Showing posts with label VanHoc-LichSu. Show all posts
Showing posts with label VanHoc-LichSu. Show all posts

Thursday, February 25, 2016

Đầu độc tâm hồn trẻ em bằng thơ và nhạc: tội ác không thể tha của Tố Hữu và Phong Nhã

Dâu bể tang thương (Danlambao) - Văn hóa là hồn của dân tộc, một dân tộc nếu mất đi văn hóa của chính mình sẽ đi đến chỗ diệt vong cho dù lãnh thổ có còn nguyên vẹn. Để áp đặt sự thống trị theo lý tưởng cộng sản lên dân tộc Việt Nam, Hồ Chí Minh và ĐCSVN ý thức rất rõ việc thủ tiêu văn hóa truyền thống của dân tộc Việt là nhiệm vụ sống còn. Vì thế, họ đã khẳng định: "...Mặt trận văn hóa là một trong ba mặt trận (kinh tế, chính trị, văn hóa) ở đó người cộng sản phải hoạt động; không phải chỉ làm cách mạng chính trị mà còn phải làm cách mạng văn hóa nữa; có lãnh đạo được phong trào văn hóa, đảng mới ảnh hưởng dư luận, việc tuyên truyền của đảng mới có hiệu quả..." (1).

Tất nhiên muốn tuyên truyền, quản lý văn hóa thì cần phải có những người có năng lực chuyên môn vì việc làm này quá sức đối với những kẻ thất học, đần độn như Hồ Chí Minh, Lê Duẩn, Đỗ Mười... Bằng những mánh khóe, bổng lộc hay đe dọa, ĐCSVN đã tụ tập được một đám văn, nghệ sĩ không còn sống theo triết lý "nghệ thuật vị nghệ thuật" hay "nghệ thuật vị nhân sinh" mà chuyển sang "nghệ thuật vị đảng cướp". Có thể liệt kê một số kẻ bất lương: về thơ văn là Xuân Diệu, Huy Cận, Tố Hữu, Tế Hanh, Xuân Tâm; về âm nhạc có Nguyễn Văn Thương, Thương Huyền, Phong Nhã, Huy Du... Tộc ác của họ không thua gì những kẻ cầm súng, gươm. Thay vì đâm chém thể xác, thì họ tàn phá tâm hồn con người. Nổi bật nhất là hai ác quỷ Tố Hữu (thi sĩ) và Phong Nhã (nhạc sĩ). Hai kẻ này táng tận lương tâm đầu độc trẻ thơ để thực hiện mưu đồ của cộng sản là tẩy não và đào tạo ra những thế hệ mê muội, cuồng tín chỉ biết còn đảng, còn mình; bỏ mặc dân tình, đất nước.

1. Tố Hữu (1920-2002)

Tên thật là Nguyễn Kim Thành, sinh tại Huế và mất tại Hà Nội. Là nhà thơ cộng sản; đồng thời cũng từng nắm giữ khá nhiều chức vụ quan trọng trong bộ máy lãnh đạo ĐCSVN như ủy viên bộ chính trị, bí thư ban chấp hành trung ương ĐCSVN, phó chủ tịch thứ nhất hội đồng bộ trưởng nước cộng hòa XHCNVN. Đây là một trong những tên bồi bút trơ trẻn và vô liêm sỉ nhất, cuồng cộng sản đến độ mê muội. Thơ của hắn lúc nào cũng như hô khẩu hiệu và luôn sẵn sàng ca ngợi những hung thần cộng sản hàng đầu thế giới như Marx, Lenin, Stalin, Mao Trạch Đông, Kim Nhật Thành, Hồ Chí Minh...

Thơ Tố Hữu thuộc loại sắp xếp câu chữ cho có vần điệu nhưng ít lay động tâm hồn người đọc nên không có bài nào được liệt vào danh sách sống mãi với thời gian. Tài năng làm thơ của hắn không được đánh giá cao bởi ngay cả đám đồng chí, đồng rận. Chính Hồ Chí Minh, kẻ được hắn tôn thờ, tung hô suốt cuộc đời cũng chưa bao giờ khen ngợi thơ hắn dù chỉ một câu (2). Nhà thơ cộng sản đồng môn Xuân Sách thì lại chế giễu rằng:

...Từ ấy, tim tôi ngừng tiếng hát
Trông về Việt Bắc, tít mù mây
Nhà càng lộng gió, thơ càng nhạt
Máu ở chiến trường, hoa ở đây... (3)

Người ta biết đến Tố Hữu nhiều nhất qua bài thơ "Đời đời nhớ ông". Trong đó, Tố Hữu đã bày tỏ sự đau lòng, thương tiếc trước cái chết của Stalin, một kẻ chẳng hề dính dáng gì đến hắn, bằng những ý tưởng và từ ngữ điên rồ đến mức khó có thể hình dung nổi. 

..Yêu biết mấy khi con thơ tập nói
Tiếng đầu lòng con gọi Xít ta lin...
Con còn bé dại, con ơi
Mai sau con nhé, đời đời nhớ ông... (4)

Chỉ để khóc than cho một tên ác ma cộng sản ở tận đâu đâu, Tố Hữu sẵn sàng vượt qua cả ranh giới đạo lý luân thường cũng như quy luật cuộc sống để nói nhăng cuội. Một đứa trẻ khi bắt đầu bập bẹ tiếng nói đầu tiên chỉ có thể phát âm những tiếng đơn giản nhất là cha (hoặc mẹ), những người đã gần gũi, chăm sóc, nâng niu nó từ khi mở mắt chào đời. Trí óc của trẻ lúc đó làm sao có thể cảm nhận được hình ảnh của một kẻ lạ huơ, lạ hoắc như Stalin! Hơn nữa, lại khuyên con thơ khi lớn lên phải đời đời nhớ đến một tên cha căng, chú kiết không có quan hệ máu mủ; không có công ơn sinh dưỡng; cũng không có quan hệ ơn nghĩa. Nếu vậy, Tố Hữu là một kẻ "không phải khốn nạn, cũng là thần kinh" (mượn lời của Ngô Bảo Châu).

Một bài thơ xằng bậy có thể tạm cho là hậu quả của một phút nông nổi, bốc đồng nhưng nhiều bài thơ như vậy thì bắt buộc phải kết luận Tố Hữu là một tên cộng sản không hề biết đến tình cảm gia đình thiêng liêng. Dạy cho con cái lo ghi lòng, tạc dạ Stalin chưa đủ, nên hắn tiếp tục sáng tác thêm bài thơ "Tiếng ru" để khuyến khích trẻ hãy vứt bỏ tình cảm thân thuộc. Thay vào đó là thứ tình đồng chí hoang tưởng mà cộng sản thường hô hào:

...Con ong làm mật, yêu hoa 
Con cá bơi yêu nước, con chim ca yêu trời 
Con người muốn sống, con ơi 
Phải yêu đồng chí, yêu người anh em... (5)

Hãy thử hình dung các mối dây liên hệ máu thịt đều bị cắt đứt; công cha, nghĩa mẹ, ơn thầy, duyên vợ chồng, tình làng xóm... bị xóa bỏ thì xã hội loài người có còn tồn tại được không? Một khi nhân loại đã bị tuyệt diệt thì mỹ từ "đồng chí" ấy để dành cho ai xưng hô? Có chăng chỉ là những âm hồn cộng sản như Tố Hữu không ai cúng kiếng, không nơi nương tựa, lảng vảng khắp nơi tự lải nhải với nhau. Hơn nữa, khi viết bài thơ này, Tố Hữu đã sử dụng một thủ đoạn quen thuộc và rất xấu xa của cộng sản là cố tình lồng ghép và đánh đồng những sự việc thuộc về bản chất của tự nhiên (ong cần hoa để hút mật, cá cần nước để bơi lội) với những lý luận của cộng sản (người muốn sống phải yêu đồng chí!!!). Điều này cũng tương tự như phát biểu của đỉnh cao trí tuệ: "yêu nước là yêu chủ nghĩa xã hội!!!".

