Showing posts with label TinTuc-TheGioi-TrungCong-ChinhTri. Show all posts
Showing posts with label TinTuc-TheGioi-TrungCong-ChinhTri. Show all posts

Tuesday, January 2, 2018

Trung Cộng đưa tướng không quân có kinh nghiệm ở Biển Đông vào ban thường vụ quân ủy

Trung Cộng đưa tướng không quân có kinh nghiệm ở Biển Đông vào ban thường vụ quân ủy
Quân đội Trung Cộng vừa đưa một tướng Không Quân có hiểu biết chuyên môn về Biển Đông vào ban thường vụ quân ủy của quân chủng Không Quân, nhấn mạnh tầm quan trọng của vùng biển có tranh chấp.
Nhật báo Bưu Điện Hoa Nam Buổi Sáng trích dẫn trang tin thepaper.cn ở Thượng Hải hôm Thứ Hai 1/1/2018 cho biết, Trung tướng Xu Anxiang, 61 tuổi, cựu tư lệnh Quân Khu Miền Nam vào ủy ban 10 người trong đảng cộng sản đứng đầu Không Quân. Quân Khu Miền Nam là một trong năm quân khu của Trung Cộng và có trách nhiệm bảo vệ các quyền lợi của Trung Cộng ở Biển Đông. Nhà phân tích Zeng Zhiping, từ Viện Công Nghệ Nam Xương ở tỉnh Giang Tây, nói rằng Không Quân Trung Cộng cần một người trong hàng ngũ chỉ huy có hiểu biết chuyên môn và kinh nghiệm ở Biển Đông. Trên trang blog chính thức, Không Quân Trung Cộng cho biết Tướng Xu đã tham gia vào các chuyến bay huấn luyện và tuần tiễu trên Biển Đông, từng dành hết tâm trí để chuẩn bị và chiến thắng một cuộc chiến.
Trong một diễn biến có liên quan, cựu hiệu trưởng Trường Sĩ Quan Không Quân Trung Cộng, Thiếu Tướng Yu Qingjiang cũng được đưa vào làm thành viên mới nhất của ban thường vụ quân ủy Không Quân. Tướng Yu, một phi công chiến đấu cơ có kinh nghiệm, sẽ làm Tham mưu trưởng Không Quân. Việc bổ nhiệm hai tướng Không Quân vào đầu năm 2018 là một sự rẽ hướng so với đầu năm 2017, khi quân đội Trung Cộng bổ nhiệm hai phó đô đốc Hải Quân làm Tham mưu trưởng Hải Quân và Tư lệnh Quân Khu Miền Nam.
Huy Lam / SBTN

Sunday, November 1, 2015

LÝ BẰNG TIẾT LỘ HỘI NGHỊ THÀNH ĐÔ 1990

Hội nghị Thành Đô ngày 3-4/9/1990 là bước ngoặt của quan hệ Trung-Việt… Hai bên ký kết “Kỷ yếu hội nghị” đồng thuận bình thường hóa quan hệ song phương. Đảng cộng sản Việt Nam không tiết lộ và cũng không công bố cho toàn nhân dân Việt Nam biết cuộc đàm phán bí mật, một sự kiện lịch sử quan trọng này. Ngày 5/11/1991, Đỗ Mười Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam và Võ Văn Kiệt Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng đến thăm Trung Quốc. Ngày 7/11/1991, hiệp định mậu dịch Trung-Việt và hiệp định tạm thời về việc xử lý công việc biên giới hai nước đã được ký tại Nhà khách chính phủ Điếu Ngư Đài Quốc Tân Quán Bắc Kinh (钓鱼台国宾馆).
Một phần tư liệu về Hội nghị bí mật Thành Đô 1990, được tiết lộ bởi“Lý Bằng Nhật ký ngoại sự” (李鹏外事日记 ) và “Hợp tác phát triển Hòa Bình” (和平发展合作), ngoài ra tác giả công bố hơn 230 bức ảnh phụ trang, phần lớn đã được công bố tại Trung Quốc. Nguồn: Công bố bởi Nhà xuất bản Tân Hoa Xã.
1
Chúng tôi xin tóm lược một luồng thông tin giới thiệu tới độc giả như để tham khảo những tài liệu sau này về Hội Nghị Thành Đô 1990:
Lý Bằng (Li Peng) viết hai cuốn Hồi ký “Nhật ký ngoại sự”, và “Hòa Bình phát triển hợp tác”, đó là những cuốn sách nhật ký chú trọng phần hoạt động đối ngoại của Lý Bằng đã từng là Phó Thủ tướng, Thủ tướng Chính phủ và Chủ tịch Ủy ban Thường vụ (NPC).
Bài này trích trong cuốn “Nhật ký ngoại sự” và “Hòa bình phát triển hợp tác” của tác giả Lý Bằng. NXB Tân Hoa xã xuất bản. Nguồn:people.com.cn. [1]
Hàng trước từ trái sang: 1) Hoàng Bích Sơn, trưởng ban đối ngoại T.Ư. (3) Phạm Văn Đồng, (4) Nguyễn Văn Linh (bên phải Giang Trạch Dân), (5) Giang Trạch Dân (áo xám đứng giữa), (6) Lý Bằng, (7) Đỗ Mười, (9) Hồng Hà (bìa phải) và Đinh Nho Liêm. Ảnh chụp tại Kim Ngưu tân quán Thành Đô Tứ Xuyên (成都宾馆金牛)
Hàng trước từ trái sang: 1) Hoàng Bích Sơn, trưởng ban đối ngoại T.Ư. (3) Phạm Văn Đồng, (4) Nguyễn Văn Linh (bên phải Giang Trạch Dân), (5) Giang Trạch Dân (áo xám đứng giữa), (6) Lý Bằng, (7) Đỗ Mười, (9) Hồng Hà (bìa phải) và Đinh Nho Liêm. Ảnh chụp tại Kim Ngưu tân quán Thành Đô Tứ Xuyên (成都宾馆金牛)
Hội nghị vừa kết thúc, nhật báo Tứ Xuyên loan tải một thông điệp của phái đoàn Việt Nam: “Việt Nam bày tỏ mong muốn sẵn sàng chấp nhận làm một khu vực tự trị thuộc chính quyền trung ương tại Bắc Kinh như Trung Quốc đã dành cho Nội Mông, Tây Tạng, Quảng Tây… Phía Trung Quốc đồng ý và đồng ý chấp nhận đề nghị nói trên và cho Việt Nam thời gian 30 năm để Đảng Cộng sản Việt Nam giải quyết các bước tiến hành cần thiết cho việc gia nhập đại gia đình các dân tộc Trung Quốc!” [2]
Lý Bằng “Nhật ký ngoại sự” (外事日记)  ghi lại quá trình bình thường hóa quan hệ Trung-Việt như sau:
Cuối những năm 1970. Việt Nam đưa quân sang Campuchia. Năm 1979, quan hệ Trung-Việt đụng đáy hết thuốc chữa. Tháng 12 năm 1986, thời đó Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh đương quyền, tình hình quốc tế thay đổi, đặc biệt là ở Đông Âu, Liên Xô bị tan rã. Nguyễn Văn Linh tìm kiếm chính sách, điều chỉnh lại bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc-Việt Nam.
Sau khi hai bên Trung-Việt thông qua đường liên lạc, đồng ý hội nghị bí mật vào ngày 03 – 04 tháng 9 năm 1990. Nguyễn Văn Linh và Hội đồng Bộ trưởng Việt Nam Đỗ Mười chấp nhận đàm phán với các nhà lãnh đạo Trung Quốc tại Thành Đô tỉnh Tứ Xuyên.
Thứ Sáu, ngày 26 tháng 12 năm 1986. Tổng Bí thư Lê Duẩn qua đời vào tháng 7. Nguyễn Văn Linh được đắc cử Tổng Bí thư Đảng cộng sản Việt Nam, tại Đại hội 6 đảng Cộng sản Việt Nam.
Thứ Bảy, ngày 26 tháng 8.
Việt Nam tuyên bố “Rút toàn bộ quân đội của Việt Nam ra khỏi Campuchia”. Lần này, tạo ra các điều kiện để giải quyết “trơn tru” cho mọi thuận lợi của vấn đề Campuchia, đồng thời làm “sạch” các chướng ngại bình thường hóa quan hệ Trung-Việt.
Thứ Tư, ngày 6 tháng 6.
Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh, hẹn gặp Đại sứ Trung Quốc Trương Đức Duy (Zhang Dewei) [3] tại Bộ Quốc phòng Việt Nam. Nguyễn (Văn Linh), hy vọng cho một lần đầu, thực hiện bình thường hóa quan hệ giữa hai nước, hai đảng, đồng thời mong sớm được đàm phán tại Trung Quốc.
Chủ Nhật, ngày 26 tháng 8.
Giới thiệu chuyến viếng thăm nội bộ đảng Cộng sản Việt Nam tại Trung Quốc, gồm Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh mục đích giải tỏa những vấn đề hai nước, hai đảng…, tôi đã nói với đồng chí Giang Trạch Dân, ông cho biết hoàn toàn tán thành.
Thứ Hai, ngày 27 tháng 8.
Về việc đồng chí Giang Trạch Dân và tôi sẽ hội kiến với Nguyễn Văn Linh theo những dự thảo liên quan, tôi đã báo cáo lên đồng chí Đặng Tiểu Bình. Theo quan điểm của Thế vận hội Châu Á (Asian Games) sắp tới tổ chức tại Bắc Kinh, nhưng cuộc họp này liên quan đến việc bình thường hóa quan hệ song phương Trung-Việt, đặc biệt hệ trọng, nên để tiện cho việc bảo mật, địa điểm hội đàm sẽ được bố trí ở Thành Đô.
Thứ Năm, ngày 30 tháng 8.
Đồng chí Giang Trạch Dân và tôi đã đi đến Thành Đô để đàm phán nội bộ với Tổng Bí thư đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Văn Linh, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Việt Nam Đỗ Mười, đã có ban hành lời mời phía Việt Nam. Bây giờ thử xem Việt Nam trả lời thế nào.
Chủ Nhật, ngày 02 tháng 9.
15 giờ 30, tôi lên chiếc máy bay chuyên cơ, cất cánh từ vùng ngoại ô sân bay Tây Giao Bắc Kinh, khoảng 6 giờ 00 đến sân bay Thành Đô. Chúng tôi di chuyển bằng ô-tô qua lộ trình mất hơn 20 phút đến Kim Ngưu tân quán (宾馆金牛), Bí thư Tỉnh ủy Dương Nhữ Đại đang chờ đợi. Đồng chí Giang Trạch Dân đáp một chiếc bay chuyên cơ đến Thành Đô vào lúc 08 giờ 30 tối, chậm hơn tôi nửa giờ sau. Đến 11 giờ đêm, tôi cùng đồng chí Giang Trạch Dân trao đổi chính sách cho cuộc đàm phán với phía Việt Nam vào ngày mai.
Thành Đô, thứ Hai, ngày 03 tháng 9.
Buổi sáng, tôi đến chỗ đồng chí Giang Trạch Dân tiếp tục nghiên cứu các nguyên tắc tiến hành đàm phán với phía Việt Nam.
Khoảng 14 giờ 00, Tổng bí thư Đảng cộng sản Việt Nam Nguyễn Văn Linh, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Đỗ Mười và Cố vấn Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam Phạm Văn Đồng cùng đến Kim Ngưu tân quán Thành Đô (成都宾馆金牛) [4]. Giang Trạch Dân và tôi chào đón họ tại tầng lầu 1. Tổng Bí thư Đảng cộng sản Việt Nam Nguyễn Văn Linh, mặc veston cà phê, phong thái học giả. Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Việt Nam Đỗ Mười mái tóc bạc trắng cũng có thái độ mạnh mẽ, mặc veston màu xanh. Họ là những người trên bảy mươi tuổi, và Phạm Văn Đồng thị giác mắt nheo đục, mặc veston đại cán phù hợp với màu xanh, ông cũng là cựu chiến binh Trung Quốc.
Kim Ngưu tân quán Thành Đô Tứ Xuyên (成都宾馆金牛)
Kim Ngưu tân quán Thành Đô Tứ Xuyên (成都宾馆金牛)
Buổi chiều, cuộc đàm phán bắt đầu, Nguyễn Văn Linh lần đầu tiên thực hiện một bài phát biểu dài. Mục đích mong muốn bày tỏ giải quyết các vấn đề Campuchia càng sớm càng tốt, đồng thời đàm phán việc thành lập Hội đồng tối cao của Campuchia là một phần ưu tiên, không nên loại trừ bất kỳ bên nào, không thể bày tỏ sự miễn cưỡng để can thiệp vào công việc nội bộ của Campuchia. Xem ra về vấn đề Campuchia, Nguyễn Văn Linh có vẻ chỉ muốn bày tỏ thái độ tuyên bố về nguyên tắc, trọng điểm là đặt vào phương diện bình thường hóa quan hệ Trung-Việt. Cuộc đàm phán tiếp tục cho đến 8 giờ 00, sau 08 giờ 30 mới bắt đầu mở tiệc buổi tối. Bên bàn tiệc, tôi và đồng chí Giang Trạch Dân lần lượt làm việc với Đỗ Mười và Nguyễn Văn Linh.
Thứ Ba, ngày 04 tháng 9.
Buổi sáng, chúng tôi tiếp tục họp với các nhà lãnh đạo của Việt Nam. Tại thời điểm này, có thể nói những vấn đề nêu ra trong đàm phán đã đi đến sự đồng thuận một cách khá thỏa đáng, cùng quyết định soạn thảo một bản “Kỷ yếu hội nghị”.
14 giờ 30, trong hai bên Trung-Việt tổ chức một buổi lễ ký kết tại khách sạn trên tầng số 1 Nhà khách Kim Ngưu, hai bên lần lượt đồng ký do Tổng bí thư và Thủ tướng Chính phủ tương ứng. Đây là một bước ngoặc lịch sử trong quan hệ Trung-Việt. Đồng chí Giang Trạch Dân đọc câu thơ của Lỗ Tấn “Phong ba đã trôi, mỗi tình anh em vẫn còn, gặp nhau lại vui, bỏ qua hết thẩy hận thù” (Độ tận kiếp ba huynh đệ tại, Tương phùng nhất tiếu mẫn ân cừu) tặng cho các đồng chí Việt Nam. Về vấn đề này, các đồng chí Việt Nam tỏ ra hài lòng.
16:00, chuyên cơ cất cánh về Bắc Kinh, khoảng 6 giờ 10 như vậy đã đến nơi.
Đảng cộng sản Việt Nam họp Đại hội 7

