Showing posts with label XaHoi-TapChi-DienDanKinhTe. Show all posts
Showing posts with label XaHoi-TapChi-DienDanKinhTe. Show all posts

Friday, March 15, 2019

Đầu tư vào Mỹ vì tấm thẻ xanh

Theo RFA- Xuân Nghĩa -2019-03-13   
Tượng Nữ thần Tự do là biểu tượng cho mục đích đến Mỹ của di dân
Tượng Nữ thần Tự do là biểu tượng cho mục đích đến Mỹ của di dân- AFP
Hôm Thứ Ba mùng năm Tháng Ba tuần trước, nhật báo The Wall Street Journal của Hoa Kỳ có một bài viết khá lạ kỳ, theo đó, ngành phát triển địa ốc Mỹ đang tìm tới giới đầu tư tại Việt Nam vì một lợi thế là tư bản rẻ. Diễn đàn Kinh tế sẽ tìm hiểu về chuyện này….

Đầu tư và di dân

Nguyên Lam: Ban Việt ngữ đài Á Châu Tự Do và Nguyên Lam xin kính chào kinh tế gia Nguyễn-Xuân Nghĩa. Sau một tháng nghỉ phép, Nguyên Lam xin được trở lại với tạp chí Diễn đàn Kinh tế và xin được hỏi chuyên gia kinh tế Nguyễn-Xuân Nghĩa về một bài báo tuần trước trên tờ The Wall Street Journal liên hệ tới việc ngành phát triển địa ốc của Mỹ đang chiêu dụ giới đầu tư từ Việt Nam vì một lợi thế là nguồn tư bản rẻ. Dù bản tin ít được chú ý, người ta cũng thấy một sự lạ là giới đầu tư tại Việt Nam đang được mời chào vào một mảng thị trường của Mỹ. Theo dõi chuyện này, ông giải thích thế nào cho thính giả của chúng ta?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Trước hết, chúng ta có thể tham khảo bài viết của kỷ giả Konrad Putzier theo mạch dẫn sau đây:
- Sau khi tìm hiểu sự kiện, tôi thấy ra nhiều yếu tố đáng chú ý vì tính chất rắc rối. Đầu tiên, Hoa Kỳ có một quy chế mới từ Đạo Luật Di Dân (Immigration Act of 1990) do Tổng thống George H. W. Bush ban hành vào cuối năm 1990 theo đó  Mỹ lập ra phương pháp cho phép giới đầu tư nước ngoài có cơ hội là “thường trú nhân” tại Hoa Kỳ, nôm na là “có thẻ xanh” hay “green card”. Quy chế này được gọi tắt là “Hộ chiếu EB-5” hay EB-5 Visa, là tiếp nhận di dân vì cơ sở nhân dụng hay “employment-base”, thuộc loại ưu tiên thứ năm. Muốn hưởng quy chế đó, nhà đầu tư ngoại quốc phải đem vào tối thiểu một triệu đô la để tài trợ một doanh nghiệp có tiềm năng tạo ra ít nhất là 10 việc làm tại Mỹ. Một khoản đặc miễn là chỉ đầu tư chừng nửa triệu đô la thôi trong một khu vực nhân dụng ưu tiên hay “Targeted Employment Area”, TEA, như nông thôn hay vùng bị thất nghiệp cao.
- Hai mục tiêu cơ bản của quy chế tiếp nhận di dân này là khuyến khích đầu tư của nước ngoài và tăng trưởng kinh tế. Người nước ngoài muốn tham gia chương trình đó phải hoặc tự đầu tư lấy hoặc hùn vốn vào một trung tâm địa phương có nguồn tư bản lớn hơn đã được Sở Di Trú thuộc Bộ Nội An Hoa Kỳ chấp nhận.
Muốn hưởng quy chế tiếp nhận di dân vì cơ sở nhân dụng hay “employment-base”, nhà đầu tư ngoại quốc phải đem vào tối thiểu một triệu đô la để tài trợ một doanh nghiệp có tiềm năng tạo ra ít nhất là 10 việc làm tại Mỹ. Một khoản đặc miễn là chỉ đầu tư chừng nửa triệu đô la thôi trong một khu vực nhân dụng ưu tiên hay “Targeted Employment Area”, TEA, như nông thôn hay vùng bị thất nghiệp cao.
-Nguyễn Xuân Nghĩa
Nguyên Lam: Chúng ta đều biết mỗi khi phân tích một hồ sơ, kinh tế gia Nguyễn-Xuân Nghĩa thường tìm ngược lên bối cảnh sâu xa của vấn đề, nhưng ít ai ngờ là câu chuyện đầu tư còn liên hệ đến quy chế di dân. Xin đề nghị ông trình bày thêm.
Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Hồ sơ EB-5 này khá phức tạp và vẫn đang gây tranh cãi, nhưng ta nên tìm hiểu tiếp về bài báo nói trên. Giới đầu tư ngoại quốc hưởng ứng chương trình này thường nhắm vào  khu vực địa ốc hay các ngành tạo ra việc làm và đa số là nhà đầu tư Trung Quốc. Chẳng hạn như theo cuộc khảo sát của Savills Studleys, một doanh nghiệp cung cấp dịch vụ địa ốc Mỹ, thì vào năm 2014, có 10.692 nhà đầu tư ngoại quốc được thẻ xanh qua chương trình đó mà 9.128 người là đến từ Trung Quốc, chiếm tỷ lệ rất cao là 85,4%. Vào thời gian đó tỷ lệ của người Việt chỉ ở khoảng 1% mà thôi - theo Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ là 121 người.
Nguyên Lam: Tức là năm năm trước, nhà đầu tư Việt Nam chưa có gì là đáng cho người ta chú ý và các đại gia Trung Quốc mới gây ra chuyển động. Thế rồi, thưa ông, vì sao giới đầu tư của Việt Nam lại đang được người ta chiếu cố?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Theo các cuộc khảo sát năm năm trước thì có bốn nước tham gia nhiều nhất vào chương trình đầu tư và di trú này, là Trung Quốc. Nam Hàn, Đài Loan và Vương quốc Anh Thống nhất, với Trung Quốc dẫn đầu.
- Bây giờ, ta bước qua khía cạnh kinh tế là quy luật cung cầu. Sau khi tràn ngập thị trường địa ốc Mỹ vì doanh lợi hay vì yêu cầu di trú, giới đầu tư có lắm tiền của Trung Quốc lại đụng vào đỉnh. Quy chế EB-5 có hạn ngạch cho giới đầu tư của từng quốc gia để không xứ nào có thể khống chế thị trường Mỹ. Hạn ngạch đó dẫn tới hậu quả là thời gian chờ đợi để được thẻ xanh. Ban đầu, nhà đầu tư từ Trung Quốc chỉ đợi dăm ba tháng, nhưng theo Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ thì người đệ nạp hồ sơ vào Tháng 10 của năm 2018 vừa qua có thể chờ đợi 14 năm!
- Chúng ta cũng nên kể thêm hai yếu tố tác động khác, là nhiều cơ sở phát triển địa ốc Mỹ bị phá sản sau khi nhận tiền của giới đầu tư nước ngoài theo quy chế EB-5, tức là đã có vi phạm quy luật kinh doanh hay luật lệ và cơ quan thẩm xét đầu tư chứng khoán là SEC đã có điều ta. Thứ hai là mâu thuẫn gia tăng giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc. Vì vậy, số lượng doanh gia Trung Quốc tham gia quy chế EB-5 này tuột dốc thê thảm. Nhưng cũng nhờ đó mà giới đầu tư từ Việt Nam trở thành đối tượng được các cơ sở phát triển địa ốc Mỹ chiếu cố.
Nguyên Lam: Thưa ông, ngoài yếu tố chủ quan là vấn đề trong ngành phát triển địa ốc tại Hoa Kỳ, phải chăng người ta còn thấy ra một yếu tố khách quan khác? Như đà tăng trưởng cao của kinh tế Việt Nam và sự xuất hiện của một thành phần người Việt có tiền đầu tư ra nước ngoài, ông nghĩ sao về chuyện này?
Tòa nhà Chrysler ờ thành phố New York đang được rao bán.
Tòa nhà Chrysler ờ thành phố New York đang được rao bán. AFP
Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Thưa rằng có hai yếu tố khách quan nói trên, chưa kể tới sự kiện là Việt Nam và Hoa Kỳ đang cải tiến quan hệ song phương như bài báo đã viết. Ngoài ra, tôi thiển nghĩ còn có một hiện tượng sâu xa trong chế độ di trú của Hoa Kỳ, là xã hội Mỹ e ngại di dân đến từ Trung Quốc nên ngấm ngầm nhận di dân từ Việt Nam. Sau 1975, chúng ta ít thấy xuất hiện các “China Town” trong khi những trung tâm gọi là “Little Saigon” lại mọc như nấm.
- Trở lại bài báo tuần qua của tờ Wall Street Journal, tác giả nói đến hai yếu tố khác. Thứ nhất là người Việt Nam khó được hộ chiếu hay chiếu khán vào Mỹ; thứ hai là nỗi lo bất ổn kinh tế và chính trị tại Việt Nam khiến ai có tiền đều tìm một bãi đáp khác ở nước ngoài. Vì vậy, họ tìm cách đầu tư vào thị trường Mỹ và chấp nhận một mức lời thấp hơn. Với các cơ sở phát triển địa ốc Mỹ, đấy là một nguồn tài trợ rẻ hơn, và là trọng tâm của bài báo.

Tình hình có lac quan?