Như đã từng nêu ở trên, Hồ Chí Minh dù phải sử dụng những kẻ nịnh bợ, cuồng tín như Tố Hữu nhưng vẫn khinh bỉ hắn như thường. Tuy nhiên, Tố Hữu thuộc dạng người không biết liêm sỉ. Dù bị người khác rẻ rúng nhưng hắn vẫn thành kính, tôn thờ thì không thể hiểu nổi giữa hắn và tên Nguyễn Phú Trọng, đương kim tổng bí thư ĐCSVN: ai lú hơn ai? Chỉ một việc cỏn con như chuyện Hồ Chí Minh đi Liên Xô quay trở về Hà Nội cũng khiến cho Tố Hữu xúc cảm viết nên bài thơ "Cánh chim không mỏi" để bợ đít:

...Hoa ơi, con gái của cha
Cha nâng con nhé, làm hoa mừng người... (6)

Con gái Tố Hữu quả là vô phúc khi sanh ra làm con của một tên quái vật sẵn sàng mang núm ruột của mình đi làm quà chúc mừng cho một kẻ bệnh hoạn, có nhiều sở thích tình dục lệch lạc như Hồ Chí Minh. Tâm hồn người Việt vốn đa cảm, nước Việt không thiếu thi sĩ nhưng phong cách thơ Tố Hữu quả là có một không hai, cổ kim chưa từng ghi nhận có ai điên rồ hơn hắn!

2. Phong Nhã (1924-)

Tên thật là Nguyễn Văn Tường, sinh tại Hà Nam và vẫn chưa chịu chết. Theo những thông tin của báo đảng cho biết: Phong Nhã sáng tác khoảng 250 ca khúc trong đó có hơn 200 ca khúc là viết về đề tài thiếu nhi (7-8). Do đó chúng tung hê tên này là "vua sáng tác thiếu nhi", "ông già thiếu nhi hóa" (9). Thông tin chính thống của cộng sản cũng thổ lộ về cuộc đời và sự nghiệp của hắn: "...Gia nhập Việt Minh từ sớm và được giao nhiệm vụ phụ trách Đội TNTP Hồ Chí Minh nên hầu hết những sáng tác của nhạc sĩ thường mang đậm màu sàu sắc chính trị và có lẽ thế mà nhạc sĩ đã thành công tuyệt đối ở thể loại ca khúc chính ca cho thiếu nhi. Mang màu sắc chính trị rõ nét song ca từ trong các ca khúc thiếu nhi của nhạc sĩ Phong Nhã lại hết sức gần gũi mà vẫn giàu hình tượng; giai điệu không phức tạp, cầu kỳ mà vẫn thể hiện được sự hào hùng, trang nghiêm thôi thúc tinh thần mãnh liệt của các em trong học tập cũng như noi gương các anh hùng thiếu niên dũng cảm, ghi nhớ công ơn của Bác Hồ kính yêu để thực hiện tốt những nhiệm vụ của công dân nhỏ tuổi. Ca khúc của ông thể hiện được các đặc điểm nổi bật, như: Cách đặt vấn đề tài tình, ca khúc của ông luôn lồng ghép tư tưởng cách mạng dân tộc, tinh thần yêu nước mãnh liệt, thấm nhuần tư tưởng của Đảng và Bác Hồ kính yêu nhưng hết sức nhẹ nhàng trong lời ca và giai điệu âm nhạc phù hợp với tất cả các em học sinh TH và THCS trên mọi vùng miền Tổ quốc..." (10).

Qua đoạn trích trên, chúng ta thấy sự nghiệp sáng tác của Phong Nhã có thể gói gọn trong những điểm chính sau: chính trị hóa âm nhạc, đặc biệt là âm nhạc cho thiếu nhi; lồng ghép tư tưởng của ĐCSVN và Hồ Chí Minh vào giai điệu, ca từ; giáo dục các em nhỏ từ tiểu học đến trung học phải ghi nhớ công ơn của Hồ Chí Minh. Sau đây chúng ta sẽ điểm qua một số trích đoạn ca khúc của Phong Nhã để thấy rõ thủ đoạn thâm hiểm này:

- Ai yêu Bác Hồ Chí Minh hơn thiếu niên, nhi đồng?... Ai yêu Bác Hồ Chí Minh hơn thiếu nhi Việt Nam... (11)

Cùng nhau ta đi lên theo bước đoàn thanh niên đi lên. Cố gắng xứng đáng cháu ngoan Bác Hồ... (12)

Ta noi gương người đi trước, những tấm gương vinh quang của Đảng ta... (13)

Tiến theo lá cờ đội Hồ Chí Minh quang vinh... Tay ta nâng cao tấm chân dung Bác Hồ. Trong tim dâng lên những ước rực rỡ. Khăn quàng đỏ tươi là của bác trao cho mình. Biết bao tự hào đội Hồ Chí Minh quang vinh. Nhớ năm điều của bác ngời ánh sáng. Nhớ những lời di chúc đầy thiêng liêng. Những cháu ngoan bác Hồ nối nghiệp đảng tiên phong... (14)

Em nhớ nhất một chuyện năm xưa, ở miền nam. Một ngày kia bỗng kho xăng giặc cháy tan tành. Ai đã ghi công đầu nơi đây thật liệt oanh. Tuổi mười ba chính tên là Lê Văn Tám. Bó đuốc sống sáng ngời, soi đường cho đội em tiến nhanh... (15)

Nhanh bước nhanh nhi đồng. Theo cờ đỏ sao vàng... Em kính yêu, vâng lời nhớ ơn Bác Hồ... (16)

Ta noi gương người đi trước. Những tấm gương vinh quang của Đảng ta... (17)

Rõ ràng đề tài sáng tạo của Phong Nhã không phong phú, trái ngược với thế giới của trẻ thơ rất đa dạng và hồn nhiên. Quyết định chọn lựa tuổi ngây thơ này làm cảm hứng không phải vì Phong Nhã là người yêu trẻ, ngược lại hắn có những suy nghĩ, mưu đồ rất đen tối. Những trích đoạn trong bảy bài hát cho thấy quanh đi quẩn lại, hắn chỉ hô hào các em nên kính yêu và noi gương Hồ Chí Minh và ĐCSVN. Tố Hữu làm thơ còn Phong Nhã viết nhạc. Mục đích, nhiệm vụ, và thủ đoạn của hai tên này giống hệt nhau dù phương tiện thi hành có khác nhau. Điều này cũng không có gì ngạc nhiên vì chúng đều là những tên lính xung kích trên mặt trận văn hóa của ĐCSVN.

