Showing posts with label ChinhTri-XaHoi. Show all posts
Showing posts with label ChinhTri-XaHoi. Show all posts

Thursday, December 28, 2017

Hội Anh Em Dân Chủ Việt Nam: Cộng sản đã kết thúc “điều tra”

“…Mỗi kỳ thăm nuôi chỉ được gởi thực phẩm và quần áo. Nhưng thuốc men thì họ tuyên bố không cho gởi vì họ bảo trong trại giam B14 họ đã có thuốc. Và mỗi lần đi thăm nuôi là một lần khó khăn cho các người vợ đi thăm chồng bị tù oan khiên…”
nguyenkimthanh01
Theo tin từ cô Minh Khánh vợ Luật sư Nguyễn Văn Đài và bà Nguyễn Kim Thanh vợ của ký giả Trương Minh Đức cho hay là vụ án liên quan đến Hội Anh Em Dân Chủ đã ở giai đoạn "kết thúc điều tra". Bà Nguyễn Kim Thanh vợ ông Trương Minh Đức đã viết trên Facebook rằng vụ án chồng bà cùng Luật sư Nguyễn Văn Đài, Nguyễn Bắc Truyển, Phạm Văn Trội, mục sư Nguyễn Trung Tôn đã được an ninh điều tra của cộng sản đã kết thúc điều tra và chuyển hồ sơ qua Viện Kiểm sát chuẩn bị truy tố.
Điều này có nghĩa là từ nay các Luật sư của các nhà dân chủ bị bắt giam sẽ được tham gia vào vụ án. Và từ này gia đình của các nạn nhân sẽ được gặp mặt họ chứ không như trước đây chỉ được gởi đồ khi đi thăm nuôi chứ không được gặp mặt. Và các Luật sư sẽ gặp các thân chủ trong trại giam để xác định hướng bào chữa trước tòa.
nguyenkimthanh03
An ninh điều tra đã kết thúc điều tra vụ án liên quan đến các thành viên Hội AEDC vào ngày 12/12/2017. Tin này được an ninh báo cho cô Minh Khánh hôm qua và hôm nay cô Minh Khánh cũng đã nhận được thư từ Luật Sư Nguyễn Văn Đài trong trại giam B14 viết gởi cho cô Minh Khánh. Luật sư Nguyễn Văn Đài cũng nhắn nhủ vợ mình là hãy thông báo tin này đến các thành viên Hội AEDC cũng như gia đình các nạn nhân và các cơ quan truyền thông độc lập hay tin này.
Cũng trong bức thư cá nhân viết từ trại giam B14 gởi cho vợ mình thì Luật sư Nguyễn Văn Đài cho hay là phía an ninh điều tra đã ép buộc các anh là chỉ nhận các LUẬT SƯ CHỈ ĐỊNH do họ đề xuất chứ không được mời các Luật sư khác tham gia bào chữa cho họ. Hiện nay thì gia đình của các anh rất bất bình trước tin chỉ được nhờ các LUẬT SƯ CHỈ ĐỊNH dù họ đã ký hợp đồng với các Luật sư ngay khi người thân họ bị bắt giữ.
Như vậy cho đến nay là 2 năm sau khi bắt Luật sư Nguyễn Văn Đài vào tháng 12/2015 và sau 05 tháng bắt bổ sung các anh em của Hội AEDC vào ngày 30/7/2017 thì an ninh điều tra mới kết thúc giai đoạn điều tra chuyển hồ sơ qua Viện kiểm sát. Trong quá trình tố tụng các vụ án chính trị thường thì an ninh luôn câu giờ và kéo dài các thủ tục nhưng ra tòa thì họ xét xử rất nhanh chóng chỉ để đọc các bản án đã viết sẵn mà thôi.
Theo bà Nguyễn Kim Thanh vợ của ký giả Trương Minh Đức bị bắt ngày 30/7/2017 tại Sài Gòn sau đó bị đưa ra trại giam B14 Hà Nội thì ngay lúc an ninh đọc lệnh bắt ông Trương Minh Đức tại nhà thì ông Đức có nói với bà là hãy kiếm cho ông 1 luật sư.. Nhưng bà Nguyễn Kim Thanh ngay sau đó đã ký hợp đồng với 03 luật sư là Luật sư Võ An Đôn, Luậ sư Nguyễn Văn Miếng và Luật sư Hà Huy Sơn. Nhưng đến nay thì Luật sư Võ An Đôn bị thu hồi thẻ hành nghề của Đoàn luật sư tỉnh Phú Yên nên hiện nay chỉ còn có 02 luật sư bào chữa cho ông Trương Minh Đức. Bà Nguyễn Kim Thanh đã liên lạc với Luật sư Hà Huy Sơn và ông cho hay vào ngày 29/12/2017 ông sẽ đến trại giam B14 làm thủ tục bào chữa cho ký giả Trương Minh Đức.
Trước đây các Luật sư vào làm thủ tục bào chữa thì phía cơ quan điều tra ngăn cản một cách bất hợp pháp và họ tuyên bố khi nào kết thúc giai đoạn điều tra họ sẽ thông báo cho các Luật sư đến làm thủ tục. Nhưng đến nay hơn 15 ngày sau khi kết thúc điều tra thì phía cơ quan điều tra cũng giấu kín im luôn không thông báo cho các Luật sư hay và còn đề nghị nhận các LUẬT SƯ CHỈ ĐỊNH do họ đề xuất.
Cho đến nay tròn 05 tháng sau khi bị bắt giam thì người nhà của ký giả Trương Minh Đức, mục sư Nguyễn Trung Tôn, Luật gia Nguyễn Bắc Truyển, kỹ sư Phạm Văn Trội chưa gặp mặt. Mỗi kỳ thăm nuôi chỉ được gởi thực phẩm và quần áo. Nhưng thuốc men thì họ tuyên bố không cho gởi vì họ bảo trong trại giam B14 họ đã có thuốc. Và mỗi lần đi thăm nuôi là một lần khó khăn cho các người vợ đi thăm chồng bị tù oan khiên..
Dư luận và truyền thông độc lập đang theo dõi mọi diễn biến của vụ án liên quan đến các thành viên Hội Anh Em Dân Chủ.
Việt Tiến (Thông Luận)

