Showing posts with label XaHoi-SanXuat-CongNghiep. Show all posts
Showing posts with label XaHoi-SanXuat-CongNghiep. Show all posts

Tuesday, June 30, 2015

Thương lái ‘lộng hành’ ở Việt Nam, Trung Quốc nói gì?

Theo (Phụ nữ TP)-06-29-2015
Trước những cáo buộc thương lái Trung Quốc (TQ) lộng hành ở Việt Nam, đại diện Tổng lãnh sự quán TQ tại TP HCM cho biết, sẽ thẩm định việc này.

Thương lái ‘lộng hành’ ở Việt Nam, Trung Quốc nói gì?
Khoai lang tại Vĩnh Long phải đổ đống do thương lái Trung Quốc đặt hàng nhưng không mua

Chiêu trò của thương lái TQ

Tham gia đối chất với ông Lý Chấn Dân, Lãnh sự thương mại, Tổng Lãnh sự quán TQ tại TP HCM trong một hội thảo diễn ra cuối tuần qua, ông Bùi Thanh Vân, Giám đốc Công ty TNHH Thương mại Vân Tùng (An Giang), kể rất nhiều thương lái TQ về các tỉnh miền Tây khuyến khích nông dân địa phương trồng khoai, trồng lúa, thu hoạch bao nhiêu mua hết bấy nhiêu.

Ban đầu họ mua bán sòng phẳng, nhiều nông dân hứng khởi cầm cố nhà đất để vay vốn trồng trọt nhưng đến khi thu hoạch thì chẳng thấy người mua đâu cả, khoai lúa đổ bỏ. Cách mua hàng kỳ quặc này khiến nhiều nông dân ôm nợ. “Giờ nhiều nông dân đến cái ăn cũng không còn…” – ông Vân bức xúc.

Tương tự, ông Ngô Viết Hoài, Phó tổng giám đốc Công ty CP chế biến xuất nhập khẩu thủy sản Bà Rịa – Vũng Tàu, cho hay các thương nhân TQ thường xuyên đến các cảng cá của Việt Nam mua gom hải sản nguyên liệu để xuất tiểu ngạch về TQ. Bằng cách trả giá cao hơn, những người này dễ dàng “nẫng tay trên” các doanh nghiệp (DN) chế biến thủy hải sản Việt Nam khiến nhiều nhà máy gặp khó khăn trong vấn đề nguyên liệu.

Theo một số DN thủy sản, cách mua bán của thương nhân TQ gây thiệt hại và bất ổn cho họ. Nhiều đội tàu của ngư dân nhận hỗ trợ của DN và Nhà nước, lẽ ra khi đánh bắt về sẽ phải ưu cung cấp nguyên liệu cho các nhà máy, nhưng bằng hình thức mua với giá cao hơn, các thương nhân TQ đã gây xáo trộn thị trường.

Không chỉ lũng đoạn trong mua bán qua đường tiểu ngạch, đường chính ngạch với TQ cũng khiến không ít DN Việt Nam khó khăn khi mọi thông tin về chính sách nhập khẩu nước này không được phổ biến minh bạch. Đơn cử, theo đại diện Công ty lương thực An Giang, trước đây TQ thường công bố quota nhập khẩu gạo cho năm sau vào tháng 11 hàng năm nhưng gần đây chẳng biết họ công bố lúc nào, trong khi DN lớn nhỏ của họ đồng loạt hỏi mua…

Đợi… thẩm định (?)

Trước hàng loạt cáo buộc về những tổn hại mà thương nhân TQ gây ra cho thị trường nông

sản Việt Nam, đại diện đến từ TQ không đưa ra bất cứ bình luận nào về những hình thức mua bán đó. Ban đầu, vị Lãnh sự thương mại TQ còn trả lời bằng tiếng Hoa thông qua người phiên dịch nhưng sau khi nghe hàng loạt DN Việt Nam “kể tội” thương nhân TQ, ông này chuyển qua nói tiếng Việt một cách khá lưu loát.

Dù vậy, ông Lý Chấn Dân chỉ đưa ra ý kiến, trong số những DN đến Việt Nam làm ăn, có nhiều DN đàng hoàng, và cũng có những công ty nhỏ, thương nhân không chuyên nghiệp. Riêng đối tượng không chuyên nghiệp này, phía TQ chưa thể thẩm định và cung cấp danh tính ngay cho các DN Việt Nam để có thể cẩn trọng hơn trong giao dịch.

Theo ông Lý, ở lĩnh vực nhập khẩu gạo, TQ chỉ có khoảng 100 DN được chính quyền nước này cấp phép nhập khẩu từ Việt Nam, danh sách được chuyển cho Bộ Công thương của Việt Nam. Tuy nhiên, trên thực tế, đội ngũ nhập khẩu gạo TQ theo đường tiểu ngạch sang Việt Nam mua bán gạo rất nhiều, khiến các DN Việt Nam kêu ca. Ông Lý giải thích 100 DN được cấp phép nhập gạo chính ngạch từ Việt Nam được hưởng mức thuế thấp (1%), trong khi nhập tiểu ngạch sẽ phải chịu mức cao (60%). Có thể với mức thuế này cộng với hình thức nhập không chính thức là nguyên nhân dẫn đến việc mua bán thiếu ổn định.