Nguyên Lam: Nhìn từ giác độ của người Việt Nam nói chung, ông nhận xét thế nào về câu chuyện quá rắc rối này?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Thứ nhất, Hoa Kỳ hình thành và phát triển nhờ di dân nhưng mỗi thành phần tiếp nhận di dân lại chú ý tới một số khía cạnh có lợi cho họ nên thể hiện thành chính sách nhập cư với nhiều hậu quả bất ngờ khác nhau.
- Do đó, Hoa Kỳ ngày nay mới có cuộc tranh luận về chính sách di dân với những lý luận chủ quan, đôi khi có tà ý. Thí dụ điển hình của gian ý chính trị là việc nước Mỹ dưới sự lãnh đạo của ông Donald Trump có chủ trương kỳ thị di dân gốc Việt và đòi trục xuất những người vi phạm luật lệ về nước. Điều này rất sai nhưng không thuộc phạm vi kinh tế của diễn đàn chúng ta.
- Thứ hai, đặc tính thực dụng của xã hội Hoa Kỳ khiến họ tiếp nhận di dân có lợi cho nước Mỹ trong khi vẫn nói về giá trị nhân bản của việc đón nhận thành phần cùng khốn trên thế giới. Giá trị nhân bản đó là điều có thật, nếu chúng ta nhớ tới người tỵ nạn Việt Nam sau biến cố 1975, nhưng không thể quên rằng họ đã từng bị kỳ thị và ngăn chặn vì lý do chính trị trong chính trường Hoa Kỳ vào thời đó.
- Đâm ra nước Mỹ có hai ba mặt khác biệt, một là dân Mỹ hằng tâm hằng sản rất bao dung cứu giúp người khác, nhưng Chính quyền Hoa Kỳ lại nghĩ tới quyền lợi sâu xa của nước Mỹ và nhiều vị dân cử trong chính quyền đó thì lo cho việc tái đắc cử. Và mặt thứ ba là các doanh gia Mỹ rất bén nhạy nhìn ra cơ hội làm tiền. Cơ hội đó là các đại gia có tiền tại Việt Nam muốn tìm một bãi đáp tại Mỹ.
Nguyên Lam: Nếu Nguyên Lam hiểu không lầm về mấy điểm tổng kết vừa qua của ông  thì hình như ông không mấy lạc quan. Có phải như vậy không?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Doanh trường có nhiều cơ sở bị phá sản vì tội lạc quan!
Nếu muốn vào Mỹ vì mục tiêu di trú thì nên tìm tới văn phòng luật sư am hiểu các quy định phức tạp của lĩnh vực này và chịu trả giá cho việc đó mà đừng lách luật vì sẽ rách việc.-Nguyễn Xuân Nghĩa
- Người ta có thể lạc quan, rằng vì mâu thuẫn giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc, các đại gia Việt Nam sẽ thay thế Trung Quốc tìm ra bãi đáp an toàn tại Mỹ để vừa có thẻ xanh cho gia đình vừa có cơ hội làm giàu trên thị trường địa ốc Hoa Kỳ tại New York hay California, vốn dĩ không là các khu vực nông thôn hay nơi có mức thất nghiệp cao. Sự thật là ngoài các doanh gia bén nhạy tại Mỹ khéo chiêu mộ giới có tiền để làm giàu cho chính họ, các vấn đề có sẵn trong quy chế nhập cư EB-5 sẽ gây ra thay đổi, như tiền đầu tư chẳng là nửa triệu mà cao hơn, hay thời hạn để có thẻ xanh sẽ là năm bảy năm, bất kể tới quốc tịch của nhà đầu tư.
Nguyên Lam: Kết luận của ông về bài báo của tở Wall Street Journal và về triển vọng đầu tư tại Hoa Kỳ của người Việt Nam là như thế nào?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Về đại thể, đầu tư là hiện tượng “nước chảy chỗ trũng”, là giới có tiền luôn luôn tìm cách kiếm thêm tiền, sau khi nghiên cứu để xác định nơi đầu tư có lợi nhất. Trong vụ này, giới đầu tư từ Việt Nam có hai mục tiêu là 1/ gia đình được quy chế thường trú nhân tại Mỹ, mà 2/ vẫn tốn ít tiền hay mất ít thời giờ chờ đợi hơn là qua ngả khác trong khi vẫn có triển vọng làm giàu thêm.
- Câu hỏi cần nêu ra là vì sao họ lại cần tìm bãi đáp tại Hoa Kỳ khi Việt Nam đang có đầy triển vọng như người ta vẫn nói?
- Thứ hai, muốn vào Mỹ với cánh rừng luật lệ bạt ngàn thì… “rừng nào cọp nấy”. Nếu muốn vào vì mục tiêu di trú thì nên tìm tới văn phòng luật sư am hiểu các quy định phức tạp của lĩnh vực này và chịu trả giá cho việc đó mà đừng lách luật vì sẽ rách việc. Từ đấy, bước kế tiếp mới là chọn ngả đầu tư qua diện EB-5 và đi vào một cánh rừng khác mà bài báo của tờ Wall Street Journal tuần qua nói tới. Khi đó người ta hiểu ra vai trò của các trung tâm hay cơ sở phát triển địa ốc Hoa Kỳ. Họ mời chào giới đầu tư Việt muốn vào Mỹ vì lý do nhập cư nên chờ đợi mức lời thấp khiến giới đầu tư sẽ là nguồn lợi cao cho các trung tâm này….
- Sau cùng, mọi ngành đầu tư đều nói đến “trào lưu thăng giáng” là lời và lỗ. Sau làn sóng Trung Quốc, trào lưu đầu tư để nhập cư vào Mỹ theo quy chế EB-5 vừa mở ra cho người Việt, nhưng cũng có nhiều rủi ro bất ngờ. Nếu theo dõi tình hình kinh tế Hoa Kỳ và di dân vào Mỹ, có lẽ nhà đầu tư Việt Nam sẽ đánh giá rủi ro chính xác hơn. Và may cho họ, Hoa Kỳ có một cộng đồng người Việt rất đông và rất am hiểu văn hóa và luật lệ Hoa Kỳ, kể cả trong lĩnh vực di trú và địa ốc.
Nguyên Lam: Ban Việt ngữ đài Á Châu Tự Do cùng Nguyên Lam xin cảm tạ chuyên gia kinh tế Nguyễn-Xuân Nghĩa về kết luận này.

Tuesday, January 29, 2019

Venezuela và những món nợ đáng tởm

Nguyễn Xuân Nghĩa 
Theo RFA-2019-01-29  
Tỉ giá hối đoái trong ngày 29 tháng 1,2019 cho thấy sự chênh lệch quá lớn giữa đồng Boliviar của Venezuela và Mỹ kim
Tỉ giá hối đoái trong ngày 29 tháng 1,2019 cho thấy sự chênh lệch quá lớn giữa đồng Boliviar của Venezuela và Mỹ kim-AFP
Khi chế độ độc tài vay tiền ngoại bang để mua sợi dây treo cổ người dân rồi bắt nạn nhân rồi con cháu họ phải trả nợ thì điều ấy có công bằng không? Đấy là cách đặt vấn đề sau khi chúng ta hiểu ra bối cảnh của chuyện Venezuela….

Khủng hoảng tại Venezuela

Nguyên Lam: Ban Việt ngữ đài Á Châu Tự Do và Nguyên Lam xin kính chào kinh tế gia Nguyễn-Xuân Nghĩa. Thưa ông, kể từ đầu năm 2014, xứ Venezuela tại Nam Mỹ lâm vào một vụ khủng hoảng kinh tế chưa từng thấy ở bất cứ nơi nào, với Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế IMF dự đoán năm ngoái là lạm phát lên tới 10 triệu phần trăm và người dân đói ăn phải moi thùng rác tìm lương thực khi bạo lực và tham nhũng hoành hành khắp nơi. Nhưng từ mươi ngày qua, cuộc khủng hoảng lên tới chính trị, khi Chủ tịch Hạ viện được bầu lên từ đầu năm 2015 đã căn cứ trên Hiến pháp mà tuyên bố là tạm xử lý trách nhiệm của tổng thống, trong khi ông Nicolás Maduro vẫn giữ vai trò Tổng thống sau một cuộc bầu cử được đa số cho là có gian lận. Lập tức, vào tuần trước, Chính quyền Hoa Kỳ cùng nhiều nước dân chủ đã công nhận Chủ tịch Hạ viện Juan Guiando là Quyền Tổng Thống, trong khi Liên bang Nga và Trung Quốc và vài xứ khác vẫn cố bênh vực chế độ Maduro. Ngày Thứ Hai 28 vừa qua, Chính quyền Mỹ tăng áp lực và phong tỏa nguồn giao dịch của tập đoàn dầu khí quốc doanh có tên tắt là PDVSA và chi nhánh Mỹ của doanh nghiệp này là công ty Citgo tại Houston. Tình hình Venezuela có thể biến chuyển nhưng câu hỏi được người ta nêu lên là sau này ai sẽ thanh toán các món nợ của chế độ độc tài Venezuela?
Chế độ độc tài vay tiền ngoại bang để mua sợi dây treo cổ người dân rồi bắt nạn nhân và con cháu họ phải trả nợ thì điều ấy có công bằng không?
-Nguyễn Xuân Nghĩa
Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Trước hết, về bối cảnh thì Venezuela có lắm tài nguyên tại Mỹ Châu La Tinh, với trữ lượng dầu hỏa cao nhất thế giới, chiếm tới 95% số xuất khẩu, đa số là bán vào thị trường Mỹ. Nhưng xứ này chưa có cơ chế dân chủ trừ 40 năm ngắn ngủi từ 1959 tới 1999. Từ năm đó, sau khi ông Hugo Chavez nắm quyền và tiến hành cách mạng cộng sản thì Venezuela tụt hậu và sau khi Chavez mắc bệnh và tạ thế năm 2013 thì xứ này tụt dốc. Ngày nay, tổng sản lượng toàn năm của hơn 30 triệu dân chưa tới 100 tỷ đô la, lợi tức bình quân một người sụt hai phần ba, chỉ còn chừng ba ngàn đô la và 87% dân chúng sống dưới mức bần cùng, đói ăn thiếu thuốc và thực sự sống trong cảnh địa ngục trần gian.
- Chúng ta không có thời lượng để nói về nguyên nhân của thảm kịch, trừ sự kiện là chế độ Hugo Chavez rồi Nicolás Maduro đã lấy tài nguyên trời cho để chia cho tay chân, kể cả bộ máy an ninh và quân đội sau khi quốc hữu hóa ngành dầu khí. Ngày nay, Venezuela đang mắc nợ có thể hơn 150 tỷ đô la và khó dùng dầu khí trả nợ cho các xứ độc tài đã bảo vệ mình, như Nga và Trung Quốc.