Phong Nhã cố tình mập mờ đánh lận con đen khi ca ngợi Hồ Chí Minh thương yêu thiếu nhi. Hắn sử dụng thủ đoạn kiểu Tố Hữu là xóa bỏ tình cảm ruột thịt khi cho rằng Hồ Chí Minh thương yêu các em nhất trên đời (hơn cả cha mẹ các em). Điều này quá phi lý đến mức không thể thuyết phục được bất kỳ người bình thường nào. Ý đồ hiểm độc của Phong Nhã là muốn dùng âm nhạc gieo vào đầu trẻ thơ tình thương yêu giả dối của Hồ Chí Minh để khiến các em chỉ biết yêu thương tên giặc già này thay vì thờ cha, kính mẹ. Rõ ràng Phong Nhã đã phạm tội ác tày trời là đảo lộn luân thường, phong tục tổ tiên.

Một mưu đồ khác của ĐCSVN được Phong Nhã thực hiện là xóa bỏ truyền thống lịch sử hào hùng của dân tộc để thay bằng lịch sử quang vinh giả hiệu của đảng. Đất nước Việt Nam trải qua hàng ngàn năm dựng nước, giữ nước và mở mang bờ cõi không hề thiếu những tấm gương chói lọi đáng để các em thiếu nhi học tập và noi theo. Tại sao lại dạy cho các em tin tưởng vào anh hùng tưởng tượng Lê Văn Tám, sản phẩm của Trần Huy Liệu? Trần Quốc Toản không phải là anh hùng trẻ tuổi của dân tộc, không xứng đáng bằng Lê Văn Tám hay sao? Bỏ đi người thật, việc thật; thay bằng người giả, việc giả thì ai có thể tin Phong Nhã là nhạc sĩ lương thiện, hết lòng vì thiếu nhi? 

ĐCSVN không hề có tấm gương nào đáng để học tập. Hồ Chí Minh không hề có tư tưởng và tài năng gì. Tất cả những lời y lên giọng rao giảng chỉ là vay mượn hoặc ăn cắp của người khác mà thôi. Khăn quàng đỏ là sản phẩm của cộng sản Liên Xô, cờ đỏ sao vàng là cờ của cộng sản Tàu. Năm điều Hồ Chí Minh dạy cho trẻ thơ không hề nhắc đến chuyện yêu ông bà, cha mẹ, anh chị em. Di chúc của Hồ Chí Minh viết chính tả sai be bét, ý tưởng chẳng có gì siêu việt. Tâm nguyện của một người sắp chết mà chỉ muốn đi gặp những tên trời đánh, thánh đâm ở một đất nước xa lạ; chỉ muốn các đảng cộng sản quốc tế đoàn kết lại thay vì chia rẽ. Nếu vậy làm cháu ngoan của Hồ Chí Minh có gì đáng tự hào? Theo bước đoàn thanh niên có ích lợi gì? Noi gương ĐCSVN để làm chi? Quàng khăn đỏ, giương cao cờ đỏ sao vàng không chứng tỏ là người Việt Nam. Di chúc và năm điều dạy dỗ của Hồ Chí Minh không giúp cho trí tuệ phát triển. Nói tóm lại, những sáng tác của Phong Nhã chỉ là sự bịa đặt, dối trá, nịnh bợ rỗng tuếch. Chúng không hề có một tác dụng tích cực nào cho sự phát triển về trí tuệ và tâm hồn cho trẻ thơ. Phong Nhã cũng chỉ là một tên nhạc nô của ĐCSVN như bao tên khác.

3. Phần kết

Hoạt động nghệ thuật nhằm đem lại những giá trị, nét đẹp tinh thần cho đời sống con người. Thi sĩ và nhạc sĩ thông qua các tác phẩm của mình, vừa để khẳng định tài năng, vừa để hướng xã hội đến cái thiện và sự hoàn mỹ. Thật đáng tiếc! Có những nghệ sĩ không hiểu hay cố tình lờ đi vai trò cao quý của mình, đã tiếp tay với quỷ dữ để đầu độc, mê hoặc nhân sinh. Tố Hữu và Phong Nhã là hai trong số những con rắn độc đó. Tội của chúng càng thêm nặng khi nhắm vào trẻ em là đối tượng thuần khiết, ngây thơ, là chủ nhân tương lai của đất nước.

Bằng những thủ đoạn nham hiểm, có sự tiếp tay và hỗ trợ đắc lực của ĐCSVN và Hồ Chí Minh, chúng đã dùng âm nhạc và thơ ca để đầu độc, tẩy não trẻ em. Tội ác này đã khiến cho nhiều thế hệ sau này có tư tưởng lệch lạc, mê muội, cuồng tín những tên phản tặc, tội đồ dân tộc; coi nhẹ tình cảm gia đình, tình yêu quê hương, đất nước. Trước tình trạng suy đồi đạo đức, lối sống lệch lạc, văn hóa kệch cỡm hiện nay, hai tên vô lại này không thể nào chối bỏ phần trách nhiệm của chúng được. Tố Hữu đã chết và Phong Nhã cũng như ngọn đèn sắp hết dầu chỉ còn leo lét. Dù vậy, một ngày không xa, khi dân tộc ta giành lại quyền làm chủ đất nước từ tay ĐCSVN, bọn bút nô sẽ phải nhận lấy những bản án nghiêm khắc và đích đáng cho những tội ác mà chúng đã gây ra. Tố Hữu và Phong Nhã dù chui lủi dưới địa ngục cũng không thoát được đâu.

26.02.2016


__________________________________________

Chú thích:

















Friday, January 15, 2016

Bài thơ “Nam Quốc Sơn Hà” nên dùng bản dịch nào?

