Showing posts with label XaHoi-DoiSong-NongDan. Show all posts
Showing posts with label XaHoi-DoiSong-NongDan. Show all posts

Thursday, November 23, 2023

Giá cà phê ‘rớt thê thảm,’ nông dân ở Quảng Trị xót xa bỏ rẫy

 QUẢNG TRỊ, Việt Nam (NV) – Bị ép giá từng ngày khiến giá xuống thấp, thu nhập không đủ tiền trả nhân công, nông dân huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị, xót xa bỏ cho rơi rụng hàng tấn quả cà phê, theo báo Tuổi Trẻ hôm 23 Tháng Mười Một.

Giữa Tháng Mười Một, quả cà phê chín rộ lẽ ra nông dân huyện Hướng Hóa vào vụ thu hoạch rộ nhưng khoảng 50 gia đình ở xã Hướng Phùng bỏ hái cà phê, kéo nhau ra ủy ban huyện để cầu cứu.

Giá cà phê xuống thấp, nhiều nông dân bỏ không thu hoạch khiến quả khô héo, rơi rụng. (Hình: Hoàng Táo/Tuổi Trẻ)

Bà Nguyễn Thị Lan ở thôn Cợp, xã Hướng Phùng, có 3 hécta cà phê Arabica, dự tính sản lượng khoảng 40 tấn. Tuy nhiên trong ba ngày qua, giá bán quả cà phê xuống thấp, bà Lan bỏ không thu hoạch khiến khoảng 5 tấn quả rơi rụng, héo khô.

Theo bà Lan, gia đình bà đã đầu tư 140 triệu đồng ($5,779) tiền phân bón, thuốc trừ sâu. Số vật tư này vay của đại lý, phải trả tiền lãi trong suốt niên vụ, nên giờ không biết làm sao thu vào cho đủ để trả tiền “phân tro.”

Tương tự, ông Phan Hữu Phong, ở thôn Phùng Lâm, xã Hướng Phùng, lo âu vì giá cà phê xuống thấp, nguy cơ thua lỗ thêm một niên vụ nữa.

Các năm trước giá cà phê thế giới xuống thấp, nông dân chấp nhận rủi ro, thua lỗ nhưng vẫn bám vườn. Tuy nhiên hiện nay, giá cà phê thế giới cao hơn năm ngoái, nhưng giá cà phê tại tỉnh Quảng Trị lại thấp.

“Tôi nhập cà phê cho đại lý chiều hôm trước, nhưng hôm sau mới có giá. Doanh nghiệp cho giá như thế nào thì nông dân chấp nhận như thế. Chúng tôi không quyết định được giá bán nông sản. Nông dân bỏ công sức, tiền của cả năm trời để chăm vườn, nay giá thấp phải vất bỏ cà phê như này rất đau xót, không có tâm trạng tiếp tục làm cà phê,” ông Phong nói.

Nông dân trồng cà phê ở Hướng Hóa cho rằng các doanh nghiệp, đại lý đang bắt tay nhau làm giá, ép giá nông dân, khiến họ đứng trước thua lỗ, thậm chí bỏ vườn.

Trong khi đó, bà Nguyễn Thị Thảo, chủ một cơ sở thu mua cà phê, cho hay doanh nghiệp không ép giá nông dân. Năm nay xuất cảng cà phê không thuận lợi, chủ yếu tiêu thụ nội địa cộng với trời mưa, cà phê lẫn tạp chất, độ ẩm nên giá thấp.

Qua nhiều năm thua lỗ do giá thấp, nhiều nông dân vứt bỏ vườn cà phê. (Hình: Hoàng Táo/Tuổi Trẻ)

“Nếu trời tiếp tục mưa thì tôi sẽ không thu mua nữa vì giá có xuống 7,500 đồng/kg, doanh nghiệp cũng thua lỗ,” bà Thảo cho biết.

“Được nước,” ông Hoàng Đình Bình, trưởng Phòng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn huyện Hướng Hóa, ăn theo nói cho qua chuyện: “Qua làm việc thì doanh nghiệp khẳng định không ép giá.” (Tr.N) [kn]

Thursday, December 3, 2020

Nông dân Quảng Trị sắp đói vì ruộng nương bị vùi lấp, tan hoang sau lũ

QUẢNG TRỊ, Việt Nam (NV) – Phù sa là thứ cần thiết để có những mùa bội thu. Song, bùn đất đóng dày cả mét trên ruộng đồng sau “trận mưa lũ lịch sử ở Quảng Trị” vừa qua đã để lại sự ám ảnh cho người nông dân.

Nói với báo Quảng Trị, ông Võ Văn Hưng, chủ tịch tỉnh Quảng Trị, cho biết thiệt hại do lũ lụt liên tiếp ở tỉnh này là rất lớn, song “khủng khiếp nhất” là lượng bùn đất đã vùi lấp khoảng 1,650 hécta ruộng nương. Với diện tích lớn như vậy, việc cải thiện đồng ruộng gặp nhiều khó khăn, cần nhiều phương tiện cơ giới và nhân công lớn mới có thể hoàn thành.

Một mảnh ruộng ở Quảng Trị bị bùn đất vùi lấp sau khi lũ rút. (Hình: Hoàng Táo/VNExpress)

Ngày 1 Tháng Mười Hai, ông Hồ Văn Rào (46 tuổi, trú xã Hướng Sơn, huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị) đi xem ruộng để tính việc sản xuất. Thế nhưng hơn một tháng sau lũ, cả hécta ruộng lúa và rẫy sắn của ông Rào vẫn ngổn ngang đá tảng, gỗ rừng và cát sỏi.

Băng qua bãi cát sát sông Nguồn Rào, nói với báo VNExpress ông Rào cho biết trước trận lũ hồi Tháng Mười, nơi đây từng là mảnh ruộng màu mỡ nuôi sống gia đình ba người. Giờ, ruộng bị cát phủ dày khoảng 70 cm. Một phần ruộng khác bị sông cuốn trôi. Rẫy sắn trồng 10 tháng qua chuẩn bị thu hoạch bị núi lở vùi lấp, ngổn ngang đá tảng, cây rừng.

Tranh thủ ngày nắng, ông Rào mang hai bao lúa bị ẩm sau mưa ra phơi trước sân nhà. Đây là số lương thực còn lại để gia đình ông ăn trong sáu tháng tới. “Ruộng nương bị vùi lấp, gia đình chưa biết phải trồng cây gì để sinh sống,” ông Rào lo lắng nói.

“Ở xã Hướng Sơn có hơn 192 hécta trồng lúa nước, nhưng mưa lũ khiến 90 hécta bị vùi lấp bởi đá và gỗ rừng nên không thể sản xuất. Do vậy, thời gian sắp tới người dân gặp khó khăn về lương thực, nguy cơ thiếu đói là rất lớn,” ông Lê Trọng Tường, chủ tịch xã Hướng Sơn, huyện Hướng Hóa, nói.

Tương tự, đứng giữa bãi bùn đã khô lại như sa mạc, bà Nguyễn Thị Lương (65 tuổi, ở xã Triệu Nguyên, huyện Đắkrông) không thể hình dung đâu là vị trí nương ngô xanh tốt trước đây của gia đình.

“Tôi sống đến chừng này tuổi chưa bao giờ thấy bùn đất đổ về khủng khiếp đến thế. Tôi thực sự trắng tay,” bà Lương nhìn xa xăm nói.

Nhưng nỗi ám ảnh trên không chỉ hiện diện ở xã Hướng Sơn, Triệu Nguyên, mà ở xã Ba Lòng bên kia sông Đắkkrông với hàng trăm gia đình nông dân cũng đang rối bời vì đồng đất bị vùi lấp.