Friday, February 3, 2017

Xúi dân phá bỏ lúa, đưa người Trung Quốc đến làm việc

TTO - Người dân xã Tân Hội Trung (huyện Cao Lãnh, Đồng Tháp) phản ảnh tại địa phương có một doanh nghiệp đang triển khai dự án trồng sen nhưng có nhiều biểu hiện rất bất thường...
Xúi dân phá bỏ lúa, đưa người Trung Quốc đến làm việc
Lúa sắp thu hoạch nhưng người dân phá bỏ để cho doanh nghiệp thuê đất - Ảnh: THÀNH NHƠN
Người dân cho biết đại diện doanh nghiệp này “xúi” người dân phá bỏ lúa dù gần đến ngày thu hoạch, đưa người Trung Quốc đến làm việc, đặc biệt là đưa sinh vật ngoại lai, nguy hại vào nuôi trồng.
Đòi dân phá bỏ lúa sắp thu hoạch để thuê đất
Xúi dân phá bỏ lúa, đưa người Trung Quốc đến làm việc
Giám đốc Trần Văn Hòa - Ảnh: N.TÀI
Chuyện bắt đầu lùm xùm nhiều tháng qua, khi xã Tân Hội Trung bỗng xôn xao có một doanh nghiệp từ phía Bắc đến hỏi thuê đất trồng sen.
Lúc đó là tháng 4-2016, những cánh đồng lúa đang sắp vào ngày thu hoạch thì một số gia đình đột nhiên phá bỏ ruộng lúa. Hỏi ra mới biết doanh nghiệp thuê đất muốn lập tức phá bỏ lúa, chấp nhận thuê đất giá cao và bồi thường thiệt hại cho việc phá lúa.
“Doanh nghiệp chịu bồi thường 10 tấn/ha, với giá bán thị trường thời điểm này là 6.000 đồng/kg. Doanh nghiệp nói cần gấp để lấy đất trồng sen” - một người dân giải thích.
Một người dân khác cũng nói: “Họ thuê lại đất của nông dân trong thời hạn 3 năm, giá khoảng 3,5 triệu đồng/công/năm”.
Theo ông Võ Trung Kiên - phó Phòng NN&PTNT huyện Cao Lãnh, có một doanh nghiệp Hà Nội đến huyện khảo sát tìm quỹ đất rộng khoảng 20ha để trồng sen lấy ngó xuất khẩu. Bước đầu doanh nghiệp cần 2ha để ươm giống, sau sẽ mở rộng lên 20ha để trồng đại trà.
“Bên phòng có trao đổi với doanh nghiệp, đề nghị chờ thu hoạch lúa rồi hãy thuê đất. Doanh nghiệp nói cần đất sớm, nếu không có đất thì họ đi địa phương khác. Chúng tôi đang khuyến khích chuyển đổi cơ cấu cây trồng nên để họ tự thỏa thuận với nông dân” - ông Kiên nói.
Khi được hỏi về danh tính doanh nghiệp thuê đất, ông Kiên chỉ trả lời: “Đó là một công ty ở Hà Nội”. Qua tìm hiểu được biết doanh nghiệp đứng ra thuê đất ở xã Tân Hội Trung là Công ty sen Hoàng Giang, do ông Trần Văn Hòa làm giám đốc.
Thả sinh vật lạ
Ngoài chuyện yêu cầu nông dân phá lúa để thuê đất, điều đáng nói nhất là tháng 11-2016, người dân phát hiện trong ruộng của doanh nghiệp nói trên có thả một số sinh vật lạ.
Ông Nguyễn Văn Hồng - một người dân ở ấp 6 - cho biết ông là người đầu tiên phát hiện sinh vật lạ.
“Lần đó tui đi khai nước vào buổi tối, tui thấy nó bò trên bờ ranh. Tui hoảng hồn vì chưa từng thấy con nào như vậy” - ông Hồng kể.
Theo miêu tả của người dân, sinh vật này hình dáng giống tôm lai với cua, nhìn thoáng qua có phần giống con bò cạp, có màu đỏ, lớp vỏ bên ngoài rất cứng và khá hung dữ.
Mới đầu người dân bắt được một hai con, thấy lạ nên giữ lại để nuôi thử, rồi phát tán ra môi trường ngày càng nhiều.
Ông Trần Văn Hòa - giám đốc Công ty sen Hoàng Giang - thừa nhận sinh vật lạ mà người dân phản ảnh là tôm do ông thả nuôi.
“Tôi không biết con tôm này không được phép nuôi. Có người bạn ở ngoài Bắc họ cho tôi 4kg nói là nuôi ở miền Nam sẽ mập và ăn ngon hơn, nên tôi đem về nuôi thử” - ông Hòa nói.
Khi đặt vấn đề con tôm ăn gì thì ông Hòa lại trả lời là không biết chúng ăn gì. Còn việc tôm của ông Hòa phát tán ra môi trường xung quanh thì ông đổ cho người dân vào bắt trộm.
Nguy hại hơn cả ốc bươu vàng
Ông Phạm Minh Chí - phó phòng thanh tra Chi cục Thủy sản tỉnh Đồng Tháp - cho biết chi cục xác định sinh vật lạ do ông Hòa nuôi là tôm hùm đỏ (hay tôm hùm đất), tên khoa học là Procambarus clarkii, một loại giáp xác nước ngọt, nguồn gốc ở nam Hoa Kỳ, có nhiều khả năng còn nguy hại hơn cả ốc bươu vàng.
Xúi dân phá bỏ lúa, đưa người Trung Quốc đến làm việc
Nhà xưởng của Công ty sen Hoàng Giang tại xã Tân Hội Trung (Cao Lãnh, Đồng Tháp) - Ảnh: N.TÀI
“Theo các tài liệu nghiên cứu, tôm hùm đỏ lớn rất nhanh ngay cả trong điều kiện ít nước. Mùa khô chúng có thể chịu đựng khô hạn đến 4 tháng và vòng đời có thể kéo dài đến 6 năm.
Tác hại của tôm hùm đỏ rất lớn, chúng đào hang rất giỏi nên sẽ phá hại hệ thống kênh mương, có thể làm tan hoang các hệ sinh thái bản địa do ăn tạp. Đặc biệt, chúng mang theo nhiều virút gây bệnh trên tôm, kể cả loài giun ký sinh trên động vật có vú và người” - ông Chí giải thích.
Sau khi xác định được chủng loài, Chi cục Thủy sản Đồng Tháp làm việc với ông Hòa, yêu cầu ông tổ chức tiêu hủy dưới sự giám sát của các cơ quan chức năng.
Đợt tiêu hủy tôm hùm đỏ đầu tiên là vào ngày 6-12-2016, bắt được 33 con tôm sống và 55 con tôm chết. Cùng với việc tiêu hủy tôm, đoàn giám sát còn yêu cầu ông Hòa phun hóa chất để tiêu diệt những con còn sót lại cũng như tôm con nếu có sinh sản.
Đợt tiêu hủy thứ hai là vào ngày 10-12-2016, tổng cộng có 14 con sống và 5 con chết, trong đó có 7 con bắt được bên ngoài ao nuôi của doanh nghiệp.
“Do tôm phát tán ra môi trường nên chi cục kiến nghị địa phương thực hiện nhiều biện pháp ngăn chặn không cho tôm ra ngoài môi trường” - ông Chí cho biết thêm.
Ông Nguyễn Văn Hùm - phó chủ tịch UBND xã Tân Hội Trung - cho biết ngoài nuôi giống tôm hùm đỏ, giống sen do doanh nghiệp của ông Hòa trồng tại địa phương cũng không rõ nguồn gốc, không giống với sen bản địa.
UBND xã đã kiến nghị các ngành liên quan tìm hiểu nguồn gốc chủng loại sen này. “Cái khó là sen của ông Hòa trồng đều... chết hết. Họ đầu tư thuê đất và xây nhà xưởng với số tiền khoảng 10 tỉ đồng nhưng sau một năm vẫn chưa thu được đồng nào từ việc trồng sen” - ông Hùm nói.
Thuê lao động Trung Quốc
Theo ông Nguyễn Thanh Hải - trưởng Công an huyện Cao Lãnh, trước đó có một số lao động Trung Quốc làm việc tại cơ sở của ông Hòa nhưng sử dụng visa du lịch.
Hiện số lao động này đã thực hiện đầy đủ thủ tục theo quy định nên được cấp tạm trú tại địa phương.
“Sau bổ sung các loại giấy tờ và hoàn thành thủ tục cần thiết, đến thời điểm này số lao động Trung Quốc này vẫn làm việc, chưa thấy có gì bất thường” - ông Hải cho biết thêm.
04/02/2017 09:37 
NGỌC TÀI - THÀNH NHƠN  