Những món nợ đáng tởm

Nguyên Lam: Nguyên Lam xin đi ngay vào các món nợ đó mà người dân xứ này sẽ phải thanh toán trong tương lai, thí dụ như dưới dạng dầu khí hay bằng cách nào khác. Chế độ độc tài đã tàn phá kinh tế và xã hội, thưa ông, khi nền dân chủ tái xuất hiện sau này, thì ai sẽ thanh toán những món nợ đó?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Chúng ta lại phải trở về một bối cảnh còn xa xưa hơn nữa và nói đến “những món nợ đáng tởm”.
Lần đầu tiên mà vấn đề được đặt ra rồi trở thành án lệ là tiền lệ pháp lý làm cơ sở cho các phán quyết về sau, do giáo sư luật khoa Alexander Nahum Sack tại Paris vào năm 1927, cách nay hơn 90 năm. Là Tổng trưởng của chế độ Sa hoàng Nga, ông Sack lưu vong tại Pháp sau cuộc cách mạng cộng sản năm 1917, và trở thành giáo sư. Khi chính quyền Xô Viết thẳng tay phủ nhận mọi khoản nợ của chế độ Sa hoàng, ông nghiên cứu chuyện nợ nần sau mỗi lần thay đổi chế độ và thấy nhiều khoản nợ chính đáng mà chế độ sau không thể xoá bỏ và thoái thác. Nhưng cũng có những khoản nợ không chính đáng mà chế độ mới có thể nhân danh quyền lợi người dân để chối bỏ. Từ "dettes odieuses" do Alexander Sack đặt ra là tiếng Pháp, sau này mới được dịch qua Anh ngữ là "odious debts".
- Chuyện này sở dĩ trở thành án lệ vì xảy ra nhiều lần tại Âu Châu và nơi khác sau khi chế độ thực dân cáo chung, nhiều quốc gia giành lại độc lập rồi gặp nạn độc tài quân phiệt, phát xít, cộng sản, và chuyển sang dân chủ. Khi có thay đổi chế độ trên một lãnh thổ thì phải xử lý thế nào về khoản nợ cũ để khỏi gây khủng hoảng dây chuyền trong luồng giao dịch quốc tế với nhau? Về nguyên tắc, chế độ mới phải tôn trọng các cam kết vay mượn của chế độ cũ thì mới có thể nói chuyện giao dịch bình thường. Trong thực tế, giáo sư Sack cho rằng các khoản nợ không thật sự phục vụ người dân thì phải được coi là bất chính và đáng tởm.
Chủ tịch Quốc hội Venezuela Juan Guaido và Tổng thống Nicolas Maduro.
Chủ tịch Quốc hội Venezuela Juan Guaido và Tổng thống Nicolas Maduro. AFP
Nguyên Lam: Ông nói tới chuyện xa xưa, liệu ngày nay còn xứ nào công nhận chuyện ấy không?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Thật ra giáo sư luật khoa gốc Nga này không phát minh ra lý luận đó mà chỉ áp dụng những trường hợp xảy ra từ trước, vào cuối thế kỷ 19 tại Nam Mỹ và đầu thế kỷ 20 tại Âu Châu, chủ yếu là do tác động của Hoa Kỳ rồi các nước khác.
- Số là sau cuộc chiến giữa Hoa Kỳ và Đế quốc Tây Ban Nha, thuộc địa Cuba của Tây Ban Nha được giải phóng. Nhân danh quyền lợi của dân Cuba, Hoa Kỳ vận động việc chối bỏ các khoản nợ mà Hoàng đế Maximilan của Tây Ban Nha đã vay các nước Anh, Pháp, Bỉ để củng cố chính quyền tại Cuba và tài trợ nhu cầu chiến tranh của Tây Ban Nha. Vì vậy, sau Hòa ước Paris năm 1898, Tây Ban Nha đành xác nhận rằng trước năm 1860 đã lấy tài nguyên của Cuba để yểm trợ chiến tranh ở Âu Châu và từ 1861 đến 1880 thì chính quyền của họ tại Cuba đã đi vay để bành trướng ảnh hưởng qua Mexico và nơi khác. Sau năm 1880 lại còn vay thêm để trả nợ cũ và để bảo vệ quyền lực của họ tại Cuba. Vì vậy, Hoa Kỳ và Cuba chẳng trả một đồng dù các chủ nợ tại Âu Châu có phàn nàn và phản đối!
Nguyên Lam: Câu chuyện này thật ly kỳ vì dẫn ta về xứ Cuba, một xứ cộng sản đang cố bảo vệ chế độ Maduro của Venezuela. Xin đề nghị ông giải thích tiếp!
Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Phải nói là án lệ tại Cuba từ sau cuộc chiến Hoa Kỳ với Tây Ban Nha vào cuối thế kỷ 19 còn tái diễn tại Âu Châu sau Thế chiến I: Thỏa ước Versailles kết thúc Đại chiến năm 1919 có khoản quy định là Ba Lan không phải trả các khoản nợ do Đức-Phổ vay mượn để chiếm đóng xứ này!
- Sau đó, trong vai trò tài phán cuộc tranh tụng về món nợ của chế độ độc tài Frederico Tinoco tại Costa Rica với ngân hàng Royal Bank of Canada, Chủ tịch Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ (cũng là cựu Tổng thống Mỹ), Howard Taft cũng ra phán quyết tương tự: ngân hàng chủ nợ đã biết mục tiêu đi vay của chính quyền Tinoco là bất chính nên chế độ mới có quyền phủ nhận món nợ này. Bối cảnh ấy cho thấy các "món nợ đáng tởm" đã được quốc tế chú ý từ lâu, và trở thành một nền tảng của công pháp quốc tế trong quan hệ tài chánh giữa các quốc gia.
Nguyên Lam: Chúng ta đã qua Thế kỷ 21, thưa ông, trong thế kỷ 20, người ta có những vụ kiện nào về các khoản nợ không chính đáng đó không?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Trong Thế kỷ 20, các nước đã có ba chục vụ kiện liên quan đến các khoản nợ đó, nổi tiếng và gần gũi nhất là vụ Hoa Kỳ tranh cãi cho chính quyền mới tại Iraq để phủ nhận mấy trăm tỷ đô la mà chế độ Saddam Hussein đã vay các nước khác, kể cả các nước Âu Châu, để bảo vệ quyền lực và đàn áp người dân!
Giới chuyên gia về luật pháp và tài chánh có thể nghiên cứu và chuẩn bị để sau này dân Venezuela khỏi trả nợ oan uổng cho một chế độ đáng ghê tởm! Và bài học sắp tới của Venezuela cũng là điều mà người Việt mình nên suy ngẫm cho tương lai
-Nguyễn Xuân Nghĩa 
- Đáng nói hơn thế, trên chính trường và trong doanh trường của các nước, cả hai xu hướng thiên tả và bảo thủ đều có lúc ủng hộ việc vận động ấy. Mục tiêu thật ra rất đa dạng: nhằm xoá nợ cho các nước nghèo - như quan điểm của Giáo hội Vatican với“chương trình “Jubilee 2000” – hoặc hỗ trợ các chế độ dân chủ mới thành hình, ngăn cản hiện tượng vay tiền để tài trợ khủng bố, giải trừ nạn tham ô của các tổ chức quốc tế khi nhắm mắt trước các nghiệp vụ tài trợ bất chính, v.v... Mỗi xu hướng lại quan tâm đến một khía cạnh và hiểu ra sự nhạy cảm của họ là tìm ra cách vận động hữu hiệu trong một hệ thống luật lệ phức tạp.

Bài học cho Việt Nam

Nguyên Lam: Chúng ta trở lại chuyện Venezuela, thưa ông, trong tương lai thì tình hình của các khoản nợ này sẽ xoay chuyển ra sao?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Các lực lượng đấu tranh cho dân chủ tại Venezuela học kinh nghiệm thất bại của họ từ những năm 2002 là phân tán, thiếu phối hợp và không xuống tới quần chúng nên lần này đã có nhiều cuộc tiếp xúc với dân chúng từ dưới cơ sở và vận động quốc tế khiến cuộc khủng hoảng kéo dài từ năm năm có thể sẽ có kết quả. Khi để mất lòng dân, chế độ Maduro biến chất ra ách độc tài và bị lân bang kết án nên sẽ khó tồn tại, nhất là khi binh lính trong quân đội cũng là nạn nhân của tình trạng đói khổ. Từ những bài học đó, những người lãnh đạo Venezuela sau này cũng nghĩ đến gánh nợ sẽ phải trả cho chế độ tiền nhiệm.
- Tôi nghĩ hoạt động quốc tế vận của họ sẽ giải thích và thương thảo rằng việc trừng phạt của các nước cần nhắm vào tay chân của chế độ cũ chứ không thể làm người dân là nạn nhân của việc phong tỏa kinh tế. Sau đó là nêu câu hỏi then chốt, rằng khi chế độ độc tài vay tiền ngoại bang để mua sợi dây treo cổ người dân rồi bắt nạn nhân và con cháu họ phải trả nợ thì điều ấy có công bằng không?
Nguyên Lam: Nhưng chủ nợ của Venezuela là các cường quốc độc tài hay các ngân hàng quốc tế có dễ gì xóa nợ hay bị mất vốn hay không?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Thế giới đã nghiên cứu và nâng trình độ pháp lý tinh vi để khai triển thành một học thuyết có cơ sở khai thông các vấn đề tài chánh khi một chế độ độc tài chuyển sang một chế độ dân chủ. Chuyện quan trọng ở đây gồm có ba điều kiện đã được quốc tế công nhận. Thứ nhất khoản nợ xuất phát từ một chế độ độc tài đã cam kết bí mật, ngoài sự hiểu biết của người dân. Thứ hai, khoản vay mượn không đem lợi ích cho người dân mà chỉ tập trung vào tay chân của chế độ. Thứ ba, các chủ nợ đều có biết khi thương thuyết mà vẫn cho chế độ vay tiền. Rất nhiều khoản nợ của Venezuela đã hội đủ ba điều kiện ấy nên trong một tương lai không xa, giới chuyên gia về luật pháp và tài chánh có thể nghiên cứu và chuẩn bị để sau này dân Venezuela khỏi trả nợ oan uổng cho một chế độ đáng ghê tởm! Và bài học sắp tới của Venezuela cũng là điều mà người Việt mình nên suy ngẫm cho tương lai…
Nguyên Lam: Ban Việt ngữ đài Á Châu Tự Do cùng Nguyên Lam xin cảm tạ chuyên gia kinh tế Nguyễn-Xuân Nghĩa về bài phỏng vấn kỳ này.

Wednesday, January 2, 2019

Ra khỏi bóng rợp của Trung Quốc

Theo RFA-Nguyễn Xuân Nghĩa-2019-01-02  
Làm thế nào để Việt Nam thoát Tầu?
Làm thế nào để Việt Nam thoát Tầu?-AFP
Làm sao ra khỏi bóng rợp kinh tế của Trung Quốc? Câu hỏi đó ám ảnh nhiều người Việt ở trong và ngoài nước. Mở đầu một năm mới, Diễn đàn Kinh tế sẽ trình bày một số giải đáp từ chuyên gia Nguyễn-Xuân Nghĩa, tư vấn kinh tế cho đài Á Châu Tự Do từ Tết Đinh Sửu, 22 năm về trước….

Nhìn lại lịch sử

Nguyên Lam: Ban Việt ngữ đài Á Châu Tự Do và Nguyên Lam xin kính chào kinh tế gia Nguyễn-Xuân Nghĩa trong buổi phát thanh đầu năm 2019. Thưa ông, tiếp theo chương trình tuần trước về những ưu tiên kinh tế của Việt Nam, kỳ này, Nguyên Lam xin tìm hiểu tiếp về những việc cụ thể nếu như Việt Nam muốn thoát khỏi tình trạng quá lệ thuộc vào kinh tế của Trung Quốc.
Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi xin được gọi ước muốn chính đáng ấy là “ra khỏi bóng rợp Trung Quốc” và xin đi từng bước vào lĩnh vực kinh tề thuần túy vốn là tôn chỉ của tiết mục. Nhưng vì sao ta lại có nhu cầu thoát Tầu, hay “Thoát-Hoa”? Có lẽ câu trả lời nằm trong lịch sử kinh tế nếu chúng ta lạnh lùng nhìn lại.
Nguyên Lam: Quý thính giả của chúng ta có thể hỏi rằng ông thấy là nên nhìn lại như thế nào?
Kinh tế Việt Nam lên hay xuống chỉ là hậu quả của việc đầu tư quốc tế tràn vào hay chảy ra thôi. Không xứ độc lập nào muốn vậy vì đẩy lao động vào lực lượng gia công cho nước ngoài thì cũng là mất chủ quyền.
-Nguyễn Xuân Nghĩa
Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Hơn 60 mươi năm trước, thời Chiến Tranh Lạnh, nhiều quốc gia chậm tiến hay đang phát triển đã lầm tưởng mô hình phát triển kinh tế kiểu cộng sản là phép thần kỳ khiến kinh tế Liên bang Xô viết sẽ đuổi kịp và vượt qua xứ dân chủ tiên tiến nhất là Hoa Kỳ. Chính lãnh tụ Nikita Krushchev đã hăm như vậy và nhiều kinh tế gia Tây phương cũng nghĩ thế. Rốt cuộc thì đúng 30 năm trước, kinh tế Liên Xô khủng hoảng và xứ này tan rã. Cũng thế, 40 năm xưa, người ta từng tiên đoán là kinh tế Nhật Bản sẽ vượt Mỹ đến độ xã hội Hoa Kỳ có phong trào sợ Nhật và bài bác Nhật. Vậy mà sau đó kinh tế Nhật sa sút trong mấy chục năm và nay vẫn chưa phục hồi. Tương lai không thể là một đường tuyến vạch ra từ quá khứ, nhưng quá khứ cũng cho ta nhiều bài học nếu biết.
- Nói đến chuyện ngày nay, ta thấy lý luận sai lầm tương tự, rằng với đà tăng trưởng ngoạn mục sau khi ông Đặng Tiểu Bình tiến hành kế hoạch cải cách và khai phóng cách nay 40 năm, kinh tế Trung Quốc sẽ vượt Hoa Kỳ, chẳng vào năm 2025 thì vào năm 2040. Vì vậy, một số người Việt Nam cho là nên học mô thức Trung Quốc sau khi thấy mô thức Liên Xô sụp đổ, họ gọi đó là “đổi mới”.
- Quan niệm ấy sai vì 1/ Việt Nam không là Trung Quốc hay một quận huyện của xứ láng giềng này, và 2/ vì mô thức Trung Quốc đang sụp đổ, mà có khi còn thua kinh tế Ấn Độ. Ngược lại, và đây là một bài học khác, nền kinh tế công nghiệp hóa của các nước dân chủ, kể cả Hoa Kỳ, thường gặp vấn đề mà cũng có khả năng tự cải sửa là nhờ chế độ tự do và sức sáng tạo của tư doanh, doanh nghiệp tư nhân.
Nguyên Lam: Qua câu trả lời đó, phải chăng ông hàm ý là về lý luận, mô thức kinh tế Trung Quốc không có tương lai và chẳng đáng cho Việt Nam bắt chước?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi thiển nghĩ là ta nên học mọi người, nhưng ngoài lý do ý thức hệ nhằm che giấu mục tiêu chính trị và tiền bạc, lãnh đạo Hà Nội nên sớm ra khỏi qũy đạo Trung Quốc. Vấn đề là làm thế nào và ai sẽ dám làm?

