Cánh Dù lộng gió (Danlambao) - Cuộc đời này lắm đoạn trường, đối với Anh Em TPB VNCH là cả một kiếp đọa đày khổ ải kể từ ngày 30/4/1975. Ngày mà mọi người đều sợ hãi, lo lắng không biết rồi sẽ ra sao, nhưng với Anh Em TPB VNCH thì ngày đó Anh Em bắt đầu kiếp sống địa ngục trần gian. Cuộc sống kể như chết lặng từng ngày.
Đang nằm trong Bệnh Viện vì mới cưa chân, vết thương còn rỉ máu, bụng vừa khâu xong có khi chưa kịp băng bó đã phải lê lết, người còn đi được dìu người không thể lết được, có người còn ôm chân cụt mới cắt máu còn đang nhỏ tong tong, có người tay còn đang ôm bụng mới được khâu chưa kịp băng bó, tất cả đều bị đuổi ra khỏi Bệnh Viện khi lũ Khỉ Trường Sơn tiến vào Sài Gòn.
Ai có thân nhân thì tự tìm phương tiện quá giang về nhà. Ai không có thân nhân thì đi xin những người đi đường nhìn mình với ánh mắt ái ngại. Phải nói lúc bấy giờ người miền Nam vẫn còn tình người, họ bảo nhau mỗi người một tay giúp đỡ Anh Em, người cho quần áo, người cho tiền, người cho thức ăn, trong nhà ai có bông băng chạy vào lấy ra băng bó vết thương cho Anh Em. Nhìn thấy cái cảnh này không ai cầm được nước mắt. Ngay tại cổng Tổng Y Viện Cộng Hòa lúc đó có một số Chị Em làm gái nghe tin Sài Gòn thất thủ cũng tìm đường về quê, nhưng thấy hoàn cảnh Anh Em như thế cũng động lòng trắc ẩn gom tiền, mỗi người một chút chia sẻ với Anh Em về đường. Nhiều Chị Em còn rơm rớm nước mắt vì thương hại.
Sau cái ngày đó Anh Em TPB mỗi người một ngả, kẻ đi buôn chuyến, người ngồi góc đường vá miếng xăm xe đạp, có một số rủ nhau đi xin ăn, nói chung ai mướn gì thì làm cái nấy.
Tuy bữa no bữa đói, nhưng Anh Em rất thương nhau, nhường nhịn nhau từng miếng cơm, manh áo, từng ngụm nước, từng mẩu thuốc lá người đi đường bỏ đi. Họ đùm bọc lẫn nhau.
Nếu dòng đời cứ êm ả trôi đi thì cũng không đến nỗi nào, có thời gian Anh Em bị gom hết vào trại có thể nói là trại lao động, sáng kẻng dậy đi lao động, trưa về ăn chén Bo Bo, hay bắp bung, có khi độn chung với Mì khô, chiều đi làm tới muộn mới được về, ăn uống như thế mà bắt lao động, sức người khỏe mạnh bình thường còn chịu không nổi, nói chi Anh Em TPB, mất đi một phần thân thể, nếu ai mở miệng khiếu nại coi như dở sống dở chết vì bị lôi lên phòng Bảo Vệ đánh đập, nhiều Anh Em chịu không nổi đã chết trong chốn này.
Từ khi có chương trình Tri Ân TPB VNCH do Hòa Thượng Thích Không Tánh sáng lập, giúp đỡ và tặng quà cho Anh Em TPB, sau này bị Côn An quậy phá ngăn cản nên bàn giao lại cho DCCT tiếp tục chương trình này. Anh Em được sống lại phần nào từ những lời an ủi, giúp đỡ tận tình của các Linh Mục DCCT, những Tình Nguyện Viên và những Mạnh Thường Quân, những nụ cười mếu máo đã lại nở trên môi khi được mời tham dự buổi Tri Ân cuối năm do DCCT tổ chức hàng năm.
Năm nay cũng như mọi năm trước, sau ngày Noel DCCT bắt đầu tổ chức tri ân cho khoảng 5000 Anh Em TPB có hồ sơ và danh sách, mỗi đợt sẽ mời khoảng từ 200-300 Anh Em đến để nhận quà Xuân 2017.
Lần này chương trình sẽ mang tên "Vườn Tao Ngộ" như một LM DCCT đã tuyên bố.
Mỗi Anh Em sẽ nhận được một phần quà, nghe Văn Nghệ tự biên, tự diễn, sau đó mỗi người được nhận thêm 200-300$ tiền về xe tùy theo gần hay xa.
Năm ngoái có nghe tin bà Janet Nguyễn Nghị Sĩ Quốc Hội Hoa Kỳ đang can thiệp cho các Anh Em TPB còn ở lại VN được cùng gia đình đi định cư tại đó, Thượng và Hạ Viện Cali đã chấp thuận, đang chuyển lên Thượng và Hạ Viện Liên Bang cứu xét, ai cũng mừng, nhất là các Anh Em TPB thì khỏi nói. Một tia hy vọng cuối đường hầm lóe lên, thế rồi Ông Trump đắc cử Tổng Thống tuyên bố sẽ xem xét lại vấn đề người tỵ nạn, và sẽ trục xuất những người định cư bất hợp pháp, nên Anh Em TPB lại một lần lữa hụt hẫng vì cuộc đời mới có tia hy vọng, giờ thì tiêu tan theo mây khói khi nghe Ông Trump tuyên bố, vì biết chất vấn để định cư tới đây sẽ rất khó khăn.
Đúng là thân tàn ma dại mới thoi thóp thở một chút thì giờ đây lại phải nín thở qua cầu.
Victoria, Úc – Nghị viện bang Victoria của Úc hồi tuần qua tổ chức lễ chính thức công nhận, vinh danh và tri ân những cựu chiến binh Úc tham chiến tại miền Nam Việt Nam và các cựu quân nhân Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà, những người đã sát cánh bảo vệ miền Nam Việt Nam tự do.
Buổi lễ cũng đánh dấu 50 năm trận chiến Long Tân, là trận đánh nổi tiếng nhất của quân đội Úc khi tham chiến tại Việt Nam. Hơn 100 cựu chiến binh Úc-Việt tham dự buổi lễ cùng các đại diện hội đoàn. Buổi lễ được chính Thủ Hiến bang Victoria là ông Daniel Andrews khai mạc, với sự tham dự của một số bộ trưởng trong chính phủ Úc, như Bộ Trưởng Giao Thông Luke Donnellan, Bộ Trưởng Cựu Chiến Binh John Eren và Bộ Trưởng Sắc Tộc Robin Scott. Khách tham dự Lễ Vinh Danh được chia ra làm hai nhóm để cử hành nghi lễ tại cả Hạ Viện và Thượng Viện. Tại mỗi viện, khoảng 10 vị dân cử, mỗi người dành ra 90 giây để đọc tuyên bố ghi nhận sự kiện.
