Showing posts with label 30/4/1975-NgayQuocHan. Show all posts
Showing posts with label 30/4/1975-NgayQuocHan. Show all posts

Friday, May 3, 2024

Mùa Quốc Hận 2024 Việt Nam ra sao trong thập niên tới

 

30 Thang Tu
- Câu nói của cố thủ tướng Việt Cộng là Võ Văn Kiệt rằng ngày 30-4 có một triệu người vui và một triệu người buồn. Triệu người vui là người thuộc Miền Bắc Cộng Sản là kẻ chiến thắng và triệu người buồn thuộc Miền Nam Tự Do là kẻ thua trận. Đây là câu nói thẳng thắn về một sự thật thốt ra từ miệng của một nhân vật lãnh đạo cao cấp Cộng Sản.

- Nỗi buồn của triệu người Miền Nam Tự Do cho đến hôm nay sau 49 năm vẫn còn day dứt. Một quốc gia được hiện hữu gồm 3 yếu tố dân tộc, lãnh thổ và chính quyền; nay thì yếu tố chính thể Việt Nam Cộng Hòa không còn cho nên nước Việt Nam Cộng Hòa mất. Người xưa nói nước mất thì nhà tan; hàng triệu người dân Miền Nam phải ly tán, hàng triệu người vào tù, hàng triệu người phải liều chết bỏ nước ra đi tìm Tự Do.

- Một cộng đồng Người Việt Nam Tự Do hình thành ở hải ngoại tại nhiều quốc gia dân chủ tự do bởi những người di tản, vượt biên vượt biển. Cộng đồng này sau mấy chục năm, sinh con đẻ cái, bảo lãnh thân nhân từ quê nhà sang, vận động chính quyền Hoa Kỳ để nhận những tù nhân chính trị, tù nhân lương tâm, trở nên lớn mạnh về kinh tế, kỹ thuật, văn hóa. Với những trí thức tốt nghiệp đại học Mỹ, Âu châu, Úc châu, với những chuyên viên và công nhân làm việc trong các hãng xưởng kỹ nghệ ở xứ văn minh; thì đây là những tiềm năng tốt đẹp có thể đóng góp vào sự phát triển của xứ sở Việt Nam.

- Hồ Chí Minh đã từng tuyên bố thắng giặc Mỹ ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay. Nhưng thực tế sau 49 năm thì đất nước Việt Nam dưới sự cai trị của Việt Cộng thì tụt hậu rất nhiều so với các nước lân bang. Thí dụ rõ ràng nhất là Nam Hàn thập niên 1960 tình trạng phát triển ngang tầm với Việt Nam Cộng Hòa, nhưng bây giờ thì Nam Hàn đã trở thành cường quốc trên thế giới. Và trên bán đảo Triều Tiên vẫn còn 2 quốc gia đối nghịch là Bắc Hàn và Nam Hàn. Tình trạng đói kém của Bắc Hàn so với Nam Hàn cho thấy sự tai hại của chủ nghĩa Cộng sản khi áp dụng vào Bắc Hàn. Và nước Việt Nam dưới cái tên Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam- một danh xưng rỗng tuếch mà Việt Cộng từng tự hào, cũng xuống cấp thê thảm so với lân bang.

- Trong 49 năm qua, dân chúng Miền Nam đã đau khổ rất nhiều. Những cô gái Việt Nam khi vượt biển đã trở thành nạn nhân của hải tặc thập niên 1970, 1980. Ở trong nước thì thập niên 1980, 1990 hàng trăm ngàn cô gái Việt Nam đã phải xa xứ lấy những tên già yếu, tàn tật, thô lỗ, của nước Nam Hàn, Đài Loan, Tàu... Hàng trăm ngàn công nhân phải tha phương cầu thực với những chương trình xuất khẩu lao động tại các nước tân tiến. Có những công nhân Việt Nam khi nhập cảnh vào Nam Hàn đã trốn mà ở lại làm di dân lậu- điều này nói lên họ không muốn sống trên quê hương Việt Nam của họ.

- Mùa Quốc hận Tháng Tư năm nay 2024 thì tin tức phe này tố cáo phe kia tham nhũng hối lộ để tranh dành các vị trí chủ tịch nước, chủ tịch quốc hội lan truyền trên báo chí. Chưa biết phe nào thắng nhưng một điều rõ ràng là cán bộ cao cấp nào cũng tham nhũng dựa vào sự bao che cho các công ty, các ngân hàng để mà bòn rút ngân sách nhà nước và lường gạt dân chúng. Trên đời này không có chế độ nào hoàn hảo nhưng tình trạng tham nhũng quá đáng của Việt Cộng thì đã lên tới mức khủng khiếp. Như trường hợp cán bộ nhà nước đã bắt người dân mua những dụng cụ xét nghiệm Covid dởm, bắt người dân ở nước ngoài phải trả một số tiền lớn để được bay về nước trong mùa đại dịch. Cán bộ thông đồng với các công ty và ngân hàng phát hành cổ phiếu ma để thu lợi hàng tỉ mỹ kim, cán bộ cao cấp để cho người thân lập công ty xây dựng mà đấu thầu những công trình lớn của đất nước với giá cao mà phẩm chất xấu, rồi ăn chia tiền lời với nhau. Hình ảnh bê tông cốt tre nói lên chất lượng của những công trình tồi tệ như thế.

- Tại sao xảy ra tình trạng tham nhũng khủng khiếp như vậy. Lý do là Đảng Cộng Sản lãnh đạo, đứng trên cả hiến pháp nhà nước, không ai có thể bắt bỏ tù một đảng viên cộng sản. Muốn bắt đảng viên cộng sản thì trước hết phải khai trừ người đó ra khỏi Đảng Cộng Sản. Các chức vụ dân cử thì do Đảng đề cử, cho nên cán bộ tức là đảng viên Cộng Sản tha hồ tham nhũng. Luật pháp thì lại bao che đảng viên, tham nhũng hối lộ mà bị bắt thì trả lại số tiền tham nhũng thì được giảm tội, cán bộ lãnh đạo cao cấp mà tham nhũng thì buộc từ chức mà không bị kết tội.