Thứ Bảy, ngày 29 tháng 6 năm 1991.
 
Đại hội 7 Đảng cộng sản Việt Nam bế mạc, Đỗ Mười được đắc cử Tổng bí thư, Nguyễn Văn Linh, Phạm Văn Đồng làm cố vấn. Những giai điệu tổng thể của Đại hội 7, Đảng cộng sản Việt Nam, nhấn mạnh kiên trì giáo lý chủ nghĩa xã hội, tham gia vào các cải cách kinh tế, chủ trương tình hữu nghị Việt-Xô, Việt-Trung. Tinh thần của Đại hội 7 có lợi cho việc cải thiện quan hệ song phương Trung-Việt.
Bắc Kinh thứ ba, ngày 30 tháng 7.
Buổi chiều, tôi đã gặp gỡ các đại diện đặc biệt của Lê Đức Anh của Ủy ban Trung ương Việt Nam và Hồng Hà. Họ yêu cầu mở cuộc họp cấp cao Trung-Việt tổ chức tại Việt Nam. Tôi cho rằng, để nhân dân hai nước có sự chuẩn bị trước, để cho ASEAN và các nước khác không nảy sinh nghi ngờ, hai bên Trung-Việt cần tiến hành cuộc đáp ứng, gặp ở các cấp thứ trưởng và bộ trưởng ngoại giao trước đã, như cuộc họp cấp cao, phía Trung Quốc cho rằng không có vấn đề về nguyên tắc. Ngày hôm sau Tổng bí thư Giang Trạch Dân sẽ trả lời chính thức với phía Việt Nam. Về việc bình thường hóa quan hệ kinh tế giữa Trung Quốc và Việt Nam, theo nguyên tắc bình đẳng và cùng có lợi, cả hai đối tác thông qua tham khảo ý kiến​​ và giải quyết. Trung Quốc giữ thái độ tích cực với tất cả các lĩnh vực về thương mại, bưu chính, vận chuyển, thanh toán ngân hàng, khôi phục giao thông đường bộ.
Thứ Ba, 17 giờ 00, ngày 05 tháng 11.
Đồng chí Giang Trạch Dân và tôi đã đã tổ chức lễ đón chính thức Tổng bí thư Đảng cộng sản Việt Nam Đỗ Mười và Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Võ Văn Kiệt tại quảng trường ở ngoài cửa phía đông Đại lễ Đường Nhân dân.
Tiếp đó, chúng tôi tổ chức tiến hành cuộc đàm phán. Đỗ Mười có thái độ rất rõ ràng về vấn đề Đài Loan. Đồng chí Giang cho biết, sau khi quan hệ song phương một thời quanh co, nay đã trải qua một quãng đường gập ghềnh, các nhà lãnh đạo Trung Quốc và Việt Nam có thể ngồi lại với nhau để tiến hành cuộc đàm phán cấp cao mang ý nghĩa quan trọng. Đây là một kết thúc của các cuộc đàm phán trong quá khứ, hướng tới tương lai, nó đánh dấu sự bình thường hóa trong quan hệ hai nước, sẽ có tác động sâu sắc đến sự phát triển của quan hệ song phương. Đỗ Mười nói rằng, bình thường hóa quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc phù hợp với nguyện vọng và lợi ích căn bản của nhân dân hai nước, đồng thời cũng giúp ích cho hòa bình và ổn định của khu vực và trên thế giới. Tiếp đó, tổ chức bữa tiệc.
Thứ Tư, ngày 06 tháng 11.
Buổi chiều, tôi đàm phán với Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Việt Nam Võ Văn Kiệt, bầu không khí rất tốt. Đầu tiên tôi nêu ra rằng Tổng bí thư Giang Trạch Dân và Tổng Bí thư Đỗ Mười đã tiến hành đàm phán khả quan, đã trao đổi đầy đủ quan điểm. Về vấn đề Đài Loan, thái độ Võ Văn Kiệt thể hiện rất tốt. Tôi điểm qua các vấn đề về vay nợ, biên giới, người dân tị nạn… trong cuộc hội đàm. Hai bên đồng ý sau này sẽ không bàn tới nữa. Với các dự án vay vốn do phía Việt Nam vừa đề xuất, tôi đã hứa sẽ cho khảo sát các dự án của phía Việt Nam. Về vấn đề Campuchia, tôi nêu rõ, thỏa thuận về giải pháp chính trị toàn diện cho vấn đề Campuchia đã được ký tại Paris, việc thực hiện thỏa thuận vẫn đòi hỏi các bên phải tiếp tục nỗ lực.
Nhà khách chính phủ Điếu Ngư Đài Quốc Tân Quán (钓鱼台国宾馆)
Nhà khách chính phủ Điếu Ngư Đài Quốc Tân Quán (钓鱼台国宾馆)
Thứ Năm, ngày 7 tháng 11.
Buổi chiều, Hiệp định Thương mại Trung-Việt và Hiệp định tạm thời về việc xử lý các vấn đề biên giới giữa hai nước đã được ký kết và thỏa thuận tại Nhà khách chính phủ Điếu Ngư Đài Quốc Tân Quán (钓鱼台国宾馆). Các lãnh đạo đảng và chính phủ hai nước đã dự lễ ký kết, sau đó, tôi cùng đồng chí Giang Trạch Dân chia tay Đỗ Mười và Võ Văn Kiệt. Họ sẽ đi du lịch đến Quảng Châu, Thẩm Quyến và đến thăm những nơi khác.
Huỳnh Tâm
________________________________________
Chú thích:
 