Thoát khỏi bóng rợp Trung Quốc

Nguyên Lam: Chúng ta đi vào đề mục chính của kỳ này. Thưa ông, làm thế nào?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Như các nước lạc hậu đi sau, chứ chẳng có gì là kỳ diệu, Việt Nam có thể đạt mức tăng trưởng kinh tế 6-7% một năm, nhưng gây ra nhiều vấn đề, từ môi sinh tới nợ nần, mất cả chục năm mới thanh toán được, mà từ chục năm qua vẫn chưa hề giải quyết. Khi kinh tế Trung Quốc đi vào chu kỳ sa sút nay đã mười mươi rõ ràng thì đấy là cơ hội cho Hà Nội và cho Việt Nam. Khỏi nói về cải tổ chính trị cho một chế độ vừa tự bịt mắt theo Bắc Kinh với việc áp dụng luật An Ninh Mạng làm thế giới khinh thường như mọi người đã thấy và than, tôi chú ý tới vài bước cụ thể khác riêng về mặt kinh tế.
Làm thế nào để Việt Nam thoát Tầu?
Làm thế nào để Việt Nam thoát Tầu? AFP
Nguyên Lam: Thưa ông, những bước cụ thể đó là gì?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Đầu tiên, từ xa tới gần thì nhìn vào viễn ảnh dài là 10 năm, Việt Nam cần xây dựng tiềm lực quốc gia, về kinh tế là doanh nghiệp của tư nhân hay tư doanh. Tiềm lực đó tùy thuộc vào giáo dục, đào tạo và cơ sở luật tệ, kể cả luật doanh nghiệp. Bước thứ hai, vì có dân số đông và tương đối trẻ với tiềm năng cao về lợi tức, hãy quan tâm nhiều hơn đến khả năng tiêu thụ nội địa và tránh sai lầm của Trung Quốc là tìm lực đẩy ở đầu tư rồi xuất khẩu. Điều ấy quan trọng vì nhờ xuất khẩu thì càng lệ thuộc vào nhập khẩu từ Trung Quốc như nhánh tầm gửi. Bước thứ ba là nên đi ngược chủ trương của Bắc Kinh mà ráo riết tiến hành việc giải tư - tư nhân hóa, cổ phần hóa - các doanh nghiệp nhà nước. Đấy là trung tâm dùng đặc quyền chính trị để kiếm đặc lợi kinh tế cho các đảng viên và thân tộc bỗng chốc thành đại gia mà chẳng đóng góp nhiều cho sản xuất. Thứ tư và gần trước mắt, hãy phá vòng luẩn quẩn là cứ trông cậy vào đầu tư trực tiếp từ nước ngoài, và càng lệ thuộc vào xuất khẩu càng bị hiệu ứng của quốc tế.
Nguyên Lam: Thưa ông trong bối cảnh của sự chuyển dịch tại Trung Quốc đã thấy từ năm năm trước và của trận thương chiến Mỹ-Hoa hiện nay thì Việt Nam đang thấy triển vọng thu hút đầu tư trực tiếp của ngoại quốc. Tại sao ông lại gọi đó là vòng luẩn quẩn?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Giới đầu tư nước ngoài đi theo quy luật ta có thể gọi là “đất lành chim đậu”, là tìm nơi có tiền. Nhưng họ vào kiếm tiền để sử dụng nguyên nhiên vật liệu xứ khác do nhân công rẻ của Việt Nam ráp chế với trị giá đóng góp thấp rồi xuất khẩu qua xứ khác. Doanh lợi, kiến năng - “know-how” là kiến thức và khả năng - cũng nằm trong tay họ và sẽ chạy ra ngoài nếu họ thấy có nơi tốt hơn. Trong khi đó công đoạn của dân Việt nằm ở dưới đáy chu trình sản xuất với giá trị gia tăng thấp, thí dụ nổi bật là khu vực ráp chế điện thoại, máy móc điện tử gia dụng, chế biến dệt sợi và may mặc áo quần.
- Khỏỉ nói về quyền lợi và điều kiện lao động tại Việt Nam chưa đạt tiêu chuẩn quốc tế thí dụ như Hiệp ước Đối tác Xuyên Thái Bình Dương hay Hiệp định sắp tới với Liên Âu, chúng ta có thể đo trị giá gia tăng ấy từ một hệ số vĩ mô là phần đóng góp quá ít của công nghiệp trong tổng sản lượng của kinh tế Việt Nam. Đâm ra, kinh tế xứ này lên hay xuống chỉ là hậu quả của việc đầu tư quốc tế tràn vào hay chảy ra thôi. Không xứ độc lập nào muốn vậy vì đẩy lao động vào lực lượng gia công cho nước ngoài thì cũng là mất chủ quyền. Huống hồ nhà đầu tư nước ngoài lại là Trung Quốc thì ta rơi vào cảnh “đất lành chim độc”, mà bất cứ ai than vãn thì vào tù!
Cái khác đầu tiên, như kinh nghiệm của vài nước Đông Á thành công và trái hẳn với Trung Quốc, là dám nói tới việc cải cách thể chế chính trị. Nếu Việt Nam dám làm như vậy trong vài năm tới thì đấy mới là bước đầu ra khỏi bóng rợp của Trung Quốc, những bước về sau thì chỉ là chính sách và kỹ thuật mà thôi.
-Nguyễn Xuân Nghĩa
Nguyên Lam: Nguyên Lam nhìn ra sự hợp lý trong cách trình bày của ông nhưng đi vào cụ thể thì Việt Nam nên làm những gì là thiết thực nhất để bước ra khỏi bóng rợp Trung Quốc?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Vì hiệu ứng Trung Quốc, thế giới nói tới triển vọng đầu tư trực tiếp vào Việt Nam, nhưng tin vào đó là lại mộng mị. Trước hết, Việt Nam cần cải tiến hạ tầng cơ sở vận tải là điều thật ra chưa đủ, ngoại trừ trên mặt báo. Muốn có tiền xây dựng hạ tầng thì phải thúc đẩy tư nhân hóa hệ thống quốc doanh. Bước thứ ba từ làn sóng lạc quan hiện nay mà cải thiện chiến lược đầu tư quốc tế là ưu tiên cho khu vực có giá trị đóng góp cao, như điện tử và công nghệ hiện đại. Thứ tư là khuyến khích liên doanh hàng dọc giữa doanh nghiệp nước ngoài với tư doanh Việt Nam theo đà hỗ trợ của chính quyền cho tư doanh nội địa. Xin nói rõ là khuyến khích chứ không ép buộc theo kiểu Trung Quốc, và trong chính sách khích lệ thì phải gạn lọc thế lực của Bắc Kinh để tránh nạn đất lành chim độc. Sau cùng, tư doanh Việt Nam không thể từ trên trời rơi xuống mà cần hỗ trợ để sẽ là đối tác với cơ sở ngoại quốc theo một trình tự mà mọi người cùng biết.

Nạn tham nhũng

Nguyên Lam: Có một câu hỏi đang có vẻ thời sự là nạn tham nhũng tràn lan tại Việt Nam, ông nghĩ sao về chuyện đó?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi nghĩ vấn đề nó trầm trọng hơn vậy vì ít ai nói tới nạn tham nhũng do chính sách. Do chính sách sai lầm có dụng ý từ cả chục năm trước, Việt Nam mới bị tham nhũng hoành hành như hiện nay. Cái gốc là chính sách và thể chế, cái ngọn mới là cả chục nghi can bị kỷ luật vì đi giữa lằn ranh kinh tế với chính trị và luật pháp, trên đầu có hai cái mũ của đảng và của nhà nước.
- Nhưng Hà Nội chỉ làm thế giới chú ý khi diệt tham nhũng như là cứ theo bài bản Bắc Kinh sau năm năm quan sát học hỏi. Muốn ra khỏi bóng rợp của Trung Quốc, Việt Nam nên cải sửa luật lệ để từ nay không ai có thể tái phạm, sau đấy mới cho thấy mình không bắt chước Tổng bí thư Tập Cận Bình. Kế đó là kêu gọi doanh nghiệp ngoại quốc cùng hợp tác để giải trừ tham ô vì điều ấy chứng tỏ quyết tâm của lãnh đạo cho quốc tế cùng thấy.
- Sau cùng, then chốt vẫn là quyết tâm cải cách thể chế chính trị vì kinh tế cũng là chính trị. Khi thế giới đã thấy lãnh đạo Bắc Kinh cứ đề cao kinh tế thị trường mà duy trì sự cấm đoán hà khắc ở bên trong và chế độ bảo hộ mậu dịch, thậm chí ăn cắp và ăn cướp công nghệ và thuật lý cao cấp của thiên hạ ở bên ngoài, lãnh đạo Việt Nam cần cho thấy rằng mình khác.
- Cái khác đầu tiên, như kinh nghiệm của vài nước Đông Á thành công và trái hẳn với Trung Quốc, là dám nói tới việc cải cách thể chế chính trị. Tôi khỏi nói tới việc dân chủ hóa mà nhìn vào cái gốc của dân chủ, là tự do cởi mở cho xã hội dân sinh được phát triển trong một nhà nước hết bị đảng chi phối. Nếu Việt Nam dám làm như vậy trong vài năm tới thì đấy mới là bước đầu ra khỏi bóng rợp của Trung Quốc, những bước về sau thì chỉ là chính sách và kỹ thuật mà thôi.
Nguyên Lam: Ban Việt ngữ đài Á Châu Tự Do cùng Nguyên Lam xin cảm tạ chuyên gia kinh tế Nguyễn-Xuân Nghĩa về bài phỏng vấn đầu năm và xin hẹn quý thính giả vào tuần sau.