Một nguyên nhân khác được ông Mậu Nhơn Lại, Chủ tịch Phân hội TP HCM (thuộc Hiệp hội DN TQ tại Việt Nam), cho biết việc thường xuyên bị “lật kèo” trong mua bán, hay hàng nông sản chở đến biên giới bị ngưng mua đột ngột là do nông dân và DN Việt Nam thường chỉ tập trung vào một số thương lái nhỏ lẻ. Những thương lái này tự đi tìm nguồn hàng, lợi thì họ mua, thấy bất lợi họ ngưng.

Đại diện Hiệp hội DN TQ tại Việt Nam cho biết sẽ thẩm định những thương nhân, DN nhỏ không chuyên và sẽ giới thiệu cho phía Việt Nam những DN uy tín để hợp tác làm ăn.

Ông Mậu Nhơn Lại cho biết Hiệp hội DN TQ tại Việt Nam đã đưa ra ý tưởng lập một trung tâm giao dịch nông sản tại Cần Thơ sau khi làm việc với lãnh đạo thành phố này. Tại trung tâm, nông dân có thể giao dịch trực tiếp với những nhà nhập khẩu uy tín của TQ.

Ông Lý Chấn Dân đề nghị thiết lập một sàn thương mại điện tử xuyên quốc gia. Việc mua bán có thể giao dịch qua internet nhưng có sự giám sát của cơ quan thuế, hải quan, biên phòng… Với hình thức giao dịch qua sàn thương mại điện tử, ông Lý cho rằng sẽ hạn chế được những rủi ro cho cả hai.

Sunday, August 31, 2014

Công nghiệp phụ trợ: “Việt Nam đang chế biến hộ cho thiên hạ”

000_Hkg8686356.jpgTriển lãm xe công nghiệp Trung Quốc được lắp ráp tại VN hôm 12/6/2013, tại Hà Nội-AFP photo
Vũ Hoàng, RFA 2014-08-29
Thời gian gần đây, Việt Nam nhắc nhiều đến một yếu tố quan trọng để đưa nền kinh tế ra khỏi sự ảnh hưởng, lệ thuộc vào Trung Quốc và nâng cao giá trị gia tăng của hàng hóa xuất khẩu đó là đẩy mạnh những ngành “công nghiệp hỗ trợ”.

Vai trò của công nghiệp hỗ trợ

Công nghiệp hỗ trợ được hiểu là các ngành công nghiệp sản xuất từ nguyên vật liệu đến gia công chế tạo các sản phẩm, phụ tùng, linh kiện, bán thành phẩm… để cung cấp cho ngành công nghiệp lắp ráp các sản phẩm cuối cùng là tư liệu và công cụ sản xuất hay sản phẩm tiêu dùng.
Trong cuốn “Biến động kinh tế Đông Á và con đường công nghiệp hóa Việt Nam" G.S Trần Văn Thọ chỉ ra rằng “công nghiệp hỗ trợ” rất quan trọng vì ngoài việc tăng sức cạnh tranh của sản phẩm công nghiệp chính và đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo chiều rộng và chiều sâu, công nghiệp hỗ trợ còn góp phần đẩy mạnh thu hút đầu tư nước ngoài và tạo thêm việc làm một cách hiệu quả.
Ngành công nghiệp phụ trợ của Việt Nam rất sơ sài, nên các doanh nghiệp FDI của Việt Nam vẫn phải nhập các phụ tùng, thiết bị công nghiệp từ nước ngoài vào Việt Nam.
TS Trần Văn Hải
Vì lẽ đó, nếu công nghiệp hỗ trợ không phát triển thì các ngành công nghiệp chính sẽ thiếu sức cạnh tranh, khó thu hút được các công ty đầu tư trực tiếp nước ngoài và Việt Nam phải phụ thuộc nhiều vào nhập khẩu.
Nhiều chuyên gia đánh giá, trong bối cảnh Biển Đông còn nhiều phức tạp, việc phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu từ Trung Quốc chứa đựng nhiều rủi ro, bất ổn vì thế ngành công nghiệp hỗ trợ càng có vai trò lớn hơn, nhằm đảm bảo tính chủ động của nền kinh tế quốc nội.
Thậm chí nhiều vị còn cho rằng “công nghiệp hỗ trợ” này phải mang tính chất “xương sống” của nền công nghiệp quốc gia.
Thế nhưng, trên thực tế ngành công nghiệp hỗ trợ vẫn chưa cất cánh và chưa được chú trọng đầu tư dù rằng đã có những quy hoạch phát triển do Chính phủ phê duyệt từ cách đây hàng chục năm.
Đánh giá chung về ngành công nghiệp hỗ trợ ở Việt Nam, T.S Trần Văn Hải, nguyên là giảng viên bộ môn Kinh tế ở một trường đại học tại Hà Nội hiện đang làm tư vấn về đầu tư cho doanh nghiệp nước ngoài nhận xét:
“Những ngành công nghiệp phụ trợ của Việt Nam rất sơ sài, nên các doanh nghiệp FDI của Việt Nam vẫn phải nhập các phụ tùng, thiết bị công nghiệp từ nước ngoài vào Việt Nam. Đơn giản, họ chỉ lắp ráp các sản phẩm công nghiệp ở trong nước, rồi sau đó mang đi xuất khẩu.
Chính vấn đề đó, nó giúp cho Việt Nam trong chuỗi sản phẩm không lớn. Cũng chính vì đặc tính trên nên giá trị gia tăng trên mỗi sản phẩm không nhiều.”
Ngoài ra, T.S Hải lấy thí dụ tại Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan hay Malaysia những ngành công nghiệp hỗ trợ có vị trí rất quan trọng để phát triển nền công nghiệp trong nước, những quốc gia trên ưu tiên phát triển những ngành này từ những ngày đầu thực hiện công nghiệp hóa tại nước họ.
Kết quả là xã hội nói chung và công nghiệp nói riêng ở những quốc gia trên có sự phân công lao động hợp lý và hiệu quả.

