Paulus Lê Sơn (Danlambao)- Tôi bị thúc bách rất ghê gớm bằng những hình ảnh cuộc sống thực tế của các TPB VNCH, vì thế tôi quyết định đẩy mình đi đến với các gia đình Thương Phế Binh Việt Nam Cộng Hòa (TPB VNCH), tôi như thấy mình như một người lính ra chiến trận. Mùa Xuân đến cho lòng người phơi phới.
Tôi xác nhận rằng, chẳng bao giờ là đủ khi đến với những con người đang lê dần về bên kia thế giới. Họ đã một thời oai phong, tài tử lãng mạn trên chiến trường, trong cuộc sống hằng ngày. Thời thế lại đẩy đưa họ chìm vào những nỗi đau không kể siết và không ai thấu hiểu nỗi.
Tôi cùng một người bạn rong ruổi trên chiếc xe gắn máy đi khắp miền Sài Gòn và phụ cận, xuống tận miền Đông để tìm gặp các TPB. Người ta nói có đi thì mới đến, có đến thì mới biết được, có biết thì mới hiểu, đã hiểu rồi thì càng thêm yêu mến, cảm thông.
Chúng tôi cùng cười với niềm vui của họ và nước mắt tự trào ra lăn dài trên má với những câu chuyện đời của các TPB. Họ từng có một gia đình ấm áp, hạnh phúc, những người con tuyệt vời, họ từng là những lính trận gan góc, trí tuệ những cũng đầy nhân văn.
Để rồi, sau năm 1975, với cái được gọi là Giải Phóng Miền Nam của chế độ cộng sản đã đẩy hàng ngàn người lính VNCH lâm vào cảnh bi đát, đơn côi và nghèo khổ.
Ông Đỗ Sáng trước đây là thuộc binh chủng Nhảy dù (mũ đỏ), hiện đang sống đơn độc tại một phòng trọ ở Sài Gòn nói về gia cảnh của ông mới thấy hết được nỗi đau mà ông đang phải chịu đựng.
Ông kể, trước kia nhà ông ở Quận 4 Sài Gòn, cũng thuộc thành phần khá giả của đất Sài Thành khi xưa, ông có một vợ và hai con. Thế mà sau năm 1975, ông rơi vào cảnh thất thế giống như VNCH và cộng sản đối xử vô cùng bạc đãi. Vợ ông bệnh tật, các con ông cũng mang nhiều bệnh hoạn, không được sự quan tâm của xã hội, nên phải bán nhà ở Quân 4 để chữa trị bệnh cho vợ, con. Nhưng rồi vợ con cũng rời bỏ ông mà về bên kia thế giới.
Ông sống đìu hiu, cô quạnh trong một phòng trọ cũ kỹ hun hút nơi hẻm sâu vỏn vẹn chưa đến 10 mét vuông với cuộc sống mưu sinh hàng ngày bằng nghề xe ôm. Nhưng chúng tôi nhận thấy, tinh thần người lính của ông Sáng không bao giờ tàn lụi và mất đi trước những “bảo vật” đời lính của ông được nâng niu và trân trọng khi ông đem ra “khoe” cho chúng tôi được biết.
Về miền Đông, khu vực Bình Dương, Bình Phước, chúng tôi khá bất ngờ vì càng đi mới càng biết rõ trên đất nước này, nhiều vùng và nhiều tỉnh thành Việt Nam còn có rất đông đảo những người lính VNCH đang sống.
Và, chúng tôi cảm nhận rằng họ đang phải sống “nép mình” do cái chế độ cái xã hội hiện tại áp đặt lên họ. Chúng tôi tiếp cận họ với lòng chân thành và tình yêu mến, họ cảm nhận được điều đó nên đã cởi lòng và chia sẻ với chúng tôi bằng tất cả niềm cảm xúc của họ như dồn nén bấy lâu.
Đứng trước di ảnh của một TPB mới qua đời khoảng 1 năm về trước, người phụ nữ là em gái của TPB nói với chúng tôi “ông không có vợ con, đời lính tráng tung hoàng khắp nơi, về rồi ở vậy, đến lúc mất đi thì có tôi là người nhang khói cho ông ấy thôi”.
Tại Bến Cát, Bình Dương, chúng tôi may mắn được gặp một nhóm các TPB đã tề tựu đầy đủ, có bác thì bị mù, bác bị cụt chân, bác thì bị điếc, bác thì không còn khả năng điều khiển bản thân, họ đón tiếp chúng tôi rất ân cần, chu đáo.
Câu chuyện được chia sẻ qua lại, mỗi người một chiến tích, chúng tôi như hòa vào trong một không khí của tình đồng đội chiến hữu dù ở hai bậc thế hệ khác nhau. Họ vẫn tin tưởng vào một mùa Xuân mới đang tới gần cho dân tộc Việt Nam.
