Showing posts with label KinhTe-TaiChinh. Show all posts
Showing posts with label KinhTe-TaiChinh. Show all posts

Sunday, August 28, 2016

Đúng là Bộ Tài Môi

Nguyễn Bá Chổi (Danlambao) - Khi bàn đến những tuyên bố của ngài Bộ trưởng Bộ Tài Môi về tình hình nước và cá biển Miền Trung do Formosa gây ra, tuyệt đại bộ phận quần chúng nhân dân luôn kết thúc bằng một câu: “Đúng là bọn tài môi!”
“Bộ Tài Môi!”? Bá tước Đờ Ba-le tuy có tiếng hay khoe mình là người nước ngoài nhưng sành sỏi tiếng nước vợ; ngài tự oánh giá tiếng mẹ đẻ ra Bá tước phu nhân dân Hải Phòng giờ đây cũng là tiếng mẹ đẻ nòi gà Gô Loa của mình, nhưng khi nghe đến “chụm từ” mà thằng Cu Tèo xứ Nghệ diễn nghĩa là “từ ngữ gì mà như cái chụm” Bộ Tài Môi, Bá tước Đờ Ba-le cũng đành phải le kèn, lắc đầu “Két cờ xe, Vẹt cờ xa?” (Qu’est-ce que c’est que ça?). Bá tước Đờ Ba-le bèn xuống nước hỏi vợ, thì được Bá tước phu nhân giải thích như sau:

“Bộ Tài Môi là cách viết tắt nói gọn, để chỉ Tập hợp của một bọn tài môi giỏi mép; tài môi giỏi mép ở đây không phải là khả năng ăn nói ê-lô-căng/hùng biện, và kiến thức cao siêu, nhưng Tài Môi ở đây là cái mồm có tài nói bất cứ điều gì chúng muốn, bất chấp sự thật sờ sờ, miễn là bọn tài môi này nghĩ rằng nói như thế là có lợi cho họ, tài là tài ở chỗ người lương thiện không thể làm được như... Bộ Tài Môi.

“Sau khi hiểu được định nghĩa “chụm từ” Bộ Tài Môi là như thế, từ đây trở đi mình gọi Bộ là Bọn, và Tài Môi viết chữ thường - Bọn tài môi - cho nót sít sao với chữ nghĩa, phản ảnh đúng đắn tinh thần nội dung của một bộ phận trong chính phủ Ba Dze dưới sự thống lãnh của đảng trưởng Thù Trọng Lắng. 

“Nhờ tài môi, nên mới có chuyện cá chết trắng xóa biển Miền Trung là do “Hiện tượng Tảo nở hoa, Thủy triều đỏ” chứ không phải tại chất độc thải ra bởi Formosa;”

“Nhờ giỏi mép, nên mới dám tuyên bố “môi trường tự nhiên, biển miền Trung hoàn toàn có thể tự làm sạch, tự đào thải những chất ô nhiễm này”, trong khi Hội đồng Khoa học của Bộ Y tế chưa hoàn tất việc đánh giá bước đầu về chất lượng thủy sản và hứa vào đầu tháng 9 (Tháng Chín) mới công bố kết quả... ”

Nghe vợ giải thích “Tài Môi” đến đó, Bá tước Đờ Ba-le đứng dậy cắt ngang:

“Thôi đủ rồi! Đúng là bọn tài môi.”

28.08.2016

Friday, December 25, 2015

Công nhân chạy ăn từng bữa, nói gì lương hưu

MINH PHƯỢNG - VŨ THỦY-16:10 24/12/2015
Đối với công nhân nghèo, lương chỉ ba cọc ba đồng, đủ ăn qua ngày thì tăng mức đóng bảo hiểm xã hội thêm vài trăm nghìn đồng mỗi tháng càng dồn họ vào thế khó...

Công nhân chạy ăn từng bữa, nói gì lương hưu
Làm thủ tục nhận lương hưu.
Mặc dù hiểu đóng thêm tiền bảo hiểm xã hội thì lương hưu sau này sẽ tăng nhưng nhiều công nhân xác định chỉ làm vài ba năm kiếm chút vốn, không có ý định “gắn bó đến già” để có lương hưu.
Đối với công nhân nghèo, lương chỉ ba cọc ba đồng, đủ ăn qua ngày thì tăng mức đóng bảo hiểm xã hội thêm vài trăm nghìn đồng mỗi tháng càng dồn họ vào thế khó, phải chật vật xoay xở cho cuộc sống trước mắt.
Chị Nguyễn Ngọc Anh, công nhân giày da (Q.12), cho biết: lương hiện nay của chị là 3,117 triệu đồng. Phụ cấp ăn trưa là 450.000 đồng, cả tiền chuyên cần tầm 4 triệu đồng mỗi tháng. Chồng chị làm ở một công ty khác, thu nhập có nhỉnh hơn một chút. Hai con nhỏ gửi ở quê cho ông bà nuôi, hằng tháng gửi tiền về.
Những món quà tết từ các phiên chợ công nhân luôn ấm áp và đầy nghĩa tình trong hành trang về quê ăn tết của người xa xứ (ảnh chụp tại Khu công nghiệp Tân Bình, TP.HCM) - Ảnh: T.Long
Phiên chợ công nhân tại Khu công nghiệp Tân Bình, TP.HCM. Ảnh: T.Long.
Ở đây tiền nhà, tiền ăn, xăng xe… hằng tháng phải hết sức tằn tiện. Để tiết kiệm, hai vợ chồng chị phải nhín tiền ăn sáng, chỉ ăn mì gói. “Tính theo mức đóng cả phụ cấp, sắp tới tôi phải trích tới 400.000 đồng để đóng. Số tiền ấy cũng không nhỏ”, chị Anh nói. Tính cả hai vợ chồng thì mức đóng tròm trèm 1 triệu đồng/tháng.
Phần lớn trong số họ đều cho biết khó có thể gắn bó lâu dài với nghề để được lãnh lương hưu, vì lý do sức khỏe, vì vấn đề phụng dưỡng cha mẹ, ông bà hoặc về quê chăm sóc con cái bởi đa số đều ở nông thôn, xác định rõ chỉ đi làm công nhân khi còn trẻ và có sức khỏe.
Một số công nhân cũng lo cho doanh nghiệp: nếu mức đóng siết quá, doanh nghiệp gặp khó thì công nhân sẽ mất việc, giảm lương, giảm phụ cấp…
Một số nhìn nhận: áp lực đóng bảo hiểm xã hội tăng chắc chắn doanh nghiệp sẽ siết lại việc tổ chức lao động, giảm con người. Lúc này sẽ xuất hiện tình trạng nhảy việc, mất việc. Đây là một vấn đề xã hội sẽ xuất hiện trong thời gian tới, theo nhiều người.
 Theo Báo Tuổi Trẻ

Friday, January 9, 2015

Giá USD sụt mạnh, giá vàng đi ngang


Giá USD niêm yết tại các ngân hàng thương mại sáng nay cũng tụt về ngưỡng 21.400 đồng như trước khi có quyết định điều chỉnh tỷ giá...

Giá USD sụt mạnh, giá vàng đi ngang
Diễn biến giá vàng SJC tại DOJI - Nguồn: DOJI.
DIỆP VŨ
Giá USD “chợ đen” và ngân hàng đồng loạt giảm mạnh trong sáng nay (9/1), trong khi giá vàng SJC đi ngang do giá vàng thế giới không có biến động đáng kể.

Lúc gần 10h trưa nay theo giờ Việt Nam, Tập đoàn DOJI niêm yết giá vàng SJC cho thị trường Hà Nội ở mức 35,16 triệu đồng/lượng (mua vào) và 35,2 triệu đồng/lượng (bán ra). So với cuối giờ chiều qua, giá vàng SJC tại doanh nghiệp này hiện tăng 10.000 đồng/lượng.

Tại thị trường Tp.HCM cùng thời điểm trên, Công ty SJC báo giá vàng miếng cùng thương hiệu ở mức 35,12 triệu đồng/lượng và 35,22 triệu đồng/lượng, tương ứng giá mua và bán.

Sau khi lên mức cao nhất trong gần 1 tháng là 35,3 triệu đồng/lượng cách đây 2 hôm, giá vàng đã quay đầu giảm vào hôm qua, đến nay hạ khoảng 100.000 đồng/lượng.

Thiếu lực hỗ trợ mới, giá vàng thế giới đang chững lại sau khi tăng mạnh trong hai phiên giao dịch đầu tuần này.

Lúc đóng cửa phiên giao dịch đêm qua tại New York, giá vàng giao ngay giảm 2,2 USD/oz, tương đương giảm gần 0,2%, còn 1.209,9 USD/oz. Lúc gần 10h trưa nay theo giờ Việt Nam, giá vàng giao ngay tại châu Á tăng 2,4 USD/oz, lên 1.212,3 USD/oz.

So với giá vàng quốc tế quy đổi, giá vàng SJC bán lẻ đang cao hơn khoảng 3,7 triệu đồng/lượng.

Thị trường chứng khoán quốc tế hôm qua tiếp tục phục hồi, khiến sức hấp dẫn của vàng đối với các nhà đầu tư như một “hầm trú ẩn” giảm sút. Tuy vậy, từ đầu tuần tới nay, giá vàng đã tăng được 1,7% do những lo ngại về bất ổn ở Hy Lạp.

Hôm nay, thị trường chờ đợi báo cáo việc làm của Mỹ trong tháng cuối cùng của năm 2014. Dữ liệu khả quan hơn dự kiến sẽ làm gia tăng Cục Dự trữ Liên bang (FED) sớm cắt giảm lãi suất, từ đó tạo sức ép giảm giá lớn hơn lên vàng.

Thời gian qua, đồng USD mạnh, sự phục hồi của kinh tế Mỹ, và triển vọng lãi suất của FED đã gây áp lực giảm giá cho kim loại quý.