Nghịch lý Việt Nam

Nếu nhìn vào bức tranh chung, có thể nhận thấy vai trò của ngành công nghiệp trong nước hiện tại tạo ra giá trị gia tăng không nhiều trong chuỗi sản phẩm, vì thế phần đóng góp của Việt Nam không cao, chỉ được coi như “phần ngọn” trong khi “phần gốc” lại là hàng hóa nhập khẩu về từ một bên thứ ba.
Vấn đề công nghiệp là đang chế biến hộ cho thiên hạ, công nghiệp phụ trợ của mình không có, thành thử giá trị gia tăng để tăng thu nhập cho nền kinh tế gần như ở mức thấp nhất.
GS Vũ Văn Hóa
Chính điều này được giáo sư Vũ Văn Hóa gọi bằng cái tên “Việt Nam đang chế biến hộ cho thiên hạ” ông phân tích:
“Vấn đề công nghiệp là đang chế biến hộ cho thiên hạ, công nghiệp phụ trợ của mình không có, thành thử giá trị gia tăng để tăng thu nhập cho nền kinh tế gần như ở mức thấp nhất, dệt may chẳng hạn, tăng trưởng của nó theo thông báo thì tương đối lớn trong xuất khẩu thế nhưng từ nguyên liệu là vải đến tất cả các việc tạo ra một cái áo, ngay cả mẫu mã cũng phải nhập ở nước ngoài. Như vậy Việt Nam chỉ có mỗi cái chi phí nhân công là chính mà chi phí nhân công của Việt Nam lại quá rẻ.”
Trong một buổi thảo luận gần đây về ngành công nghiệp hỗ trợ tại Việt Nam, G.S T.S Võ Thanh Thu của trường Đại học Kinh tế TPHCM đã phát biểu với truyền thông trong nước rằng “Việt Nam sắp đi hết chặng đường 30 năm đổi mới kinh tế, nhưng chỉ mới xây dựng được nền công nghiệp gia công mang tính phụ thuộc.
Nền kinh tế Việt Nam đứng trước một nghịch lý đó là nguyên liệu trong nước có khả năng cung cấp được thì hầu hết xuất khẩu thô như nông sản, than đá… công nghiệp chủ lực mang lại ngoại tệ cho đất nước chủ yếu gia công lắp ráp từ nguyên liệu nước ngoài, công nghiệp hỗ trợ kém phát triển.”
Với hai điểm cơ bản thứ nhất là thoát khỏi sự phụ thuộc vào hàng hóa nhập khẩu, tăng cường tính chủ động cho nền kinh tế, và thứ hai là tăng cường giá trị gia tăng của hàng xuất khẩu cũng như FDI, do đó, việc đầu tư vào ngành công nghiệp hỗ trợ hẳn là lúc cần phải được đẩy nhanh. Vậy những gì Việt Nam cần phải làm lúc này:
“Hiện nay các doanh nghiệp tư nhân không có điều kiện để mà khai thác các thị trường mặc dù họ vẫn có thể có cơ hội ở đâu đó thị trường trong nước, thị trường bên ngoài hoặc tạo thành các doanh nghiệp mang tính chất cung cấp các sản phẩm phụ trợ cho các nhà đầu tư nước ngoài để tham gia vào các liên kết.
Cũng có thể là ban đầu ở vị trí thấp hoặc cung cấp một số sản phẩm thôi về sau nâng cấp dần để có thể tham gia sâu hơn vào những giá trị trong khu vực và toàn cầu.”
Vừa rồi là lời nhận xét của bà Phạm Chi Lan trong một lần phỏng vấn gần đây với chúng tôi khi nói về làm sao để thúc đẩy vai trò khối các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong hoạt động của ngành công nghiệp hỗ trợ.
Theo số liệu thống kê, lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ phần lớn do các doanh nghiệp vừa và nhỏ thực hiện với quy mô sản xuất nhỏ, đây là khu vực tạo ra nhiều việc làm và chiếm tới hơn 97% số doanh nghiệp ở Việt Nam.
Nhiều chuyên gia cho rằng phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ là biện pháp hữu hiệu nhất để đối phó với khủng hoảng kinh tế cũng như khiến nền kinh tế nội địa chủ động hơn.
Bên cạnh biện pháp tăng cường vai trò của những doanh nghiệp vừa và nhỏ trong chuỗi sản xuất, việc đẩy mạnh vai trò của công nghiệp hỗ trợ cũng khiến môi trường đầu tư trở nên hấp dẫn hơn với các nhà đầu tư nước ngoài, khiến họ không còn phải lo lắng vấn đề nhập khẩu linh kiện, thiết bị phụ trợ hay các dịch vụ đi kèm từ một nước thứ ba.
Và cuối cùng khi một nền công nghiệp phụ trợ phát triển cũng sẽ đẩy mạnh tiến trình chuyển giao và nâng cao trình độ công nghệ sản xuất.
Có thể nhận thấy tầm quan trọng của công nghiệp hỗ trợ không chỉ ở Việt Nam mà còn ở các nước trong khu vực, thế nhưng để ngành công nghiệp này phát huy tối đa hiệu quả thì còn là câu chuyện dài vì như lời T.S Trần Du Lịch nhận xét: “Bàn bạc bao nhiêu, cuối cùng cũng chỉ là những tài liệu cất trong hộc bàn.”