- Mùa 30-4-2024 tin tức đồng bằng sông Cửu Long bị khô hạn, nước mặn tràn vào làm cho dân chúng vùng này thiếu nước ngọt. Dòng sông Cửu Long trên thượng nguồn bị Trung Cộng xây đập chận nước, còn thêm nước Lào cũng xây đập thủy điện và sắp tới Cam Bốt xây kênh đào Phù Nam để dẫn dòng nước sông Cửu Long chảy ra biển theo hướng khác. Có nghĩa là dòng nước chảy về các tỉnh của Miền Tây Nam Bộ sẽ bị giảm rất nhiều. Đây là nỗi lo ngại rất lớn ảnh hưởng đến nguồn nước ngọt cho hàng triệu người dân sống ở Miền Tây Nam Phần. Nhưng nhà nước Việt Nam hoàn toàn không có kế sách lâu dài để đối phó. Cũng nên nói thêm rằng nhà nước Cộng Sản Việt Nam trong mấy chục năm qua đã tập trung xây dựng phát triển hạ tầng cơ sở ở Miền Bắc mà không chú ý gì đến Miền Nam mặc dù đồng lúa Miền Nam phì nhiêu và tiềm năng kinh tế vùng này rất tốt.

- Mùa 30-4-2024 lập trường chính sách của Việt Cộng càng ngày càng lệ thuộc Trung Cộng qua các hiệp định cam kết để cho Trung Cộng xây dựng đường sắt và các xa lộ Bắc Nam, ủng hộ và tham gia vào kế hoạch Nhất Lộ Nhất Đái- còn gọi là Vành Đai và Con Đường của Trung Cộng. Việt Nam đã tuyên bố cùng chung vận mệnh với Trung Cộng, một câu nói đầy ẩn ý về sự lệ thuộc vào Bắc Kinh.

- Sau 49 năm cai trị Miền Nam, đội ngũ khoa học kỹ thuật chẳng có gì. Các cộng trình xây cất như Cầu Mỹ Thuận do Úc xây dựng, Cầu Cần Thơ do Nhật xây dựng, tuyến Metro Bến Thành cũng do nước ngoài thi công. Ngay cả vệ tinh do Việt Nam phóng lên cũng thuê mướn công ty ngoại quốc thực hiện. Tóm lại về mặt kỹ thuật thì Việt Nam chỉ làm gia công cho các hãng ngoại mà thôi.

- Cộng đồng người Việt Nam tự do ở hải ngoại mỗi năm gởi về mấy chục tỉ mỹ kim cho thân nhân, số tiền này cuối cùng lọt vào tay nhà nước và cán bộ và Việt Cộng có ngoại hối để mà cân đối thu chi về nhập cảng và xuất cảng và giúp nền kinh tế trong nước phần nào. Điều đáng buồn là mặc dù có nguồn tài chánh hàng chục tỉ mỹ kim gởi về nước nhưng cộng đồng người Việt hải ngoại không dựa vào lợi thế đó để áp lực nhà nước Cộng sản thực hiện chính sách lợi ích cho dân chúng và xứ sở.

- Mùa Quốc Hận 2024 nghĩ về đất nước Việt Nam thì chưa thấy có những thay đổi tích cực. Nạn tham nhũng vẫn đầy rẫy. Sự cai trị độc tài, đàn áp nhân quyền vẫn tiếp tục, các tiếng nói đối lập, những phê bình cho dù là đúng đắn vẫn bị trù dập, bắt bỏ tù. Cái câu đất đai thuộc sở hữu toàn dân tạo điều kiện cho cán bộ tịch thu nhà cửa, ruộng vườn của dân chúng qua những cái gọi là kế hoạch xây dựng phát triển, để bọn chúng làm giàu trên sự đau khổ của đồng bào.

- Bọn cán bộ và con cháu tham nhũng tìm cách chuyển tiền tham nhũng ra nước ngoài nhất là tại Hoa Kỳ. Bọn chúng ra hải ngoại sinh sống, giữ hai quốc tịch Việt Nam và Hoa Kỳ mà đi qua đi lại thoải mái. Việt Cộng ngày xưa chửi Mỹ đánh Mỹ nhưng hiện tại thì dựa vào Mỹ để tránh không bị Trung Cộng xâm chiếm biển đảo và đất đai. Dựa vào vị thế Mỹ cần Việt Nam để không cho Trung Cộng độc chiếm Biển Đông này mà Việt Cộng tha hồ đàn áp nhân quyền mà không sợ Mỹ trừng phạt.

- Một quốc gia muốn hùng mạnh, độc lập tự do thì phải dựa vào sức mình, dựa vào toàn dân, dựa vào trình độ dân trí với khoa học kỹ thuật, với sự làm việc cần cù, tiết kiệm để mà xây dựng những công trình vật chất và văn hóa cho xứ sở. Dân tộc Việt Nam xét cho cùng thì chỉ hãnh diện được một điều là đứng vững ngàn năm mặc dù chịu bao lần quân Phương Bắc xâm lăng. Nhưng với áp lực của Trung Cộng thì trường học ngày nay đã không dạy cho học sinh các bài học lịch sử ngàn xưa. Giới trẻ hôm nay nhiều kẻ  không biết Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung là ai vì chúng không đươc dạy dỗ trong nhà trường.

Nước Nhật Bản và Nam Hàn hôm nay trở thành cường quốc là họ có tinh thần dân tộc rất cao. Giới trẻ Việt Nam mà không còn tinh thần quật khởi học được từ cha ông qua các bài học lịch sử thì nguy cơ mất nước, trở thành chư hầu hay một tỉnh của Trung Cộng trong tương lai.

- Mùa ba mươi tháng tư 2024 nghĩ về đất nước Việt Nam- với dân số 100 triệu, với lich sử mấy ngàn năm đứng vững không bị đồng hóa như Tây Tạng, Tân Cương, Mãn Châu; với một cộng đồng gốc Việt ở hải ngoại mạnh về kinh tế và khoa học kỹ thuật; thế mà vẫn không trở thành cường quốc sánh cùng thế giới thì cũng đáng buồn!

- Chỉ khi nào chủ nghĩa Cộng sản không còn tròng lên cổ dân tộc Lạc Hồng thì may ra dân tộc và quốc gia có tên gọi Việt Nam mới có cơ hội phát triển và đem lại tự do no ấm cho đồng bào.

-Trần Chí Phúc

Mỹ Quốc, Mùa Quốc Hận năm 2024

Tuesday, April 30, 2024

Việt Nam còn gì, sau 49 năm dưới sự cai trị của cộng sản?

T.N/SGN

 Kayla Ng

30 Tháng Tư, một ngày được tung hô từ Nam chí Bắc nhưng cũng đem lại sự xót xa đau đớn, đem theo những kỷ niệm đen tối ùa về.

