Showing posts with label TaiLieu. Show all posts
Showing posts with label TaiLieu. Show all posts
Tuesday, September 2, 2014
Monday, September 1, 2014
[Tài liệu lịch sử] Bằng chứng về sự hiện diện của quân đội Trung Quốc tại chiến trường Đông Dương
Những năm gần đây, ngày càng xuất hiện nhiều dẫn liệu cũng như luận cứ nhằm giải ảo cái huyền thoại “Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ – lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” mà trong suốt nhiều thập niên, nhờ nó, Đảng Cộng sản Việt Nam tạo ra được quanh mình một vầng hào quang khiến đa phần người dân tin theo. Trước nhất là sự can dự mạnh mẽ của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa bằng các hình thức viện trợ quân sự và huấn luyện sĩ quan cho lực lượng Việt Minh ; sau nữa là tình trạng thực của Việt Minh sau khi bị đẩy lên núi rừng Việt Bắc. Đoạn phim ngắn dưới đây do hãng Universal Studios quay tại Việt Nam ngày 15 tháng 4 năm 1954, không hẳn sẽ làm thỏa mãn nhu cầu tìm kiếm sự thật lịch sử từ quý độc giả, nhưng tin rằng sẽ gây sự hứng thú để quý vị mở rộng hơn nữa tầm biện luận để chúng ta có được bức tranh lịch sử chân thực nhất. Mọi quan điểm phản hồi mong quý độc giả comment lịch thiệp dưới bài viết, hoặc gửi về hộp thư TTXVA dưới dạng bài viết riêng !
Bức ảnh này chỉ có tính minh họa, không trực tiếp liên hệ tới nội dung bài viết.
Như trong bài viết trước chúng tôi đã nêu, tình thế của lực lượng Việt Minh sau Chiến dịch Nà Sản (1952) thực sự vô cùng bi đát. Tổng chỉ huy lực lượng vũ trang Việt Minh – ông Võ Nguyên Giáp – đã tung vào cụm cứ điểm Nà Sản ba đại đoàn mạnh nhất và chuốc lấy thảm bại, thậm chí không giành được bất cứ triển vọng nào về mặt chiến lược. Bên cạnh đó, những mâu thuẫn nảy sinh trong nội bộ Việt Minh (sự kiện Chỉnh huấn – 1951, ban lãnh đạo kháng chiến không đảm bảo được những nhu cầu thiết yếu của đồng bào tản cư…) khiến một làn sóng “rentrer” bùng phát trong giai đoạn 1951 – 1952 (mời quý vị đọc lại hồi ký của các nhân vật đã từng trải qua thời kỳ đó : Bùi Tín, Phạm Duy…). Thực tế rõ ràng là, cứ giữ nguyên tình trạng khốn quẫn như vậy thì sẽ không có bất cứ “chiến thắng liệt oanh” nào cả, tổ chức Việt Minh có lẽ tự rã ngũ chỉ trong thời gian ngắn. Bởi vậy, bất cứ ai cũng có thể làm phép suy luận đơn giản : Khi bị dồn tới bước đường cùng, dẫu là ma quỷ thì ban lãnh đạo Việt Minh cũng sẵn sàng cộng tác, miễn thoát khỏi tình trạng này, huống hồ đó là Đảng Cộng sản Trung Quốc – tổ chức mà từ lâu Việt Minh đã có sự quan hệ. Bề ngoài, chính phủ Mao Trạch Đông tỏ ra hào phóng hết thảy các nhu cầu vật chất, nhưng họ ngầm thảo sẵn một kế hoạch lệ thuộc hóa tổ chức Việt Minh, để từ đó gieo rắc tầm ảnh hưởng xuống khu vực Đông Nam Á.