Việt Nam 'vẫn chưa sản xuất được bộ sạc pin cho điện thoại'

HÀ NỘI (NV) .-Sau hai thập niên thực hiện “công nghiệp hóa, hiện đại hóa” để xây dựng “kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa”, CSVN vẫn chưa sản xuất được bộ sạc pin cho điện thoại.


 Sản xuất linh kiện cho xe hai bánh gắn máy của Honda ở Việt Nam. (Hình: Thời báo Kinh tế Sài Gòn)

Trong một cuộc trò chuyện với tờ Tuổi Trẻ, ông Trương Thanh Hoài, Vụ phó Vụ Công nghiệp nặng của Bộ Công Thương CSVN, cho biết, tập đoàn Samsung của Nam Hàn hiện đang hoạt động tại Việt Nam đã từng gửi một danh sách, đề nghị các doanh nghiệp Việt Nam cung cấp 170 loại linh kiện vốn rất đơn giản như: bộ sạc pin cho điện thoại, cáp chuyển dữ liệu, vỏ điện thoại, tai nghe… nhưng các doanh nghiệp tại Việt Nam vẫn không đáp ứng được.

Ông Hoài nói thêm, khi đưa ra đề nghị cung cấp phụ kiện, Samsung từng ước tính, riêng bộ sạc pin cho điện thoại, mỗi năm, Samsung cần khoảng 400 triệu sản phẩm. Nếu doanh nghiệp Việt Nam đáp ứng được nhu cầu, mỗi bộ sạc pin lời 50 cents, Việt Nam đã kiếm được 200 triệu Mỹ kim nhưng các doanh nghiệp Việt Nam bó tay vì công nghệ lạc hậu, giá thành sản phẩm cao.

Hai thập niên vừa qua, chế độ Hà Nội giao cho các tập đoàn, tổng công ty nhà nước hàng trăm ngàn tỉ để vứt vào những dự án, kế hoạch vô bổ. Họ chỉ hứa hẹn, không hề hỗ trợ công nghiệp phụ trợ, cho dù các chuyên gia kinh tế liên tục khuyến cáo, nếu không có công nghiệp phụ trợ, Việt Nam sẽ càng ngày càng lệ thuộc vào Trung Quốc về nguyên liệu, vật liệu, phụ tùng, sản xuất trong nước sẽ đình đốn, thất nghiệp gia tăng, kinh tế suy thoái.

Công nghiệp phụ trợ là cách gọi chung hệ thống nhà máy chuyên cung cấp nguyên liệu, vật liệu và phụ tùng để những nhà máy khác có thể sản xuất các sản phẩm hoàn chỉnh. Giới đầu tư nước ngoài đã rất nhiều lần than phiền về công nghiệp phụ trợ của Việt Nam quá èo uột.

Chẳng hạn, các doanh nghiệp Việt Nam không đủ khả năng cung cấp nguyên liệu cho YKK – một công ty Nhật, chuyên sản xuất dây kéo (fermature/zipper). Cũng vì vậy, nhà máy của YKK tại Việt Nam phải nhập cảng 90% nguyên liệu để sản xuất dây kéo.

Tương tự, hầu hết doanh nghiệp Nhật đầu tư vào Việt Nam phải nhập cảng nguyên liệu, vật liệu, phụ tùng, nên giá thành của những sản phẩm được sản xuất tại Việt Nam rất cao. Trong nhiều trường hợp, giá thành của các sản phẩm được sản xuất tại Việt Nam cao gấp đôi sản phẩm cùng loại được sản xuất ở những quốc gia khác. Cũng vì vậy, sức hấp dẫn do giá nhân công rẻ và tiền thuê đất thấp đã giảm đáng kể.

Năm ngoái, kết quả một cuộc khảo sát do Trung tâm Xúc tiến thương mại Nhật (JETRO) thực hiện cho thấy, Việt Nam chỉ cung cấp gần 28% nguyên liệu và phụ tùng cho các công ty Nhật đang sản xuất tại Việt Nam. Trong khi Trung Quốc có thể cung cấp 61% nguyên liệu và phụ tùng cho các công ty Nhật đầu tư vào Trung Quốc. Thái Lan có thể cung cấp 53% nguyên liệu và phụ tùng cho các công ty Nhật đầu tư vào Thái Lan.

Nay, trước thực trạng doanh nghiệp tư nhân phá sản hàng loạt, số người thất nghiệp tăng đáng ngại, chế độ Hà Nội lại hứa sẽ cho các tổ chức, cá nhân thực hiện các hoạt động phát triển công nghiệp phụ trợ hưởng những ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân, thuế nhập cảng…

Chưa biết CSVN sẽ thực hiện lời hứa đó thế nào. Hồi đầu năm 2011, Thủ tướng CSVN từng ban hành một quyết định xác nhận sẽ hỗ trợ công nghiệp phụ trợ nhưng gần như tất cả doanh nghiệp có khả năng trong lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ tại Việt Nam khẳng định họ chẳng hề nhận được sự hỗ trợ nào.