[2] (越南表示愿意接受作为中央政府在北京的一个自治区为中国的内蒙古,西藏,广西…中国方面同意接受并同意上述建议和越南为期30年的越南共产党解决必要加入中国民族的大家庭中的步骤!)
[3] Đại sứ Trung Quốc Trương Đức Duy (Zhang Dewei) thư ký riêng của Hồ Chí Minh.
[4] Kim Ngưu tân quán Thành Đô (成都宾馆金牛)
Tham khảo:
 
1- “Hợp tác phát triển Hòa Bình – Ngoại giao Li Peng Diaries”
2- Li không né tránh “nhạy cảm” phát hành 230 thêm hình ảnh công khai
3- “Hợp tác phát triển Hòa Bình – Ngoại giao Li Diary” được công bố

Wednesday, October 1, 2014

Hàng loạt quan chức CSVN dự buổi ăn mừng quốc khánh Tàu Cộng





Bạn đọc Danlambao - Tối 29/9/2014, khoảng 400 quan khác, trong đó có nhiều lãnh đạo cộng sản cấp cao ở các bộ ngành đã có mặt tại khách sạn Meliá Hà Nội để dự buổi tiệc ăn mừng 65 năm quốc khánh Tàu Cộng (1/10/1949-1/10/2014).
Phó thủ tướng Vũ Văn Ninh dẫn đầu phái đoàn CSVN tham dự buổi chiêu đãi do đại sứ quán Trung Cộng tổ chức.
Ngoài ra, buổi ăn mừng quốc khánh Tàu Cộng còn có sự xuất hiện của nhiều quan chức đứng đầu các cơ quan, bộ ngành như: bộ quốc phòng, ngoại giao, kế hoạch đầu tư, bộ công thương, nội vụ, đoàn thanh niên CS Hồ Chí Minh…
Cả đại sứ Trung Cộng Hồng Tiểu Dũng và phó thủ tướng Việt Nam Vũ Văn Ninh tiếp tục phát biểu những thông điệp sáo rỗng về tình hữu nghị, hợp tác.
Theo hình ảnh do đại sứ quán Trung Cộng công bố, trong số những khác mời tham dự buổi chiêu đãi có cả trung tướng Nguyễn Chí Vịnh, thứ trưởng bộ quốc phòng CSVN.
Những vị quan khách đã nghĩ gì khi lúc các ông đang ăn nhậu, thì tại Trường Sa, Trung Cộng đang ồ ạt đổ quân xây dựng sân bay quân sự trên đảo Gạc Ma, đặt toàn bộ miền Nam Việt Nam trong tầm ngắm của chiến đấu cơ Trung Cộng.
Máu của 64 chiến sỹ hải quân Việt Nam đã đổ xuống tại đảo Gạc Ma năm 1988, còn ai nhớ đến họ hay không?
Muốn biết ai là Việt gian thân Tàu, cứ lục tìm danh sách trong số 400 quan chức CSVN tham dự buổi tiệc ăn nhậu tối hôm 29/9/2014 là rõ nhất.
Bạn đọc Danlambao