Giá USD tự do tại Hà Nội sáng nay phổ biến ở mức 21.530-21.540 đồng (mua vào) và 21.555-21.565 đồng (bán ra).

So với sáng qua, giá USD tự do hiện giảm 30 đồng. Từ sáng qua tới thời điểm này, giá USD tự do đã giảm 40-45 đồng. Trước đó, giá USD tự do vượt qua ngưỡng 21.600 đồng sau quyết định tăng tỷ giá USD/VND chính thức thêm 1% mà Ngân hàng Nhà nước đưa ra cuối ngày 6/1.

Giá USD niêm yết tại các ngân hàng thương mại sáng nay cũng tụt về ngưỡng 21.400 đồng như trước khi có quyết định điều chỉnh tỷ giá. Cách đây 2 ngày, giá USD ngân hàng vượt 21.500 đồng.

Vietcombank sáng nay báo giá USD ở mức 21.350 đồng (mua vào) và 21.410 đồng (bán ra), giảm 70 đồng so với hôm qua. Eximbank báo giá ngoại tệ này ở các mức tương ứng lần lượt là 21.330 đồng và 21.400 đồng, tương ứng giá mua và bán.

Tỷ giá Euro/USD tại Tokyo sáng nay ở mức dưới 1,18 USD/Euro từ mức trên 1,18 USD/Euro vào sáng hôm qua.

Friday, January 2, 2015

DN Trung Quốc kiến nghị cho giao dịch bằng Nhân dân tệ ở Việt Nam

(HQ Online)- Theo tìm hiểu của phóng viên Báo Hải quan, Hiệp hội DN Trung Quốc tại Việt Nam, Ngân hàng Công Thương Trung Quốc vừa có kiến nghị gửi một số cơ quan chức năng ở Việt Nam đề nghị cho phép mở rộng phạm vi giao dịch đồng Nhân dân tệ.
Trung Quốc đang muốn quốc tế hóa đồng Nhân dân tệ. Ảnh: Internet. 
 
Kiến nghị này của Hiệp hội DN Trung Quốc tại Việt Nam, Ngân hàng Công Thương Trung Quốc đưa ra trong bối cảnh Chính phủ Trung Quốc đang muốn quốc tế hóa đồng Nhân dân tệ, nhằm đưa đồng nội tệ của nước này thành đồng tiền mạnh thứ ba trên thế giới, sau USD, EURO.

Nội dung kiến nghị của hai đơn vị này cho thấy: Nhu cầu giao dịch thanh toán bằng Nhân dân tệ tại Việt Nam là khá lớn và tăng lên rõ rệt theo đà phát triển không ngừng thương mại Việt - Trung. Tại thị trường biên mậu Việt-Trung, cuối năm 2013 ước tính kim ngạch thanh toán bằng Nhân dân tệ đã đạt khoảng 15 tỷ USD. Phương thức lưu thông Nhân dân tệ chưa được pháp luật Việt Nam quy định. Đa số giao dịch thanh toán bằng nhân dân tệ nói trên được thực hiện ở Việt Nam thông qua con đường không chính ngạch. 

Vì vậy theo lý lẽ của Hiệp hội DN Trung Quốc tại Việt Nam, Ngân hàng Công Thương Trung Quốc, nếu thị trường thanh toán Nhân dân tệ từ biên giới được mở rộng đưa vào nội địa Việt Nam và được các ngân hàng thực hiện theo con đường chính ngạch, thì Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có thể quản lý giám sát nguồn vốn này một cách có hiệu quả. Đồng thời có thể tăng cường đóng góp trong việc thu thuế cũng như công tác phòng, chống rửa tiền. Hiện tại đã có ngân hàng của Việt Nam thực hiện nghiệp vụ đổi Nhân dân tệ- đồng Việt Nam (CNY-VND) nhưng chưa có ngân hàng Trung Quốc được thực hiện nghiệp vụ này.

“Nếu đồng tiền thanh toán thương mại từ đồng USD... được thay thế bằng Nhân dân tệ, đây chỉ là sự thay thế về đồng tiền thanh toán mà không ảnh hưởng gì đến tình hình xuất siêu hay nhập siêu” – hai đơn vị trên đưa ra dẫn chứng để bảo vệ đề xuất của mình.

Vì thế, hai đơn vị này kiến nghị Ngân hàng Nhà nước có thể mở rộng phạm vi sử dụng Nhân dân tệ tại Việt Nam hơn ở mức độ hợp lý. Bên cạnh đó, các đơn vị này kiến nghị đồng ý cho Ngân hàng Công Thương Trung Quốc thực hiện hợp tác về nghiệp vụ Nhân dân tệ với ngân hàng thương mại Việt Nam (như BIDV).

Lương Bằng

Thursday, December 4, 2014

Chất lượng đồng tiền Việt Nam được cho là “xuống cấp”

(Baodatviet) - Theo phản ánh của cử tri, một số loại giấy bạc nhỏ thị trường từ chối lưu thông, tiền polymer nhanh bị bong tróc...

Bộ phận chuyên trách của Quốc hội vừa tập hợp và chuyển đến Ngân hàng Nhà nước 48 kiến nghị của cử tri tại kỳ họp thứ 8, khóa 13 để cơ quan này trả lời theo thẩm quyền.
Trong 48 kiến nghị trên, đáng chú ý là có hai kiến nghị của cử tri tại hai địa bàn Khánh Hòa và Ninh Thuận phản ánh riêng về chất lượng của đồng tiền đang lưu thông hiện nay.
Cụ thể, cử tri tỉnh Khánh Hòa đề nghị Ngân hàng Nhà nước giám sát việc in và lưu thông tiền trên thị trường, do “hiện nay bị xuống cấp, nhem nhuốc và có một số loại giấy bạc nhỏ thị trường từ chối lưu thông”.
Cử tri phản ánh đến Ngân hàng Nhà nước về chất lượng của đồng tiền đang lưu thông hiện nay
Cử tri phản ánh đến Ngân hàng Nhà nước về chất lượng của đồng tiền đang lưu thông hiện nay
Cử tri tỉnh Ninh Thuận cũng đề nghị Ngân hàng Nhà nước nâng chất lượng tiền giấy, vì chất lượng tiền giấy polymer hiện nay chưa tốt, nhanh bị bong tróc.
Ngoài ra, cử tri tỉnh Ninh Thuận phản ánh tiền giấy loại tờ 500.000 đồng và 20.000 đồng đang lưu thông trên thị trường có màu sắc giống nhau, gây nhầm lẫn trong nhân dân. Theo đó, đề nghị Ngân hàng Nhà nước nghiên cứu, có giải pháp khắc phục.
Liên quan đến chất lượng đồng tiền Việt Nam, ngày 26/11 vừa qua, Ngân hàng Nhà nước cũng đã ban hành Thông tư số 37/2014/TT-NHNN quy định về việc thiết kế mẫu tiền, chế bản và quản lý in, đúc tiền Việt Nam.
Theo đó, việc thiết kế mẫu tiền yêu cầu đối với mẫu thiết kế đồng tiền phải có tính thẩm mỹ cao, thể hiện bản sắc văn hóa dân tộc; đảm bảo độ bền, khả năng chống giả cao và phù hợp với xu hướng thiết kế mẫu tiền trên thế giới; dễ nhận biết các mệnh giá và tính xác thực của đồng tiền; thuận tiện trong sử dụng, bảo quản và kiểm đếm, kiểm tra tiền thật, tiền giả, phân loại tiền bằng máy; phù hợp với vật liệu in, đúc tiền; công nghệ chế bản, in, đúc tiền; trang thiết bị của cơ sở in, đúc tiền.
Thanh Giang (Tổng hợp)

Wednesday, November 26, 2014

Trận chiến ngoại tệ sắp tới

000_Hkg7377881.jpg
Đồng Yên Nhật và Nhân Dân Tệ Trung Quốc, ảnh minh họa chụp trước đây. AFP
Việt Long & Nguyễn-Xuân Nghĩa, RFA 2014-11-26
Trong khi đồng Mỹ Kim cứ lên giá liên tục so với các ngoại tệ chính yếu khác thì đồng Yen của nền kinh tế đứng hàng thứ ba thế giới là Nhật Bản lại sụt giá mạnh và còn có thể sụt nữa. Vì sao lại như vậy và hậu quả cho các nền kinh tế khác trên thế giới sẽ là gì? Diễn đàn Kinh tế tìm hiểu nguyên do và ảnh hưởng của sự chuyển động ấy qua phần phân tích cùa chuyên gia kinh tế Nguyễn-Xuân Nghĩa. Xin quý thính giả theo dõi cách Việt Long nêu vấn đề như sau đây.

