Showing posts with label XaHoi-PhapLuat-BuonLau. Show all posts
Showing posts with label XaHoi-PhapLuat-BuonLau. Show all posts

Thursday, December 13, 2018

Người dân Nghệ An mua bán bào thai sang Trung Cộng

Tin Saigon, Việt Nam –  Tình trạng mua bào thai ở các huyện miền núi tỉnh Nghệ An để bán sang Trung Cộng đã xảy ra ngày càng có diễn biến phức tạp.
Người dân Nghệ An mua bán bào thai sang Trung Cộng
Người phụ nữ từng bị bán sang Trung Cộng - Ảnh: Internet
Báo Người Lao Động ngày 11 tháng 12 năm 2018 loan tin, công an tỉnh Nghệ An cho biết, chỉ tính riêng trong năm 2018, trên địa bàn đã bắt giữ 16 vụ, giải cứu hơn 40 người. Trong đó, có nhiều phụ nữ người Thượng đang có thai từ 6 đến 8 tháng được một số đối tượng đưa sang Trung Cộng bằng con đường tiểu ngạch. Những phụ nữ này sau khi sang đến Trung Cộng sẽ sinh con, rồi buộc phải bán những đứa trẻ sơ sinh với giá 60 đến 80 triệu đồng một bé. Đây chỉ là những trường hợp được công an phát hiện, và có thể có nhiều trường hợp mà công an tỉnh Nghệ An chưa phát hiện ra.
Liên quan đến tính mạng con người, nhưng bộ luật hình sự 2015 của nhà cầm quyền CSVN không quy định về tội mua bán bào thai, nên quá trình điều tra, xử lý vô cùng khó khăn. Ngoài ra, tại Việt Nam, công an đã không phát hiện ra ngay từ đầu, nên việc những trẻ sơ sinh bị bán tại Trung Cộng đã gây khó khăn trong việc đấu tranh.
Vì không có luật để xử lý, nên thời gian tới công an CSVN chỉ biết tuyên truyền, giáo dục pháp luật đối với người dân, với mong muốn làm giảm tình trạng mua bán bào thai đưa sang Trung Cộng.
An Nhiên

Friday, October 5, 2018

Bắt 10 tấn ngà voi, vẩy tê tê nhập lậu từ Nigieria vào Đà Nẵng

Một phần số ngà voi và vảy tê tê bị bắt giữ hôm 4 Tháng Mười. (Hình: VNExpress )
ĐÀ NẴNG , Việt Nam (NV) – Sáng 5 Tháng Mười, Bộ Chỉ Huy Bộ Đội Biên Phòng Đà Nẵng cho biết đã khám phá 10 tấn ngà voi và vẩy tê tê nhập lậu từ Nigieria về cảng Tiên Sa, quận Sơn Trà.
Trước đó, hôm 4 Tháng Mười, báo chí Việt Nam loan tin, Công an Đà Nẵng phối hợp với nhiều cơ quan an ninh khác triệt phá đường dây vận chuyển ngà voi và vảy tê tê xuyên quốc gia.
Theo báo Tiền Phong, khi cảnh sát bất ngờ kiểm tra một container hàng hóa nhập cảng của công ty Thiên Trường Sử, ở xã Nghĩa Xuân, huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An, do ông Nguyễn Xuân Sử làm giám đốc, thì phát hiện số lượng lớn ngà voi, vẩy tê tê được giấu trong container tại kho hàng được xếp lẫn với hàng trăm bao tải nhựa tái chế. Tại thời điểm kiểm tra, đại diện công ty không xuất trình được các giấy tờ chứng minh nguồn gốc hợp pháp số hàng trên.
Toàn bộ số hàng này được vận chuyển từ Nigeria về cảng Tiên Sa, Đà Nẵng với tổng trọng lượng lên đến khoảng 10 tấn. Đây là những mặt hàng thuộc diện cấm buôn bán, vận chuyển dưới mọi hình thức.
Nói với báo Thanh niên, ông Tôn Quốc Khánh, chỉ huy trưởng Bộ Chỉ Huy Bộ Đội Biên Phòng Đà Nẵng, cho biết trong quá trình bắt giữ số hàng trên, cơ quan đã phải huy động hơn 100 cán bộ thuộc nhiều cơ quan tham gia gần một ngày trực gác bảo vệ hiện trường, kiểm số, phân loại hàng hóa bị bắt.
Báo VNExpress cho hay, trước đó từ ngày 13 đến 25 Tháng Tám năm 2015, lực lượng an ninh của Đà Nẵng và Bộ Công An cũng đã khám xét, phát hiện ba vụ nhập cảng hàng hóa trái phép cùng từ Nigeria về cảng Tiên Sa, thu 8 tấn ngà voi, sừng tê giác, vảy tê tê được giấu trong các container hàng hoá.
Sau một thời gian lắng xuống, đến nay việc buôn lậu các mặt hàng này lại tiếp tục tái diễn tại Việt Nam. (Tr.N)

Thursday, October 27, 2016

Việt Nam lại phát hiện vụ buôn lậu ngà voi

Saturday, June 4, 2016

Cảnh sát Hong Kong phá vỡ đường dây buôn người từ Việt Nam

Một đường dây đưa người Việt Nam nhập cư lậu vào Hong Kong vừa bị phá vỡ sau khi các nhân viên công lực Hoa Lục và Hong Kong bắt giữ 42 người.
Cảnh sát Hong Kong hôm nay cho biết là từ tháng 3, họ đã cùng với cảnh sát Quảng Đông theo dõi đường dây buôn người Việt Nam này. Cuộc điều tra sơ khởi cho thấy nhóm này đã hoạt động được chừng một năm, và đã đưa hơn 100 người Việt nhập cư lậu vào Hong Kong. Đường dây này đưa người tới Hong Kong qua ngả Hoa Lục và thu của mỗi người khoảng 30,000 đô la Hong Kong, tương đương khoảng 3,900 Mỹ kim. Theo các nhà điều tra, người Việt được đưa sang Quảng Tây, rồi đến Thiên Tân, từ đó họ đi sang Hong Kong bằng thuyền cao tốc. Tại Hong Kong họ sẽ được minibus đến đón và đưa đến chỗ trú ẩn.
Một nguồn tin của cảnh sát cho hay, người nhập cư lậu được cung cấp thẻ căn cước giả để giúp họ tìm việc. Hầu hết trong số họ tìm được việc làm trong ngành xây dựng. Cảnh sát Hoa Lục và Hong Kong đã bắt đầu các cuộc bố ráp hôm Thứ Tư tuần này. Cảnh sát Hoa Lục bắt giữ 31 người trong những nơi trú ẩn như nhà nghỉ ở Quảng Châu và Thiên Tân. Tại Hong Kong, cảnh sát bố ráp hơn 20 địa điểm trên khắp thành phố và bắt giữ 11 người, bao gồm 9 nhân vật chủ chốt trong đường dây và 2 người Việt nhập cư lậu. Trong số các thành viên chủ chốt, có 5 người là người Việt từng xin tị nạn tại Hong Kong.
Giới chức đứng đầu về di trú của Hong Kong, ông Lau Wing-kei cho biết con số người nhập cư lậu từ Việt Nam bị bắt trung bình hàng tháng đã giảm xuống còn 112 người trong năm nay, so với 189 người trong năm ngoái. Hong Kong hiện có hơn 11,000 đơn xin nhập cư trên cơ sở tị nạn và bị tra tấn chưa xem xét. Khoảng 2,500 đơn trong số này là của người Việt nhập cư lậu.
 06/03/2016 - 08:51
Huy Lam / SBTN

Wednesday, June 1, 2016

Phá đường dây buôn tiền giả do người Trung Quốc cung cấp

QUẢNG NAM (NV) - Công an Quảng Nam vừa bắt 7 người trong đường dây tàng trữ, tiêu thụ tiền giả quy mô lớn trên nhiều tỉnh, thành với số lượng tiền giả tiêu thụ hơn 220 triệu đồng.