Các bác TPB cũng bước sang tuổi chiều tà, như ngọn đèn leo lét không biết tắt lúc nào. Chúng tôi đi đến nơi nào cũng đều nghe những tin buồn về bác nào đó mới qua đời. Tự trong đầu nghĩ liệu mươi năm sau có còn TPB Việt Nam Cộng Hòa nữa không? Chúng tôi lại càng thấy cái chế độ cộng sản này bất nhân vô cùng vô tận vì 42 năm qua vẫn một thái độ thù địch, hèn hạ, bỉ ổi đối với người lính VNCH.
Chia tay các bác TPB, trong tâm thức những người trẻ như chúng tôi như hiện hữu sức sống mãnh liệt, tinh thần của các TPB như những chồi non mơn mởn vươn lên giữa Mùa Xuân xanh biếc đầy hy vọng.
Nguyễn Tiến Hưng Cựu Tổng trưởng VNCH, gửi cho BBC từ Virginia, Hoa Kỳ
30 tháng 10 2016
Image copyrightSAIGON
Từ cao nguyên Tây Tạng, con sông Cửu Long cuồn cuộn chảy như thác lũ xuống phía nam qua tỉnh Vân Nam, tới Lào, Thái Lan, Kampuchia, rồi Việt Nam trước khi ra Biển Đông.
May cho Miền Nam là có hồ lớn Tonle Sap ở Campuchia hút đi một phần lớn lượng nước từ thượng nguồn cho nên từ đây dòng sông lại uốn khúc hiền hòa chảy vào Miền Nam.
Tới gần biên giới thì con sông chia ra làm 8 nhánh. Nhưng con số 9 được coi là may mắn cho nên phải tìm ra cho được một nhánh nữa, tuy là rất nhỏ (dài khoảng 10 dậm) để cộng lại thành ra 9 nhánh, gọi là Cửu Long Giang.
Dòng sông Chín Con Rồng uốn mình tưới nước cho vùng đồng bằng Nam Bộ mầu mỡ, phì nhiêu trở thành vựa lúa của cả nước. Người nông dân nơi đây chỉ cần trồng mỗi năm một vụ là cũng đủ ăn, lại còn dư thừa để tiếp tế ra Miền Bắc và xuất cảng.
Khởi đầu gian khó
Nhưng trong mười năm chiến tranh loạn lạc, trên một phần ba đất trồng trọt đã bị bỏ hoang, nhường chỗ cho những bụi rậm và cỏ dại lan tràn.
Một phần lớn hệ thống kênh rạch cũng bị khô cạn hay sình lầy. Hệ thống bơm nước, thoát nước cũng bị hư hại. Bởi vậy, sản xuất thóc gạo của Miền Nam trong mười năm trước 1955 đã bị giảm đi đáng kể.
Ngoài ra, các phương tiện giao thông như đường bộ, đường sắt, cầu cống và các cơ sở công kỹ nghệ như đường trắng, rượu bia, sợi bông cũng đều bị hư hại.
Cho nên vào năm 1955, khi "Một Quốc Gia Vừa Ra Đời" như báo chí Mỹ tuyên dương thì quốc gia ấy đã phải đối diện với bao nhiêu khó khăn khôn lường.
Image copyrightGETTY IMAGES
Ngân sách của Pháp để lại thì thật eo hẹp, kỹ sư, chuyên viên trong mọi lãnh vực đều hết sức hiếm hoi vì Pháp đã rút đi hầu hết, để lại một lỗ hổng lớn cho cả nển kinh tế lẫn hành chánh, giáo dục, y tế.
May mắn là trong năm năm đầu, từ mùa Thu 1955 tới mùa Thu 1960, Miền Nam có được năm năm vàng son, vừa có hòa bình lại được đồng minh Hoa kỳ hết lòng yểm trợ vật chất và kỹ thuật cho nên đã thu lượm được nhiều kết quả có thể nói là vượt bực.
Hồi tưởng lại thời gian ấy, nhiều độc giả chắc còn nhớ lại cái cảnh thanh bình khi các em học sinh mặc áo chemise trắng, quần xanh, các nữ sinh với những chiếc áo dài trắng tha thướt ngày ngày cắp sách đến trường.
Cha mẹ, anh em thì lo công việc làm ăn. Giầu có thì chưa thấy nhưng hầu hết đã đủ ăn đủ mặc, xã hội trật tự, kỷ cương. Tuy dù có nhiều bất mãn khó tránh về chính trị, tôn giáo và xã hội, nhưng tương đối thì ta phải công nhận rằng đây là thời gian hào quang nhất của Cộng Hòa Việt Nam.
Định cư gần một triệu người di cư từ Miền Bắc
Công việc đầu tiên và khẩn cấp nhất là phải định cư tới gần một triệu người, tương đương bằng 7% dân số Miền Bắc di cư vào Nam.
Đoàn người này hoàn toàn 'tay trắng' - chúng tôi gọi là đoàn người 'bốn không': không nhà cửa, đất đai, tiền bạc, ngành nghề chuyên môn ngoài nghề nông.