Thế giới sẽ gặp biến động về ngoại hối

Việt Long: Xin kính chào ông Nghĩa. Cách đây một tháng, khi Quỹ Tiền tệ Quốc tế IMF đưa ra một dự báo bi quan về tình hình kinh tế toàn cầu, thì trên diễn đàn này ông nói đến việc Mỹ Kim lên giá so với các ngoại tệ khác và nhấn mạnh là thế giới sẽ gặp nhiều biến động về ngoại hối. Từ mấy ngày qua, người ta lại thấy đồng Yen của Nhật sụt giá mạnh so với tiền Mỹ và nhiều loại ngoại tệ khác. Nhật Bản có sản lượng kinh tế đứng hàng thứ ba của thế giới sau Hoa Kỳ và Trung Quốc và là một quốc gia xuất cảng rất mạnh. Khi tiền Nhật sụt giá như vậy thì ảnh hưởng sẽ ra sao cho các nền kinh tế khác? Chúng tôi nêu vấn đề trong mục đích tìm hiểu về những biến động ngoại hối mà ông đã nhắc đến từ tháng trước.
Nguyễn-Xuân Nghĩa: Thưa rằng hôm Thứ Ba 17 vừa qua, Thủ tướng Nhật là ông Shinzo Abe loan báo quyết định giải tán Quốc hội để tổ chức bầu cử sớm vào ngày 14 tháng tới. Việc ấy xảy ra sau khi có thống kê xác nhận kinh tế Nhật lại bị suy trầm nữa trong Quý Ba vừa kết thúc vào Tháng Chín. Trước đó, vào ngày 31 Tháng 10, Ngân hàng Trung ương Nhật cũng quyết định sẽ lại bơm thêm tiền theo phương pháp gọi là "gia tăng mức lưu hoạt có hạn định" hay "quantitative easing" gọi tắt là QE với số lượng cực lớn, dự trù là tương đương với hơn 700 tỷ đô la mỗi năm, cho đến khi kinh tế ra khỏi suy trầm hoặc lạm phát lên tới 2% thì mới ngưng.
Khi đồng Yen mất giá thì hàng hóa của Nhật lại trở thành rẻ hơn, tức là dễ xuất khẩu hơn, nên sẽ gây sức ép cho các nền kinh tế sống nhờ xuất khẩu, thí dụ như kinh tế Đức và Trung Quốc.
-Nguyễn-Xuân Nghĩa
Những biến cố dồn dập ấy giải thích vì sao tiền Nhật mất giá so với các ngoại tệ khác như Mỹ Kim hay đồng Euro của Âu Châu. Nếu nhìn trong dài hạn thì việc đồng Yen mất giá là sự chuyển động dễ hiểu với hậu quả có thể là một trận chiến về ngoại tệ giữa các nền kinh tế lớn trên thế giới khiến nhiều quốc gia khác, kể cả Trung Quốc, sẽ lâm vào khó khăn trong các năm tới.
Việt Long: Chúng ta lần lượt tìm hiểu hiện tượng này để phần nào thấy trước được biến động ấy. Trước hết, xin ông nói về kinh tế Nhật và những lý do khiến tiền Nhật sẽ còn mất giá nữa.
Nguyễn-Xuân Nghĩa: Nhật Bản có vấn đề trường kỳ là nạn dân số sút giảm với tỷ trọng rất lớn của người cao niên lớn tuổi – mà người ta gọi là nạn lão hóa dân số. Lý do sâu xa này khiến mức tiêu thụ sút giảm và hàng họ mất giá. Trong khi đó, vì mở ra làm ăn với toàn cầu, kinh tế Nhật vẫn có ưu điểm là nơi đầu tư ổn định khiến thiên hạ trút tiền mua đồng Yen để tìm cơ hội kiếm lời trên thị trường Nhật. Kết hợp hai chuyện 1) dân số và tiêu thụ giảm khiến kinh tế bị nạn giảm phát – disinflation – và 2) nội tệ lên giá dẫn tới hiện tượng giá cả trong nước sụt đều làm người dân càng tiết kiệm và đình hoãn chi tiêu để chờ khi giá hạ hơn nữa. Hoàn cảnh éo le ấy khiến các doanh nghiệp Nhật bị điêu đứng. Đầu tư giảm vì mức lời sụt dẫn tới việc cắt lương và mở ra vòng xoáy lẩn quẩn: lương hạ càng đánh sụt mức tiêu thụ và làm kinh tế đình trệ.
Sự chuyền động lớn này giải thích vì sao kinh tế Nhật bị suy trầm liên tục từ hai thập niên đã qua. Thế rồi, chiếm đa số áp đảo sau cuộc bầu cử vào cuối năm 2012, Chính quyền của Thủ tướng Abe mới áp dụng chánh sách cải cách táo bạo, được gọi là Abemomics, nhắm vào ba hướng gọi là "ba mũi tên". Thứ nhất là cố tình gây lạm phát qua biện pháp tăng chi để bơm tiền vào kinh tế theo cái ý khuyến khích dân chúng hãy mua ngay đi kẻo mai này hàng lên giá. Thứ hai là cải tiến môi trường kinh doanh để khuyến khích doanh nghiệp đầu tư bằng cách giảm thuế doanh nghiệp, khi đó thuộc loại cao nhất địa cầu. Thứ ba là cải tổ toàn bộ cơ chế kinh tế, xã hội và chính trị Nhật để tìm sức bật mới.... Việc tăng chi chưa có kết quả thì Ngân hàng Trung ương Nhật áp dụng biện pháp tăng mức lưu hoạt, tức là bơm thêm tiền vào kinh tế, với một số lượng tương đối cao gấp đôi Hoa Kỳ. Vì thế mà tiền Nhật mới mất giá. Khi đồng Yen mất giá thì hàng hóa của Nhật lại trở thành rẻ hơn, tức là dễ xuất khẩu hơn, nên sẽ gây sức ép cho các nền kinh tế sống nhờ xuất khẩu, thí dụ như kinh tế Đức và Trung Quốc.
Đồng đôla Mỹ và euro Âu Châu. AFP PHOTO.
Đồng đôla Mỹ và euro Âu Châu. AFP PHOTO.
Việt Long: Xin được hỏi ông một câu là vì biện pháp tăng chi ngân sách, Nhật Bản hiện mắc nợ nhiều nhất, có thể lên tới 250% tổng sản lượng kinh tế. Thưa ông, đấy không là một vấn đề sao?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: Thưa rằng đấy là một vấn đề, nhất là khi ta nhớ đến khoản tiền lời phải thanh toán, có khi chiếm một tỷ trọng lớn của các khoản chi ngân sách như nếu phân lời đi vay mà lên tới 2% thì tiền lời sẽ lên tới 80% của số tổng thu về thuế khóa.
Nhưng, có một thực tế văn hóa và tâm lý mà mình nên chú ý. Khoản công trái rất cao của Nhật có hai đặc tính. Thứ nhất, tuyệt đại đa số là "nội trái", được yết giá bằng đồng Yen, tức là "Nhật nợ Nhật" chứ không nợ ngoại quốc. Thứ hai, chủ nợ của đa số các khoản nợ ấy lại là Ngân hàng Trung ương Nhật, nghĩa là chủ nợ cũng là chủ nhà in giấy bạc và nhờ vậy có quyền quyết định về phân lời cao thấp khi bơm tiền ra. Vì thế, thị trường tài chánh Nhật vẫn ổn định và không bị giao động nặng - trong khi dân Nhật bấm bụng bảo nhau cho nhà nước vay tiền trong tinh thần liên đới gọi là "rau cháo có nhau". Khi Trung Quốc càng tỏ vẻ hung hăng đe dọa quyền lợi của Nhật thì người dân Nhật lại càng chịu đựng và hậu thuẫn chính quyền để cố gắng vượt khó khăn kinh tế. Bây giờ ta mới nói đến chuyện ngoại hối là hối suất đồng Yen....