Hay ở xã Hướng Việt, huyện Hướng Hóa, nơi từng bị cô lập nhiều ngày sau lũ dữ, có đến 500 hécta đất sản xuất nông nghiệp đã thành bình địa vì… bùn.

Ruộng lúa của gia đình ông Hồ Văn Rào bị vùi lấp hoàn toàn bởi cát. (Hình: Hoàng Táo/VNExpress)

“Khoảng vườn đó chúng tôi trồng lúa nếp, giờ mất hết rồi, Tết này lấy gì ăn đây,” ông Hồ Văn Vươn (ở xã Hướng Việt, huyện Hướng Hóa) chỉ tay về khoảng đất rộng mênh mông nói.

Không chỉ có Quảng Trị, sau khi khảo sát một số vùng bị bồi lấp tại huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình, Viện Khoa Học Nông Nghiệp Việt Nam đánh giá mức độ bồi lấp lớn và dày. Tầng bồi lấp trên cùng là lớp đất sét nặng nên rất khó để canh tác ngay nếu không cải thiện.

Ông Lê Xuân Uyển (56 tuổi, trú xã Hưng Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình) nhìn cánh đồng bị đất bùn bồi lấp dày gần 1 mét không thể gieo trồng vụ lúa Đông Xuân, ngao ngán vì nếu muốn gieo trồng, phải mất nhiều thời gian và công sức.

Các trang trại lớn nhỏ dọc sông Đắkrông ở xã Triệu Nguyên, huyện Đakrông, tan hoang sau mưa lũ. (Hình: Thanh Lộc/Quảng Trị)

Theo kinh nghiệm của ông Uyển, lượng đất bồi lấp có một số yếu tố độc hại cho cây, nếu trồng lúa thì sẽ hư rễ và chết. “Chúng tôi lo lắng vì không kịp thời vụ mà cũng không biết trồng cây gì nữa,” ông Uyển nói.

Chính quyền tỉnh Quảng Trị đang huy động nhân lực cùng phương tiện để san gạt, cải thiện đồng ruộng bị vùi lấp, nhằm sớm chuẩn bị cho vụ Đông Xuân vào tháng tới, nhưng không biết có dọn hết hay không. (Tr.N) [qd]

Thursday, April 16, 2020

Trung Quốc ‘giở trò,’ siết chặt nhập cảng nông sản, Lạng Sơn kêu cứu

Hàng ngàn xe nông sản của doanh nghiệp Việt Nam bị ùn ứ khi xuất cảng qua Trung Quốc. (Hình: Duy Chiến/Tiền Phong)
LẠNG SƠN, Việt Nam (NV) – Ủy Ban Nhân Dân tỉnh Lạng Sơn đề nghị thủ tướng CSVN cho tạm dừng tiếp nhận hàng hóa lên cửa khẩu Tân Thanh trong 15 ngày, để giải tỏa hàng hóa tồn đọng khi phía Trung Quốc “giở trò,” siết chặt nông sản, nhằm gây khó cho doanh nghiệp Việt Nam.
Chiều 14 Tháng Tư, ông Nguyễn Công Trưởng, phó chủ tịch tỉnh Lạng Sơn, nói với báo VNExpress tỉnh này đề nghị như trên do Lạng Sơn còn tồn đọng khoảng 2,600 xe và riêng cửa khẩu Tân Thanh đang tồn đọng trên 1,000 xe chở hàng nông sản, chủ yếu là trái cây tươi. Nếu được thủ tướng đồng ý, tỉnh sẽ tạm dừng tiếp nhận từ ngày 16 Tháng Tư.
“Phải mất 20 ngày mới thông quan hết số xe hàng này, không dừng tiếp nhận lúc này thì lượng hàng hóa tồn đọng sẽ tiếp tục tăng lên,” ông Trưởng nói.
Trước đó, hôm 10 Tháng Tư, ông Phan Hồng Tiến, trưởng Ban Quản Lý Khu Kinh Tế Cửa Khẩu Đồng Đăng (tỉnh Lạng Sơn), cho biết  lấy lý do tình hình dịch bệnh COVID-19 “diễn biến phức tạp,” từ đầu Tháng Tư phía Trung Quốc đã áp dụng các biện pháp “siết chặt quản lý hàng hóa xuất nhập cảng.”
Hiện chỉ có năm cửa khẩu được làm thủ tục thông quan hàng hóa, trong đó có một số cửa khẩu phụ chỉ được thông quan năm tiếng mỗi ngày. Một số cửa khẩu phụ, lối mở khác đã tạm thời đóng cửa theo lệnh của Trung Quốc.
Nếu như trong Tháng Ba mỗi ngày có khoảng 1,200 xe hàng được thông quan, thì cách đây một tuần giảm còn 300 xe và đến Thứ Ba, 14 Tháng Tư, chỉ còn khoảng 50 xe. Các xe hàng bị ùn ứ chủ yếu là nông sản, trái cây tươi khiến hàng hóa mau giảm chất lượng, chi phí bảo quản tăng cao gây thiệt hại cho doanh nghiệp Việt Nam.
Dù phía Việt Nam thành lập Đội Lái Xe Chuyên Trách ở cửa khẩu theo tiêu chuẩn của Trung Quốc nhưng vẫn bị làm khó. (Hình: Duy Chiến/Tiền Phong)
Chưa hết, số lượng hàng hóa, phương tiện và người tập trung quá đông tại các khu vực cửa khẩu cũng tiềm ẩn những nguy cơ phát sinh và lây lan dịch bệnh COVID-19 cho phía Việt Nam.
“Chúng tôi đã trao đổi với cơ quan hữu trách của Trung Quốc đề nghị kéo dài thời gian thông quan lên 9 đến 10 tiếng mỗi ngày đối với những cửa khẩu đang bị hạn chế, nhưng họ chưa đồng ý,” ông Tiến nói.
Từ ngày 7 Tháng Tư, trên cơ sở thỏa thuận với phía Trung Quốc, Lạng Sơn thành lập “Đội Lái Xe Chuyên Trách” ở cửa khẩu Hữu Nghị (huyện Cao Lộc) gồm 298 lái xe; cửa khẩu Tân Thanh (huyện Văn Lãng) gồm 300 lái xe. Họ sẽ lái các xe hàng qua lại cửa khẩu. Trước khi xuất nhập cảnh, tài xế được kiểm tra y tế, mặc đồ bảo hộ theo quy định. Thế nhưng, phía Trung Quốc vẫn gây khó dễ.
Báo Hải Quan cho hay trước tình hình trên, Sở Công Thương Hải Phòng cũng vừa có văn bản khuyến cáo các doanh nghiệp Việt Nam hoạt động xuất cảng, nhất là hàng nông sản, thủy sản sang Trung Quốc, nên chuyển sang vận chuyển bằng xe lửa container lạnh “liên vận quốc tế” chạy từ ga Đồng Đăng (Việt Nam) sang ga Bằng Tường (Trung Quốc).
Trước đó, hôm 10 Tháng Tư, báo Zing cho biết không chỉ có Bộ Ngoại Giao Trung Quốc, cơ quan hữu trách tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc) cũng đưa ra thông báo về việc áp dụng các biện pháp “tăng cường quản lý người và xe cộ qua các cửa khẩu biên giới đất liền với tỉnh Lạng Sơn.”
Cùng với việc ra công hàm trên, phía Trung Quốc cũng đang cho xây dựng một đoạn tường rào 100 cây số gần biên giới giáp tỉnh Lạng Sơn “nhằm từng bước đưa hàng hóa xuất nhập cảng vào quy củ.” (Tr.N) (Đ.D.)