 Theo daikynguyen.vn-15/01/2016 @ 11:47 
nam quốc sơn hà
Tranh minh họa Lý Thường Kiệt - vị anh dân tộc , người có nhiều đóng góp cho sự bền vững của nước Đại Việt (Ảnh: baodatviet.vn)
Bài thơ “Nam Quốc Sơn Hà” (Sông núi nước Nam) với những câu thơ quen thuộc, nay đã được in trong SGK Ngữ văn lớp 7 tập 1 với những bản dịch khác, khiến nhiều người cảm thấy “ngỡ ngàng”.
Chỉ 28 chữ, với những lời thơ hào hùng và chí khí, bài thơ “Nam Quốc Sơn Hà” của Lý Thường Kiệt được ví như bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của Việt Nam, khẳng định chủ quyền lãnh thổ bất khả xâm phạm và nêu cao tinh thần không bao giờ khuất phục trước giặc ngoại xâm của dân tộc.
Bản dịch quen thuộc của nhà sử học Trần Trọng Kim:
Nguyên bản chữ Hán
南國山河
南 國 山 河 南 帝 居
截 然 分 定 在 天 書
如 何 逆 虜 來 侵 犯
汝 等 行 看 取 敗 虛
Bản phiên âm Hán-Việt:
Nam quốc sơn hà
Nam quốc sơn hà Nam đế cư,
Tiệt nhiên phân định tại Thiên thư.
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm,
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.
Bản dịch thơ:
Sông núi nước Nam
Sông núi nước Nam, vua Nam ở,
Rành rành định phận tại sách Trời
Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm
Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời.
Nhiều người dân Việt Nam từ xưa tới nay đã quen với bản dịch cũ này thì nay ở sách Ngữ văn lớp 7, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam phát hành lại 3 bản dịch như sau:
Bản dịch của của Lê Thước – Nam Trân có từ năm 1977, là năm ra đời của cuốn Thơ văn Lý Trần.
Sông núi nước Nam vua Nam ở
Vằng vặc sách trời chia xứ sở
Giặc dữ cớ sao phạm đến đây
Chúng mày nhất định phải tan vỡ.
tranh-cai-ve-ban-dich-moi-bai-tho-nam-quoc-son-ha
Bản dịch thơ bài Nam Quốc Sơn Hà của Lê Thước – Nam Trân trong sách giáo khoa Ngữ văn lớp 7, Tập 1. (Ảnh: vnexpress.net)
Ngoài ra còn 2 bản dịch khác được đăng kèm để học sinh tham khảo là:
Bản dịch trên nguyên bản bức sơn mài ở Viện Bảo tàng Lịch sử:
Sông núi nước Nam vua Nam ở
Sách trời phân định đã rạch ròi
Cớ sao giặc cướp xâm phạm tớiChúng bay thất bại hãy chờ coi.
Bản dịch của nhà thơ, dịch giả Ngô Linh Ngọc:
Đất nước Đại Nam, Nam đế ngự
Sách trời định phận rõ non sông
Cớ sao nghịch tặc sang xâm phạm?Bay hãy chờ coi, chuốc bại vong.
Việc thay đổi này không những gây nhiều bàn tán trong dư luận mà cũng được các đại biểu quốc hội đưa ra ý kiến chất vấn tới Bộ trưởng Bộ Giáo dục Phạm Vũ Luận vào tháng 11/2015.
Nhiều người cho rằng bản dịch của nhà sử học Trần Trọng Kim đã đi sâu vào lòng của người dân Việt Nam từ xưa tới nay, đọc nghe hào hùng và vần điệu hơn, còn các bản dịch khác khó đọc, câu chữ “ngang ngang” và không hay bằng bản dịch cũ. Cũng có người ý kiến rằng, vì là tiếng Hán dịch ra nên dịch theo cách nào cũng được.
Từ Ân tổng hợp

Tuesday, September 9, 2014

Hình ảnh:HỒ CHÍ MINH CHÍNH LÀ TÁC GIẢ BÚT DANH C.B

Súc vật ho chí minh, chính nhà ngươi là kẻ giết ân nhân của nhà ngươi. Cho dù súc vật ngươi có hóa thành chó, thành mèo, hoặc con súc sinh nào đó, lịch sử sẽ không bao giờ xóa nhòa đi tội lỗi tày trời của chính ngươi đã gây ra.


Triển lãm Cải cách ruộng đất tại Việt Nam: Biện minh hơn là nhận sai


Cuộc triển lãm về Cải cách ruộng đất tại Viện Bảo tàng Lịch sử quốc gia tại Tràng Tiền, Hà Nội - DR

RFI-Thanh Phương

Hôm qua, 08/09/2014, lần đầu tiên một cuộc triển lãm về Cải cách ruộng đất đã khai mạc tại Hà Nội và đã thu hút rất nhiều người đến xem. Nhưng cuộc triển lãm đầu tiên này bị đánh giá là phiến diện, tức là chỉ phản ánh một mặt của Cải cách ruộng đất, hay đúng hơn là nhằm biện minh cho chính sách này, chứ không tái hiện những sai lầm, những bi kịch của cái gọi là cuộc “Cách mạng long trời lở đất” cách đây hơn 60 năm.

Vừa đến xem triển lãm sáng nay, tiến sĩ Nguyễn Xuân Diện từ Hà Nội chia sẽ những suy nghĩ của ông với RFI Việt ngữ.


TS Nguyễn Xuân Diện, Hà Nội
(11:55)

Đi xem trưng bày "Cải cách ruộng đất năm 1946 – 1957"

Lễ khai mạc phòng trưng bày Cải cách ruộng đất.Photo by Nguyễn Tường Thụy
Nguyễn Tường Thụy, viết từ Hà Nội 2014-09-09
Đã định không đi nhưng JB Nguyễn Hữu Vinh rủ riết quá, thôi thì tặc lưỡi đi xem nó như thế nào.

Khách là người của Ban tổ chức?

Chúng tôi đến muộn một chút, vào lúc đang lúc đọc diễn văn khai mạc. Những hàng ghế bọc vải đo đỏ trăng trắng được kê ngay ngắn ngoài sân, trước cửa vào phòng trưng bày. Nhìn qua, thấy khách thăm ngồi hết chừng phân nửa, nói lên rằng chủ nhà sẵn sàng tiếp nhiều khách thăm hơn nữa. Những người đứng xung quanh con số cũng tương tự, chắc là người của Ban tổ chức. Cả khách và chủ ước khoảng sáu chục. Máy quay có chân khá nhiều, chừng trên chục cái. Tôi nhớ có VTV, VTC ngoài ra không rõ còn báo đài nào nữa không.
Diễn văn xong thì cắt băng khai mạc. Chục cô gái áo dài màu đỏ, rước dải băng đỏ. Cắt, cắt, kéo kêu tanh tách rồi vỗ tay bộp bộp. Mời khách vào tham quan. Sự chuẩn bị như thế là chu đáo, bài bản.
Tôi vào nhìn qua cách bố trí, liền vòng sang trái, bắt đầu từ hình ảnh hiện vật về nông dân VN trước khi cải cách ruộng đất. Cứ thế vòng dần sang giai đoạn tiếp theo cho đến khi cải cách thắng lợi với niềm hân hoan của nông dân. Tôi chỉ mang theo máy bảng, lại sắp hết pin nhưng thỉnh thoảng cũng giơ ra "phụp" một cái.
JB Nguyễn Hữu Vinh máy ảnh khoác cổ xông xáo khắp phòng trưng bày, vừa quay vừa chụp vừa phỏng vấn rất tự tin. Hắn lại cứ nhằm vào ông nào có vẻ là sếp để đưa ra những câu hỏi khó. Khi một phóng viên đang phỏng vấn một ông có vẻ như là trong Ban tổ chức, hắn chen ngang:
-Thưa ông, ông nghĩ gì khi mà cuộc cải cách đưa lại ruộng cày cho nhân dân để bây giờ ngược trở lại, ruộng đất rơi vào tay quan chức Nhà nước?
Ông kia tươi tỉnh:
-Tôi nghĩ chính sách ruộng đất là ruộng là tài sản của toàn dân và thông qua nhà nước quản lý, tôi nghĩ như thế.
- Hiện nay ở Bình Dương vụ 150 héc ta cao su rồi nhà cửa ruộng đất tập trung trong tay một quan chức của Nhà nước của Đảng cộng sản. Vây chúng ta nghĩ gì về tác dụng của cải cách ruộng đất trước hiện thực này?
- Khi nãy tôi nói sở hữu ấy, là sở hữu toàn dân. Đất là của cơ quan Nhà nước nhưng mà sở hữu toàn dân. Mục đích đầu tiên ấy, chúng ta là nhà nước nông nghiệp, 95% là nông dân, sử dụng đất làm nông nghiệp nhưng bây giờ thì khi mà công nghiệp hóa, hiện đại hóa thì chức năng của đất không chỉ là...
- Thưa ông vấn đề tôi cần hỏi trước đây là...
hinh2.jpg
Blogger JB Nguyễn Hữu Vinh tác nghiệp tại phòng trưng bày Cải cách ruộng đất. Photo by Nguyễn Tường Thụy.
Cô phóng viên đang phỏng vấn bị Vinh chen ngang vội xua tay ra hiệu dừng. Hẳn là cô ta nhận ra rằng, câu chuyện đang đi về chiều hướng bất lợi cho cuộc trưng bày. Vinh gạt tay nói tiếp:
- Vấn đề tôi cần hỏi là trước đây lấy ruộng đất của địa chủ chia cho dân nghèo. Nhưng bây giờ đất đai tập trung trong tay các quan chức, ông nghĩ gì, cuộc cải cách ruộng đất có cần tiếp tục phải làm lại không?
- Về sở hữu ruộng đất cụ thể nói thực là tôi không rõ lắm nhưng tôi thấy chính là dân họ là người bán ruộng cho Nhà nước...
Rồi JB Nguyễn Hữu Vinh phỏng vấn một ông mặc áo bay bộ đội, đeo nhiều huân chương, cả huy hiệu thương binh.
- Bác là con nhà địa chủ, vậy bác thấy cuộc trưng bày này có ý nghĩa gì không bác. Bây giờ quan chức có nhiều ruộng hơn địa chủ ngày xưa không?
- Nếu thế tôi trả lời ngay. Bây giờ nếu có cải cách ruộng đất thì bác xung phong làm thằng đao phủ đi chém lại những thằng chiếm đoạt tài sản của nhân dân, của những người nghèo... Bây giờ có nhiều kẻ bóc lột dân nặng quá.
- Hiện nay đó là tầng lớp nào thưa bác?
- Nhiều lắm chứ, nhiều tầng lớp ăn trên ngồi trốc...
- Xin hỏi bác thêm một câu, bác nghĩ cải cách ruộng đất với những hiện vật trưng bày vừa qua, bác có phát biểu một câu là nhờ có Bác Hồ. Vậy Bác Hồ là người đứng đầu Chính phủ lúc bấy giờ thì có chịu trách nhiệm gì về vấn đề này không? Hay chỉ mấy giọt nước mắt ông ấy che phủi hết trách nhiệm của mình trong những tội ác của cải cách ruộng đất?
- Anh nói thế thì hôm nay tôi không mang, tôi không mang ... (nghe không rõ) (cười).