Tuesday, November 6, 2018

Khoảng cách giàu nghèo: kiến thức

Theo RFA-Nguyễn Xuân Nghĩa -2018-11-06   
Phổ biến kiến thức để khai thông dân trí
Phổ biến kiến thức để khai thông dân trí-AFP
Việc một trí thức của Việt Nam như giáo sư Chu Hảo vừa bị kỷ luật và quyết định ra khỏi đảng Cộng sản mà một giáo sư kinh tế của Đại học Bắc Kinh là ông Trương Duy Nghinh lại công khai phê phán cái gọi là “mô thức Trung Quốc” của lãnh đạo Bắc Kinh khiến chúng ta cần nhìn xa hơn thời sự: Vì sao có các nước giàu và nghèo và tại sao trong một quốc gia lại có người nghèo và người giàu? Diễn đàn Kinh tế sẽ tìm hiểu chuyện này….

Nguồn gốc của nạn bất công

Nguyên Lam: Ban Việt ngữ đài Á Châu Tự Do và Nguyên Lam xin chào ông Nguyễn-Xuân Nghĩa, chuyên gia kinh tế làm tư vấn cho đài từ năm 1997 tới nay. Thưa ông, trong chương trình kỳ trước, ông nói đến sự kiện một giáo sư kinh tế thuộc Đại học Bắc Kinh đã nêu vấn đề về “mô thức Trung Quốc” khi giáo sư Chu Hảo tại Việt Nam lại bị đảng Cộng sản kỷ luật vì quảng bá những kiến thức mà chế độ không chấp nhận. Vì vậy, kỳ này, Nguyên Lam xin mở rộng đề tài và hỏi ông vì sao có quốc gia phát triển và trở thành thịnh vượng trong khi có nước vẫn còn nghèo, và tại sao trong một nước lại có một thiểu số giàu có mà đa số người dân vẫn lầm than?
Nạn bất công khởi đầu từ bất công về kiến thức và học thuật.
-Nguyễn XuânNghĩa
Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Câu hỏi đó thật ra cũng là vấn đề cơ bản của bộ môn kinh tế chính trị học và kỳ này, chúng ta sẽ cố gắng trình bày được vài ý chính là vì sao có khác biệt về trình độ thịnh vượng giữa các quốc gia hay các thành phần xã hội trong một quốc gia.
- Trước hết, tôi kính trọng ông Chu Hảo khi là Giám đốc kiêm Tổng biên tập Nhà Xuất bản Tri thức vì đã cho phiên dịch sang Việt ngữ nhiều cuốn sách cơ bản của kiến thức nhân loại. Về chuyện này, tôi nhớ đến một công trình nghiên cứu của Liên Hiệp Quốc từ đã lâu, theo đó, hơn hai chục nước Á Rập Hồi Giáo có mấy trăm triệu dân - xưa kia từng có nền văn hóa chói lọi trước Âu Châu rất xa – sau này lại dị ứng với kiến thức mới và tụt hậu. Cụ thể là họ cho dịch quá ít sách ngoại quốc, bình quân thì chỉ dịch một cuốn cho một triệu dân. Nếu so với dân số của Tây Ban Nha, không hẳn là giàu nhất Âu Châu, thì một năm xứ này dịch sách ngoại quốc bằng khối Á Rập dịch trong ngàn năm! Bên trong khối Á Rập đó, một thiểu số biết ngoại ngữ thì khỏi cần đọc bản dịch, chứ đại đa cố còn lại thì sao? Vì vậy, thiểu số am hiểu của họ mới ngự trị trên đa số còn lại, nạn bất công khởi đầu từ bất công về kiến thức và học thuật.

Các yếu tố để một quốc gia thịnh vượng

Nguyên Lam: Ông nêu một vấn đề có thể làm thính giả của chúng ta giật mình.  Không biết thì phải học và học nước ngoài qua sách dịch thì dịch thuật cũng có đóng góp cho học thuật của quốc gia. Như vậy, phải chăng hạn chế dịch thuật cũng có thể là thu hẹp học thuật, thưa ông?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Đấy là vấn đề mà không là duy nhất, chúng ta sẽ xét sau.
- Về thời sự và nhìn qua Bắc Kinh thì ta thất kinh vì trường hợp của  giáo sư Trương Duy Nghinh. Sinh năm 1959, ông ta học ở trong nước rồi được ra ngoài du học và hoàn tất bằng tiến sĩ kinh tế tại Đại học Oxford vào năm 1994 dưới sự hướng dẫn của một giáo sư được giải Nobel Kinh tế năm 1996. Về nước, giáo sư Trương Duy Nghinh này lập ra một Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế trong Đại học Bắc Kinh và có cả trăm công trình biên khảo bằng Hoa ngữ lẫn Anh ngữ có nội dung đề cao quy luật tự do kinh tế đến độ được coi là truyền nhân của Giáo sư Friedrich Hayek, người cổ xúy cho quyền tự do cá nhân, ngược với chế độ tập trung quản lý của nhà nước phát xít lẫn cộng sản. Thế mà Bắc Kinh không trừng phạt giáo sư đó nhưng ông Chu Hảo lại bị kỷ luật vì Nhà Xuất bản Tri thức đã dịch loại sách chế độ gọi là “sai trái”, trong đó có cuốn cơ bản của Hayek xuất bản từ năm 1994, là “Đường Về Nô Lệ”. Nói vắn tắt thì trong cuộc tranh luận về học thuật, Việt Nam lại thua Trung Quốc nữa, và đấy là chuyện đáng lo!
Giáo sư Chu Hảo
Giáo sư Chu Hảo. RFA EDIT
Nguyên Lam: Ông vừa nói về học thuật và bảo đấy không là vấn đề duy nhất. Nguyên Lam xin đề nghị ông khai triển từng bước cho thính giả của chúng ta…
Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi cho rằng sự thịnh vượng hay giàu có của một tập thể hay cộng đồng dân tộc tùy thuộc trước tiên vào địa dư hình thể, thí dụ như thổ ngơi hay sông ngòi tiêu tưới và lưu thông. Chẳng hạn như lưu vực sông Dương Tử của Trung Quốc và các bến cảng đã góp phần hình thành một nền văn hóa tiên tiến. Bên kia đại dương, Nhật Bản không có lợi thế thiên nhiên ấy vì là quần đảo bị chia cắt bởi vực sâu với những con sông rất ngắn đổ ngay ra biển. Vì vậy, so với Trung Quốc thì Nhật Bản nghèo nàn và lạc hậu hơn trong nhiều ngàn năm, tới giữa thế kỷ 19 thì nước Nhật lại học kiến thức mới từ Âu Châu và Hoa Kỳ và trở thành cường quốc đã khuất phục Trung Quốc.
- Chính là vì không có ưu thế thiên nhiên nhưng có ý thức sinh tồn rất cao, Nhật Bản học văn hóa Trung Hoa một cách chọn lọc chứ không “tự Hán hóa”, sau đó họ thuần thục kỹ thuật Tây phương để đuổi kịp Tây phương và vượt Trung Quốc.
Nguyên Lam: Như vậy, phải chăng yếu tố thịnh vượng của các nước cũng tùy thuộc vào nền văn hóa, thưa ông?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Một cách lãng mạn thì thời Trung Cổ, văn hóa Nhật với tinh thần “võ sĩ đạo” đầy dũng khí mà khắc khổ cũng hơi giống tinh thần “an bần lạc đạo” của văn hóa Trung Hoa. Nhưng Nhật Bản có thay đổi, Trung Quốc thì không. Khi dám thay đổi thì người ta tìm ra chân lý và kỹ thuật khác để khắc phục các nhược điểm của thiên nhiên. Canh nông của Nhật là một điển hình ban đầu, công nghiệp của họ là chuyện về sau.
- Trung Quốc ngày nay cứ oán các nước đã xâm lăng và chinh phục họ mà không tự hỏi vì sao họ bị các dị tộc Liêu, Kim, Mông, Mãn mà họ khinh miệt khuất phục nhiều lần trong lịch sử, từ thời Đại Tống cho tới Đại Thanh? Sau đó, chính là sự lụn bại của họ vào thời Mãn Thanh mới khiến liệt cường sâu xé. Yếu tố văn hóa có chi phối cách họ nhìn về học thuật của thiên hạ. Mặc cảm tự tôn về văn hóa lại vừa tự ti về kỹ thuật là vấn đề của Trung Quốc trong ngàn năm qua là một tâm lý nghèo nàn. Người Nhật không bị mặc cảm đó nên trở thành giàu có hơn.
Nguyên Lam: Bước qua thời hiện đại và ngày nay thì ông thấy là người ta nên tiếp thu những kinh nghiệm gì khác của các nước?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Nửa thế kỷ trước, khi chúng tôi còn đi học tại Âu Châu thì học thuyết của kinh tế gia John Maynard Keynes được giới ưu tú coi là “chân lý kinh tế”, chỉ có thể bị chế độ tập trung quản lý bằng kế hoạch của Liên Xô đào thải mà thôi! Nghĩ lại cũng thấy buồn cười về kiến thức lạc hậu. Nhưng chính là nhà kinh tế kiêm triết gia Friedrich Hayek đã chỉ ra hướng khác, rồi các học thuyết khoa học hơn sau đấy càng cho thấy là chúng ta phải thường xuyên cập nhật và phổ biến kiến thức về kinh tế, xã hội và văn hóa để người dân có quyền tự do chọn lựa.
Kiến thức là yếu tố thăng tiến cho mọi quốc gia và nạn độc quyền chân lý của một chế độ độc tài là sự bần cùng về tư tưởng và nghèo nàn về kinh tế.
-Nguyễn Xuân Nghĩa
- Bây giờ khi thấy lý luận của Hayek từ hơn 70 năm trước, vốn đã được các trí thức của nước ta phiên dịch, mà lại bị cấm đoán thì tôi phải nghĩ đến sự tụt hậu về kiến thức và chính trị. Dưới bóng rợp của Bắc Kinh mà tụt hậu như vậy thì có lẽ chế độ muốn diệt trí thức để tự sát tập thể, chứ đừng nói gì đến thịnh vượng, trừ phi cho một thiểu số có quyền nên dễ có tiền!