Hai người trong đường dây tiêu thụ tiền giả bị bắt. (Hình: Tuổi Trẻ)

Ngày 1 tháng 6, truyền thông Việt Nam dẫn tin từ ông Dương Tấn Bộ, trưởng phòng an ninh điều tra công an tỉnh Quảng Nam, cho hay, đầu tháng 5 tháng 2016, Đào Văn Cần (27 tuổi), trú xã Đào Xá, huyện Phú Bình, Thái Nguyên lên huyện EaHÀLeo, tỉnh Đắk Lắk để tìm việc làm. Tại đây, ông Cần gặp ông Nguyễn Văn Tuân (35 tuổi), cùng trú xã Đào Xá và rủ người này tiêu thụ tiền giả.

Hai người này đến gặp ông Nguyễn Văn Hòa (48 tuổi), quê Bắc Ninh để lấy 20 triệu đồng tờ mệnh giá 200,000 đồng tiền giả đi tiêu thụ tại Đắk Lắk. Sau đó, ông Cần tiếp tục nhận của ông Hòa thêm 20 triệu đồng tiền giả và rủ anh ruột là ông Đào Văn Ninh (35 tuổi), đi Quảng Nam tiêu thụ.

Ngày 14 tháng 5, hai anh em ông Cần đến một chợ ở huyện Thăng Bình, lấy tiền giả tiêu thụ. Được người dân tố giác, công an huyện Thăng Bình đã bắt và khám xét anh em ông Cần, thu giữ tổng cộng 102 tờ tiền giả mệnh giá 20.4 triệu đồng.

Nhận định đây là đường dây tàng trữ, lưu hành tiền giả rất lớn, công an tỉnh Quảng Nam tiếp tục điều tra mở rộng và đến ngày 18 tháng 5, tại thị xã Gia Nghĩa, Đắk Nông, cơ quan điều tra bắt khẩn cấp ông Hòa khi y đi cùng bà Đinh Thị Tuyết (32 tuổi), trú huyện Quỳnh Lưu, Nghệ An tiêu thụ tiền giả.

Khám xét nơi ở của ông Hòa, công an thu giữ 33 tờ tiền giả. Ông Hòa khai nhận mua 100 triệu đồng tiền giả từ bà Chu Thị Oanh (47 tuổi), quê ở Cao Bằng. Đến ngày 19 tháng 5, công an bắt thêm bà Oanh khi thị đang trên đường từ Cao Bằng vào tỉnh Đắk Nông để tiêu thụ tiền giả.

Khám xét người Oanh, công an phát hiện và thu giữ 200 triệu đồng tiền giả polymer mệnh giá 200,000 đồng.
Bà Oanh khai số tiền trên mua của A Mỉng, một người Trung Quốc, với giá 25 triệu đồng. A Mỉng mang số tiền trên bằng đường tiểu ngạch từ Trung Quốc sang giao cho bà tại Cao Bằng.

Nói với phóng viên Tuổi Trẻ, ông Huỳnh Trung Nguyên, phó giám đốc công an tỉnh Quảng Nam cho hay, đây là đường dây tàng trữ, lưu hành tiền giả rất lớn, đối tượng tiêu thụ ở nhiều tỉnh, thành khác nhau và đầu mối cung cấp chính là người Trung Quốc. Song, mặc dù công an điều tra xác định được A Mỉng, nhưng do y đang sống tại Trung Quốc nên đến nay vẫn chưa thể làm gì. (Tr.N)

01-06-2016 2:39:32 PM 

Sunday, May 1, 2016

Hai viên chức hải quan tham gia đường dây buôn lậu 508 ôtô hạng sang




Nhiều xe sang và siêu sang tại cửa khẩu Bắc Phong Sinh bị thu giữ. (Ảnh: nld.com.vn)
Nhiều xe sang và siêu sang tại cửa khẩu Bắc Phong Sinh bị thu giữ. (Ảnh: nld.com.vn)

Hai viên chức hải quan thuộc Chi cục Hải quan khu kinh tế cửa khẩu Bắc Phong Sinh (tỉnh Quảng Ninh) tham gia đường dây buôn lậu 508 ôtô hạng sang đã bị tuyên phạt 31 tháng tù giam.
Báo Người Lao Động đưa tin, sau 4 ngày tiến hành xét xử sơ thẩm (từ ngày 26/4), chiều 29/4, TAND tỉnh Quảng Ninh đã tuyên án đối với 22 bị cáo trong vụ án “Buôn lậu và vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới” do Hà Tuấn Dũng cầm đầu liên quan đến 3 công ty có đăng ký tại TP Móng Cái – buôn lậu 508 chiếc ôtô hạng sang đã qua sử dụng sang Trung Quốc.
Hai bị cáo Triệu Hoài Anh và Bùi Quang Anh (đều nguyên là viên chức Hải quan thuộc Chi cục Hải quan khu kinh tế cửa khẩu Bắc Phong Sinh) bị tuyên phạt 31 tháng tù giam.
Bị cáo Bùi Tiến Quảng – Giám đốc Công ty Tuấn Đông (33 tuổi, trú tại phường Trà Cổ, TP Móng Cái) và bị cáo Lê Hồng Bàng – Giám đốc Công ty Tân Đại Dương (39 tuổi, trú tại phường Hòa Lạc, TP Móng Cái) bị kết án 6 năm tù giam.
18 bị cáo còn lại nhận mức án từ án tù treo 36 tháng đến 5 năm tù.
viên chức hải quan tham gia đường dây buôn lậu
Các bị cáo trong phiên tòa. (Ảnh: laodong.com.vn)
Theo cáo trạng, đêm 5/5/2013, lực lượng chức năng kiểm tra tại Km số 13, tỉnh lộ 340 trên địa bàn huyện Hải Hà (Quảng Ninh), phát hiện và tạm giữ 15 cá nhân đang vận chuyển 37 ôtô theo đường mòn qua biên giới sang Trung Quốc. Số xe này của các Công ty TNHH Tuấn Đông (do Hà Tuấn Dũng làm Giám đốc), Công ty CP XNK quốc tế Tân Đại Dương và Công ty CP XNK quốc tế NC.
Ngoài ra, cơ quan Cảnh sát điều tra cũng xác định Chi cục Hải quan cửa khẩu Bắc Phong Sinh đang tiếp nhận làm thủ tục 18 xe ô tô của Công ty Tuấn Đông.
Kết quả trưng cầu giám định cho thấy, 55 ôtô này đều là xe đã qua sử dụng, khung xe đã bị tẩy xóa, năm sản xuất kê khai trong hồ sơ không đúng năm sản xuất thực tế và tất cả đều nằm trong danh mục hàng hoá tạm ngừng kinh doanh tạm nhập tái xuất từ tháng 9-2012. Giá trị tổng số xe hơn 36 tỷ đồng.
Mở rộng điều tra, cơ quan chức năng phát hiện có 508 ôtô hạng sang do đường dây này buôn lậu. Hai viên chức hải quan Triệu Hoài Anh và Bùi Quang Anh đã tiếp tay cho đường dây này.
Trong quá trình điều tra, Hà Tuấn Dũng cùng 3 bị cáo khác đã bỏ trốn, cơ quan CSĐT đã ra quyết định truy nã.

