Showing posts with label LichSu-ChienTranh-1979. Show all posts
Showing posts with label LichSu-ChienTranh-1979. Show all posts

Saturday, February 16, 2019

Bốn mươi năm sau hồi tưởng Cam đường – Lào cai

Tyty Nguyen|

hông bao giờ tôi quên được ngày kinh hoàng đó 17/02/1979. Mỗi năm cứ đến ngày này tôi lại thắp nhang giữa tim đau khấn thầm những linh hồn chết tức tưởi trong cuộc tàn sát bất ngờ của lũ giặc bành trướng man rợ. Khi đó tôi mới tốt nghiệp ở Nga về được 4 tháng, được biệt phái sang làm cho Đoàn khảo sát chuyên gia Liên xô tại mỏ Aparit Lào cai. 25 tuổi, mới về nước, cái gì cũng lạ lẫm, phải làm quen từ đầu lại những thứ là bình thường với mọi người (7 năm xa Việt Nam không một lần được về). Nhưng lại làm với toàn người Nga, nói tiếng Nga cả ngày nên rất thích hợp. Tôi dịch trực tiếp cho ông trưởng đoàn Kalinhin, một ông to lớn, tốt bụng và vô cùng thông minh, có bà vợ Sveta xinh đẹp dịu dàng, làm trong phòng đo vẽ Trắc đạc. Khi không dịch cho ông ấy, tôi làm hành chính và dịch cho các chuyên gia khác theo lịch, công việc bận rộn nhưng thật vui. Đoàn khảo sát này phủ trùm Việt nam – Lào – Campuchia. Apatít Lào Cai là một trọng điểm, có hơn 50 chuyên gia thường xuyên ở đó. Tính tôi vui vẻ nên thân thiện nhanh với dân bản xứ, thường xuyên chia xẻ mọi thứ cho họ. Hồi đó còn khó khăn lắm, chuyên gia cho tôi nhiều thứ như bánh kẹo, đồ ăn (kho dự trữ của họ rất lớn), tôi chia cho dân Việt ở đó, không hề nghĩ rằng khi xảy ra sự cố, họ có thể trả ơn bằng cả tính mạng của mình.
Sáng nghe thấy tiếng súng nổ, ngỡ rằng đang ngủ mơ, bỗng nghe thấy lao xao, rồi tiếng thét, tôi choàng dậy, mở cửa sổ, sao người chạy qua chạy lại lắm thế. Tôi chạy ra ngoài không tìm được người quen, vội đập cửa gọi các chuyên gia dậy. Không có điện thoại để gọi. Tôi chạy đi tìm lãnh đạo Việt, không gặp ai. Gặp các người dân la hét là chạy đi thôi, nó giết hết dân Bát Xát rồi, nó đập nát đầu nó xiên qua tim, nó hãm hiếp, nó đốt nhà, nó cướp của, bắt cóc …, những ánh mắt thất thần, những bộ mặt bạc phếch vô hồn.
Tôi bắt đầu hoảng hốt, ai đó lôi tôi đi tìm ông Ngữ giám đốc mỏ, Kolя – thủ kho Nga dúi vào tay tôi cái ống nhòm, tôi chạy theo lên trận địa tìm lãnh đạo xin chỉ thị, giơ ống nhòm lên nhìn xa xa thấy các người lố nhố, các đoàn xe phương tiện làm mỏ bị kéo đi, ai đó hét lên ”chúng nó cướp mọi thứ kìa”, tôi bắt đầu hiểu là bọn bành trướng (hồi đó loa phát gọi giặc Tàu như vậy) đã tràn vào và tôi quay phắt chạy nhanh về khu chuyên gia, đập cửa từng phòng, ra lệnh cho tất cả làm theo lệnh của tôi, như có ai nhập vào mình vậy. Lệnh cho các gia đình chuyên gia vơ tư trang đủ dùng, còn lại đổ xăng đầy bình và xăng dự trữ cùng đồ ăn uống nhanh chóng lên xe nổ máy chạy. Lệnh cho thủ kho lấy đủ đồ ăn uống, làm cho tôi 10 túi đầy đủ đồ ăn uống bánh kẹo sữa đường cho 10 gia đình Việt đổi lại cho tôi 10 thanh niên khỏe mạnh, họ sẵn sàng ngay dù không hiểu tôi dùng thế nào, sau sẽ giải thích. Bảo thủ quĩ Nga vét hết tiền mặt có được đi theo bên tôi không rời. Nói thật lúc đó chỉ có tôi với anh Côn là phụ trách cả đoàn chuyên gia cho tới cùng, còn các vị khác chạy về hết lo cho gia đình họ. Chuyên gia chỉ còn bám lấy hai chúng tôi, chỉ hội ý chớp nhoáng rồi ra lệnh, lệnh và lệnh. Thời gian là tính mạng.
- Q
Hà nội gọi, bảo cứ ở lại Cam Đường, ”họ” không vào đâu. Chúng tôi cho nghe tiếng súng và bảo đang chạy về, dập máy không nghe nữa. ”Họ” là giặc Tàu đấy.
Nổ máy, tất cả nghe răm rắp. Dân chạy loạn kín đường, lúc này tôi bắt đầu ra chiêu, phân công cho 10 thanh niên nói trên (may họ quí mến tôi từ trước) chạy dẹp đường phía trên, hai bên và sau đoàn xe để dẹp đường cho đoàn xe com măng ca chạy, miệng hô to ”xe quân sự phục vụ chiến đấu, xin bà con nhường đường“, sau họ chỉ hét ”xe quân sự”…
Đầu tiên dẹp rất chậm, tôi lệnh bấm còi thật to và rồ máy, vì súng nổ dã man sau lưng, các thanh niên cũng thục mạng dẹp đường. Nhìn bà con chạy lếch thếch mà đứt ruột. Nhưng vì sự sống còn của các chuyên gia mà chúng tôi phải lờ đi đồng bào mình để hoàn thành trách nhiệm. Tôi có quăng qua cửa xe một số bánh mì và bánh kẹo vì thấy nhiều trẻ em, không thể làm gì hơn là ứa nước mắt.
Đến đoạn dân chạy còn thưa thớt, tôi cho xe dừng lại phát tiền cho 10 thanh niên, họ rã rời cám ơn không thành tiếng, tôi muốn sụp xuống lạy họ.
Sang đến phố Lu, lo ăn uống nghỉ ngơi tạm. Hà Nội vẫn gọi bảo dừng lại đó để quay lại Cam Đường. Súng lại nổ ran xa xa.
Tôi hét lên ”chạy tiếp ngay”. Hà Nội lệnh dừng lại ở nhà máy Supe Phốt phát Lâm Thao, và phải ở đó cho đến khi có lệnh tiếp.