Khai thông dân trí

Nguyên Lam: Ông vừa nói đến việc cập nhật và phổ biến kiến thức về nhiều mặt để người dân có quyền tự do chọn lựa. Ông có thấy rằng điều đó là khó chăng? Nguyên Lam nêu câu hỏi này vì nghĩ đến trình độ dân trí.
Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Thật ra chúng ta mới chỉ nói đến khác biệt về thịnh vượng giữa các nước chứ chưa nói đến giữa các thành phần xã hội trong cùng một nước. Khác biệt nội bộ ấy là một vấn đề mà dân trí có thể giải thích được phần nào, và việc phổ biến kiến thức cũng là một giải pháp. Nói vắn tắt thì ta hiểu được hai quy luật, thứ nhất về kinh tế thì xây dễ hơn xóa và về văn hóa thì chính sách ngu dân dễ tiến hành hơn việc khai thông dân trí, cho nên bất công xã hội càng dễ xảy ra trong một chế độ độc tài.
- Nhìn trong dài hạn về thời gian và mở ra không gian cho mọi quốc gia, tôi trộm nghĩ rằng nền văn hóa nào mà phát huy pháp quyền bình đẳng cho mọi người dân hơn là những quyết định tiện thiện của giới cầm quyền thì sẽ dễ phát triển kinh tế và đem lại thịnh vượng. Thứ hai, cũng thuộc lĩnh vực văn hóa mà lại cực kỳ quan trọng cho kinh tế là khi sự lương thiện được đề cao như một giá trị tinh thần và được áp dụng trong thực tế của đời sống thì quốc gia và xã hội càng dễ phát triển. Các quốc gia bị nạn tham nhũng đục khoét thường không có sự thịnh vượng mà chỉ có nạn bất công xã hội. Khi pháp quyền được phát huy và sự lương thiện là chân lý phổ cập thì quốc gia dễ có phú cường và người dân dễ được hạnh phúc.
Nguyên Lam: Nhìn trên tổng thể thì ông kết luận thế nào về sự thịnh vượng của các quốc gia và của người dân trong một quốc gia?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Kiến thức là yếu tố thăng tiến cho mọi quốc gia và nạn độc quyền chân lý của một chế độ độc tài là sự bần cùng về tư tưởng và nghèo nàn về kinh tế. Địa dư hình thể hay điều kiện thiên nhiên có thể đưa tới hoàn cảnh bất lợi hay thuận tiện, nhưng kiến thức có thể khắc phục được những bất lợi và khuếch trương sự ưu đãi của thiên nhiên nếu chúng ta hiểu rằng kiến thức đó làm giàu cho một loại vốn liếng hay tư bản quan trọng nhất của xã hội, là con người.
- Con người ta mới làm thay đổi thiên nhiên và tìm ra giải pháp sản xuất có lợi nhất. Con người ta mới hàn gắn nổi sự tàn phá của chiến tranh để tái thiết xứ sở. Mọi loại kỹ thuật đều có thể bị vượt qua, mọi thứ đất đai bị xoi mòn, và máy móc bị hư hao, chứ con người ta vẫn là loại tư bản có khả năng canh tân và cải tiến liên tục. Tất cả tùy thuộc vào một yếu tố, là con người đó có khả năng học hỏi và có quyền phát huy hay không mà thôi.
Nguyên Lam: Ban Việt ngữ đài Á Châu Tự Do cùng Nguyên Lam xin cảm tạ chuyên gia kinh tế Nguyễn-Xuân Nghĩa về bài phân tích kỳ này, và xin hẹn quý thính giả tuần sau.

Tuesday, October 2, 2018

Trung Quốc lên đến đỉnh - rồi xuống

Theo RFA-Nguyễn Xuân Nghĩa-2018-10-02   
Trung Quốc không thể rao bán tư tưởng Mao Trạch Đông hay phiên bản mới của Tập Cận Bình
Trung Quốc không thể rao bán tư tưởng Mao Trạch Đông hay phiên bản mới của Tập Cận Bình-AFP
Hàng năm, cứ đến đầu Tháng 10 là Bắc Kinh lại chào mừng ngày Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa ra đời tại Quảng trường Thiên An Môn vào mùng một Tháng 10 năm 1949. Ngày nay, lãnh đạo Bắc Kinh đang mơ chân trời mới vào năm 2049, khi Trung Quốc lên tới ngôi vị siêu cường 100 năm sau khi nền cộng hòa cộng sản này. Nhưng phải chăng đấy chỉ là giấc mơ? Diễn đàn Kinh tế sẽ tìm hiểu chuyện đó trong bối cảnh của cuộc thương chiến với Hoa Kỳ.

Những mâu thuẫn của Bắc Kinh

Nguyên Lam: Ban Việt ngữ đài Á Châu Tự Do và Nguyên Lam xin chào kinh tế gia Nguyễn-Xuân Nghĩa. Thưa ông, bước vào Tháng 10, khi lãnh đạo Bắc Kinh làm lễ Quốc Khánh chào mừng việc Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa ra đời ngày mùng một Tháng 10 năm 1949 tại Quảng trường Thiên An Môn ở Bắc Kinh thì chúng ta nên nghĩ gì?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Bản thân tôi thì nghĩ đến… Mao Trạch Đông và tư tưởng của ông ta về các mâu thuẫn trong tiểu luận gọi là “Mâu Thuẫn Luận”. Gần đây, tại Đại Hội Đảng Khóa 19, Tổng bí thư Tập Cận Bình cũng nói đến các mâu thuẫn cơ bản của kỷ nguyên mới. Vì vậy, chúng ta nên kiểm lại các mâu thuẫn của họ….
- Có ý thức lịch sử rất sâu đậm, lãnh đạo Bắc Kinh lại đang lúng túng với lịch sử. Tháng 10 năm 2011, họ cho tổ chức rầm rộ các sinh hoạt kỷ niệm trăm năm của cuộc Cách Mạng Tân Hợi 1911 và còn dựng chân dung vĩ đại của Tôn Trung Sơn tại Quảng trường Thiên An Môn. Họ cho thần dân ăn mừng biến cố cách mạng là sự kết thúc của chế độ quân chủ, khởi đi từ Tần Thủy Hoàng, thần tượng của Mao Trạch Đông. Thế rồi năm đó Bắc Kinh bỗng nghĩ lại!
- Vở nhạc kịch ngợi ca cuộc đời và sự nghiệp của Tôn Trung Sơn, vị Tổng thống đầu tiên của Trung Quốc, bỗng dưng bị hủy. Lý cớ được thông báo là vì hậu cần, tiếp vận. Ly kỳ hơn vậy, một cuộc hội thảo do các học giả Nhật Bản chuẩn bị từ nhiều tháng trước về Cách mạng Tân Hợi cũng bị cấm, mà không cho biết lý cớ. Lý do thì chúng ta có thể rất dễ đoán ra, nếu chịu khó nhìn vào trăm năm lịch sử đó vì trăm năm qua, Trung Quốc thật ra có hai "Cách Mạng Tháng Mười".
Nguyên Lam: Thính giả của chúng ta có lẽ đã quen với cách dẫn chuyện hay nêu vấn đề của chuyên gia kinh tế Nguyễn-Xuân Nghĩa. Nhưng thưa ông, Nguyên Lam vì sao lại có hai "Cách Mạng Tháng Mười"?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Một là Cách mạng Cộng hoà vào năm 1911 và sự ra đời của Trung Hoa Dân Quốc. Hai là Cách mạng Cộng sản và sự ra đời của Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa ngày một Tháng 10 năm 1949. Cả hai cuộc cách mạng đều không là điểm son của dân chủ!
Làm sao dung hòa được chủ nghĩa tư bản với chủ nghĩa cộng sản mà không dẫn tới chế độ tư bản thân tộc đầy bất công và phản thị trường của các đảng viên cán bộ dùng quyền lực chính trị để thâu tóm quyền lợi kinh tế? Sau cùng là mâu thuẫn giữa việc tập quyền để có ổn định, khi thị trường lại chuyển dịch và phản ứng nhanh trong một nền khoa học kỹ thuật đang thu hẹp thời gian quyết định. Kết luận của tôi là Trung Quốc vừa lên tới đỉnh, mà đỉnh cao thì cũng là bước lật!
-Nguyễn Xuân Nghĩa
- Ban đầu, nhà cách mạng Tôn Trung Sơn (nguyên danh là Tôn Văn hay Tôn Dật Tiên, v.v...) chưa muốn lập Quốc hội và chỉ làm Tổng thống vài tháng là bị cướp mất quyền hành, xứ sở lâm nội loạn triền miên với vai trò của các lãnh chúa. Trong cảnh hỗn loạn ấy, duy nhất có một yếu tố xứng danh cách mạng là trào lưu tự do tư tưởng và khuynh hướng lập hội lập đảng để canh tân xã hội. Khi nói đến sự nghiệp cách mạng Tôn Trung Sơn, Bắc Kinh ngày nay giải thích và giải quyết thế nào về trào lưu tự do tư tưởng đó của xã hội cách đây một thế kỷ? Giải thích thế nào về chế độ kiểm duyệt thông tin và đàn áp dân chủ hiện vẫn áp dụng? Khi nói đến nỗ lực quốc tế vận của Tôn Trung Sơn, Bắc Kinh còn kẹt hơn và Tập Cận Bình ngày nay cũng cảm thấy như vậy khi đề ra sáng kiến về “Con Đường Tơ Lụa Mới” hay “Nhất Đới Nhất Lộ” đúng năm năm về trước.
Nguyên Lam: Thưa ông, phải chăng chúng ta cần trở lại lịch sử Trung Hoa cận đại thì mới hiểu ra những mâu thuẫn ngày nay của Trung Quốc?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Thưa đúng thế, bác sĩ Tôn Trung Sơn là một thí thức, theo Công giáo, có hậu cứ vận động từ hải ngoại là Hoa Kỳ, đã nhiều lần tìm nguồn yểm trợ tại Nhật Bản, một quốc gia phú cường, tiến bộ và tự do hơn Trung Quốc gấp bội. Nhật còn đại thắng trong cuộc chiến Hoa-Nhật năm 1894-1895, góp phần đáng kể cho sự sụp đổ của nhà Đại Thanh. Chính vì vậy mà Tháng 10 năm 2011, các học giả Nhật mới sốt sắng tổ chức cuộc hội thảo về Cách mạng Tân Hợi và bị Bắc Kinh kịp thời hạ màn vì nhắc đến Tôn Trung Sơn là lòi ra vai trò yểm trợ cách mạng hoặc “diễn biến thiếu hoà bình” của Hoa Kỳ và Nhật Bản, là hai đối thủ hiện tại của Trung Quốc....
Nguyên Lam: Bây giờ, Nguyên Lam đã hiểu vì sao ông dẫn vào các mâu thuẫn của Mao Trạch Đông! Xin đề nghị ông trình bày tiếp cho giớu trẻ của chúng ra.
Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Sự sụp đổ của nhà Mãn Thanh là niềm tự hào chính đáng của Hán tộc. Khi Mãn tộc tiêu diệt nhà Đại Minh năm 1644 thì đấy là nỗi nhục khó rửa cho người Hán. Vì vậy "Phản Thanh - Phục Minh" là khẩu hiệu huy động nhiều thế hệ ái quốc. Và một chủ trương cách mạng của Tôn Trung Sơn là tinh thần dân tộc, để đánh đuổi nhà Mãn Thanh.
Nhưng cũng là dị tộc Mãn Thanh xấu xa ấy đã bành trướng lãnh thổ, cho phép Bắc Kinh ngày nay viện lẽ chính danh từ đời Thanh mà đòi thống trị Tân Cương và Tây Tạng, hai khu vực tự trị có vấn đề với dân Hồi giáo và Tây Tạng! Chẳng lẽ chế độ Cộng sản Trung Quốc ưu việt mà lại kế thừa di sản Đế quốc của ngoại tộc Mãn Thanh sao? Huống hồ, kẻ kế thừa di sản Tôn Trung Sơn lại là Tưởng Trung Chính, tức là Tưởng Giới Thạch!
- Sau khi Cộng hoà Nhân dân Trung Quốc được Mao thành lập ở Hoa lục năm 1949, Trung Hoa Dân Quốc của Tôn Trung Sơn được Tưởng Giới Thạch đem qua Đài Loan. Đảo quốc mang tiếng là lãnh thổ ngàn đời của Trung Hoa lại gợi nhớ đến tranh chấp về chủ quyền từ đời Thanh. Mà hậu thân của cái gọi là ngụy quyền Trung Hoa Dân Quốc lại xây dựng được một nền kinh tế tiên tiến với một chế độ chính trị thật sự dân chủ. Công lao chuyển hoá Đài Loan thuộc về Tưởng Kinh Quốc, con trai Tưởng Giới Thạch. Và lần đầu tiên trong lịch sử mà người dân Trung Hoa trực tiếp đi bầu ra lãnh đạo thật - một Tổng thống – là tại Đài Loan vào Tháng Ba năm 1996, bất chấp hỏa tiễn của Trung Quốc bay qua đầu! Và "tam dân chủ nghĩa" của Tôn Trung Sơn, là “dân tộc độc lập, dân quyền tự do và dân sinh hạnh phúc” vẫn là khát vọng chưa vẹn toàn của người dân Trung Quốc ngày nay dưới sự lãnh đạo quá sức tập quyền của Tập Cận Bình.