Viên chức hải quan tiếp tay buôn lậu hàng cấm bị xử 3 năm tù treo

Tiếp tay buôn lậu 10 container hàng (chứa hàng cấm) có giá trị lên tới hơn 26 tỷ đồng, viên chức Chi cục Hải quan cảng Sài Gòn KV3 bị tòa tuyên phạt 3 năm tù treo.
Báo Tuổi Trẻ đưa tin, chiều ngày 29/1, sau gần 2 ngày xét xử và nghị án, TAND TP HCM đã tuyên án vụ án buôn lậu 10 container hàng liên quan đến viên chức hải quan cảng Sài Gòn.
Theo đó, bị cáo Lâm Lương Quang (giám đốc Công ty TNHH Hùng Cường) bị xử 15 năm tù, Châu Thanh Nhàn (làm dịch vụ giao nhận xuất nhập khẩu tự do) 9 năm tù, Tạ Quang Trình (làm dịch vụ giao nhận tự do) 10 năm tù về tội buôn lậu.
Riêng bị cáo Bùi Anh Tuấn (nguyên viên chức hải quan, Chi cục Hải quan cảng Sài Gòn KV3) bị tuyên án 3 năm tù nhưng cho hưởng án treo về tội “thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng”.
Theo cáo trạng của tòa án, ngày 30/12/2013, 2 công ty của Hồ Sấm Dũng (hiện đang bỏ trốn) mở 10 tờ khai hải quan nhập khẩu 10 container hàng trị giá 930 triệu đồng. Tờ khai được Nguyễn Phước Tường (đã chết vì bệnh hiểm nghèo) và Bùi Anh Tuấn ký khống thông quan.
Sau đó, cơ quan chức năng kiểm tra và phát hiện, thực tế hàng hóa bên trong các container không đúng như khai báo, có nhiều mặt hàng cấm. Chủ lô hàng là Hồ Há Chẩy (hiện đang bỏ trốn) ở quận Bình Tân, Sài Gòn, đây là hàng buôn lậu từ Trung Quốc về Việt Nam.
Cục Hải quan TP.HCM xác định giá trị lô hàng trong 10 container lên đến hơn 26 tỷ đồng, nếu được khai báo đầy đủ sẽ phải đóng thuế gần 5 tỷ đồng.
Hiện cơ quan chức năng đang tiếp tục truy tìm Hồ Sấm Dũng và Hồ Há Chẩy. Nguyễn Phước Tường đã chết nên VKSND đình chỉ vụ án đối với người này.
01-05-2016
Bạch Liên tổng hợp

Saturday, January 30, 2016

Hải quan Nội Bài bắt giữ 180 ký ngà voi đến từ Angola

Vào sáng ngày 30 tháng Giêng, Hải quan phi trường quốc tế Nội Bài đã tìm thấy 6 vali được gởi từ 3 người có chứa khoảng 180 ký nghi ngờ là ngà voi, và nhiều sản phẩm làm từ vật cấm này.
Số ngà voi trên được vận chuyển từ Angola về Việt Nam qua đường hàng không trên chuyến bay VN680, chuyển tiếp từ Malaysia về phi trường quốc tế Nội Bài lúc tối ngày 29 tháng 01. Qua điều tra ban đầu, các nghi can khai nhận số ngà voi trên được một người ở Angola thuê mang về Việt Nam.
Theo biên bản kết luận giám định tại chỗ mẫu vật ban đầu, thì các sản phẩm nêu trên là ngà voi và các sản phẩm chế tác từ ngà voi, tổng trọng lượng của cả 6 vali khoảng 180 ký. Hiện sự việc đang được các cơ quan chức năng điều tra, làm rõ. Ngà voi và các bộ phận cơ thể khác của loài động vật này được nhiều người dân ở các nước châu Á sử dụng làm vật trang trí như một thứ bùa may mắn và được sử dụng trong y học cổ truyền, mặc dù chưa có một bằng chứng khoa học được công nhận nào chứng minh rằng các loại vật phẩm này có tính năng chữa bệnh. Việt Nam đã cấm buôn bán ngà voi từ năm 1992. Tuy nhiên thị trường chợ đen tại Việt Nam vẫn đang phát triển mạnh, tại đây một ký ngà voi được bán với giá hơn 2,000 Mỹ kim.
Việt Nam từ lâu đã bị cáo buộc là một trong những quốc gia có tình hình buôn bán các loài động vật quý hiếm rầm rộ nhất. Đã có không ít các chiến dịch được phát động cảnh báo Việt Nam không nên sử dụng các sản phẩm từ động vật quý hiếm, nhưng không mấy thành công.
 01/30/2016 - 13:48
Thanh Lan / SBTN

Bộ ngoại giao CSVN lên tiếng về nghi vấn cán bộ ngoại giao buôn lậu

Trong buổi họp báo Chính Phủ vào chiều ngày 29 tháng Giêng, Bộ Ngoại giao CSVN chính  thức lên tiếng trước thông tin cán bộ ngành ngoại giao có dấu hiệu buôn lậu, bị hải quan Hải Phòng bắt giữ mới đây.
Mặc dù các phóng viên trong nước đặt câu hỏi với ông Nguyễn Văn Nên - Bộ trưởng - Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ, nhưng phát ngôn nhân Lê Hải Bình đề nghị được trả lời thế ông Nên. Đại diện Bộ Ngoại giao cho hay, từ trước đến nay, việc cán bộ kết thúc nhiệm kỳ về nước, mang theo hàng hoá đã qua sử dụng là bình thường. Việc này cũng được pháp luật cho phép. Hiện hải quan cũng không nói là buôn lậu và đang kiểm tra, nên chưa thể khẳng định là gian lận thương mại hay buôn lậu.
Trước đó, báo chí phản ảnh, Chi cục Hải quan bến cảng Hải Phòng khu vực 1 cho biết vào ngày 11 tháng Giêng vừa qua, một container được gửi từ Hoa Kỳ theo tàu biển, cập bến cảng Tân Vũ - Hải Phòng. Trên đơn lô hàng ghi người gửi và nhận là một cán bộ ngoại giao của Phái đoàn đại diện thường trực Việt Nam tại Liên Hợp quốc ở New York. Giấy tờ nhập hàng mô tả, hàng hóa là tài sản di chuyển đã qua sử dụng. Khi kiểm tra container hàng, lực lượng hải quan ghi nhận có 425 kiện hàng, trọng lượng 1,500 ký, trong đó có nhiều hàng hóa không được khai báo trên tờ khai hải quan. Cụ thể, container này có hơn 500  chai rượu ngoại quốc, sữa Ensure, đồ điện tử đã qua sử dụng, xe mô tô phân khối lớn. 
01/30/2016 - 04:45
Thanh Lan / SBTN

Sunday, August 23, 2015

Việt Nam: Buôn lậu ngà voi nay tính bằng tấn

ĐÀ NẴNG (NV) - Công an Việt Nam và biên phòng Đà Nẵng vừa phát giác một vụ buôn lậu hai tấn ngà voi. Chỉ trong một tuần có hai vụ buôn lậu ngà voi, số lượng đến cả tấn bị phát giác.