Thôi thì đã có Ban Giám đốc nhà máy lo. Nhưng các chuyên gia bám riết tôi vì sợ tôi về Hà Nội mất. Tên tiếng Nga của tôi là Tanhia, họ không gọi tên tôi mà chỉ gọi Tanhia “золотая Таня» – Tanhia vàng ngọc, tôi phì cười bảo ”tôi giờ chả bằng cục đất sét”. Nhìn lại tôi không mang theo thứ gì, toàn bộ Vali để lại cho giặc. Họ chia cho tôi đồ lót và quần áo, họ to đùng mà tôi bé nhỏ, phì cười đành chui vào một thứ lùng thùng rồi giặt vội quần áo hong khô mặc tiếp. Lại nghe thông báo giặc đã tràn vào phố Lu tàn phá một hồi rồi rút về Cam Đường. Hú vía.
Đoàn phải ở lại nhà máy 2 tuần, không được về Hà Nội, không ai hiểu vì sao? Và không được ai nói gì về cuộc chạy giặc đó? Tôi không nỡ bỏ lại họ nên không về, người nhà lên tiếp tế quần áo, đồ ăn. Ngày đó cả nước đói khổ lắm, tôi làm với Nga nên trẻ con các nhà toàn gọi tôi là Giám đốc nhà máy thực phẩm.
Khi về đến Hà Nội tôi viết một thư 10 trang gửi ông Đỗ Mười, viết sự thật và những thắc mắc của tôi, nhất là tại sao lại có những lệnh lạ lùng, nếu như không đưa chuyên gia thoát thì họ sẽ bị chết thảm khốc không thể hình dung nổi???
Sau tôi nhận được lệnh phải im lặng, không sẽ rất lôi thôi, cả gia đình tôi quá lo cho tôi nên đều khuyên tôi im để cả gia đình được yên. Và im cho đến hôm nay.
Nhà văn Phạm Ngọc Tiến động viên tôi viết, nên tôi bục lòng dạ ra được thế này cũng như trút ra được nỗi u uất ẩn ức 40 năm. Và giờ thì mọi người hiểu sao tôi nặng lòng với Giỏ thị Bát sát và lần mò đi khắp vùng cao xây trường xây cầu như các bạn đã biết.
Sau này tôi mới biết chiến tranh đã nổ ra khắp các tỉnh biên giới phía Bắc, tàn bạo như thời Trung cổ, biết bao máu đã đổ, bao nhiêu người đã chết oan uổng. Chúng tôi đã thoát chết trong gang tấc. Tôi sang Nga làm tiến sĩ, gặp lại các bạn Nga như ruột thịt vì đã sinh tử một lần cho cả đời. Họ cũng đau yếu và nhiều người mất sớm họ bảo bị nhiễm độc ở Việt Nam.
Chúng ta cùng thắp nén tâm nhang cho mọi linh hồn đã không may sớm phải lìa cõi trần gian này nhé.
Tôi mong muốn lịch sử Việt Nam phải dành những trang xứng đáng cho cuộc chiến kiên cường đau thương của biết bao chiến sĩ và người dân đã ngã xuống trong công cuộc bảo vệ biên cương này./.

