nay.

tagiao2

Hầu đồng, một nghi thức của thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu. Ảnh minh họa 

Thoibao.de giới thiệu bài viết này đến quý khán thính giả, nội dung như sau :

Nhiều bạn khuyên : Đừng nên quan tâm đến tôn giáo, cụ thể là "mấy anh trọc" tuyên truyền về vong, về cúng dường nữa. Nên quan tâm nhiều hơn đến chính trị, cụ thể là các vấn đề tham nhũng.

Quan điểm của họ là ai ngu, bị mê hoặc thì ráng chịu. Họ không nghĩ rằng, tà giáo còn hơn cả ma túy, có thể thâm nhập vào gia đình, ông bà, cha mẹ, con cháu của họ bất cứ lúc nào, làm cho cả nhà họ sống trong sợ hãi và tán gia bại sản.

Với tôi, vấn đề nào cũng nhức nhối, cần lên tiếng ngăn chặn. Không lên tiếng ngăn chặn, mức độ tàn phá của các vấn nạn này càng leo thang. Bởi đó là tội ác, mà "tội ác như quả bóng tuyết, càng lăn càng to". Đối với tham nhũng, càng ngày càng lộ ra mức độ leo thang với số tiền có thể lót đường từ Nam chí Bắc. Còn tôn giáo, cụ thể là các hoạt động đồng bóng dân gian và tà giáo đã lan tràn đến mức cả đất nước chìm ngập trong lửa khói của cõi âm – từ nỗi sợ hãi dẫn đến tiền vàng, nhà đất của những người dân yếu đuối có nguy cơ gom hết về đền, chùa, như một hoạt động gom hụi công khai.

Có thể phòng chống tham nhũng chưa đạt được như mong muốn, nhưng dẫu sao, vẫn đang được nhà nước giải quyết bằng những vụ khởi tố ra tòa. Trong khi tà giáo thì lại được tự do hoành hành. Nó tự do đến mức, chỉ cần một cá nhân cạo trọc đầu là có thể ngang nhiên tuyên truyền mê tín dị đoan, công khai những thủ đoạn lừa đảo mà hàng triệu người là nạn nhân. Việc các tăng lữ dùng ma đe dọa dân, gieo rắc sự sợ hãi trong dân, để thu gom tiền vàng, nhà đất và hứa hẹn "kiếp sau" cho dân làm ma giàu sang, phú quý, là lừa đảo trắng trợn, không thể biện minh.

Tham nhũng gây tổn hại vật chất. Vật chất có thể thu hồi hoặc làm lại từ đầu. Nhưng lợi dụng tự do tín ngưỡng để lừa đảo cả một đám đông, không chỉ gây tổn hại về vật chất mà còn gây ra bấn loạn, ngu muội về tinh thần. Mức độ tàn hại của tà giáo là vô lượng. Tự nó lũng đoạn tư tưởng chính trị, nghiền nát văn hóa, giáo dục, y tế, khoa học chân chính… Sự tàn hại này để lại hậu quả đến hàng trăm năm sau cũng không khôi phục được.

Trong các bệnh lý, các triệu chứng về tinh thần là không thể điều trị được, thậm chí còn lây lan. Nhát ma dọa quỷ, gieo rắc sự sợ hãi cho một vài người có thể kéo theo nhiều người sợ hãi như một hiệu ứng tâm lý của bầy đàn, từ con người lý trí đến mất lý trí như động vật bị xỏ mũi.

Tôi từng nói, các hoạt động tà giáo giống như trò thôi miên tiêu cực, loại thôi miên dẫn dắt người yếu bóng vía vào sai lạc, hoang tưởng. Không thể trách đám con nhang bị thôi miên. Họ là nạn nhân. Dễ hình dung cuộc đời của hàng triệu tín đồ này từng bị nạn, họ không biết bấu víu vào đâu, đành bấu víu vào tà giáo để nuôi dưỡng một thứ dục vọng có tính chất hoang đường – mơ giàu sang, phú quý sau khi chết. Và khi rơi vào cái bẫy của lời hứa về nhân quả hoang đường, họ bị đám tăng lữ nhồi sọ, ám thị về ma quỷ và bị ma quỷ dẫn dắt vào con đường tăm tối mà không biết mình đang làm nô lệ cho ma quỷ.