Công an Việt Nam và biên phòng Đà Nẵng đang kiểm tra số ngà voi giấu trong ba container chứa gỗ. (Hình: Tuổi Trẻ)

Theo báo chí Việt Nam thì chiều 21 Tháng Tám, 2015, hai lực lượng vừa kể tiến hành kiểm tra ba container đang để tại cảng Tiên Sa, Đà Nẵng. Trên giấy tờ, đây là ba container chứa gỗ được gửi từ Nigieria đến Việt Nam cho một công ty có trụ sở đặt tại phường Hòa Cường Bắc, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.

Kết quả kiểm tra cho thấy, có tới 60 túi ngà voi, tổng trọng lượng lên tới hai tấn được giấu kỹ sau hàng ngàn thanh gỗ. Tuy nhiên doanh nghiệp được gửi ba container này phủ nhận họ là chủ lô hàng.

Trước đó đúng một tuần, hôm 14 Tháng Tám, hải quan và công an Việt Nam từng khám phá khoảng một tấn vừa ngà voi, vừa sừng tê giấu trong hai container chứa đá cẩm thạch, được gửi từ Mozambique đến cảng Tiên Sa, thành phố Đà Nẵng cho một doanh nghiệp có tên là Vạn An. Trụ sở của công ty Vạn An cũng tọa lạc tại phường Hòa Cường Bắc, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.

Chưa rõ hai vụ buôn lậu ngà voi vừa kể có liên quan đến nhau hay không. Tuy nhiên có thể khẳng định, ngà voi và sừng tê vẫn tiếp tục ồ ạt chảy vào Việt Nam với số lượng càng ngày càng lớn. Từ vài ký lên tới vài chục ký rồi hàng tạ và gần đây là hàng tấn. Hôm 12 Tháng Tám, 2015, hải quan và công an Việt Nam phát giác một lô hàng chứa 100 ký ngà voi và năm ký sừng tê được mang vào Việt Nam bằng đường hàng không. Đây là lô hàng do hai người Việt vận chuyển từ Châu Phi qua Nam Hàn rồi tiếp tục được đưa từ Nam Hàn về phi cảng Nội Bài ở Hà Nội.

Với số lượng ngà voi và sừng tê như vừa kể, báo chí Việt Nam xem vụ buôn lậu này là “kỷ lục.” Tuy nhiên “kỷ lục” vừa kể liên tục bị các container gửi về cảng Tiên Sa, thành phố Đà Nẵng phá vỡ. Ngà voi và sừng tê nằm trong danh mục mà cộng đồng quốc tế đã thỏa thuận là cấm mua bán, xuất cảng, nhập cảng, nhằm bảo vệ những loại động vật hoang dã có nguy cơ tuyệt chủng.

Có một công ước quốc tế riêng về vấn đề này, vẫn được gọi tắt là CITES. Việt Nam là một thành viên của CITES. Tuy nhiên trong thập niên vừa qua, các tổ chức bảo vệ hoang dã trên thế giới liên tục bày tỏ sự lo ngại về việc Việt Nam trở thành nơi tiêu thụ cả ngà voi lẫn sừng tê.

Để loại trừ việc mua bán ngà voi và sừng tê, giữ cho voi và tê giác không tuyệt chủng, CITES đề nghị các quốc gia thành viên không tổ chức đấu giá ngà voi và sừng tê đã tịch thu từ các vụ buôn lậu. Đáp ứng đề nghị này, nhiều quốc gia đã tổ chức tiêu hủy ngà voi và sừng tê. Riêng Việt Nam thì không. Khi xét xứ các vụ buôn lậu ngà voi và sừng tê, đến nay, hệ thống tòa án Việt Nam vẫn tuyên bố sung công toàn bố số ngà voi và sừng tê đã tịch thu được.

Về nguyên tắc, số ngà voi và sừng tê đã được hệ thống tòa án tuyên bố sung công phải do Cục Quản Lý Công Sản của Bộ Tài Chính Việt Nam quản lý nhưng hồi cuối năm 2013, một viên của cơ quan này tiết lộ với tờ Tuổi Trẻ, số ngà voi được tuyên bố sung công khoảng 25 tấn nhưng Bộ Tài Chính Việt Nam không gom về được. 25 tấn ngà voi đó đang nằm rải rác trong kho của nhiều ngành như hải quan, công an, thi hành án... thuộc nhiều cấp và không ai rõ chúng còn đủ hay không. (G.Đ)
08-23-2015 3:18:29 PM

Friday, August 14, 2015

Việt Nam bắt giữ gần 1 tấn sừng tê giác và ngà voi

Việc mua bán sừng tê giác bị cấm toàn cầu từ năm 1977.
Việc mua bán sừng tê giác bị cấm toàn cầu từ năm 1977
VOA-14.08.2015
Công an Việt Nam vừa bắt giữ hơn 700 kg sừng tê giác và ngà voi nhập cảng bất hợp pháp nghi xuất xứ từ Mozambique.

AFP ngày 14/8 dẫn truyền thông trong nước cho hay số hàng được giấu trong 2 container chứa đá giả cẩm thạch trên tàu vận chuyển hàng quốc tế King Prian cập cảng Tiên Sa, Đà Nẵng.

Báo Tuổi trẻ nói trong số này có gần 600 kg ngà voi và trên 140 kg sừng tê giác và lô hàng lậu này tới Việt Nam qua ngả Malaysia và bị cơ quan chức năng Việt Nam phát hiện hôm 13/8.

Lô hàng vừa chặn bắt tổng trị giá khoảng 5 triệu đô la.

Trước đó hôm thứ Tư, Việt Nam phát hiện khoảng 100 kg sản phẩm từ động vật hoang dã nghi là ngà voi và sừng tê giác đưa lậu vào ngả sân bay quốc tế Nội Bài ở Hà Nội.

Việt Nam lâu nay được xem là một trong những quốc gia có nhiều vi phạm nhất trong lĩnh vực mua bán các động vật có nguy cơ tuyệt chủng.

Một số chiến dịch vận động người Việt chớ nên dùng các sản phẩm từ các động vật quý hiếm chưa tỏ ra có hiệu quả.

Việc mua bán sừng tê giác bị cấm toàn cầu từ năm 1977. Tuy nhiên trong những năm kỹ nghệ này lại nở rộ, đặc biệt nhờ vào nhu cầu từ Việt Nam và Trung Quốc.