Monday, February 29, 2016

'Bao biện thế nào, vẫn khó chối trách nhiệm'

Theo BBC-28 tháng 2 2016 

Việt NamImage copyrightAFP
Image captionNgười dân Việt Nam không quên tưởng niệm cuộc chiến biên giới Việt - Trung (17/2/1979).
Trong lịch sử của nhiều dân tộc, có không ít câu chuyện về khí phách, bản lĩnh của những nhà chép sử vốn chấp nhận cả tù đày, cái chết, mất một phần thân thể... để quyết nói lên sự thật, dù có 'buồn cách mấy' cũng phải thừa nhận rằng thời nay chẳng tìm thấy ai vậy nữa.
Đó là quan điểm của ông Hà Văn Thịnh, nguyên giảng viên và nhà nghiên cứu lịch sử thuộc Đại học Huế, trao đổi với BBC nhân gần đây một số sự thật trong soạn sử, dạy sử ở Việt Nam được các sử gia của nước này tiết lộ với truyền thông, như chuyện soạn sách giáo khoa (SGK) về cuộc chiến Biên giới Việt - Trung (1979), cho tới 'tích hợp lịch sử' trong nhà trường phổ thông, hay chuyện 'dã sử cách mạng' về anh hùng huyền thoại Lê Văn Tám v.v...
Mời quý vị theo dõi sau đây cuộc phỏng vấn qua bút đàm của BBC với sử gia Hà Văn Thịnh:
BBC: Ông bình luận ra sao về cách làm sử ở Việt Nam qua câu chuyện Giáo sư Vũ Dương Ninh mới đây chia sẻ trên trang VnExpress.net về cuộc chiến Biên giới phía Bắc của Việt Nam với Trung Quốc (từ 17/2/1979) khi được phản ánh trong sách giáo khoa, bị cắt từ 4 trang xuống 11 dòng?
Ông Hà Văn Thịnh: “Chuyện” của GS Vũ Dương Ninh vừa cho độc giả biết thực sự gây chấn động với dư luận, thực ra, chẳng có gì mới đối với những người dạy sử, viết sử. Cắt xén, thêm bớt, thổi phồng “tài năng” bên này, bôi xám đối thủ bên kia..., đã là “truyền thống” của một nền sử học luôn nhân danh “lợi ích cách mạng” để “chưa nên công bố” vì nếu công bố sẽ thế này, thế kia...
Nói trắng ra, “người ta” cứ vin vào đủ thứ của cái gọi là “nhạy cảm” để biến hóa khôn lường, làm cho lịch sử không còn là sự thật theo đúng nghĩa của nó nữa...
Dù có bao biện cách nào đi nữa thì những Giáo sư đầu ngành phải chịu trách nhiệm khi cả một cuộc chiến tranh được rút gọn lại chỉ có mươi dòng. Tính chi li, cứ mỗi chữ trong sách giáo khoa, phải đổi bằng cả ngàn mạng người...

Muộn còn hơn không?

Ông Hà Văn ThịnhImage copyrightFB Ha Van Thinh
Image captionÔng Hà Văn Thịnh không chấp nhận cách nói cho huyền thoại Lê Văn Tám là 'dã sử' để được chấp nhận như một 'thông lệ' trong sử học.
BBC: Có người phê phán là những câu chuyện như SGK cắt sự kiện lịch sử còn từ 4 trang giảm 11 dòng này, hay trước đây là chuyện sự thực về huyền thoại Lê Văn Tám đã được tiết lộ quá trễ bởi những người có trách nhiệm và liên quan, thậm chí đặt vấn đề của tư cách người làm sử, nhưng nếu có người đặt lại vấn đề là 'muộn còn hơn không' thì ông thấy thế nào?
Ông Hà Văn Thịnh: Phê phán những người có trách nhiệm trong việc biên soạn lịch sử là điều nên làm, phải làm vì nếu như các nhà sử học chẳng còn bất kỳ chút “dũng khí sự thật” nào thì lịch sử chỉ còn là trò tung hứng của quyền lực!
Còn nói rằng, “muộn hơn không” thì đó là cái “chủ nghĩa AQ” – y như một căn bệnh mãn tính của người Việt. Thời chiến tranh, có câu nói cửa miệng mà ai cũng biết: “Chết vẫn còn may, vì vẫn còn tìm thấy... xác”!
BBC: Bàn về chuyện huyền thoại cách mạng Lê Văn Tám, trả lời BBC từ trước, sử gia, GS Vũ Dương Ninh cho rằng trong sử xưa có chính sử và dã sử, Lê Văn Tám theo ông là một dạng dã sử (ngầm hiểu là nên chấp nhận nó theo cách đó), ông có đồng ý với cách lý giải đó?
Ông Hà Văn Thịnh: Không! Tôi không bao giờ đồng ý với cái cách trượt dài theo bao biện rằng bịa ra lịch sử như Lê Văn Tám lại thuộc về... “dã sử”.
Dã sử kiểu gì đi nữa cũng không thể chấp nhận một con người cụ thể đổ xăng vào rồi châm lửa và... chạy vào kho xăng địch. Phi lý về khoa học, tệ hại về cách dàn dựng. Dối trá như thế rồi lại trách lớp trẻ bây giờ ít trung thực, suy thoái về văn hóa thì quả là chuyện thật buồn...