Đã có nhiều kiểm chứng về sự hiện diện của phái đoàn cố vấn quân sự cao cấp Trung Quốc tại Việt Nam (miền Bắc từ giai đoạn Chiến tranh Việt-Pháp và miền Nam trong thời kỳ chiến tranh hai miền), nhưng chưa có bất kỳ dẫn chứng nào cho thấy Trung Quốc can thiệp bằng lực lượng vũ trang chinh quy. Đây thực sự là một thiếu sót cần được các chuyên gia phân tích khắc phục trong tương lai gần, có như vậy mới mô tả được đầy đủ tính chất quốc tế của cuộc Chiến tranh Đông Dương, đồng thời phản ánh rằng nó không thuần túy chỉ là cuộc chiến giữa kẻ xâm lược và người chống xâm lược. Hơn nữa, điều đó sẽ đẩy lùi nguy cơ khiến Việt Nam nổi lên như một trường hợp kỳ dị trong các lĩnh vực sử học, xã hội học, địa chính trị khi mà quốc gia này dường như không tuân theo bất cứ xu thế vận động nào của thế giới – một quốc gia nằm ở nơi giao tranh giữa các thế lực lớn mà có vẻ như chẳng can hệ gì tới những mâu thuẫn đó. Hay phải chăng nước Việt Nam là đảo Bồng Lai, người Việt Nam là tiên ?
Đoạn video mà chúng tôi cung cấp dưới đây nằm trong chương trình Universal-International News, nó có tiêu đề là : “Đông Dương – Phe Đỏ dốc toàn lực khi Đàm phán Geneva cận kề” (Indochina – Reds go all-out as Geneva Parley nears).
00:00
00:00
Phần thuyết minh :As the fateful Geneva conference approaches, Reds throws everything they have but supply line leading to Dien Bien Phu which has become symbolic of the outcome of the war in Indochina. A Haiphong – Hanoi road is mined. Hanoi and the seaport town of Haiphong form a vital air-sea link to a beleaguered garrison which has now withstood more than a month of sea. Wounded men and damaged equipment are the daily toll as the Reds hammer incessantly at the (…) which is keeping Dien Bien Phu in a fight. Not only is the road under attack, but the paralleling rail line is light nightly in a desperate but (…) effort to knock out the supply route which may spell victory or defeat for the gallant French defenders and which may have an important psychological effect on the conclusion reached at the forthcoming parley at Geneva. (…) efforts keep the railroad in commission as labor battalions toil round the clock to keep rolling stock moving. With the fate of Southeast Asia in the balance, the battle of supply must be won.Trong khi hội nghị Geneva định mệnh đang đến gần, phe Đỏ [Việt Minh] ném tất cả những gì mình có trừ con đường tiếp tế vào Điện Biên Phủ vốn đã trở thành biểu tượng của hậu quả cuộc Chiến tranh Động Dương. Tuyến đường Hải Phòng – Hà Nội bị gài mìn. Hà Nội và thành phố cảng Hải Phòng tạo thành một tuyến đường không-hải huyết mạch đến một đơn vị đồn trú bị vây hãm đã trụ vững hơn một tháng nay. Thương binh và thiết bị hư hỏng là những thiệt hại hàng ngày khi quân Đỏ tấn công liên tiếp khiến Điện Biên Phủ luôn trong tình trạng chiến đấu. Không chỉ đường bộ bị tấn công, mà các tuyến đường sắt cũng bị phá nổ hằng đêm trong một nỗ lực tuyệt vọng nhằm triệt hạ đường tiếp tế, điều có thể báo hiệu chiến thắng hoặc chiến bại cho những binh sĩ Pháp quả cảm và có thể tác động tâm lý quan trọng đến thỏa thuận đạt được trong cuộc đàm phán sắp tới tại Geneva. Những nỗ lực đã giữ cho đường sắt hoạt động khi các tiểu đoàn công binh làm việc vất vả suốt ngày đêm để các đoàn tàu được thông suốt. Với số phận của Đông Nam Á hiện đang ở thế cân bằng, phải giành phần thắng trong cuộc chiến hậu cần.
Phần giới thiệu :Chinese soldiers cut the supplies and mine the roads in VietnamChinese soldiers at Indo supply lines in Vietnam. Red Forces walk along a road and cut vital supplies to besiege Dien Bien Phu. Roads leading to the seaport of Haiphong are mined. Smoke rises. Views of damaged equipment and wounded men. Sign of “Ben Yen NH 2cs, Hanoi 28 cs”. Vehicles pass on the highway. Vietnamese men repair railroads which are mined. A train passes after overhauling. Location : Vietnam. Date : April 15, 1954.Lính Trung Quốc cắt đường tiếp tế và gài mìn trên các tuyến đường tại Việt NamLính Trung Quốc ở những tuyến tiếp tế tại Đông Dương. Quân Đỏ đi dọc tuyến đường và cắt nguồn tiếp tế sống còn nhằm bao vây Điện Biên Phủ. Những tuyến đường dẫn tới cảng Hải Phòng bị gài mìn. Khói tỏa khắp nơi. Cảnh những thiết bị hư hỏng và thương binh. Biển chỉ đường ghi “Ben Yen NH, 2 cây số. Hanoi, 28 cây số”. Xe tải chạy trên quốc lộ. Người Việt Nam sửa chữa đường ray bị nổ mìn. Một đoàn tàu chạy qua sau khi sửa xong đường ray. Địa điểm : Việt Nam. Ngày 15 tháng 4, 1954.