Đây là một sự kiện lịch sử vì lần đầu tiên một nghị viện bang ở Úc vinh danh các cựu chiến binh của cuộc Chiến tranh Việt Nam. Được biết cộng đồng Việt tại Úc đang vận động để tổ chức một buổi lễ tương tự tại Quốc Hội Liên Bang.
Cũng cần nhắc lại, ở tại Úc, các cựu chiến binh Việt Nam Cộng Hòa từ lâu đã được chính phủ Úc trân trọng, được lãnh lương hưu giống như cựu chiến binh Úc. Người Úc vẫn còn duy trì một đài tưởng niệm những quân nhân Úc đã hy sinh tại Việt Nam ngay tại Long Tân, và nơi này vẫn được các nhân viên Tổng Lãnh Sự Úc tại Sài Gòn thường xuyên thăm viếng.
WESTMINSTER - “Nối nhịp cầu cựu chiến binh Mỹ” là chủ đề cuộc sinh hoạt vào sáng 14 tháng 11 tại Tượng Đài Chiến Sĩ Việt-Mỹ trong thành phố Westminster, California, do Cộng Đồng Việt Nam nam California tổ chức cùng Hội Cựu Chiến Binh Mỹ tham chiến tại Việt Nam.
Các cựu chiến sĩ VNCH trao tặng những dải cờ Vàng Ba Sọc Đỏ đến các cựu chiến binh Hoa Kỳ tham chiến ở Việt Nam trong cuộc họp mặt “Bridging the Gap.” (Hình: Nguyên Huy/Người Việt)
Khoảng hơn 100 cựu chiến binh Hoa Kỳ và Việt Nam tham gia vào sinh hoạt này. Phần lớn các cựu chiến binh Mỹ-Việt đều mặc sắc phục của Quân Binh Chủng mình trước đây. Điều hợp chương trình là ông Nguyễn Kim Bình và một số thành viên trong Cộng Đồng Việt Nam Nam California cùng ông Greg Cillaspie, chủ tịch hội VVA (Vietnam Veteran of America).
Mở đầu là phần mặc niệm những chiến sĩ Hoa Kỳ và Việt Nam đã hy sinh trong cuộc chiến. Một cựu chiến binh Hoa Kỳ trong sắc phục đặc biệt của đội kèn đồng truyền thống Hoa Kỳ nhịp bước quân hành tới trước Tượng Đài và thổi lên tiếng kèn truy niệm da diết để mọi người cùng tưởng nhớ đến những chiến binh Hoa Kỳ và Việt Nam đã hy sinh để bảo vệ tự do cho VNCH.
Thị Trưởng Trí Tạ, người đầu tiên phát biểu, đã ca tụng sự chiến đấu của những người lính trong quân lực Hoa Kỳ và QLVNCH.
Ông nói: “Họ đã cùng sát cánh bên nhau trải qua một cuộc chiến để bảo vệ tự do cho Việt Nam trước sự xâm lăng của đế quốc Cộng Sản qua tay Cộng Sản Việt Nam. Hôm nay họ gặp nhau đây sau 40 năm cuộc chiến chấm dứt để nối nhịp cầu với nhau. Thành phố Westminster xin được xác nhận sự hy sinh cao cả của những người cựu chiến binh Hoa Kỳ và VNCH đã hết lòng chiến đấu cho tự do. Và cũng xin nhân danh thế hệ trẻ để bày tỏ lòng tri ơn của chúng tôi với quí vị.”
Nghị viên Westminster, Diane Carey, cũng bày tỏ lòng ngưỡng vọng đến các cựu chiến binh Mỹ Việt đã cùng sát cánh bên nhau trong cuộc chiến bảo vệ tự do trước đây.
Nữ tài tử Kiều Chinh cùng tài tử chính của phim Ride the Thunder, anh Joseph, cũng bày tỏ những cảm nghĩ của mình về ngày “Nối Nhịp Cầu Cựu Chiến Binh Mỹ.” Joseph cho biết vì ngưỡng phục sự chiến đấu anh dũng quả cảm của người lính Hoa Kỳ và Việt Nam trong cuộc chiến nên anh đã làm cuốn phim này.
Chủ tịch hội VVA (Vietnam Veteran of America) hân hoan nhận bảng ghi ơn của thành phố từ tay Thị Trưởng Trí Tạ. (Hình: Nguyên Huy/Người Việt)
Cựu Đại Tá Lê Khắc Lý, cố vấn của Cộng Đồng Việt Nam Nam California, trong phần phát biểu, nhắc lại sự thất bại trong cuộc chiến Việt Nam để Cộng Sản chiếm được miền Nam tự do là do phản chiến Mỹ. Họ đã tiếp tay cho kẻ địch, làm lạc hướng chính nghĩa cuộc chiến tranh. Họ đốt cờ Mỹ trên đường phố. Họ bán cờ Cộng Sản Giải Phóng Miền Nam ngay trước Tòa Bạch Ốc để Quốc Hội buộc phải chấm dứt cuộc chiến tranh và người lính Hoa Kỳ tham chiến ở Việt Nam khi về nước đã phải chịu sự khinh khi, bêu riếu bất công. Còn người lính VNCH sau những năm tháng dài khổ nhục trong các trại tù Cộng Sản, khi được tái định cư ở Hoa Kỳ cũng không tránh khỏi những dư luận đàm tiếu trong giới truyền thông phản chiến.
Bốn mươi năm sau những xấu xa ấy, những cựu chiến binh cùng chung một lý tưởng ngày nào hôm nay gặp lại nhau đây, nhắc lại chuyện xưa để cùng tìm đến nhau chia sẻ những vinh nhục trong đời lính chiến đấu.
Một cựu chiến binh Hoa Kỳ thường có mặt trong nhiều sinh hoạt cộng đồng người Việt trước đây được ban tổ chức mời lên phát biểu. Ông kể về thời gian tham chiến ở Việt Nam, nhắc đến những giao tình giữa những người lính Hoa Kỳ và VNCH trên chiến trường. Những giao tình ấy, với ông, nó còn mãi đến hôm nay và ông mong đây không phải chỉ một lần mà sẽ được diễn ra hàng năm sau khi chúng ta đã “Bridging the Gap” hôm nay.
Sau phần phát biểu cảm tưởng của quan khách và các cựu chiến binh Mỹ-Việt, hơn hai chục cựu chiến sĩ VNCH thuộc các binh chủng, đơn vị khác nhau cùng mang những giải khăn cờ Vàng Ba Sọc Đỏ đến trao tặng các cựu chiến binh Hoa Kỳ, những người đã từng chiến đấu bên lá cờ này để bảo vệ một miền Nam Việt Nam được tự do như một sự tri ân sâu sắc.