Friday, September 21, 2018

Việt Nam chi hàng triệu đô mua rau, quả từ Thái, nông dân điêu đứng

Bòn bon, măng cụt Thái Lan được người tiêu dùng Việt Nam ưa chuộng. (Hình: Người Lao Động)
HÀ NỘI, Việt Nam (NV) – Thái Lan đã vượt qua Trung Quốc trong vài năm trở lại đây để thành nhà nhập cảng cung cấp trái cây hàng đầu tại Việt Nam. Trong khi đó, những loại tương tự trồng trong nước không được Bộ Nông Nghiệp đoái hoài.
Hôm 21 Tháng Chín, 2018, báo Người Lao Động dẫn thống kê sơ bộ của Tổng Cục Hải Quan Việt Nam cho biết, trong tám tháng đầu năm 2018, Việt Nam đã chi hơn $1.14 tỷ để nhập cảng mặt hàng rau quả từ các thị trường.
Trong tổng số hơn $1.14 tỷ trên, Thái Lan đang dẫn đầu với lượng nhập hơn $515 triệu.
Chỉ riêng trong Tháng Tám vừa qua, Việt Nam nhập cảng rau quả từ Thái Lan với trị giá $102 triệu, tức hơn 2,300 tỷ đồng. Như vậy, trung bình mỗi tháng, Việt Nam nhập cảng gần $64,4 triệu rau quả Thái Lan, tương đương trên 1,400 tỷ đồng.
Trong khi đó, lượng rau quả từ thị trường lớn như Trung Quốc đưa vào Việt Nam trong Tháng Tám, 2018, chỉ đạt $51.3 triệu; lũy kế tám tháng đạt $250.6 triệu. Ngoài ra, còn có các nước đã cung cấp lượng trái cây đáng kể như Mỹ $109.3 triệu trong tám tháng; Úc $70 triệu và New Zealand $31 triệu…
Báo Người Lao Động cho biết thêm, thực tế, trái cây Thái Lan đã “đổ bộ” mạnh vào Việt Nam từ vài năm trở lại đây. Giải thích điều này, Bộ Công Thương cho hay, do tác động của việc giảm thuế quan từ một số hiệp định thương mại tự do, nhất là Hiệp Định Thương Mại Hàng Hóa ASEAN (ATIGA) đã thúc đẩy lượng trái cây Thái Lan ồ ạt về thị trường Việt. Thêm nữa, các doanh nghiệp Việt Nam đang tăng cường nhập cảng trái cây từ Thái Lan để chế biến và tái xuất như sầu riêng, nhãn…
Trong khi ghi nhận tình hình nhập cảng trái cây Thái Lan tăng cao đột biến trong năm 2017, Bộ Nông Nghiệp từng nhận định có tới 90% sản phẩm rau quả Việt Nam nhập cảng từ Thái Lan như măng cụt, sầu riêng, nhãn, bòn bon… được tái xuất sang Trung Quốc. Thế nhưng không hề có kế hoạch hỗ trợ nông dân Việt Nam tham gia, mặc dù các loại trái cây trên ở Việt Nam không thiếu.
Bày tỏ với báo Người Lao Động, bạn đọc Đức Tiến bất bình, hoài nghi nói: “Nông sản Việt phải giải cứu, xuất cảng bị chê, nhưng nông sản Thái nhập bao nhiêu cũng hết và lại còn xuất hộ sang Trung Quốc nữa. Không biết Bộ Nông Nghiệp, Bộ Công Thương nghĩ gì? Có phải nông sản Việt Nam vẫn không an toàn nên người mua đã trở thành nhà thông thái chẳng?”
Bạn đọc Phạm Hùng viết: “Thật là xấu hổ trong khi đó ở Việt Nam, Bộ Nông Nghiệp thì lo đi tìm dự án, trong khi người nông dân phải tự bơi với sản phẩm nông nghiệp của chính mình, hôm nay đi kêu gọi ‘giải cứu’ nơi này, mai đi ‘giải cứu’ nơi khác.” (Tr.N)

Monday, April 3, 2017

Nông dân Miền Tây tiếp tục nghèo

Nông dân Miền Tây tiếp tục nghèo
Nông dân thu hoạch lúa vụ đông xuân ở Cần Thơ. (Ảnh: Sài Gòn Báo)
Một phúc trình của Bộ Nông nghiệp CSVN cho biết tại đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) – vựa lúa lớn nhất cả nước, nông dân đang sống nghèo đói.
Diện tích đất sản xuất của nông dân nếu là 1 ha/gia đình (thực tế theo điều tra thì diện tích đất trồng lúa của nông dân ĐBSCL hiện nay là 0,7 ha/nhà), làm trong hai vụ lúa đông xuân và hè thu sẽ thu hoạch 10 – 12 tấn. Nếu tính chi phí là 50%, nông dân lãi 50%, tương đương 5-6 tấn lúa. Thử lấy giá khoảng 6,000 đồng/kg  cũng chỉ ở mức 30 triệu đồng/ năm, sau đó chia cho trung bình mỗi gia đình là 5 người, tương đương 6 triệu đồng/người/năm, hay 500,000 đồng/người/tháng (20 USD).
Khoản thu nhập này được sử dụng để chi cho nhiều thứ như: ăn uống, học hành, trị bệnh, hiếu hỉ…, tính sơ sơ cũng lên đến tiền triệu. Đó là cách tính của 1ha/gia đình. Trong khi đó, một phúc trình của Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM), lại nói rằng có tới 85% gia đình trồng lúa có diện tích sản xuất dưới 0.5ha.
Theo giáo sư nông học Võ Tòng Xuân, hiệu trưởng Trường đại học Nam Cần Thơ, thì 42 năm qua nông dân Việt Nam đang vẫn còn nghèo khổ. Với việc Hà Nội buộc ĐBSCL phải làm mỗi năm hai vụ lúa, không có thời gian đủ để đất nghỉ ngơi, buộc người nông dân phải lạm dụng phân bón, qua đó càng khiến chất lượng đất canh tác giảm sút, khiến giá thành sản phẩm tăng cao.
Ông Xuân nói, chi phí cho lúa từ 3,800 – 4,000 đồng/kg, trong khi nếu canh tác như trước năm 1975, chi phí chỉ khoảng 1,800 – 2,000 đồng/kg.
Đáng chú ý là thuốc trừ sâu bệnh cho cây lúa hiện nay, có tới trên 53% là nhập về từ Trung Cộng. Phúc trình của Bộ Nông nghiệp CSVN cho biết trong năm 2016, kim ngạch nhập cảng thuốc trừ sâu từ Trung Cộng cũng chiếm 47.1% trong tổng số 736 triệu Mỹ kim.
Còn theo một phúc trình từ Tổng cục Hải Quan, thì mỗi ngày Việt Nam chi 20.5 tỷ đồng để nhập thuốc trừ sâu từ Trung Cộng. Các nhà nông học đang rất lo lắng trước thực trạng ngập tràn thuốc trừ sâu Trung Cộng được sử dụng cho đồng ruộng Việt Nam.
Vũ Minh Ngọc / SBTN