Tuesday, July 12, 2016

Bí thư VC tại Đà Nẵng yêu cầu không kỳ thị khách du lịch Trung Quốc

Theo Bí thư Đà Nẵng, người Trung Quốc chiếm 26% lượng khách, đóng góp cho ngân sách thành phố nên cần quản lý cho tốt chứ không phân biệt, kỳ thị.
Tin tức trên báo Tuổi trẻ, ngày 12/7, việc xử lý tình trạng khách Trung Quốc và các đơn vị lữ hành hoạt động bát nháo, lộn xộn đã được đưa ra bàn thảo tại hội nghị Thành ủy Đà Nẵng lần thứ 5 do ông Nguyễn Xuân Anh, Bí thưThành ủy Đà Nẵng, chủ trì.
Theo báo cáo của ông Ngô Quang Vinh, giám đốc Sở Du lịch TP Đà Nẵng, khách Trung Quốc đến Việt Nam ngày càng nhiều. Chỉ riêng sáu tháng đầu năm cả nước đón 1,2 triệu khách du lịch Trung Quốc, dự báo năm 2016 Việt Nam đón khoảng 2,5 triệu khách Trung Quốc.
Bi thu Da Nang yeu cau khong ky thi khach du lich Trung Quoc - Anh 1
Bí thư Đà Nẵng Nguyễn Xuân Anh. Ảnh: Nguyên Vũ/Zing news.
Ông Vinh nói vừa qua có nổi lên một số vấn đề như khách Trung Quốc gây ồn ào, hướng dẫn viên hoạt động chui, tuy nhiên “chúng ta cũng bình tâm, bình tĩnh tính toán để có biện pháp xử lý".
Với TP Đà Nẵng sáu tháng đầu năm 2016 khách Trung Quốc tăng 83% (chiếm 26% lượng khách đến Đà Nẵng), còn khách Hàn Quốc thì tăng gấp đôi, khách Nhật cũng tăng rất mạnh.
Theo ông Vinh, “khách Trung Quốc tăng cao, bên cạnh điều tốt thì khách Trung Quốc đến đây ở, chi tiêu nhiều, đánh bạc cũng dữ. Bên cạnh đó họ kéo theo việc ồn ào này khác nên chúng ta phải xử lý".
Ông Vinh cho biết trước thực trạng du khách Trung Quốc gây ồn ào, hướng dẫn viên hoạt động chui Sở đã phối hợp với các cơ quan chức năng xử lý rất nhiều trường hợp. Tuy nhiên, cái khó hiện nay là sự tiếp tay của một số doanh nghiệp nên việc phục bắt cũng hết sức khó khăn. Vừa rồi sở đã phối hợp với công an kiểm tra một đơn vị lữ hành và đã tước giấy phép hoạt động.
Tuy nhiên, nói về việc xử lý các vi phạm của du khách Trung Quốc, ông Lê Minh Trung, bí thư Quận ủy Thanh Khê, cho rằng việc xử lý đối với du khách Trung Quốc vi phạm trong thời gian qua không thể nói là bình tĩnh được mà phải xử lý một cách cương quyết, khôn khéo.
Thừa nhận tình trạng hướng dẫn viên Trung Quốc hoạt động chui ở Đà Nẵng đang làm xấu hình ảnh du lịch, nhưng ông Nguyễn Xuân Anh - Bí thư Thành ủy Đà Nẵng yêu cầu, các cơ quan chức năng và người dân không được kỳ thị với khách Trung Quốc. Báo Zing news thông tin.
“Với việc chiếm tới 26% lượng khách đến Đà Nẵng, người Trung Quốc đóng góp lớn vào ngân sách TP Đà Nẵng. Do đó không phân biệt, kỳ thị khách Tàu hay khách Tây. Đơn cử mình đi ra nước ngoài, nếu người ta coi thường mình, không xem trọng bằng du khách đến từ các nước giàu thì cũng tự ái lắm chứ”, Bí thư Xuân Anh cho biết.
Người đứng đầu Đà Nẵng yêu cầu, các cơ quan chức năng phải quản lý chặt mọi du khách đến TP. “Ai tới đây cũng phải tuân thủ pháp luật Việt Nam. Đơn vị, cá nhân nào vi phạm sẽ rút giấy phép, trục xuất khỏi Đà Nẵng. Phải làm thật nghiêm. Chính vì mình không nghiêm nên người ta mới coi thường”, ông Xuân Anh nhấn mạnh.
Hồng Hà (T/H)

Thursday, June 16, 2016

Kỹ Nghệ Giấy Việt Nam - Nhà Máy Hậu Giang - P.II


Mai Thanh Truyết (Danlambao) - Vào ngày 6 tháng 8 năm 2007, thêm một nhà máy giấy ở Việt Nam xuất hiện. Dự án nhà máy với tổng mức đầu tư lên đến 1,2 tỷ Mỹ kim. Địa điểm xây dựng tại khu công nghiệp Phú Hữu A, huyện Châu thành, Hậu Giang với diện tích 200 mẫu. Dự án nhà máy đã được chấp thuận nhưng không qua thủ tục cần thiết ghi trong luật môi trường Việt Nam, nhất là việc nghiên cứu tác động môi trường trước khi dự án được duyệt xét.

Đây là một dự án làm bột giấy và sản xuất giấy lớn nhất Việt Nam hiện tại phỏng theo mô hình của tập đoàn Lee&Man Paper, Hong Kong, Trung Cộng. Vì tầm quan trọng của dự án đang vừa bắt đầu thi công, nhiều nguồn dư luận bất đồng về dự án trong dân chúng và một số nhà làm khoa học, cho nên tỉnh đã có một buổi họp ngày 19/9/2007 với nhiều ý kiến không thuận tiện cho việc xây dựng vì nhiều lý do xác đáng sau: 

- Khu vực đặt nhà máy gọi là khu công nghiệp Cái Cui - Nam sông Hậu (Tỉnh Hậu Giang) thực chất là vùng cây ăn trái trù phú với những đặc sản bưởi, cam, sầu riêng, măng cụt, chôm chôm, nhãn, mận, ổi…và những hộ chuyên nuôi cá đồng, không thích hợp cho nhà máy vì vấn đề nước thải nhà máy quá lớn với 28.500 tấn Sodium Hydroxide (NaOH), và ô nhiễm môi trường cho cả một vùng trồng cây ăn trái rộng lớn; 

- Hiện tại, nhà máy không có hệ thống thanh lọc nước thải. Vì vậy, vấn đề bảo đảm việc ô nhiễm môi trường không được tuân thủ. Điều nầy trái ngược hoàn toàn với các Điều luật trong Bộ Luật Đầu tư và Luật Môi trường là phải có báo cáo nghiên cứu tác động môi trường và phải có dự án xây dựng nhà máy thanh lọc phế thải trước khi được cấp giấy phép xây cất. Nhưng hai sự việc trên không hề xảy ra! 

Trước khi đi vào chi tiết về tính khả thi cũng như dư luận trong ngoài, thiết nghĩ cũng cần nên biết về Cty Lee&Man Paper, nguồn cung cấp vốn đầu tư và tài trợ kỹ thuật cho dự án. 

Tập đoàn Lee&Man Paper 

Tập đoàn Lee&Man Paper được thành lập từ 1994 có trụ sở tại Quảng Đông và di dời về Hong Kong năm 1995. Đây là một đại công ty giấy lớn nhất Á Châu và có tầm vóc quốc tế, với cơ sở và thiết bị tối tân. 

Nhà máy giấy đầu tiên bắt đầu được xây cất từ năm 1996 và đi vào hoạt động từ giữa năm 2005 trên một diện tích 80 mẫu tại Hongmei thuộc tỉnh Quảng Đông (Dongguan). Chi phí cho nhà máy là 461 triệu Mỹ kim với mức sản xuất 2 triệu tấn giấy/năm. (Nhà máy nầy chỉ chiếm 1/3 vốn đầu tư và sản xuất gần gấp 4 lần so với nhà máy Hậu Giang!). Nhà máy còn có hệ thống thanh lọc nước thải và một nhà máy phát điện với công suất 0,2 MW. Tập đoàn đã thành lập Cty Viet Nam Lee&Man Paper Manufacturing và đầu tư vào nhà máy Giấy Hậu Giang. Tính đến nay, Tập Đoàn Lee&Man Paper đã có 8 nhà máy đang hoạt động trong vùng Đông Nam Á và sản xuất 2,08 triệu tấn giấy/năm. Cty dự trù trong năm 2008, mức sản xuất hàng năm sẽ lên đến 4 triệu tấn. 