Chủ tịch Cộng Đồng, kỹ sư Trương Ngãi Vinh, cho biết: “Sau khi được xem cuốn phim Ride the Thunder, anh em trẻ trong Ban Chấp Hành cộng đồng thấy cần phải có một buổi tri ân sự chiến đấu bảo vệ tự do của những người lính Hoa Kỳ từng tham chiến ở Việt Nam nên đã liên lạc với tổ chức Cựu Chiến Binh Hoa Kỳ cùng tổ chức một buổi họp mặt để tuổi trẻ trong cộng đồng người Việt ở đây được bày tỏ sự tri ân với họ; và ông Chủ Tịch Greg Cillaspie đã rất hân hoan đứng chung trong buổi tổ chức này.” 11-16-2015 3:32:07 PM
CTV Danlambao - USS Lassen - một tàu khu trục hạm hùng mạnh nhất của Hoa Kỳ vừa được điều động áp sát đến các đảo nhân tạo bị Trung Cộng xây dựng phi pháp tại Trường Sa.
Chiến hạm có biệt danh "Sea Devils" – tức “Quỷ Biển” này từng nằm dưới quyền chỉ huy của một người Mỹ gốc Việt. Vị hạm trưởng này không ai khác chính là Hải quân Đại tá Lê Bá Hùng, một hậu duệ của Việt Nam Cộng Hòa.
Lê Bá Hùng là con trai của ông Lê Bá Thông, người cũng từng là một Hải quân Trung tá dưới thời Việt Nam Cộng Hòa. Ngày 30/4/1975, ông Lê Bá Thông đã đưa cả gia đình rời khỏi Việt Nam trên một chiếc tàu cá cùng với trên 400 người tị nạn chen chúc.
Nước Mỹ đã mở ra nhiều cơ hội giúp Lê Bá Hùng trở thành người gốc Việt đầu tiên mang cấp bậc Đại tá trong Hải quân Hoa Kỳ.
Năm 2009, hạm trưởng Lê Bá Hùng đã chỉ huy chiến hạm USS Lassen cập cảng Đà Nẵng trong chuyến trở về Việt Nam lần đầu tiên sau 34 năm trốn chạy cộng sản.
Hải quân Đại tá Lê Bá Hùng - niềm tự hào của Việt Nam Cộng Hòa
Sau khi thôi làm hạm trưởng USS Lassen, ông được điều động sang làm phụ tá điều hành cho Phó đô đốc Scott R. Van Buskirk, Tư lệnh Hạm Ðội 7 tại Thái Bình Dương. Gần đây nhất, ông được bổ nhiệm làm phó hạm trưởng Khu trục hạm USS Curtis Wilbur (DDG 54).
Đối với những người Việt tị nạn cộng sản, Hải quân Đại tá Lê Bá Hùng được coi là một niềm tự hào vì sự thành danh của ông trên nước Mỹ.
Nếu như kẹt lại ở Việt Nam, với lý lịch có bố là Trung tá của ‘Mỹ - Ngụy’, có lẽ Lê Bá Hùng chưa chắc đã được vào biên chế quân đội, hoặc nếu có thì may lắm vẫn chỉ là một anh ‘lính quèn’ trong chế độ cộng sản.
Nhân sự kiện đặc biệt này, mời bạn đọc xem lại video “Một người tị nạn cộng sản chỉ huy 2 chiến hạm Hoa Kỳ trở lại Việt Nam” do kênh truyền hình ABC thực hiện vào năm 2009, nói về Lê Bá Hùng lúc ấy còn đang trong vai trò là hạm trưởng USS Lassen.
Image copyrightsaigoneer.comImage captionMiền Nam Việt Nam trước 30/4/1975 là quốc gia có 'tự do báo chí' ở trong khu vực, theo tác giả.
Nhà báo Đỗ Hùng bị rút thẻ nhà báo, mất việc, mất chức Phó Tổng thư ký báo Thanh Niên Online chỉ vì viết bài đụng chạm lãnh tụ cho thấy báo chí thời Đệ Nhị Cộng Hòa quá tự do.
Khi ấy các nhà lãnh đạo được đưa lên mặt báo thường xuyên. Tờ Tin Sáng có mục “Tin Vịt” do “Tư trời biển” viết nêu đích danh Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu là tham quyền cố vị, hiếu chiến, thất học, tham nhũng, bất tài hay gọi ông là "Tổng thống Thẹo", "Sáu Thẹo"…
Hằng trăm tờ báo tư nhân hoàn toàn không bị mua chuộc hoặc bị áp lực theo đường lối của chính phủ. Có báo thân chính phủ, chống cộng, có báo đối lập thậm chí có báo công khai chống đối chính phủ như tờ Tin Sáng nói trên.
Trên 50 tờ nhật báo với số in từ vài chục lên đến trăm ngàn số hằng ngày. Các nhà báo, nhà văn, nhà thơ, nhạc sĩ được tự do sáng tác và phổ biến tác phẩm không bị gò ép trong bất cứ khuôn khổ nào.
Đương nhiên trong hoàn cảnh chiến tranh việc lộ liễu tuyên truyền cho miền Bắc đã bị kiểm soát. Nhưng trên sách báo vẫn thấy rải rác những bài viết ca ngợi quốc tế cộng sản. Việc ngấm ngầm tuyên truyền cho cộng sản Việt Nam cũng không thể tránh khỏi.
Các bài dịch từ báo ngoại quốc với cái nhìn của người ngoại cuộc thậm chí thân cộng cũng thường xuyên xuất hiện trên mặt báo.
Hàng ngàn nhà in, nhà phát hành đều do tư nhân quản lý. Các tiệm sách và sạp báo tư nhân trải rộng khắp miền Nam. Thị trường sách báo hoạt động hoàn toàn tự do.
Ðiều 12 Hiến pháp 1967 ghi rõ: "Quốc gia tôn trọng quyền tự do tư tưởng, tự do ngôn luận, báo chí và xuất bản, miễn là sự hành xử các quyền này không phương hại đến danh dự cá nhân, an ninh quốc phòng hay thuần phong mỹ tục".
Bảo vệ bởi luật
Các sinh hoạt báo chí được bảo vệ bởi Luật báo chí 019/69, do Tổng thống Việt Nam Cộng hòa, Nguyễn Văn Thiệu ban hành vào ngày 30/12/1969.
Đạo luật gồm 8 chương và 69 điều. Chương 1 đã khẳng định quyền tự do báo chí là quyền tự do căn bản trong chính thể Việt Nam Cộng Hòa, miễn bài báo không phương hại đến danh dự cá nhân, an ninh quốc gia và thuần phong mỹ tục.
Nếu không có quyết định của cơ quan tư pháp không ai có quyền đóng cửa tờ báo.
Sách báo, tài liệu nước ngoài bản chính và bản dịch nếu không vi phạm đến an ninh quốc gia và thuần phong mỹ tục cũng được tự do phổ biến tại miền Nam.
Sau 30-4-1975, để tìm hiểu về chủ nghĩa cộng sản, giới trí thức miền Bắc đã tìm mua những sách xuất bản trước 1975 hay những sách ngoại quốc viết về chủ nghĩa cộng sản.