Ước tính chỉ còn chừng 5.000 con tê giác đen và khoảng 20.000 tê giác trắng trên trái đất, đa số ở Nam Phi.

Số tê giác bị giết hại trong năm ngoái lên tới mức kỷ lục trên 1.200 con, tức cao gấp 10 lần số thống kê của năm 2009.

Trên thị trường chợ đen, 1gr sừng tê giác có giá hơn 130 đô-la và 1kg ngà voi trị giá khoảng 2.100 đô-la.

Wednesday, June 24, 2015

Buôn lậu qua biên giới Trung Quốc: Chính quyền Việt Nam có thực sự muốn giải quyết?

Trọng Thành
RFI- 22 tháng sáu năm 2015

Buôn lậu qua biên giới Trung Quốc: Chính quyền Việt Nam có thực sự muốn giải quyết? Cầu qua sông Tà Lùng. Cửa khẩu Tà Lùng (Cao Bằng - Việt Nam) - Thủy Khẩu/Suikou (Quảng Tây - Trung Quốc). Ảnh : Wikimedia


Nạn buôn lậu qua biên giới Việt – Trung là một thực tế kéo dài từ hàng chục năm nay. Trong những năm gần đây hiện tượng này dường như gia tăng gấp bội về quy mô và số lượng. Chưa kể những hình thức buôn lậu bí mật muôn màu, muôn vẻ, buôn lậu quy mô nhỏ nhưng với số lượng lớn người tham gia thường diễn ra gần như công khai. Trong thời gian gần đây, ngày càng có nhiều chuyên gia, kể cả giới chức chính quyền, chỉ đích danh một thủ phạm là « cơ chế xuất nhập khẩu tiểu ngạch ».


Một số so sánh giữa các số liệu thống kê hàng nhập khẩu vào Việt Nam của hai phía Việt Nam và Trung Quốc cho thấy độ vênh giữa hai phía ngày càng lớn theo năm tháng. Nếu như năm 2011, độ vênh chỉ là 4,5 tỷ đô la, thì đến năm 2014, con số này đã là 20 tỷ. Cho dù, không phải tất cả số vênh này đều có thể quy là buôn lậu, đầu tháng này, trước Quốc hội Việt Nam, Bộ trưởng Công thương phải thừa nhận độ vênh về số liệu nói trên  cho thấy chắc chắn có « buôn lậu và kinh tế ngầm ».

Chưa kể những hình thức buôn lậu bí mật muôn màu, muôn vẻ, với nhiều phương thức rất tinh vi, buôn lậu quy mô nhỏ nhưng với số lượng người tham gia lớn diễn ra gần như công khai. « Buôn lậu (nhưng theo đường)… chính ngạch », đây là hàng tựa châm biếm của một bài viết trên báo Sài Gòn giải phóng đầu năm nay. Phóng sự mô tả tại cửa khẩu Móng Cái, Quảng Ninh, mỗi ngày có từ 1,5 đến 2 vạn người qua lại cửa khẩu để xách hàng miễn thuế, cao điểm có lúc lên đến 24.000 người. Riêng tại cửa khẩu này, năm 2014, tổng cộng có 1,95 triệu người qua lại, mà 87% trong số họ với "sổ thông hành xanh" (tức giấy phép xuất cảnh dành cho cư dân ven biên giới có giá trị trong một ngày). Theo chính quyền, rất nhiều người đã đút lót để có được sổ thông hành. Tại nhiều cửa khẩu khác, tình hình cũng diễn ra tương tự, như ở cửa khẩu Lào Cai, đội quân « cửu vạn », khoảng vài ngàn người sẵn sàng được mướn để thồ hàng, mà ước tính một phần không nhỏ không thông qua hải quan.

Theo một mô tả từ báo trong nước, « mỗi ngày hàng trăm xe tải ùn ùn chuyên chở đủ loại nông lâm thủy sản qua Trung Quốc và chở về quần áo, đồ chơi, gia súc, trái cây, hóa chất, đồ gia dụng... của Trung Quốc, tỏa ra bán khắp nước » (Bài « Buôn bán tiểu ngạch với Trung Quốc: Lợi bất cập hại », báo mạng Thời báo kinh tế Sài Gòn, ngày 24/06/2014). Rất nhiều trong số những hàng hóa này đi theo cơ chế buôn bán tiểu ngạch, vốn chỉ để phục vụ đời sống và các hoạt động kinh doanh nhỏ của cư dân vùng ven biên giới. Trong số các hàng hóa tràn về xuôi, có rất nhiều hàng độc hại, hàng kém chất lượng, hàng giả hay hàng cấm.

Trong thời gian gần đây, ngày càng có nhiều chuyên gia, nhà báo và kể cả giới chức chính quyền chỉ đích danh « cơ chế xuất nhập khẩu tiểu ngạch » đã khuyến khích nhà nhà tham gia vào các hoạt động vận chuyển hàng trốn thuế. Ông Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam, nhận định : « Biên mậu (hay thương mại tiểu ngạch) là nhập nhèm giữa (thương mại) chính ngạch và buôn lậu » (Bài « Rủi ro giao thương biên mậu », báo mạng Thanh Niên, ngày 09/01/2015). Vốn là một loại hình buôn bán, trao đổi hàng hóa giữa các cư dân vùng ven biên giới sau khi Việt Nam và Trung Quốc nối lại quan hệ đầu thập niên 1990, « tiểu ngạch » dần dần được chính quyền coi như là một phương thức hoạt động « thương mại qua biên giới » mang tính quốc gia, vì một số lợi thế như chịu thuế rất thấp hay thủ tục đơn giản hơn.

Áp lực của dư luận hồi năm ngoái dường như đã buộc chính quyền phải nhìn nhận lại chính sách « thương mại biên giới » của mình. Cuối tháng 4/2015, chính phủ Việt Nam vừa xem xét một dự thảo sẽ thay thế Quyết định 254 về buôn bán tại vùng biên giới (ban hành năm 2006). Quyết định – bị rất nhiều chỉ trích này - cho phép mỗi người dân sống tại vùng biên giới, có quyền mua đến 2 triệu đồng hàng hóa mỗi ngày miễn thuế (tức 60 triệu/tháng). Theo các phê phán, chính hạn mức miễn thuế cao như vậy (vượt quá nhu cầu vật tư sản xuất và tiêu dùng) đã khiến rất đông đảo người dân biên giới coi việc làm thuê chuyển hàng như một nghề kiếm sống chính.

Bất lực đủ đường

Trước làn sóng buôn lậu ngày càng phổ biến, nhiều người cảm thấy trong tình hình hiện nay hoàn toàn không có viễn cảnh nào cho thấy nạn buôn lậu có thể được ngăn chặn. Việc thay thế Quyết định 254 nói trên bằng một quyết định mới cũng không có cơ thay đổi được xu thế này, vì buôn lậu đã trở thành tập quán, một hoạt động bán công khai, với sự tiếp tay của những người bên trong bộ máy. Và để giải quyết nạn buôn lậu xuyên biên giới, trước hết phải cải thiện đời sống cho hàng chục vạn dân cư địa phương.