Công ty giấy Hậu Giang 

Trước một dự án lớn với vốn đầu tư hàng tỷ Mỹ kim, nhưng đa số người dân cũng như các cấp lãnh đạo tỉnh Hậu Giang hầu như hoàn toàn không có thông tin hay dữ kiện nào về chi tiết cũng như quy hoạch dự án như thế nào. Do đó, dư luận tại địa phương cũng như một số ban ngành trung ương phản ảnh theo nhiều góc độ khác nhau tuỳ theo vị trí của đương sự đối với dự án. 

Ngày 19/9, Lãnh đạo tỉnhHậu Giang triệu tập một buổi họp gồm đủ thành phần để tham khảo ý kiến về vấn đề nầy. 

Trước hết, TS Triệu Văn Hùng, Vụ trưởng Vụ Khoa học, Công nghệ nêu lên: "Đến hôm nay chúng tôi mới biết Hậu Giang có hai nhà máy: giấy và bột giấy. Trước đây chúng tôi cứ tưởng hai là một. Nhập giấy phế liệu để tái chế, nhiều người băn khoăn phải chăng ta nhập rác. Các dự án nhà máy giấy ở Hoà Bình, Bắc Kạn, Kontum không khai triển được la do thiếu vùng nguyên liệu. Nhà máy giấy Hậu Giang có công suất vượt nhà máy Bãi Bằng. Vùng nguyên liệu chúng ta phải tính đến yếu tố ổn định. Nội dung dự án chỉ ghi mấy dòng thu gom gỗ là chưa đủ sức thuyết phục." 

Trong lúc đó, ông Nguyễn Ngọc Bình, Cục trưởng Cục Lâm nghiệp nêu ý kiến:"Đến thời điểm nầy (dự án đã khởi công) Cục Lâm nghiệp chưa nhận được thông tin chính thức hoặc tài liệu nào liên quan đến dự án nhà máy giấy và bột giấy ở Hậu Giang. Với công suất nhà máy 570 ngàn tấn/năm, nguồn nguyên liệu từ gỗ rừng trong khu vực ĐBSCL chắc chắn chỉ đáp ứng dưới 20% công suất. Theo công nghệ sản xuất giầy và bột giấy cần 50 Kg xút làm chất tẩy cho một tấn giấy, cũng có nghĩa là mỗi năm có 28.500 tấn xút đổ ra môi trường..." 

Để đối lại, ông Bí thư tỉnh Hậu Giang Nguyễn Phong Quang phát biểu: "Dự án nầy không dừng ở 1,2 tỷ Mỹ kim mà sẽ là 1,6 – 1,7 tỷ. Vùng nguyên liệu rồi đây sẽ tiếp tục quy hoạch. Tôi yêu cầu Bộ Nông nghiệp- Phát triển Nông thôn phải xem lại quy trình làm việc của mình. Các đồng chí nói không nghe, không biết gì về dự án là không thể chấp nhận được. Bột Công thương cho nhập nguyên liệu chúng tôi mới dám triển khai. Chúng tôi đâu hốt rác đổ về nhà." 

Và Phó chủ tịch thường trực Nguyễn Văn Thắng tiếp lời: "Về chủ trương đầu tư, tỉnh đã tuận thủ đúng quy trình và thủ tục cấp giấy chứng nhận đầu tư cho 2 dự án. Địa phương gữi hồ sơ đến nhiều Bộ để thẩm tra và đã được các Bộ thống nhất rất cao". Và ông nói tiếp: "Do đây lại là một dự án quá lớn, lần đầu tiên tỉnh tiếp nạh6n nên... quá "hớp". Những gì thực hiện chưa đúng chúng tôi sẽ điều chỉnh". 

Sau cùng ý kiến của ông Vũ Ngọc Bảo, Tổng thư ký Hiệp hội Giấy và Bột giấy Việt Nam có ý kiến rằng: "Dự án phải nhanh chóng có báo có tác động môi trường như luật định"

Trong lúc đó ông Vũ Văn Cường, Phó Vụ trưởng Vụ Công nghiệp tiêu dùng thuộc Bộ Công nghiệp phản pháo lại ý kiến trên là: "Dự án nầy thực hiện đúng Luật Môi trường nên Bộ Công thương chấp thuận" (?). 

Ý kiến của ông Nguyễn Ngọc Trân, một Việt kiều “yêu nước” từ Pháp về xây dựng “quốc gia cộng sản”, nguyên Phó Chủ nhiệm Uỷ ban Đối ngoại quốc hội đã được ghi nhận trong bài viết Tản Mạn về Dự án nhà máy giấy Hậu Giang như sau: “Qua những phát biểu kiểu trống đánh xuôi kèn thổi ngược, thiết nghĩ có ba vấn đề chính yếu của dự án dư luận chuyên môn rất quan tâm là: 

- 1. Dự án không có nghiên cứu tác động môi trường do đó vi phạm Luật Môi trường và Luật Đầu tư, 

- 2. Nguồn nguyên liệu dự trù cho sản xuất quy hoạch rất mơ hồ, 

- 3. Phương án xử lý phế thải chỉ ghi chú trong vòng vài trang giấy trong hồ sơ dự án, không có kế hoạch và thiết kế chi tiết, cùng công tác xây dựng nhà máy “xử lý” cũng không được nêu ra. 

Cũng trước đó, vì địa điểm xây dựng nhà máy lại nằm sát bờ Sông Hậu và nhà cử dân chúng cho nên, Hiệp hội chế biến và Xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam (VASEP) đã đề nghị Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (Bộ NN-PTNT) có ý kiến để các cơ quan nhà nước nghiên cứu kỹ vị trí của dự án nhà máy giấy và bột giấy Lee&Man nhằm không gây ảnh hưởng xấu đến chất lượng môi trường nước của vùng nuôi thuỷ sản ở ĐBSCL. 

Cục Lâm nghiệp cũng đã từng đề nghị Bộ NN-PTNT trình lên Thủ tướng Chính phủ CS Nguyên Tấn Dũng yêu cầu: 

- Giao cho Bộ Tài nguyên Môi trường trực tiếp phối hợp với UBND tỉnh Hậu Giang kiểm tra, đánh giá lại vấn đề về an ninh môi trường của nhà máy Lee&Man; 

- Yêu cầu nhà đầu tư cam kết thực hiện nghiêm túc việc thanh lọc nước thải theo tiêu chuẩn quốc tế. 

- Không chấp nhận phương án nhập 80% nguyên liệu là giấy phế liệu từ nước ngoài để sản xuất giấy và bột giấy tại Việt Nam. 

Cục Lâm nghiệp cũng khẳng quyết là theo Quyết định số 160/1998/QĐ-TTg ngày 4/9/1998 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Quy hoạch tổng thể phát triển công nghiệp giấy đến năm 2010” thì không quy hoạch xây dựng nhà máy giấy ở Hậu Giang và theo Quy hoạch điều chỉnh phát triển ngành công nghiệp giấy Việt Nam đến năm 2010 - tầm nhìn 2020 thì cũng không quy hoạch vùng nguyên liệu giấy tại ĐBSCL

Nhưng tất cả ý kiến trên đều không được lắng nghe vì tinh thần nô lệ và thuần phục của những kẻ bán đứng linh hồn cho TC, và vì mãnh lực của kim tiền qua việc “bôi trơn dự án”!

Từ đây chúng ta có thể kết luận rằng dự án đã được quyết định một cách vội vã do sự "chỉ đạo" trực tiếp của Phó Thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng, nguyên Bộ trưởng Bộ Tài nguyên & Môi trường. Điều nầy nói lên một thủ tục điều hành "công việc quôc gia" một cách tuỳ tiện, không tuân thủ những quy định mà chính người quyết định đã đề ra. 