Chương 2 của Bộ Luật nhấn mạnh mọi công dân đều được xuất bản báo mà không cần xin phép. Người muốn ra báo chỉ cần làm thủ tục khai báo tại Bộ Thông tin. Bộ có nghĩa vụ phải lập tức cấp chứng nhận tạm thời khi nhận đủ giấy tờ khai báo.
Ngoại kiều cũng có quyền xuất bản báo, chỉ cần Tổng trưởng Bộ Thông tin hội ý với Tổng trưởng Bộ Nội vụ cấp giấy phép.
Image captionCác nhà báo ngoại quốc và quốc nội đều được hưởng các quyền tự do hành nghề, theo tác giả.
Chương 3 nếu không có quyết định của cơ quan tư pháp, không ai có quyền tạm đình bản hay đình bản vĩnh viễn bất cứ tờ báo nào.
Trong hoàn cảnh chiến tranh để trách những thông tin vi phạm đến an ninh quốc gia chính phủ đã phải thi hành chính sách kiểm duyệt hạn chế. Tại Sài Gòn, Tổng trưởng Nội vụ có quyền ra lệnh tịch thu một tờ báo trước hay trong khi lưu hành. Tại các tỉnh, Tỉnh trưởng cũng có quyền này.
Báo chí không thể bị khởi tố khi tường thuật hay đăng tải các phiên họp, các thuyết trình, các ý kiến thể hiện quan điểm chính trị. Báo chí có quyền trích dịch mọi nguồn thông tin ngoại quốc.
Báo chí có quyền chỉ trích Chính phủ miễn là không nhằm mục đích tuyên truyền cho cộng sản.
Tự do hoạt động
Hội đồng Báo chí hay Hội Nhà báo là một tổ chức dân sự đại diện cho báo chí. Hội Đồng hoàn toàn vì quyền lợi của nhân viên tòa soạn. Mỗi báo có ít nhất 2 đại diện một là Chủ nhiệm và một ký giả đại diện của tờ báo.
Theo Đạo Luật 019/69 nhà báo là người nhận thù lao và cộng tác thường xuyên với tờ báo. Nhà báo phải có thẻ hành nghề do tờ báo cấp và đăng ký ở Bộ Thông tin.
Phóng viên ngoại quốc cũng được tự do hoạt động, nhiều người được móc nối đưa vào vùng cộng sản chiếm để làm phóng sự tuyên truyền cho cộng sản.
Trong hoàn cảnh chiến tranh cộng sản đã lợi dụng tự do báo chí để hoạt động. Nhiều ký giả, phóng viên, nhân viên tòa báo là cán bộ cộng sản nằm vùng hay làm việc cho cộng sản.
Nhật báo Tin Sáng của dân biểu đối lập Ngô Công Đức gồm nhiều người thuộc thành phần thứ ba như Nguyễn Ngọc Lan, Lý Chánh Trung, Hồ Ngọc Nhuận, Lý Quí Chung. Sau 30-4-1975, Tin Sáng được tiếp tục phát hành thêm 6 năm, được đóng cửa với lý do tờ báo đã "hoàn thành nhiệm vụ".
Tình trạng báo đối lập tại miền Nam đã được tờ Lao Động, số ra ngày 13/07/2015, tóm gọn như sau:
“Báo đối lập bị tịch thu dài dài, chủ bút ra tòa như cơm bữa, nhưng chỉ bị “phạt miệng”, chứ không đóng một xu nào. Tịch thu thì cứ tịch thu, báo vẫn đến tay độc giả đều đều.
Lí do hết sức đơn giản, báo chưa đưa đi kiểm duyệt đã phát hành rồi nên khi cảnh sát ập đến tòa soạn để lập biên bản tịch thu thì có một số tờ đã "cao chạy xa bay".
Trong hoàn cảnh chiến tranh và trước tình trạng nói trên ngày 4-8-1972, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đã ban hành Đạo Luật số 007/72.
Luật mới quy định mỗi nhật báo phải ký quỹ tại Tổng nha ngân khố 20 triệu đồng (bằng 500 lượng vàng) và 10 triệu đồng cho báo định kỳ. Ngay khi ban hành đã có 16 tờ nhật báo và 15 tờ báo định kỳ không có tiền ký quỹ phải đóng cửa.
Luật mới cũng quy định tờ nào hai lần vi phạm an ninh quốc gia và trật tự công cộng thì sẽ bị đóng cửa vĩnh viễn.
Image copyrightAFPImage captionVụ nhà báo Đỗ Hùng bị rút thẻ nhà báo cho thấy Việt Nam vẫn chưa có tự do báo chí, theo tác giả.
Việt Nam Cộng Hòa là một nước theo thể chế tam quyền phân lập rõ ràng: Tư pháp độc lập với Hành pháp. Cơ quan hành Pháp truy tố một tờ báo nhưng quyết định tờ báo có vi phạm an ninh quốc gia và trật tự công cộng, vi phạm ở mức độ nào là quyết định hoàn toàn của Tòa Án.
Luật mới ra đời báo chí vẫn hoạt động khá tự do. Như tháng 8 năm 1974 báo chí vẫn tiếp tục cổ vũ cho Phong trào nhân dân chống tham nhũng của Linh mục Trần Hữu Thanh, hay cổ động cho Ngày ký giả đi ăn mày, 10-10-1974.
Điểm son nền Cộng hòa
40 năm nhìn lại sinh hoạt báo chí cũng như mọi sinh hoạt khác tại miền Nam vừa tự do, vừa văn minh hơn hẳn các quốc gia trong vùng và không thua gì các quốc gia tân tiến. Đây là điểm son của nền Đệ Nhị Cộng Hòa làm nhiều người cảm thấy luyến tiếc một thời đã qua.
Một số người cũng cho rằng chính báo chí đã dẫn đến sự sụp đổ của miền Nam tự do.
Thực ra định mệnh của nền Đệ Nhị Cộng Hòa đã được thu xếp tại Tòa Bạch Ốc, từ Quốc Hội Hoa Kỳ thông qua Hiệp Định Ba Lê.
Một số bạn ở Việt Nam cho biết báo chí thời nay ít người đọc.
Ngược lại ở hải ngoại báo chí vẫn thịnh hành.
Điều này chứng tỏ nhu cầu đọc báo ở Việt Nam đã không được đáp ứng.
Trở lại với nhà báo Đỗ Hùng, bài viết của ông đã được lấy xuống không một lời giải thích, không còn thấy Facebook của ông và không ai biết việc gì đang xảy ra cho ông.
Điều này chứng minh ở Việt Nam hoàn toàn không có quyền tự do ngôn luận.
Ở Việt Nam chỉ có 1 cơ quan tuyên giáo nên rất có thể không báo nào dám nhận ông làm việc.
Từ góc cạnh nhân quyền ông mất cả quyền mưu cầu cuộc sống cá nhân và gia đình.