Giờ đây, đến ngày 30 Tháng Tư, giới trẻ chỉ nghĩ về những kỳ nghỉ, bàn nhau coi nên đi đâu, chơi gì. Năm nay cũng là một kỳ nghỉ nhiều ngày, khiến không khí càng nhộn nhịp, xe cộ càng chật kín các con đường quốc lộ.

Cũng những ngày này, tôi lặng ngồi một góc nghĩ về chuyện những chuyến tàu vượt biên. Những chuyến tàu cũng đông đúc, chất chội, chất đầy sự lo lắng và sợ hãi. Tôi còn quá trẻ, lại không từng trải qua, tôi sao mà hiểu hết những đau khổ ngày đó.

Chỉ là mỗi khi nhìn thấy hình ảnh của con tàu vượt biên, mỗi khi nghe kể về chuyến đi định mệnh như vậy lồng ngực tôi luôn thắt lại, cổ họng thì nghẹn ứ. Tôi nghĩ phải tới mức nào, phải bị chèn ép, bị đàn áp tới mức nào người ta mới chọn rời bỏ quê hương, lênh đênh trên biển đối mặt với sống chết, đối mặt biết bao khó khăn không thể lường trước được.

Trong một lần học Tiếng Anh, tôi vô tình xem được một đoạn video có cậu nhóc tên Tâm được nước Mỹ đón nhận, lớn lên ở Mỹ, đang nói tiếng Mỹ, đang ăn cùng với gia đình người Mỹ, đang được họ quan tâm hỏi han về chiến tranh Việt Nam nhưng cậu ta lại “sửa lưng” họ, và nói đó là “American war.”

Lớn lên ở Mỹ nhưng tư tưởng của cậu ta lại rất Việt Cộng. Tôi tự hỏi nếu có những năm tháng lớn lên với chế độ đã xua đuổi gia đình cậu ra biển, liệu cậu sẽ có cái nhìn khác?

Tôi, một người sống 49 năm của các gọi là “thống nhất” chợt phẫn nộ. Và tôi cũng tự hỏi những người thuộc thời đại VNCH họ suy nghĩ gì? Những người từ bỏ quê hương đang bị chiếm đoạt bởi cộng sản, vẫn im lặng và từ chối tranh luận từ những kẻ ngu dốt, những kẻ nhắm mắt nghe tuyên truyền.

Tôi tự hỏi vì cái gì mà thằng bé tên Tâm đó lại có sự vênh váo như vậy? Vì nó căn cứ trên những giá trị của quyền tự do ngôn luận ở nước Mỹ mà nó được vẫn “dùng” hằng ngày. Nhưng nó sẽ không bao giờ biết được những người như tôi chỉ thấy cái quyền đó trong mơ. Người Việt tỵ năm 1975 chỉ là tị nạn chính trị. Còn ngày nay người Việt phải “tị nạn” kinh tế, “tị nạn” môi trường, “tị nạn” văn hóa, “tị nạn” giáo dục… Tất cả đều ra đi vì những giấc mơ.

Người Việt phải tị nạn mọi mặt, chứng tỏ đất nước đã trống rỗng, đã không còn gì nữa rồi. Nếu dựa vào những giá trị của VNCH trước năm 1975 chúng ta, có thể ngẩng cao đầu trước bất kỳ Quốc gia nào. Đáng tiếc rằng những thứ ngày hôm nay còn lại đang mục ruỗng, thậm chí còn sản sinh những thế hệ mới dị dạng, hung tợn.

Cái hiện rõ trong mắt mọi người, đó là sự kiêu ngạo của người cộng sản Bắc Việt. Họ tự cho họ là thượng đẳng, mọi việc họ làm, mọi thứ họ biết đều là đúng đắn, họ tự chối tìm hiểu, từ chối kiểm chứng.

Điều thứ hai là xã hội độc tài cộng sản, đã khiến người Việt Nam chạy theo thói bợ đỡ, liêm khiết giả tạo để che đậy thói tham tàn. Kế đến, là hoa trái từ chính cây trồng của cộng sản: nhưng thế hệ trẻ vô năng chiếm chỗ, giỏi thuyết giáo tuyên truyền và thích được tung hô. Nhân tài thật của đất nước thì không có đất dụng võ.Gần nửa thế kỷ trong sự kiểm soát của cộng sản, điều quan trọng nhất đã bị hủy hoại chính là con người và văn hóa. Mọi thứ đang mất đi, hình ảnh người Việt ở các nước đang tệ hại dần và không còn những điều tốt đẹp như đã được tạo dựng từ thời VNCH.

Trong bàn tay cộng sản, đất nước thành bãi hoang kiêu hãnh.

Nhìn lại ngày Quốc Hận 30-4, để hy vọng ở tương lai

 Phan Đức Minh/SGN

Đoạn đường trước khách sạn Continental ở Sài Gòn năm 1975 (trái) và năm 2015. (Hình: Taylor Weidman/Getty Images)

Ngày Quốc Hận 30 Tháng Tư lại đến. Chúng ta hãy cùng nhau nhìn lại, dù biến cố lịch sử đau thương, mất mát lớn lao ở mức độ kinh hoàng cho Nam Việt Nam, không thể nào nói lên hết bằng vài ba trang giấy.

-Ngày 6 Tháng Giêng: Tỉnh Phước Long và Thị Xã Phước Bình, cách Sài Gòn 60 dặm về phía Bắc, rơi vào tay quân cộng sản Bắc Việt. Sau “Mùa Hè đỏ lửa” từ vùng địa đầu giới tuyến Quảng Trị năm 1972, Phước Bình là thị trấn đầu tiên của Nam Việt Nam bị quân cộng sản đánh chiếm.

Không Quân VNCH thiệt hại 20 máy bay trong công cuộc bảo vệ Tỉnh Phước Long. Nhiều máy bay bị bắn hạ bằng hoả tiễn SA-7 của Liên Xô. Sự thiếu vắng phản ứng quân sự của Hoa Kỳ càng xúi giục cộng sản làm tới vì các chiến lược gia của cộng sản biết rằng đã đến lúc Hoa Kỳ phải rời bỏ Việt Nam.