Hậu quả còn dai dẳng biết đến bao giờ?

VTV3  phỏng vấn
Khai mạc được khoảng 40 phút, khách ra đã vãn, một cháu gái đến hỏi tôi:
- Thưa chú, chú là khách phải không ạ?
- Ừ, chú là khách, đến xem trưng bày.
- Cháu muốn phỏng vấn chú một chút được không ạ
Tôi ngần ngừ vài giây rồi gật đầu:
- Được.
hinh1.jpg
Phóng viên VTV phỏng vấn Blogger Nguyễn Tường Thụy tại phòng trưng bày Cải cách ruộng đất.
Cháu dẫn tôi đến một chiếc máy quay, một đồng nghiệp nam của cháu chờ sẵn.
Các cháu nắn tôi dịch sang trái, sang phải, xoay nghiêng sao cho đúng tư thế, lại cẩn thận dặn:
- Chú phải xưng tôi nhé.
- Xưng hô như thế nào chú biết.
Bắt đầu phỏng vấn:
- Xin chú cho biết (nghe không rõ)
- Cháu nói to lên. Trước khi hỏi, cháu cần giới thiệu cháu là phóng viên cho đài báo nào.
- Thưa chú, cháu là phóng viên VT3, xin chú cho biết cảm tưởng khi xem trưng bày về cải cách ruộng đất.
Tôi nghĩ cách trả lời ra sao để vừa chuyển tải được ý của tôi tới độc giả nhạy cảm nhưng VTV vẫn có thể phát được mà không bị bắt tội. Tôi quyết định nói ngắn vài ý nhưng phải ẩn ý, tạm gạch mấy đầu dòng như sau:
- Về cuộc Cải cách ruộng đất ở miền Bắc, tôi đã tìm hiểu khá nhiều qua sách báo trong nước và cả nước ngoài, qua nhiều kênh thông tin khác nhau và qua cả lời kể của các cụ, ở đây là bố mẹ tôi. Khi cải cách ruộng đất diễn ra, tôi mới được một tuổi.
- Tôi thấy tranh ảnh và hiện vật trưng bày quá sơ sài, lại không phản ánh đầy đủ, chẳng hạn thiếu hẳn phần đấu tố địa chủ. Tôi muốn triển lãm cho mọi người thấy Đảng tạo ra khí thế hừng hực căm thù của nông dân đối với địa chủ ra sao. Tôi tới đây, rất muốn nhìn lại hình ảnh bà Nguyễn Thị Năm, địa chủ đầu tiên bị bắn trong cải cách ruộng đất, nhưng không thấy. Hoặc ảnh Bác Hồ khóc khi nhận sai lầm trong cải cách ruộng đất, tôi cho đó là hình ảnh rất ấn tượng nhưng cũng không có ở đây.
- Tôi biết cuộc Cải cách ruộng đất" diễn ra trong giai đoạn 1953 - 1956 nhưng không hiểu sao phòng trưng bày lại cho là giai đoạn 1946 - 1957
- Tóm lại, tôi thấy trưng bày vừa thiếu vừa không phản ánh đầy đủ nội dung của cuộc Cải cách ruộng đất.
Tôi mỉm cười gật đầu ra dấu hết ý kiến.
- Cảm ơn chú, xin cho chú biết tên.
- Tôi tên Nguyễn Tường Thụy, ở Thanh Trì Hà Nội. Có cần cụ thể số nhà, phường xã không?
- Dạ không cần ạ.
JB Nguyễn Hữu Vinh chen vào:
- Không được cắt xén lắp ghép đâu đấy.
Hẳn là hắn chắc đã có nhiều kinh nghiệm về thủ thuật này, đặc biệt vụ cắt xén lời Cha Ngô Quang Kiệt nên cảnh giác. Tôi đồng tình:
- Chú yêu cầu không cắt xén. Một là để nguyên, hai là không dùng
- Nhưng thời lượng có thể không cho phép
- Vậy nếu cần cắt thì các cháu không được cắt phần nói về khiếm khuyết.
Ra cửa, JB Nguyễn Hữu Vinh cười:
- Các cháu chẳng chịu xem mạng mẽo gì cả, phỏng vấn nhầm ngay Phó chủ tịch Hội Nhà báo độc lập.
Tuy trả lời nhã nhặn và tránh nói toạc ra nhưng như mọi người đã biết, trong chương trình thời sự tối 8/9, khi nói về phòng trưng bày này, VTV3 đã không có chút nào về hình ảnh phỏng vấn tôi. Bà xã bảo: "Ai bảo anh không khen nó một câu". Tôi nói: "Khen để người ta đập vào mặt anh à.
JB Nguyễn Hữu Vinh cho biết việc trưng bày này là nhằm rửa mặt cho chế độ. Nhưng một phòng trưng bày con con, không đầy đủ, che đậy giấu giếm làm sao có thể rửa được tội ác mà cải cách ruộng đất gây nên. Không chỉ hàng chục ngàn nông dân bị giết oan mà còn làm băng hoại đạo đức xã hội được hình thành từ hàng ngàn năm, hậu quả của nó còn dai dẳng biết đến bao giờ.
Những oan hồn của nông dân sáu chục năm về trước chưa bao giờ siêu thoát, luôn nhắc nhở chúng ta: Hãy cảnh giác.
Nguyễn Tường Thụy, Hà Nội 9/9/2014.
*Nội dung bài viết không phản ảnh quan điểm của RFA.