Saturday, August 23, 2014

Những thất bại của Đặng Tiểu Bình



Published on August 23, 2014   ·  
deng

Nhân 110 năm ngày sinh nhật Đặng Tiểu Bình
Đặng Tiểu Bình có thể là một thiên tài, một kiến trúc sư lớn, xây dựng thành công mô hình « xã hội chủ nghĩa theo bản sắc Trung Hoa », giúp đất nước này thoát cảnh nghèo đói và chậm tiến. Nhưng trên quan điểm chiến lược quân sự, họ Đặng có nhiều khuyết điểm. Ông không phải là một nhà chiến lược quân sự có tài. Thất bại liên tục hai cuộc chiến biên giới 1979 và 1984 trước một nước nhỏ là Việt Nam đã chứng minh điều này.
1/ Thất bại về chiến lược quân sự của Đặng Tiểu Bình :
Lịch sử nhân loại cho ta thấy đường biên giới giữa hai quốc gia được thành hình do kết quả của « tương quan lực lượng » giữa hai bên. Đối với nhiều học giả Trung Quốc, đường biên giới miền bắc VN, do Pháp và nhà Thanh hoạch định theo các công ước 1887 và 1895, là một đường biên giới « bất bình đẳng », gây thiệt hại cho TQ. Những người này cho rằng công ước được ký kết trong lúc nhà Thanh bị uy hiếp, nhà Thanh phải « nhượng » VN lại cho Pháp mà không có sự trao đổi (về đất đai) nào. Trước chiến tranh (Pháp-Trung 1884) xảy ra, hai bên Pháp và nhà Thanh đã có thương lượng về số phận của Việt Nam. Năm 1883, theo tinh thần một kết ước giữa Lý Hồng Chương và viên Đặc sứ Toàn quyền Pháp tại Bắc Kinh là ông Bourée, Pháp nhìn nhận đường biên giới hai bên là một đường vẽ ở khoảng giữa vĩ tuyến 21 và 22 (từ Lào Cai ra biển), trong khi phía nhà Thanh đòi hỏi biên giới đi qua tỉnh Ninh Bình. Tuy nhiên, sau khi chính phủ Ferry lên nhậm chức ở Paris, kết ước này bị hủy bỏ, ông Bourée (cho là bị Lý Hồng Chương mua chuộc) bị bãi chức và triệu hồi.
Cuộc chiến 1979 cho thấy « mục tiêu quân sự » của họ Đặng có thể là xác lập lại đường biên giới Việt-Trung, theo tinh thần của kết ước Bourée – Lý Hồng Chương. « Mục tiêu quân sự » của họ Đặng là chiếm các vùng đất đã hoạch định : từ Lào Cai ra biển. (Tại vùng Lạng Sơn, biên giới theo sông Kỳ Cùng). Các « mũi nhọn » chiến lược của các đạo quân TQ trên vùng biên giới cho ta thấy điều này.
Thất bại cuộc chiến 1979, cũng là thất bại chua cay của Đặng Tiểu Bình. Chua cay vì VN bị tấn công cùng lúc trên hai mặt trận : phía bắc và phía tây nam. Toàn bộ lực lượng của VN đã dồn về biên giới Kampuchia, biên giới phía bắc hầu như bỏ ngỏ. Quân TQ (với gần 300.000 quân cùng xe tăng đại pháo), vậy mà không hoàn tất được mục tiêu quân sự. Quân TQ chịu tổn thất lớn và đã mất quá nhiều thời gian (gần một tháng) để chiếm Lạng Sơn, lúc Liên Xô đã quyết định vào cuộc. TQ không thể ở lại các vùng đất đã chiếm, vì lo ngại Liên Xô can thiệp, trong khi quân VN vẫn còn ở lại Kampuchia (cho đến cuối thập niên 80).
Lý do thất bại, họ Đặng đã không nghe lời các tham mưu, có kinh nghiệm trên thực địa. Những người này khuyên nên chiếm một vùng đất giới hạn mà VN không thể chiếm lại được (như huyện Trùng Khánh) hay khu vực biên giới Thanh Thủy.
Thất bại lần thứ hai, chiến dịch biên giới Vị Xuyên năm 1984. Cuộc chiến này cũng khốc liệt, dài dẵn cho đến cuối năm 1989, nhưng trong dân chúng (cũng như trước quốc tế), sự xung đột này bị hai bên dấu nhẹm.
Mục tiêu quân sự của phía TQ có thể là thiết lập lại đường biên giới khu vực Hà Giang (xã Thanh Thủy) theo đúng như tinh thần công ước 1887 và công ước bổ túc 1895.
Nội dung hai công ước này, biên giới trong khu vực là con suối Thanh Thủy (chứ không phải là đường phân thủy, qua các đỉnh núi (gồm Lão Sơn…) như trên bản đồ hiện nay. Có thể tham khảo sơ lược tại http://nhantuantruong.blogspot.fr/2014/07/nhan-120-nam-chien-tranh-trung-nhat.html ).
Sau nhiều năm xung đột, phía TQ vẫn thua. Thua vì không đạt được mục tiêu quân sự. Đường biên giới hiện nay (có thay đổi chút đỉnh) nhưng vẫn không phải là con suối Thanh Thủy, như mong muốn của họ Đặng.
(Tác giả sẽ trở lại vài dịp khác để trình bày vì sao biên giới khu vực xã Thanh Thủy (huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà giang) không phải là con suối Thanh Thủy như đã qui định của các công ước Pháp Thanh 1887 và 1895.)
2/ Về di sản « lý thuyết và thực tiễn » của Đặng Tiểu Bình trong vấn đề phát triển Trung Quốc :
Theo cuốn « Từ lý luận đến thực tiễn » của tác giả Trần Tiên Khuê, các định hướng chính của họ Đặng là xây dựng quốc gia Trung quốc thành « một nước phát triển toàn diện », một quốc gia « sáng lập tự do dân chủ xã hội chủ nghĩa », với các tiêu chí như sau :
« Mục tiêu của Trung Quốc là trở thành một nước nêu gương phát triển toàn diện, một nước sáng lập tự do dân chủ xã hội chủ nghĩa.
« Thứ nhất, làm một nước hòa bình và phát triển, không bành trướng xâm lược, không cướp đoạt đối với bên ngoài, dựa vào sức mình và lớn mạnh.
« Thứ hai, sáng lập tự do dân chủ xã hội chủ nghĩa, sáng tạo văn hóa, sáng tạo văn minh nước lớn xã hội chủ nghĩa kiểu mới.
« Thứ ba, không yêu cầu người khác tuân theo y nguyên mô hình phát triển của mình …
« Thứ tư, Trung Quốc cần có cống hiến đáng kể đối với nhân loại, nhất là cần chủ trì công bằng, chủ trì chính nghĩa, ra sức giúp đỡ các nước vừa và nhỏ phát triển, không đòi hỏi bất cứ điều kiện gì. »
Hiển nhiên cái gọi là « xã hội chủ nghĩa theo bản sắc Trung Quốc » hiện nay, nguyên thủy bắt nguồn từ ý kiến « tự do dân chủ xã hội chủ nghĩa » của Đặng Tiểu Bình. Các tư tưởng « nền tảng » của họ Đặng, như về « miêu luận », về « dò đá qua sông »… tựu trung ở việc giải thích thuần túy lý thuyết, sao cho việc xây dựng Trung Quốc (bằng thể thức cũng như vốn liếng, khoa học kỹ thuật của tư bản) hài hòa, không bị mâu thuẩn với chủ thuyết nền tảng lập quốc « xã hội chủ nghĩa » của Mao Trạch Đông.
Họ Đặng đưa ra những khẩu hiệu « phát triển », « hòa bình »… nhằm để trấn an các nước (giúp đỡ Trung Quốc như Mỹ, Nhật, Nam Hàn…) cũng như các nước lân bang để được sự trợ giúp về tư bản và kiến thức khoa học lỹ thuật. Việc này họ Đặng đã thành công. Trung Quốc hiện nay phát triển vượt mức, trở thành cường quốc thứ hai về kinh tế trên thế giới. Trao đổi hàng hóa giữa Trung quốc với Hoa Kỳ, Nhật, Nam Hàn, các nước Tây Âu… chiếm phần lớn lưu lượng hàng hóa trên thế giới. Trung Quốc trở thành « đầu tàu » lôi kéo sự phát triển kinh tế của cả thế giới.
Tuy nhiên trong nội bộ của Trung Quốc, các khẩu hiệu « Trung Quốc hòa bình quang phục », « Trung Quốc hòa bình quật khởi »… được loan truyền. Dĩ nhiên, việc « quang phục », tức lấy lại (một cách vinh quang) những gì đã mất, thì không thể thực hiện bằng phương thức « hòa bình ».
Chi phí lớn nhất của Trung Quốc hiện nay là quân sự. Ngân sách dành cho quốc phòng của nước này đứng thứ nhì trên thế giới, (gần hai trăm tỉ đô la), chỉ sau Hoa Kỳ. Lãnh đạo Bắc Kinh không giải thích được lý do vì sao phải chi tiêu lớn lao cho quân sự (trong thời bình), như Mỹ phải đối phó với các chiến trường Trung Đông, về các đe dọa khác trên thế giới. Trung Quốc không bị đe dọa bởi thế lực nào.
Nỗ lực của Trung Quốc dành cho « quốc phòng » chỉ có hai ý nghĩa : một là chuẩn bị cho chiến tranh, hai là răn đe không cho chiến tranh xảy ra. Ngoài ra là vấn đề Đài Loan.
Vấn đề « thống nhất đất nước », đối với đảng lãnh đạo, là thánh thức lớn. Đảng Cộng sản Trung quốc có trách nhiệm thống nhất đất nước, nhằm khẳng định tính chính thống (là một đảng lãnh đạo chứ không phải là đảng cách mạng).
Đài Loan có vai trò quan trọng cho TQ về kinh tế. Nếu không nói quá, Đài Loan là động cơ của phát triển kinh tế của TQ ngay từ những ngày đầu mở cửa. Đầu tư ở các tỉnh Quảng Đông và Phúc Kiến phần lớn đến từ tài phiệt Đài Loan. Về địa lý chiến lược, Đài Loan giữ vai trò cửa ngõ để hải quân TQ đi ra « biển xanh » (để có thể « đối đầu » với hải quân các cường quốc Mỹ, Tây Âu…)