Tổng Bí Thư Đảng Cộng Sản Việt Nam Lê Duẩn và Bộ Chính Trị của Đảng CSVN quyết định tăng cường các cuộc tấn công trên toàn lãnh thổ Nam Việt Nam để phát động một cuộc tổng nổi dậy vào năm 1976. Cộng sản chỉ dám mong điều đó xảy ra vào năm 1976 mà thôi.

-Ngày 28 Tháng Giêng: Tổng Thống Hoa Kỳ, Gerald Ford , yêu cầu Quốc Hội tăng thêm quân viện cho Nam Việt Nam và Campuchia với ngân khoản $522 triệu. Lúc này, quân cộng sản Bắc Việt có mặt tại Nam Việt Nam tới mức 289,000 người. Xe tăng, trọng pháo, hoả lực phòng không, do Liên Xô và Trung Quốc chi viện rất hùng hậu. Để giữ vững “một tiền đồn chống cộng” ở Đông Nam Á Châu, ngân khoản $522 triệu có là bao so với những năm trước đó là mỗi năm vài tỉ đôla. Thế nhưng cũng không xong.  Người ta đã phải bỏ cuộc mà ra đi cho rồi.

-Ngày 5 Tháng Hai:  Đại Tướng Bắc Việt Văn Tiến Dũng  vào Nam để chỉ huy quân đội cộng sản.

-Ngày 10 Tháng Ba: Quân Bắc Việt, với những Sư Đoàn thiện chiến , với phương tiện chiến  tranh hiện đại của Liên Xô và Trung Quốc, tấn công Ban Mê Thuột. Ba ngày sau, quân cộng sản tràn ngập thị trấn này, trong khi những trận đánh lớn khác bùng nổ trên mặt trận Cao Nguyên Trung Phần.

-Ngày 14 Tháng Ba: Sau khi họp bàn với một số tướng lãnh và nhân vật thân cận, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh rút quân, bỏ vùng cao nguyên Trung Phần và các tỉnh phía Bắc của Nam Việt Nam. Các Tướng Tư Lệnh Quân Đoàn 2, Phạm Văn Phú, và Quân Đoàn I, Ngô Quang Trưởng, ngỡ ngàng, sửng sốt, không biết tại sao lại bỏ những vùng đất quan trọng, cửa ngõ, quyết định sự sống chết của Nam Việt Nam vào lúc này, chưa đánh nhau chi cả, trong khi các lực lượng chiến đấu của 2 Quân Đoàn (Army Corps) CNCH Việt Nam rất hùng mạnh, sẵn sàng đọ sức với quân đội cộng sản.

-Ngày 24 Tháng Ba: Thấy tình thế thuận lợi, cộng sản Hà Nội quyết định chính thức mở màn “Chiến dịch Hồ Chí Minh.” Hà Nội giao cho tướng Văn Tiến Dũng một “thời khoá biểu” phải kịp thời đánh chiếm hoàn toàn Nam Việt Nam trước khi mùa mưa bắt đầu vào Tháng Năm. Muốn vậy, quân Bắc Việt phải vào chiếm Sài Gòn chậm nhất là tuần lễ cuối cùng của Tháng Tư, trước khi quân đội miền Nam có thể tái phối trí lực lượng hầu bảo vệ Sài Gòn và Quân Khu 4 ở miền Tây.

-Ngày 25 Tháng Ba: Vào lúc này, dân chúng đông tới hàng triệu người. Họ không quên cảnh cộng sản tàn sát tập thể dân chúng cũng như viên chức chính quyền, nhân vật đảng phái vào dịp Tết Mậu Thân 1968, nên kéo nhau tràn xuống thành phố Đà Nẵng, lúc đó đang bị quân cộng sản tấn công từ xa bằng hoả tiễn 122 ly của Trung Cộng và đại bác 130 ly của Liên Xô.

Ông Thiệu ra lệnh: Không giữ được Huế thì cũng phải cố mà giữ lấy vùng duyên hải Đà Nẵng, coi như vị trí chiến lược làm đầu cầu cho quân đội Mỹ đổ bộ lên, một khi chính quyền Mỹ quyết định trở lại cứu vớt VNCH, đương đầu với cuộc xâm lăng đại quy mô của cộng sản.

Tới lúc này mà còn hy vọng Mỹ trở lại cứu VNCH, thì làm sao cho tướng Ngô Quang Trưởng tuân lệnh được đây!Hạ Viện Hoa Kỳ biểu quyết dự luật cấm các hoạt động quân sự của Hoa kỳ trên toàn lãnh thổ Đông  Nam Á Châu. Dự luật này được lưỡng viện Quốc Hội Hoa Kỳ thông qua ngày 21 –Tháng Chín 1973. Kế theo đó, ngày 12 Tháng Mười 1973, lưỡng Viện lại thông qua dự luật hạn chế quyền của Tổng Thống Mỹ trong việc đưa quân đội Hoa Kỳ ra ngoại quốc (sau bài học cay đắng tại Việt Nam).