Làm sao tìm được nơi ăn, chỗ ở, tạo dựng lại được công ăn việc làm, đào giếng nước, xây nhà thương, bệnh xá, trường học cho con em để đáp ứng nhu cầu? Ngoài việc hành chính, lại còn tìm đâu ra bác sĩ, y tá, thầy dạy cho con em?
Image copyright
Sau này khi nói về thành công của Tổng thống Diệm về việc này, TT Kennedy viết cho ông nhân ngày Quốc Khánh 26/10/1961:
"Thưa Tổng thống,
Thành tích mà Ngài đã đạt được để đem lại niềm hy vọng mới, nơi cư trú và sự an ninh cho gần một triệu người lánh nạn cộng sản từ Miền Bắc đã nổi bật như một trong những nỗ lực đáng được tán dương nhất, và được điều hành tốt đẹp nhất trong thời hiện đại."
Tái thiết và phát triển nông nghiệp
Ưu tiên của công việc tái thiết và phát triển phải là nông nghiệp vì đại đa số nhân dân làm nghề nông. Đồng bằng Cửu Long là vựa lúa của cả nước, nhưng sản xuất đã giảm đi đáng kể trong mười năm ly loạn.
Thời tiền chiến sản xuất lên tới 4,2 triệu tấn (1939). Tới 1954 chỉ còn 2,5 triệu tấn. Cũng năm 1939 xuất cảng gạo là gần 2 triệu tấn, năm 1954 chỉ còn 520.000 tấn.
Tại vùng đồng bằng, trong tổng số là 7 triệu hecta đất trồng trọt có tới 2,5 triệu hecta (trên một phần ba) bị bỏ hoang. Lúa gạo là mạch máu của người dân cho nên công việc đầu tiên là phải đưa diện tích này vào canh tác.
Đây là một cố gắng vượt mức vì không những nó đòi hỏi phải tốn phí nhiều tiền bạc, công sức, để sửa chữa lại hệ thống thủy lợi, vét nạo kênh rạch, lại còn làm sao xây dựng được quyền sở hữu đất đai và phương tiện sản xuất cho người nông dân.
GETTY IMAGES
Cải cách điền địa: Khó khăn và giải pháp thành công
Người khôn của khó. Lo lắng chính của người dân là làm sao có được một mảnh đất để sinh sống. Nếu như mảnh đất ấy lại nằm gần sông nước thì là vàng.
'Đất Nước tôi': đất và nước. Chỉ có Việt Nam ta là dùng hai chữ đất và nước để chỉ quê hương, tổ quốc mình vì tấc đất là tấc vàng.
Các biện pháp cải cách ruộng đất bắt đầu vào năm 1955 với lệnh giới hạn địa tô (tiền thuê đất) và những biện pháp giúp cho tá điền (người nông dân thuê đất) có được sự yên tâm về quyền sử dụng đất.
Cải cách điền địa là công việc rất khó khăn của các chính phủ Á Châu, nhưng ở Miền Nam là khó khăn nhất.
Làm sao mà lấy ruộng của người này chuyển cho người khác, nhất là khi đất canh tác lại tập trung vào một số rất nhỏ đại điền chủ? Họ là những người nắm thực quyền tại địa phương và gián tiếp, tại đô thị. Ở đồng bằng sông Cửu Long, sự tập trung quyền sở hữu đất vào một số điền chủ là cao nhất ở vùng Đông Nam Á: chỉ có 2,5% điền chủ mà đã sở hữu tới một nửa diện tích canh tác, trung bình mỗi điền chủ có hơn 50 mẫu đất.
Trước tình huống ấy, TT Diệm đã phải đối mặt với một khủng hoảng xã hội rất có thể xẩy ra nếu như phát động mạnh chương trình cải cách điền địa. Nhưng TT Diệm vẫn đặt vấn đề này là ưu tiên số một của chính sách kinh tế, bắt đầu ngay từ 1955 bằng việc cải tổ quy chế tá điền.
Để hỗ trợ cho nông dân được yên tâm khi đi làm thuê, điền chủ phải ký hợp đồng với tá điền về điều kiện thuê đất: tiền thuê đất, thời hạn thuê, triển hạn khế ước, giảm tô trong trường hợp mất mùa.
Kết quả về nông nghiệp trong 5 năm rất khả quan: sản xuất cây lương thực tăng 32%, vượt qua tất cả mức sản xuất thời tiền chiến. Năm 1959, sản xuất gạo lên 5,3 triệu tấn, cao nhất trong lịch sử kinh tế Miền Nam cho tới thời điểm đó. Về xuất cảng: với tổng số là 340.000 tấn, năm 1960 cũng đánh dấu mức xuất cảng cao nhất.
Phát triển công kỹ nghệ và quy chế 'Quốc tịch Việt'
Dưới thời Pháp thuộc, kỹ nghệ và tài nguyên hầu như không được phát triển vì người Pháp chia ra hai vùng rõ rệt: Miền Bắc tập trung vào kỹ nghệ và khai thác hầm mỏ, Miền Nam thì căn bản là tập trung vào nông nghiệp, chỉ có một số sản phẩm tiêu thụ như nhà máy bia, diêm quẹt, thuốc lá, độc quyền thuốc phiện.