Nguy cơ suy sụp

Việt Long: Như ông vừa trình bày thì có phải chăng là việc tiền Nhật mất giá là một hiện tượng có những lý do sâu xa và lâu dài hay không?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: Thưa là câu chuyện còn rắc rối hơn vậy nếu ta nhìn trong trường kỳ.
Khoảng 40 năm trước, có lúc tiền Nhật quả thật là quá rẻ mà nhiều người đã quên mất rồi vì phải hơn 300 đồng Yen mới ăn một Mỹ Kim. Khi kinh tế toàn cầu bị tổng suy trầm vào các năm 2008-2009 và tiền Mỹ mất giá thì là lúc đồng Yen lên giá, một đô la chưa ăn được 80 Yen vào năm 2011. Nó chỉ bắt đầu sụt vào cuối năm 2012, rồi dập dình cả năm 2013 qua tới 2014 ở mức trăm đồng ăn một Mỹ Kim. Bây giờ mới sụt mạnh và còn sụt nữa, có thể tới 150 hay thậm chí 200 đồng vào một hai năm tới. Nhưng so với cái giá 300 hay 350 vào những năm 1970-1975 thì vẫn chỉ bằng phân nửa mà thôi.
Việt Long: Thưa về lâu dài thì ý nghĩa sẽ ra sao?
Nhìn trong lâu dài thì điều ấy có nghĩa là gì? Là trong khoảng 40 năm, có lúc tiền Nhật tăng giá gấp bốn so với đô la và doanh nghiệp Nhật bị thất thế khi cạnh tranh với doanh nghiệp Hoa Kỳ hay với thiên hạ. Họ phải tìm lợi thế bằng cách khác, chứ không nhờ tiền rẻ mà dễ bán hàng hơn.
Một cách chậm rãi, thế giới đang gặp nguy cơ suy sụp nặng một cách cứ tưởng như bất ngờ và ngoài khối công nghiệp hóa.
-Nguyễn-Xuân Nghĩa
Việt Long: Bây giờ ta mới nhìn qua xứ khác. Thưa ông, đồng Yen mà mất giá như vậy thì hậu quả sẽ là thế nào với các nước khác?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: Tôi xin lấy một thí dụ nổi bật nhất là nền kinh tế đứng sau nước Nhật và cũng lệ thuộc mạnh vào xuất khẩu, đó là kinh tế Đức. Sau đó mới tới Nam Hàn và Trung Quốc.
Trong giai đoạn khó khăn sau vụ Tổng suy trầm thì doanh nghiệp Nhật bị mất sức cạnh tranh so với doanh nghiệp Đức, coí thể là mất tới hơn một phần ba trong các năm 2010 đến 2012. Thí dụ như tại Mỹ này thì ta thấy xe hơi của Đức bán chạy hơn xe Nhật. Ngoài lợi thế từ chuyện tiền Nhật lên giá, ta  không quên rằng khi đó Trung Quốc dốc sức đầu tư vào khu vực nội địa là xây dựng hạ tầng cơ sở như cầu đường và gia cư địa ốc hơn là xuất khẩu. Nhờ vậy mà Đức trở thành đầu máy cứu vãn cả khối Euro. Bây giờ, cả hai lợi thế ấy của kinh tế Đức đều hết vì tiền Nhật mất giá và kinh tế Trung Quốc co cụm, mất khả năng nhập khẩu. Khi kinh tế Đức cũng suy trầm như người ta bắt đầu thấy từ tháng trước thì cả Âu Châu sẽ lâm nạn, nhất là khi các nước phải chấp hành chính sách cải tổ hệ thống ngân hàng theo yêu cầu của Hội đồng Ổn định Tài chính.
Việt Long: Phải chăng vì vậy mà hồi nãy ông mới nói đến một trận chiến ngoại tệ giữa các quốc gia khi tiền Nhật sụt giá?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: Quả thật là Ngân hàng trung ương của Âu Châu có phản ứng bơm thêm tiền khiến đồng Euro sẽ mất giá. Nam Hàn cũng vừa có động thái hạ lãi suất, y như trường hợp của Trung Quốc. Ít ai nói ra cái chữ dễ sợ là một trận chiến về ngoại tệ nhưng sự thật thì xứ nào cũng kích thích kinh tế qua các biện pháp tiền tệ hay tín dụng với hậu quả là làm giảm tỷ giá đồng bạc so với các ngoại tệ khác. Các nước Á châu hiện lâm vào hoàn cảnh đó.
Khốn nỗi, người ta không thể xuất khẩu lên cung trăng để phục hồi kinh tế mà phải bán hàng cho nhau. Khi kinh tế trì trệ thì các nước nhập khẩu ít hơn và xứ nào sống nhờ xuất khẩu sẽ bị hại nhất vì dù có làm giảm giá đồng bạc thì cũng chưa thoát hiểm mà còn phải trả hóa đơn cao hơn khi mua hàng xứ khác với đồng tiền mất giá. Đấy cũng là bài toán nan giải cho ngân hàng trung ương của Việt Nam.
Một cách chậm rãi, thế giới đang gặp nguy cơ suy sụp nặng một cách cứ tưởng như bất ngờ và ngoài khối công nghiệp hóa, có chín nền kinh tế lớn bị nhiều bất trắc nhất, đó là Trung Quốc, Liên bang Nga, Brazil, Chile, Argentina, Ấn Độ, Indonesia, Turkey và Nam Phi. Ngoại lệ duy nhất vẫn là Hoa Kỳ dù tiền Mỹ lên giá, và hôm qua Thứ Ba 25, bộ Thương mại Hoa Kỳ đã điều chỉnh đà tăng trưởng theo hướng cao hơn.
Việt Long: Ông vừa nói đến sự kiện là "một cách chậm rãi, thế giới đang gặp nguy cơ suy sụp nặng một cách bất ngờ". Cách đây hơn một năm, trong dịp phân tích Hội nghị Ban chấp hành Trung ương kỳ bảy tại Hà Nội, ông có nói đến hiện tượng mà các nhà vật lý gọi là "cát truồi", nghĩa là một cách chậm rãi người ta cứ lặng lẽ tích lũy thêm những yếu tố thất quân bình cho tới khi có sự sụp đổ bất ngờ. Phải chăng, chúng ta đang chứng kiến một hiện tượng đó khi các nước đều cố hạ giá đồng bạc để thoát hiểm mà rốt cuộc lại kéo nhau vào khủng hoảng?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: Tôi nghĩ rằng cái gọi là trật tự kinh tế chính trị của các nước là điều gì đó vô cùng phức tạp vì là kết quả của nhiều động thái khác nhau.
Về trường hợp Việt Nam thì tờ World Affairs vừa có bài bút ký khá dài của nhà báo Michael Totten với đề tựa rất lạ, đó là "Phải chăng đã đến ngày tàn của đảng Cộng sản Việt Nam"? Ra khỏi chuyện Việt Nam thì ta nhớ tới kế hoạch Nga bán năng lượng cho Tầu. Họ tưởng khôn khi nhận tiền bằng đồng Nguyên của Tầu thay vì đô la Mỹ. Nào ngờ dầu thô sụt giá và đồng Nguyên sẽ còn mất giá nữa trong trận chiến ngoại hối sắp tới trong khi đô la lên giá. Kết quả là Nga thu về đồng bạc mất giá trong khi vẫn phải trang trải các khoản nhập khẩu khác bằng tiền Mỹ. Tức là Tổng thống Vladimir Putin có thể hoành hành tại Ukraine và cùng Trung Quốc thì coi thường Hoa Kỳ chứ đang bị thiệt cả hai đầu. Những chuyện như vậy đang chậm rãi xảy ra trước mắt chúng ta mà ít ai chịu để ý!
Việt Long: Xin cảm tạ ông Nghĩa về lời cảnh báo này.