Phụ chú :Ben Yen NH : Tức thị trấn Bần Yên Nhân [chính tả cũ : Bần-yên-nhân] (thuộc huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên), tuyến đường Hà Nội – Hải Phòng chạy qua Bần Yên Nhân nay được gọi là Quốc lộ 5A. Do tấm biển chỉ đường lỗ chỗ vết đạn nên giới phóng viên Mỹ không đọc được.The Reds, Red Forces : Cách gọi trừu tượng hóa của giới truyền thông quốc tế đối với phong trào cộng sản và các tổ chức thân cộng sản, chúng thậm chí được chấp nhận tại các nước cộng sản. Trong ngữ cảnh của bản tin này, “Reds” là mô tả Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và tổ chức Việt Minh, “Red Forces” để mô tả Giải phóng quân Nhân dân Trung Quốc hoặc lực lượng vũ trang Việt Minh.
Để kết thúc bài viết này, chúng tôi chỉ nhắn nhủ quý vị rằng : Kể từ bây giờ, người Việt Nam có thể ngưng các hoạt động kỷ niệm Chiến thắng Điện Biên Phủ được rồi !
Sunday, August 31, 2014
Cái chết của Tri thức Lịch sử ở Việt Nam : Trần Huy Liệu
(tác giả : Lê Minh Khải ; dịch giả : Hoa Quốc Văn)
Nền sử học Việt Nam đã lụi tắt vào cuối những năm 1960 - đầu những năm 1970. Chính là các học giả và những người trong tầng lớp trí thức cầm quyền của DRV (Democratic Republic of Vietnam / Việt Nam Dân chủ Cộng hòa) đã hủy diệt nền học thuật ấy. Những người này đã buộc các nhà sử học phải viết lịch sử theo một khung giá dân tộc chủ nghĩa hạn hẹp, một khung giá phải dựa trên những chủ đề (themes) về chủ nghĩa anh hùng, tình yêu Tổ quốc (nation), và [tinh thần] chống ngoại xâm.
Các nhà sử học người Việt đã triển khai cách tiếp cận này cho quá khứ ngay khi mà ở những nơi khác trên thế giới người ta đã không còn tiếp tục ưa chuộng cách viết lịch sử dân tộc chủ nghĩa nữa. Bởi vì thực tế là từ thời điểm ấy, người ta đã coi “dân tộc / quốc gia” (the nation) như một trong những trở ngại lớn nhất đối với việc hiểu quá khứ. Nhiều năm sau đó đến nay, ở phương Tây, người ta có một nỗ lực to lớn để vượt lên trên “dân tộc / quốc gia” (the nation), và để kiểm xét mọi khía cạnh của quá khứ (và có rất nhiều là) những khía cạnh bị cản trở bởi lăng kính chủ nghĩa dân tộc.
Ở Việt Nam, tuy nhiên, dân tộc (the nation) vẫn chiếm ngự, và [kiểu] lịch sử dân tộc chủ nghĩa là dạng (form) lịch sử duy nhất được những người nắm quyền lực [the powers] chấp nhận là lịch sử. Đó là bởi vì cách tiếp cận với quá khứ được áp dụng từ cuối những năm sáu mươi, đầu những năm 1970 ở miền Bắc Việt Nam (như vừa đề cập) đã tiếp tục ở những khu vực khác trên toàn đất nước này từ sau năm 1975, và vẫn như vậy đến tận hôm nay. Vì thế những ý tưởng và việc làm của những người đã hủy diệt tri thức lịch sử ở cuối những năm 1960, đầu những năm 1970 đã trở nên rất quan trọng, vì chúng có ảnh hưởng đối với toàn bộ nền học thuật Việt Nam trong suốt vài thập kỷ qua đến nay. Thời kỳ lịch sử những năm 1960 – 1970 đó vì vậy cũng rất đáng khảo sát lại, để chúng ta nhìn thấy những gì đã thật sự được viết ra. Tôi dự định sẽ viết lên về vài nghiên cứu tiêu biểu ở giai đoạn này khi tôi nhận ra chúng sẽ gộp chung vào một nhóm mới cho blog của mình, nhóm mà tôi đang gọi là “the death of historical inquiry in Vietnam” (Cái chết của Tri thức Lịch sử ở Việt Nam). Chúng ta bắt đầu ở đây bằng việc nhìn vào một bài viết (an article) được viết ra bởi một người có lẽ chịu trách nhiệm lớn nhất trong việc hủy diệt tri thức lịch sử ở Việt Nam : Trần Huy Liệu.