Monday, March 6, 2017

Ruộng vườn nhiễm mặn, nông dân bỏ trồng lúa để trồng… cỏ

Một ruộng lúa ở Giồng Trôm, Bến Tre giờ trở thành đồng cỏ. (Hình: Tuổi Trẻ)
BẾN TRE (NV) – Ðó là chuyện đang xảy ra tại Ba Tri, Bình Ðại, Giồng Chôm,… thuộc tỉnh Bến Tre, Tân Phú Ðông thuộc tỉnh Tiền Giang và có thể sẽ diễn ra tại nhiều nơi khác ở đồng bằng sông Cửu Long.
Giống như năm trước, nước biển tiếp tục xâm nhập vào sông, rạch ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long. Từ sau Tết âm lịch, ruộng vườn những khu vực gần biển giờ đã nhiễm mặn, không thể trồng lúa. Không thể bỏ hoang ruộng vườn, nông dân các huyện Ba Tri, Bình Ðại, Giồng Trôm,… ở Bến Tre đành bỏ lúa, trồng cỏ cho bò ăn.
Lão nông Nguyễn Văn Sâu, ngụ tại huyện Giồng Trôm, bảo với tờ Tuổi Trẻ rằng, năm ngoái, ông làm 17 công ruộng nhưng vì đất nhiễm mặn thành ra lúa chỉ đủ cho vịt ăn. Năm nay, ông lấy 6/17 công trồng cỏ để nuôi bò. Trong tương lai, ông sẽ lên liếp để trồng dừa.
Sở Nông Nghiệp-Phát Triển Nông Thôn Bến Tre, cho biết, bởi ruộng vườn nhiễm mặn, riêng tại hai huyện Ba Tri và Bình Ðại đã có 350 hecta ruộng bỏ trồng lúa để trồng cỏ. trồng dừa.
Tình trạng tương tự cũng đang diễn ra tại huyện Tân Phú Ðông thuộc tỉnh Tiền Giang. Trưởng phòng Nông Nghiệp-Phát Triển Nông Thôn của huyện Tân Phú Ðông, xác nhận, đa số nông dân ở huyện này đã ngưng trồng lúa để trồng sả.
Trưởng phòng Nông Nghiệp-Phát Triển Nông Thôn của huyện Hòn Ðất, tỉnh Kiên Giang, nơi mỗi năm làm ra hơn một triệu tấn lúa, tương đương 25% tổng sản lượng lúa của tỉnh Kiên Giang cũng bảo rằng, vì nước mặn xâm nhập sâu. nơi này đang tính đến chuyện giảm diện tích trồng lúa, cải tạo ruộng để trồng các loại rau trái.
Mùa mưa ở miền Nam Việt Nam thường kết thúc vào đầu Tháng Mười Một nhưng vừa qua, sau Tháng Mười Một, ở miền Nam Việt Nam vẫn có nhiều trận mưa lớn kéo dài cho đến cuối Tháng Hai. Ðáng nói là mưa lớn kéo dài nhưng miền Nam Việt Nam vẫn thiếu nước. Số liệu được các trạm quan trắc đặt dọc sông Mekong (từ Trung Quốc, Lào, đến Thái Lan, Cambodia) ghi nhận cho thấy mực nước sông Mekong thấp hơn mức trung bình từ 0.25 mét đến 1.5 mét.
Nói cách khác, do nguồn nước từ thượng nguồn sông Mekong đổ về ít hơn nhiều so với bình thường, mùa khô sắp tới, dân chúng miền Nam Việt Nam vẫn phải đối diện với tình trạng nước ngọt bị thiếu hụt trầm trọng và tất nhiên, nước mặn từ biển vẫn tiếp tục xâm lấn sâu vào đất liền.
Cần nhắc lại rằng, từ Tháng Hai đến Tháng Sáu năm ngoái, dân chúng khu vực đồng bằng sông Cửu Long từng phải đối diện với đợt hạn hán trầm trọng chưa từng có. Do mức nước ở sông rạch tụt xuống, nước biển đã xâm nhập sâu vào đất liền với mức độ gấp đôi bình thường.
Người ta ước đoán khoảng 160,000 hecta lúa tại đồng bằng sông Cửu Long bị hư hại, làm mất trắng khoảng 800 triệu tấn lúa và có ít nhất 1.5 triệu nông dân phải gánh chịu hậu quả. Cũng vì thiếu nước tưới và do tác động của nước mặn, có khoảng 500,000 hecta ruộng nữa không thể trồng lúa vì thiếu nước. Ðó là chưa kể rất nhiều loại cây khác bị hư hại do nước mặn. Nước quá mặn còn là nguyên nhân khiến nhiều loại thủy sản chết hàng loạt. (G.Ð)