Việt Nam đang cố gắng để được tham gia Hiệp ước Đối tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP) có điều khoản về tự do báo chí, việc nhà cầm quyền cộng sản sa thải nhà báo Đỗ Hùng cho thấy họ chưa sẵn sàng tuân thủ các điều khoản sẽ ký.
Ngược lại bài học từ tự do báo chí trong nền Đệ Nhị cộng Hòa cho thấy nước Việt Nam và người Việt Nam thích nghi hơn với một thể chế tự do như đã có tại miền Nam trước.
Bài viết thể hiện lối hành văn và phản ánh quan điểm của tác giả, một ký giả đang sống tại Melbourne, Úc.
Xưa tình yêu cho quê hương, đã giục anh lên đường, theo lý tưởng màu cờ sáng tươi. Ơi đời lính, bao gian nguy, anh can trường dấn thân, băng mình trong bão đạn để che chắn hậu phương. Nơi nào đó trên quê hương đã từng là chiến trường, nơi anh để lại phần máu xương. Ơi giòng máu anh thanh xuân, giữ miền Nam ấm êm, cho đàn em đến trường, dân sống đời tự do.
Một ngày nao gẫy súng, trời xanh mất chim bàng, nên trời u ám, đen tối ngày tháng Tư. Dù đạn bom nay dứt, phố phường thay chiến địa, thân anh mảnh tàu vỡ, càng nát tan trong sóng đỏ vô nhân.
Xin cúi chào anh, kiên cường trên bất hạnh. Miền Nam không quên anh! Chúng tôi không quên ơn!
Trần Trung Đạo (Danlambao) - ...Giá trị của VNCH được xây bằng xương máu của bao nhiêu người và ngày nay đã vượt qua khỏi vĩ tuyến 17 để trở thành ước vọng chung cho cả dân tộc. Sau 40 năm, VNCH như một mạch nước chảy ngầm trong rặng núi, đau đớn, vất vả, khó khăn nhưng không bao giờ ngừng chảy. Nếu ai cho tôi khoác lác hãy gác qua bên mặc cảm Bắc Nam, định kiến xã hội, khuynh hướng chính trị, đảng phái, tôn giáo, tả khuynh, hữu khuynh, thù hận riêng tư và thậm chí che luôn bốn chữ Việt Nam Cộng hòa trên trang đầu của Hiến pháp VNCH mà chỉ đọc một cách nghiêm chỉnh nội dung thôi, tôi tin người đọc dù Nam hay Bắc, dù trong hay ngoài nước, sẽ công nhận đó chính là mục tiêu mà dân tộc Việt Nam cần phải đạt đến...
*
Trong suốt 60 năm từ 1954, bộ máy tuyên truyền của đảng đã không ngừng vẽ trong nhận thức của bao nhiêu thế hệ Việt Nam một VNCH chẳng khác gì một con ma, ghê sợ, hung dữ và tội lỗi nhất trong thế gian này. Suốt 60 năm qua, VNCH là hiện thân của thứ tội ác. Trong nhận thức không chỉ tuổi trẻ Việt Nam sinh sau 1975 mà ngay cả các tầng lớp cán bộ, đảng viên, nhà văn, nhà thơ đều được dạy để biết VNCH có ba đặc điểm lớn là “tham nhũng”, “trấn áp” và “ôm chân đế quốc Mỹ”.
Trong tiểu luận “Khám nghiệm một hồn ma” trên Talawas 8 năm trước người viết đã có dịp phân tích thể chế cộng hòa tại miền Nam. Xin trích một phần bài viết đó ở đây để chia sẻ với các độc giả chưa đọc.
Miền Nam trước 1975 có tham nhũng không? Chẳng những có mà còn vô cùng trầm trọng.
Miền Nam có đàn áp biểu tình, đối lập không? Có, không chỉ đàn áp một lần mà nhiều lần, không chỉ một năm mà nhiều năm.
Miền Nam trước 1975 có sống bám vào viện trợ Mỹ không? Có, không chỉ 300 triệu dollars “viện trợ đặc biệt” như nhiều người hay nhắc mà nhiều tỉ đô la.
Vâng, tất cả điều đó đều có. Chế độ cộng hòa tại miền Nam Việt Nam ra đời và lớn lên trong một hoàn cảnh chiến tranh tàn khốc, trong đó các nguyên tắc dân chủ đã trở thành con dao hai lưỡi. Chính con dao dân chủ hai lưỡi đó đã đâm vào thân thể của chế độ cộng hòa hàng trăm vết thương đau đớn từ ngày mới ra đời cho đến gục xuống trong tức tưởi. Miền Nam có tất cả sắc thái của một xã hội dân chủ đang từng bước đi lên. Dân chủ không phải là lô độc đắc giúp một người trở nên giàu sang trong một sớm một chiều mà là quá trình tích lũy vốn liếng từ những chắt chiu của mẹ, tần tảo của cha, thăng trầm và thử thách của cả dân tộc.
Ngay cả những quốc gia tiên tiến như Pháp, Mỹ, Nam Hàn cũng phải bước qua con đường đầy máu nhuộm để có được nền dân chủ như hôm nay. VNCH cũng vậy. Miền Nam có đàn áp chính trị nhưng cũng có đấu tranh chính trị, có ông quan tham nhũng nhưng cũng có nhiều phong trào chống tham nhũng hoạt động công khai, có ông tướng lạm quyền nhưng cũng có ông tướng trong sạch, có nghị gà nghị gật nhưng cũng có những chính khách, dân biểu, nghị sĩ đối lập chân chính. Như một viên ngọc nằm trong lòng lớp rong rêu của vỏ con trai, trên tất cả, giá trị đích thực của VNCH không nằm trong tham nhũng, trấn áp và đồng đô la Mỹ mà nằm trong Hiến pháp VNCH đặt nền tảng trên một thể chế dân chủ do dân và vì dân.
Lời mở đầu của Hiến pháp 1967 do chủ tịch Quốc hội Lập hiến Phan Khắc Sửu ký ngày 18 tháng 3 năm 1967, xác định Việt Nam là một chế độ cộng hòa “Dân chủ độc lập, thống nhất, lãnh thổ bất khả phân, chủ quyền thuộc về toàn dân” phát xuất từ “Ý thức rằng sau bao năm ngoại thuộc, kế đến lãnh thổ qua phân, độc tài và chiến tranh, dân tộc Việt Nam phải lãnh lấy sứ mạng lịch sử, tiếp nối ý chí tự cường, đồng thời đón nhận những tư tưởng tiến bộ để thiết lập một chánh thể cộng hòa của dân, do dân và vì dân, nhằm mục đích đoàn kết dân tộc, thống nhất lãnh thổ, bảo đảm Độc lập Tự do Dân chủ trong công bằng, bác ái cho các thế hệ hiện tại và mai sau.”