Tháng 7 năm 1967, nhà sử học Trần Huy Liệu đã viết một bài viết ngắn trên tạp chí Nghiên cứu lịch sử với nhan đề “Nâng cao nhiệt tình yêu nước trong khi nghiên cứu lịch sử dân tộc” (Increase patriotic ardor while researching the history of the nation[ality]). Trong bài viết này, Trần Huy Liệu viết rằng các nhà sử học dưới chế độ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đang viết ra một [phiên bản] lịch sử mới, một phiên bản có thể truy nguyên sự phát triển của Việt Nam từ thời kì công xã nguyên thủy đến hiện tại. Đó là một kiểu lịch sử [mang tính] khoa học, một kiểu lịch sử được trang bị bằng chủ nghĩa Marx-Lenin và dưới sự dẫn dắt của Đảng. Và trong khi Trần Huy Liệu phấn khởi khẳng định những tiến triển các nhà sử học đã làm được, có một điều mà [ông cho rằng] họ vẫn còn thiếu sót - tức là “nhiệt tình yêu nước”. Trần Huy Liệu nói rằng “nghiên cứu hay biên soạn lịch sử dân tộc, nhất là một dân tộc anh hùng như dân tộc ta, chúng ta chẳng phải chỉ cần có thái độ khách quan để trình bày sự thật lịch sử, mà còn phải gửi gắm ở đó một tình cảm nồng nàn đối với dân tộc, với đất nước, với lịch sử dân tộc và đất nước mình” (in writing or compiling a history of the nation[ality], especially that of a heroic nation[ality] like ours, we cannot just relate the historical facts with an objective attitude, but must also pass on ardent sentiments toward the nation[ality] , the country, and the history of our nation[ality] and country).
Trần Huy Liệu sau đó đã đặt một câu hỏi tu từ rằng liệu có mâu thuẫn giữa có khoa học và yêu nước hay không. Ông tự trả lời rằng “quan điểm khoa học và tinh thần yêu nước không những không mâu thuẫn nhau, mà còn rất cần cho một cán bộ sử học. Nếu không có quan điểm khoa học thì không thể nắm được quy luật tiến hóa của lịch sử, giải thích được những sự kiện tất yếu của lịch sử, cũng như không có tinh thần yêu nước, thì lịch sử dân tộc đối với người nghiên cứu chỉ là một đối tượng rất vô tình” (science and the spirit of patriotism are not only not contradictory, but are essential for a history cadre. If one is not scientific, then one cannot grasp the laws of historical evolution and explain the essential events in history, and if one is not patriotic, then the history of the nation[ality] will just be an indifferent topic of study for the researcher). Ông tiếp tục bằng việc nói đến vấn đề “Có người lầm tưởng rằng : theo duy vật sử quan, người nghiên cứu hay biên soạn lịch sử nước ta chỉ cần có một thái độ khoa học để phân tích người và việc một cách khách quan là đủ. Tôi thấy chưa đủ” (Some people erroneously think that in following the perspective of historical materialism, it is sufficient for the person who writes or compiles a history of our country to only need to have a scientific attitude to analyze people and events in an objective manner. I feel that this is not sufficient). Trần Huy Liệu giải thích rằng một [quyển] lịch sử một dân tộc [Việt Nam] khác với một [quyển] lịch sử dân tộc tiến hóa của nhân loại hoặc một [quyển] lịch sử phát triển của xã hội bởi vì nó phải [khiến] người đọc “thấm nhuần” (imbue) “lòng yêu quý đất nước, tinh thần tự tôn dân tộc” (feeling of love and respect for the land and a spirit of pride in one’s nation[ality]).