Monday, February 20, 2017

Việt Nam lại… dạy nghề cho nông dân

Sự nhàn rỗi của nông dân Việt Nam. (Hình minh họa: Hoàng Đình Nam/AFP/Getty Images)
HÀ NỘI, Việt Nam (NV) – Bộ Nông Nghiệp – Phát Triển Nông Thôn Việt Nam vừa loan báo, trong ba năm từ 2017 đến 2020, sẽ chi khoảng 2,000 tỷ đồng để “đào tạo nghề cho lao động nông thôn.”
Theo ông Ma Quang Trung, cục trưởng Cục Kinh Tế Hợp Tác và Phát Triển Nông Thôn của Bộ Nông Nghiệp – Phát Triển Nông Thôn, sắp tới, “đào tạo nghề cho lao động nông thôn” sẽ “tập trung vào những ngành nghề hỗ trợ quá trình tái cơ cấu nông nghiệp và đào tạo nông dân, công nhân nông nghiệp phục vụ nông nghiệp công nghệ cao.”
Ông Trung không đề cập gì đến chương trình “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020” (thường được gọi tắt là “Dự án 1956”) trong 10 năm (từ 2010 – 2020), mỗi năm, dạy nghề cho 1 triệu lao động nông thôn. Người ta ước đoán, tổng số tiền mà chính quyền Việt Nam đã chi cho “Dự án 1956” là 26,000 tỷ đồng.
Hồi Tháng Ba, 2013, ông Trần Đức Lai, thứ trưởng Bộ Thông Tin – Truyền Thông, loan báo, tính đến hết năm 2012, chính quyền Việt Nam đã chi 4,500 tỷ đồng để dạy nghề cho khoảng 1.1 triệu nông dân theo “Dự án 1956.” Đến Tháng Năm cùng năm, sau khi khảo sát ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long, tờ Sài Gòn Giải phóng công bố một bài viết, có tựa là “Đào tạo nghề nông thôn ở ĐBSCL – Mục tiêu xa rời thực tế,” theo đó, khu vực này đã “đào tạo nghề” cho vài chục ngàn nông dân nhưng gần như chẳng có ai tìm được việc làm, bởi vì đó là những “nghề” mà xã hội không có nhu cầu.
Trả lời báo giới về “Dự án 1956,” ông Đào Trọng Thi, cựu chủ nhiệm Ủy Ban Văn Hóa, Giáo Dục, Thanh Niên, Thiếu Niên, và Nhi Đồng Quốc Hội Việt Nam, từng thú thật: “Nhiều nơi cử thanh niên nông thôn đi học nghề cốt chỉ để nhận tiền ăn rồi về, bởi vậy hiệu quả kém.”
Đã từng có nhiều cuộc khảo sát mà kết quả cho thấy, nam thanh niên ở khu vực nông thôn đã và đang bị đẩy vào tình trạng “sống mòn,” không nghề nghiệp, không gia đình, không tương lai vì vừa bị hạn chế về học vấn, vừa không có nghề, tương lai bấp bênh, nhiều nam thanh niên ở khu vực nông thôn không thể lập gia đình, nhàn rỗi, nhiều thanh niên giải khuây bằng nhậu nhẹt, cà phê, tệ hơn là cờ bạc, trộm cắp, một số dính vào ma túy…
Cách nay vài năm, trong báo cáo “Xu hướng việc làm toàn cầu cho thanh niên,” Tổ Chức Lao Động Thế Giới (ILO) cảnh báo, khoảng 50% số người thất nghiệp tại Việt Nam là thanh niên (giới có tuổi từ 15 đến 24) và Việt Nam đang lãng phí một nguồn nhân lực quan trọng để phát triển kinh tế và xã hội.
Lúc đó, ông Gyorgy Sziraczki, giám đốc chi nhánh ILO tại Việt Nam, cảnh báo, nếu thanh niên không được hưởng một sự khởi đầu tốt hơn và không được đối xử công bằng, Việt Nam đã bỏ lỡ một nguồn nhân lực đáng kể cho sự phát triển kinh tế xã hội của mình. ILO khuyến cáo, Việt Nam nên khai mở tiềm năng của các doanh nghiệp vừa và nhỏ để tăng cơ hội về việc làm với năng suất cao cho thanh niên. Chính quyền Việt Nam từng đặt ra một chương trình gọi là “xây dựng nông thôn mới” và nhận được khá nhiều viện trợ để thực hiện mục tiêu mà ILO cũng như nhiều tổ chức quốc tế khuyến cáo.
Tháng Mười Một năm ngoái, Quốc Hội Việt Nam có thảo luận sôi nổi về chương trình “xây dựng nông thôn mới.”
Trong năm năm, từ 2010 đến 2015, Việt Nam chi ra 850 tỷ đồng để thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới. Đến nay, tại Việt Nam có 2,016 xã (23% tổng số xã) đạt “tiêu chuẩn nông thôn mới.” Theo sau đó là 53/63 tỉnh, thành phố đang nợ 15,277 tỷ đồng do xây dựng nông thôn mới theo các tiêu chí đã được đề ra và hệ thống công quyền từ trung ương đến địa phương chưa biết xoay tiền từ đâu ra để trả.
Vào thời điểm vừa kể, một đại biểu của tỉnh Quảng Bình bảo rằng, nhiều tiêu chí đã được đề ra để xem xét, công nhận đạt “tiêu chuẩn nông thôn mới” không hợp lý nên lãng phí vì không hiệu quả, ví dụ như tiêu chí về chợ, về bưu điện trung tâm. Nhiều chợ xây theo “tiêu chuẩn nông thôn mới” đang bị bỏ hoang và vì đã hết tiền nên không thể xây dựng các cơ sở thiết yếu như trường học, trạm y tế.
Các đại biểu khác thì đề cập đến tình trạng, để đạt thành tích thực hiện thành công chương trình “xây dựng nông thôn mới,” chính quyền nhiều xã đã ép dân đóng góp quá mức, kể cả ép các gia đình nghèo, người già, trẻ con. Họ đề nghị phải xem kết quả chương trình “xây dựng nông thôn mới” có tương xứng với chi phí hay không, có gây ra hậu quả nghiêm trọng, lâu dài cho nông dân, đặc biệt là các gia đình nghèo hay không, có bao nhiêu gia đình bị ép buộc đóng góp quá mức nên phá sản.
Đáng nói là sau năm năm thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới, di họa của nó rất rõ ràng: Nông dân oán thán vì bị vắt kiệt. Nợ nần của hệ thống công quyền tăng vọt. Chính quyền nhiều địa phương phá sản, không còn tiền để chi cho các khoản thiết yếu, chẳng hạn như trả lương cho giáo viên. Nhiều doanh nghiệp phá sản vì cung cấp vật tư, nguyên liệu, nhận thầu các công trình trong chương trình xây dựng nông thôn mới, nhưng không được thanh toán,… nhưng cuối năm 2016, trước khi mãn nhiệm kỳ, 436/437 đại biểu Quốc Hội Việt Nam vẫn tán thành việc chi 193,000 tỷ đồng trong giai đoạn từ 2016 đến 2020 để tiếp tục thực hiện chương trình “xây dựng nông thôn mới.”
Giống như vậy, ông Trung không đả động gì đến trách nhiệm và hiệu quả của 26,000 tỷ đồng đã chi để “đào tạo nghề cho lao động nông thôn” mà chỉ quảng bá cho việc sắp chi thêm 2,000 tỷ đồng nữa cũng để “đào tạo nghề cho lao động nông thôn.” Không ai nói gì đến tương lai của hàng triệu thanh niên và vận mệnh của cả một dân tộc vẫn đang bị hủy hoại từ từ qua những chương trình như thế. (G.Đ.)

Friday, November 25, 2016

Nông dân nghèo lại thêm mạt vì ‘bò chính phủ’

Bà Mang Thị Min phải đưa “bò chính phủ” vào nhà để chăm như chăm con mọn, phải nấu cháo để bón cho bò. (Hình: Tuổi Trẻ)
VIỆT NAM – Cuối tuần vừa qua, 20 gia đình nghèo ở xã Phước Vinh, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận cùng xin trả lại “bò chính phủ.” Nếu nguyện vọng này không được chấp nhận, mỗi gia đình sẽ ôm thêm nợ.
20 gia đình vừa kể cùng thuộc các sắc tộc thiểu số, cùng “nghèo mạt rệp” nên được ưu tiên vay vốn “xóa đói, giảm nghèo.” Cách nay hai tháng, chính quyền xã Phước Vinh đã gọi họ lên trụ sở, yêu cầu ký văn tự nhận vay 24 triệu/gia đình trong vòng ba năm, không phải trả lãi, rồi dẫn họ đến trại bò Trọng Giảng ở trong vùng để dẫn bò về nuôi.
Hệ thống công quyền gọi những con bò được mua bằng tiền trích từ dự án “xóa đói, giảm nghèo” là “bò dự án.” Người nghèo thì gọi loại bò này là “bò chính phủ.”
Trong hai tháng vừa qua, 20 con “bò chính phủ” chỉ chịu ăn cỏ vài ngày đầu rồi… tuyệt thực. Nếu “bò chính phủ” mà lăn ra chết thì vỡ nợ nên nhiều gia đình đưa bò vào nhà chăm sóc, nấu cháo bón cho bò ăn nhưng sức khỏe của những con “bò chính phủ” càng ngày càng suy kiệt.
Do 20 gia đình nghèo này kêu cứu, chính quyền xã Phước Vinh đã cử nhân viên thú y đến hỗ trợ. Những nhân viên thú y tiết lộ, “bò chính phủ” mà 20 gia đình nghèo vay vốn để mua bị “lở mồm, long móng,” chứng bệnh khiến các loại gia súc có móng guốc (như heo, bò,…) bị lở miệng, loét móng, kiệt sức rồi chết. “Lở mồm, long móng” được tổ chức Y Tế Thế Giới (WHO) xếp vào loại bệnh nguy hiểm hàng đầu đối với động vật vì lây lan rất nhanh và có thể nhiễm sang người. Bởi những đặc điểm vừa kể, khi phát giác gia súc bị “lở mồm, long móng,” các nhân viên thú y sẽ khuyên tiêu hủy gia súc bị nhiễm virus.
Dẫu hợp đồng vay tiền mua bán bò ghi rõ, chủ trại bò Trọng Giảng chịu trách nhiệm về con bò ông ta bán trong vòng 12 tháng, nếu bò không sinh sản hoặc mắc bệnh thì ông ta sẽ nhận lại bò, hoàn lại tiền, song theo bà Mang Thị Min – một trong 20 nạn nhân của “bò chính phủ” thì nay, chủ trại bò từ chối thực hiện cam kết, vì bò không mắc bệnh mà bị “lở mồm, long móng!”
Đây không phải là lần đầu tiên chính quyền xã Phước Vinh, huyện Ninh Thuận dùng “bò chính phủ” đẩy những gia đình thiểu số nghèo đến mạt lộ.
Cách nay đúng một năm, hồi Tháng Mười Một năm ngoái, 60 gia đình thiểu số nghèo ở xã này đã từng kêu cứu vì phải ký giấy vay 20 triệu đồng/gia đình từ dự án “xóa đói, giảm nghèo” nhưng chỉ được cầm 15 triều đồng và bị buộc phải dùng 15 triệu đồng đó mua “bò chính phủ” cũng tại trại bò Trọng Giảng. Đáng nói là toàn bộ hoạt động này diễn ra dưới… sự giám sát của chính quyền huyện Ninh Phước!
Sau khi nhận “bò chính phủ,” 60 gia đình thiểu số nghèo được nhận “ơn mưa móc của chính phủ” phát giác, họ đã phải vay tiền mua những con bò vừa già, vừa yếu, đã đẻ nhiều lứa với giá quá đắt. Cả 60 gia đình cùng yêu cầu trả lại “bò chính phủ,” hủy hợp đồng vay từ dự án “xóa đói, giảm nghèo.” Chính quyền xã Phước Vinh dứt khoát không chấp nhận. Dưới sức ép của công luận, chủ tịch huyện Ninh Phước chỉ hứa sẽ “kiểm tra lại” và sẽ yêu cầu chính quyền xã Phước Vinh không được ép dân mua bò theo chỉ đạo của họ nữa. (G.Đ)