 Thu Phương

Nguồn : Thoibao.de, 26/04/2024

Wednesday, November 29, 2023

GP VINH CHO SÓI GỬI CHÂN: NHỮNG BÀI HỌC MÁU XƯƠNG CÒN ĐÓ

11/28/2023 — nguyenhuuvinh

Những ngày gần đây, giáo dân Giáo phận Vinh hết sức bất bình và đầy cảnh giác với hiện tượng lạ: Từ Tòa Giám mục Xã Đoài, cho đến Linh địa Trại Gáo và một số nơi, những hoạt động “đầu tư” của quân đội với nhãn hiệu “tình nghĩa quân dân”. Quân đội vào làm sân bóng, làm khu vui chơi giải trí của Tòa Giám mục và Linh địa Trại Gáo trong sự hân hoan của Giáo quyền và sự cảnh giác, xa lánh của giáo dân.

Người ta xôn xao bàn tán: Sao bỗng dưng có chuyện quân đội nhân dân không còn việc gì làm hay sao mà quan tâm đến Giáo hội Công giáo một cách thái quá, lộ liễu như vậy?

Hay dạo này biển đảo đã giao bạn vàng quản lý, Giáo dân Vinh không còn biểu tình chống Formosa xả thải, giết hại môi trường nên Quân Khu 4 không cần điều động thiết giáp, xe tăng đến tận Cổng Tòa Giám mục Xã Đoài nữa, nên đưa dần binh lính vào “Gìn giữ hòa bình tại đây”?

Mà sao quân đội chỉ thích đầu tư vào chỗ đất đai của Giáo hội mà không làm mới một khu nào đó tặng cho Giáo dân và Quân đội cùng thể hiện “Tình quân dân” có hơn không?

Và người dân kháo nhau: Vậy ra, chỉ vì mấy chục nhân công lấy từ bộ đội mà Tòa Giám mục cần họ giúp đỡ, hay vì Tòa Giám mục thiếu tiền, nên muốn quân đội đầu tư? Hay vì lý do nào khác tế nhị không tiện nói ra?

Thậm chí có người còn độc miệng rằng: Hình như Tòa Giám mục lo xa, sợ những vấn đề mà dân quan tâm cần được làm rõ như vụ Hồ Hữu Hòa, vụ đất đai, vụ tiền bạc hoặc vấn đề nọ kia không được xử lý đến nơi đến chốn, nên Tòa hữu hảo dần với chính quyền, với quân đội, chính quyền, công an. Để rồi nếu chẳng may có ngày giáo dân kéo đến Tòa Giám mục như năm nào đó thì còn có chỗ mà nhờ cậy chăng?

Tất cả những điều đó, chỉ là những lời đồn đãi, dị nghị.

Nhưng, xưa nay vẫn vậy, cái gì không rõ ràng, không minh bạch thì người dân dị nghị rồi đồn đãi cũng là chuyện bình thường thôi.

Có điều, hình như các chức sắc của TGM GP Vinh hoặc mắc mớ điều gì đó không muốn làm sáng tỏ, hoặc coi thường giáo dân đến mức chẳng thèm chấp thì không biết.

Cho sói gửi chân từ trong ngụ ngôn đến Giáo hội Việt Nam.

Truyện ngụ ngôn cho sói gửi chân, luôn được nhắc nhở cho mọi người nhiều khi có thể mất cảnh giác, nhất là trong những hoàn cảnh mà sói và dê cừu cứ lẫn lộn dễ mất cảnh giác.