Theo Luật Đầu tư, lãnh đạo địa phương (cấp tỉnh uỷ) chỉ chấp thuận và cấp giấy phép xây dựng khi Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã duyệt. Bộ có trách nhiệm giải thích và thông báo đến các cơ quan liên hệ trong hàng Bộ trưởng. Giấy phép chỉ là bước đầu cho Dự án. Sau đó, nhà đầu tư phải nộp toàn bộ chi tiết dự án cùng những bản thiết kế công trình của dự án và bản dồ dự án có tỷ lệ 1:500. Sau đó, nhà đầu tư phải trình bày lên liên bộ liên quan đến dụ án những vấn nạn môi trường có thể xảy ra qua biên bản nghiên cứu tác động môi trường. 

Ngay cả khi các thủ tục trên đã được hoàn tất theo luật định, dự án cũng có thể bị đình chỉ khi cảnh sát môi trường khám phá ra những vi phạm môi trường hay dự án tạo ra ô nhiễm môi trường. Điều nầy chắc chắn không thể xảy ra dưới chế độ XHCN Việt Nam! 

Dự án nhà máy giấy Hậu Giang chỉ được thông qua một cách vội vã giữa lãnh đạo tập đoàn Lee&Man Paper và lãnh đạo chính trị Việt Nam mà thôi, do đó đã được xúc tiến một cách mau mắn, ngay cả Ông Trần Quốc Thanh, Chủ tịch Hội đồng quản trị khu Công nghiệp Hậu Giang, nơi xây cất nhà máy chỉ được thông báo một thời gian ngắn trước khi khởi công mà thôi. Cũng cần biết thêm là 26% dân chúng vùng ĐBSCL vẩn chưa có được nguồn nước sạch mặc dù sông ngòi chằn chịt. Và dự án dự trù sẽ tiêu thụ 4,5 triệu m3 nước hàng năm. 

Thay lời kết 

Mặc dù Việt Nam vẫn còn phải nhập cảng 700 ngàn tấn giấy/năm (mức tiêu thụ giấy của Việt Nam hiện tại là 1,8 triệu tấn giấy cho năm 2006 (thời điểm của dự án), và đã tăng lên 5 triệu tấn cho năm 2015. 

Qua kinh nghiệm lịch sử các nhà máy giấy nhất là kinh nghiệm nơi nhà máy Bãi Bằng, và một số nhà máy giấy rãi rác từ Bắc chí Nam (xem bài viết Nhà máy giấy Bãi Bằng-Phần I) trải qua gần 40 năm hoạt động vẫn còn nhiếu vấn nạn môi trường hầu như không giải quyết được và nguyên liệu cần phải nhập cảng đến 20%, mặc dù đã quy hoạch việc trồng rừng trên diện tích 1,2 triệu mẫu, nhà máy cũng vẫn chưa chạy hết công suất. 

Trong lúc đó, nhà máy Hậu Giang chỉ quy họạch từng phần trong 200 mẫu rừng cho một công suất sản xuất gấp 10 lần hơn nhà máy Bãi Bằng. Điều nầy có nghĩa là việc quyết định thực hiện nhà máy Hậu Giang hoàn toàn không dựa theo một tiêu chuẩn nào cả. 

Theo những thăm dò vừa nhận được, Việt Nam đã tham khảo để thu mua bột giấy ở hai quốc gia là Úc Châu và Nam Dương (Indonesia) cho nhà máy hậu Giang nhưng điều được hai nơi nầy trả lời không thể ký hợp đồng trước năm 2015. Và hiện tại hợp đồng thu mua vẫn chưa được giải quyết. 

Trong quá khứ, thực tế cho thấy ở Việt Nam hiện tại có nhiều nhà máy giấy và làm bột giấy không thể đi vào hoạt động được với phí tổn tổng cộng hàng tỷ Mỹ kim đầu tư và hàng triệu công lao động, làm tiêu hao công quỹ và nội lực của dân tộc một cách vô ích. 

Điều trên chứng tỏ rằng: 

Lãnh đạo trung ương khi quyết định chấp thuận môt dự án phát triển quốc gia hoàn toàn không nắm vững những thông tin kỹ thuật cũng như các ảnh hưởng lên mội trường khi xây dựng và khi nhà máy đi vào sản xuất; 

- Lãnh đạo địa phương (nơi xây dựng nhà máy) tiếp nhận dự án đầu tư vào tỉnh nhà theo chỉ thị của cấp trên và cũng hoàn toàn không thông hiểu về quy trình sản xuất cùng những điều kiện địa phương có thích hợp với việc lấp đặt nhà máy hay không? 

Đây là hai điều căn bản đã xảy ra trong suốt thời gian quản lý Đất và Nước từ sau 1975 trở đi. Hai điều căn bản trên tiếp tục được lập đi lập lại như một âm bản giống nhau như đúc mặc dù đất nước được lãnh đạo bởi nhiều thế hệ lãnh tụ khác nhau theo suốt chiều dài lịch sử kể từ khi CS Bắc Việt chiếm được miền Nam sau ngày 30-4-1975. 

Đây mới chính là một nguy cơ "mãn tính" cho dân tộc trong công cuộc phát triển quốc gia. 

Cao nguyên Trung phần Việt Nam đang CHẾT vì việc khai thác Bauxite. 

Biển ĐÔNG đanh CHẾT vì TC cố tình nguồn nước đại dương. 

Đồng bằng sông Cửu Long vì TC kiểm soát dòng chảy của sông Mẹ Mêkong ở thượng nguồn. 

Câu hỏi còn lại cho Tuổi Trẻ Việt Nam là Còn con đường SỐNG nào cho dân tộc Việt Nam đây? 

17.06.2016

Saturday, February 20, 2016

Không được lăng mạ nhân dân

Xích Tử-20/02/2016
tuyentruyen.jpg

Năm ba năm gần đây, trong nhiều lĩnh vực hoạt động xã hội, nhất là trong các nội dung hoạt động sự nghiệp có tác động đến việc nâng cao chất lượng đời sống cộng đồng, người ta hay nói đến việc nâng cao nhận thức người dân, nâng cao ý thức của cộng đồng.

Hiện tượng/quá trình đó hình như bắt đầu từ các dự án có nguồn lực tài chính từ nước ngoài; theo yêu cầu của các nhà tài trợ, cơ cấu các hợp phần của nội dung dự án phải bao gồm trong đó, thường ở vị trí đầu tiên, là nâng cao nhận thức. Hợp phần này chiếm một khoản kinh phí quan trọng.

Học tập từ đó, các dự án có nguồn gốc bản địa, bao gồm cả hoạt động quản lý, hoạt động sự nghiệp của nhà nước, cả hoạt động của đảng, các đoản thể “nhân dân” cũng rất chú trọng đến hợp phần này; có khác là trước cụm từ “nâng cao nhận thức”, có thêm “tuyên truyền” để bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa.
Để khẳng định sự cần thiết của việc nâng cao nhận thức mà chắc chắn sẽ ngốn nhiều tiền chi cho những người làm công tác tuyên truyền, một số nhận xét về dân/nhân dân như thiếu ý thức, nhận thức/ý thức thấp, kém, dân trí thấp ...trở thành phát ngôn quen miệng ở những người có trách nhiệm ở nhiều cấp khác nhau trong các diễn đàn, trên các phương tiện thông tin đại chúng. Hễ có một hiện tượng tiêu cực nào đó xảy/diễn ra như về môi trường, giao thông, lễ hội, ..là người ta thi nhau đổ tội cho dân.