Thursday, October 30, 2014

Nguy cơ giảm phát

043_dpa-pa_50168286.jpg
Ảnh minh họa nền kinh tế Liên minh châu Âu. AFP photo
RFA 29.10.2014
Không chỉ tại Nhật Bản và Âu Châu, nhiều khối kinh tế trên thế giới đang bắt đầu nói đến một nguy cơ khác, là nạn giảm phát, một hiện tượng trái ngược với lạm phát với ảnh hưởng tệ hại không kém.
Diễn đàn Kinh tế kỳ này sẽ tìm hiểu về hiện tượng đó qua những phân tích sau đây của chuyên gia kinh tế Nguyễn-Xuân Nghĩa.
Vũ Hoàng: Xin kính chào ông Nghĩa. Từ vài tuần nay, dường như giới quan sát kinh tế bỡ ngỡ vì cùng lúc lại xảy ra nhiều hiện tượng trái ngược mà thính giả của chúng ta cần được giải thích. Thưa ông, trước hết là việc dầu thô sụt giá mạnh trên thế giới, trong vài tuần đã giảm khoảng 30 đô la một thùng. Khi năng lượng hạ giá thì phí tổn sản xuất cũng giảm nên có thể là điều tốt cho giới tiêu thụ vì họ thừa tiền mua cái khác và giúp cho sản xuất kinh tế. Nhưng không chỉ có dầu thô sụt giá mà nhiều mặt hàng khác cũng thế nên người ta bắt đầu nói đến một mối nguy khác, đó là nạn thiểu phát hay giảm phát, là điều đã xảy ra cho kinh tế Nhật Bản và đang xảy ra tại nhiều nước Âu Châu. Vì vậy, kỳ này xin đề nghị ông giải thích cho hiện tượng đó là gì.
Về định nghĩa, "giảm phát" hay "deflation" là khi hàng hóa giảm giá mà vẫn bán không chạy và là biểu hiện của nạn suy thoái kinh tế với tình trạng thất nghiệp cao và doanh nghiệp phá sản.
- Nguyễn-Xuân Nghĩa
Nguyễn-Xuân Nghĩa: Trước hết, ta nên chú ý tới định nghĩa, xem một hiện tượng nào đó là cái gì và trong phạm vi đó thì còn phải nhớ rằng ngôn từ của chúng ta có giới hạn nên thường xuyên phải tìm ra những từ mới, trước đây chưa hoặc là ít dùng. Tôi xin đề nghị vài định nghĩa như sau:
Trong một giai đoạn khá lâu tới mấy chục năm, ta nghe nói đến "lạm phát" là khi vật giá gia tăng vì có quá nhiều tiền để mua quá ít hàng. Tại Việt Nam, giới lãnh đạo kinh tế thời đó không có kiến thức tối thiểu về kinh tế học nên lý luận rằng "lạm phát là hiện tượng đặc thù của tư bản chủ nghĩa" chứ kinh tế xã hội chủ nghĩa không bị lạm phát. Sự hiểu lầm này vẫn chưa chấm dứt cho đến khi Việt Nam bị khủng hoảng vì lạm phát tới 700% sau những sai lầm về chính sách "giá lương tiền" vào các năm 1986-1987. Hai chục năm sau, Việt Nam lại có lần bị lạm phát nữa khi vật giá gia tăng quá 20% vào năm 2008 vì sai lầm trong quản lý vĩ mô. Nói chung, nỗi e sợ về nạn lạm phát là hiện tượng phổ biến đã từng làm nhiều chế độ sụp đổ khiến người ta quên mất một hiện tượng trái ngược. Đó là "giảm phát", một mối nguy cũng đã từng xảy ra.
Về định nghĩa, "giảm phát" hay "deflation" là khi hàng hóa giảm giá mà vẫn bán không chạy và là biểu hiện của nạn suy thoái kinh tế với tình trạng thất nghiệp cao và doanh nghiệp phá sản.
Vũ Hoàng: Thưa ông, ở trong nước, nhiều người cũng dùng chữ "thiểu phát" thì đấy có là cùng một hiện tượng không?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: Tôi cho rằng ngôn ngữ chỉ là quy ước, và mỗi khi gặp một hiện tượng gì mới trên thế giới được các nước khác đặt tên rồi thì ta mới tìm cách phiên dịch sao cho đúng và dễ hiểu rồi từ đó sẽ được chấp nhận. Tôi cứ hay nói đùa rằng đó là "có mặt thì đặt tên".
Chữ "inflation" thì ai cũng đã quen dịch thành "lạm phát". Nhưng khi vật giá tăng chậm hơn thì ta có thể gọi là "dis-inflation", hoặc như tờ The Economist của Anh vừa bày ra một từ mới vào tuần qua là "lowflation". Nội dung có nghĩa là giá cả có tăng mà tăng chậm hơn tiêu chí hay dự báo. Gặp trường hợp đó, tôi nghĩ là chữ "thiểu phát" có thể là một từ thích hợp với hàm ý "thiểu" là ít hơn. Nhưng khi giá cả không tăng, dù là nhanh hay chậm hơn trước, mà lại giảm tức là bị hiện tượng "deflation", thì nên dùng từ "giảm phát" mà ta đã có từ trước 1975, và chính xác hơn.
Vũ Hoàng: Với quy ước này rồi thì ta qua phần nội dung để tìm hiểu vì sao lại có rủi ro giảm phát như giới phân tích kinh tế đang báo động. Ông giải thích thế nào về hiện tượng đó?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: Vừa rồi, ông nhắc đến giá dầu thô đã sụt mạnh. Tôi xin mở ra nhiều mặt hàng khác gọi chung là "thương phẩm" hay "commodity" mà Việt Nam cứ mơ hồ dịch sai thành "hàng hóa". "Commodity" là các loại nguyên nhiên vật liệu cho sản xuất như xăng dầu, kim loại như đồng thau, quặng sắt, nông sản như ngũ cốc, đậu tương, nước cam, v.v... được thị trường buôn bán với nhau dưới dạng rời hay để xá. Thề rồi, ngoài dầu thô, người ta còn nghiệm thấy hiện tượng chung là từ ít lâu nay các thương phẩm trên thế giới đều sụt giá mạnh.
Chúng ta thấy ra hiện tượng "vòng luẩn quẩn" theo thế biện chứng hay "tương hằng", là tự nuôi nhau trong một vòng xoáy đi xuống, ngày một nhanh và một sâu hơn.
- Nguyễn-Xuân Nghĩa
Lý do là số cung thì vẫn tăng mà số cầu lại giảm. Số cầu sở dĩ giảm vì kinh tế nhiều nơi trì trệ, đầu tư không tăng, tiểu biểu là trường hợp kinh tế Trung Quốc, một xứ đói ăn và khát dầu và thèm nguyên liệu mà nay bị tồn kho ế ẩm. Từ nhiều năm qua, diễn đàn này của chúng ta có cảnh báo hiện tượng thương phẩm sụt giá vì Trung Quốc làm các nước xuất khẩu nguyên nhiên vật liệu như Úc hay Brazil đều bị thiệt hại. Điển hình là giá quặng sắt sụt rất mạnh, có khi chỉ còn 50 đô la một tấn, việc ấy khiến ta nhớ đến hai tai họa song hành của dự án bô xít tại Tây nguyên!
Vòng luẩn quẩn
Vũ Hoàng: Thưa ông, vì sao vật giá đã sụt mà vẫn bán không chạy?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: Chúng ta thấy ra hiện tượng "vòng luẩn quẩn" theo thế biện chứng hay "tương hằng", là tự nuôi nhau trong một vòng xoáy đi xuống, ngày một nhanh và một sâu hơn.
Khi thấy hàng hóa hạ giá liên tục thì ta có xu hướng chờ đợi, tạm hoãn mua để được giá rẻ hơn. Nhà tiêu thụ mà chần chờ như vậy thì ở đầu kia nhà sản xuất bị tồn kho ế ẩm và cần trả nợ nên phải cố bán tháo, là bán còn rẻ hơn nữa, nên càng khiến nhà tiêu thụ thấy mình có lý. Và hai bên từ từ dìm nhau xuống vực vì nhà tiêu thụ mặt hàng này có thể là nhà sản xuất mặt hàng khác. Kết quả là kinh tế không bị suy trầm, là tăng trưởng thấp hơn, mà bị suy thoái, là không tăng mà còn giảm. Hậu quả là doanh nghiệp sa thải nhân viên làm thất nghiệp tăng rồi vỡ nợ vì không thể trả các khoản nợ đáo hạn và sau đó phá sản, dẫn tới khủng hoảng vì ngân hàng mất nợ. Hiện tượng giảm phát dây chuyền đầy kinh hoàng như vậy đã xảy ra trong vụ Tổng khủng hoảng kinh tế toàn cầu vào những năm 1929-1933.
Vũ Hoàng: Trở lại chuyện thực tế ngày nay thì vì sao sau vụ khủng hoảng tài chính năm 2008 tại Hoa Kỳ, rồi Tổng suy trầm toàn cầu vào các năm 2008-2009, các nước trên thế giới đều có nhiều biện pháp kích thích kinh tế mà tình hình lại có vẻ u ám như vậy?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: Tôi thiển nghĩ rằng ban đầu chỉ là sự trùng hợp vì tai họa xảy ra cho từng khu vực, nhưng vì kinh tế thế giới đã đi vào trạng thái "nhất thể hóa" hay "toàn cầu hóa", cho nên tác động dây chuyền đã cùng xảy ra cũng theo kiểu vòng xoáy đi xuống.
Trước hết, kinh tế Nhật Bản đã từng bị suy trầm và giảm phát khá lâu trong gần hai chục năm liền và mới chỉ có những biện pháp thoát hiểm khá táo bạo từ hai năm nay và chưa có kết quả. Sau đó, khối Euro lại bị khủng hoảng từ những năm 2009-2010 và tới nay chưa dứt khiến nhiều quốc gia bị nạn thiểu phát và các nước lâm nạn ở miền Nam thì thật sự bị giảm phát. Khác với Nhật Bản là một xứ thuần chủng và người dân giữ tinh thần ái quốc và kỷ luật là rau cháo có nhau để cùng hứng chịu tai họa, Âu Châu là một tập thể nhiều quốc gia buôn bán với bên ngoài. Khi mà khối kinh tế này bị suy trầm và không thể tiêu thụ hàng xuất khẩu của xứ khác thì các nền kinh tế trông chờ vào việc xuất khẩu đều bị họa lây, là trường hợp Brazil hay Trung Quốc. Ta nên nhớ xứ này vốn dĩ đã bị đình trệ với đà tăng trưởng thấp hơn và đang phải chuyển hướng.
Trong năm năm qua, các quốc gia đều cố đối phó với bài toán đó qua các biện pháp kích thích như tăng chi, bơm tín dụng hoặc thậm chí in tiền cho các ngân hàng dư thanh khoản cho vay ra, vậy mà tình hình vẫn chẳng khá hơn. May lắm thì Hoa Kỳ là một ngoại lệ, mà vẫn chưa chắc!
Vũ Hoàng: Thưa ông, khi đó, người ta còn lo rằng việc ào ạt bơm tiền kích thích có khi lại gây ra lạm phát như trường hợp đã thấy tại Việt Nam. Thế thì vì sao thế giới không bị lạm phát mà nay lại lo sợ hiện tượng trái ngược là giảm phát?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: Quả là ban đầu khi thấy tiền nhiều và rẻ được bơm ra thì ai cũng sợ rủi ro lạm phát. Nhưng tiền bơm ra lại không đẩy mạnh đầu tư và ngân hàng dư thanh khoản cũng thiếu người vay để đưa vào sản xuất nên đem tiền mua trái phiếu kiếm lời. Lý do chính thì có thể là vì thị trường hay các nhà đầu tư sản xuất vẫn chưa thấy tin tưởng và đấy là một lý do thuộc về chính trị của các chính quyền lâm nạn. Khi tình hình thiếu sáng sủa như vậy thì bình thường ra, các ngân hàng trung ương đã có thể áp dụng biện pháp tiền tệ cố hữu là hạ lãi suất. Khốn nỗi, lãi suất các ngân hang trung ương Âu-Mỹ và cả Nhật Bản đều đã hạ tới sàn, là tiếp cận với số không nếu tính thêm lạm phát, cho nên người ta hết đất lùi hay sức bật.
Riêng tại Hoa Kỳ, Nhật Bản hay cả Trung Quốc, chỉ số gia tăng giá tiêu dùng đều thấp hơn tiêu chí về lạm phát nên người ta mới lo sợ là sẽ thấy nạn giảm phát tái xuất hiện.
- Nguyễn-Xuân Nghĩa
Cuối cùng thì hiện tượng suy trầm đã xảy ra, tức là đà tăng trưởng sản xuất cứ giảm dần mà vật giá lại không tăng. Riêng tại Hoa Kỳ, Nhật Bản hay cả Trung Quốc, chỉ số gia tăng giá tiêu dùng đều thấp hơn tiêu chí về lạm phát nên người ta mới lo sợ là sẽ thấy nạn giảm phát tái xuất hiện.
Vũ Hoàng: Câu hỏi cuối, thưa ông, rồi đây sự thể sẽ ra sao?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: Nếu nhớ lại từ đầu thì mình phải công nhận rằng các chính quyền và cả hệ thống ngân hàng trung ương của các cường quốc đều bị bất ngờ ngay từ đầu mà vì lý do chính trị, ít ai dám công nhận như vậy. Bây giờ, trước nguy cơ giảm phát tai hại này, các nước đều khó giải quyết vì tâm lý bất an và bi quan của thị trường. Những cuộc tranh luận đang bùng nổ về các giải pháp, thí dụ như giữa các nước cột trụ của Âu Châu là Đức, Pháp, Ý, hoặc trong Quốc hội Hoa Kỳ trước ngày bầu cử chỉ khiến người ta thêm âu lo về khả năng ứng phó của chính quyền.
Trong khi đó và ta trở lại vấn đề chính của nhiều quốc gia đang phát triển, kể cả Trung Quốc và Việt Nam, giai đoạn vừa qua lại là giai đoạn tích lũy nợ nần chẳng kém gì các nước Âu Châu. Trong môi trường lạm phát thì khách nợ có lời vì được trả tiền ít hơn. Trong cảnh giảm phát thì khách nợ chết kẹt vì phí tổn trả nợ sẽ tăng, tức là càng mắc nợ nhiều thì càng dễ vỡ nợ. Hậu quả sẽ là khủng hoảng tài chính ngân hàng dẫn tới việc doanh nghiệp phá sản dây chuyền và thất nghiệp tăng vọt. Xứ nào mà thiếu ổn định xã hội sẽ bị loạn trước tiên.
Vũ Hoàng: Xin cảm tạ ông Nghĩa về việc phân tích này.

Wednesday, August 13, 2014

Tại sao 3X “xì ra hết” những thông tin bất lợi (cho CSVN) về nền kinh tế Việt Nam?