'Chẳng tìm thấy nữa'

BBC: Năm vừa qua, Việt Nam có vụ việc khá ồn ào về việc nên soạn sách, dạy sử 'tích hợp' hay là để nó như một môn độc lập, đằng sau tất cả mọi tranh cãi, lý lẽ, kể cả việc dường như đã có một chiến dịch các sử gia Hội sử học Việt Nam phản kích rất mạnh mẽ Bộ Giáo dục, câu chuyện này thực sự phản ánh điều gì, theo ông?
Ông Hà Văn Thịnh: Cái chuyện “tích hợp” môn sử dù có giải thích cách nào đi nữa thì vẫn là sự chập choạng của tư duy. Không đủ chứng cứ để nói về ý đồ của những người đề ra “tích hợp” cũng như ai đứng sau cái ý định kỳ quái đó, tôi chỉ muốn lưu ý rằng, một khi người ta “trộn” lịch sử với đạo đức, công dân, an ninh quốc phòng thì các giáo viên tha hồ thả bóng bay ỡm ờ cho học trò hiểu về lịch sử thế nào thì hiểu.
Nói cách khác, hình như có ai đó đã “quên mất rằng” tích hợp là vô hình trung làm mờ lịch sử dân tộc, nếu không muốn nói là các thế hệ sau sẽ QUÊN dần lịch sử nước nhà... Khi đó, ai còn nhớ đến cái gốc, cái nền của bản sắc Việt, Văn hóa Việt?
BBC: Có người nói, dù dưới bất cử lý cớ nào, nếu giảng dạy, chép sử mà 'né tránh' sự thật, 'hy sinh' các nguyên tắc khách quan, trung thực, 'thỏa hiệp' với chính quyền, đổi lấy an toàn, thì đều là hành vi khó chấp nhận với cả dân tộc lẫn khoa học, ông thấy thế nào?
Việt NamImage copyrighttuoitre.vn
Image captionCuộc chiến Biên giới Việt - Trung (1979) đã bị cắt từ 4 trang xuống còn 11 dòng trong sách giáo khoa lịch sử ở Việt Nam, theo tiết lộ mới đây của giới sử gia ở Việt Nam.
Ông Hà Văn Thịnh: Trong lịch sử của nhiều dân tộc, có không ít câu chuyện về khí phách, bản lĩnh của những nhà chép sử: Họ chấp nhận cả tù đày, cái chết, mất một phần thân thể..., để quyết nói lên sự thật. Dù có buồn cách mấy cũng phải thừa nhận rằng thời nay chẳng tìm thấy ai vậy nữa.
Kể cả tôi, khi nói về sự thật cũng chỉ dám đụng chạm vừa phải trong một quá trình tự dặn mình phải tự kiểm duyệt. Nói như thế để biết về một nỗi đau của không ít nhà sử học thời nay. “Lạt mềm buộc chặt” và những “cái lồng vô hình” là kiệt tác về quản lý con người của thời bây giờ. Chính vì thế nên đa số mọi sự phản ánh về sự thật đều xảy ra sau khi... nghỉ hưu. Tôi hay nói đùa là đất nước có một trạng thái đặc biệt: “Sự thật thời hưu trí”...

Làm lại thế nào?

BBC: Cuối cùng, nền sử học trong tương lai của Việt Nam, nếu được tự chủ, độc lập, việc xác lập lại cách làm sử, dạy sử có dễ không sau mấy chục thập niên theo lề lối được cho là 'sử minh họa', 'sử tuyên truyền' như nhiều người nhận xét, khi làm lại, cần bắt đầu từ đâu, từ cái nào là quan trọng, đáng lưu ý nhất?
Ông Hà Văn Thịnh: Chắc chắn rằng nếu lịch sử được chép, kể đúng như nó đã xảy ra thì hấp dẫn, thú vị và cuốn hút vô cùng. Tôi đã từng đọc không ít cuốn sử của các học giả phương Tây: Chúng lôi cuốn từ đầu đến cuối, đọc một mạch không thể dừng được.
Những người có trách nhiệm đã quên mất một điều quan trọng:
Nếu lịch sử cứ mãi chắp vá, sai sự thật thì mọi giá trị đều bị đảo lộn – nhen nhóm, nuôi dưỡng dần “tinh thần dối trá”. Hãy thử hình dung khi không còn cái gì để tin thì con người biết bám víu vào đâu để sống?
Nếu bắt đầu lại theo đúng nghĩa nguyên thủy của lịch sử, tôi chỉ xin lặp lại ý kiến của Hérodotus (480-420 B.C) thuở xưa:
“Kể lại chính xác về những gì đã xảy ra và, cho các nhà sử học bình luận khách quan về tất cả những gì đã xảy ra”!
Ông Hà Văn Thịnh là nhà nghiên cứu, giảng viên ngành sử học từng có nhiều năm làm việc tại Khoa Lịch sử, Đại học Khoa học, Đại học Huế, Việt Nam.

Sunday, February 21, 2016

Xóa lịch sử chiến tranh biên giới 1979: Sự mang ơn ngu muội

 Đào Đức Thông-22.2.16
Chiến tranh biên giới 1979: Những hình ảnh còn mãi với thời gian

(VNTB) - Chúng ta được  sống hưởng hạnh phúc, bình yên trên sự sinh hy lớn lao của những người đã khuất. Đảng & Chính quyền Việt Nam đừng làm kẻ vô ơn, bạc nghĩa và bất nhân, dẫu là trong một thời khắc nhỏ nhất.

TỔNG QUAN

Chiến tranh biên giới Việt Nam năm 1979, thường được gọi là Chiến tranh biên giới Việt - Trung năm 1979 là một cuộc chiến ngắn (trong 1 tháng) nhưng khốc liệt giữa Cộng sản Trung Quốc  và Cộng sản Việt Nam, nổ ra vào ngày 17 tháng 2 năm 1979 khi Trung Cộng đưa quân tấn công Việt Nam trên toàn tuyến biên giới trên bộ giữa hai nước.