Thursday, November 3, 2016

Giá 1 tạ mì = 1 tô phở

Theo NLDO-03/11/2016 22:59

Người dân trồng mì các tỉnh Tây Nguyên đang điêu đứng vì cả sản lượng và giá của cây trồng xóa đói giảm nghèo này thấp kỷ lục từ trước đến nay

Những ngày qua, nhiều người trồng mì ở các tỉnh Gia Lai, Kon Tum, Đắk Lắk đứng ngồi không yên vì giá mì quá thấp, thương lái lại chẳng chịu mua.
Phá bỏ cây xóa đói giảm nghèo
Hiện mì tươi tại rẫy được thương lái mua chỉ có giá 300 - 350 đồng/kg, thấp hơn nhiều so với 1.800 đồng/kg ở năm 2015. Trong khi giá 1 tô phở trung bình ở Gia Lai đã là 35.000 - 40.000 đồng. “Bỏ công sức trồng, chăm sóc, đến khi bán thì 1 tạ mì chỉ đủ ăn một tô phở thôi” - ông Lê Văn Thành (ngụ thôn Mê Linh, xã Chư Drăng, huyện Krông Pa, tỉnh Gia Lai) than thở.
Gieo trồng vất vả nhưng nông dân đành phải cay đắng bán mì với giá thấp kỷ lục
Gieo trồng vất vả nhưng nông dân đành phải cay đắng bán mì với giá thấp kỷ lục
Theo ông Thành, từ nhiều năm qua, cây mì là loại cây chủ lực giúp người dân huyện Krông Pa xóa đói giảm nghèo. Tuy nhiên, trong năm vừa qua, hạn hán kéo dài đã ảnh hưởng đến năng suất cây mì và các loại cây trồng khác. So với mọi năm, sản lượng cây mì của gia đình ông giảm gần một nửa. “Trung bình các năm trước được khoảng 30 tấn/ha nhưng năm nay chỉ chừng 17-18 tấn. Sản lượng đã thấp lại còn mất giá nên nông dân chúng tôi rất lo lắng, không biết lấy gì để đầu tư cho vụ mùa sau” - ông Thành lo lắng.
Theo tính toán, 1 ha mì phải đầu tư khoảng 15 triệu đồng, chưa kể tiền thuê đất (từ 5-7 triệu đồng/ha). Với giá cả như hiện nay, nông dân chỉ thu được 5-6 triệu đồng/ha, xem như lỗ nặng.
Do giá mì quá thấp, gia đình ông Nguyễn Văn Vũ (xã Chư Drăng) cũng đã phá bỏ 1 ha trồng mì để trồng cỏ nuôi bò. Ông Vũ buồn bã: “Một tạ mì bán chỉ được chừng 30.000 đồng, phá đi để trồng cỏ nuôi bò còn hiệu quả hơn”.
Thêm bài học chuyển đổi cây trồng
Dù mì rớt giá thê thảm nhưng muốn bán được cũng không hề dễ. Lý do vì giá bán tại nhà máy không cao, không có lời nên thương lái dừng thu mua. Ông Đỗ Đắc Trứ (thôn Quỳnh Phú, xã Ia Rsươm, huyện Krông Pa) cho biết do thương lái không mua, ông phải mang ra nhà máy bán. Tốn thêm chi phí vận chuyển nhưng nhà máy thu mua cũng chỉ trên dưới 300 đồng/kg.
Nhà máy tinh bột sắn Gia Lai thuộc Công ty CP FOCOCEV Việt Nam (thị trấn Phú Túc, huyện Krông Pa) là đơn vị thu mua mì của nông dân. Đại diện FOCOCEV Việt Nam cho rằng giá mì thấp là do giá tinh bột mì trên thị trường trong nước và quốc tế biến động. Hiện nhà máy cũng chỉ sản xuất cầm chừng. “Năm 2015, giá bán bình quân là 350-360 USD/tấn tinh bột, năm nay thị trường giảm mạnh chỉ còn 270-280 USD/tấn nên kéo theo giá thu mua giảm” - vị đại diện FOCOCEV Việt Nam giải thích.
Ông Đinh Xuân Duyên, Trưởng Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Krông Pa, cho biết theo quy hoạch thì niên vụ mì năm 2015-2016, diện tích trồng cây mì đã tăng gần gấp đôi, đạt 15.000 ha.
Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng giá mì giảm là do nông dân trồng không theo kế hoạch, mạnh ai nấy làm, sản xuất ồ ạt nên cung vượt cầu. Bên cạnh đó, lượng mì ở nước ta chủ yếu xuất sang Trung Quốc. Khi nguồn hàng đã dư thì tất nhiên giá sẽ giảm. “Giá cả thấp ảnh hưởng lớn đến thu nhập, đời sống của người dân. Hiện tại, phòng chỉ hướng dẫn, khuyến cáo người dân chuyển đổi sang cây trồng khác để vừa cải tạo đất vừa tăng thêm thu nhập” - ông Duyên nói.
Như vậy, nông dân sẽ lại phải chặt bỏ cây mì để trồng cây khác. Bài học về chuyển đổi cây trồng lại phải tiếp tục rút kinh nghiệm và nông dân vẫn cứ loay hoay xóa đói giảm nghèo.
Bài và ảnh: Hoàng Thanh

Tuesday, June 28, 2016

Nông dân Việt Nam đang “chết mòn” vì thuốc trừ sâu của Trung Cộng

Thống kê của Tổng cục Hải quan cho biết trong 6 tháng đầu năm 2016, Việt Nam chi tới 346 triệu USD (hơn 7,600 tỷ đồng Việt Nam) để nhập cảng nguyên liệu và thuốc bảo vệ thực vật (người dân gọi chung là thuốc trừ sâu); trong đó riêng nhập từ Trung Cộng chiếm gần 50%.