Năm nay, theo ước đoán của Bộ Công thương Việt Nam, do công nghiệp hỗ trợ tại Việt Nam gần như bằng 0, hệ thống doanh nghiệp điện - điện tử, dệt may và da giày của Việt Nam phải chi khoảng 53 tỉ Mỹ kim cho việc nhập nguyên liệu, vật liệu, phụ tùng từ Trung Quốc. (G.Đ)

08-29- 2014 5:06:44 PM
Theo Người Việt

Wednesday, August 27, 2014

Việt Nam, chiếc ôtô và cây lúa



Published on August 27, 2014   ·  
oto
Đối với ngành công nghiệp ôtô Việt Nam, trở ngại hay thuận lợi mang tính quyết định, suy cho cùng chính là câu chuyện dung lượng thị trường – Ảnh: Việt Tuấn.

Như người nông dân trông vào thiên nhiên, ngành công nghiệp ôtô cũng phải trông vào nhiều nguồn lực khác…
Sau một lần vấp váp, công nghiệp ôtô lại có một bản chiến lược mới với những mục tiêu xứng đáng được gọi là tham vọng. Song, để tham vọng trở thành hiện thực, việc nhìn nhận lại những nguyên nhân cơ bản đã khiến cho ngành “mũi nhọn” này không thể “lớn” được qua gần 20 năm chăm bẵm là thật sự cần thiết.
Theo cách nhìn của nhà báo Mỹ Thomas Friedman, tác giả cuốn sách nổi tiếng “Chiếc Lexus và cây oliu”, thì ở Việt Nam, chiếc ôtô cũng hoàn toàn toàn có thể đem ra so sánh với cây lúa.
Nhưng ở đây, sự so sánh không phải về giá trị vật chất và giá trị văn hóa, tinh thần mà người viết xin được thử đặt chúng cạnh nhau trên giác độ sản xuất, tức là người kỹ sư ôtô với người nông dân trồng lúa, hay rộng hơn là ngành công nghiệp ôtô với ngành nông nghiệp mà cây lúa nước là chủ đạo.
Chiếc ôtô là sản phẩm của một ngành siêu công nghiệp mà về cơ bản, các hãng xe làm công việc cuối cùng là lắp ráp lại từ hàng chục nghìn linh kiện khác nhau do hàng trăm, hàng nghìn doanh nghiệp khác nhau cung cấp.
Trong mô hình tháp xuôi của công nghiệp ôtô, các nhà sản xuất (OEM – Original Equipment Manufacturer) nằm ở đỉnh tháp còn toàn bộ phần thân và chân tháp là các nhà cung cấp linh kiện, phụ tùng mà chúng ta thường gọi là khối doanh nghiệp hỗ trợ. Không thể có một hãng xe nào tự mình sản xuất ra nguyên vẹn một chiếc ôtô.
Thực tế này chỉ ra rằng, nếu chỉ có bản thân các OEM thì không thể có được ngành công nghiệp ôtô mà các doanh nghiệp đều phải phụ thuộc vào nhau trong một chuỗi giá trị mà các OEM có vai trò “mở đầu” và “khóa đuôi” trong toàn bộ quy trình nghiên cứu, sản xuất. Chuỗi giá trị này thực tế còn rộng hơn rất nhiều bởi còn phải chịu tác động từ rất nhiều yếu tố khác như thị trường và các dịch vụ liên quan.
Liên quan đến cây lúa. Trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam có bài ca dao rất thú vị nói về người trồng lúa. Một người nông dân khi đi cấy không phải chỉ đơn giản là đem mạ ra đồng cắm xuống bùn ngấu mà luôn phải “trông nhiều bề”. Một mùa vụ bội thu hay thất thu luôn phụ thuộc vào hàng loạt yếu tố như thời tiết, sâu bệnh, giá thóc gạo…
Sự khập khiễng là khó tránh khỏi nhưng việc so sánh cũng sẽ cho thấy những điểm chung nhất. Anh kỹ sư ôtô không phải cứ muốn là vào nhà máy lắp ráp ra chiếc ôtô hay chị nông dân cứ muốn là có thể ra đồng canh tác. Chiến lược công nghiệp ôtô Việt Nam cũng vậy, không phải cứ đặt mục tiêu và nỗ lực làm việc là có thể thành công.
Với cách hiểu trên, xung quanh chiến lược công nghiệp ôtô giai đoạn 2025 tầm nhìn 2035, vừa được Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ký quyết định phê duyệt, có thể tạm hình dung anh kỹ sư ôtô hay chị nông dân trồng lúa chính là Bộ Công Thương và các doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp ôtô.