Đại ý của câu chuyện, là có con sói muốn tấn công một con người, nó chỉ nhờ gửi một chiếc chân vào nhà, vì ở ngoài trời lạnh và rất khổ sở, và đứa bé động lòng trắc ẩn cho nó gửi một chân thôi, mặc dù đã được dạy nhiều lần rằng phải cảnh giác với con sói, vì nó có thể tấn công người bất cứ lúc nào và âm mưu của nó thì luôn sẵn có. Thế rồi từ một chân được gửi vào, chó lại kêu ca, nằn nì gửi được chân thứ hai, và con người thấy nó có bộ mặt không đến nỗi gớm guốc lắm, thậm chí là thân thiện nữa, nên cho nó gửi tiếp chân thứ 3 cho đến khi nó nhảy được vào nhà thì nó ăn thịt luôn con người.

Câu chuyện ngụ ngôn ấy được lan truyền khắp thế giới để lại bài học cho con người hãy cảnh giác với ma quỷ, với những hạng người lang sói.

Giáo hội Công giáo được hình thành đã 500 năm tại mảnh đất Việt Nam, là một tôn giáo có tổ chức, liên tục và phục vụ người dân, xây dựng đất nước, xây đắp nên nền văn hóa Kito giáo tại vùng đất này từ thuở hoang sơ. Công giáo đã đưa vào mảnh đất này ánh sáng văn minh, những tư duy mới lạ tiến bộ, khoa học khai hóa mảnh đất này.

Những cơ sở của Giáo hội Công giáo từ khi sơ khai được mua, được sắm, được xây dựng đã hàng trăm năm trước khi có Cộng sản xuất hiện.

Thế rồi bỗng dưng xuất hiện cái gọi là “Đảng cộng sản” rồi xúi giục người dân trong cơn cướp bóc mang tên Cách mang, mà ở đó: “Chúng ta không có gì để mất, nếu mất, chỉ mất xiềng xích đói nghèo, nếu được, sẽ được tất cả”.

Với cái lý thuyết ấy, đảng đã lôi kéo được đám tiện dân chạy theo lý thuyết của đám lục lâm thảo khấu mà cướp, mà làm cách mạng, rồi đến khi cướp chính quyền năm 1945 và cướp luôn ngôi vị cai trị đất nước, nhân dân đến nay với cái lý thuyết rằng: “Vật chất quyết định ý thức” – Nghĩa là cứ cướp được, có tiền, thì sẽ có ý thức tử tế.

Ở đó, với chính sách quyết tâm tiêu diệt mọi tôn giáo để “tiến hành cuộc Cách mạng về Tư tưởng và văn hóa” chỉ nuôi mỗi lý thuyết duy vật vô thần Cộng sản tại Việt Nam, các tôn giáo đã bị đàn áp, tiêu diệt tàn bạo.

Và Giáo hội Công giáo trở thành nạn nhân của hệ thống này.

Hàng loạt các biện pháp dai dẳng từ việc tiêu diệt sạch không thành công, thì bóp nghẹt không cho phát triển. Hàng loạt chủng viện, nơi đào tạo bị giải tán, bị cướp đoạt. Kìm kẹp hàng ngũ tu sĩ, linh mục và hệ thống giáo hội từ hàng giáo phẩm đến giáo dân.

Hàng ngàn cơ sở vật chất của Giáo hội bị mượn, bị cướp, bị lấy đi không cần bất cứ một cơ sở luật pháp nào.

Thế nhưng, những biện pháp đó, đã không thể nào tiêu diệt được Đức tin của người Công giáo vốn đã được hun đúc từ nhiều đời, với niềm tin vào Thiên Chúa, họ đã và sẵn sàng trả giá máu cho Đức tin của mình.

Thế rồi, đến khi biết không thể kìm hãm được lòng tin, đức tin của giáo dân, thì nhà cầm quyền CSVN giở bài khuynh loát.