Bởi vậy từ 1955, Miền Nam bị cắt đứt tiếp liệu về than và khoáng sản. Chuyên viên kỹ thuật, kỹ sư lại thật ít ỏi vì Pháp đã rút đi hầu hết.
Từng bước, chính phủ bắt đầu khai thác tài nguyên với ba dự án chính: mỏ than Nông Sơn, thủy điện Đa Nhim, và phốt phát tại Hoàng Sa - Trường Sa. Lúc ấy thì chưa biết là có dự trữ dầu lửa lớn ở những quần đảo này.
Một chuyện ít người biết là việc đổi quốc tịch.
Nhiều người lên án hành động của TT Diệm là độc tài khi ông đưa ra quy định vào hè 1955 căn bản là nhắm vào các thương gia người Tầu (đa số sinh sống ở Chợ Lớn): nếu muốn làm ăn ở Việt Nam thì phải đổi ra quốc tịch Việt Nam.
Chúng tôi nghiên cứu thì mới hiểu lý do sâu xa là vì thời gian ấy, cơ sở kỹ nghệ ở Miền Nam căn bản là thuộc quyền sở hữu của người Pháp, cho nên khi TT Diệm quyết tâm đẩy Pháp ra khỏi Miền Nam thì ông tiên liệu trước và mở đường để người Tầu nhập quốc tịch Việt Nam với mục đích là để cho họ (vì có nhiều vốn liếng) sẽ có thể mua lại những cơ sở kỹ nghệ của người Pháp.
Một kích thích nổi bật khác về kinh tế là chính sách cởi mở, ưu đãi đối với các nhà đầu tư ngoại quốc: bảo đảm về chiến tranh, cam kết không tịch thu hay quốc hữu hóa tài sản của người ngoại quốc, ưu đãi về thuế má và cho phép chuyển tiền lời ra ngoại quốc.
Hạ tầng cơ sở
Tái thiết mạng lưới giao thông đã bị hư hại trong thời chiến và xây dựng thêm nữa là đòi hỏi tiên quyết cho việc phát triển kinh tế và xã hội.
Tới năm 1960, hệ thống đường bộ, đường sắt, đường thủy và các tuyến hàng không đã được cải thiện canh tân và mở rộng đáng kể. Hệ thống vận chuyển hiện đại bao gồm đường sắt, một mạng lưới các đường quốc lộ, liên tỉnh lộ, hương lộ, đường thủy và đường hàng không.
Đường bộ: trong khoảng 9.000 dặm đường, có hơn 2.000 dặm là bê tông nhựa; 3.000 dặm đường có cán đá, và khoảng 4.000 dặm là đường hương lộ.
Đường sắt: năm 1955 giao thông đường sắt cũng được sửa chữa và canh tân. Tới 1959 toàn hệ thống bao gồm 870 dặm, gồm một tuyến đường chính chạy từ Sàigòn đến Đông Hà, nối kết toàn bộ các tỉnh dọc miền duyên hải (nhiều khúc bị cắt đứt trong 12 năm chiến tranh).
Một chi nhánh đường sắt (có móc để leo đồi) đi từ Phan Rang lên Đà Lạt, và một chặng nối với mỏ than Nông Sơn. Một khúc ngắn về phía đông bắc, đi từ Sàigòn tới Lộc Ninh.
Hàng không: hãng Hàng không Quốc gia Việt Nam - Air Vietnam - được thành lập lúc đầu để bay trong nước. Ngoài phi trường Tân Sơn Nhất, các phi trường được sửa chữa lại và xây dựng thêm gồm Huế, Đà Nẵng, Nha trang, Qui Nhơn, Biên Hòa, Đà Lạt, Ban mê Thuột, Pleiku, Hải Ninh, Cần Thơ, Phú quốc.
Từ nội địa, Air Vietnam bắt đầu bay tới Phnom Penh, Siem Reap, Bangkok, Vientianne và Savannakhet. Đường quốc tế phần lớn được đảm nhiệm bởi các hãng Air France, Pan American, World Airways, British Airways, Royal Dutch, Cathay Pacific và Thai Airways.
Ngân hàng và tiền tệ
Thiết lập được một ngân hàng trung ương và một hệ thống ngân hàng thương mại để thay thế cho Banque de L'Indochine và các ngân hàng thương mại Pháp ở Sài Gòn là một thành quả lớn của thời đệ Nhất Cộng Hòa.
Ngay từ tháng 1/1955, Ngân Hàng Quốc Gia Việt Nam được thành lập để phát hành đồng tiền Việt Nam và thực hiện các nghiệp vụ của một ngân hàng trung ương tân tiến.
Giáo dục và đào tạo
Image copyrightGETTY IMAGES
Xét đến cùng, con người vẫn là yếu tố quan trọng nhất trong việc phát triển kinh tế lâu dài. Trong thời kỳ 1955-1960, Miền Nam đã phát triển giáo dục rất nhanh.