Chiến tranh biên giới Việt - Trung bắt nguồn từ mối quan hệ căng thẳng từ lâu giữa hai Đảng CS, kéo dài trong chừng một tháng với thiệt hại nặng nề về người và tài sản cho cả hai phía. Cuộc chiến kết thúc khi Trung Cộng tuyên bố hoàn thành và rút quân vào ngày 16 tháng 3 năm 1979, sau khi chiếm được các thị xã Lạng Sơn, Lào Cai, Cao Bằng, và một số thị trấn vùng biên.

NGUYÊN NHÂN

Năm 1975, trong chuyến thăm Bắc Kinh, Lê Duẩn – TBT Đảng CS Việt Nam thẳng thừng từ chối đưa Việt Nam Dân chủ Cộng hoà vào liên minh chống CS Liên Xô của Trung Cộng, phủ nhận quan niệm của Trung Cộng rằng chủ nghĩa bành trướng của CS Liên Xô là mối đe dọa đối với các nước cộng sản châu Á. Khi Việt Nam ngày càng có quan hệ chặt chẽ hơn với CS Liên Xô, Trung Cộng thấy mình bị đe dọa từ hai phía. Đồng thời, Việt Nam cũng đang cố gắng xây dựng mối quan hệ đặc biệt chặt chẽ giữa 3 nước Đông Dương trong đó Việt Nam giữ vị thế đứng đầu. Cùng với thực tế rằng nước Việt Nam thống nhất đã trở thành một sức mạnh quan trọng trong vùng, làm giảm ảnh hưởng của Trung Cộng. Những điều này làm cho Trung Cộng lo ngại về một "tiểu bá quyền" Việt Nam và việc bị CS Liên Xô bao vây từ phía bắc. Trong tình hình đó thì một nước Campuchia chống Việt Nam đã trở thành một đồng minh quan trọng đối với Trung Cộng sau chuyến thăm Bắc Kinh tháng  9 đến tháng 10 năm 1977 của Polpot nhằm thắt chặt quan hệ đồng minh giữa hai nước.

Chiến tranh biên giới 1979, do Trùm CS Trung Quốc- Đặng Tiểu Bình ra lệnh "dạy cho Việt Nam một bài học", để trả đũa việc Việt Nam đưa quân tình nguyện qua Campuchia ngăn chặn những hành vi diệt chủng của đồng minh Khơme Đỏ của Trung Cộng.
Để rồi sau đó 5 năm, cuối tháng 4-1984, Trung Quốc một lần nữa dùng sức mạnh quân sự đánh vào biên giới tỉnh Hà Tuyên (tỉnh Hà Giang và Tuyên Quang bây giờ) kéo dài hơn 100km, từ huyện Vị Xuyên, Quản Bạ, Yên Minh, Đồng Văn, Mèo Vạc mà huyện Vị Xuyên là chiến trường khốc liệt nhất.

HẬU QUẢ

Chiến tranh biên giới 1979 bùng nổ, Lào Cai, Sapa, Đồng Đăng, Lạng Sơn… bị phá tan hoang. Tại Cao Bằng, quân Trung Quốc phá sạch sẽ từng ngôi nhà, từng công trình, ốp mìn cho nổ tung từng cột điện. Nếu như, ở Bát Xát, Lao Cai, hàng trăm phụ nữ trẻ em bị hãm hiếp, bị giết một cách dã man ngay trong ngày đầu tiên quân Trung Quốc tiến sang. Thì, tại thôn Tổng Chúp, xã Hưng Đạo, huyện Hòa An, Cao Bằng, trong ngày 9-3, trước khi rút lui, quân Trung Quốc đã giết 43 người, gồm 21 phụ nữ, 20 trẻ em, trong đó có 7 phụ nữ đang mang thai. Tất cả đều bị giết bằng dao như Pol Pốt. Mười người bị ném xuống giếng, hơn 30 người khác, xác bị chặt ra nhiều khúc, vứt hai bên bờ suối.

Mục tiêu của Trung Cộng là buộc Việt Nam rút quân đội ra khỏi Campuchia nhưng đã không thành, tuy nhiên cuộc chiến để lại hậu quả lâu dài đối với nền kinh tế Việt Nam và quan hệ căng thẳng giữa hai nước. Xung đột vũ trang tại biên giới còn tiếp diễn thêm 10 năm. Hơn 13 năm sau, quan hệ ngoại giao Việt-Trung chính thức được bình thường hóa.

Tuy CS Việt Nam và CS Trung Quốc đều tuyên bố chiến thắng trong cuộc chiến nhưng cả hai bên đều phải chịu thiệt hại nặng nề về người và của. Cuộc chiến đặc biệt để lại nhiều tác hại lớn cho phía Việt Nam. Ngoài các thương vong về con người, tổn thất cụ thể về cơ sở vật chất hạ tầng ở 6 tỉnh biên giới bị phá hủy do trận chiến, Việt Nam còn phải gánh chịu nhiều khó khăn, thiệt hại do thái độ và chính sách thù địch, vây hãm mà CS Trung Quốc và đồng minh của Trung Cộng gây ra trên các mặt trận quân sự, kinh tế, ngoại giao,...