Dân thường và quân đội lên thuyền Hải Quân trong cuộc sơ tán thành phố Huế ở miền Nam Việt Nam vào ngày 26 Tháng Ba năm 1975. (Hình: UPI/Bettmann Archive/Getty Images)
Ngày 29 Tháng Ba: Cộng sản chiếm thành phố Đà Nẵng, đang rối loạn, mà chẳng tốn một viên đạn nào. Dân chúng tìm mọi cách thoát khỏi vùng này bằng mọi giá, chấp nhận chết chóc, đau đớn chia lìa trong máu và nước mắt…
Tôi, lúc đó kẹt lại Đà Nẵng, nên cùng bạn bè đi tù cải tạo. Trước đó phi đạo Đà Nẵng bị hoả tiễn Trung Cộng cầy nát, không sử dụng được nữa, trực thăng không có, tầu Hải Quân VNCH từ trong Nam kéo ra bãi Mỹ Khê, Quận 3 Đà Nẵng cứu nạn, nhưng người trốn chạy cộng sản giành nhau leo lên tàu bằng đủ mọi cách, gây nên cảnh kinh hoàng, người già, trẻ con rơi xuống biển như những chiếc lá mùa thu.
Tôi nói với Đại Úy Từ Khánh Sinh, Quản Đốc Quân Lao Đà Nẵng, cựu Đại Đội Trưởng nhảy dù: “ Không đi bằng cách này được! Mấy đứa trẻ sẽ chết hết! “ Đại Úy Sinh kiếm được tay Nghĩa Quân đàn em, lôi cái thuyền nhỏ xíu dìm dưới nước lên và tính chuyện ra khơi, lên tàu Mỹ.
Ngay tức khắc, hàng chục mũi súng AK của du kích địa phương chĩa vào thuyền: thuyền ra là bắn hết ! Cả hai chúng tôi cùng đi tù cải tạo với nhau nơi rừng sâu, núi thẳm ghê người!
Trong khi bạn bè cùng cảnh ngộ chỉ bị giam giữ năm, bảy năm là được thả, riêng tôi đi tù cải tạo 12 năm, 16 ngày. Thật là kinh khủng!
Tôi đã từng sống trong nhà tù của Pháp, từng đi thanh tra trại tù của VNCH, coi trại tù của Mỹ qua truyền hình, báo in, báo điện tử, nhưng chưa thấy có thứ trại tù nào ghê gớm, kinh khủng, ác ôn, tàn bạo như nhà tù của cộng sản.
Điều an ủi cho tôi, là trước đó chỉ non một ngày, nhân danh Sĩ Quan cấp chức cao nhất của hai Tòa Án Quân Sự Mặt Trận Quân Khu I và Toà án Quân Sự Thường Trực Đà Nẵng còn có mặt, tôi ra lệnh mở cửa nhà tù, phóng thích vô điều kiện tất cả hơn 700 quân phạm, bất kể sĩ quan hay binh sĩ, tiểu hay đại hình, xếp hàng, cứ 10 người một chạy ra khỏi Quân Lao, về lo chuyện gia đình trước họa cộng sản đang tràn đến. Ai cũng có thân nhân, gia đình, ai cũng là người cả!
-Từ ngày 6 Tháng Tư: Hai Trung Đoàn thuộc Sư Đoàn 2 Bộ Binh VNCH, cùng với một Lữ Đoàn nhảy dù được đổ xuống phi trường Phan Rang để hy vọng đánh trận phản công.
Cộng sản thấy hơi khó ăn vì ngán quân nhảy dù nên để cho tình hình yên tĩnh ba ngày. Thế là Lữ Đoàn nhảy dù được bốc đi Xuân Lộc là nơi đang có trận đánh lớn giữa Sư Đoàn 18 Bộ Binh VNCH dưới quyền chỉ huy của Tướng Lê Minh Đảo với hai Sư Đoàn quân Bắc Việt.
Thay thế cho Lữ Đoàn nhảy dù thiện chiến, người ta đưa tới đó một đơn vị Biệt Động Quân. Lập tức quân cộng sản cho xe tăng T-54 của Liên Xô ào ạt tiến vào, chọc thủng phòng tuyến Phan Rang và chiếm đóng vùng này không khó khăn.
-Ngày 7 Tháng Tư: Lê Đức Thọ, Ủy viên Bộ Chính Trị cộng sản Hà Nội, tới Tổng Hành Dinh quân cộng sản ở Miền Nam, đóng tại Lộc Ninh để xem xét tình hình và quyết định kế hoạch cho giai đoạn chót của cuộc đánh chiếm miền Nam. Lúc này, cộng sản đã kiểm soát được 2/3 lãnh thổ Nam Việt Nam.
-Ngày 8 đến 21 Tháng Tư: Sư Đoàn 18 Bộ Binh VNCH do Tướng Lê Minh Đảo chỉ huy, chống giữ oanh liệt trước sức tấn công vũ bão của hai Sư Đoàn cộng sản nhằm tiến chiếm Sài Gòn bằng cách phá vỡ phòng tuyến cuối cùng này. Một Trung Đoàn thuộc Sư Đoàn 5 Bộ Binh và Lữ Đoàn nhảy dù từ Phan Rang được đưa vào tăng viện.
Chỉ mang theo vài thứ trên lưng, một gia đình khóc trên đường chạy loạn khi đi bộ dọc theo Quốc Lộ 1, cách Nha Trang 27 dặm về phía bắc hướng tới Qui Nhơn. Ước tính có khoảng 1.5 triệu người bị mắc kẹt ở Đà Nẵng, nơi nằm dưới sự kiểm soát của Cộng sản năm 1975. (Hình: Getty Images)
Tướng cộng sản Văn Tiến Dũng phải tung vào mặt trận này hai sư đoàn nữa là bốn sư đoàn tất cả để hòng dứt điểm càng sớm càng tốt. Đánh chiếm miền Nam mùa Xuân năm 1975, đây là mặt trận duy nhất quân cộng sản gặp sức chiến đấu dũng mãnh, oanh liệt của quân đội VNCH.
Cộng sản phải dùng số quân 4 đánh 1 trong lúc thế mạnh mọi mặt đang ở phía chính họ. Ngày 21 Tháng Tư, Tướng Tư Lệnh Quân Khu 3 VNCH không muốn hy sinh trong thế tuyệt vọng, cả Sư Đoàn 18 Bộ Binh anh dũng, thiện chiến trong hoàn cảnh bất lợi về tất cả mọi mặt nên đã ra lệnh cho Sư Đoàn này rút khỏi phòng tuyến đang trấn giữ.
Bị áp lực từ nhiều phía, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu phải tuyên bố từ chức, chuyển giao quyền hành cho Phó Tổng Thống Nguyễn Văn Hương để ra ngoại quốc, bỏ lại đằng sau: Quê Hương, Chiến Hữu và Đồng Bào của Ông, là những gì thiêng liêng mà ông từng long trọng tuyên đọc lời thề khi nhậm chức, cũng như trong các dịp Quốc Lễ là sẽ sống chết bảo vệ đến hơi thở cuối cùng.
-Ngày 23 Tháng Tư: Tại Hoa kỳ, Tổng Thống Gerald Rudolph Ford tuyên bố chiến tranh Việt Nam kể như chấm dứt. Dư luận hiểu rằng chính quyền Mỹ lúc đó đã buông tay và tháo chạy bằng mọi giá, trong khi Liên Xô và Trung Cộng hồ hởi, phấn khởi là đã hoàn thành nhiệm vụ “Dứt điểm tiền đồn chống cộng của Mỹ tại Á Châu.”
-Ngày 28 Tháng Tư: Tổng Thống Trần Văn Hương trao quyền hành cho Tướng 4 sao Dương Văn Minh, người đóng vai chính trong vụ đảo chính lật đổ Tổng Thống Ngô Đình Diệm Tháng Mười Một năm 1963.
Cộng sản không mạnh bằng Mỹ về vũ khí chiến tranh nhưng với tinh thần cuồng tín, liều mạng và hầu như luôn giữ thế tấn công trên các mặt trận, trong khi Mỹ quá mạnh nhưng luôn ở trong thế thụ động với các mục tiêu, đồn bót rõ ràng nên thế thuận lợi lại luôn nghiêng về phía cộng sản.