Cho đến nay, nhà cầm quyền CSVN đã cướp trắng nhiều cơ sở, tu viện, nơi thờ tự, thánh thất của Giáo hội Công giáo. Hiện nay, theo thống kê của Giáo hội, vẫn còn 2.500 cơ sở tôn giáo bị nhà nước “mượn” nhưng đòi thì không trả. Có thể kể đến nhiều cơ sở như vậy tại Việt Nam. Hầu như giáo phận nào, Giáo xứ nào cũng đều là nạn nhân của hệ thống công quyền cộng sản kể từ khi cướp được chính quyền đến nay. Riêng Hà Nội, con số đó là 150 cơ sở.

Điển hình là những năm gần đây, những tiếng kêu liên tục vang lên ở ngay không xa, là hai phía Bắc và Nam của Giáo phận Vinh. Đó là tại Thái Hà và Đan viện Thiên An, Huế.

Tại Thái Hà, cách đây mấy hôm, nhà cầm quyền ngang nhiên đập phá sửa chữa phi tang cơ sở của Nhà dòng được xây dựng từ năm 1928-1931, nghĩa là trước khi xuất hiện cái nòi cộng sản ở Việt Nam cả chục năm.

Thế rồi lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, nhà cầm quyền vào gặp linh mục Nguyễn Ngọc Bích để “Mượn” nhà dòng cho học sinh, cho bộ đội… Khi được trả lời rằng: “Tôi là linh mục quản lý không có quyền cho mượn” tên quan chức Quận Đống Đa đã chỉ mặt Linh mục mà rằng: “Ông không có quyền, thì tôi có quyền”. Và nhà cầm quyền đã “mượn” nhà dòng với cả loạt nhà cao tầng, nhà thờ và mọi cơ sở của Giáo xứ làm Bệnh viện Đống Đa từ đó đến nay.

Thế rồi quá trình giáo dân, giáo xứ, nhà dòng đòi lại liên tục, dai dẳng từ năm 1996, mỗi khi Bệnh viện muốn làm gì, thì đều phải sang xin phép Nhà Dòng. Bỗng nhiê, năm 2004, nhà cầm quyền CSVN tự ý đầu tư vào đó vài hạng mục, nghĩa là thực hiện kế sách chó sói gửi chân.

Và từ đó trở đi, nhà cầm quyền CSVN coi rằng Nhà Dòng đó đã được công sản hóa.

Đó là chính sách cuớp đoạt, dựa trên sự tử tế của tôn giáo để thể hiện bản tính rừng rú của mình.

Còn Đan viện Thiên An, Huế, từ những năm 1940, hai linh mục cũng là hai đan sĩ người Pháp đã sang đây mua mảnh đất tại đồi Thiên An, Huế để trồng thông và lập Đan viện Thiên An tại đây. Theo bản đồ của Ty Điền địa Thừa Thiên – Huế cấp cho Đan viện Thiên An, tổng diện tích của Đan Viện là 107 ha.

Tại đây, Đan viện Thiên An đã xây dựng một trường tiểu học, trại cô nhi, trại cá và xây dựng Đồi Đức Mẹ, Đồi Thánh Giá và một đập nước cung cấp nước cho cả khu vực. Kể từ đó, Đan viện Thiên An tồn tại và sử dụng nơi này liên tục, kể cả sau biến cố 1975.

Năm 1976, nhà nước đến “mượn” nhà trường Tiểu học, sau đó xin cho Ty Lâm nghiệp được “quản lý đồi thông”. Việc mượn này có giấy tờ mượn cái nhà hẳn hoi. Thế nhưng, câu chuyện chó sói gửi chân đã bắt đầu từ đây. Văn bản “mượn” nhà Trường của Đan viện Thiên An được đưa đến và cứ vậy họ chiếm dụng từ đó đến nay, tròn 40 năm không trả lại.