Nông dân phải tiếp xúc với nhiều hoá chất trừ sâu (ảnh CGFED cung cấp)
Ông Nguyễn Xuân Hồng, cựu Cục trưởng Cục Bảo vệ thực vật, cho báo chí biết thêm rằng trong 5 năm gần đây, mỗi năm Việt Nam chi khoảng nửa tỷ USD để nhập khẩu thuốc bảo vệ thực vật, trong đó thuốc trừ cỏ chiếm 50%, thuốc trừ sâu khoảng 25%, thuốc trừ bệnh khoảng 20%, còn lại là các thuốc điều hòa kích thích sinh trưởng như thuốc trừ chuột, trừ ốc, mối…
Thông tin của ông Hồng có khác với con số thống kê của hải quan CSVN, là gần đây các doanh nghiệp Việt Nam nhập nguyên liệu thuốc bảo vệ thực vật từ Trung Cộng chiếm đến 85 tới 90%, bởi Trung Cộng là công xưởng sản xuất thuốc bảo vệ thực vật của thế giới (chiếm 40%).
Đáng lo là hiện nay tình trạng nhập lậu vận chuyển buôn bán và sử dụng thuốc bảo vệ thực vật nhập lậu từ nước ngoài vào Việt Nam ngày càng gia tăng, gây ô nhiễm môi trường, mất an toàn vệ sinh thực phẩm, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe người dân.
Kết quả của một nghiên cứu do Trung tâm Nghiên cứu giới, gia đình, môi trường trong phát triển (CGFED) thực hiện tại tỉnh Nam Định cho biết mỗi năm ở xã Hải Vân, huyện Hải Hậu sử dụng gần 1,200kg thuốc trừ sâu, 80% do phụ nữ phun, thậm chí có cả những phụ nữ chuyên đi phun thuốc sâu thuê. 66.7% chị em bị chóng mặt, 74.2% bị đau đầu, 84.6% bị mờ mắt, 87.5% bị vã mồ hôi, 79% bị choáng, 63.6% buồn nôn, hơn 87% mất ngủ, hơn 66% khó thở... Cho dù độc hại nhưng chỉ có hơn 70% chị em có bảo hộ như khẩu trang, găng, ủng…
Một nghiên cứu khác tại vùng trồng trà xã Bắc Sơn (Phổ Yên, Thái Nguyên) của CGFED cho thấy: Người dân ít sử dụng bảo hộ lao động, chủ yếu là dùng khẩu trang. Người phun thường mặc áo mưa (80%), đeo khẩu trang (80%), đi ủng (50%), đeo kính (rất ít). Đặc biệt, liều lượng pha thuốc sâu thường cao hơn 30 - 50% so với hướng dẫn trên bao bì, vì người dân cho rằng “phải liều lượng cao thì sâu mới chết”...
Các nghiên cứu của CGFED cũng cho thấy, hơn 90% người dân biết về sự độc hại của thuốc bảo vệ thực vật. Đa số phụ nữ đều cho rằng, một trong những nguyên nhân mình bị ốm yếu, mệt mỏi là do thuốc bảo vệ thực vật độc hại. Tuy nhiên, do không có các biện pháp thay thế, không được hướng dẫn cụ thể, càng không thể nhờ ai làm giúp nên họ vẫn phải đánh liều với sức khỏe của mình.
Trong một diễn biến khác, ngày 28-6, Tổng cục Thống kê đã tổ chức họp báo công bố tình hình kinh tế 6 tháng đầu năm 2016. Phúc trình cho biết ngành nông - lâm - thuỷ sản tiếp tục tăng trưởng âm khi giảm tới 0.18%, tương ứng 397,400 tỷ đồng. Nguyên nhân được cho là do sản lượng lúa đông xuân năm nay chỉ đạt 19.4 triệu tấn, giảm mạnh so với cùng kỳ khiến nông nghiệp giảm 0.78%. Dù lâm nghiệp tăng 5.75%, thuỷ sản tăng 1.25% nhưng do nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn nên không thể cứu vãn sự suy thoái của ngành. Như vậy, sau 10 năm kể từ năm 2005, lần đầu tiên ngành nông nghiệp Việt Nam tăng trưởng âm.
06/28/2016 - 09:07
Vũ Minh Ngọc / SBTN

Friday, April 8, 2016

Dân khóc ròng với lúa giống ‘đen bông, lép hạt’

QUẢNG NAM (NV) Nhiều nông dân ở Quảng Nam chết điếng khi hai giống lúa được nhà nước hỗ trợ theo “Chương trình khắc phục thiên tai” đến kỳ thu hoạch thì khô úa, lép hạt.

Thất thểu bước xuống thửa ruộng khô khốc của mình ở xã Tiên Cẩm, huyện Tiên Phước, bà Phan Thị Bích Sen (51 tuổi), trú thôn Cẩm Trung, cho biết, vụ Hè Thu năm ngoái cả xã bị thiên tai mất mùa nên nhà nước hỗ trợ lúa giống OM.


Bà Phan Thị Bích Sen bên ruộng lúa cháy lá, lép hạt. (Hình: Tuổi Trẻ)

“Gần ba sào đất nhưng bây giờ lép hạt hết rồi. Mấy tháng trời bỏ ra biết bao nhiêu công sức, tiền phân bón, thuốc trừ sâu mà giờ chỉ còn nước gặt lấy rơm cho bò ăn thôi, chứ gạo đâu mà nấu!” bà Sen nói như khóc.
Không riêng bà Sen, nhiều thửa ruộng trồng bằng giống OM được nhà nước hỗ trợ của nông dân xã Tiên Cẩm đều bị lép hạt. Dẫn chúng tôi đi thực tế, ông Ðoàn Minh Tâm, cán bộ nông nghiệp xã Tiên Cẩm, cho hay, vụ Ðông Xuân năm nay toàn xã có 125 hecta (ha) thì có đến 20 ha trồng hai giống lúa OM bị hư hại nặng.
“Ðây là điều từ trước đến nay chưa gặp phải. Ước tính thiệt hại diện tích lúa OM của xã Tiên Cẩm lên tới 70% năng suất,” ông Tâm nói.

Nói với phóng viên Tuổi Trẻ, ngày 6 tháng 4, ông Lê Muộn, phó giám đốc Sở Nông Nghiệp tỉnh Quảng Nam, xác nhận, tình trạng giống lúa OM bị đen bông, lép hạt xảy ra trên toàn tỉnh Quảng Nam, “Với 400 tấn lúa giống OM được trung ương hỗ trợ, theo ước tính, vụ Ðông Xuân này toàn tỉnh Quảng Nam có khoảng 5,700 ha lúa bị đen bông, lép hạt.”

Tuy nhiên, để né tránh trách nhiệm, trước nghi vấn của người dân rằng, lúa giống có vấn đề nên lép hạt, ông Muộn bác bỏ và giải thích nguyên nhân cơ bản là do thời tiết năm nay bất lợi.

“Lúa lép hạt là do giống lúa mẫn cảm với thời tiết nên phải loại trừ ngay thông tin có vẻ như giống lúa nhà nước cho xấu nên nó hư. Lãnh đạo Sở Nông Nghiệp Quảng Nam vẫn tiếp tục cơ cấu hai giống OM trong những mùa vụ sau bởi đây là nhóm giống “có triển vọng,” ông Muộn nói. (Tr.N)