Lạ thật, lịch sử quan phương của chúng ta từ năm 1930 của thế kỷ XX đều nhất quán đánh giá nhân dân ta có nhiều ưu điểm, nhất là có lòng yêu nước nồng nàn, giác ngộ chủ nghĩa Mác – Lênin, một lòng một dạ đi theo con đường cách mạng mà đảng và Bác Hồ đã chọn, lại bị nhận xét đang ở trong tình trạng nhận thức kém, dân trí thấp, thấp đến mức chưa đủ để được hưởng những quyền tự do, dân chủ bình thường như các nước gần gũi khác.
Chỉ riêng giác ngộ chủ nghĩa Mác – Lênin, giác ngộ cách mạng thôi, có dân tộc nào bằng dân tộc chúng ta? Ưu điểm chính trị tinh thần đó có ngay từ những đưa trẻ 10 – 12 tuổi như Kim Đồng, Lê Văn Tám (sic) kia mà.

Có thể các thế lực thù địch đang thực hiện âm mưu/chiến lược diễn biến hoà bình lợi dụng sự tài trợ để nói xấu nhân dân ta; còn chúng ta, không nên vì sự bất lực của mình, vì sự không hoàn thiện của việc cai trị, hoặc vì sự cần thiết cho dự toán của dự án để tạo công ăn việc làm cho mình mà miệt thị, lăng nhục nhân dân mãi như vậy.

Xích Tử
https://www.danluan.org/tin-tuc/20160219/khong-duoc-lang-ma-nhan-dan#comment-149379