Về địa lý chiến lược, phía Đông, Trung Quốc bị kềm hãm trong vùng nước cạn của Đông Hải, bởi bức trường thành thiên nhiên là quần đảo Nansei (Nam Tây) của Nhật, chạy dài từ cực Nam của đảo Kyushu cho đến phía Bắc đảo Đài Loan. Phía Đông và Đông Nam, Trung Quốc bị ngăn chận bởi Đài Loan và Phi. Phía Nam, tức biển Đông theo tên gọi của Việt Nam, cũng là vùng biển cạn, trong đó còn có khoảng 130 đảo san hô rải rác trong một vùng 100km chiều ngang và 200km chiều dài, bao bọc bởi các nước Việt Nam, Phi, Nam Dương, Mã Lai và Brunei. Trong các vùng biển cạn, cận bờ và có nơi đầy cạm bẫy đá và san hô, tàu ngầm không thể hoạt động hữu hiệu.
Trung Quốc chỉ có thể trở thành « đại quốc » nếu tàu ngầm chiến lược của Trung Quốc ra vào an toàn vùng biển sâu và rộng của Thái Bình Dương. Việc này chỉ có thể thực hiện nếu Đài Loan và Biển Đông nằm dưới kiểm soát của Trung Quốc.
Trong khi đó, đà phát triển của TQ khiến TQ trở thành một nước « đói » năng lượng. Vùng biển Đông, các vùng trầm tích chạy dọc theo bờ biển VN, các bãi Tư Chính, Vũng Mây, Phúc Tần, Phúc Nguyên… trên thềm lục địa VN, hay vùng bãi Cỏ Rong thuộc quần đảo TS, hay là vùng thềm lục địa chung quanh quần đảo Điếu Ngư, là những vùng có thể có trữ lượng dầu khí. Mặt khác, các nơi đó đều là các ngư trường quan trọng trên thế giới. Trước đây, Tưởng Giới Thạch (khi vạch bản đồ chữ U) đã xem đó là « không gian sinh tồn – espace vitale » của Trung Quốc.
Tiêu chí họ Đặng, « hòa bình và phát triển, không bành trướng xâm lược, không cướp đoạt đối với bên ngoài, dựa vào sức mình và lớn mạnh », có thể thực hiện được, nhưng không thể bằng các phương pháp (diều hâu) của các thế hệ kế thừa, mà nạn nhân là Việt Nam và Phi, như đã thấy hiện nay.
Hành động cho đấu thầu 9 lô trên thềm lục địa VN năm ngoái, cho đặt giàn khoan 981 mới đây, hay các việc cắt cáp tàu nghiên cứu của VN, trong hải phận của VN, hay việc chiếm bãi cạn Scarborough của Phi…
Hiện nay Trung Quốc đã ra mặt tranh chấp (một cách gay gắt) với Nhật về chủ quyền quần đảo Điếu Ngư, đơn phương tuyên bố thành lập « vùng nhận diện phòng không » (ADIZ) trên biển Hoa Đông. Trong Biển Đông, lãnh đạo Bắc Kinh đã thể hiện những hành vi bành trướng về lãnh thổ (và hải phận), gây hấn đối với láng giềng chung quanh (Việt Nam, Phi, Mã Lai…) làm đảo lộn trật tự đã thiết lập từ Thế chiến II đến nay.
Như thế mục tiêu của việc gia tăng lớn lao ngân sách quốc phòng của Trung Quốc nhiều sác xuất là chuẩn bị cho chiến tranh (chứ không nhằm giải phóng Đài Loan). Lãnh đạo Bắc Kinh không thể phục hồi những gì (lãnh thổ) đã mất (một cách vinh quang) bằng phương pháp hòa bình.
Các việc này cho thấy hậu duệ của họ Đặng đã không xây dựng Trung Quốc thành một « đại quốc » theo tiêu chí « hòa bình » của Đặng Tiểu Bình, mà theo tư tưởng xâm lược Đại Hán.
Đặng Tiểu Bình cũng nói nhiều về « nước lớn – đại quốc », mà Trung quốc hướng tới : « nước lớn xã hội chủ nghĩa kiểu mới ». « Xã hội chủ nghĩa kiểu mới » tức là « tự do dân chủ xã hội chủ nghĩa », nay gọi là « xã hội chủ nghĩa theo bản sắc Trung Quốc » đã nói ở trên.
Các thế hệ hâu duệ của học Đặng đã xây dựng đất nước đến đâu rồi ?
Quan niệm về « nước lớn – đại quốc » theo Đặng Tiểu Bình là :
« Một đại quốc phải hội đủ các điều kiện : Thứ nhất, kinh tế phát triển hàng đầu thế giới. Thứ hai, chiến lược quân sự ở địa vị tiên phong. Thứ ba, tuyên truyền tư tưởng văn hóa có thể ảnh hưởng đến toàn cầu. Thứ tư, có ảnh hưởng chính trị lớn nhất thế giới. »
Có thể trong chừng mực Trung Quốc hiện nay đã trở thành một « đại quốc » về kinh tế và quân sự. Nhưng hai tiêu chí về văn hóa và chính trị vẫn còn là thánh đố.
Từ thời Giang Trạch Dân, người kế thừa trực tiếp từ Đặng Tiểu Bình, ta đã biết đến các khẩu hiệu xây dựng Trung quốc : « hòa bình phát triển » và xây dựng « nhà nước pháp trị xã hội chủ nghĩa » (đề xướng năm 1997). Ở Hồ Cẩm Đào ta biết đến khẩu hiệu « xã hội hài hòa ».
Nguyên nhân của khẩu hiệu « xã hội hài hòa » do từ những khuyết tật xã hội Trung Quốc. Phát triển ở đây không đồng đều (hài hòa). Chỉ một phần nhỏ dân chúng hưởng thành quả của việc phát triển thần kỳ về kinh tế, trong khi phần lớn dân chúng còn lại sống trong cảnh bất công và nghèo khó.
Thời kỳ của Giang và Hồ đã không làm được gì để thay đổi hình ảnh (xấu) của TQ trên thế giới. Tức là phương diện văn hóa và chính trị vẫn là con số âm. Mặc dầu lãnh đạo Bắc Kinh cố gắng xây dựng những học viện Khổng Tử ở các nước nhằm loan truyền văn hóa Trung Hoa, nhưng thành quả vẫn chưa thấy.
Hiện nay Tập Cận Bình, người tự xưng là « hậu duệ » của Đặng Tiểu Bình, « kế thừa » di sản của ông này, đưa đề cương « Trung Hoa Mộng – giấc mơ Trung Hoa » (như để cạnh tranh với « giấc mơ Hoa Kỳ » của những người muốn đến Mỹ quốc để tìm cơ hội). Nhưng điều mà là họ Tập cố gắng thực hiện (trong lúc này) là xây dựng « nhà nước pháp trị xã hội chủ nghĩa », qua các việc bài trừ tham nhũng trong hàng ngũ lãnh đạo, nhằm chấn chỉnh lại xã hội Trung Quốc.
Tập Cận bình đã nhìn thấy yếu điểm của Trung Quốc và muốn sửa chữa. Hiện nay nỗ lực xây dựng « nhà nước pháp trị xã hội chủ nghĩa » của họ Tập bị đồng hóa với việc thanh trừng. Điều này cho thấy, « giấc mơ Trung Hoa » của họ Tập, có thể trở thành ác mộng cho chính ông, nếu việc cải cách thất bại.
Tiêu chí của Đặng Tiểu Bình về « nước lớn » chỉ có thể thực hiện, nếu văn hóa và chính trị Trung Quốc, tức là kiểu mẫu phát triển của Trung Quốc, « quyến rũ » được các nước khác. Mà việc này chỉ có thể hiện thực nếu nhà nước Trung Quốc là một nhà nước pháp trị (thật sự), đảng lãnh đạo là một đảng « cầm quyền » chứ không phải là một đảng « cách mạng ». Việc phát triển phải hài hòa, đem lại phúc lợi cho toàn thể người dân trong nước mà không loại trừ bất kỳ thành phần dân chúng nào.
Lúc đó Trung Quốc mới có thể « cống hiến cho nhân loại, chủ trì công bằng, chủ trì chính nghĩa, ra sức giúp đỡ các nước vừa và nhỏ phát triển… » như là nước Mỹ hiện nay.
Con đường đi lên « đại quốc » của Trung Quốc được Đặng Tiểu Bình khẳng định :
« không theo đường « bá quyền thực dân » của Bồ Đào Nha hay Hòa Lan ở thế kỷ thứ 16 và 17. Con đường của Trung Quốc cũng không theo bá quyền lãnh đạo tự do kiểu Mỹ hay bá quyền xã hội chủ nghĩa của Liên Xô, đặc biệt là sự thống nhất bá quyền quân sự với bá quyền hình thái ý thức ».
Nhưng hành vi của các hậu duệ của họ Đặng lại phủ nhận tiêu chí của Đặng tiểu Bình.
Trường hợp Dương Khiết Trì trong một buổi họp hồi năm ngoái giữa các lãnh đạo ASEAN và bà ngoại trưởng Clinton, thực sự là thái độ « bá quyền thực dân ». Việc dọa nạt các nước khác (ASEAN) là « các tiểu quốc – nước nhỏ » là hành vi của một « thái thú », bất chấp nguyên tắc cơ bản của LHQ là sự bình đẳng giữa các nước. Ngoài ra, gần đây, cũng ông này, sang VN nhân vụ giàn khoan 981. Thái độ của ông này đối với VN rõ ràng là thái độ hách dịch giữa « thượng quốc » với « chư hầu » chứ không phải là sự giao thiệp giữa hai quốc gia bằng hữu. (Tuy vậy việc này là do phía VN, vì đồng hóa quan hệ quốc gia với « việc gia đình », hơn là từ phía TQ).
Trong khi họ Đặng (cũng như các lãnh đạo khác của TQ) ảnh hưởng sâu đậm lý thuyết « Địa Chiến lược – Không gian sinh tồn » của Friedrich Ratzel (sách gối đầu của Hitler). Mục tiêu đi tới « đại quốc » của họ Đặng (và hậu duệ) vì thế cũng dựa trên lý thuyết này. (Xem lại ở đây :http://nhantuantruong.blogspot.fr/2014/06/thoat-trung.html )
Nếu như thế, ta cần phải hiểu tư tưởng của họ Đặng « ở giữa hai hàng chữ », tức nói vậy mà không phải vậy. Tức là tiêu chí « nước lớn » : « một nước hòa bình và phát triển, không bành trướng xâm lược, không cướp đoạt đối với bên ngoài, dựa vào sức mình và lớn mạnh » chỉ là chót lưỡi đầu môi.
Theo FB Nhân Tuấn Trương