Tiểu học: 1960, đã có tới 4.266 trường tiểu học công và 325 trường tiểu học tư thục. Tổng số học trò lên tới gần 1.200.000.
Trung học: các trường trung học công lập tăng từ 29 lên 101 trường. Nguyên trường Gia Long: số học sinh đã tăng từ 1.200 lên tới 5.000.
Đại học: trước năm 1954, Miền Nam không có đại học. Muốn học cử nhân phải ra Hà Nội. Năm 1955, chính thức thành lập đại học Sài Gòn, rồi tới Đại học Huế, Đà Lạt. Tới năm 1962 tổng số sinh viên lên tới 12.000.
Xem như vậy, thành quả của "Năm Năm Vàng Son 1955-1960" là thời gian quý hóa nhất của lịch sử Cộng Hòa Việt Nam.
Ngày Quốc Khánh 26/10/1960 Tổng thống Eisenhower viết cho TT Diệm:
"Kính thưa Tổng Thống,
Trong năm năm ngắn ngủi kể từ khi thành lập nước Cộng hòa, nhân dân Miền Nam đã phát triển đất nước của mình trong hầu hết các lĩnh vực. Tôi đặc biệt ấn tượng bởi một thí dụ. Tôi được thông báo rằng năm ngoái hơn 1.200.000 trẻ em Việt Nam đã có thể đi học trường tiểu học, như vậy là nhiều hơn gấp ba lần so với năm năm trước đó. Điều này chắc chắn là một yếu tố hết sức thuận lợi cho tương lai của Việt Nam. Đồng thời khả năng của Việt Nam để tự bảo vệ chống lại cộng sản đã lớn mạnh một cách không thể đo lường được kể từ khi họ tranh đấu hữu hiệu để trở thành một nước Cộng Hòa độc lập."
Hòa bình là một điều kiện tiên quyết cho xây dựng và phát triển.
Nhân dân Miền Nam đã có được năm năm vàng son để làm ăn, sinh sống trong hoàn cảnh tương đối là thanh bình. Tuy còn nghèo nhưng mỗi ngày lại thêm một bước tiến.
Image copyrightFORUM TRUNG TAM ASIA
Bao nhiêu độc giả cao niên còn nhớ lại những kỷ niệm êm đềm về thời gian ấy. Thí dụ bạn có thể đi bất cứ nơi nào một cách tự do từ Cà Mau ra tới tận Đông Hà. Mờ sáng lên xe buýt ra Vũng Tầu tắm biển hay buổi chiều đến ga xe lửa gần chợ Bến Thành mua vé đi Đà Lạt.
Chỉ trong chốc lát, con tầu bắt đầu phun khói, còi tầu rít lên trước khi khởi hành. Khi mặt trời hé rạng thì tầu chạy ngang bờ biển cát trắng Phan Rang, rẽ trái rồi ỳ ạch leo tuyến đường sắt có móc để trèo dốc lên Đà Lạt. Cái thú vui khi rời ga Đà Lạt (đẹp nhất Đông Nam Á) để mau tới "Café Tùng" hay "Phở Bằng" thưởng thức một ly cà phê sữa nóng thì khó có thể diễn tả được.
Với sự thông minh, cần cù của người dân Việt thì chỉ cần có hòa bình là tiến bộ trông thấy. Người dân lam lũ vất vả nhưng luôn vui với cuộc sống. Người nông phu không quản ngại thức khuya, dậy sớm để cầy sâu cuốc bẫm, chờ đợi cho tới ngày lúa vàng.
Tâm tư ấy luôn được phản ảnh trong thơ văn, âm nhạc Miền Nam trong thời gian này. Và khi thanh bình, con người lại đối xử với nhau cho hài hòa thì mọi việc - dù là tát cạn cả Biển Đông - cũng đều có thể ước mơ.
Tuy các kết quả phát triển kinh tế xã hội thời đó thật là nhỏ nhoi theo tiêu chuẩn ngày nay, nhưng là rất đáng kể so với các nước láng giềng lúc ấy như ngay cả Nam Hàn dưới thời Tổng thống Lý Thừa Vãn.
Miền Nam thực sự đã đặt được những viên gạch đầu tiên trong các năm 1955-1960 cho mô hình phát triển sau này của Nam Hàn dưới thời Tổng thống Phác Chính Hy. Xây dựng và phát triển trong hòa bình đã đưa Miền Nam tới chỗ vươn lên - kinh tế học gọi là điểm cất cánh (take-offĐ để trở thành một cường quốc tại Đông Nam Á.
Buổi bình minh của Nền Cộng Hòa ("The First Day") thật là huy hoàng rực rỡ. Nhiều quan sát viên ngoại quốc cho rằng đây chính là "một cuộc cách mạng đã bị mất đi" (the lost revolution) của Miền Nam Việt Nam.