Tệ nạn mua bán bằng cấp ở VN

Nguyễn Văn Tuấn-20/02/2016
Năm 2010, hai tác giả Pháp Philippe Papin và Laurent Passicousset có viết một cuốn sách (1) có tựa đề là "Vivre avec les Vietnamiens" (có nghĩa là "Sống với người Việt"). Phải công nhận là sau khi đọc qua những trang (dịch), tác giả rất am hiểu về người Việt, có khi còn am hiểu hơn các chính người Việt. Đọc những sách loại này không chỉ có hiệu quả biết người ngoài nghĩ gì về người Việt, mà nó còn giúp chúng chúng ta hiểu về chúng ta hơn. Tác giả dành ra một chương viết về nạn tham nhũng trong học thuật và giáo dục, cụ thể là chuyện mua bán bằng cấp. Đọc rất... nhức nhối.
Ở Việt Nam, trong những câu chuyện "trà dư tửu hậu" thường thường dẫn về chuyện tham nhũng, kể cả chuyện mua chức và mua bằng cấp. Người ta nói cụ thể giá của mỗi loại bằng cử nhân, cao học hay tiến sĩ là bao nhiêu, thậm chí còn có khác biệt giữa miền Nam và miền Bắc. Mấy người từ miền Nam thường trả giá cao hơn (vì mấy người nhận tiền nghĩ rằng dân miền Nam làm ra tiền nhiều hơn). Dĩ nhiên, chỉ là những chuyện [nói theo tiếng Anh là] anecdote, chứ chẳng có chứng cứ có hệ thống nào cả. Mà, trớ trêu một điều là ở Việt Nam thì anecdote phần lớn lại là chuyện thật.
Trong trích đoạn dưới đây, Philippe Papin và Laurent Passicousset viết khá cụ thể về việc mua bán chức quyền ra sao. Người ta mun luôn cả chức đại biểu Quốc hội, và cũng có trả giá đàng hoàng. Một chức vụ trung bình ở Bộ Ngoại giao là 15000 EUR. Còn trang giáo dục thì hai tác giả này cho biết một chức vụ giáo viên trung học cấp tỉnh tốn khoảng 3000 EUR. Riêng cái giá một bằng tiến sĩ kinh tế là 12000 EUR (4000 cho người viết hay dịch mướn, 8000 cho ông thầy hướng dẫn luận án dỏm). Không thấy hai tác giả này nói trong các lĩnh vực khác như tướng tá trong quân đội có nạn mua bán hay không. Nhưng với "phong trào" này thì chắc việc mua bán chức quyền xảy ra ở khắp các ngành và các cấp.
Dĩ nhiên, không phải ai cũng mua bán bằng cấp; trong thực tế, tôi biết vẫn có những người học hành tử tế và họ không tham dự vào các thương vụ giáo dục. Nhưng trong một xã hội mà ngay cả cái đền thiêng giáo dục còn bị đồng tiền chi phối và biến thành một thương trường thì những người sống đàng hoàng cũng bị mang tiếng oan. Đúng như một bạn đọc hôm qua viết cho tôi "Trong thế giới người gù, thì người thẳng lưng bị coi là dị dạng."
____________________
Một số chương của cuốn sách được dịch sang tiếng Việt và đăng nhiều kì trên trang Ba Sàm: https://anhbasam.wordpress.com/…/340-s%E1%BB%91ng-v%E1%BB%…/
Các yếu tố làm tình hình thêm trầm trọng : phân quyền và mua quan bán chức
[...]
Hơn nữa, tham nhũng đã mở rộng ra đến cả việc tuyển chọn công chức : phải chi một khoản lớn mới có được một chân trong bộ máy Nhà nước. Nói cách khác, một số vị trí là hoàn toàn do mua bán. Điều này không phải bí mật Nhà nước : ở Việt Nam ai cũng nói tới hiện tượng này và các báo miền Nam, bao giờ cũng táo bạo hơn, còn đăng những bức biếm hoạ xuất sắc về đề tài này. Một bức trong số đó cho thấy một chánh văn phòng gạt bỏ những hồ sơ xin việc ghi chữ “năng lực và bằng cấp” mà chỉ lấy hồ sơ chứa đầy đô la ; một bức khác vẽ một chiếc ghế ở tít trên cao một cầu thang làm bằng các phong bì chồng lên nhau.
Thông lệ này phổ biến nhanh chóng và từ đầu năm 2009 đến giờ, người ta nói về đề tài này khá thoải mái. Báo chí, lấy cớ ca ngợi các hình phạt do nhà chức trách ban ra, tha hồ kể chi tiết các trường hợp mua quan bán chức. Dần dà, độc giả hiểu ra rằng tính chất mua bán đã hằn sâu trong cả bộ máy Nhà nước, từ trên xuống dưới. Các nhà chức trách không thể không hành động. Hồi mùa thu 2010, một đại biểu quốc hội đã đặt câu hỏi về vấn đề này (nếu không được cho phép thì ông đã không thể liều mạng như vậy). Ngay trước hôm ông phát biểu, nguyên phó trưởng ban Tổ chức Đảng đầy quyền uy đã lên án tính chất mua bán đang gạt bỏ các nhân tài. Hai ngày sau, Bộ trưởng bộ Công Thương công khai chỉ trích căn bệnh mua quan bán chức đang “di căn”. Chính quyền chính thức công nhận hiện tượng này. Dưới sức ép dư luận, người ta bắt đầu nghe thấy nói về việc công khai tài sản mà các Bộ trưởng và Chủ tịch Hội đồng nhân dân phải làm trước khi nhậm chức, nhưng trên thực tế họ không bao giờ làm.
Việc mua quan bán chức này không hẳn là mới. Nó tồn tại từ giữa thập niên 1990. Người ta biết chuyện ông bộ trưởng nọ vừa mới được bổ nhiệm đã phải đợi 6 tháng để có đủ tiền trả cho cái ghế của mình trước khi được ngồi vào đó. Gần đây hơn, năm 2007, một nữ chủ doanh nghiệp một thành phố lớn phía Bắc đã đề xuất chi 80 ngàn EUR để được một chân đại biểu quốc hội : ít quá, nếu so với những đề xuất khác, nên bà này đã bị loại từ vòng sơ tuyển do Mặt trận tổ quốc tổ chức, mà lọt qua vòng này thì coi như được bầu. Trái lại, năm 2009, cũng khoản tiền ấy đã đủ để mua chức phó giám đốc một doanh nghiệp lớn của Nhà nước mà chúng tôi tránh không nói tên. Năm 2010, nghe nói ngay cả Ban chấp hành trung ương Đảng cũng không thoát khỏi hiện tượng này…
Khu vực đại học đặc biệt bại hoại từ năm 2009 khi Nhà nước triển khai đề án đào tạo hơn 2 vạn công chức trở thành tiến sĩ. Năm 2010, giá một luận án kinh tế là 12 000 EUR: 4.000 cho sinh viên viết thuê cho tiến sĩ tương lai (nếu cần thì dịch từ một khóa luận Liên xô từ đời nảo đời nào), 8.000 cho ông thầy hướng dẫn luận án rởm, thế là viên công chức nhà ta có được tấm bằng danh giá (dù sẽ chóng mất giá thôi) hanh thông quan lộ. Chúng ta hãy xem số tiền đó khủng khiếp đến mức nào: 8.000 EUR là ba năm dạy học của một giáo sư Việt Nam đổi lấy một con dấu. Để so sánh, có thể tưởng tượng một giáo sư Pháp nhận một vali 100 000 EUR miễn thuế…
Từ năm 2005, tệ mua quan bán chức lan nhanh đến cả những vị trí bình thường. Một nữ hiệu trưởng, một trưởng phòng bưu điện, một nhân viên địa chính, một công an hay một lái xe đều phải trả những khoản tiền lớn mới được nhận vào làm. Một vị trí trung bình ở bộ Ngoại giao, ít bổng lộc, được thương lượng với giá 15 000 EUR, nếu là vị trí có thể được cử sang các sứ quán Việt Nam ở nước ngoài thì còn cao hơn nhiều. Một chân công nhân doanh nghiệp Nhà nước ở Hà Nội có giá từ 600 đến 800 EUR. Một chân giáo viên tỉnh lỵ giá trung bình 3 000 EUR.
Chúng ta cùng lấy một thí dụ cụ thể: cô gái tên Phương chấp nhận nói chuyện với chúng tôi vì chúng tôi quen gia đình cô. Năm nay (2010), Phương 23 tuổi, tốt nghiệp marketing và tài chính tháng 6/2009. Cô mong tìm được việc làm trong cơ quan Nhà nước, ổn định hơn, có nhiều phúc lợi xã hội, được tổ chức cho đi nghỉ mát, giờ làm thoải mái hơn, và, cô nói với một sự ngây thơ đáng ngưỡng mộ: “có nhiều cơ hội kiếm tiền hơn trong tương lai vì ngân hàng quốc doanh kiểm soát tất cả”. Không do dự, tháng 1/2010, cô mua một chân nhân viên thường trong một ngân hàng quốc doanh ở Hà Nội, với khoản tiền còm là 16 000 EUR, cô trả bằng tờ xanh đô la Mỹ. Cô kể chúng tôi nghe điều này với giọng vô cùng tự nhiên, như thể đương nhiên là phải thế.
Khi cô kể chuyện gia đình cô bàn bạc quyết định chuyện mua chỗ làm như thế nào (vì bố mẹ cô mới là người trả tiền chứ cô chẳng có xu nào), chúng tôi hiểu là vấn đề không phải là việc mua chỗ làm ấy, mà là việc đầu tư vào đấy có tốt không, có hiệu quả không, chỗ ấy có đảm bảo không. Nếu bỏ ra 16 000 EUR, thì bao lâu mới thu lại được? Liệu vài năm sau con bé có bị đuổi vì một lý do trời ơi nào đấy để dành chỗ cho một đứa khác cũng chấp nhận trả tiền không?
Còn về đường đi của đồng tiền, chúng tôi không biết chính xác số tiền trong phong bì được chia chác như thế nào, dù đương nhiên là nó sẽ được chia nhỏ cho tất cả mọi mắt xích trong “đường dây tuyển dụng”, một đường dây dài và lên rất cao. Trái lại, chúng tôi biết đích xác một phó giám đốc chi nhánh quận của một ngân hàng quốc doanh ở Hà Nội kiếm được 40 ngàn EUR hối lộ mỗi năm, chủ yếu là từ các món quà nhỏ anh ta nhận được để dựng hồ sơ vay vốn ưu đãi. Dù Phương không phải là phó giám đốc, nhưng nhẩm nhanh thì cũng thấy số đầu tư ban đầu của cô sẽ chóng hoàn vốn thôi, cùng lắm cũng chỉ 2 năm. Cô chỉ có mỗi việc là làm sao đừng để bị sa thải trong hai năm ấy, nếu không thì mất hết. Nên thể nào cô cũng ngoan với các sếp, rất ngoan. Chu trình tham nhũng tạo ra kỷ luật…
Dù sao, trong khu vực công (khu vực tư có vẻ ít bị ảnh hưởng hơn), thường là một người mang nợ mới được đi làm. Để hoàn vốn, làm sao mà không rơi vào vòng xoáy tham nhũng cho được? Một khi đã mua được chỗ làm rồi thì phải làm sao kiếm lại đủ số tiền ấy, trả cho bố mẹ, và trong nhiều trường hợp (không phải của Phương) thì còn phải trả nợ những người mình đã vay. Khách quan mà nói, làm sao tránh khỏi cám dỗ kiếm tiền bù lại số mình đã bỏ ra bằng cách tuyển cấp phó theo đúng cách ngày xưa mình đã được tuyển ? Bán dịch vụ của mình với giá cao? Phổ biến thông lệ hối lộ để kiếm lại tiền một cách nhanh nhất? Theo hệ thống, nạn hối lộ lây truyền ra khắp nơi, đến tất cả mọi người: vòng tròn đã khép kín.
Đầu tiên là tìm cách lấy lại tiền; sau đó thành nếp rồi thì chuyển sang giai đoạn kiếm lời. Về chủ đề này, chúng tôi cảm thấy có một sự mỉa mai chua chát và đau khổ, rất đau khổ, trong những lời lẽ chán chường của một người bạn bác sĩ: “Suy cho cùng thì đây là một hệ thống tốt để tự gây tê sự liêm khiết của bản thân : giai đoạn lo kiếm đủ tiền bù lại số đã bỏ ra làm ta tỉnh táo mà làm quen dần với giai đoạn sau khi ta sẽ thu lời.” Việc hoàn vốn trở thành bước đệm để đến với nạn hối lộ trên diện rộng hơn. Tuy nhiên, không phải ai mua chỗ làm cũng nằm trong hoàn cảnh này. Một tỉ lệ lớn con em cán bộ và công chức cao cấp ở tỉnh lấy tiền của bố mẹ mà mua chỗ làm ở thành phố ; họ chẳng phải lo kiếm tiền trả lại gì cả, chỉ việc ngoan ngoãn mà phát đạt, mà ăn ở tiện nghi tại căn hộ gia đình đã đầu tư cho.
Lạm dụng quyền lực địa phương, bán chức bán quyền và tham ô lặt vặt hàng ngày: thách thức là to lớn và muôn hình muôn trạng. Việt Nam, một trong những nước thụ hưởng nhiều nhất viện trợ phát triển và hợp tác quốc tế, nằm trong một vùng cực kỳ cạnh tranh, ngay bên cạnh người hàng xóm khổng lồ Trung Quốc, hiểu rằng mình cần vượt qua bằng được thách thức này nếu không muốn làm xấu hình ảnh đất nước. Hơn cả những lời tuyên bố đức hạnh chả mấy người thấy lọt tai, lối thoát chính là ở chỗ phải xây dựng một hệ thống thu thuế hiệu quả và phát triển các giao dịch ngân hàng thay cho giao dịch bằng tiền mặt. Những thử nghiệm đầu tiên đã đem lại kết quả tích cực, thu được nhiều thuế hơn và kết thúc xì-căng-đan biển thủ tiền lương đã kéo dài suốt bao lâu. Một chương trình áp dụng rộng rãi thuế thu nhập đang được triển khai, có thể thấy phía sau các xe taxi ở thành phố Hồ Chí Minh đều có dán tờ tuyên truyền động viên các gia đình khai thuế. Trong lĩnh vực thương mại cũng vậy, việc chuẩn hóa và tự động hóa các thủ tục đã giúp mang lại cho nền kinh tế chính thống một phần những hoạt động trước đây không được khai báo.
https://www.danluan.org/tin-tuc/20160219/te-nan-mua-ban-bang-cap-o-vn#comment-149380

Tuesday, January 26, 2016

Chuyện lạ đời của một cán bộ huyện: Học xong cấp III, mới quay lại học cấp II?