Lượng và phẩm

Nguyên Lam: Nhưng mà ngày nay, Trung Quốc đã có sản lượng kinh tế đứng hạng thứ nhì thế giới và theo các chuyên gia quốc tế thì sẽ bắt kịp hoặc vượt qua sản lượng của Hoa Kỳ vào năm 2025 hay 2030 này. Ông giải thích thế nào về chuyện đó?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Chúng ta có hai chuyện ở đây, là lượng và phẩm. Sản lượng của một quốc gia có gần một tỷ 400 triệu dân dĩ nhiên là phải lớn. Nhưng nói về phẩm thì sản lượng của một người dân, nôm na là sản lượng bình quân của một người hay năng suất lao động, mới là những tiêu chuẩn so sánh. Theo các tiêu chuẩn đó thì Trung Quốc còn mất hơn 30 năm mới hy vọng đuổi kịp Hoa Kỳ. Còn về năng suất lao động thì ngày nay chưa bằng 10% của Mỹ. Đấy là ta chưa nói đến hai mâu thuẫn khác của Trung Quốc, là “người dân chưa giàu mà đã già” và “nhà nước chưa hùng mà đã hung”, khiến các quốc gia đều chú ý và báo động!
- Chưa giàu mà đã già vì dân số bị lão hóa và ưu thế nhân công rẻ đang chấm dứt. Bắc Kinh có thể nghĩ đến bước nhảy vọt vào trình độ sản xuất cao hơn nhờ công nghệ tiên tiến thì thứ nhất chưa thể bằng Nhật Bản hay Nam Hàn chứ chưa nói gì đến Hoa Kỳ, và thứ hai đang bị Hoa Kỳ cùng các nước tố cáo tội ăn cắp và ăn cướp quyền sở hữu trí tuệ, một đầu mới của trận thương chiến ngày nay với Mỹ.
- Chưa hùng mà đã hung là khi Bắc Kinh vừa rời vùng biển cận duyên để mon men ra biển viễn duyên thì đã đòi quân sự hóa quần đảo Hoàng Sa với Trường Sa và vùng biển Đông Nam Á nên gây phản ứng ngược với các cường quốc như Nhật Bản, Ấn Độ, Úc và Hoa Kỳ lẫn các nước Âu Châu.

Pax Sinica lên ngôi bá chủ?

Nguyên Lam: Ông còn thấy những mâu thuẫn gì khác của Trung Quốc?
Đồng Nhân Dân tệ của Trung Quốc.
Đồng Nhân Dân tệ của Trung Quốc. AFP
Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi nghĩ đến một nhân vật vừa gây sôi nổi trong dư luận Trung Quốc là giáo sư Hồ An Cương mà tôi cứ gọi là Hồ Yên Cương cho dễ nhớ tới con ngựa chứng! Ông là giám đốc một lò trí tuệ của đảng là “Quốc Tình Nghiên Cứu Viện” hay viện Nghiên cứu Tình hình Quốc gia thuộc Đại Học Thanh Hoa tại Bắc Kinh. Cách đây hơn hai chục năm, Hồ Yên Cương cùng một trí thức khác, hình như là Vương Thiệu Quang, có bài tiểu luận về lẽ hợp tan của Trung Hoa. Đó là khi triều đình thâu tóm quyền lực về trung ương thì chính trị ổn định nhưng các địa phương không có phát triển và xứ sở tụt hậu. Ngược lại, khi trung ương tản quyền thì các địa phương lại phát triển mạnh nhưng có thể dẫn đến hỗn loạn và tan rã. Giữa các mâu thuẫn đó, Hồ Yên Cương đề cao giải pháp dân chủ pháp trị. Bây giờ hình như là ông đảo ngược lập trường và đề cao giải pháp tập quyền của Tập Cận Bình tới độ sùng bái cá nhân và còn tiên báo việc Trung Quốc sẽ sớm vượt Hoa Kỳ.
- Mâu thuẫn ở đây không là hiện tượng đảo điên của một trí thức trong đảng tôi gọi là hiện tượng điền đô hay… đồ điên. Mâu thuẫn ở đây là nhiều chuyên gia khoa học kỹ thuật của Bắc Kinh lại phản bác cái thuyết “vượt Mỹ” và nói về nền khoa học kỹ thuật còn rất kém của Trung Quốc về cả kinh tế, dân sự lẫn quân sự.
Nguyên Lam: Câu chuyện này thật ra ly kỳ hấp dẫn, nhưng vì thời lượng có hạn, Nguyên Lam phải đề nghị ông đưa ra một nhận định tổng kết.
Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Từ bốn thế kỷ, các nước Tây phương cứ bị mê hoặc về Trung Quốc mà không nhìn ra một đặc tính văn hóa chính trị Trung Hoa là kềm hãm khả năng sáng tạo trong khi lại chinh chiến liên miên. Ngày nay, người ta vẫn phạm sai lầm cũ mà cho rằng sau khi Đế quốc Anh khống chế thế giới vào Thế kỷ 19, thì Hoa Kỳ lập ra thật tự Mỹ hay Pax Americana vào Thế kỷ 20. Qua Thế kỷ 21, thiên hạ sẽ thấy Trung Quốc lên ngôi bá chủ, một thứ Pax Sinica.
- Bản thân tôi thì không nghĩ như vậy! Dù có là thiểu số tuyệt đối, tôi vẫn cho rằng Trung Quốc chưa giải quyết được những mâu thuẫn căn bản của họ. Làm sao có thể rao bán Khổng Tử cùng Tư tưởng Mao Trạch Đông hay phiên bản mới của Tập Cận Bình? Làm sao dung hòa được chủ nghĩa tư bản với chủ nghĩa cộng sản mà không dẫn tới chế độ tư bản thân tộc đầy bất công và phản thị trường của các đảng viên cán bộ dùng quyền lực chính trị để thâu tóm quyền lợi kinh tế? Làm sao tái xây dựng một Đế quốc xưa kia chỉ là cường quốc lục địa nay phải vươn ra biển vì quá lệ thuộc vào thị trường bên ngoài? Sau cùng là mâu thuẫn giữa việc tập quyền để có ổn định, khi thị trường lại chuyển dịch và phản ứng nhanh trong một nền khoa học kỹ thuật đang thu hẹp thời gian quyết định. Kết luận của tôi là Trung Quốc vừa lên tới đỉnh, mà đỉnh cao thì cũng là bước lật!
Nguyên Lam: Ban Việt ngữ đài Á Châu Tự Do cùng Nguyên Lam xin cảm tạ chuyên gia kinh tế Nguyễn-Xuân Nghĩa về bài phân tích những mâu thuẫn của Trung Quốc.

Wednesday, September 26, 2018

Thương chiến giữa dân chủ và độc tài

Theo RFA-Nguyễn Xuân Nghĩa -2018-09-26  
Cờ Mỹ và Trung Quốc-hình ảnh tiêu biểu cho dân chủ và độc tài
Cờ Mỹ và Trung Quốc-hình ảnh tiêu biểu cho dân chủ và độc tài-AFP
Trận chiến thương mại giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc tiếp tục leo thang và mỗi đợt trả đũa lại dẫn tới biện pháp cứng rắn hơn. Chúng ta đang chứng kiến một trận thương chiến giữa hệ thống chính trị dân chủ và một chế độ độc tài. Diễn đàn Kinh tế sẽ tìm hiểu về lợi thế tương đối của hai hệ thống chính trị đối nghịch này.

Mâu thuẫn tay đôi

Nguyên Lam: Ban Việt ngữ đài Á Châu Tự Do và Nguyên Lam xin chào kinh tế gia Nguyễn-Xuân Nghĩa. Thưa ông, chiều Thứ Hai 17 Chính quyền Hoa Kỳ đưa ra quyết định áp thuế đợt thứ ba, lần này tăng 10% trên một lượng hàng hóa của Trung Quốc có trị giá tương đương với 200 tỷ đô la, bắt đầu từ ngày 24 và qua đầu năm tới thì còn tăng từ 10% lên 25%Phía Bắc Kinh đã trả đũa chỉ sau hơn một tiếng đồng hồ và sau khi từ chối đàm phán đã ra bạch thư kết án thái độ đàn áp của Hoa Kỳ. Trong mâu thuẫn gay gắt giữa hai nền kinh tế có sản lượng cao nhất địa cầu, ông nghĩ rằng chúng ta nên chú ý tới những gì nữa?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Chúng ta có nhiều cách phân tích mâu thuẫn tay đôi này.
- Đầu tiên là nhìn vào cơ bản của lẽ thắng bại về ngoại thương giữa các nước, như tôi có dịp trình bày vào đầu Tháng Ba khi trận chiến khai mào. Đó là xứ nào lệ thuộc nhiều hơn vào ngoại thương? Nếu dùng tỷ lệ bách phân của xuất khẩu trong Tổng sản lượng GDP thì xuất khẩu của Trung Quốc chiếm gần 20% GDP, của Hoa Kỳ thì chỉ có 12%, tức là nếu xuất khẩu bị sụt vì thương chiến thì Trung Quốc bị hại hơn Hoa Kỳ. Thứ hai là nhập khẩu. Hoa Kỳ có thị trường nhập khẩu lớn nhất các nước và bị nhập siêu với các nước lớn mà nặng nhất là với Tầu. Điều ấy có nghĩa là trong thương chiến, xuất siêu của Trung Quốc mới là nhược điểm. Vì sao lại có nghịch lý như vậy? Vì Tổng sản lượng của Trung Quốc có 3% là nhờ bán hàng qua Mỹ còn Hoa Kỳ chỉ có phân nửa 1% là nhờ bán hàng qua Tầu. Nếu lượng hàng đó giảm thì kinh tế của Tầu bị ảnh hưởng mạnh hơn của Mỹ.
Chế độ dân chủ có thể gây ra ấn tượng hỗn loạn như tại Hoa Kỳ nhưng vẫn cho phép mọi người thích ứng với hoàn cảnh đổi thay dồn dập và thay đổi luôn cả giới dân cử sẽ lãnh đạo. Chứ một chế độ độc tài như tại Bắc Kinh thì khó linh động thích ứng với sự vận hành của một môi trường đa nguyên và phức tạp.
-Nguyễn Xuân Nghĩa
- Nói vắn tắt, Hoa Kỳ có sức sản xuất cao nhất mà xuất khẩu chỉ chiếm 12% GDP, còn 88% là sản xuất nội địa. Con số trừu tượng ấy có nghĩa là nếu thương chiến bùng nổ và các nước phản đòn bằng cách bớt mua hàng của Mỹ thì cũng chỉ thu hẹp trong phần xuất khẩu là 12% của Tổng sản lượng thôi. Bên kia chiến tuyến, các nước cần xuất khẩu nhiều mới dễ bị thua. Ngược lại, vẫn nói về tương quan lực lượng trong trận chiến mậu dịch ai cũng muốn tránh, thì kinh tế Mỹ  có sức tiêu thụ cao nhất, như có hậu phương sâu rộng nhất khả dĩ chống trả các đối thủ. Đâm ra, nạn nhập siêu là nhập nhiều hơn xuất, của nước Mỹ lại là một lợi thế trong trận chiến mậu dịch này.
Nguyên Lam: Ông nói rằng chúng ta có nhiều cách phân tích chuyện này và cách đầu tiên là nhìn vào tương quan lực lượng của đôi bên về mặt ngoại thương, xem nước nào lệ thuộc nhiều hơn vào xuất khẩu. Sau đó thì người ta còn có những cách phân tích gì khác nữa, thưa ông?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Cách thứ hai là nhìn vào lịch sử. Hơn 40 năm trước, Hoa Kỳ bị sa sút nhiều mặt khi kinh tế suy trầm, lạm phát gia tăng và vì phí tổn của cuộc chiến tại Việt Nam lẫn đòn phong tỏa dầu khí của khối Á Rập Hồi giáo. Khi đó, ông Ronald Reagan tranh cử Tổng thống với tôn chỉ “Làm Cho Hoa Kỳ Vĩ Đại Trở Lại”, tức là khi ấy, Hoa Kỳ hết còn vĩ đại và cố chinh phục ưu thế cũ mà ưu thế đó không chỉ có kinh tế. Ông Donald Trump ra tranh cử với khẩu hiệu tương tự và khi thắng cử, ông kết hợp an ninh với kinh tế mà đòi xét lại những cam kết của nước Mỹ với các nước khác. Trong các nước, Trung Quốc đã vươn lên thành một đối thủ có khả năng thách đố quyền lực và quyền lợi của Hoa Kỳ.
- Quyền lợi của Hoa Kỳ không chỉ có ngoại thương mà bao gồm nhiều yếu tố khác, như sức mạnh của khu vực chế biến, quyền sở hữu trí tuệ hay ưu thế trong các ngành sản xuất dịch vụ. Quyền lợi của Hoa Kỳ cũng thế, nó trải rộng toàn cầu và đi cùng quyền lợi kinh tế. Vì Trung Quốc là một thách đố mới, trận thương chiến giữa hai nước chỉ là một phần của vấn đề và Hoa Kỳ có thể nhắm vào mục tiêu rộng lớn là làm thay đổi cơ chế kinh tế và chính trị của Bắc Kinh.