Người dân trèo lên xe buýt chở người di tản vào Đại Sứ Quán Hoa Kỳ, trong khi hàng trăm người chen chúc quanh cổng, cố gắng chen vào để tham gia cuộc di tản của người Mỹ khỏi Sài Gòn ngày 29 Tháng Tư. (Hình: Getty Images)
-Rạng sáng ngày 30 Tháng Tư, quân cộng sản tiến vào Sài Gòn, vẫn còn gặp vài ổ kháng cự lẻ tẻ. Dương Văn Minh cứ yên trí theo bài bản đã nhận được từ “cấp trên” qua điện thoại, ra đón tiếp quân “giải phóng” và sau đó “xin bàn giao chính quyền.”
Buổi sáng hôm đó, cộng sản bắt Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng. Chiến tranh chấm dứt, đất nước thống nhất, nhưng dân chúng miền Nam không vui mừng, sung sướng, hạnh phúc mà lại xô nhau chạy đi mọi ngả, tìm cách thoát chạy khỏi chính quê hương, đất nước của mình để tránh họa cộng sản, bất kể mọi gian nguy, bị giết chóc, cướp bóc, hải tặc hãm hiếp, quăng  xác xuống biển…
Chính quyền mới truy lùng, tiêu diệt, bắt bớ những kẻ phục vụ cho chế độ cũ, nhân vật đảng phái chính trị, tống họ vào những trại tập trung cải tạo ở các vùng rừng núi âm u, hiểm hóc, cách biệt hẳn với xã hội loài người.
Nam Bộ là cái túi đựng người quá đông đảo mà lại không có rừng núi thích hợp cho việc thiết lập các trại cải tạo, vừa an toàn lại tiện cho việc khai thác có lợi nhiều, cho nên cộng sản mới phải đưa số đông “kẻ thù” của họ ra Bắc, tống lên các trại cải tạo vùng Thượng Du Bắc Việt.
Cán bộ cộng sản từ lớn đến nhỏ, ngơ ngác nhìn Sài Gòn và Nam Việt Nam trong cảnh xác xơ, buồn thảm nhưng vẫn không làm mất, không che dấu được sự phồn thịnh, phát triển quá cao so với “thiên đàng hay địa ngục Bắc Bộ. Cộng sản lớn nhỏ thi nhau vơ vét tài sản vét của kẻ bỏ chạy, của nhân dân Miền Nam “tay sai Mỹ Ngụy” đem về Bắc như những chiến lợi phẩm.
Sau này, có cơ hội tiếp xúc với người thân ở Bắc Việt Nam, từng giữ chức vụ quan trọng trong bộ máy chính quyền cộng sản thời gian này, tôi được biết mật lệnh của cộng sản Hà Nội lúc đó có những điểm rất kinh khủng: bắt nhốt hết mọi kẻ có khả năng chống cự, nổi dậy sau này, tịch thâu mọi loại vũ khí có tầm sát hại tập thể hay cá nhân, khi có dấu hiệu hay mầm mống biến động thì tất cả những kẻ ít nguy hiểm nhất cũng phải tập trung cải tạo.
Ở đây, tôi chỉ muốn nói lên một điều: Quân Đội VNCH nói chung, đã chiến đấu rất anh dũng, kiên cường, bất chấp mọi trở ngại, khó khăn, thiếu thốn. Miền Nam sụp đổ, nhiều Tướng Lãnh: Nguyễn Khoa Nam, Phạm Văn Phú, Lê Nguyên Vỹ, Trần Văn Hai, Lê Văn Hưng… và nhiều sĩ quan cao cấp khác đã tự sát trong khung cảnh vô cùng oanh liệt, chưa từng có trong một quân đội, một quốc gia nào trên thế giới.
Hình ảnh những anh hùng vị quốc vong thân, đặt tại đài tưởng niệm trong khu Tượng đài Chiến sĩ Việt-Mỹ ở Little Saigon, thành phố Westminster, CA. (Hình: Paul Bersebach/MediaNews Group/Orange County Register via Getty Images)
Họ không chịu đầu hàng hay để bị bắt làm tù binh. Hàng triệu quân nhân, viên chức chính phủ, nhân vật đảng phái chính trị bị nhốt vào các trại tù cải tạo khổng lồ nơi rừng thiêng, nước độc. Dân chúng ồ ạt bỏ nước ra đi, bỏ hết tài sản, không kể sống chết, thảm họa kinh hoàng trên biển cả… Tất cả là những vấn đề vượt quá khả năng và tầm tay của người Việt Miền Nam chúng ta. Chỉ có các đấng thiêng liêng, chỉ có lịch sử mới hiểu được mà thôi!
Điều đáng mừng cho chúng ta là càng ngày, dân chúng Hoa Kỳ cũng như thế giới loài người càng hiểu ra sự thật của cuộc chiến tranh Việt Nam (mà có những nhà chính trị, giáo sư đại học lẩm cẩm kêu là cuộc nội chiến, tức là người Việt Nam đánh lộn với nhau), một bài học đắt giá, quý báu cho người Việt, cho siêu cường quốc Hoa Kỳ và tất cả các quốc gia nhược tiểu khác trên thế giới.
Nước nhỏ yếu mà chỉ biết trông cậy, giao tất cả vận mệnh dân tộc mình vào tay một nước lớn mạnh khác lo hộ hoàn toàn thì nhiều chuyện nguy hiểm bắt buộc sẽ phải đến. Nước lớn, dù là Đệ Nhất Siêu Cường Quốc mà thiếu chung thủy, coi thường đồng minh, bạn bè, phản bội dễ dàng những người đã từng sống chết với mình trên cùng một chiến tuyến, coi thường Liên Hiệp Quốc là cơ quan quốc tế có thẩm quyền cao nhất để giải quyết những khó khăn, tháo gỡ những rắc rối, tranh chấp điên khùng của loài người ngày nay có nhiều tham lam, ích kỷ, ưa dùng bạo lực, ít biết đến giá trị của hòa bình… thì không được đồng minh, bạn bè chân thành kính nể. Không lúc này thì cũng lúc khác, họ sẽ bị những thế lực thù địch khác, mà tất nhiên có nhiều kẻ thù lớn nhỏ, tìm cơ hội đánh cho những đòn chí mạng, thảm khốc, kinh hoàng.
Gần nửa thế kỷ trôi qua, chúng ta có quyền hy vọng ở tương lai. Thế hệ trẻ Việt Nam, những người yêu nước trong cũng như ngoại quốc, với trình độ kiến thức, hiểu biết rộng rãi về “tiến trình của nhân loại,” hiểu biết về khoa học, kỹ thuật, nhất là với niềm tự hào của một dân tộc tuy nhỏ bé, luôn luôn bị xâm lăng, thống trị dã man, tàn bạo, nhưng không bao giờ đánh mất Niềm Tin vào Tổ Quốc.
Việt Nam từng có những trang sử oanh liệt của Ngô Quyền, Lê Lợi, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Quang Trung Nguyễn Huệ… sẽ mãi mãi muôn đời có mặt trong cộng đồng thế giới tự do, tiến bộ và thật sự văn minh.
(Tháng Tư, 2024 – San Diego)
-Ngày 24 Tháng Ba: Thấy tình thế thuận lợi, cộng sản Hà Nội quyết định chính thức mở màn “Chiến dịch Hồ Chí Minh.” Hà Nội giao cho tướng Văn Tiến Dũng một “thời khoá biểu” phải kịp thời đánh chiếm hoàn toàn Nam Việt Nam trước khi mùa mưa bắt đầu vào Tháng Năm. Muốn vậy, quân Bắc Việt phải vào chiếm Sài Gòn chậm nhất là tuần lễ cuối cùng của Tháng Tư, trước khi quân đội miền Nam có thể tái phối trí lực lượng hầu bảo vệ Sài Gòn và Quân Khu 4 ở miền Tâ