Bài viết của Giáo sư Tiến sỹ Nguyễn Tiến Hưng, trích dẫn từ cuốn sách 'Khi Đồng Minh Nhảy Vào' mới xuất bản tại Hoa Kỳ. Sinh năm 1935 ở Thanh Hóa, tác giả từng giữ chức Tổng trưởng Kế hoạch của Chính phủ Việt Nam Cộng hòa kiêm cố vấn của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu trước 1975 ở Sài Gòn. Hiện ông định cư tại Hoa Kỳ. Ông là tác giả cuốnKhi Đồng minh Tháo chạy vàlà đồng tác giả cuốn The Palace Files- Hồ sơ Dinh Độc Lập, viết cùng Jerrold L. Schecter bằng tiếng Anh.
SÀI GÒN (NV) - Sài Gòn, những ngày cuối Tháng Tư, thời tiết khô nóng, nhiệt độ và nhịp sống đầy các vấn nạn có lúc vượt quá sự chịu đựng của con người. Cũng chính trong những ngày trung tuần Tháng Tư này, bà quả phụ cố thiếu tá binh chủng Nhảy Dù quân lực VNCH, bà Nguyễn Thị Hồng, lại rơi vào cơm trầm cảm nặng nề.
Sĩ quan Dù Ðặng Ðình Tựu và người yêu Nguyễn Thị Hồng. (Hình: Gia đình cung cấp)
Người con gái út của cố Thiếu Tá Ðặng Ðình Tựu, cô Ðặng Nguyễn Uyên Quỳnh, sinh năm 1973, kể: “Khi biết tin ba mất, mẹ phát bệnh trầm cảm và mất ngủ suốt từ đó đến bây giờ. Còn khi chưa biết tin, mẹ vẫn đinh đinh ba còn sống, rằng ông chỉ mất tích hay đi tù cải tạo thôi và có ngày ông sẽ về với gia đình.”
Trớ trêu thay, tin tức về người sĩ quan binh chủng Nhảy Dù VNCH làm tròn phận sự với tổ quốc chỉ được đến từ một bài báo, được viết bởi một đồng đội đang định cư ở Hoa Kỳ. Bài báo viết vào năm 1995, tựa đề “Lá Thư Báo Tử Muộn Màng,” như một cách báo tin cho bà Nguyễn Thị Hồng.
Từ khi tiếng súng của trận đánh cuối cùng ở phi trường Thành Sơn, Phan Rang, nơi Thiếu Tá Ðặng Ðình Tựu và đồng đội nằm lại với những ngọn đồi khô cằn sỏi đá, phải 20 năm sau biến cố 1975, người vợ và hai đứa con gái bé nhỏ của ông mới chính thức được biết chồng và cha mình đã hy sinh.
Bà quả phụ Nguyễn Thị Hồng trong những ngày Tháng Tư, 2016. (Hình: Trần Tiến Dũng/Người Việt)
Người quả phụ và giấc mơ
Trong căn nhà chung cư của cô con gái út nhìn ra hướng cầu Chữ Y, bà quả phụ Nguyễn Thị Hồng tiếp chúng tôi với nụ cười nhân hậu của một người chị lớn. Cảm xúc đầm ấm từ nụ cười của bà dường như có năng lực khiến chúng tôi, hai cô con gái và anh con rể út của bà, như được trở ngược lại quá khứ.
Bà Hồng, nói bằng giọng Bắc: “Năm 1965, tôi quen anh Tựu lúc còn là học sinh ở Quảng Ngãi. Anh ấy cũng là người Bắc di cư, sau đó chúng tôi lại có duyên gặp nhau ở Sài Gòn. Năm 1969 thì cưới. Là vợ quân nhân, anh ấy đi trận suốt, mỗi khi về phép thì về ở nhà bố mẹ tôi, chúng tôi nào đã có nhà riêng gì đâu.”
Những ngày đầu Tháng Tư 1975, bà không còn nhận được tin về chồng. Ôm con nhỏ trên tay bà lên xuống Bộ Tư Lệnh sư đoàn hỏi tin chồng nhưng không ai biết, nhưng chưa bao giờ bà tin chồng mình đã tử trận.
Niềm tin đó mãnh liệt tới mức vào những năm đầu khi Sài Gòn sống dưới chế độ chuyên chế và bao cấp kinh tế, ngày thường bà làm công nhân một hãng dược, ngày nghỉ bà cặm cụi đạp xe đạp xuống tận Long An để mua bán trong cảnh giấu giếm từng ký gạo để có thêm ít tiền nuôi con. Có khi bị xét bắt hết sạch vốn, bà ngồi khóc một mình, rồi bà lại chắt chiu từng đồng lương công nhân để có vốn mà tiếp tục đạp xe mua “gạo lậu” nuôi con. Những năm tháng khắc nghiệt ấy, dù bà con họ hàng có gợi ý nhưng chưa bao giờ bà nghĩ mình sẽ bước thêm bước nữa để có người đỡ đần.