Lãnh đạo huyện Đức Cơ (Gia Lai) đã có quyết định thuyên chuyển công tác đối với ông Nguyễn Sanh, Giám đốc Trung tâm Bồi dưỡng chính trị huyện này...
Theo đó, ngày 11/1/2016, ông Sanh giữ chức Phó ban Dân vận Huyện ủy Đức Cơ.
Nguyên nhân của việc này là do ông bị tố đã dùng mác y sỹ của sư đoàn 320 (Quân đoàn 3) để đi thi tốt nghiệp phổ thông trung học. Điều đáng nói là sự việc đã được phanh phui cách nay 11 năm nhưng giờ cơ quan chức năng mới vào cuộc.
Dù không có bằng cấp gì nhưng năm 1990, ông Nguyễn Sanh (sinh năm 1961) được làm Chánh văn phòng Huyện ủy Đức Cơ. Đến năm 2000, ông được bầu vào Ban Thường vụ Huyện ủy, giữ chức Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra. Năm 2006, ông Sanh giữ Giám đốc Trung tâm Bồi dưỡng chính trị cho đến bây giờ.
Lý lịch học hành của vị quan này hết sức khôi hài, bắt đầu từ năm 1978 và kết thúc vào năm 2004. Sau 26 năm miệt mài theo đuổi sự học, ông Sanh đã có được thứ mình cần là tấm bằng tốt nghiệp PTTH. Đây phải khẳng định là một tấm gương sáng về sự kiên nhẫn, rất đáng để các thế hệ trẻ noi theo (?).
Chuyện lạ đời của một cán bộ huyện: Học xong cấp III, mới quay lại học cấp II?
Giấy giới thiệu ông Sanh đi thi tốt nghiệp PTTH của Sư đoàn 320
Trong học bạ cấp II-III từ năm 1978-1982, ông Sanh đã học bổ túc 4 môn Văn, Toán, Lý, Hóa. Sau đó, dù không đi học ngày nào nhưng đến năm 2001, ông này bổ sung được một số giấy tờ để hợp thức hóa bằng cấp của mình.
Cụ thể, “bảng kết quả học tập” 3 môn Sinh học, Lịch sử và Địa lý của ông Sanh do Trường THPT Đức Cơ cấp thể hiện ngày 25/12/2001, ông này hoàn thành chương trình học 3 môn lớp 10; ngày 10/5/2002 học xong lớp 12 và sau đó 3 tháng (ngày 15/8/2002) thì học hết… lớp 11(?). Sau đó, vào ngày 26/12/2003, ông Sanh hoàn tất việc sở hữu giấy chứng nhận tốt nghiệp THCS (hệ bổ túc), khóa thi ngày 19/12/2003 tại Hội đồng thi huyện Đức Cơ. Sau khi “lượm” được những giấy tờ trên, vào năm 2004, ông Sanh mượn danh y sỹ Sư đoàn 320 hoàn thành tấm bằng tốt nghiệp bổ túc THPT tại trường Thiếu sinh quân dân tộc nội trú Quân khu 5 (bằng không ghi số).
Trong “danh sách” cán bộ công nhân viên Quốc phòng đăng ký dự thi tốt nghiệp bổ túc THPT năm 2004 tại trường này ghi rằng, ông Nguyễn Sanh (nơi sinh Thăng Đức, huyện Chư Prông, Gia Lai), cấp bậc công nhân viên quốc phòng và chức vụ là y sĩ, được tuyển dụng tháng 2/2000(?).
Như vậy là ông Sanh lúc này ngoài làm việc ở Huyện ủy Đức Cơ còn kiêm nhiệm thêm một chức vụ khá quan trọng tại Sư đoàn 320(?). Điều làm dư luận thắc mắc là, với tài năng có thể “phân thân” làm một lúc 2 việc quan trọng như vậy nhưng không hiểu sao đến năm 2004, ông "quan lớn" này mới tốt nghiệp THPT.
Một điều làm dư luận khó hiểu nữa là, dù chưa có bằng tốt nghiệp Đại học nhưng ông Sanh vẫn có tấm bằng Cao cấp lý luận chính trị?
Chuyện lạ đời của một cán bộ huyện: Học xong cấp III, mới quay lại học cấp II?
Quyết định kỷ luật ông Sanh và Quyết định bổ nhiệm sau đó gần nửa tháng
Chuyện lạ đời của một cán bộ huyện: Học xong cấp III, mới quay lại học cấp II?
Vào năm 2004, người dân huyện Đức Cơ đã làm đơn tố cáo về việc ông Sanh gian lận hồ sơ để thi tốt nghiệp và chạy chức. Năm 2005, ông Sanh bị Thường vụ Huyện ủy Đức Cơ kỷ luật khiển trách. Sau việc đó, người ta ngỡ rằng, ông này sẽ được bố trí một công việc phù hợp hơn song không thể ngờ, vào năm 2006, ông Sanh lại được bổ nhiệm chức Giám đốc Trung tâm Bồi dưỡng Chính trị huyện Đức Cơ.
Lúc này, chuyện khôi hài mới bộc lộ, một người với bằng cấp “lôm nhôm” lại đứng trên bục giảng dạy cho các cán bộ, giáo viên có bằng Đại học và thậm chí là thạc sĩ hẳn hoi.
Nhiều giấy tờ về nhân thân của vị cán bộ này cũng khá mâu thuẫn. Học bạ cấp II- III thì ghi ông Sanh sinh ngày 10/4/1961 tại xã Tam Hiệp (Tam Kỳ, Quảng Nam) nhưng giấy giới thiệu đi thi tốt nghiệp Trường Thiếu sinh quân dân tộc Quân khu 5 lại ghi ông Sanh sinh tháng 4/1961 tại Thăng Đức (huyện Chư Prông, Gia Lai).
“Ai đời làm y sĩ rồi mới đi học cấp III, rồi lại quay về học cấp II. Vậy mà, ông Sanh vẫn được đứng lớp giảng dạy cho những người có trình độ, chuyện này chắc là có một không hai trên đời”, người tố cáo cho biết.
Ông Phạm Văn Cường- Phó Bí thư Huyện ủy Đức Cơ cho rằng, theo thông tin ông nắm được, trước đây ông Sanh mới học đến lớp 7. Sau đó, ông Sanh đã tìm cách hợp thức hóa giấy tờ và đăng kí thi tốt nghiệp tại Trường thiếu sinh quân dân tộc Quân khu 5. Cũng theo ông Cường, ông Sanh chưa có bằng Đại học nhưng đã có bằng Cao cấp lý luận chính trị.
Căn cứ vào Quyết định 1853 của Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương, một trong các điều kiện để làm Giám đốc Trung tâm Bồi dưỡng chính trị là phải có trình độ Đại học, chứng chỉ về nghiệp vụ sư phạm. Do đó, việc ông Sanh làm Giám đốc Trung tâm Bồi dưỡng chính trị huyện Đức Cơ là không đúng. Việc ông Sanh đứng lớp giảng dạy cho những cán bộ, giáo viên có trình độ Đại học, thậm chí là thạc sĩ khiến nhiều người không phục và làm đơn tố cáo là lẽ thường tình.
Còn theo ông Rah Lan Hiăng- Bí thư huyện Đức Cơ, việc sai phạm về bằng cấp của ông Sanh đã là rất rõ ràng. Anh em giáo viên đã tố giác rất nhiều, thậm chí nhiều người đích thân đến huyện ủy tố cáo.