Và như thực tế chặng đường gần 20 năm qua đã cơ bản chứng minh, sự thành bại của công nghiệp ôtô còn phụ thuộc vào rất nhiều lực lượng và những tác động khác.
Giống như người trồng lúa “trông trời, trông đất, trông mây”, các doanh nghiệp ôtô và cơ quan quản lý trực tiếp là Bộ Công Thương cũng phải trông vào thị trường, vào các ngành khác như tài chính, giao thông vận tải hay thậm chí là công an… Tại sao vậy?
Đối với ngành công nghiệp ôtô Việt Nam, trở ngại hay thuận lợi mang tính quyết định, suy cho cùng chính là câu chuyện dung lượng thị trường. Đây luôn là một bài toán nan giải với nhiều mệnh đề khó.
Các doanh nghiệp ôtô cho biết, giá thành lắp ráp ôtô tại Việt Nam luôn cao hơn ít nhất 20% so với nước ngoài, mà sát sườn nhất là Thái Lan và Indonesia. Vì vậy, để có thể hạ giá thành sản phẩm thì thị trường phải có dung lượng đủ lớn, có thể là từ 500.000 xe/năm trở lên tại giai đoạn trước 2020, tức thời điểm bắt đầu giai đoạn “ôtô hóa” (motorization) theo nghiên cứu của ngành công thương.
Trong khi, với số dân đang tiệm cận mốc 100 triệu thì sức mua trên toàn thị trường trong khoảng 2 năm trở lại đây mới chỉ xoay quanh mức 120.000 xe/năm. Lưu ý rằng cách đây nửa thập niên, dung lượng thị trường ôtô Việt Nam cũng đã vượt qua mốc 100.000 xe/năm. Đó là một con số quá nhỏ bé nếu hình dung bối cảnh hơn 20 thương hiệu đang phân chia thị phần.
Vấn đề ở chỗ, dung lượng nhỏ không phải do nhu cầu và khả năng mua sắm của người tiêu dùng thấp mà vì bản thân những chiếc ôtô đang bị liệt vào dạng mặt hàng cần phải hạn chế tiêu dùng. Mối mâu thuẫn này bị chi phối bởi một hiện thực đau đầu bấy lâu nay là tình trạng ùn tắc và tai nạn giao thông luôn ở mức báo động.
Tùy theo từng cách nhìn mà có những “đối tượng” khác nhau khiến cho thực trạng ùn tắc và tai nạn giao thông trở nên nghiêm trọng. Tuy nhiên, để giải quyết tình thế này thì cùng lúc phải cần đến sự chung tay của nhiều ngành để vừa nâng cao ý thức chấp hành pháp luật giao thông của người tham gia giao thông, vừa hòan thiện hệ thống pháp luật giao thông, vừa phát triển hệ thống hạ tầng giao thông…
Khi giao thông thông thoáng, tại nạn giảm thiểu thì đương nhiên “nhu cầu” hạn chế phương tiện giao thông cá nhân không thể tiếp tục tồn tại. Khi ấy, thị trường ôtô sẽ được kích thích phát triển, sức mua sẽ tăng mạnh và Việt Nam sẽ trở thành một thị trường ôtô lớn nếu tính toán đơn thuần dựa trên quy mô dân số.
Vấn đề là khi trở lại với câu chuyện phát triển công nghiệp ôtô mà chiến lược mới đặt ra, tất cả những khó khăn vốn đã và đang níu kéo ngành công nghiệp ôtô bấy lâu nay vẫn sừng sững phía trước. Và để giải quyết nó, chỉ riêng ngành Công Thương, anh kỹ sư ôtô hay người nông dân trồng lúa thì nỗ lực đến mấy cũng không thể tự mình giải quyết nổi.
Giống như người nông dân không chỉ “trông cho chân cứng, đá mềm”, ngành công nghiệp ôtô cũng phải trông đợi những động thái tích cực từ các bộ ngành như Kế hoạch Đầu tư (với các chính sách ưu đãi đầu tư), Tài chính (với những giải pháp thuế, phí hợp lý), Giao thông Vận tải (với hạ tầng giao thông và pháp luật giao thông), Công an (với công tác giữ gìn an toàn giao thông) và cả từng người dân với câu chuyện ý thức chấp hành pháp luật khi tham gia giao thông.
Theo VnEconomy