Thương chiến kéo dài

Nguyên Lam: Nếu giả thuyết này đúng, thưa ông, trận thương chiến giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc có thể kéo dài nhiều năm, chứ sẽ không kết thúc trong vài tháng, có phải như vậy không?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Thưa đúng vậy vì Chính quyền Donald Trump kết hợp yếu tố an ninh vào quan hệ kinh tế của Hoa Kỳ với các nước. Ngày 19 Tháng Tư năm ngoái, ông Trump chỉ thị Bộ Thương Mại cấp tốc nghiên cứu việc nhập khẩu thép có đe dọa an ninh của Hoa Kỳ không. Hôm 27 Tháng Tư sau đó ông cho điều tra thêm ngành nhôm hay aluminum. Bộ Thương Mại hoàn tất việc nghiên cứu và hôm Thứ Sáu 16 tháng Hai, mùng một Tết Mậu Tuất, Bộ còn đề nghị Tổng thống dùng quyền hạn của mình để bảo vệ an ninh của Hoa Kỳ. Khi ấy Nội các Trump viện dẫn khoản 232 của Đạo Luật Thương Mại Mở Rộng năm 1962 để Hành pháp có thể quyết định về mậu dịch, như thuế nhập nội hay hạn ngạch nhập khẩu, hầu bảo vệ an ninh và lách khỏi sự hạn chế của Quốc Hội. Sau đó, Chính quyền Trump còn viện dẫn khoản 301 của Đạo luật Thương mại năm 1974 để cho các doanh nghiệp Mỹ quyền khiếu nại nếu bị thiệt hại trong quan hệ mậu dịch với Trung Quốc. Và trong suốt năm qua, Hoa Kỳ không hề nhượng bộ Bắc Kinh mà còn tìm thế liên minh cùng các nước để chặn đà bành trướng của Trung Quốc. Vì vậy, tôi nghĩ mâu thuẫn giữa hai nước không dễ giải quyết và chẳng thu hẹp vào lĩnh vực thương mại.
Nguyên Lam: Nhiều nhà bình luận cho rằng phía Bắc Kinh khó nhượng bộ và có biện pháp tinh vi là chọn đối tượng trả đũa hầu gây thiệt hại cho các địa phương với mục tiêu chính là tác động vào cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ năm nay và cả cuộc tổng tuyển cử vào năm 2020. Ông nghĩ sao về những biện pháp đó?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Chúng ta có hai phần trong câu trả lời. Liên quan tới các biện pháp chống trả, phần đầu ta tìm hiểu về khả năng hay toan tính của Bắc Kinh. Phần hai mới rắc rối hơn. Phần đầu, nói về “lượng” thì vì Bắc Kinh đạt xuất siêu gần 400 tỷ với Mỹ và chỉ nhập khẩu chừng 185 tỷ hàng hóa của Hoa Kỳ nên các biện pháp trả đũa trên hàng Mỹ không thể bằng việc Mỹ áp thuế trên hơn 500 tỷ hàng hóa của Tầu. Do đó, Bắc Kinh phải nghĩ tới “phẩm” là gây thêm khó khăn cho các doanh nghiệp Hoa Kỳ muốn làm ăn buôn bán với thị trường Trung Quốc,  như kéo dài thủ tục duyệt xét thuế quan hay thể thức đầu tư. Và phía Hoa Kỳ đã chuẩn bị trước những kịch bản đó và các nước khác, như Nhật Bản, Nam Hàn hay Đài Loan, cũng đang tính toán về chuỗi cung ứng của mình trong loại sản phẩm có công nghệ cao mà rút khỏi thị trường Trung Quốc để khỏi bị thiệt thòi. Nôm na là họ sản xuất lấy linh kiện điện tử ở nhà hoặc đưa đầu tư từ Trung Quốc qua các nước khác, thí dụ như Thái Lan, Malaysia hay Việt Nam. Chúng ta sẽ còn phải theo dõi chuyện này.
Nguyên Lam: Ông vừa nói đến hai phần trong câu trả lời. Thưa ông, thính giả của chúng ta muốn biết phần thứ hai là gì?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi thiển nghĩ rằng vì Hoa Kỳ muốn làm thay đổi cơ chế kinh tế và chính trị của Bắc Kinh, chúng ta nên tìm hiểu và phân tích trận thương chiến giữa hai hệ thống chính trị trái ngược, giữa hệ thống dân chủ pháp quyền và có phân quyền của Hoa Kỳ với hệ thống độc tài và tập quyền của Trung Quốc.
Thị trường Mỹ phản ứng với sự bất ổn toàn cầu vì chiến tranh trương mại Mỹ-Trung.
Thị trường Mỹ phản ứng với sự bất ổn toàn cầu vì chiến tranh trương mại Mỹ-Trung. AFP
- Hoa Kỳ là một nước dân chủ đa nguyên với hệ thống phân quyền về chính trị, và cứ hai năm lại có bầu cử. Vì đa nguyên nên trước mọi vấn đề người ta có nhiều cách nhận định và phản ứng chứ không thể có sự đồng dạng hay hiện tượng độc quyền chân lý. Hệ thống phân quyền khiến Hành pháp cấp Liên bang phải chia sẻ thẩm quyền với Lập pháp, Tối cao Pháp viện và quyền lực của các tiểu bang, lẫn hệ thống Ngân hàng Trung ương. Vì vậy, trong trận thương chiến đang bùng nổ với Bắc Kinh, quan điểm của doanh nghiệp kiếm lời nhờ làm ăn với Trung Quốc vẫn được truyền thông báo chí trình bày và phân tích để tác động vào dư luận và cử tri sẽ đi bỏ phiếu. Bắc Kinh nhắm kỹ vào thành phần đó với tấm lịch bầu cử.

Trung Quốc có lợi thế?

Nguyên Lam: Nếu vậy thì lãnh đạo Trung Quốc lại có nhiều lợi thế tương đối so với lãnh đạo của Hoa Kỳ, thưa ông có phải như vậy không?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Thưa là về lý thuyết thì như vậy, thực tế lại rắc rối hơn.
- Quả thật, lãnh đạo Bắc Kinh tập trung quyền lực tới độ cao nhất, chẳng phải lo bầu cử và mọi thành phần chỉ có một quan điểm từ lời phán của Tổng Bí Thư Tập Cận Bình trên ngai Hoàng đế. Trong khi đó, chính trường và cả doanh trường Hoa Kỳ lại đầy tiếng nói ồn ào lẫn nhiễu âm thường trực về kinh tế lẫn chính trị, thậm chí về thẩm quyền của Tổng thống. Hậu quả của hai hiện tượng đó là gì?
Nguyên Lam: Thưa ông đúng như vậy, hậu quả của hai hiện tượng trái ngược đó là gì?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Hậu quả đơn giản là ta biết lãnh đạo Bắc Kinh muốn gì mà chẳng biết rằng lãnh đạo Hoa Kỳ muốn gì, khi nào thì nói thật và sẽ làm thật!
- Trong khi đó, và đây mới là chuyện lý thú, cả hai nền kinh tế vẫn bị thị trường chi phối qua quyết định của hàng tỷ tác nhân kinh tế chạy theo ánh mặt trời. Đó là giới tiêu thụ, đầu tư và giới trung gian, từ người mua hàng đến doanh nghiệp hoạt động toàn cầu cho tới người giao dịch trái phiếu hay cổ phiếu trên thị trường tài chính thường xuyên hoạt động 24 tiếng một ngày. Lực lượng đông đảo mà vô danh ấy tác động vào thị trường chứng khoán, ngoại hối, vào phân lời trái phiếu lẫn khối nợ mà các chính phủ cần xử lý!
- Khi tổng hợp lại thì chúng ta thấy gì? Tại Hoa Kỳ, niềm tin của giới tiêu thụ và đầu tư đang nâng đà tăng trưởng tới mức cao nhất và mức thất nghiệp xuống thấp nhất kể từ 17 năm nay. Tại Trung Quốc đà tăng trưởng của 30 năm sau cải cách chỉ còn là vang bóng và núi nợ quá lớn gia tăng quá nhanh đang là một vấn đề cho lãnh đạo. Khi trận thương chiến gia tăng cường độ thì chế độ tập quyền tại Bắc Kinh vẫn phải ứng phó với thị trường và càng muốn duy trì một đà tăng trưởng an toàn về chính trị thì càng phải bơm thêm tín dụng chứ không dễ gì phá  giá đồng bạc để bù vào sự tổn thất vì xuất khẩu sút giảm. Các bài toán kinh tế ấy mới thách đố quyền lực tuyệt đối của chế độ độc tài.
- Vì vậy, chế độ dân chủ có thể gây ra ấn tượng hỗn loạn như tại Hoa Kỳ nhưng vẫn cho phép mọi người thích ứng với hoàn cảnh đổi thay dồn dập và thay đổi luôn cả giới dân cử sẽ lãnh đạo. Chứ một chế độ độc tài như tại Bắc Kinh thì khó linh động thích ứng với sự vận hành của một môi trường đa nguyên và phức tạp vì vậy cho đến nay họ chưa giải quyết nổi những thất quân bình nội tại đã thấy từ thời 2002-2007 và nay còn lâm vào một trận thương chiến tai hại!
Nguyên Lam: Ban Việt ngữ đài Á Châu Tự Do cùng Nguyên Lam xin cảm tạ chuyên gia kinh tế Nguyễn-Xuân Nghĩa về bài phân tích quả là có đầy nghịch lý vào tuần này.