Ngoài phần mở đầu hùng hồn nêu trên, chuyên chở trong suốt 9 chương và 117 điều của Hiến pháp 1967 là nền tảng của chế độ cộng hòa, qua đó, quyền lãnh đạo đất nước như chỉ rõ trong điều 3, được phân quyền rõ rệt: ”Ba cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp phải được phân nhiệm và phân quyền rõ rệt. Sự hoạt động của ba cơ quan công quyền phải được phối hợp và điều hòa để thực hiện trật tự xã hội và thịnh vượng chung trên căn bản Tự do, Dân chủ và Công bằng xã hội”.
Phục hưng VNCH không có nghĩa là phục hưng chính quyền miền Nam. Chính thể không đồng nghĩa với một chính quyền và do đó không sống hay chết theo một chính quyền. Giá trị của VNCH được xây bằng xương máu của bao nhiêu người và ngày nay đã vượt qua khỏi vĩ tuyến 17 để trở thành ước vọng chung cho cả dân tộc. Sau 40 năm, VNCH như một mạch nước chảy ngầm trong rặng núi, đau đớn, vất vả, khó khăn nhưng không bao giờ ngừng chảy. Nếu ai cho tôi khoác lác hãy gác qua bên mặc cảm Bắc Nam, định kiến xã hội, khuynh hướng chính trị, đảng phái, tôn giáo, tả khuynh, hữu khuynh, thù hận riêng tư và thậm chí che luôn bốn chữ Việt Nam Cộng hòa trên trang đầu của Hiến pháp VNCH mà chỉ đọc một cách nghiêm chỉnh nội dung thôi, tôi tin người đọc dù Nam hay Bắc, dù trong hay ngoài nước, sẽ công nhận đó chính là mục tiêu mà dân tộc Việt Nam cần phải đạt đến. Công nhận các giá trị được đề ra trong hiến pháp VNCH không có nghĩa là đầu hàng, chiêu hồi. Không. Không ai có quyền chiêu hồi ai hay kêu gọi ai đầu hàng. Đây là cuộc chiến mới, cuộc chiến giữa dân tộc và phản dân tộc, giữa cộng hòa và cộng sản, giữa tự do và độc tài, giữa nhân bản và toàn trị. Mỗi người Việt sẽ chọn một chỗ đứng cho chính mình phù hợp với quyền lợi bản thân, gia đình, con cháu và sự sống còn của dân tộc.
Hiến pháp VNCH có thể chưa hoàn chỉnh nhưng là một văn kiện tham khảo cần thiết để kiến tạo một Việt Nam dân chủ cường thịnh. Hạt giống do Phan Chu Trinh, Bùi Quang Chiêu, Nguyễn Phan Long, Phan Văn Trường, Nguyễn An Ninh và rất nhiều nhà cách mạng miền Nam khác gieo xuống hàng thế kỷ trước đã mọc và lớn lên trong mưa bão. Hạt giống dân chủ khơi mầm tại miền Nam cũng không chỉ bắt đầu sau khi đất nước bị chia đôi 1954 mà đã có từ hàng trăm năm trước.
Lợi dụng chính sách Nam kỳ tự trị của thực dân, các nhà cách mạng tại miền Nam có cơ hội học hỏi và áp dụng phương pháp đấu tranh nghị trường, tiếp cận các tư tưởng dân chủ Tây phương, mở mang dân trí làm nền tảng cho chế độ cộng hòa sau này. Đó không phải là sản phẩm của Tây hay Mỹ mà là vốn quý của dân tộc đã được đổi bằng máu, mồ hôi, nước mắt của nhiều người. Đó không phải là tài sản của riêng miền Nam mà của tất cả những người Việt cùng ôm ấp một ước mơ dân chủ. Những ai biết gạt bỏ định kiến Bắc Nam, tháo gỡ lớp màn “căm thù Mỹ Ngụy” ra khỏi nhận thức, sẽ thấy đó chính là hành trang cần thiết cho nỗ lực mưu cầu một xã hội công bằng và tốt đẹp hơn cho các thế hệ mai sau. Không cần phải tìm giải pháp từ Miến Điện, Nam Phi, Ai Cập, Libya hay tìm chân lý ở Anh, ở Mỹ mà ngay ở đây, giữa lòng đất nước Việt Nam.
Phục hưng VNCH không có nghĩa là phủ nhận công lao của những người đã hy sinh trong chiến tranh chống thực dân Pháp. Như kẻ viết bài này đã nhấn mạnh nhiều lần, cuộc chiến chống thực dân Pháp là cuộc chiến chính nghĩa. Đó là cuộc đấu tranh đầy gian khổ nhưng rất anh hùng của một dân tộc bị nô lệ đã đứng lên chống lại một thực dân tàn bạo. Việc tham gia vào đảng phái, kể cả việc tham gia vào đảng Cộng sản của một số người Việt Nam trong thời kỳ chống Pháp, chủ yếu là để được tổ chức hóa nhằm mục đích hợp đồng chiến đấu, đạt đến chiến thắng dễ dàng hơn. Những người Việt yêu nước thời đó chọn lựa đảng phái như chọn một chiếc phao để đưa dân tộc sang bờ độc lập nhưng đối với đảng CS chiếc phao lại chính là dân tộc.
Nhiều người yêu nước chọn tham gia vào đảng CS nhưng bản thân đảng CS như một tổ chức chính trị dựa trên ý thức hệ CS chưa bao giờ là một đảng yêu nước. Những nông dân hiền hòa chất phác, những công nhân đầu tắt mặt tối làm sao biết được con đường họ đi không dẫn đến độc lập, tự do, hạnh phúc mà dẫn đến nghèo nàn, lạc hậu, độc tài và làm sao biết được chiếc phao họ bám cũng là chiếc bẫy buộc chặt chẳng những cuộc đời họ mà còn gây hệ lụy cho cả dân tộc đến ngày nay. Dù sao, người yêu nước bằng tình yêu trong sáng, không đánh thuê, đánh mướn cho một chủ nghĩa, một ý thức hệ ngoại lai vong bản hay cho một quyền lợi đế quốc nào sẽ không bao giờ chết, không bao giờ bị lãng quên. Lịch sử sẽ đánh giá, tổ quốc sẽ ghi công họ một cách công bằng.
Phục hưng VNCH không có nghĩa là tái thực thi hiệp định Paris. Dân tộc Việt Nam là một thực thể thống nhất và tất cả các hòa ước Patenôtre, hiệp định Geneva hay hiệp định Paris đều là những chiếc còng của thực dân và đế quốc áp đặt lên đầu lên cổ dân tộc Việt Nam trong giai đoạn Việt Nam yếu kém và phân hóa. Trước 1975, trong đáy lòng của bất cứ một người Việt yêu nước nào cũng mong một ngày dân tộc Việt Nam từ Ải Nam Quan đến Mũi Cà Mau sẽ được đoàn viên trong tự do, dân chủ và thịnh vượng. Tuy nhiên, ngoài trừ lãnh đạo CSVN chủ trương CS hóa toàn cõi Việt Nam bằng súng đạn của Nga, Tàu, không ai muốn đoàn viên phải trả bằng giá của nhiều triệu sinh mạng người dân vô tội, đốt cháy một phần đất nước, để lại một gia tài nghèo nàn lạc hậu cho con cháu. Hôm nay, dù không tự mình chọn lựa, dân tộc Việt Nam cũng đã là một và không có một thế lực nào làm Việt Nam phân ly lần nữa.