Friday, May 2, 2014

Người Mỹ không muốn dùng hàng Việt ? !



Published on May 2, 2014   ·   No Comments
detmay
Hàng hiệu cao cấp gia công tại Việt Nam xuất sang Mỹ
Các mặt hàng tương tự, thậm chí cùng một thương hiệu, nhập khẩu vào Mỹ giá luôn thấp hơn từ 1/5 đến thậm chí 1/2 lần.
Chịu đắt để mua đồ sản xuất tại Mỹ
Ngành sản xuất Mỹ đã mất khoảng 6 triệu việc làm trong một thập kỷ kể từ năm 2000 khi hàng chục nước, trong đó có Trung Quốc, Việt Nam… vào WTO và sản xuất hàng gia công cho Mỹ, theo thống kê của cơ quan Dữ liệu lao động Mỹ.
Năm 2011, chương trình thời sự của đài ABC (Mỹ) đã có một series mang tên “Made in America” truy tìm nguồn gốc thực sự của những hàng hoá đang được dán nhãn sản xuất 100% tại Mỹ, khi rất nhiều trong số đó sản xuất từ Trung Quốc, Mexico, Bangladesh, Haiti hay Việt Nam… và tạo ra một danh sách những hàng hoá người Mỹ yêu thích và kêu gọi tinh thần yêu nước của người Mỹ trong tiêu dùng hàng nội.
Một cuộc khảo sát với quy mô lớn về thói quen tiêu dùng của người Mỹ được công bố vào năm 2013 của trung tâm Nghiên cứu các báo cáo về người tiêu dùng của Mỹ, cho thấy 78% người Mỹ muốn mua sản phẩm 100% sản xuất tại Mỹ hơn.
Trong đó 80% cho rằng tiêu thụ sản phẩm sản xuất tại Mỹ giúp tạo ra việc làm và giúp nền sản xuất Mỹ giữ được sức mạnh của nó – vốn đã từng là nơi cung cấp tới 40% hàng hoá cho toàn thế giới vào những năm 1950 sau Thế chiến 2.
60% nói rằng họ không muốn sử dụng hàng nhập từ các thị trường giá rẻ do liên quan tới lạm dụng lao động trẻ em, lao động giá rẻ, chất lượng thấp.
Họ sẵn sàng mua sản phẩm quần áo, linh kiện… sản xuất tại Mỹ dù giá có cao hơn 10% so với hàng nhập khẩu. Nhưng yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng tới quan điểm của người tiêu dùng Mỹ về vấn đề tiêu dùng hàng nhập khẩu, vẫn là chuyện công ăn việc làm cho người Mỹ.
Tẩy chay hàng Trung Quốc
Trong vòng một tháng, 17 trên tổng số 28 sản phẩm bị Uỷ ban An toàn sản phẩm Tiêu dùng Mỹ thu hồi có nguồn gốc từ Trung Quốc.
Ngoài ra, còn có những thực phẩm chứa chất gây ung thư cho người lớn, đồ chơi nguy hiểm cho trẻ em và thậm chí thức ăn cho thú cưng cũng bị nhiễm độc. WND còn vạch trần một đường dây Trung Quốc chuyên cung cấp bằng lái xe và ID giả mạo cho người Mỹ.
Từ nhiều năm nay, các công ty Trung Quốc bán được số hàng hóa tại Hoa Kỳ cao nhiều hơn so với số hàng hóa mà các công ty Mỹ bán được tại Trung Quốc. Mức thâm hụt mậu dịch này lên tới 318 tỉ vào năm 2013.
Thế nhưng, bà Rosemary Coates thuộc công ty cố vấn Bluesilk, người từng giúp các công ty Mỹ gia công ra nước ngoài, nói bà đã chứng kiến một số thay đổi: “Thực ra, giá giày dép có thể tăng, nếu chúng được sản xuất tại Hoa Kỳ, sử dụng các vật liệu Mỹ, nhưng chúng tôi dự kiến trong phần lớn trường hợp sẽ có thể điều chỉnh để giá cả chỉ xê dịch trong vòng từ 10% tới 15% so với giá quốc tế. Cho nên với tư cách là người tiêu dùng Mỹ, quý vị phải quyết định liệu mình có muốn trả giá cao hơn từ 10% tới 15% để mua một sản phẩm sản xuất ngay tại nước Mỹ, hay không”.
Các công ty lớn của Mỹ như Apple sản xuất tại Trung Quốc, nhưng bán sản phẩm tại Hoa Kỳ. Các công ty như GE, Dell và các công ty khác cũng thế. Tại Washington, giữa lúc tỷ lệ thất nghiệp lên tới mức 6,7%, vấn đề sản xuất và công ăn việc làm đã trở thành một vấn đề chính trị.
Thị trường Việt cũng lao đao
Hàng sản xuất tại Mỹ chiếm khoảng 3/4 lượng hàng hoá nước này tiêu thụ, số còn lại là hàng từ nhiều quốc gia khác ở châu Á, Mỹ, Phi… nơi nhân công đông và giá rẻ.
Trong số đó, Việt Nam nổi lên như một thị trường nhập khẩu vào Mỹ nổi bật trong khoảng năm năm qua, kể từ năm 2010 khi xuất siêu của Việt Nam sang Mỹ vượt quá 10 tỉ USD.
Hàng xuất sang Mỹ chủ yếu là dệt may, điện thoại và linh kiện, các mặt hàng nông sản như càphê, gỗ, thuỷ sản…
Trước khi gia nhập WTO năm 2007, nhiều nhà kinh tế đã dự đoán rằng Việt Nam sẽ trở thành một trong những thị trường gia công lớn nhất cho Mỹ và con số xuất siêu có thể không dừng ở mức mười mấy tỉ.
Bên cạnh đó, giá thuê đất ở khu công nghiệp, giá nhiên liệu phục vụ sản xuất, lượng nhân công dồi dào, trẻ và trình độ ngày càng cao… của Việt Nam, cùng bối cảnh chính trị tương đối ổn định cũng là những nguyên nhân khiến nhiều doanh nghiệp nước ngoài cũng như Mỹ chọn Việt Nam như một thị trường để đầu tư, gia công sản xuất và xuất sang các thị trường Âu, Mỹ…
So với hàng hoá sản xuất tại Mỹ, các mặt hàng tương tự, thậm chí cùng một thương hiệu, nhập khẩu vào Mỹ giá luôn thấp hơn từ 1/5 đến thậm chí 1/2 lần.
Tại hội nghị tham tán Thương mại diễn ra ở TP.HCM ngày 25/12, ông Đào Trần Nhân, tham tán Công sứ Hoa Kỳ cho biết 11 tháng đầu năm 2013 VN đang xuất siêu qua thị trường Hoa Kỳ hơn 20 tỷ USD với các mặt hàng chủ yếu là giày dép, thủy hải sản, quần áo.
Tuy nhiên, vị tham tán Hoa Kỳ cũng đưa ra cảnh báo xuất khẩu sang thị trường này sẽ gặp nhiều khó khăn thời gian tới.
THEO ĐẤT VIỆT


Tuesday, April 15, 2014

Công nghệ Việt ngắc ngoải vì Trung Quốc

04-14-2014 2:59:03 PM
HÀ NỘI 14-4 (NV) - Tuy có hàng loạt qui định để hỗ trợ phát triển công nghiệp nội địa nhằm tạo thêm việc làm và nguồn thu cho công qũy nhưng công nghiệp Việt Nam vẫn chết dần, chết mòn vì… Trung Quốc. 