Đèn Cù-cảnh xử bà địa chủ Cát Hạnh Long

Chuyện này chắc người miền Bắc đều biết, chỉ có dân Miền Nam như mình mới biết cảnh xử bà địa chủ Cát Hạnh Long, người có công lớn góp vàng bạc, vải vóc, và nhà cửa cho Việt Minh. Trích dẫn "Đèn Cù" trang 83-91:

Khi du kích đến đưa bà ta đi, bà ta cảm thấy có gì nên cứ lạy van: "Các anh làm gì thì bảo em trước, để em còn tụng kinh".

Du kích quát: "Đưa đi chỗ khác giam thôi. Im!"

Bà ta vừa quay người đi thì mấy loạt tiểu liên nổ ngay sát lưng! Mình được đội phân công ra chùa Hang mua áo quan.
Chỉ thị: "chỉ mua áo tồi nhất và không được lộ là mua chôn địa chủ" (sợ như thế sẽ đề cao uy thế uy lực địa chủ mà!).

Khổ tớ, đi mua cứ bị nhà hàng thắc mắc: "chưa thấy ai đi mua áo cho người nhà mà cứ lại đòi mua áo rẻ tiền nhất".

Mua áo quan được thì không cho bà ta vào lọt! Du kích mấy người bèn đặt bà ta nằm trên miệng cổ áo rồi nhảy lên vừa dẫm vừa hô: "Chết còn ngoan cố này! Ngoan cố nổi với các ông nông dân không này? Nghe xương kêu răng rắc mà tớ không dám chạy sợ bị qui là "thương địa chủ". Cuối cùng ba ta cũng vào lọt, nằm vẹo vọ như con rối bị gãy vậy."

-Hết trích dẫn.

Sunday, September 7, 2014

'Lúc đầu tôi cũng rất mến ông Hồ'

Ông Hò Chí MinhCuốn Đèn Cù đưa ra nhiều chi tiết mới gợi ý 'thâm cung bí sử' về lãnh tụ và Đảng CS Việt Nam.
Tác giả cuốn tự truyện 'BấmĐèn Cù' nói với BBC lúc đầu ông đã 'rất mến' ông Hồ Chí Minh, trước khi vị cố Chủ tịch của Việt Nam thay đổi 'lập trường' và ngả theo ông Lê Duẩn cùng các lãnh đạo lớp đàn em.
Trao đổi với BBC, nhà văn Trần Đĩnh, một cây bút từng viết cho các tờ Sự Thật, Nhân Dân của Đảng Cộng sản Việt Nam, nói:
"Ông Hồ mà tôi đi theo thì lúc đầu tôi rất mến ông ấy, nhưng mà cuối cùng tôi nói thật tôi tâm sự là 'thất tình' trong quyển ấy."
Nhà văn giải thích lý do làm ông 'thất vọng' với vị cựu lãnh tụ cộng sản.
"Bởi vì tôi thấy cuối cùng ông Hồ thua ông Lê Duẩn. Ở ngoài cuộc rất khó hiểu. Mới đầu hội nghị Trung ương lần thứ 9, tức là Hội nghị Đảng Cộng sản Việt Nam, ông Lê Duẩn, Tổng Bí thư bắt đầu ngả theo đường lối Trung Quốc để đánh, phát động chiến tranh.
"Thì lúc đầu cụ Hồ, ông Hồ ông không tán thành. Cụ Hồ không biểu quyết mà đó bắt đầu bi kịch của cụ.
"Nhưng mà tôi đinh ninh cụ phải là người kiên cường đấu tranh chống lại, thì cụ không."
Người từng được giao chấp bút tiểu sử chính thức hay các dự án hồi ký, tự truyện của nhiều lãnh đạo cao cấp của Đảng Cộng sản, trong đó có cố Chủ tịch Hồ Chí Minh, giải thích thêm về quan điểm riêng của ông về cố lãnh tụ.
"Thực ra đối với con người, tôi không có gì gọi là ác cảm, không có chuyện gì đâu, nhưng vấn đề bắt đầu là khi đứng trước những cái lớn, tôi đinh ninh cụ sẽ là người đứng ra cầm trịch, thì cuối cùng cụ cũng để cho bị ông Lê Duẩn ông kéo theo."
Vẫn theo tác giả Đèn Cù, một số lãnh tụ khác của Đảng Cộng sản, như ông Trường Chinh, cố Tổng Bí thư Đảng Cộng sản VN, cũng 'ngả' lập trường như trường hợp của cố Chủ tịch Việt Nam.
Ông Trần Đĩnh nói thêm: "Ông Trường Chinh rủ tôi đi viết hồi ký cho ông ấy, mà lúc bấy giờ tôi quan niệm ông ấy viết hồi ký là ông ấy định tập hợp lực lượng, ông ấy không bằng lòng ngả theo Trung Quốc.
"Cuối cùng ông ấy chính ông ấy lại là người tán thành Trung Quốc đúng. Tôi cũng lại dứt tình với ông Trường Chinh."

'Thâm cung bí sử'

Trong cuốn sách mới được xuất bản ở hải ngoại, tác giả Trần Đĩnh đã đề cập nhiều chi tiết được cho là có tính 'thâm cung bí sử' về nội bộ Đảng Cộng sản, trong đó có nhiều thông tin liên quan các 'góc khuất' về nhân cách, đời tư của nhiều lãnh tụ, từ ông Hồ Chí Minh, tới ông Lê Duẩn, Trường Chinh, Lê Đức Thọ v.v...
 "Tôi sống lúc ấy thì tôi biết chứ, ví dụ như chuyện Cụ có những cái này, cái nọ thì bạn bè tôi nói, thì biết thôi. Chứ còn bây giờ nói lại thì thực là khó"Nhà văn Trần Đĩnh
 Về cố Chủ tịch Hồ Chí Minh, một số thông tin trong cuốn sách gợi ý rằng ông Hồ chính là người đã cải trang 'đeo râu' theo dõi vụ đấu tố địa chủ đầu tiên ở Việt Nam.
Và chính lãnh tụ này là người đã trực tiếp 'viết báo kết tội đích danh' một nữ địa chủ kháng chiến, bà Nguyễn Thị Năm, cũng như đã đả kích giai cấp địa chủ, chứ không phải là 'vô can', hay 'không hề biết' như vẫn được báo chí và lịch sử đảng Việt Nam 'tuyên truyền', giải thích.
Một số chi tiết khác gợi ý cố lãnh tụ này có các mối quan hệ với một số phụ nữ, điều chưa bao giờ được các tài liệu, văn kiện, báo chí của Đảng Cộng sản Việt Nam công bố hoặc đề cập.
Khi được hỏi về tính chân thực và căn cứ của các 'sự thực' này, nhà văn Trần Đĩnh nói:
Hồ Chí Minh và các cán bộ
Trần Đĩnh có nhiều cơ hội tiếp cận các lãnh tụ ở đỉnh cao quyền lực của Đảng CSVN một thời.
"Tôi sống lúc ấy thì tôi biết chứ, ví dụ như chuyện Cụ có những cái này, cái nọ thì bạn bè tôi nói, thì biết thôi. Chứ còn bây giờ nói lại thì thực là khó.
"Hiện nay tôi còn có người bạn là Phan Kế An, con cụ Phan Kế Toại, họa sỹ, anh ấy biết chuyện, anh ấy đến vẽ cho cụ.
"Anh đến vẽ cho cụ, thì anh ấy nói chuyện. Hiện nay anh Phan Kế An vẫn sống."
Trao đổi BBC mới đây về Trần Đĩnh, nhân sự kiện cuốn Đèn Cù ra mắt ở hải ngoại, nhà văn Vũ Thư Hiên, tác giả "Đêm giữa ban ngày" và dịch giả "Bông Hồng vàng" nói:
"Ông Trần Đĩnh là một người viết báo từ trước, làm nhiều ở báo Nhân dân, có một thời gian ông ấy làm việc trong văn phòng của ông Trường Chinh.
"Nếu chúng ta tìm văn bản thì không có đâu, nhưng với những người ở trong giai đoạn đó mà ở gần với các vị ở đỉnh cao quyền lực, thì chắc chắn ông Trần Đĩnh là người có thể đưa ra được những thông tin khá xác thực để mọi người có thể tin cậy"Nhà văn Vũ Thư Hiên