Bà Nguyễn Thị Hồng và cô con gái út, Ðặng Nguyễn Uyên Quỳnh. (Hình: Trần Tiến Dũng/Người Việt)
Ðột nhiên bà hướng về chúng tôi, nói như người mộng du: “Tôi còn giữ tờ báo ấy đấy, bao năm thì tôi không nhớ, nhưng tôi còn giữ bài báo ấy đấy.”
Theo lời cô con gái út, từ ngày nhận được bài báo với sự xác nhận của đồng đội về cái chết của Thiếu Tá Ðặng Ðình Tựu, đêm nào bà Hồng cũng khóc. Sự rõ ràng về cái chết của chồng, có lẽ không phải để cuộc đời bà lật sang trang khác mà khiến bà sống lại những tháng ngày hạnh phúc cũ.
Bà Hồng kể bằng giọng nghẹn ngào: “Trước đấy tôi không nằm mơ thấy anh, nhưng từ ngày đọc bài báo, đêm nào tôi cũng mơ thấy anh về. Anh vẫn mặc đồ lính, anh nói với tôi, anh còn bận hành quân chưa về được, hôn con giúp anh. Rồi anh đi. Ðêm nào tôi cũng thấy cùng giấc mơ ấy.”
Lúc bà Hồng kể, chúng tôi nhìn thấy hai bàn tay gầy guộc của bà run rẩy. Cô Quỳnh, cô con gái út của bà Hồng, không giấu được xúc động, nói với mẹ. “Mẹ ơi! Con chưa bao giờ biết mặt bố, con thèm được gọi một tiếng bố biết bao nhiêu!”
Bản sao tờ báo in ở Hoa Kỳ năm 1995, do đồng đội của Thiếu Tá Ðặng Ðình Tựu viết như một cách báo tin cho bà Hồng biết rằng chồng đã hy sinh. (Hình: Trần Tiến Dũng/Người Việt)
Nhờ một chân công nhân mà gia đình neo đơn của bà Hồng có được căn nhà 20 mét vuông để đùm bọc nhau tồn tại.
Cô Quỳnh kể, lúc đi học, trong lý lịch học sinh cô khai là bố mất tích và luôn được sự đồng cảm của thầy cô. Lớn lên nghe mẹ và họ hàng kể về bố và tìm hiểu thêm về binh nghiệp của bố, cô rất tự hào về bố mình.
Những thế hệ thanh niên miền Nam sau chiến tranh có thể do sợ hãi và bị tuyên truyền nên những thập niên đầu sau biến cố 1975 họ có phần nào đó mặc cảm, nhưng cái thời ấy đã qua rồi, lý tưởng Tự Do và chính nghĩa Quốc Gia mà những người thân yêu họ phụng sự lại trao cho họ điểm tựa và đức tin.
Khi chúng tôi tạm biệt bà quả phụ của cố Thiếu Tá Ðặng Ðình Tựu thì được biết hàng năm gia đình lấy ngày 16 Tháng Tư làm ngày giỗ ông.
Hơn 40 năm sau chiến tranh, luôn có những ngày giỗ các tử sĩ VNCH trong các gia đình để kính tưởng các anh linh. Không ai lại đi so sánh hơn kém nỗi buồn đau ngay trong thời chiến tranh hay nỗi buồn đau kéo dài suốt thời hậu chiến. Nhưng người ta có thể biết chắc một điều là tình yêu và nghị lực từ nỗi đau mất người thân của các gia đình VNCH đang sống trong nước cứ lớn dần mỗi lần làm giỗ và đó là cách giữ cho người sống hôm nay ký ức về người thân và lý tưởng họ phụng sự, và cây cầu ký ức đó sẽ không bao giờ gãy trong ánh sáng của sự thật lịch sử.
Liên lạc tòa soạn: Editors@nguoi-viet.com
Cái Am Ở Thôn Núi Ngỗng
Nhóm thiện nguyện Nhảy Dù VNCH (thực hiện)
Sau nhiều năm tìm kiếm và dò hỏi, kể cả nhờ nhiều anh em ở địa phương tỉnh Ninh Thuận, kẻ bỏ công, người bỏ của, giúp đỡ tìm kiếm hộ, hôm nay, ngày 17 Tháng Ba, 2013, chúng tôi gồm:
Chị Xa (Vợ anh Tr/Tá Trần Văn Sơn - Lữ Ðoàn Phó LÐ2ND)
Anh Nhân TÐ3PB/ND (em vợ anh Th/Tá Ðặng Ðình Tựu - Sĩ quan Ban 3 TÐ1PB/ND)
Anh Cho, đại diện gia đình anh Ð/Úy Ngô Văn Khiêm, Pháo Ðội Trưởng PÐ A1- TÐ1PB/ND
và Nhóm Thiện Nguyện Mũ Ðỏ.
Chúng tôi đã đến thôn Núi Ngỗng, xã Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận trong ngày trên. Nơi đây ngày xưa là sân tập bắn của Ðịa Phương Quân/Nghĩa Quân thuộc Tiểu Khu Ninh Thuận.