Tuesday, August 19, 2014

Từ văn kiện tuyệt mật chống VN đến 600 ngày tăm tối của Mao



Published on August 19, 2014   ·   
TUANDUONGHAM-LYTHUONGKIET
Ảnh và chú thích của Tư liệu VNCH tháng 3.1974: Tuần dương hạm Lý Thường Kiệt HQ.16 từ Hoàng Sa trở về trong sự reo mừng của hàng ngàn người dân Việt Nam đang đón chờ

Đời Mao, có 600 ngày phải chìm trong bóng tối bởi mắt bị mờ dần, rồi không nhìn thấy hẳn – bất hạnh đó đến liền ngay sau những ngày đầu Mao “đụng tới” Hoàng Sa…
Cuối tháng 1.1974, mắt Mao bỗng nhiên nhòa hẳn. Khoảng mươi mười lăm thước Mao thấy một người dường như “có hai ba”. Dụi mắt xong, lại thấy một người “có đến bốn năm”, rồi “sáu bảy” – tựa hồ “bóng người âm” vậy. Dần dà, Mao không thể tự xem sách báo, ngay cả khi đọc các văn kiện nếu phải viết lời phê thì “cũng phải nhờ người khác viết thay (…) cũng không thể thấy mặt những người quen thuộc xung quanh, thậm chí ngay cả người đi qua sát mặt, Chủ tịch cũng không nhìn rõ” (Trần Trường Giang, sđd ở Kỳ 8, tr. 325).
Các chuyên gia nhãn khoa hàng đầu của Trung Quốc chẩn đoán và thông báo Mao bị “đục thủy tinh thể” cả hai mắt, buộc phải phẫu thuật. Nhưng chưa thể phẫu thuật ngay, vì dạng “mù mắt” của Mao phải đợi đến giai đoạn phát bệnh hoàn toàn mới can thiệp “bằng dao kéo” được. Nên, Mao phải “tiếp tục chờ đợi trong mấy trăm ngày dài u tối” nữa – Bệnh càng nặng, đến nỗi Mao “bị mù hoàn toàn, hai chân bị phù thủng, nếu không có người dìu thì không thể đi lại được” (Trần Trường Giang, sđd, tr. 332).
Mao không cho nói với bất kỳ ai khác về chuyện Mao “không nhìn được” ngoài các nhân viên, thư ký, bác sĩ phải làm việc cạnh Mao hàng ngày, kể cả Bộ Chính trị cũng chỉ có Chu Ân Lai, Đặng Tiểu Bình với vài ủy viên nữa biết.
Tuy thị lực “gần như bằng 0”, nhưng đầu óc Mao vẫn rất tỉnh táo, sắc sảo, tay Mao vẫn nắm chặt quân đội. Bởi quân đội là điều kiện “ắt có” để khai sinh và bảo vệ chế độ của Mao – như Mao từng tuyên ngôn: “Chính quyền vươn lên từ nòng súng”!
Ngón tay Mao độc quyền đặt lên cò súng “quốc gia”, bởi Mao không nhường cho ai vị trí Chủ tịch Quân ủy trung ương. Mao biết, nếu rời vị trí ấy Mao có thể đã bị Lâm Bưu thanh toán.
Trong quá khứ, Lâm Bưu không thể ra tay được, do quyền điều động quân đội tập trung trong tay Mao, Bắc Kinh nghiêm ngặt tới mức “điều động một trung đội cũng phải được Mao phê chuẩn – Lâm Bưu là Phó Chủ tịch Quân ủy kiêm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng cũng không được điều động một trung đội. Tổng tham mưu trưởng Hoàng Vĩnh Thắng trở xuống càng không có quyền ấy” – theo Tân Tử Lăng.
Vậy nên, Lâm Bưu không thể dùng bộ binh đánh ngược Mao. Dầu Hoàng Vĩnh Thắng thuộc vây cánh Lâm, Thắng vẫn không dám phiêu lưu tự ý cầm quân qua cửa ngõ thành phố lấy nửa bước, đừng nói tới “vẫy tay vung đạn” vào Trung Nam Hải ! Lâm Bưu kế cùng, muốn qua Vương Phi (Phó Tổng tham mưu trưởng Không quân) để “tạm mượn” tiểu đoàn cảnh vệ trực thuộc Bộ Tư lệnh Không quân bất ngờ đánh vào Điếu Ngư Đài – theo dự kiến. Không may, giờ chót: lực lượng không quân thân Lâm Bưu bị Chu Ân Lai khống chế, vô hiệu hóa, cả nhà Lâm đành lao vào “đường bay tuyệt mệnh”!.
Cũng ở vị trí Chủ tịch Quân ủy trung ương, Mao điều hơn 40 chiến hạm đến vùng biển Việt Nam làm “tấm lá chắn”cho quần đảo Hoàng Sa sau ngày đánh chiếm (chúng tôi sẽ trở lại “sự kiện Hoàng Sa” trong phần viết về quần đảo Trường Sa ở đoạn sau của loạt bài này).
Trước ngày “bùng nổ Hoàng Sa”, Quân ủy trung ương của Mao soạn thảo một văn kiện tuyệt mật chống phá Việt Nam, lưu hành nội bộ, bị tiết lộ bởi gián điệp Trung Quốc Lê Xuân Thành (người Quảng Đông, được Bắc Kinh tung vào Việt Nam hoạt động và bị bắt tại Quảng Bình ngày 30.3.1973).
Văn kiện có đoạn: “Nước ta và nhân dân Việt Nam có mối hận thù dân tộc hàng nghìn năm nay. Chúng ta không được coi họ là đồng chí chân chính của mình, đem tất cả vốn liếng của ta trao cho họ. Ngược lại chúng ta phải tìm mọi cách làm cho nước họ ở trong tình trạng không mạnh, không yếu mới có thể buộc họ ở trong tình trạng hiện nay. Về bề ngoài chúng ta đối xử
với họ như đồng chí của mình, nhưng trên tinh thần ta phải chuẩn bị họ trở thành kẻ thù của chúng ta…” (theo văn kiện của Bộ Ngoại giao nước CHXHCNVN: “Sự thật về quan hệ Việt Nam – Trung Quốc trong 30 năm qua” công bố 4.10.1979 – Phần thứ tư).
Nhìn về quá khứ, quan hệ “bất bình đẳng” giữa Việt Nam – Trung Quốc đã xảy ra qua đàm phán Geneva 1954. Điều đó, bạn đọc có thể tìm hiểu sâu hơn qua bài viết của Thảo Nguyên “Cố TBT Lê Duẩn: Chúng ta không được phép sợ Trung Quốc !” (Báo điện tử Một Thế Giới 8.7.2014) – trích tham khảo một đoạn (do thư ký của cố thủ tướng Phạm Văn Đồng là ông Việt Phương kể) :
“Khi bàn thảo về Hiệp định Geneva, Bộ Chính trị của ta chỉ đồng ý lấy vĩ tuyến 16 là ranh giới cuối cùng của khu phi quân sự tạm thời giữa hai miền Nam – Bắc trong thời gian chờ tổng tuyển cử. Nhưng Trung Quốc với sự ảnh hưởng của mình, đã khăng khăng ép ta chọn vĩ tuyến 17. Khi chúng ta bàn bạc vấn đề này với Trung Quốc, họ đã nói: “Chúng tôi là tướng ngoài mặt trận. Các đồng chí hãy để cho chúng tôi tùy cơ ứng biến”. Khi nói như thế, người Trung Quốc đã tự cho mình quyền định đoạt số phận của người Việt Nam”.
Sau này, vào 1972, TBT Lê Duẩn nói thẳng với Chu Ân Lai: “Năm đó, người Trung Quốc các anh đã bán đứng chúng tôi trên bàn đàm phán” (Một Thế Giới – tài liệu đã dẫn).
Tư tưởng “nước lớn” và “bành trướng” ngày càng bám rễ trong tư duy của Trung Nam Hải do Mao lèo lái ngay cả khi Mao bị bóng tối giam cầm. Bị mù, Mao vẫn bằng mọi cách trực tiếp xuất hiện trước lãnh đạo các quốc gia đến thăm Trung Quốc như Thủ tướng nước Anh Sir Edward Health (6.1974), Thủ tướng Vương Quốc Bỉ Leo Tindemans (19.4.1975), Thủ tướng Thái Lan Kukrit Pramoj (1.7.1975).
Trong bóng tối, Mao sắp đặt cẩn thận và chu đáo chuẩn bị đón tổng thống Mỹ Gerald Rudolph Ford sẽ đến Bắc Kinh (12.1975) tiếp tục bàn thêm về thỏa hiệp Trung Mỹ – bao gồm việc Mỹ vẫn mở eo biển Đài Loan cho những “hạm đội Đông Hải” của Mao theo con đường nhanh nhất tràn xuống phía Nam?
THEO MỘT THẾ GIỚI

Friday, August 15, 2014

"Đả hổ diệt ruồi" hay "phục hổ- hàng long"?


Việt-Long, RFA
2014-08-14
Email
Ý kiến của Bạn
Chia sẻ
In trang này
xi-jinping
TBT, Chủ tịch nước TQ Tập Cận-Bình
Courtesy of chinadailymail.com

Mục đích chính trị hay tư pháp?