04-07-2016- 2:24:54 PM 

Saturday, March 12, 2016

Nghệ An: Nông dân bỏ ruộng tràn lan

 Việt Hương -12 tháng 03 năm 2016 06:06 
TP - Bám ruộng chẳng đủ ăn, nhiều nhà nông bỏ ruộng, trả ruộng. Trong hai vụ Hè và Xuân vừa qua, tại Nghệ An có tới gần 1.500ha đất nông nghiệp bị bỏ hoang (các huyện Nam Đàn, Hưng Nguyên, Nghi Lộc, Diễn Châu…). Toàn tỉnh có khoảng 15.000 lao động ly hương tìm việc làm trong và ngoài nước.
Ruộng bỏ hoang vụ Xuân tại Nghi Lộc, Nghệ An. Ảnh: Việt Hương.
Ruộng bỏ hoang vụ Xuân tại Nghi Lộc, Nghệ An. Ảnh: Việt Hương.
Muôn nẻo rời quê
Huyện Yên Thành, nơi từng được xem là “vựa lúa” của tỉnh Nghệ An, trong những năm qua cũng có nhiều biến động trong nhân lực lao động. Nếu như trước đây, bà con gắn bó với “bờ xôi ruộng mật”, thì nay lực lượng lao động trẻ lại có hướng “chuyển dịch” mới. Thống kê tại huyện Yên Thành cho thấy, hằng năm có trên 10.000 người đi xuất khẩu lao động tại 23 quốc gia. Đây được xem là hướng đi đang thu hút nhiều lao động trẻ của địa phương. Thay vào đó, “bờ xôi ruộng mật” được bà con nhà nông mang… trả lại cho xã quản lý.
Sau mấy ngày sum vầy dịp tết cổ truyền, nhiều ngôi làng chỉ lưa thưa còn lại hình bóng của những ông bà già và trẻ nhỏ, ít xuất hiện thanh niên. “Con cháu chúng tôi chấp nhận đi làm thuê ở thành phố từ giúp việc, công nhân cho đến buôn bán đồng nát, hàng ăn vỉa hè… miễn là có tiền mặt gửi về nuôi con ăn học chứ bám ruộng đồng lúa chẳng đủ ăn, nói chi các khoản chi tiêu khác trong nhà”, ông Hoàng Nguyên Hợi, 65 tuổi trú xóm Hồng Yên (Diễn Ngọc - Diễn Châu) tâm sự. Còn ông Nguyễn Văn Hòa, Chủ tịch UBND xã Diễn Ngọc (Diễn Châu - Nghệ An) cho biết: “Gần 2/3 số dân độ tuổi lao động trong xã tìm cách đi xuất khẩu lao động (XKLĐ) nước ngoài và các thành phố lớn trong nước. Nông dân càng ngày càng chán với nghề nông, bỏ hoang ruộng lúa, chấp nhận đi làm thuê”.
Tại xã Thanh Hưng (Thanh Chương - Nghệ An), hiện có hơn 5.000 nhân khẩu, trong đó số người trong độ tuổi lao động khoảng 2.200 người. Tuy nhiên, theo thống kê, hiện toàn xã có khoảng 950 lao động đi làm thuê ở nơi khác, 55 người đi XKLĐ ở nước ngoài và hằng năm, số lao động trên làm ra hàng chục tỷ đồng (gấp 3 lần khi ở nhà làm ruộng). “Cách đây 3 năm, nhà tôi còn làm tới 7 sào ruộng lúa cả hai vụ hè và xuân  thì dư ra nguồn lương thực để ăn cả năm. Tuy nhiên, trong thời buổi hiện nay không thể chỉ ăn gạo không mà sống được. Lúa mang đi bán cũng rẻ rúng lắm nên chúng nó chọn cách sang Lào buôn bán đồng nát và mang về hàng chục triệu đồng/năm, đảm bảo cho con cái học hành thì phải trả lại ruộng thôi”, một nông dân nói.

Nguồn thu từ ruộng không đủ sống nông dân miền Trung thi nhau bỏ ruộng. Ảnh: Việt Hương.
Những cánh đồng bỏ hoang
Về các xã Hưng Lợi, Hưng Thắng, Hưng Lĩnh (Hưng Nguyên, Nghệ An), thời gian này gần như nông dân bỏ hẳn vụ Hè, vụ Xuân chỉ làm rải rác. Những cánh đồng “thẳng cánh cò bay” trở thành nơi chăn thả trâu bò trên ruộng. “Vụ Hè thu họ đã bỏ hoang rồi, nay vụ Xuân cũng ít người mặn mà lắm, vì nguồn thu chẳng đủ chi. Làm ruộng thuê tất tần tật hết nhiều tiền mà sản lượng làm ra, bán đi cũng chẳng đủ để bù vào nên dân chọn cách kiếm tiền từ các công việc khác. Kiếm tiền  kiểu “tiền trao cháo múc” vẫn tốt hơn”, chị Trần Thị Mến, xã Hưng Lợi chia sẻ.
“Với cái thời buổi công nghiệp hóa hiện đại hóa như hiện nay thì nhà nông bỏ ruộng có khi lại là một điều tốt. Đã bần nông mà quanh năm chỉ ôm khư khư một mẫu ruộng thì chỉ có nước thiếu ăn. Làm nông phải định hướng và lựa chọn đúng con đường biến những mẫu ruộng khô cằn thành cái đích làm giàu mà không nhất thiết phải cấy lúa”. 
Ông Vi Lưu Bình, PGĐ sở NN&PTNT Nghệ An
Thông thường, cứ vào dịp sau tết một tuần, người dân lại nô nức xuống đồng để chuẩn bị cho vụ hè thu. Thế nhưng gần đây, tình trạng nông dân bỏ ruộng lại tiếp tục tiếp diễn. Thay vì xuống đồng, một bộ phận lao động ở tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh đang chuẩn bị đi các tỉnh khác làm ăn trong khi đồng ruộng bị bỏ không. Đáng chú ý, theo nhận định của đại diện nhiều địa phương, tình trạng nông dân bỏ ruộng sẽ tiếp tục xảy ra trên quy mô lớn hơn. Nguyên nhân thì đã rõ nhưng các ngành chức năng vẫn chưa tìm được giải pháp tối ưu để người dân yên tâm bám ruộng.


Theo thống kê của ngành nông nghiệp, mỗi địa phương trong cả nước trung bình có khoảng 100 ha ruộng lúa bị bỏ hoang. Vụ hè thu vừa qua, Nghệ An là địa phương diễn ra tình trạng nông dân bỏ ruộng, trả lại ruộng nhiều với gần 2.000 ha, trong đó đứng đầu là Nam Đàn hơn 700 ha, tiếp đó là Hưng Nguyên trên 400ha, còn lại là các huyện Diễn Châu, Quỳnh Lưu, Tân Kỳ, Đô Lương… Ở Nam Đàn, hàng chục hecta ruộng lúa đã bị người dân đăng ký trả không tiếp tục cày cấy. Nguyên nhân nông dân bỏ ruộng đã được các ngành chức năng làm rõ, đó là giá lúa, rau màu thấp trong khi đầu vào như vật tư phân bón, dịch vụ bảo vệ thực vật, công chăm sóc ngày càng tăng cao… Thu nhập thấp lại phải đóng phí theo đầu sào đã ảnh hưởng lớn đến tâm lý nông dân.
Tại Diễn Tháp (Diễn Châu - Nghệ An), hầu hết dân không còn làm ruộng, thay vào đó là “xuất ngoại” sang nước bạn Lào để buôn bán đồng nát, thương mại xây dựng. Nông dân đang có xu hướng ngày càng ít mặn mà với đồng ruộng, thay vào đó là muôn nẻo chọn cách kiếm sống từ các việc làm thuê trong và ngoài nước. Có người cũng phải đổ máu và nước mắt mới đổi được đồng tiền về nuôi con ăn học; kẻ thì bỏ mạng ở nước ngoài… hệ lụy khôn lường.
Ông Đậu Xuân Mạnh, Phó chủ tịch UBND xã Diễn Tháp (Diễn Châu - Nghệ An) cho biết: Toàn xã có tới 95% dân chuyển đổi nghề nông sang nghề thương mại. Vụ xuân này nhà nông còn gắng gượng ra đồng chứ vụ hè thu hầu như bỏ ruộng sang Lào kiếm sống. Hàng chục năm nay, dân Diễn Tháp đã không còn mặn mà với nghề nông nữa, ruộng đồng bỏ hoang, làng vắng người…