"Chúng tôi quen nhau cũng khá lâu và sau khi có vụ Xét lại chống Đảng nảy ra thì ông Trần Đĩnh, lúc đó đang làm ở báo Nhân dân, cũng bị trấn áp, nhưng không bị đi tù như chúng tôi mà người ta chỉ bắt đi lao động, bắt đi làm những công việc khác thôi.
"Ông Trần Đĩnh là người viết nhiều mà thường thường viết cho những người cầm quyền cao cấp, đối với họ, ông Trần Đĩnh là một người được tín nhiệm, viết rất là tốt."

'Kiểm chứng sự thực'

Về tính chân thực và cơ sở của những 'sự thực' được ông Trần Đĩnh đề cập, như những chi tiết 'góc khuất' về đời tư của Hồ Chủ tịch, ông Vũ Thư Hiên bình luận:
"Thực sự ra tất cả những việc đó nó nằm trong vòng bí mật của Đảng, nếu chúng ta tìm văn bản thì không có đâu, nhưng với những người ở trong giai đoạn đó mà ở gần với các vị ở đỉnh cao quyền lực, thì chắc chắn ông Trần Đĩnh là người có thể đưa ra được những thông tin khá xác thực để mọi người có thể tin cậy rằng đấy là những nguồn đáng tin.

Trường Chinh
Trần Đĩnh (thứ năm, trái sang) từng được ông Trường Chinh (thứ sáu) mời viết hồi ký.
"Bởi vì thực sự bây giờ nếu chúng ta muốn tìm hiểu những con người ở trong giai đoạn đó thì chỉ có sự kể lại của các nhân chứng, chứ còn nếu chúng ta cứ đòi hỏi có một văn bản như là trong văn bản học, thì chúng ta sẽ chẳng bao giờ đạt được tới điều đó, với lại cách hành xử với lịch sử của Đảng Cộng sản."
Có ý kiến cho rằng có thể không lâu nữa, nhiều bí mật được cho là "thâm cung bí sử", "tuyệt mật" của Đảng, như góc khuất trong đời tư, nhân cách của nhiều cựu, cố lãnh đạo Đảng, cùng các cuộc 'tranh chấp quyền lực' nội bộ, hay những "sai lầm nghiêm trọng" của Đảng, Chính quyền theo nhiều con đường khác nhau sẽ được công bố, bạch hóa.
"Vì được nói ra ở những người có thẩm quyền, ở những người gần với cơ chế quyền lực, gần với sự thật nhất, cho nên tính khả tín, tính xác thực của nó là cao. Và một việc như vậy sẽ giúp soi rọi nhiều vấn đề của lịch sử"Nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên

Trước câu hỏi, nếu có chuyện đó, thì khi ấy việc xác lập lại 'sự thực lịch sử', nhất là trong mắt các thế hệ trẻ, thế hệ tương lai và người dân Việt Nam có dễ dàng hay không, nhà phê bình văn học Phạm Xuân Nguyên, Chủ tịch Hội nhà Văn Hà Nội, nhân dịp này nói với BBC:
"Giống như 'Đèn Cù' hoặc là cuốn trước đây của Vũ Thư Hiên 'Đêm giữa ban ngày', rồi 'Mặt thật' và nhiều cuốn khác nữa, thì thứ nhất, tôi phải nói đến chữ 'cần thiết', vì được nói ra ở những người có thẩm quyền, ở những người gần với cơ chế quyền lực, gần với sự thật nhất.
"Cho nên tính khả tín, tính xác thực của nó là cao. Và một việc như vậy sẽ giúp soi rọi nhiều vấn đề của lịch sử, và nó cũng sẽ giúp cho việc bạch hóa cũng như là việc làm sáng tỏ, rõ ràng những vấn đề.
"Điều đó bây giờ là một nhu cầu, nhu cầu của thời đại, nhu cầu của người dân, nhu cầu được thông tin và tiếp cận thông tin, và các thông tin được nói ra ở những người hoặc những cấp có thẩm quyền," nhà phê bình nói với BBC.

Thursday, August 28, 2014

Việt Nam đã trở thành Việt Nam như thế nào !!!