Lịch sử Việt Nam như một dòng sông, có khi cuồn cuộn lúc âm thầm, có chỗ sâu chỗ cạn nhưng chưa bao giờ ngưng chảy. Đó là sự thật. Khoảng thời gian từ khi Mã Viện, danh tướng nhà Đông Hán, đánh bại Hai Bà Trưng (năm 43) đến khi Lý Nam Đế đánh bại quân Lương Vũ Đế và dựng nước Vạn Xuân (năm 543) là tròn 500 năm. Biết bao nhiêu lớp người đã sinh ra và chết đi trong suốt 5 thế kỷ sống trong bóng tối nô lệ nhưng sức sống Việt Nam vẫn tồn tại và lớn lên. Việt Nam là một trong số rất ít quốc gia trên thế giới trong đó người dân gọi nhau bằng hai tiếng đồng bào thân thương và trìu mến. Đối mặt với một kẻ thù đông hơn nhiều và mạnh hơn nhiều, chưa bao giờ sức mạnh tổng hợp của 90 triệu người Việt trong nước và 3 triệu người Việt ở hải ngoại cần thiết như hôm nay. Đảng CS có 3 triệu đảng viên nhưng đa số trong số 3 triệu người này trong thực tế cũng chỉ là nạn nhân của một tập đoàn lãnh đạo đảng tham quyền và bán nước. Chỉ có sức mạnh toàn dân tộc phát triển trên cơ chế dân chủ tự do mới mong thắng được Trung Cộng và mọi kẻ thù có âm mưu xâm lược Việt Nam. Tổ tiên Việt Nam đã làm được rồi các thế hệ Việt Nam ngày nay cũng sẽ làm được.
Người viết biết rằng, đối với một số người Việt đã bị bộ máy tuyên truyền đầu độc quá lâu và các bạn trẻ bị nhào nặn hoàn toàn trong hệ thống giáo dục một chiều CS, để có một nhận thức đúng về lịch sử là một quá trình đấu tranh tư tưởng khó khăn.
Nếu vậy, tạm gác qua chuyện thế kỷ trước mà hãy nhìn thẳng vào thực tế đất nước sau 39 năm vẫn là một nước lạc hậu về mọi mặt từ kinh tế, chính trị, quốc phòng và đời sống. Việt Nam còn thua xa những nước ở châu Phi như Ghana, Sierra Leone, Namibia vì những quốc gia đó còn nghèo nhưng hãnh diện vì chính phủ họ do nhân dân họ bầu lên. Nếu vậy, tạm gác qua chuyện thế kỷ trước mà hãy nhìn vào cách giải quyết tranh chấp Hoàng Sa, Trường Sa với Trung Cộng của lãnh đạo CSVN. Ngoài những lời phản đối đọc như kinh nhật tụng họ không có và cũng không thể có một chọn lựa dứt khoát nào chỉ vì quyền lợi trước mắt của một nhóm người lãnh đạo được đặt lên trên quyền lợi lâu dài của đất nước. Như người viết đã trình bày trong bài trước, rồi mai đây, sau trận đánh ghen HD-981, lãnh đạo CSVN lại lên đường sang Bắc Kinh triều cống, lại 16 chữ vàng, lại ca ngợi tình đồng chí, nghĩa anh em thắm thiết. Cơn hờn giận giữa hai đảng CS theo thời gian có thể sẽ nguôi ngoai nhưng trên các vùng biên giới, trong lòng biển Việt Nam, máu của ngư dân Việt Nam, của người lính biển Việt Nam sẽ không ngừng chảy. Thảm trạng xã hội Việt Nam hôm nay, những lạc hậu kinh tế hôm nay, những yếu kém về quốc phòng hôm nay, những cô đơn trong bang giao quốc tế hôm nay là những câu trả lời cho những ai còn do dự, còn một chút tin tưởng nào đó ở lãnh đạo đảng CSVN.
Sau hải chiến Hoàng Sa đầy hy sinh xương máu, VNCH lần nữa lại được lịch sử giao trọng trách đòi lại Hoàng Sa, Trường Sa trong tay Trung Cộng. Cuộc tranh đấu mới sẽ khó khăn nhưng là con đường đúng nhất của dân tộc trong cùng hướng phát triển của nhân loại. Giống như hầu hết các nước cựu CS ở Đông Âu và khối Liên Xô, thể chế Cộng Hòa là chọn lựa đương nhiên và dứt khoát. Các quốc gia sẽ bình đẳng trước công pháp quốc tế. Những khẩu hiệu tuyên truyền rất sến như “16 chữ vàng”, “hữu nghị Việt Trung” sẽ bị chôn sâu theo xác của ý thức hệ CS. Dân tộc Việt Nam sẽ vượt qua những khó khăn để phát triển thành một quốc gia hiện đại về cả kinh tế lẫn quốc phòng. Các nhà lãnh đạo VNCH trong cuộc đấu tranh mới trên mặt trận ngoại giao sẽ hành xử xứng đáng với tư cách của một cấp lãnh đạo chính danh, thay mặt cho một nước VNCH thống nhất, dân chủ, độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và chắc chắn sẽ được sự ủng hộ của đại đa số con người yêu chuộng tự do, hòa bình trên thế giới. Giành lại Hoàng Sa và bảo vệ Trường Sa là một cuộc tranh đấu gian nan, gai góc, bị chi phối bởi nhiều yếu tố khách quan và chủ quan, nhưng chính nghĩa và chân lý cuối cùng sẽ thắng.
Ý thức về tự do và kinh tế thị trường đã ăn sâu vào xã hội miền Nam Việt Nam, giúp nơi đây trở thành bàn đạp cho Đổi Mới.
Nhận định trên được một người làm việc ở Sài Gòn trước 1975 nói với BBC trong dịp đánh dấu 40 năm kết thúc chiến tranh Việt Nam.
Ông Nguyễn Xuân Nghĩa, từng là phụ tá Tổng trưởng Tài chính thời chính quyền Việt Nam Cộng Hòa, trao đổi với BBC từ California, Hoa Kỳ. Ông cho rằng chính sách viện trợ của Hoa Kỳ không những không giải quyết được các vấn đề của miền Nam thời bấy giờ, mà còn gây thêm nhiều khó khăn.
BBC:Ông đánh giá thế nào về tính tự do, mở cửa của nền kinh tế miền Nam thời bấy giờ, thưa ông?