Tháng 4 năm 1979, Báo Quân đội Nhân dân của Việt Nam ước lượng tổng thương vong của quân Trung Quốc là 62.500 người. Phía Việt Nam có hàng nghìn dân thường chết và bị thương, theo tạp chí Time thì có khoảng dưới 10.000 lính Việt Nam thiệt mạng (con số này phía Trung Quốc là trên 20.000). Phía Trung Quốc bắt được khoảng 1.600 tù binh trong tổng số hơn 50.000 quân Việt Nam tham chiến tại mặt trận Lào Cai, Cao Bằng, Lạng Sơn.
Tướng Ngũ Tu Quyền, phó tổng tư lệnh Quân giải phóng Trung Quốc, tuyên bố rằng số quân Việt Nam bị chết và bị thương là 50.000, trong khi con số tương ứng của Trung Quốc là 20.000.  Một nguồn khác của Trung Quốc thống kê tổn thất của quân Trung Quốc là 8.531 chết và khoảng 21.000 bị thương.

Theo nhà sử học Gilles Férier thì có khoảng 25.000 lính Trung Quốc thiệt mạng và gần 500 xe bọc thép hoặc pháo bị phá hủy, con số này phía Việt Nam cũng là gần tương tự nhưng thấp hơn một chút.Russell D. Howard cho rằng quân Trung Quốc thương vong 60.000 người, trong đó số chết là 26.000, một số nguồn khác cũng đồng ý với con số thương vong ít nhất khoảng 50.000 của phía Trung Quốc. Nguồn của King Chen nói rằng riêng tại các bệnh viện lớn ở Quảng Tây đã có ít nhất 30.000 thương binh Trung Quốc.

Trong chiến tranh biên giới 1984 (mặt trận Vị Xuyên) khoảng 600 người là cán bộ chiến sĩ sư đoàn 356 hi sinh, 400 cán bộ chiến sĩ sư đoàn 316 và 312 của quân đội Việt Nam ngã xuống. Phần lớn hài cốt các liệt sĩ hi sinh trong trận đánh này đến nay vẫn chưa được tìm thấy và quy tập về nghĩa trang liệt sĩ.

ĐÁNH GIÁ

Cuộc chiến tranh biên giới năm 1979 và 1984 là hai cuộc kháng chiến chống xâm lược của dân tộc VN. Về bản chất, nó không khác gì các cuộc kháng chiến oanh liệt trong lịch sử như nhà Lý chống quân Tống, nhà Trần chiến thắng quân Nguyên, nhà Lê tiêu diệt quân Minh, và Quang Trung Nguyễn Huệ đánh thắng nhà Thanh.

Thế nhưng, nếu như chiến thắng của Quang Trung Nguyễn Huệ đã được ghi lại đậm nét trong lịch sử, được nhà cầm quyền và nhân dân Việt Nam tưởng nhớ hàng năm, thì cuộc kháng chiến biên giới 1979 và  Mặt trận Vị Xuyên biên giới tỉnh Hà Tuyên (tỉnh Hà Giang và Tuyên Quang bây giờ) cuối tháng 4-1984 đến nay dường như vẫn vắng bóng trong lịch sử VN. Nghĩa trang Liệt sĩ Vị Xuyên nơi an táng hài cốt của một số ít các liệt sĩ trong hơn 600 cán bộ chiến sĩ sư đoàn đã ngã xuống để giành lại các cao điểm 772, 685... trước quân xâm lược Trung Quốc sau hòa bình bị chính quyền nơi đây bỏ hoang vắng, quạnh quẽ.

Từ khi bình thường hóa quan hệ Việt -Trung năm 1991, ĐCS Việt Nam rất ít tổ chức kỷ niệm, hệ thống truyền thông ít đưa tin sự kiện chiến tranh biên giới tháng 2/1979 và tháng 4/1984. Trong hệ thống giáo trình chuẩn quốc gia các cấp học phổ thông, trung học, đại học và sau đại học đều không đưa 2 cuộc kháng chiến này vào. Thế hệ trẻ không biết gì về 2 cuộc chiến này.

Cho đến 37 năm sau, vài tờ báo Việt Nam mới có những dòng chữ tiếc thương và nhắc đến máu xương của những chiến sĩ, anh hùng hy sinh trong cuộc chiến tranh chống quân Trung Cộng xâm lược đầy đau thương và mất mát vào tháng 2 năm 1979 và tháng 4 năm 1984.
Vậy suốt 37 năm qua, hỏi rằng có ai đã khóc cho những nấm mồ lạnh lẽo bơ vơ của những người đã hy sinh trong chiến tranh biên giới 1979? Hay chỉ là những tiếng khóc thầm lặng lẽ của những đứa trẻ mất cha, mất mẹ, những người già mất con?

Đã 37 mùa lãng quên. Cũng ngần ấy thời gian CS Việt Nam né tránh lịch sử và những số phận mà đáng ra phải được lưu danh sử sách.

Đất nước Việt Nam có được ngày hôm nay, cũng là nhờ máu xương và lòng dũng cảm của những chiến sĩ đã hy sinh trong chiến tranh biên giới 1979. Lãnh đạo đảng và  chính quyền Việt Nam đang sống hưởng hạnh phúc, tự do trên sự hy sinh của họ, trên sự mất mát của những người thân anh hùng, liệt sĩ trong 2 cuộc chiến tranh biên giới với Trung Cộng.

Vậy mà, lịch sử kháng chiến biên giới chống Trung Cộng bi hùng ấy của dân tộc lại bị phớt lờ hay đảng CS Việt Nam cố tình xóa bỏ đi? Nếu vì giữ hòa khí cho một mối quan hệ dựa vào khoảng cách địa lý gần gũi thì đó là điều không thể chấp nhận được đối với  chế độ này.