Lần mò theo hướng dẫn của một em người Thượng, ngày đấy em 14 tuổi (năm nay đã 52 tuổi), em kể lại: Chính em chứng kiến 2 xe tải nhà binh của phi trường chở những hòm gỗ trong đó đựng xương cốt của những người đã chết ở phi trường Thành Sơn vào ngày 16 tháng 4, 1975. Những anh em này đã được chôn tại chỗ nhưng không biết vì lý do nào đó họ lại đào lên, dùng những thùng gỗ đạn pháo binh và những thùng sắt đựng tất cả những xương cốt nhặt được của những anh em đã hy sinh và họ dùng 2 xe nhà binh chở ra chôn trở lại tại chân Núi Ngỗng (theo lời em Thượng thuật lại) hiện là nơi chúng tôi đang đứng.
Trước mặt chúng tôi là một bãi đất trống dưới chân Núi Ngỗng, khoảng 80 mét vuông. Theo em người Thượng chỉ: Ðây là nơi chôn những hòm gỗ và thùng đạn đó! Em quả quyết rằng: Hàng ngày em thả dê trừu vào chân núi này nên em rất rõ địa điểm nơi đây, không sao lầm lẫn được.
Ðúng vào lúc 9 giờ sáng ngày 17 Tháng Ba, 2013, sau khi chúng tôi và ông thầy cúng thắp nhang khấn vái Thổ Thần, Thổ Ðịa, vong hồn 3 anh và các anh em đã bỏ mình tại phi trường Thành Sơn và cũng nhờ em người Thượng khấn vái tiếng Chàm, chúng tôi cũng cầu mong là tất cả những lời khấn vái của anh em đều hữu hiệu và linh ứng.
Khi bổ những nhát cuốc xuống chỗ em người Thượng đã đánh dấu từ trước khoảng 30 cm thì lộ ra một hòm gỗ đúng như em người Thượng đã tả và nói từ trước. Chúng tôi cào lớp mặt đất và dỡ nắp thùng đạn ra (thùng đạn gỗ đã mục nát) thì nhiều lớp xương cốt đã phân hủy không cầm lên được, tuy nhiên tóc vẫn còn nhiều.
Ðến đây thì ông thầy cúng khuyên chúng tôi nên đậy nắp thùng đạn và lấp đất lại. Và chúng tôi bây giờ khẳng định và chắc chắn rằng dưới chân chúng tôi đang đứng là nơi chôn vùi xương cốt của tất cả những anh em đã bỏ mình tại phi trường Thành Sơn, Tháp Chàm, Phan Rang.
Ông thầy cúng nói rằng các anh muốn làm gì thì cũng phải chờ đến ngày Thanh Minh (24 Tháng Hai Âm Lịch) mới tiếp tục được.
Sau khi hội ý cùng 3 gia đình và theo lời chỉ dẫn của ông thầy cúng, chúng tôi dự định đúng vào ngày Thanh Minh nói trên sẽ lập một cái Trang cùng Bia Tưởng Niệm để các anh sau này có nơi trú nắng trú mưa vì nhiều anh em quá không thể lấy cốt được, hơn nữa cho đến bây giờ cũng không còn biết là của ai. Và cũng để cho thân nhân những người đã mất và những người còn lại biết rằng: Nơi đây là nơi an nghỉ của những anh em đã anh dũng hy sinh tại phi trường Thành Sơn, Tháp Chàm, Phan Rang, đã được chôn cất tại nơi đây.
Trong công việc này nhiều năm nay chúng tôi đã cố gắng hết sức và tự lo chi phí lấy mới được kết quả như ngày hôm nay. Mọi thắc mắc hoặc những chi tiết cần thiết thêm, xin liên lạc với CÀ TẼM: số phone xxxxxx 3011.
Ðể thực hiện theo dự tính như kế hoạch đã dự định trước đây, vào ngày 8 Tháng Tư, 2013, chúng tôi xây dựng một cái am và đặt một tấm bia tại thôn Núi Ngỗng, xã Ninh Sơn, Ninh Thuận, ghi tên những anh em đã bỏ mình trong cuộc chiến tại phi trường Thành Sơn, Tháp Chàm, Phan Rang, trước hết để anh em tử trận có nơi trú nắng trú mưa, sau nữa để thân nhân của anh em tử trận biết nơi chôn cất sau này hằng năm còn thăm viếng và nhang khói vì nhiều người quá không thể nào lấy cốt được.
Như vậy xin thông báo: Ðây là nơi an nghỉ của 3 anh:
Trần Văn Sơn (Tr/Tá - Lữ Ðoàn Phó/LÐ2ND)
Ðặng Ðình Tựu (Th/Tá - Sĩ quan Ban 3/TÐ1PB/ND)
Ngô Văn Khiêm (Ð/Úy - Pháo Ðội Trưởng/TÐ1PB/ND),
cùng nhiều anh em đã bỏ mình tại phi trường Thành Sơn, Tháp Chàm (phần đông là Mũ Ðỏ) đã được an táng tại đây.