Năm 1998, nhà nước có văn bản “thu hồi” 49 ha “đất hoang”, thế nhưng, thực tế họ đã chiếm đất của Đan viện, nơi đã trồng cây và chăm bón suốt nửa thế kỷ trước cho đến lúc đó. Trước khi “thu hồi” không hề có một buổi làm việc, hoặc bất cứ một sự bồi thường tài sản cho Đan Viện.

Và đến nay, Đan Viện vẫn cứ là nạn nhân của trò cướp đoạt nhân danh “Mượn” của nhà cầm quyền CSVN.

Trở lại với Giáo phận Vinh hôm nay

Giáo phận Vinh nổi tiếng là Giáo phận kiên cường và anh dũng với đức tin sáng ngời của giáo dân trong suốt quá trình hình thành, tồn tại và phát triển của Giáo hội Công giáo tại đây.

Sự kiên vững đó, được thể hiện trong lịch sử của Giáo phận đã phải viết nên bằng chính máu, chính mạng sống của các linh mục, tu sĩ, giáo dân, đặc biệt là trong thời kỳ Văn Thân đến nay dưới thời Cộng sản sắt máu.

Thế nhưng, giáo dân Vinh dù phải trả bằng giá máu, bằng mạng sống của mình, vẫn kiên trung với Đức tin và trung thành, vâng lời các linh mục và hàng giáo phẩm.

Đã có những thời, người dân gửi gắm tất cả niềm tin yêu, tính mạng và cuộc sống của họ vào tay các linh mục mà không hề phân vân, đắn đo hoặc nghi ngờ. Đã có một thời, Linh mục, Giám mục, hàng giáo phẩm như là chính hiện thân của Chúa với giáo dân Vinh. Họ vâng lời tuyệt đối, họ tin tưởng tuyệt đối và họ sẵn sàng xả thân bảo vệ Giáo hội, bảo vệ chủ chăn.

Nhiều sự kiện đã chứng minh điều này cách hùng hồn nhất.

Gần đây, sự kiện giáo dân GP Vinh bị đàn áp dữ dội khi đòi quyền lợi của mình do biển bị Formosa đầu độc, cũng như nhiều vụ việc khác, đã làm cho Giáo dân GP Vinh càng hiểu hơn về thái độ của nhà cầm quyền CSVN đối với Giáo hội công giáo Việt Nam nói chung và Giáo phận Vinh nói riêng.

Bỗng nhiên, gần đây, giáo dân Vinh chộn rộn, hoang mang trước việc Tòa Giám mục GP Vinh có những động thái lạ, có nhiều hoạt đông giao lưu đề huề với chính quyền Cộng sản. Và ngạc nhiên hơn nữa, là gần đây, quân đội rất quan tâm và có nhiều hoạt động ngay trên Tòa Giám mục và Trung tâm hành hương Trại Gáo cũng như một số hiện tượng tương tự ở một số nơi trong giáo phận.

Phải chăng, đến nay nhà cầm quyền Nghệ An đã thay đổi cách nhìn, thay đổi thái độ và đường lối đối với Tôn giáo nói chung và Giáo phận Vinh nói riêng?

Xin thưa là không.

Xưa nay, đường lối của đảng cộng sản luôn được tự kết luận là nhất quán: Tôn giáo, là một phạm trù lịch sử, sẽ tự tiêu vong khi Chủ nghĩa Cộng sản phát triển đến mức nào đó. Và khi không thể tiêu diệt được tôn giáo bằng hành động trực tiếp, thì phải đối chính sách thành “Liên minh tiêu diệt” – Nghĩa là cần phải liên minh với tôn giáo, để tiêu diệt tôn giáo. Mà trước hết là “Tận dụng những phần tử tiến bộ trong Tôn giáo để phục vụ sự nghiệp cách mạng của đảng”.

Nhìn những hành động này của nhà cầm quyền Nghệ An, người ta nhớ lại những ngày Đức Giám mục Phaolo Nguyễn Thái Hợp mới về Giáo phận Vinh.