Hôm thứ ba 12 tháng 8, 2014, lại có tin một tướng lãnh cựu phó chủ tịch quân ủy trung ương Trung Quốc,  Thượng tướng Quách Bá Hùng, bị câu lưu để điều tra như môt nghi can tham nhũng. Họ Quách cũng bị bắt về cùng một tội danh giống như cấp trên của ông là Thượng Tướng Từ Tài Hậu: "nhận hối lộ để cho hàng loạt sĩ quan quân đội thăng cấp".
Tin hôm qua mới là tin chính thức, vì báo Hoa ngữ hải ngoại Bác Tấn đã loan tin từ một tháng trước, nói là họ Quách có thể đã bị bắt. Tướng Bá-Hùng là người thân cận với thượng tướng Từ Tài Hậu, và cũng có quan hệ thân thiết với nhân vật được gọi là trùm tham nhũng của Trung Quốc, cựu Ủy viên thường trực Bộ chính trị Chu Vĩnh Khang. Những người này còn là những người rất thân thiết về chính trị với cựu Bí thư Trùng Khánh đã bị thanh trừng là Bạc Hy Lai, và tất cả đều phục tùng một người cao hơn nữa.
guo-boxiong-trong
Thương tướng Quách Bá Hùng với TBT Nguyễn Phú Trọng tại Hà Nội, 13 tháng tư, 2011
Cả ba nhân vật trong nhóm đảng viên cao cấp nhất của đảng Cộng sản Trung Quốc, trong đó có một ủy viên thường vụ bộ chính trị, điều khiển công an và tình báo Chu Vĩnh Khang,  hai cựu phó chủ tịch quân ủy trung ương Từ Tài Hậu, Quách Bá Hùng, ngoài những điểm chung về tham nhũng và thân thiết với ông Bạc Hy Lai đã đành, họ còn là những người thân tín của ông Giang Trạch Dân, do ông Giang đưa vào Quân Ủy trung ương dưới thời chủ tịch Hồ Cẩm Đào là người lãnh đạo Đảng vào lúc đó. Ông Giang Trạch Dân làm như vậy để giữ ảnh hưởng quyền lực quân sự và chính trị.
Vì thế vụ thanh trừng cấp cao của đảng Cộng sản Trung Quốc không khỏi liên quan đến vấn đề chính trị trong Đảng. Rõ ràng ông Tập Cận-Bình vẫn tiếp tục thanh toán phe cánh của Bạc Hy Lai, cựu bí thư Trùng Khánh đã bị hạ bệ cùng với vợ là Cốc Khai Lai. Nhưng đối tượng sau cùng có thể là chính người bảo kê cho những con hổ này.
Một chiến dịch tư pháp chống tham nhũng phải do hệ thống tòa án và an ninh quyết định mục tiêu và hành động.  Ở đây việc quyết định bắt ai và chừa lại những ai chỉ do hai người, là Chủ tịch Tập Cận-Bình và người thân tín nhất của ông, Trưởng ban kỷ luật trung ương Đảng Vương Kỳ Sơn.
Ngoài những nhân vật cao cấp có ảnh hưởng chính trị và quyền bính, hay nói rõ hơn là trong cuộc đấu tranh quyền lực trong giới lãnh đạo tối cao ở Bắc Kinh, chiến dịch còn nhắm đến tất cả viên chức ở mọi cấp, chính trị cũng như chuyên viên, dính líu vào tham nhũng từ trước đến nay. Vài khuôn mặt điển hình mới nhất trong giới này là Đào Ly-Minh, cựu giám đốc Ngân hàng tiết kiệm quốc doanh Bưu điện Trung Hoa, bị bắt hôm 13 tháng 8, hay Vương Tôn Nam, cựu tổng giám đốc công ty thực phẩm quốc doanh lớn nhất của Trung Quốc ở Thượng Hải, bắt hôm 12 tháng 8. Ngoài ra trong hai tháng nay còn có hằng chục viên chức, đảng viên cỡ đó bị câu lưu và điều tra, chưa kể trên 30 viên chức cấp thứ trưởng trở lên đã là mục tiêu thanh trừng.
Điều này chứng tỏ hành động vá trời lấp biển của ông Tập Cận-Bình nhắm cả hai mục tiêu chính trị lẫn tư pháp, chống tham nhũng,

Sờ gáy cựu chủ tịch ?

Chỉ riêng vụ Chu Vĩnh Khang và Từ Tài Hậu bị thanh trừng đã được mô tả là trận động đất lớn trong tầng lớp lãnh đạo tối cao của Trung Quốc, nay nếu tới lượt Giang Trạch Dân bị sờ gáy thì đúng là trận đại hồng thủy của nền chính trị Trung Quốc do đảng Cộng sản lãnh đạo.
Tuy nhiên trước Giang Trach Dân, nếu có thể kể tới ông này, người ta đã chú ý đến cựu phó chủ tịch nước Tăng Khánh Hồng, có thể đang trong tầm ngắm của chủ tịch họ Tập và các đồng chí thân tín.
Được coi là nhân vật từng chống lưng cho Chu Vĩnh Khang. Tăng Khánh Hồng năm nay 75 tuổi, từng là Ủy viên bộ chính trị cùng với Ôn gia bảo, Giả Khánh lâm, Ngô Bang Quốc cùng 4 người khác và Hồ Cẩm Đào lãnh đạo nền chính trị quân sự Trung Quốc, sau thời Giang Trach Dân và Chu Dung Cơ.
Tăng Khánh Hồng cũng giống như Chu Vĩnh Khang, từng công tác hơn 30 năm trong ngành dầu khí, và đều được cựu Bộ trưởng dầu khí–năng lượng Trương Đường Khắc đề bạt, sau đó thăng tiến nhanh chóng và trở thành nhân vật mà dư luận người Hoa ngoài nước gọi là "chưởng môn nhân bang dầu khí”.  Tăng Khánh Hồng còn được xưng tụng là “đầu rồng” của “bang dầu khí” giàu có này. Nhưng lúc con hổ Chu Vĩnh Khang sa lưới cũng là lúc bang hội dầu khí giàu có ngất trời này bắt đầu lâm nạn. Tờ Minh Báo cho biết đã có hơn 120 quan chức từ cấp sở trở lên bị điều tra. Nhiều người trong số đó từng có quan hệ trên mức thân thiết với Tăng Khánh Hồng và Chu Vĩnh Khang.

Tướng lãnh bất tuân
jiang
Cựu TBT, chủ tịch nước Giang Trạch-Dân - Courtesy of english.sina.com

Về Giang Trạch-Dân, người ta phải mở lại hồ sơ Chu Vĩnh Khang, Từ Tài Hậu, Ôn Gia Bảo, Hồ Cẩm Đào.
Đầu tiên cần nhằc lại rằng Chu Vĩnh Khang là một trong đôi ba nhân vật có quyền lực cao nhất ở Bắc Kinh, được giới quan sát gọi là "Sa Hoàng" ngành an ninh tình báo của Trung Quốc, một cơ chế không lồ lâu đời quản lý đời sống chính trị và an ninh của tất cả hơn 1 tỷ người Trung Quốc, có ngân sách tương đương hay lớn hơn ngân sách của quân đội.
Từ Tài Hậu là phó chủ tịch quân ủy trung ương vào thời Hồ Cẩm Đào là chủ tịch đảng, chủ tịch nước và chủ tịch quân ủy. Tuy nhiên người ta cho rằng vị chủ tịch quân ủy trung ương này chẳng khác gì bù nhìn, khi họ Từ và một phó chủ tịch kia chỉ nghe lệnh Giang Trạch-Dân, khi đó đã về  hưu, bàn giao chức vụ cho họ Hồ.
Giới quan sát được biết là sau trận động đất ở Văn Xuyên, Tây tạng năm 2008, thủ tướng Ôn Gia-bảo đến thị sát tại chỗ, nhưng quân đội bầt tuân lệnh của ông khiến nhiều người đã mất cơ hội quý giá để được cứu sống.
Họ Ôn thúc đẩy công cuộc cứu cấp, ra lệnh khẩn cấp khai thông ngay lập tức con đường đếnVăn Xuyên bằng mọi giá. Các đơn vị quân đội tỏ ra cố tình trì hoãn thi hành, có đơn vị còn dám từ chối đưa quân tới giúp, với lý do "thời tiết chưa tốt". Thủ tướng họ Ôn hét lên trong điện thoại với một tướng lảnh "Tôi không cần biết lý do, nhân dân trả lương cho anh, việc đó tùy anh" và dập mạnh chiếc điện thoại xuống.
Tướng Từ Tài Hậu điều khiển quân đội trong 10 năm. Không rõ vì sao thời gian đó Giang Trạch-Dân vẫn nắm giử quyền lãnh đạo quân sự dù ông đã nghĩ hưu. Người ta chỉ thấy chủ tịch đương nhiệm Hồ Cẩm Đào không có quyền hành gì với quân đội, vì các tướng chỉ huy đều là người do họ Giang đề bạt, và chỉ nghe lệnh Giang Trạch-Dân.
Tướng Trần Bình Đức, Tổng tham mưu trưởng quân đội thời đó, phổ biến một báo cáo cho biết sau khi động đất ở Văn Xuyên 72 giờ đồng hồ hai ông Hồ Cẩm Đào và Ôn Gia Bảo vẫn không thể điều động được quân đội tới nơi, vì Giang Trạch-Dân giữ quyền chuẩn thuận mọi hành động quân sự.
Nhà nghiên cứu, cựu Giám đốc xuất bản của Đại học quốc phòng Trung Quốc Tân Tử Lăng nói với đài VOA rằng Hồ Cẩm Đào chỉ có quyền ban lệnh cho cấp Thiếu tướng trở xuống, từ trung tướng trở lên chỉ nhận lệnh của Giang Trạch-Dân. Họ Tân còn nói Hồ Cẩm Đào "không thể nói" được quân đội.
(Nhà nghiên cứu Tân Tử Lăng là tác giả quyền "Mao Trạch Đông, ngàn năm công, tội" (Thông tấn xã Việt Nam dịch và in năm 2009, bản điện tử do "Mõ Hà Nội" đưa lên mạng, http://www.viet-studies.info/kinhte/MaoTrachDong_NganNamCongToi.htm))
Hẳn nhiên ông Tập Cận-Bình không thể không rõ về những sự kiện đó.
Đầu tháng 7 vừa qua, bốn "con hổ lớn" được coi là "đệ tử" của Giang Trạch-Dân cùng bị trục xuất khỏi Đảng và đi tù cùng một lúc. Đó là: Từ Tài Hậu, Lý Đông Sanh, Tưởng Khiết Mẫn và Vương Vĩnh Xuân.
Trước đó nữa là vụ Bạc Hy Lai. Họ Bạc nhanh chóng thăng tiến ở Đại Liên và Liêu Ninh, Trùng Khánh cũng nhờ được Giang Trạch-Dân chiếu cố. Mối quan hệ khởi đầu từ năm 1999 khi Bạc Hy Lai đi Bắc Kinh mời họ Giang thăm Đại Liên trong lễ kỷ niệm 100 năm tuổi của thành phố. Ông Giang Trạch-Dân đã rất hài lòng khi thấy bức chân dung khổng lồ của mình được treo trên quảng trường trung tâm thành phố. Từ đó sự nghiệp của họ Bạc lên như diều gặp gió, một phần cũng do tài lãnh đạo và quản lý của ông.
bo-xilai-xu-caihu
Bạc Hy-Lai và Từ Tài Hậu, tại Bắc Kinh 2012
Bạc Hy Lai và Từ Tài Hậu đều là những trợ thủ rất đắc lực của Giang Trạch-Dân khi họ Giang khởi sự chiến dịch tiêu diệt Pháp Luân Công từ 1999.