Anh Châu hỏi Tại sao?

Mấy hôm nay trên trang CXN có bài của chủ blog là anh Châu Xuân Nguyễn thắc mắc tại sao dạo này 3X “xì tất cả” những điều bất lợi cho đảng CSVN như chính phủ quyết không cho phá sản, như hệ thống kê GDP toàn sai/láo, như ngân hàng phải phải sát nhập lại không thì sập hết, như 70% nợ có khả năng mất vốn... và, có thòng lọng treo trên cổ 3X...?

Và Anh châu đưa ra ba lý do:

“1. 3D biết hết đường bưng bít, phải nói ra trước khi cả hệ thống sụp đổ để không ai bất ngờ.

2. Gửi thông điệp cho DCS biết là tình hình tệ hơn cả đống kít, nếu đẩy tao hay phe cánh tao ra đi là bọn bây sẽ ôm hận ngàn thu.

3. Hết cứu vãn nữa thì tốt nhất nên để 90 triệu người biết sự thật.”

Tôi cũng nghĩ như nhiều bác đã còm, rằng đó là nguyên nhân thứ 2: 3X đang cảnh báo phản công với phe 2L+4S, nhưng lần này 3X đối diện phe bảo thủ mạnh hơn nhiều vì được 3Tàu vừa quân sư vừa hỗ trợ trực tiếp chống lưng, trong khi Mỹ cũng làm ngơ 3X... Thật là 3X đang tứ bề thọ địch: trong nước là phe 2L+4S, ngoài nước là cả 3 Tàu và cả Mỹ, còn sau lưng là nền kinh tế đã mục rỗng do chính 3X tạo nên cùng mối nguy nó sẽ sớm sập và dân sẽ vùng lên...

Tức là: đúng thế, và còn hơn thế nữa...

Tại sao nói Mỹ đang “lờ” 3X?

Tại sao nói Mỹ chống 3X? Không hẳn là chống, mà Mỹ chỉ tạm bỏ qua 3X thôi. Mỹ chỉ quan tâm nói chuyện với ai có súng đạn thật (nắm quân sự, quốc phòng) ở VN để liên kết đối lại với TQ thôi. Mà sau vụ 981 vừa rồi, Phùng Quang Thanh Ú đã cầm quân đội VN chạy theo 2L+4S và 3 Tàu ở Shangrila mất rồi, làm 3X mất súng đạn, chỉ còn dao găm và thuốc nổ (và mắm tôm, bao cao su...) của Trần Đại Quang (cũng có vẻ bị sứt mẻ hao hụt đi vì vụ Bình Dương/Hà Tĩnh rồi), nên Mỹ dù bị Phạm Quang Nghị vô văn hóa ngoại giao chửi xéo bằng tấm hình hồ Trúc Bạch đểu, vẫn cử TNS John Mc Cain vào VN ngay chỉ để nói chuyện với phe 2L+4S về VKST thôi, nhắc thêm về yêu cầu Nhân quyền, quên hẳn TPP của 3X rồi... (hẹn đợi 12-18 tháng tới - tức sau ĐH12, không biết lúc đó 3X có còn là “thủ”?…)

Người Mỹ đúng là quân tử vì đại cục, như Tàu hay nói về mình nhưng làm thì ngược lại, mà người Việt ta thường gọi là thực dụng vậy. Tôi kính nể phục ông John Mc Cain!

Tại sao Tàu “đánh” 3X?

Tại sao nói 3 Tàu cũng "đánh" 3X? Là vì 3X đã nói 3Tàu "viển vông", 3X đã đòi kiện 3Tàu, và 3X định cử Phạm Bình Minh sang bàn chuyện liên kết với Mỹ chống 3 Tàu... Tức là, 3X đã phạm cả 3 trong 4 điều cấm của 3 Tàu với CSVN - mà tất cả chỉ bằng miệng lưỡi, là: chủ quyền viễn vông (nói quan hệ với TQ viễn vông thì TQ coi như 3X nói chủ quyền của TQ là viễn vông vậy), kiện 3 Tàu ra tòa QT (3X dám hả?!) và 3X định kéo bên thứ ba (Mỹ) vào BĐ hả?!... Thế là 3Tàu (qua (Dương Khiết Trì) lệnh cho 2L+4S ra tay giữ Phạm Bình Minh lại cho Nghị đi thay sang Mỹ ngoại giao chửi Mỹ, nhưng hé cửa đòi VKST - “nếu không chúng tao thực hiện HN Thành Đô - theo về TQ hoàn toàn, vì quân đội chúng tao nắm rồi (bọn nó thề trung với đảng mà), công an cũng nắm gần hết (bọn này biết rõ còn đảng còn mình mà)... Rồi 3 Tàu lại ra lệnh không được kiện nên bộ CT CSVN đã bỏ phiếu 9/7 không kiện, và cuối cùng, phe 2L+4S bịt mồm "viễn vông" của 3X bằng việc giơ cao cái "thòng lọng trách nhiệm" về nền kinh tế mà 3X không thể đùn cho ai được. Cái thòng lọng đó là: 3 Tàu đang “đả hổ bắt rồng” thì CSVN cũng sẽ phải "chọc mèo bắt rắn" chứ? Mà ở VN hiện nay thì có con mèo ăn vụng hay con rắn cắn trộm nào mập và độc hại hơn 3X và bầy đàn đây?... Thế là 3X có nguy cơ “lên thớt”… lần này do 3 Tàu mài dao.

Tại sao 3X chịu trận?

Suốt cả tháng qua, tại sao 3X chịu bị “đảng” lật ngược cả 3 thứ 3X đã "hứa hẹn hiên ngang trước thế giới" trên mà không dám làm gì? Bởi vì, 3X là thủ tướng của đảng, vẫn do đảng phân công chứ có tài cán gì đâu, hay có vì dân hay Cuốc hội tin cậy bầu lên đâu? Tự 3X đã nhận thế mà.

Và vì, còn một nguy cơ nữa là Cuốc hội của Hùng hói cũng theo đảng bảo lưu sẽ bỏ phiếu tín nhiệm 3X và bộ sậu lần nữa vào đầu 2015 tới trong quá trình chọn lọc nhân sự cho ĐH 12 đầu 2016 sắp cận kề. Phen này, có vẻ 3X khó mua phiếu hơn kỳ HN TƯ6 năm 2012 (không phải vì 175+25 UVTƯ dễ mua bằng cục gạch triệu đô hơn 498 nghị gật, mà vì 3X không biết chọn "mua" ai đây vì họ đâu phải quan đầu ngành nghễu nghện như các UVTƯ cả...?! Mà bỏ ra 500 cục gách triệu đô thì 3X gửi cho con gái đi đẻ bển hết rồi…) Thế cho nên, đợi đến bỏ phiếu tín nhiệm tới mà không có 500 cục gạch đi trước là nguy, 3X đành phải chuẩn bị phản công trước!

Y tá du kích miệt sông ngòi đâu dễ chết trôi!

Vì thế nên mới xuất hiện không chỉ 5 biểu hiện 3X "xì ra hết" trong nước vừa qua mà anh Châu đã nhận ra và thắc mắc tại sao, mà một loạt các bloggers tay chân 3X trong và ngoài nước đang "đấu tranh dân chủ" cho 3X cũng đã đồng loạt lên tiếng, hành động phối hợp cứu 3X như Kami, Phạm Chí Dũng... và nhiều kẻ khác. Họ cũng đã và đang "xì ra" nhiều thứ thối um khác để dọa phe 2L+4S đấy chứ! Như Phạm Chí Dũng dọa mất TPP (làm sao có được mà mất!), như Kami dọa mất cơ hội liên minh với Mỹ (mà 3X hay CSVN chưa bao giờ có cửa hé...)

Con thú sắp bị dồn đến đường cùng?

Hơn thế nữa, theo tôi, đó chưa phải 3X đã "xì ra hết", mà mới chỉ là màn dạo đầu - "xì hé ra" để dọa đối thủ thôi, rằng: "Nếu dồn tau vào đường cùng là tau phòi ra hết đó! Tau là quân tử cà mâu chớ bộ!" Và vì thế, sắp tới, tức 3-6 tháng tới, mới là trò diễn hay độc của "quân tử xà mâu"! Lâu lắm thì là dịp 12-18 tháng tới khi ĐH12 bắt đầu sôi sùng sục, có khi sẽ nổ tung cái đảng CSVN...

Vậy 3X còn gì để nói ngoài việc "Tau đã theo lệnh chúng mày đánh sập nền kinh tế rồi đó, dân sẽ đòi nợ chúng mày đó, tao thì bye, bye ghen!"?

Chúng ta nên nhớ, trước hết 3X là con điếm chính trị sộp hàng đầu, không phải nhà kinh tế hay quản trị hàng đầu, 3X làm thủ tướng là do đảng phân công thôi, nên cái 3X sẽ "xì ra ráo chọi" mà XSVN và cả CSTQ sợ nhất là các bí mật kinh tế chính trị thối tha nhất của đảng CSVN. Ví dụ: Bức tranh thật của kinh tế Việt nam trước thềm ĐH12? (sẽ là đen tối gấp nhiều lần những gì 3X mới hé lộ ra!); Ví dụ: Nội dung Hội Nghị Thành Đô 1990 và các hiệp nước bán nước khác của đảng CSVN? Ví dụ: đời tư tranh nhau bán nước, giết nhau để bán nước Việt cho Tàu Cộng của các "lãnh tụ" CSVN từ Hồ trở đi đến nay? v.v... và v.v...?

Nếu 3X sẽ xì ra những điều đó thì có lẽ dân Việt sẽ tha mạng cho hắn lưu vong (để lại tài sản, sang bển bán MacDonnalscho con rể...), một số có thể sẽ tôn vinh 3X như Gorbacheve của VN, nhưng toàn dân sẽ quay sang xét xử bè lũ "đít đỏ đến cùng" tức CSVN bán nước đến cùng kia...