Tổng Bí Thư Đảng Cộng Sản Việt Nam Lê Duẩn và Bộ Chính Trị của Đảng CSVN quyết định tăng cường các cuộc tấn công trên toàn lãnh thổ Nam Việt Nam để phát động một cuộc tổng nổi dậy vào năm 1976. Cộng sản chỉ dám mong điều đó xảy ra vào năm 1976 mà thôi.

Mất mát 30 Tháng Tư, 1975 dấu ấn không thể phai mờ

 Đằng-Giao/Người Việt

LITTLE SAIGON, California (NV) – Gần 50 năm sau ngày thủ đô Sài Gòn thất thủ trong tay Cộng Sản mà cột mốc 30 Tháng Tư, 1975 vẫn là dấu ấn không thể phai mờ trong tâm khảm người cao niên gốc Việt tại thủ đô tị nạn Little Saigon.


Các cựu quân nhân VNCH, Hoa Kỳ và Đồng Minh trong buổi lễ tưởng niệm Tháng Tư Đen tại Tượng Đài Chiến Sĩ Việt-Mỹ, Westminster hôm 27 Tháng Tư, 2024. (Hình minh họa: Đằng Giao/Người Việt)

Bao nhiêu kỷ niệm vui buồn lũ lượt quay về khi gần Ngày Quốc Hận.

Bà Mai Thị Thế, 84 tuổi ở Midway City, còn nhớ rành rành ngày 30 Tháng Tư, 1975 bà cùng gia đình được xe GMC quân đội VNCH chở từ Long Khánh lên Sài Gòn chạy loạn khi Cộng Sản đang trên đường xua quân tiến chiếm Dinh Độc Lập.

“Lúc đó tôi đang có bầu bốn tháng, cả gia đình sáu người, hai vợ chồng và bốn con, dắt díu nhau tới nhà thờ Bắc Hà. Chúng tôi có biết gì đâu, cứ nghĩ ở ngoài đạn bom nguy hiểm, vô nhà thờ an toàn hơn,” bà Thế hồi tưởng. “Cha tốt lắm, chứa chấp cả trăm người, ăn ở la liệt đầy giáo đường. Lúc chúng tôi chuẩn bị về nhà, cha còn phát gạo cho chúng tôi nữa.”

Bây giờ bà Thế không còn nhớ từng chi tiết ngày chạy loạn năm đó, nhưng ấn tượng còn rõ nét trong đầu bà là một sự căng thẳng và sợ hãi tột cùng.

“Sao mà không sợ được. Ngày 30 Tháng Tư là ngày mất nước của mình mà,” bà nói.
“Là người dân Việt Nam, ai mà quên được ngày Sài Gòn bị cưỡng chiếm được.”

Bà Mai Thị Thế không bao giờ quên được những ngày tị nạn ở nhà thờ Bắc Hà trên đường Lý Thái Tổ, quận 10, Sài Gòn. (Hình: Đằng-Giao/Người Việt)

Ông Nguyễn Sâm, ở San Diego, cho rằng chiều 30 Tháng Tư, là ngày ông chứng kiến cảnh tượng hãi hùng nhất trong cuộc đời binh nghiệp của mình.

“Là hạ sĩ quan Thiết Giáp, tôi chạy khỏi Huế hồi Tháng Ba. Tôi cứ đón xe đi từng đoạn ngắn. Đến Sài Gòn là chiều 30 Tháng Tư. Từ trưa, tài xế xe đò dừng xe ven đường để tất cả anh em binh sĩ xuống xin vô nhà dân thay đồ dân sự rồi, nhưng lúc xe lăn bánh vô Sài Gòn, nhìn quân phục, ba lô chất thành đống hai bên đường mà nước mắt tôi cứ chảy ròng,” ông Sâm kể.

“Suốt thời gian tám năm mặc quân phục, tôi mắt thấy tai nghe bao nhiêu tang thương đau khổ mà chưa bao giờ đổ lệ,” ông bùi ngùi. “Vậy mà bữa đó tôi không cầm được nước mắt khi mục kích cảnh cả một quân đội bị khai tử, bị chôn vùi dưới những nấm mồ ba lô và quân phục đó.”

Bao nhiêu chính nghĩa, bao nhiêu hy sinh và bao nhiêu lý tưởng của ông Sâm, cũng như của bao nhiêu quân, dân, cán chính VNCH đã “giẫy chết” ven đường vào Sài Gòn hôm 30 Tháng Tư, 1975, theo ông Sâm.

Ông lắc đầu: “Bây giờ 76 tuổi rồi, nước mắt tôi không trào ra như hồi đó nữa, nhưng cứ nghĩ lại hình ảnh tang thương điêu tàn lúc đó, ruột tôi thắt lại và tôi khóc bên trong. Cả một chế độ sụp đổ mà.”