Published on August 28, 2014   ·
(tác giả : Lê Minh Khải ; dịch giả : Vũ Đức Liêm)
Tôi liên tục tìm kiếm các viết lách bằng tiếng Anh mà ở đó người ta nói về làm thế nào mà Việt Nam đã được gọi là Việt Nam, và không ai có được một sự mô tả đúng. Không phải tự hào, sự giải thích đúng đắn nhất về điều này mà tôi được biết trong giới học thuật tiếng Anh là công trình mà tôi xuất bản nhiều năm trước đây, nhưng không ai đọc bất cứ điều gì mà tôi xuất bản thông qua kênh hàn lâm, vì thế tôi nghĩ đã đến lúc để đưa các thông tin lên chỗ này chỗ khác nơi có nhiều cơ hội hơn để mọi người sẽ thực sự tiếp cận nó, và đó có thể là ở đây – không gian Internet.
Vietnam in 1829 under the Nguyễn Dynasty
Phần lớn mọi người dựa vào những gì mà Alexander Woodside viết cách nay 40 năm trong công trình của ông – Vietnam and the Chinese Model. Tuy nhiên, liên quan đến câu chuyện làm thế nào mà tên gọi Việt Nam đã ra đời, Woodside dựa vào thông tin của Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ (欽定大南會典事例) – vốn sử dụng lại các thông tin từ Đại Nam thực lục (大南實錄). Vì thế, để thực sự hiểu được điều gì đã xảy ra (hoặc điều mọi người nói là đã xảy ra), chúng ta cần xem cả các nguồn như Đại Nam thực lục cũng như tư liệu của Trung Quốc nhưThanh thực lục (清實錄).
Sau khi nhà Nguyễn lên cầm quyền năm 1802, họ gửi một phái đoán đến Bắc Kinh để yêu cầu tên mới cho vương quốc. Nguyễn Phúc Ánh (阮福暎), người sáng lập của vương quốc là hậu duệ của dòng họ Nguyễn vốn cai trị vùng đất phía Nam của nhà Lê (sau đó được mở rộng) trong vòng 200 năm trước đó. Sự cai trị đó là đủ lâu để họ có thể đi đến mô tả về tính chính thống của mình.
Vào cuối thế kỷ XVIII, khi cuộc nổi loạn Tây Sơn kéo theo sự tan rã của hai dòng họ Trịnh – Nguyễn, chấm dứt sự can dự của họ vào hoàng gia, các thành viên sống sót của họ Nguyễn cảm thấy những thôi thúc đặc biệt rằng : điều xảy ra với họ là sai trái, và đó là một trong những động lực thôi thúc họ giành lại phần lãnh thổ mà họ tin rằng thuộc về mình một cách chính danh (Đại Nam thực lục, 16/17b). Tuy nhiên, trong quá trình đó, Nguyễn Phúc Ánh không chỉ lấy lại từ Tây Sơn vùng đất của tố tiên mà còn tiến xa hơn về phía Bắc, đặc biệt là vùng đất trung tâm của nhà Lê vốn nằm trong tay đối thủ của mình trước đây là họ Trịnh, và sau đó Tây Sơn chinh phục cả chính quyền Trịnh và Lê, dẫn đến việc vua Lê phải lánh nạn sang nhà Thanh, nơi ông ta qua đời.
Gia Long đế
Với thắng lợi quân sự áp đảo và được thông báo rằng không có hậu duệ nào của nhà Lê lên tiếng về ngai vàng, họ Nguyễn đã tự thiết lập nền cai trị của mình trên vương quốc rộng lớn nhất từng tồn tại ở vùng này. Một lãnh thổ mới như thế dĩ nhiên là xứng đáng một cái tên mới để thể hiện lãnh thổ của họ : “Cương vực mà từ thời Trần, Lê trở về trước không thể so bì” (疆域非陳黎以前之不比, Đại Nam chính biên liệt truyện, 11/2a). Cùng lúc, nhà Nguyễn không muốn từ bỏ ký ức về vùng đất mà họi gọi là đất đai của tổ tiên. Các vùng đất này nằm ở phía Nam của vương quốc mới, vùng đất mà nhiều học giả tin rằng từng là địa bàn cùa bộ Việt Thường (越裳), một bộ được mô tả trong các thư tịch cổ Trung Hoa. Kết hợp với những vùng đất này là khu vực An Nam (安南) từng nằm dưới sự cai trị của họ Trịnh dưới danh nghĩa nhà Lê. Như một cách thức để mô tả rằng lãnh thổ mới bao gồm cả hai khu vực này, lớp tinh hoa của triều Nguyễn chọn cách kết hợp “Nam” từ “An Nam” với “Việt” trong “Việt Thường” để tạo ra tên mới – Nam Việt (南越).
Trong khi phái đoàn ngoại giao được gửi đến Bắc Kinh đầu thế kỷ XIX để yêu cầu hoàng đế nhà Thanh cho phép họ Nguyễn tạo ra sự thay đổi này, viên chức của triều Nguyễn là Trịnh Hoài Đức (鄭懷德) đã đưa vấn đề này ra với các quan chức nhà Thanh ở Quảng Đông (Bang giao lục, 3/12a-b). Tổng đốc của tỉnh láng giềng Quảng Tây, Tôn Ngọc Đình (孫玉庭) nghe được điều này và đã kiến nghị về tên gọi này khi liên tưởng đến quốc gia Nam Việt của Triệu Đà từ thế kỷ II trước Công nguyên vốn bao gồm phần lớn tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây. Tôn lo ngại rằng tên gọi này là dấu hiệu thậm chí còn đáng ngại hơn việc Tây Sơn giúp đỡ các nhóm hải tặc trong vùng. Hệ quả là cuối năm 1802, Tôn Ngọc Đình tấu trình lên ngai vàng và kêu gọi hoàng đế không chấp nhận sự thay đổi tên của nhà Nguyễn về vương quốc Nam Việt (Thanh thực lụcniên hiệu Gia Khánh, 106/25a). Vị hoàng đế đã chú ý đến kiến nghị của Tôn.
嘉慶帝
Vào ngày 18 tháng 6 năm 1803, hoàng đế Gia Khánh (嘉慶) nhà Thanh yêu cầu rằng tên gọi mới của vương quốc sẽ là Việt Nam thay vì Nam Việt, và Nguyễn Phúc Ánh được phong vương. Vị hoàng đế lý giải cho quyết định của mình bằng việc lưu ý chữ “Việt” đặt lên đầu để vinh danh lãnh thổ vốn trước kia nằm dưới sự cai trị của tổ tiên họ Nguyễn (Thanh thực lụcniên hiệu Gia Khánh, 115/15a). Đại Nam thực lục cung cấp thêm chi tiết về bình luận của hoàng đế nhà Thanh. Nó ghi lại việc vị hoàng đế giải thích chữ “Việt” đứng trước danh hiệu mới nhằm thể hiện rằng vương quốc này là sự tiếp tục của một lãnh thổ trước kia và những người cai trị sẽ tiếp tục con đường của người đi trước. Đối với chữ “Nam”, nó liên quan đến việc nhà Nguyễn đã mở rộng vùng đất cũ Nam Giao (南交), và đã nhận được sự công nhận mới (Đại Nam thực lục, 23/1a).
Sau khi can gián để hoàng đế nhà Thanh không chấp thuận việc sử dụng tên “Nam Việt”, Tôn Ngọc Đình sau đó viết trong một bản tấu gửi triều đình rằng, thêm vào những ý nghĩa trên, tên “Việt Nam” - với ý nghĩa chiết tự là “Phía Nam của Việt”, điều này cũng rất tốt vì nó đề cập rằng vùng lãnh thổ này nằm ở phía Nam của khu vực nơi mà Bách Việt từng sinh sống, khu vực trải dài từ tỉnh Chiết Giang qua Phúc Kiến, Quảng Đông và Quảng Tây. Bình luận này một lần nữa cho thấy Tôn Ngọc Đình quan tâm đến những mối đe dọa tiềm tàng lên khu vực ông ta cai trị – tình Quảng Tây (Thanh thực lụcniên hiệu Gia Khánh, 111/11b).
孫玉庭
Thông tin ở trên đến từ công trình tôi nghiên cứu và viết 14 năm trước (tôi nghĩ là lúc đó tôi đã viết một cách đầy văn chương và xúc cảm hơn những gì tôi viết sau này). Tôi không quay lại và kiểm tra lại nguồn dẫn. Tuy nhiên tôi nghĩ là những gì tôi đề cập ở đây liên quan đến luận điểm rằng : việc lựa chọn tên gọi này là phức tạp hơn rất nhiều so với những gì có thể tìm thấy ở các công trình tiếng Anh về chủ đề này. Chỉ có một người duy nhất có thể kết nối tên gọi này với vương quốc cổ Nam Việt của Triệu Đà là Tôn Ngọc Đình – Tổng đốc Quảng Tây, chứ không phải hoàng đế nhà Thanh hay bất cứ ai ở Việt Nam.