" Phục Hổ, Hàng Long"?

Hiển nhiên Tập Cận-Bình đã nhắm bắn hạ toàn những tay chân trong vòng thế lực của cựu TBT, Chủ tịch nước Giang Trạch-Dân.
Tăng Khánh Hồng cũng nằm trong phe nhóm đó. Vì thế rất đông trong giới phân tích về Trung Quốc đang nóng lòng chờ đòn phản công của Giang Trạch-Dân cùng những tay chân còn lại, hay cảnh họ Giang lên xe "bảo hộ" để đi trả lời trước hệ thống kỷ luật của đảng Cộng sản và tòa án.
Chưa có tin chính thức về việc này, nhưng chỉ với việc cựu phó chủ tịch nước họ Tăng xuất hiện trong tầm ngắm của nhà thợ săn "đả hổ diệt ruồi" Tập Cận-Bình, người ta chuẩn bị phong tặng ông họ Tập danh hiệu "hàng long phục hổ" nhờ thành tích nắm đuôi những con rồng họ Tăng, hay họ Giang.
Thời Giang Trạch-Dân và Chu Dung Cơ có lần Thủ tướng họ Chu đã lên án tập đoàn Thiên Thành thuộc Tổng Cục chính trị, bộ Tổng tham mưu hoạt động buôn lậu, có sĩ quan cao cấp bảo kê và can thiệp, bắt giam cả phái viên của Thủ tướng đến điều tra. Chuyện tham nhũng và xa hoa trụy lạc động trời của nhiều sĩ quan cao cấp trong quân đội nhân dân Trung Hoa đã được lôi ra ánh sáng từ khi đó, nhưng mãi đến nay những con hổ lớn mới sa lưới vì cả hai lý do phe phái chính trị và hành vi tham nhũng, phạm pháp hình sự.
Liệu nhà thợ săn "tráng sĩ hàng long phục hổ" có trở thành "liệt sĩ" về sự nghiệp và thanh danh không?
Dư luận có nghĩ đến chuyện đó, và nhớ lại vài ngày trước khi xảy ra vụ Chu Vĩnh Khang vào ngày 30 tháng 6, ông Tập Cận-Bình tuyên bố trong một buổi họp tối mật của Bộ chính trị, nguyên văn được chép lại, rằng :"Hai đạo quân tham nhũng và chống tham nhũng đang trong thế đối đầu bế tắc"
Một tờ báo nhà nước ở vùng đông bắc Trung hoa thuật lại tin này, cho biết thêm ông Tập còn nói :"Trong cuộc tranh đấu  chống tham nhũng, tội không cần biết sống chết, cũng không lo thanh danh hủy hoại". Một số báo chí Nhà nước trích lại tin này nhưng sau đó đều bị kiểm duyệt gỡ xuống khỏi mạng.
Tuy nhiên đến nay đã hai tháng qua, ông họ Tập đã nhốt được hai con hổ cựu phó chủ tịch quân ủy trung ương Chu Vĩnh Khang, Quách Bá Hùng, chứng tỏ ông đã báo động tình hình như vậy để đòi hỏi sự ủng hộ, yểm trợ của bộ chính trị, và đã thành công.
Người Việt ta có mong Việt Nam sắp có một tráng sĩ Hàng Long Phục Hổ như Tập Cận-Bình, nếu không thành công thì cũng thành nhân, hay chăng? Mong quý vị trả lời câu hỏi này trong mục "Ý kiến bạn đọc" ở cùng trang.
Câu trả lời của Mặc Lâm, RFA, là "Võ Tòng đả hổ có quốc tịch Trung hoa, không phải người Việt Nam!"
Tuy nhiên Mặc Lâm đã quên rằng nước Đại Việt cũng có dũng sĩ Lê Văn Khôi, con nuôi Tả Quân Lê Văn Duyệt, biểu diễn tay không đấm chết hổ trong buổi Tả Quân khao tiệc sứ thần Xiêm La.
Sau khi Lê Tả Quân qua đời và bị vua Minh Mạng truy án, Khôi khởi binh chiếm thành Phiên An (Sài Gòn) và các thành lân cận, nhưng sau cùng bị vây trong thành và chết vì bệnh phù thủng.

Monday, March 17, 2014

Trung Quốc : Hai người Tây Tạng toan tự thiêu

Thứ hai 17 Tháng Ba 2014
RFI-Thanh Hà
Cảnh tuần tra ở Lhasa, Tây Tạng, ngày  14 /03 / 2014. Vùng tự trị này cũng như những nơi khác, như Tứ  Xuyên có nhiều người Tây Tạng cư ngụ đểu bị kiểm soát nghiêm ngặt hầu ngăn chặn các phong trào đấu tranh.Cảnh tuần tra ở Lhasa, Tây Tạng, ngày 14 /03 / 2014. Vùng tự trị này cũng như những nơi khác, như Tứ Xuyên có nhiều người Tây Tạng cư ngụ đểu bị kiểm soát nghiêm ngặt hầu ngăn chặn các phong trào đấu tranh-REUTERS/Jacky Chen
 

Nhiều phương tiện truyền thông và các tổ chức bảo vệ người Tây Tạng ở hải ngoại vào hôm nay (17/03/2014) cho biết hai nhà sư Tây Tạng toan tự thiêu tại Trung Quốc để phản đối chính sách đàn áp tôn giáo của Bắc Kinh.
AFP Trích dẫn nguồn tin từ tổ chức Tây Tạng tự do và đài Châu Á tự do của Hoa Kỳ, theo đó tu sĩ Lobsang Palden, 20 tuổi, vào sáng hôm qua (16/03/2014) châm lửa tự thiêu ngay trên một trục lộ chính của thành phố Aba, thuộc tỉnh Tứ Xuyên. Cảnh sát Trung Quốc đã phát hiện kịp thời, đưa nhà sư này đi nơi khác. Nhưng đến sáng nay, các nhân chứng tại chỗ không biết nhân vật này đã được đưa đi đâu. Aba là thành trì của những nhà tranh đấu, đương đầu với các chính quyền địa phương để phản đối chính sách đàn áp của Trung Quốc đối với người Tây Tạng.

Cũng hôm nay, bản tin của Tân Hoa Xã cho hay cùng thời điểm một nhà sư Tây Tạng thứ nhì tại Hoàng Nam, thuộc tỉnh Thanh Hải, miền tây bắc Trung Quốc đã có hành động tuyệt vọng tương tự. Tân Hoa Xã không tiết lộ thêm danh tính của đương sự.
Tháng ba là cột mốc quan trọng trong lịch sử của người Tây Tạng. Năm 1959 Đức Đạt Lai Lạt Ma, lãnh đạo tinh thần Tây Tạng đã phải bỏ xứ sang Ấn Độ lưu vong sau cuộc nổi dậy bất thành chống lại sự đô hộ của Trung Quốc. Tháng 3/1988, 1989 và 2008 các cuộc biểu tình của giới tu sĩ Tây Tạng tại Lhassa để kỷ niệm biến cố năm 1959 đã biến thành bạo động và đặc biệt là trong đợt kỷ niệm năm 2008, bạo động đã lan rộng đến các tỉnh thành chung quanh Lhassa, nơi có đông người Tây Tạng sinh sống. Tính từ năm 2009 tới nay, đã có hơn 120 tu sĩ Tây Tạng tự thiêu để phản đối Trung Quốc đàn áp tôn giáo và chà đạp văn hóa lâu đời của người Tây Tạng.