Ông Quang Nguyễn, ở Santa Ana, cho biết hôm 30 Tháng Tư, 1975 ông đang trên đường từ Pleiku về Sài Gòn.

“Tôi là lính pháo binh đóng quân ở Pleiku và rất nóng ruột về nhà coi gia đình ra sao. Thời buổi loạn lạc, bất trắc xảy ra bất cứ lúc nào. Tôi lo lắng lắm. Ngồi trên xe mà lòng dạ bồn chồn. Tới khi nghe tin Tổng Thống Dương Văn Minh đầu hàng, tôi càng lo hơn,” ông Quang kể. “Chưa bao giờ tôi lo lắng, bồn chồn như bữa đó.”

Bà Nhiệm Trần, ở Garden Grove, có lý do để nhớ mãi Ngày Quốc Hận.

Nỗi lo lắng cho vợ ở Sài Gòn hôm 30 Tháng Tư, 1975 là ấn tượng của ông Quang Nguyễn trên đường về nhà. (Hình: Đằng-Giao/Người Việt)

Bà kể: “Chúng tôi là dân di cư nên rất sợ Cộng Sản. Nhưng nỗi sợ hãi lên đến độ kinh khủng khi 1, 2 giờ chiều, chị giúp việc trong nhà lôi ra một lá cờ trên đỏ dưới xanh, giữa có sao vàng ra treo. Mấy hôm sau tôi mới biết là cờ Giải Phóng Miền Nam. Tôi sợ quá vì lá cờ của chị đã cũ sờn và bạc màu. Chị làm cho chúng tôi hơn năm năm. Không biết trong thời gian qua, mình có lỡ mồm lỡ niệng nói gì mà đến tai ‘họ’ thì ở tù mọt gông.”

Ông Kiệm Nguyễn, ở Tustin, chứng kiến cảnh người bạn đồng ngũ bị bắn gục ở Thị Nghè.

Ông kể: “Như vầy, Đà Nẵng đầu hàng hồi Tháng Ba, hai đứa tụi tôi về Sài Gòn đang chờ lệnh tái động viên nên súng đạn còn nguyên. Trưa đó nghe tin ‘tụi nó’ chiếm Dinh Độc Lập và đài phát thanh Sài Gòn rồi, tụi tôi rủ nhau đem súng ra cầu Thị Nghè liệng xuống sông. Tính ghé cà phê chờ tối rồi liệng.”

Không dè, thấy cảnh bộ đội hung hăng la hét chửi bới ai đó ngoài đường, bạn ông là Nguyễn Phùng Tuấn, chịu không nổi, móc súng chạy ra đường định “thanh toán” tên cán bộ to mồm nhưng vừa đến gần thì bị một tên bộ đội đứng gần đó bắn gục.

“Lính tráng bộ binh tụi tôi thấy cái chết ‘hà rầm’ nhưng bữa đó tôi ngồi chết trân trên ghế, không biết phải làm gì,” ông Kiểm thú nhận. “Có lẽ vì tôi sợ. Tôi nghĩ vậy.”

Cũng có người không có cảm xúc gì về ngày 30 Tháng Tư vì lúc đó họ còn quá nhỏ.

Bà Lãng Nguyễn, ở Torrance, cười: “Tôi biết 30 Tháng Tư, 1975 là ngày mất Sài Gòn nhưng tôi không cảm thấy sự mất mát. Tôi sinh năm 1970 nên không biết gì để so sánh.”

Sinh viên Scotty Trương, 21 tuổi, ở Huntington, nói: “Cháu chỉ biết ngày nước Mỹ độc lập là July, 4, 1776 thôi.”

Trong lúc đó, đối với những người lớn đủ, Ngày Quốc Hận luôn là ngày đau buồn.

Ông Trần Trọng, bệnh nhân vĩnh viễn của viện dưỡng lão Mission Palm, Westminster, có một kỷ niệm không bao giờ quên được với ngày 30 Tháng Tư, 1975 vì đó là ngày ông rời Việt Nam.

Câu chuyện của ông xảy ra trước đó mấy năm rồi mới dẫn đến chuyện rời Việt Nam.

Từ lâu, gia đình ông ở khu Phú Thọ Hòa.

“Hồi Mậu Thân, trong một ngày, tôi bị thương ba lần. Lần đầu, đang ở trong nhà thì nhà tôi bị pháo kích bể một khoảng ngói lớn và tôi bị miểng đạn nhỏ ghim vào chân trái, rất đau nhưng tôi chịu đựng được. Băng bó xong, tôi theo gia đình di tản ra khỏi khu vực Phú Thọ Hòa vì đó là ổ Cộng Sản nằm vùng,” ông Trọng hồi tưởng.

Ông Trần Trọng rời Việt Nam ngày 30 Tháng Tư, 1975. (Hình: Đằng-Giao/Người Việt)

Buổi chiều, trên đường khập khễnh đi, ông Trọng bị trúng đạn từ máy bay bắn xuống.

“Tôi chỉ nhớ máy bay của ‘mình’ có hai chong chóng bay rất thấp. Họ bắn Việt Cộng và tôi xui nên bị lạc đạn thôi. Khu này nổi tiếng là căn cứ Việt Cộng mà,” ông tiếp. “Lần này tôi bị đạn vào vai trái. Đạn nhỏ li ti nên không đau lắm nhưng khó chịu.”

Tối hôm đó, gia đình ông đang ngủ ở nhà người quen thì bị pháo kích.

Ông thở dài: “Cả nhà đang nằm trong mùng thì ba tôi bị tức hơi của đạn pháo kích chỉ la lên một tiếng lớn rồi chết tại chỗ. Tôi nằm kế bên, bị một miểng đạn ghim vào sau cổ, làm tê liệt hai chân.”

Vì liệt hai chân ở tuổi 16, ông được các linh mục ở nhà thờ nhận nuôi và đúng hôm 30 Tháng Tư, 1975, ông cùng hơn 200 thanh niên khuyết tật di tản sang Mỹ.

“Làm sao mà tôi quên được ngày đó, ngày tôi vĩnh viễn xa Việt Nam,” ông Trọng lắc đầu.

Những người còn giữ được dấu ấn 30 Tháng Tư, 1975 trong lòng ngày càng luống tuổi và lớp tuổi từ 55 trở xuống đang quên dần ngày lịch sử ấy. [đ.d.]