Trả lời RFI, Luật sư Trần Vũ Hải nhận định : Tất cả đều nhìn thấy điều đó, nhưng cho đến nay, không có giải pháp cho vấn đề này, chưa có giải pháp. Bản thân tôi đi một số địa phương, những người dân ở xung quanh những khu vực ấy rất ít việc làm. Họ chỉ có hai lựa chọn, hoặc qua Trung Quốc làm, hoặc buôn bán qua biên giới. Cho nên người ta đặt vấn đề, nếu phía Việt Nam siết chặt vấn đề ấy, thì phải tạo công ăn việc làm cho hàng chục vạn, thậm chí phải đến triệu người đang ngày đêm vận chuyển hàng hóa ấy. Đây là vấn đề quá lớn. Việt Nam đã có sai lầm ở đâu đấy, khi bắt đầu mở cửa với Trung Quốc, nên bây giờ phụ thuộc quá lớn vào vấn đề này ? Nếu siết chặt, Việt Nam sẽ phải xây dựng một đội ngũ quá lớn về quản lý thị trường, hải quan, mà cũng chưa chắc đã làm được, mà có khi tăng lên tiêu cực. Bởi vì rõ ràng người dân địa phương hoàn toàn có quyền nói chúng tôi có quyền mua lại hàng hóa của doanh nghiệp, rồi sau đó bán lại sang Trung Quốc, và ngược lại ?... Biên giới Việt Nam – Trung Quốc, nhiều nơi không chỉ dân tộc Kinh và dân tộc Hoa, mà có nhiều dân tộc khác, có mặt cả ở hai bên biên giới, họ giao thương rất bình thường, họ dùng những ngôn ngữ mà những cán bộ biên phòng, hải quan cũng không thể biết được.

Tóm lại, câu hỏi thứ nhất là, có biết không ? Biết, chính quyền biết. Câu thứ hai : có giải quyết được không ? Khó ! Câu thứ ba là, muốn giải quyết thì phải tăng cường lực lượng rất lớn. Và câu hỏi thứ tư là, nếu tăng cường lực lượng sẽ gây tiêu cực, và câu thứ năm là người dân địa phương có nhiều cách để giao thương, mà không chống lại lực lượng kiểm soát…. Có lẽ Việt Nam phải tính đến đường khác trong vấn đề này…. Tôi nghĩ là có lẽ phải nghiên cứu lại (kinh nghiệm) những nước giao thương với nước lớn, cụ thể là với Trung Quốc, một công xưởng sản xuất rất nhiều hàng hóa…

Chừng nào thuế suất nhập khẩu còn cao, cả hai bên, chừng đó còn hàng áp dụng tiểu ngạch, hoặc buôn lậu. Phải chăng cần đặt vấn đề, một khi hàng rào thuế quan được dỡ bỏ, 0% chẳng hạn, như vậy các công ty doanh nghiệp biết không đóng góp gì đáng kể, nên họ sẽ đóng thuế đàng hoàng, lúc ấy sẽ kiểm soát được…, như vậy họ chỉ còn có mỗi hàng rào « kỹ thuật thôi ».

Con đường cải cách thể chế

Trong khi đó, một số quan điểm khác cho rằng, ngăn chặn và đẩy lùi buôn lậu là có thể được, nhưng không thể chỉ với các biện pháp như tấn công giới tội phạm, mà cần phải tiến hành các cải cách về thể chế chính trị, để thanh lọc bộ máy, tạo điều kiện cho người dân và báo chí lên tiếng, cũng như nhiều cải cách kinh tế triệt để khác.

Tiến sĩ kinh tế Phạm Gia Minh : Đây không phải chỉ là vấn đề kinh tế, mà là vấn đề chính trị, hệ thống rồi. Cái cuối cùng là hàng trong nước phải vươn lên, để hàng Trung Quốc không thể thấm thấu được… Cứ tăng cường sản xuất chất lượng cao hơn, nhưng bây giờ chủ yếu vẫn là vấn đề chính sách, con người phải thay đổi, phải cải tiến lên, không thì chuyện nhập siêu với Trung Quốc, nhập lậu hàng hóa, nó còn dài dài và nó bóp chết sản xuất trong nước, dẫn đến nhiều hệ lụy khác nhau.

Biện pháp chỉ mang tính chất kỹ thuật chống tham nhũng sẽ không hiệu quả, nếu không đi kèm với các biện pháp cải cách thể chế. Cải cách thể chế ở đây gồm thể chế chính trị và thể chế kinh tế. Ví dụ như về chính trị, trên địa bàn một tỉnh, nếu xảy ra chuyện hàng buôn lậu biên giới, thì phải kỷ luật kịp thời, một cách mạnh mẽ người có trách nhiệm. Bây giờ đã làm được đâu ? Cho nên gọi là giám sát, kiểm tra, để nhân dân có tiếng nói trong việc phát hiện các sai trái đó. Việc này đang bị hạn chế. Phải có cải cách thể chế, để báo chí được phép nói một cách tự do hơn. Rồi việc kỷ luật những người đứng đầu phải mạnh mẽ, công khai hơn. Còn về thể chế kinh tế, phải có những luật chơi, bảo vệ hữu hiệu nền sản xuất trong nước…

Kiểm soát « biên mậu » không khó …

Về vấn đề buôn lậu qua biên giới với Trung Quốc, sau đây là phần phỏng vấn với nhà nghiên cứu Nguyễn Quang A. Trước hết nhà kinh tế học đưa ra một nhận định về độ vênh giữa các số liệu thống kê xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và Trung Quốc.

Nguyễn Quang A : … Điều thứ nhất là số liệu thống kê của hai nước gọi là « xã hội chủ nghĩa » này là khó có thể tin cậy được, tuy là họ đã theo tập quán quốc tế trong một thời gian dài rồi. Thứ hai, dẫu không tin cậy được, những số liệu ấy cũng chứng tỏ căn bệnh nhập siêu của Việt Nam từ Trung Quốc thực sự là căn bệnh kinh niên, càng ngày càng tăng, và nếu không có một sự thay đổi về đường lối lớn, về vĩ mô, thì căn bệnh này sẽ là vô phương cứu chữa. Điểm thứ ba là có rất nhiều giao dịch không được ghi nhận, kể cả ở bên Việt Nam, lẫn cả bên Trung Quốc. Đó là những khoản « biên mậu » ; những khoản buôn lậu, lậu từ Việt Nam ví dụ như xuất lậu than ; những hoạt động « chuyển giá » (vống giá lên, bớt giá đi) để tham nhũng… Đó là những chuyện có thể suy ra từ chênh lệch này.

Việc kiểm soát cái « biên mậu » thực sự không phải là khó. Cái khó là kiểm soát buôn lậu, và chuyện mà họ cố ý làm. Ví dụ như hàng có vẻ là Việt Nam, nhưng lại sản xuất hoàn toàn tại Trung Quốc. Tức là doanh nghiệp Việt Nam thuê Trung Quốc sản xuất, song rồi đóng mác Việt Nam mang về đây, rồi từ đây xuất đi chẳng hạn. Những cái kiểu như thế họ có thể « lách » được, cũng như những chuyện « nâng giá », « hạ giá » để chuyển tiền ra nước ngoài. Đó là những khoản tương đối khó, nhưng vẫn có thể kiểm soát được. Tôi nghĩ rằng, những khoản che giấu không bị xuất hiện có lẽ là là những khoản này, kể cả trong nhập cũng như trong xuất.