Người Việt chúng ta không thể lại tiếp tục giao du một cách thâm tình với kẻ đã tàn sát dã man dân tộc mình, đã bất chấp tất cả đạo lý, pháp luật Quốc tế để làm nhục những người công dân Việt Nam trong thời điểm giai đoạn lịch sử ấy, để cướp bóc, để lấn chiếm lãnh thổ, để "dạy một bài học" cho Việt Nam. Và đến giờ bọn ấy còn chiếm biển đảo một cách ngang nhiên, tẩm hóa chất độc hại vào thực phẩm để giết nhiều thế hệ người Việt, tiêm nhiễm những văn hóa hủ bại để làm thanh niên dân Việt yếu hèn, nhu nhược...

Người Trung Quốc luôn đề cao phương châm “nước mạnh ắt bá quyền”. Vậy thì làm sao Việt Nam có thể làm anh em, đồng chí với một kẻ đầy tham vọng bành trướng, bất nhân, luôn sẵn dã tâm và luôn muốn triệt hại chúng ta mọi lúc, mọi thời, và bằng mọi cách thâm độc nhất có thể?

Phương châm 16 chữ vàng hay 4 tốt mà 2 nhà nước ký kết với nhau cũng sẽ chỉ là “ứng vạn biến”. Còn cái “dĩ bất biến” luôn phải là độc lập, chủ quyền của Tổ quốc Việt Nam. Đảng CS Việt Nam không được mơ hồ lấy cái “ứng vạn biến” để thay “dĩ bất biến”.

Những người lính Việt Nam chiến đấu trong 2 cuộc chiến biên giới đã đi mãi không về, những người phụ nữ thường dân Việt bị Trung Cộng bắt làm tù binh rồi bị hãm hiếp, bị moi gan,v.v.., bị giết chết một cách dã man, những đứa trẻ ngây thơ cũng chịu chung số phận bi thảm bởi những tên lính man rợ và tàn bạo đến kinh hoàng.CS Việt Nam và CS Trung Cộng không thể và không bao giờ có thể lấy 16 chữ” “sông núi gắn liền, cùng chung lý tưởng, hoà nhập văn hoá, có chung định mệnh” để lòe dân Việt, để xóa hết tội ác lịch sử của Trung Cộng trong chiến tranh biên giới Việt Nam. Cần đặt các quan hệ này trên một nền tảng minh bạch, không ngộ nhận, không mơ hồ.

Đành rằng những kẻ hèn mạt, kẻ bán nước, bất nhân, ngu muội thời nào cũng có. Hậu thế chúng ta phải có trách nhiệm của lương tri, của một con người đối với tiền nhân và sự thật của quá khứ.

KHÔNG THỂ MANG ƠN MÃI MỘT CÁCH NGU MUỘI

Đúng là trong cuộc 2 cuộc chiến tranh với 2 nước Pháp và Mỹ của nhân dân Việt Nam, thì CS Trung Quốc và CS Liên Xô là hai nước trong khối đồng minh xã hội chủ nghĩa đã viện trợ cho Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa rất nhiều trong cuộc chiến tranh này.

Vấn đề có mang ơn hay không? Khi phân tích trong toàn diện cuộc chiến tranh chúng ta thấy rằng Trung Quốc đã viện trợ sức người, sức của cho Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa để tiến hành cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc cũng nhằm mục đích tạo Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa thành một khu vực đệm để bảo vệ miền nam Trung Hoa, cho Trung Cộng  tiến hành bốn hiện đại hóa trong tham vọng của Mao Trạch Đông.

Nhìn lại 2 cuộc chiến tranh xâm lược của Trung Cộng tháng 2/1979 và tháng 4/1984, chúng ta thấy rõ có nên mang ơn hay không. Việc ơn nghĩa giúp đỡ, Việt Nam rất sòng phẳng, nhưng đối với tập đoàn xâm lược Bắc Kinh, với cuộc chiến tranh xâm lược 6 tỉnh phía bắc ( tháng 2 năm 1979), và dùng bọn phản động Pon pot- Ieng Sary tạo ra một gọng kềm ở biên giới phía Tây- Nam tiến hành cuộc chiến tranh diệt chủng không những đối với nhân dân Kampuchia và còn đối với nhân dân Việt Nam, thì thử hỏi Việt Nam có cần phải mang ơn Bắc Kinh mãi như thế hay không?!

Tại sao đảng và nhà cầm quyền Việt Nam cứ mãi chịu ơn Trung Cộng một cách mê muội đến mức hèn nhát?

Luật pháp VN ngày nay có luật bất thành văn nhưng ngày càng được nghiêm túc áp dụng tại các địa phương trong nước. Đó là bất cứ người Việt nào mở miệng phản đối TQ xâm lược hoặc lên tiếng đòi bảo vệ chủ quyền VN đều là những kẻ đang “phạm tội” chính trị, phản động, chống lại chế độ,v.v…và  bị công an, nhà cầm quyền Việt Nam trấn áp, trừng phạt.