Khi đó, cũng đầy những việc giao hảo, hữu nghị và đầy sự tương tác thân tình. Trước hết, những nơi nào lấn cấn đòi lại đất đai, xung khắc với chính quyền, hầu như ĐGM giải quyết bằng cách rút êm không gây căng thẳng… Những linh mục khó bảo, không chịu chính quyền trong việc đòi lại đất đai của Giáo xứ, Tỉnh có văn bản yêu cầu chuyển đổi đi nơi khác, thì được đáp ứng. Thậm chí, trong kỳ Tĩnh tâm các linh mục, thay vì cấm phòng và các việc đạo đức khác, ĐGM Phaolo Nguyễn Thái Hợp còn mời luật sư về để giảng dạy cho các linh mục nghe về Luật đất đai của nhà nước. Chương trình này đã bị các linh mục phản đối dữ dội và ngài phải bỏ giữa chừng.

Và chỉ cần như vậy, chính quyền Nghệ An tung hứng, ca ngợi và ưu ái ĐGM Nguyễn Thái Hợp lên mây xanh. Thậm chí, Báo Nghệ An, cơ quan của Tỉnh ủy Nghệ An lúc đó còn rất hăng hái ca ngợi một “Đức Giám mục uyên thâm, tài cao, học rộng” sẽ dẫn dắt đàn chiên đi đúng đường hướng “Tốt đời, đẹp đạo”.

Thế là ĐGM Phaolo Nguyễn Thái Hợp bị đặt vào thế kẹt giữa lòng dân và tình thương mến thương với chính quyền Cộng sản.

Ngài đã bước đi bằng chính sách đu dây giữa hai bên. Nhiều khi có những vấn đề thực tế ngài không thể xử lý khi mà Ý đảng luôn đi ngược, nhưng lại đã đi ngược trắng trợn với lòng dân. Chẳng hạn khi linh mục cùng với giáo dân đi cứu trợ ở Quảng Bình bị công an chặn lại ở Bến Thủy vô cớ, thì ĐGM Phaolo đã đành gọi linh mục trở lại trong nỗi bất bình của giáo dân.

Chính khi đó, chúng tôi đã thưa với ngài rằng: Thưa Đức cha, ngài sẽ phải sống với 500.000 giáo dân Giáo phận Vinh, với hàng linh mục, tu sĩ Vinh chứ không phải với chính quyền, công an cộng sản mà để mấy thằng an ninh muốn gọi, muốn nói gì với ngài vào khi nào cũng được. Tiếc rằng khi đó, ngài vẫn nghĩ rằng mình đúng và với tài cao học rộng của mình, những lời đó bị bỏ ngoài tai và thậm chí thành “thế lực không thân thiện”.

Thế rồi, đến khi vụ Mỹ Yên xảy ra, khi nhà cầm quyền Nghệ An trở mặt với giáo dân, giở những trò bẩn thỉu, bội ước, nuốt lời, bắt cóc giáo dân… thì khi đó, nhà cầm quyền Nghệ An trông đợi bước hóa giải của ĐGM Phaolo Nguyễn Thái Hợp như mọi khi.

Thế nhưng khi đó, ĐGM Phaolo Nguyễn Thái Hợp đang vướng lễ Phong chức Giám mục Phero Nguyễn Văn Viên không kịp thời giải quyết.

Chỉ cần có vậy, bài báo trên tờ Nghệ An tường thuật lễ Tấn phong Giám mục trên báo Nghệ An với những lời lẽ thân thiện chưa kịp ráo mực, thì Báo Nghệ An đã trở mặt ngay lập tức réo tên Nguyễn Thái Hợp lên mà xỉ vả, mà quy trách nhiệm, mà chửi rủa đủ mọi ngôn từ.