RFI : Thưa ông, đối với những hàng hóa liên quan đến đời sống hàng ngày, như hàng tiêu dùng, nông sản, những hàng hóa cồng kềnh này, liệu có xảy ra những thất thoát quy mô lớn không ?

Nguyễn Quang A : Tôi nghĩ khá đáng kể. Vì thường họ không theo đường buôn bán đường hoàng, tức có hóa đơn, chứng từ, có thanh toán qua ngân hàng. Lượng hàng gọi là « biên mậu », hàng tiêu dùng tuồn vào có thể rất lớn. Việt Nam không thu được thuế, nên giá hàng có thể rất rẻ, cái đó không những thất thu cho ngân sách Nhà nước mà còn chèn ép, hủy hoại các doanh nghiệp sản xuất những hàng tương tự ở Việt Nam.

RFI : Ông có dùng từ « biên mậu ». Gần đây có nhiều phê bình đối với thuật ngữ « tiểu ngạch ». Có giới chức trong ngành đưa ra quan điểm : « tiểu ngạch » trên thực chất không còn tồn tại về mặt thể chế (« Xuất nhập khẩu tiểu ngạch : Phương thức không còn hiện hữu » của Trần Bảo Giám, nguyên Vụ trưởng Vụ Thương mại miền núi, Bộ Công Thương, bài trên báo mạng Công thương, ngày 06/11/2011). Ông nghĩ thế nào ?

Nguyễn Quang A : Tôi cũng không hiểu từ « tiểu ngạch » ấy họ ám chỉ cái gì ?! Bởi vì thực sự là có những buôn bán nhỏ của người dân ở vùng biên giới, người ta đi sang bên kia cũng như đi chợ, vì những người ở đấy họ có cùng tiếng nói, thân thuộc với nhau. Người ta đi sang, người ta chỉ mua bán ở chợ. Nếu cái đó gọi là tiểu ngạch, thì tôi nghĩ là lượng hàng hóa mà người dân chỉ đi qua để trao đổi cho tiêu dùng của chính mình, thì thực sự là không đáng kể. Nhưng mà lợi dụng việc như thế (hình thức thương mại này), thực sự phải gọi là « buôn lậu » thì chính xác hơn. Hàng đoàn người sang mang lậu hàng cho một ông chủ nào đấy. Chuyện này xảy ra khá nhiều. Quản lý thị trường, công an có lúc họ làm ráo riết, nhưng có lúc họ lại lơ đi.

RFI : Thưa ông, tại sao việc kiểm soát buôn lậu cho đến nay không thực hiện được ?

Nguyễn Quang A : Có thể có một cách giải thích. Đây là một chuyện người ta đồn ở ngoài thôi, nhưng mình không có thông tin để kiểm chứng, nhưng người ta nói rằng : để vào được một vị trí biên phòng chẳng hạn, phải tốn rất nhiều tiền, cũng như cảnh sát giao thông đứng đường, có cơ hội tìm cách phạt người dân để thu tiền. Có thể những người ở các lực lượng có trách nhiệm canh gác, như quản lý thị trường, công an, biên phòng, phải theo cái guồng ấy. Và được khuyến khích (nhận hối lộ - ndr) để kiếm tiền. Trong trường hợp như thế, thì tôi nghĩ hoàn toàn là do tại bộ máy.

RFI : Vừa rồi, ông có nhắc đến từ « phải chuyển đối thể chế » mới có thể giải quyết được tệ nạn này (nhập siêu, buôn lậu). Có nghĩa là việc này không thể được làm thực chất, nếu chính quyền vẫn được tổ chức như kiểu hiện nay ?

Nguyễn Quang A : Vâng, tôi nghĩ là như vậy. Nhưng đây không có ý nói rằng là : nếu có một cái gọi là « dân chủ hình thức », thì sẽ giải quyết được vấn đề đấy. Cái này hoàn toàn là vấn đề tổ chức bộ máy hành chính của Nhà nước. Vấn đề lương lậu cho công chức (hải quan, biên phòng…). Còn nếu để kỷ luật kém, không ngăn chặn những « khuyến khích », những cái tạo động lực cho tất cả những người nằm trong các mắt xích của (dây chuyền) buôn lậu này, (khiến họ) đều làm bậy cả, đều có sự chia sẻ cả (trong việc tiếp tay, dung túng – ndr). Đấy mới là vấn đề quan trọng nhất.

« Tham nhũng chính sách » : Sự rệu rã của bộ máy và sự thờ ơ của giới trí thức

RFI : Dường như đây là lý tưởng mà một nền hành chính phục vụ xã hội, phục vụ người dân nào cũng phải hướng đến. Nhưng bên cạnh đó, phải chăng còn có thêm một chuyện nữa : chính quyền trung ương có thể đã ra những chính sách mập mờ, có lợi cho việc dung túng không khí như trên ? Tức là góc độ mà người ta gọi là « tham nhũng chính sách », dùng chính sách để tham nhũng ? Ông nghĩ như thế nào ?

Nguyễn Quang A : Điều này có cái lý của nó. Thứ nhất là việc tản quyền hay phân quyền cho địa phương là việc tốt. Nhưng phân cái gì, phân đến đâu, và khi phân, thì giám sát, kiểm tra việc người ta thực hiện như thế nào. Tôi nghĩ có mặt trái của sự phân quyền. Có thể có sự buông lỏng, và thậm chí trong những chính sách của trung ương, thì nhiều khi tạo ra những kẻ hở, những khuyến khích để khuyến khích (hay kích thích – ndr) cả một bộ máy địa phương dung túng cho việc này. Vì không loại trừ khả năng là, vì lợi ích cục bộ của địa phương mà làm hại cho lợi ích chung, và lợi ích lâu dài của chính địa phương đó. Những chuyện như thế, hoàn toàn có thể xảy ra.

Những giả thiết như thế hoàn toàn có lý của nó. Và có thể bằng những khảo sát nhanh, không tốn kém lắm nhằm xác minh những giả thuyết như thế có đúng không ? Chỉ trong những trường hợp như thế, mình có cơ sở, có bằng chứng, thì lúc đó mới tìm ra giải pháp, phải sửa ở khâu nào, ở chính sách, ở thực thi, ở một khâu hay tất cả.

RFI : Thưa ông, về nạn buôn lậu, xuất nhập khẩu bất hợp pháp, trong thời gian vừa qua, ngày càng được công luận, giới chuyên môn, kể cả Nhà nước, thấy là nghiêm trọng nhưng dường như có quan sát cho rằng không có việc gì đáng kể được làm, liên quan đến những điều ông vừa nói (nghiên cứu, điều tra nhanh để làm sáng tỏ, thẩm định các giả thuyết về lỗ hổng của bộ máy, các khuyết tật/mập mờ của hệ thống [về chính sách] khiến tham nhũng được dung túng). Dường như đã không có sự đầu tư thực sự từ giới chuyên môn, Nhà nước, và tình hình cứ tiếp tục như vậy, nên rất khó có thể hy vọng ?