Chúng ta hãy chờ xem, và có khi cả tham gia, các màn tiếp! Mong anh Châu luôn tinh tường cảnh báo giùm cho như cho đến hiện nay. Cảm ơn anh Châu!

Tuesday, August 5, 2014

Ngộ nhận GDP: Nhiều người Việt đang đi vay để... sống!

(Baodatviet) - Việc GDP tăng cao hầu như không có ý nghĩa với người dân và không nên xem đây như là chỉ tiêu “tuyệt đối” tính toán thành tích phát triển kinh tế.
Chuyên gia kinh tế Bùi Trinh đã chia sẻ với Đất Việt qua góc nhìn của mình từ việc mổ xẻ khía cạnh thu nhập của GDP. Theo vị chuyên gia này: “Chúng ta đang có sự ngộ nhận về GDP và thu nhập bình quân đầu người ở Việt Nam”.
Ngộ nhận đáng tiếc
Từ khi chuyển từ hệ thống hạch toán sản xuất vật chất MPS sang hệ thống tài khoản quốc gia SNA, nhiều chỉ tiêu của Việt Nam ngày càng tương đồng với thế giới.
Tuy nhiên cũng chính sự thay đổi này khiến phát sinh một số ngộ nhận về con số GDP như chỉ tiêu “tuyệt đối” tính toán thành tích phát triển kinh tế và nâng cao đời sống.
“Một số người đã nhầm lẫn coi GDP gần như là chỉ tiêu thu nhập (lẽ ra chỉ tương quan cùng chiều), nên gây nên hiểu nhầm đáng tiếc. Một số người đã mặc nhiên xem GDP bình quân đầu người như là thu nhập bình quân đầu người. Khi nói đến GDP bình quân đầu người nhiều người lập tức so sánh đến thu nhập của dân cư”, chuyên gia Bùi Trinh nói.
Thực chất về cơ bản GDP được nhìn dưới dưới ba góc độ. Thứ nhất đó là ở giác độ sử dụng cuối cùng: GDP bao gồm tiêu dùng cuối cùng của hộ gia đình, tiêu dùng cuối cùng của Nhà nước, tích lũy tài sản gộp và xuất khẩu thuần.
Thứ hai đó là dưới giác độ sản xuất: GDP = tổng giá trị sản xuất – tổng chi phí trung gian + Thuế sản phẩm – Trợ giá sản phẩm.
Còn ở giác độ thu nhập bao gồm mấy nhân tố cơ bản: Thu nhập của người lao động, thặng dư sản xuất, khấu hao tài sản cố định và thuế sản xuất – trợ cấp sản phẩm.
Theo ông Trinh, nếu nhìn ở khía cạnh thu nhập của GDP theo Hệ thống tài khoản Quốc gia: Tổng thu nhập của mỗi khu vực thể chế bao gồm thu nhập từ sản xuất + thu nhập thuần từ sở hữu + thu nhập thuần từ chuyển nhượng, thì đối với mỗi Quốc gia thì GDP cũng chỉ là chỉ tiêu sơ khởi.
Bởi vì sau đó còn một số chỉ tiêu khác như GNI (Tổng thu nhập quốc dân), NDI (thu nhập quốc dân khả dụng), để dành (saving) và tích lũy…
Thế nhưng, trên thực tế số liệu của Ngân hàng phát triển Châu Á thấy GNI chiếm tỷ trọng ngày càng nhỏ và luồng tiền chi trả sở hữu thuần ra nước ngoài ngày càng lớn.
Trong khi đó, thu nhập của người lao động từ sản xuất (một nhân tố của GDP) được hiểu thu nhập bằng tiền và hiện vật của người lao động từ quá trình sản xuất, hiện nay hàng năm Tổng cục Thống kê không công bố chỉ tiêu này, nhưng dựa vào bảng cân đối liên ngành (input-output table) có thể ước tính thu nhập từ lao động chiếm khoảng 49% GDP.
Như vậy GDP bình quân đầu người năm 2012 khoảng 1755 USD trong đó thu nhập từ sản xuất của người lao động ước tính khoảng 860 USD đầu người.
Cũng theo số liệu của Tổng cục Thống kê, tổng thu nhâp bình quân đầu người năm 2012 khoảng 1152 USD, điều này có nghĩa khoản thu nhập bình quân đầu người ngoài sản xuất (từ sở hữu và từ chuyển nhượng) là khoảng 292 USD; tỷ lệ giữa thu nhập từ sản xuất so với tổng thu nhập năm 2012 và 2013 khoảng 74-75%, phần còn lại là thu nhập kiếm được từ ngoài quá trình sản xuất (25-26%).
“Như vậy có thể thấy GDP bình quân đầu người và thu nhập bình quân đầu người là hoàn toàn khác nhau; trong GDP có một phần thu nhập (thu nhập từ sản xuất) thuộc về tổng thu nhập”, chuyên gia Bùi Trinh phân tích.
Một số người đã nhầm lẫn coi GDP gần như là chỉ tiêu thu nhập (lẽ ra chỉ tương quan cùng chiều), nên gây nên hiểu nhầm đáng tiếc
Một số người đã nhầm lẫn coi GDP gần như là chỉ tiêu thu nhập (lẽ ra chỉ tương quan cùng chiều), nên gây nên hiểu nhầm đáng tiếc
Khoảng cách ngày càng nới rộng
Trong một báo cáo mới đây, ADB đã đánh giá những tác động của tăng trưởng đối với xóa đói giảm nghèo, bất bình đẳng thu nhập và phúc lợi xã hội. ADB kết luận rằng không nên coi tốc độ tăng trưởng là chỉ số tốt nhất để đánh giá sức khỏe của một nền kinh tế.
Theo ông Trinh, nếu biểu thị theo sơ đồ sẽ thấy khoảng cách giữa thu nhập bình quân đầu người từ sản xuất và tổng thu nhập bình quân đầu người ngày càng nới rộng ra.Điều này phần nào do lượng kiều hối những năm gần đây chuyển về Việt Nam khá lớn.
Theo tính toán nếu GDP bình quân đầu người của Việt Nam năm 2013 là 1960 USD thì thu nhập bình quân đầu người từ sản xuất vào khoảng 960 USD và tổng thu nhập bình quân đầu người ước tính vào khoảng 1280 USD.
“Tuy nhiên việc tính chuyển thu nhập bình quân đầu người ra USD đôi khi chỉ mang tính ước lệ vì khi trong điều kiện lạm phát cao và tỷ giá giữa USD và Việt Nam đồng hầu như không thay đổi (thay đổi 1-2%) thì thu nhập bình quân đầu người tính theo USD tăng càng cao hơn so với tính theo giá so sánh tiền đồng”, ông Trinh phân tích.
Từ những phân tích trên cho thấy, với số liệu của Tổng cục Thông kê 2012 về thu nhập bình quân đầu khoảng 2 triệu đồng tháng thì tổng thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam năm 2013 khoảng hơn 2,2 triệu đồng tháng.
“Đó là mức thu nhập khiêm tốn, rất khó khăn cho người dân, đặc biệt là khu vực nông thôn tổng thu nhập bình quân đầu người trên tháng năm 2012 chỉ là 1,541 triệu đồng còn thấp hơn mức bình quân, trong khi 68% dân số là ở nông thôn. Đó là chưa kể đến tình trạng phân hóa giầu nghèo, làm cho khoảng cách thu nhập giữa 20% người nghèo nhất và 20% người giầu nhất lên tới 10 lần và đang tiếp tục tăng lên”, ông Trinh nhận định.
Mặt khác cũng theo số liệu từ Tổng cục Thống kê cho thấy tỷ lệ giữa tiêu dùng cuối cùng của hộ gia đinh từ năm 2010-2013 luôn ổn định ở mức 70 – 72% GDP, như vậy có thể thấy mức tiêu dùng bình quân đầu người của dân cư năm 2012 khoảng 1229 USD và năm 2013 khoảng 1372 USD, trong khi mức tổng thu nhập bình quân đầu người năm 2012 là 1152 USD và năm 2013 ước tính khoảng 1280 USD.
Do đó ông Trinh khẳng định: “Từ những con số này có thể thấy đa số người dân không những không có để dành mà còn phải đi vay một phần để tiêu dùng! Nếu các tính toán này không có sai số thì đây là tín hiệu khá nguy hiểm, chứng tỏ việc GDP tăng cao hầu như không có ý nghĩa với người dân”.

  • Bích Ngọc

Monday, August 4, 2014

Chính quyền Việt Nam mắc nợ 'khủng khiếp'

HÀ NỘI (NV) - Ông Trịnh Tiến Dũng, một chuyên gia kinh tế khẳng định, các doanh nghiệp nhà nước nợ “khủng khiếp” và chính quyền Việt Nam không thể phủ nhận đây là nợ của mình.


Tuy phủ nhận trách nhiệm đối với chuyện nợ nần của các doanh nghiệp nhà nước nhưng những khoản nợ này vẫn tồn tại như các trái bom có thể nổ bất kỳ lúc nào. (Hình minh họa: Báo Dân Trí)


Ông Dũng là cựu trợ lý của trưởng ban cải cách khu vực công của Chương Trình Phát Triển Liên Hiệp Quốc (UNDP) tại Việt Nam.

Hồi Tháng Sáu vừa qua, Bộ Tài Chính Việt Nam công bố báo cáo về sử dụng vốn vay, quản lý nợ công của chính quyền Việt Nam.

Theo báo cáo vừa kể, tính đến hết năm ngoái, Việt Nam nợ 1,913,000 tỷ đồng, tương đương 53.4% GDP, trong đó nợ của chính phủ Việt Nam là 1,488,000 tỷ đồng, tương đương 41.5% GDP.