Bên trong một nhà máy cơ khí ở Việt Nam. Ngành cơ khí nói riêng và công nghiệp Việt Nam nói riêng bị các nhà thầu Trung Quốc bóp chết ngay trên lãnh thổ Việt Nam. (Hình: Vinacomin)

Bộ Công thương Việt Nam vừa tổ chức tổng kết mười năm thực hiện “Chiến lược phát triển ngành cơ khí Việt Nam”. Theo đó, ngành cơ khí nói riêng và công nghiệp Việt Nam nói chung đang đi đến chỗ lụn bại.

Nếu năm 2006, Việt Nam phải chi 8.7 tỉ Mỹ kim để nhập khẩu thiết bị cơ khí thì đến năm 2013, con số này tăng lên gấp ba (24,8 tỉ Mỹ kim). Điều đó cho thấy, không những không phát triển, ngành cơ khí nói riêng và công nghiệp Việt Nam nói chung chỉ lùi chứ không tiến.

Bộ Công Thương Việt Nam thú nhận, cho đến năm 2012, sản phẩm của ngành cơ khí Việt Nam chỉ đáp ứng được chừng 32,5% nhu cầu. Tại sao ngành cơ khí nói riêng và công nghiệp Việt Nam lụn bại? Các chuyên gia bảo rằng vì doanh nghiệp Trung Quốc trúng thầu nhiều quá.

Từng có một thống kê cho biết, 90% các “dự án trọng điểm” tại Việt Nam rơi vào tay nhà thầu Trung Quốc nhưng tại sao doanh nghiệp Trung Quốc trúng thầu nhiều quá lại làm ngành cơ khí nói riêng và công nghiệp Việt Nam lụn bại?

Các chuyên gia trả lời vì khi những dự án trọng điểm rơi vào tay các nhà thầu Trung Quốc, họ vận chuyển tất cả mọi thứ nguyên liệu, phụ liệu từ Trung Quốc sang Việt Nam để thi công. Kể cả ốc, vít.

Cũng vì vậy, hết ngàn tỉ đồng này đến ngàn tỉ đồng khác mà công qũy đã chi cho các “dự án trọng điểm” không có chỗ cho các doanh nghiệp cơ khí, các cơ sở sản xuất công nghiệp của Việt Nam bán hàng. Không bán được hàng thì thua lỗ, hoạt động thoi thóp, công nhân không có việc làm.  

Nhà cầm quyền CSVN từng ban hành nhiều qui định, yêu cầu các nhà thầu đảm nhận các công trình, dự án thực hiện bằng công qũy của Việt Nam phải ưu tiên sử dụng sản phẩm do doanh nghiệp Việt Nam chế tạo. Ưu tiên này được diễn đạt một cách vắn tắt là “tăng tỷ lệ nội địa hóa”. Trên thực tế, khi các nhà thầu là doanh nghiệp Trung Quốc, tỷ lệ nội địa hóa thường ở mức 0% nhưng nhà cầm quyền Hà Nội vẫn im lặng.

Ông Nguyễn Văn Thụ, Chủ tịch Hiệp hội Cơ khí, kể rằng, hồi cuối thập niên 1980, khi Dự án Mở rộng công trình Nhà máy Nhiệt điện Phả Lại được giao cho một nhà thầu Nhật đảm trách, nhà thầu Nhật đã giao cho các doanh nghiệp Việt Nam thực hiện gần như toàn bộ kết cấu thép cho công trình này.

Còn bây giờ, khi các nhà thầu Trung Quốc đang đảm nhận 15/20 dự án phát triển nhiệt điện tại Việt Nam thì sao? Ông Nguyễn Chỉ Sáng, Viện trưởng Viện Nghiên cứu cơ khí, cho biết, tỷ lệ nội địa hóa trong 15 công trình nhiệt điện do nhà thầu Trung Quốc đảm nhận “gần như bằng 0%”.

Các doanh nghiệp cơ khí nói riêng và công nghiệp Việt Nam có đủ khả năng cung cấp sản phẩm cho những dự án phát triển nhiệt điện hay không? Ông Sáng khẳng định là có. Tại những công trình phát triển nhiệt điện do nhà thầu Việt Nam thực hiện, tỷ lệ nội địa hóa là 30% nhưng nhà thầu Việt Nam chỉ được nhận 2 trong số 20 dự án.

Cũng vì vậy, ông Sáng khẳng định: Vấn đề là cơ chế chứ không phải khả năng. Tình trạng phần lớn “dự án trọng điểm” được giao cho các nhà thầu Trung Quốc và buông tay, để các nhà thầu Trung Quốc đưa vào Việt Nam cả ốc, vít đẩy ngành cơ khí nói riêng và công nghiệp Việt Nam vào tử địa.

Hệ quả này được ông Võ Trí Thành, một chuyên gia kinh tế, cảnh báo là các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt Nam càng ngày càng phụ thuộc vào nguyên liệu, vật liệu, phụ liêu của Trung Quốc. Nếu Trung Quốc ngừng xuất cảng chúng sang Việt Nam, sẽ có hàng loạt doanh nghiệp Việt Nam hấp hối vì không kịp ứng phó. Hồi tháng 6 năm ngoái, ông Thành than rằng, Việt Nam đang phụ thuộc vào thị trường Trung Quốc cả về hàng trung gian lẫn hàng tiêu dùng cuối cùng. (G.Đ)