Nguyễn Quang A : Tôi nghĩ rằng, nhận xét như thế có thể nói là đã mô tả tương đối là chính xác về tình hình. Rất đáng tiếc là bản thân bộ máy này nó là bộ máy bị rệu rã, nó bị hư hỏng đi, trong quá trình dài rồi. Và không có người nào dám đụng đến. Bởi vì, khi đụng đến chuyện bộ máy như thế, bởi vì nó dính với nhau hết, nó là một cái mạng, như cái mạng nhện, đụng vào chỗ này, thì nó lan sang chỗ kia, và với cái đấy thì phải có một quyết tâm rất là lớn - gọi là « quyết tâm chính trị » rất lớn - mới có thể làm được. Rất đáng tiếc, quyết tâm như thế không thấy mấy ở các vị lãnh đạo trung ương, cũng như địa phương.

RFI : So với không khí ở Việt Nam hồi giữa năm ngoái, sau sự cố « giàn khoan », khi không khí có vẻ hơi bùng lên, người ta cảm thấy rất cần và có thể « thoát » khỏi Trung Quốc, nhưng dường như từ nửa năm trở lại, khí thế đó dường như đang xuôi xuống ?

Nguyễn Quang A : Tôi nghĩ rằng, đối với người dân có lẽ không phải là như vậy. Người dân rất nóng ruột. Nhưng mà người dân thấy mình, nếu hăng hái, năng nổ quá, thì bị chính quyền quy cái nọ, cái kia. Thực sự, có thể nói là người ta chán. Tôi nói ví dụ, lẽ ra chuyện Trung Quốc xây cất ngoài biển như thế, rồi việc nó đánh bà con ngư dân của mình, đâm hỏng tàu…, đáng lẽ đã phải bùng lên một đợt biểu tình, lên tiếng của dân chúng, nhưng mà năm nay không thấy gì cả. Có thể bởi vì người dân cũng ngán cách ứng xử của chính quyền này rồi.

RFI : Trong bối cảnh hiện nay, nạn hàng lậu, hàng giả, nhất là từ Trung Quốc, khiến tình trạng kinh doanh ở Việt Nam hết sức khó khăn, phải không ạ ?

Nguyễn Quang A : Tất nhiên. Nhưng với sự tham gia TPP, nếu nó hình thành, các hiệp ước song phương giữa Việt Nam với EU (Liên Hiệp Châu Âu)…, sự hội nhập càng rộng như thế, thì cái môi trường kinh doanh sẽ bằng phẳng hơn và lúc đó sẽ tốt hơn cho các doanh nghiệp Việt Nam, mà ở đây tôi nói đến những doanh nghiệp nào có sức cạnh tranh, còn doanh nghiệp nào không có sức, thì đằng nào cũng chết.

RFI : Đấy là về những triển vọng khi các sân chơi mới mở ra. Còn về chủ đề chính hôm nay, nạn buôn lậu, kinh tế ngầm qua biên giới Việt – Trung, theo ông, liệu có thể hy vọng rằng Nhà nước Việt Nam có thể làm được việc gì khiến tình hình không trở nên tồi tệ hơn ?

Nguyễn Quang A : Tôi nghĩ rằng : nếu người ta muốn làm, thì làm cũng không khó. Còn nếu người ta không muốn làm, thì chẳng bao giờ có thể giải quyết được cả.

RFI xin cảm ơn các nhà nghiên cứu Nguyễn Quang A, Phạm Gia Minh, luật sư Trần Vũ Hải và nhà văn Trần Đình Hiến.

***

Từ hơn mười năm nay, sự phát triển của thương mại Việt Nam – Trung Quốc đi liền với hiện tượng nhập siêu tăng vọt, cùng với buôn lậu và kinh tế ngầm với nhiều hình thái ngày càng tinh vi, nhưng cũng vừa diễn ra rất phổ biến, thậm chí nhiều khi trở thành một loại hoạt động được coi là « bình thường » trong xã hội. Nhiều nhà chuyên môn và người am hiểu cho rằng một nguyên nhân sâu xa của tình trạng này là do chính sách thương mại tiểu ngạch, vốn chỉ được áp dụng tại các khu vực biên giới, đã được (ngầm) mở rộng cho sự tham gia của các doanh nghiệp trên toàn quốc (có lẽ từ hơn 20 năm qua, ngay từ khi biên giới mở cửa trở lại). Chính sách này có thể coi là đã được hợp thức hóa với Quyết định 254/2006/QĐ-Ttg (năm 2006), dưới một tên gọi khác « thương mại biên giới » (bao gồm ba loại hoạt động : "mua bán, trao đổi hàng hoá của cư dân biên giới"; "buôn bán tại chợ biên giới"… và "xuất nhập khẩu hàng hoá qua biên giới theo các phương thức không theo thông lệ buôn bán quốc tế").

Lo ngại các hệ quả và hiểm họa ngày càng lớn của chính sách mập mờ này, Trung tâm WTO – Phòng Công nghiệp và Thương mại Việt Nam – đã chính thức đề nghị Chính phủ xem xét và tiến tới xóa bỏ hoàn toàn « chính sách xuất nhập khẩu tiểu ngạch » này, « bị lạm dụng biến thành cơ chế trốn thuế của thương nhân hai nước » (bài « 20 tỷ đô la từ Trung Quốc vào Việt Nam đi đâu mất ? », báo mạng Vietnamnet, ngày 05/05/2015). Xóa bỏ chính sách xuất nhập khẩu tiểu ngạch phải chăng cũng đồng nghĩa với việc xóa bỏ (hoặc sửa đổi) điều 1, chương I của Quyết định 254) ?

Hiện tại, Bộ Công thương Việt Nam vẫn tiếp tục có chủ trương thúc đẩy buôn bán « tiểu ngạch » với Trung Quốc, tìm cách tháo gỡ khó khăn, để khơi thông xuất khẩu trước hết cho một số mặt hàng nông nghiệp. Trước thực tế này, không ít người có thể đặt câu hỏi : Liệu đây chỉ là một chính sách ngắn hạn để giải quyết một số bế tắc kinh tế nhất thời trong nước, với rất nhiều rủi ro đi kèm, hay là nỗ lực trì níu một phương thức làm ăn đã bộc lộ toàn bộ những hệ lụy khôn lường cho nền kinh tế và xã hội Việt Nam ?

Một khía cạnh khác cũng cần được ghi nhận là, trong lúc chính quyền Việt Nam dường như đang đứng trước ngã ba đường trong vấn đề này, thì những biểu hiện cụ thể và các tác động sâu xa của chính sách "thương mại biên giới" (tên gọi chính thức của chính sách "tiểu ngạch") (cũng như các hoạt động của Ban chỉ đạo thương mại biên giới) trong đời sống kinh tế, xã hội Việt Nam, trong mối tương liên với quốc tế, cho đến nay dường như vẫn mới chỉ là một chủ đề để phê phán hay ủng hộ, hơn là một đối tượng nghiên cứu cơ bản của kinh tế học cũng như khoa học xã hội nói chung.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Quang A (Hà Nội)
22/06/2015
http://vi.rfi.fr/viet-nam/20150622-nan-buon-lau-qua-bien-gioi-trung-quoc-chinh-quyen-viet-nam-co-thuc-su-muon-giai-qu/#