Dàn dư luận viên của Đảng, báo đài nhà nước ở cả trung ương lẫn địa phương đa quay ngoắt 180 độ như đã thay lưỡi để tuôn ra những lời thóa mạ và quy kết.

Và từ đó, đổ bể mối quan hệ “tốt đời, đẹp đạo” giữa hai bên.

Thế rồi, nhà cầm quyền CSVN phát động một phong trào hạ nhục và hạ bệ ĐGM Nguyễn Thái Hợp bằng mọi cách, kể cả cách bẩn thỉu nhất.

Nhưng, khi đó, lời nhắc nhở của chúng tôi khi xưa đã thành sự thật. Khi đó, ĐGM Nguyễn Thái Hợp cô đơn giữa ngay chính bạn bè mình, giữa những cây bút công giáo vốn bênh vực các ĐGM dám hy sinh. Và cơ đồ của ngài ngàn cân treo sợi tóc giữa bầy quỷ dữ.

Chính sự đoàn kết mạnh mẽ của Linh mục Đoàn GP Vinh, của giáo dân Vinh, kể cả những người giáo dân như Đông Yên, là nạn nhân của đường lối của ngài, thì ngài mới đứng vững được đến ngày hồi hưu.

Bài học đó chưa cũ.

Thế rồi, Giáo phận Vinh một lần nữa thay đổi từ khi ĐGM Phaolo Nguyễn Thái Hợp vào Hà Tĩnh để một ĐGM mới về làm Giám mục Chính tòa: ĐGM Alf. Nguyễn Hữu Long.

Và ĐGM Chính tòa mới đã rất nhanh chóng thể hiện rằng sẽ bước đi theo con đường mà đấng tiền nhiệm đã bước.

Sau những việc làm, những hành động của ĐGM Alf. Nguyễn Hữu Long vừa qua từ sau khi nhậm chức, đã bị nhiều người lên tiếng, chất vấn và kết luận.

Có thể kết luận mọi vấn đề thì còn hơi sớm trong đời một Giám mục. Bởi đường xa mới biết ngựa hay, con đường phía trước còn dài cho một Giám mục thể hiện trước đàn chiên mình là ai, đứng nơi nào trong việc coi sóc đoàn chiên của mình, thái độ của mình ra sao trước đoàn chiên đang giữa bầy lang sói để sau đó họ trả lời trước mặt Chúa về trách nhiệm của mình.

Đã nhiều ĐGM thể hiện điều này thành công và cũng không thiếu những sự thất bại để đời cho con cháu, giáo hội sau này ghi nhận. Thế nên thiết nghĩ, và hy vọng rằng ĐGM Alf. Nguyễn Hữu Long có đủ trí khôn được quan phòng, để suy nghĩ thấu đáo hơn những bước đi, những đường hướng của mình hầu để sau đây, con cháu Giáo phận Vinh còn nhắc đến ngài như một niềm tự hào trong lịch sử Giáo phận.

Hẳn nhiên, điều ai cũng biết là con cháu GP Vinh sẽ chẳng nhắc lại chuyện cái nhà to, cái sân lớn. Bởi nó sẽ bị đập đi không lâu sau đó khi xã hội tiến lên. Điều còn lại, với giáo dân, với Giáo hội, đó là tinh thần, ngọn lửa bất diệt của truyền thống Vinh trong giai đoạn này ra sao.

Nhưng, có một điều nhắc lại cũng không thừa rằng: Đừng bao giờ mất cảnh giác với bầy sói, nếu mình thật sự là một chủ chăn. Những bài học cho chó sói gửi chân vẫn còn rất mới, rất đau đớn của Giáo hội Việt Nam cho đến nay.

Riêng lịch sử Giáo phận Vinh gần đây đã chứng minh nhiều điều mà nếu đọc kỹ, mỗi người sẽ rút ra được kinh nghiệm cho mình trước khi hành động.

28.11.2023

J.B Nguyễn Hữu Vinh