Sau cuộc chiến biên giới 1979, hiến pháp năm 1980 của VN có thêm điều khẳng định “Trung Quốc là kẻ thù”. Nhưng chỉ 8 năm sau, khi TQ trở thành cái phao mà CSVN mong được bám vào trong lúc gần chết đuối, thì Hà Nội bắt đầu tìm cách tẩy xoá điều này trong hiến pháp và hầu hết các chứng tích dữ kiện lịch sử. Cũng năm đó, các chiến sĩ trong trận Trường Sa đã bị Bộ Chính Trị CSVN để mặc nhiên trở thành những “bia tập bắn” cho lính TQ thẳng tay tàn sát.

Kể từ đầu thập niên 1990, đặc biệt sau hội nghị Thành Đô mà lãnh đạo CSVN xin thần phục Bắc Kinh trở lại, 2 cuộc chiến biên giới năm 1979 và 1984 đã trở thành một chủ đề cấm kị mà đảng và nhà nước CSVN không chỉ cấm người dân nhắc đến mà còn xóa luôn trong sách giáo khoa và quân sử. Những từ ngữ “nước lạ”, “tàu lạ”, “quân nước ngoài”,… cũng bắt đầu xuất hiện. Cuốn sách “Những sự kiện lịch sử Việt Nam (từ 1945-2010) do hai tác giả Minh An và Bình An biên soạn, NXB Thanh Niên ấn hành quí 4-2010, trong phần tháng 2, 3/1979 không có có một chữ nào nhắc đến cuộc chiến bảo vệ tổ quốc tháng 2/1979.

Với việc giới lãnh đạo CSVN tiếp tục giấu bặt các tấm bản đồ đi kèm với Hiệp Định Biên Giới Việt Trung suốt từ năm 1999 đến nay, phần lớn công luận tin rằng họ đã chính thức nhượng hẳn các vùng bị lấn chiếm suốt thập niên 1979-1989 cho Bắc Kinh.

Sang thế kỷ 21, với 4 tốt, 16 chữ vàng được TQ ban cho, thì ngành ngoại giao CSVN bỗng nhiên có nhiều quan chức không mệt mỏi bênh vực cho quan điểm bành trướng và xâm lăng của TQ. Nhiều vùng đất, vùng biển của VN đã hàng ngàn năm bỗng dưng trở thành “vùng tranh chấp” với TQ để được thương thảo phân chia lại. Phần nào thuộc TQ thì TQ giữ, phần nào của VN thì cả 2 nước “khai thác chung”. Thứ trưởng ngoại giao CSVN khẳng định Ải Nam Quan chưa bao giờ là đất Việt Nam.

Nhưng nhẫn tâm hơn cả, tại các tỉnh phía Bắc, nơi xảy ra cuộc chiến, các nghĩa trang tử sĩ hy sinh bảo vệ tổ quốc đều đìu hiu hoang vắng. Những nấm mồ tử sĩ đều hương tàn khói lạnh, không ai chăm sóc. Những tấm bia ghi lại lý do của sự hy sinh cao cả của họ đều bị đập phá, đặc biệt những tấm có ghi dòng chữ “quân Trung Quốc xâm lược”. Trong khi đó, các quan chức Việt dọc biên giới được lệnh kéo từng đoàn sang bên kia biên giới hàng năm với các vòng hoa mang băng chữ “Đời đời nhớ ơn liệt sĩ TQ”. Và đến tận hôm nay, các khẩu hiệu phải nhớ ơn TQ tương tự cũng được các cán bộ tuyên giáo nhắc nhở trong những buổi giảng dạy cho đảng viên các cấp.

Và không chỉ cuộc chiến 1979 biến mất trong sử sách, dưới sự chỉ đạo của đảng CS Việt Nam, Bộ Giáo Dục Đào Tạo còn cải tổ các sách giáo khoa để học sinh không còn biết tổ tiên Việt Nam đã chống lại quân xâm lược nào suốt 5000 năm trước.

Nhà cầm quyền Việt Nam có ý định xóa sạch lịch sử khỏi hệ thống giáo dục, mà vốn đã không hề có mặt pháp luật trong đó, thì có nghĩa thực đã đến thời mạt vong của dân tộc, của quốc gia Việt Nam.
KẾT
Trước tình hình hiện nay, những ai là người có lương tri phải có trách nhiệm giữ gìn quê hương, Tổ quốc Việt Nam và khơi dậy cả sử sách Việt.

Kiến nghị Bộ Giáo Dục Đào Tạo đưa sự kiện này vào thành chương/ phần trong giáo trình chuẩn quốc gia tại các cấp học, giống như đã làm với các cuộc kháng chiến khác. Bộ Giáo dục và Đào tạo cần biên soạn một chương riêng về 2 cuộc chiến tranh biên giới 1979 & 1984, đưa vào hệ thống giáo trình chuẩn quốc gia (phổ thông, đại học, và sau đại học…).

Đảng & nhà cầm quyền Việt Nam phải có trách nhiệm tổ chức kỷ niệm trang trọng 2 chiến thắng oanh liệt này hàng năm. Rà soát tổng kiểm kê lại những người có công trong cuộc kháng chiến chống Trung Cộng xâm lược tháng 2/1979 & tháng 4/1984.

Chúng ta được  sống hưởng hạnh phúc, bình yên trên sự sinh hy lớn lao của những người đã khuất.

Đảng & Chính quyền Việt Nam đừng làm kẻ vô ơn, bạc nghĩa và bất nhân, dẫu là trong một thời khắc nhỏ nhất.