Ông Nguyễn Xuân Nghĩa: Có lẽ nên đặt trong hoàn cảnh của thập niên 60 của thế giới lúc đó và cái thứ nhì là hoàn cảnh riêng của Việt Nam.
Lần đầu tiên sau năm 1883 đến 1955 mới có một nước Việt Nam độc lập và bắt đầu bước qua chuyện thế nào là dân chủ, thế nào là kinh tế thị trường.
Trong bối cảnh đó, tôi nghĩ miền Nam, nhất là nền Đệ nhất Cộng hòa, đã có những thành quả lớn, so với thời thực dân Pháp cai trị đất nước ta với nền kinh tế chỉ huy của họ.
Nền kinh tế với dân số 15 triệu đã phải tiếp nhận gần 2 triệu người dân di cư từ miền Bắc vào, phải xây dựng lại một hệ thống kinh tế và hành chính khác hẳn những gì nước Pháp để lại.
Trong giai đoạn đó, mức độ tự do kinh tế so với miền Bắc, chứ tôi chưa nói là các nước khác, thì những cải cách như đạo luật cải cách ruộng đất ban hành năm 1956 đã là một bước tiến đáng kể.
Bước sang nền Đệ nhị Cộng hòa thì một nửa đất nước lâm vào cảnh chiến tranh toàn diện, do những người cộng sản tổ chức ngay trong ruột của miền Nam.
Tình trạng chiến tranh ngày càng rộng mở từ năm 1965 trở đi thì miền Nam càng mất khả năng giải quyết những vấn đề kinh tế của mình, từ chuyện ruộng đất, canh tác để nuôi sống khoảng 18 triệu người.
Nhưng trong giai đoạn đó thì chính quyền của nền Đệ nhị Cộng hòa vẫn cố gắng làm được chuyện rất lạ, là xây dựng nền kinh tế thị trường, và thúc đẩy điều lớn lao hơn nền Đệ nhất Cộng hòa là đạo luật cải cách ruộng đất ngày 26/3 năm 1970, với tên gọi "Người cày có ruộng".
Đạo luật này đã giải quyết được vấn đề công ăn việc làm và hữu sản hóa cho 1 triệu rưỡi người nông dân miền Nam lúc đó.
Trong hoàn cảnh đó, nhất là sự ngu xuẩn trong chính sách viện trợ của Mỹ, mà miền Nam vẫn làm được những điều đó.
Nếu nền Đệ nhất cộng hòa gặp áp lực từ người Bắc di dân vào thì Đệ nhị Cộng hòa cũng phải đón nhận hoàn cảnh tương tự.
Năm 1972, quân đội miền Bắc đánh vào phía nam của vĩ tuyến 17, khiến bao người trôi dạt vào phía trong nam mà miền nam vẫn phải trợ cấp, tạo công ăn việc làm cho họ, trong bối cảnh Mỹ đã tháo chạy.
Trong hoàn cảnh đó mà vẫn còn giữ được mấy năm nữa thì tôi nghĩ thuần về kinh tế mà nói là cả nền Đệ nhất và Đệ nhị Cộng hòa đã giải được những bài toán kinh tế mà tôi cho là nhiều quốc gia như Nam Hàn, Thái Lan, Philippines nếu rơi vào trong hoàn cảnh tương tư chưa chắc đã giải quyết được.
Người ta cứ nói là do viện trợ Mỹ nhưng không phải. Chính viện trợ Mỹ là yếu tố khiến miền Nam không đương cự nổi với tình thế chiến tranh.
BBC:Theo ông thì những chính sách tiến bộ nào của miền Nam thời đó có thể so sánh được với Nam Hàn hay Nhật Bản trong thời kỳ các nước này mới trỗi dậy?
Ông Nguyễn Xuân Nghĩa: Một cái khá cụ thể là nói đến mức sống của người dân thực sự thời đó khá tương đối, nếu so sánh với trường hợp của Nam Hàn, Philippines hay Đài Loan.
Miền Nam lúc đó cũng đã có một số công ty quốc doanh bị buộc phải giải tư, hệ thống kinh tế do chính quyền kiểm soát phải bước sang nền kinh tế cho tư nhân.
Trong lĩnh vực của tôi khi tiếp xúc làm việc với đối tác Đài Loan, Nam Hàn thì họ theo dõi các chính sách của miền Nam có sự tôn kính, khâm phục. Hai bên đều xem nhau là đang trước áp lực của cộng sản mà phải giải quyết các vấn đề kinh tế.
Tuy nhiên chiến sự tại nam Việt nam ngày càng bùng phát dữ dội, không như hai nơi cũng bị áp lực của chiến tranh là hai Nam Hàn, Đài Loan.
Điều đó không chỉ bắt đầu từ việc chế độ Ngô Đình Diệm bị lật đổ, mà còn do tướng tá bắt đầu làm loạn từ năm 1963, khiến nền kinh tế không thể sinh hoạt bình thường như Nam Hàn hay Đài Loan, khiến miền Nam dựa vào hệ thống viện trợ của Hoa Kỳ.
Chúng ta thấy như ở Iraq hay Afghanistan là viện trợ không giúp cho quốc gia cầu viện giải quyết những vấn đề của mình, vì nó tùy thuộc vào chính sách quốc gia cấp viện khi đó. Viện trợ để giải quyết vấn đề của nước Mỹ, chứ không giải quyết vấn đề của nước nhận viện trợ.
Vận động đi bầu cử ở Sài Gòn năm 1967
BBC:Ông có tin rằng nếu có cơ hội tồn tại, Việt Nam Cộng hòa có thể sánh ngang với các cường quốc châu Á ngày nay?
Ông Nguyễn Xuân Nghĩa: Tôi nghĩ điều đó là vấn đề giả định về lịch sử mà không xảy ra được. Thực tế ra lúc đó các quốc gia đều nghĩ rằng miền Nam là trù phú. Miền Nam có những tài nguyên, điều kiện khá hơn các nước khác như Nam Hàn, Đài Loan, Thái Lan, Philippines.
Nếu chiến sự lắng đọng trong 6 tháng thì miền Nam đã có thể tự túc về lúa gạo và lắng đọng 1 năm thì có thể trở về vị trí xuất cảng về gạo.
Ý thức về tự do và kinh tế thị trường đã ăn sâu vào xã hội ở miền nam.
Không khí, tinh thần kinh doanh, làm việc ở miền nam là điều còn kế thừa được sau một giai đoạn ngắn ngủi, đầy tai ương, chết chóc.
Bây giờ cũng vậy, những người ưu tú nhất của miền bắc cũng đi vào trong nam và tìm đến không khí tự do, cởi mở, thông thoáng, rộng rãi. Đó là di sản mà người ta cứ tưởng đã mất, nhưng vẫn còn đó.
Đó là đóng góp của miền Nam, vùng đất nhiều vấn đề, tai ương, nhưng cũng là nơi cho nhiều cơ sở để có thể bùng lên sau thời kỳ Đổi Mới.