Tính đến hết năm 2013, tổng số dự án được chính phủ Việt Nam bảo lãnh để vay là 104 dự án, trong đó có 23 dự án đã trả xong nợ.

Riêng năm ngoái, chính phủ Việt Nam bảo lãnh cho tám dự án vay $3.161 tỷ từ các tổ chức tín dụng ngoại quốc hoặc phát hành trái phiếu quốc tế.

Cả Bộ Tài Chính lẫn chính quyền Việt Nam liên tục khẳng định, những khoản nợ khác của các doanh nghiệp nhà nước không thể xem là nợ của chính quyền. Các doanh nghiệp nhà nước tự vay và tự trả.

Nhiều chuyên gia kinh tế khẳng định đó là một kiểu ngụy biện. Chính quyền Việt Nam ngụy biện như thế để trấn an mọi người rằng, nợ nần của chính quyền Việt Nam chưa vượt quá mức 65% GDP.

Theo khuyến cáo của nhiều tổ chức quốc tế, nếu nợ nần vượt quá mức 65% GDP thì an ninh tài chính quốc gia không còn an toàn.

Theo ông Dũng, dù những khoản vay của các doanh nghiệp nhà nước được chính quyền Việt Nam bảo lãnh rồi được gộp vào khối nợ chung của chính quyển, chỉ chừng 4.2% đến 6.9% tổng nợ quốc gia nhưng tỷ lệ đó không phản ánh đúng thực chất nợ nần và thực tế vay trả.

Tại một cuộc hội thảo về nợ công, diễn ra hồi trung tuần tháng trước, ông Dũng đưa ra nhiều dẫn chứng để bác bỏ lập luận, các doanh nghiệp nhà nước tự vay và tự trả nợ. Nợ của các doanh nghiệp nhà nước không liên quan đến nợ nần của chình quyền.

Ví dụ rõ ràng nhất là trường hợp Vinashin. Năm 2009, tập đoàn nhà nước này phá sản và để lại khoản nợ 89,000 tỉ đồng, tương đương 52% GDP của năm 2009. Sau đó, chính quyền Việt Nam đã tổ chức chuyển nợ của Vinashin cho Vinalines và Petro Vietnam, bổ sung vốn, khoanh nợ. Tuy Vinashin “tự vay” nhưng rõ ràng trả là do chính quyền Việt Nam, kể cả phát hành trái phiếu để bù đắp và vì thế khiến ngân sách thâm thủng.

Không riêng ông Dũng, hai ông Phạm Thế Anh và Ðinh Tuấn Minh cũng đã sử dụng nhiều số liệu để chứng minh rằng, tổng các khoản nợ của hệ thống doanh nghiệp nhà nước đã vay mà không được chính quyền Việt Nam bảo lãnh, nên không được kể là nợ công, tương đương 40.9% GDP.

Nếu tính đúng, tính đủ, cộng cả nợ nần chính thức lẫn nợ nần của hệ thống doanh nghiệp nhà nước, những khoản chưa thanh toán khi thực hiện các công trình hạ tầng, nợ nần của chính quyền Việt Nam hiện nay xấp xỉ 98.2% GDP.

Hai ông Phạm Thế Anh và Ðinh Tuấn Minh khẳng định, các khoản vay ngoại quốc, vay các nhân hàng trong nước, vay lẫn nhau của hệ thống doanh nghiệp nhà nước, dù không được chính quyền Việt Nam bảo lãnh vẫn đe dọa an ninh tài chính quốc gia.

Nếu không muốn những quả bom này phát nổ, việc cải cách hệ thống doanh nghiệp nhà nước, cổ phần hóa những doanh nghiệp này phải “triệt để,” không thể “hình thức” nhưng thực tế cho thấy, đến nay, cải cách hệ thống doanh nghiệp nhà nước, cổ phần hóa những doanh nghiệp này vẫn như trò đùa. (G.Ð.)

08-03-2014 4:49:32 PM 
Theo Người Việt

Wednesday, July 30, 2014

Nguy cơ nợ công Việt Nam thực sự nằm ở đâu?



NO-NGANSACH

Như VnEconomy đã đề cập ở bài viết trước, mức độ chênh vênh của con số nợ công Việt Nam đang là thách thức ngay cả với cơ quan kiểm toán.
Tổng kiểm toán Nhà nước Nguyễn Hữu Vạn, trong phiên họp tháng 4/2014 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã từng nêu thực tế: “Do đặc điểm tổ chức quản lý và công tác kế toán, lập báo cáo thông tin về nợ công phân tán, Kiểm toán Nhà nước không đủ cơ sở xác nhận số liệu nợ công năm 2012”.
Song, nguy cơ thực sự của nợ công Việt Nam không nằm ở các con số, theo TS. Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam.
Tại tham luận ở hội thảo về nợ công vừa diễn ra trung tuần tháng 7 vừa qua, Viện trưởng Thiên đã chỉ ra ba điểm được coi là nguy cơ thực tiễn của nợ công.
Thứ nhất là tốc độ tăng nợ vay cao, hiện đã đến mức vay để trả nợ chứ không phải vay để bán đi sản xuất rồi bán đi lấy tiền trả nợ. Vay để trực tiếp trả nợ luôn, ông Thiên nhấn mạnh.
Cơ cấu nợ, theo ông Thiên là nguy cơ thứ hai. Bởi nợ ngắn hạn chiếm tỷ trọng lớn. Trái phiếu Chính phủ kỳ hạn rất ngắn, kỳ hạn ngắn thì áp lực trả nợ tăng nhanh. Tổng số nợ của Việt Nam không quá lớn nhưng tỷ trọng nợ ngắn hạn quá cao nên áp lực trả nợ gay gắt và ngày càng tăng cao, vị chuyên gia này phân tích.
Điểm thứ ba chứa đựng nguy cơ, theo Viện trưởng Thiên chính là năng lực trả nợ. Những con số liên quan theo ông Thiên là đã thực sự đáng báo động, khi nghĩa vụ trả nợ năm 2014 đã vượt qua vạch đỏ (25% tổng thu ngân sách).
“Sang năm con số này chắc lên 30% hoặc hơn, đây thực sự là một nguy cơ báo động mà chúng ta không thể coi thường”, ông Thiên cảnh báo.
Ủy viên Ủy ban Kinh tế của Quốc hội, TS. Trần Du Lịch cũng nhấn mạnh rằng khủng hoảng nợ công hay không tùy thuộc ở tổng số nợ phải trả hàng năm so với tổng thu ngân sách nhà nước.
Năm 2013, chỉ số này của Việt Nam là 22,3% và chắc chắc chắn sẽ tăng nhanh trong các năm tới, khi vượt trên mức 25% thì bắt đầu giai đoạn báo động và vượt 30% là mất an toàn, ông Lịch góp thêm lời cảnh báo.
Khả năng huy động và trả nợ khó khăn cũng là điều từng được Chính phủ thừa nhận tại một bản báo cáo phát hành vào tháng Tư năm nay.
Và, dưới phân tích của không ít chuyên gia thì các khó khăn đã tiệm cận mức rủi ro.
Theo TS. Trần Du Lịch, tình trạng vay để đảo nợ đang ngày càng lớn. Năm 2014 nghĩa vụ trả nợ của Chính phủ là 208.883 tỷ đồng, thì phần cân đối ngân sách chỉ có 118.750 tỷ đồng, phải vay để trả nợ khoảng 90.000 tỷ đồng. Con số này sẽ tăng dần trong các năm sau và đây chính là rủi ro đáng lo ngại.
Vay để đảo nợ cũng là lo lắng của nhiều vị đại biểu Quốc hội đương nhiệm khác khi chất vấn Bộ trưởng Bộ Tài chính Đinh Tiến Dũng ở kỳ họp giữa năm vừa qua.
Tại đó, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng đã nhấn mạnh “vay để trả nợ là không an toàn” và Quốc hội đồng ý nâng mức bội chi là để đầu tư chứ không phải để trả nợ.
Trở lại câu hỏi về nguy cơ thực sự của nợ công, tại hội thảo khoa học “Phối hợp chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ trong điều hành kinh tế vĩ mô giai đoạn 2014-2015″ do Học viện Chính sách và Phát triển (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) tổ chức vào tháng 12/2013, một phần câu trả lời cũng đã được đưa ra.
Khi đó, Giám đốc Học viện, TS. Đào Hùng và TS. Trịnh Quang Anh đã đặc biệt lưu ý với áp lực phát hành trái phiếu chính phủ gộp, cả để đảo nợ đến hạn (tổng hai năm 2014-15 là khoảng 320 nghìn tỉ đồng, dự đoán sẽ phát hành tập trung trong năm 2014), nguy cơ nợ công chuyển sang trạng thái mất an toàn là có khả năng, kéo theo đó là nguy cơ bất ổn hệ thống ngân hàng.
Còn TS. Lê Xuân Nghĩa cảnh báo về vấn đề mà theo ông là khá nghiêm trọng, cần phải tính toán kỹ, đó là nghĩa vụ trả nợ công của ngân sách dự kiến đến 2016 sẽ vượt 30%, là vượt ngưỡng an toàn.
TS. Trịnh Tiến Dũng, nguyên trợ lý Giám đốc Quốc gia – Trưởng ban Cải cách khu vực công UNDP Việt Nam cho rằng, nếu tính đủ cả nợ doanh nghiệp nhà nước thì mức nợ công hiện nay đã vượt quá trần nguy hiểm rất nhiều.
Những khoản nợ xấu của khu vực doanh nghiệp nhà nước mà rất có thể sẽ phải dùng ngân sách nhà nước để trả mới là mầm mống đe dọa tính bền vững của nợ công Việt Nam cũng là nhận định của hai chuyên gia trẻ Đinh Tuấn Minh và Phạm Thế Anh.
THEO VNECONOMY