Ông kết luận bằng việc nói rằng “Hiện nay, lịch sử dân tộc ta đương dở ra những trang mới. Dưới sự lãnh đạo của Đảng của giai cấp công nhân, thừa kế truyền thống anh hùng của dân tộc, chúng ta đã kết hợp chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế vô sản, phấn đấu cho tổ quốc được độc lập hoàn toàn và xây dựng chủ nghĩa xã hội” (At present the history of our nation[ality] is opening a new page. Under the leadership of the Party of the working class, and continuing the tradition of heroism of the nation[ality], we are uniting true patriotism with international communism, and struggling for our fatherland to obtain complete independence and to build socialism). “… nhưng một điều không được quên là những người viết sử dân tộc phải làm cho người đọc nó được hun đúc thêm lòng yêu nước, tinh thần tự hào dân tộc, yêu tổ quốc cũng như yêu lịch sử của tổ quốc mình. Đã vậy, những cán bộ công tác sử học phải tự mình nâng cao nhiệt tình yêu nước ; nói cách khác, nếu không có lòng yêu nước nồng nàn thì làm sao góp phần được vào việc xây dựng lịch sử dân tộc, nhất là một dân tộc anh hùng” (… on point which cannot be forgotten is that the people who are writing the history of the nation[ality] must forge in the readers a feeling of love of country, a spirit of pride in the nation[ality], and to love the fatherland as well as the history of their fatherland. As such, those cadres working on historical scholarship must elevate their patriotic ardor. To put it differently, if they do not love the country passionately, then how can they contribute to building the history of a nation[ality], particularly a heroic nation[ality] ?). “Cố nhiên là nói đến yêu nước trong lúc này, chúng ta phải gắn liền với chủ nghĩa xã hội, với sự lãnh đạo của Đảng tiền phong. Đó cũng là quy luật tất yếu của lịch sử dân tộc ta đương bước sang một giai đoạn mới” (Of course in speaking of love of country at this point, we have to combine this with socialism, with the leadership of the Party vanguard. That is also an essential law of the history of our nation[ality] as we enter a new phase).
Tôi cho rằng bất kỳ ai ở phương Tây ngày nay đọc những nhận xét trên sẽ lập tức quan sát tính chất chính trị rõ ràng như thế nào trong những nhận xét của Trần Huy Liệu. Những nhà sử học đích thực thì không cố gắng truyền tới người đọc một ý nghĩa nào của chủ nghĩa yêu nước. Đó có thể là điều mà một số giáo viên dạy lịch sử ở phổ thông có thể làm, nhưng điều đó không [bao giờ] có chỗ trong một nền học thuật đích thực. Mặc dù vậy, hoàn toàn có thể hiểu tại sao một người như Trần Huy Liệu đã cảm thấy cần đưa ra luận điểm như thế ở năm 1967. Và chúng ta có thể thông cảm, tôn trọng những học giả đã đáp lại lời kêu gọi ấy [của Trần Huy Liệu] để xây dựng ra một nền học thuật mang tính chất “yêu nước” tại thời điểm đó. Tuy nhiên, điều mà không tài nào hiểu được là, 43 năm sau kể từ khi Trần Huy Liệu viết bài viết ngắn này, và 35 năm sau kể từ khi chiến tranh kết thúc, cách tiếp cận này đối với quá khứ vẫn ngự trị trong thế giới học thuật ở Việt Nam. Nó có thể không rõ ràng rành rành như được thấy ở đây, trong bài viết của Trần Huy Liệu, nhưng vẫn đúng cái mệnh lệnh thức đó (tức cái yêu cầu khiến người ta phải làm theo) vẫn làm động lực cho học thuật ở Việt Nam. Đã đi qua 43 năm. 43 năm là một khoảng thời gian rất dài, và thật khó khăn để cảm thông hay tôn trọng nhưng học giả tiếp tục chỉ một kiểu học thuật sử học như thế trong 43 năm.
Cuối cùng, thứ lịch sử “khoa học” mà các học giả dưới thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã gây dựng thời điểm đó cuối cùng trở nên ít khoa học hơn rất nhiều với những gì họ dự định. Không thể “nắm được quy luật tiến hóa của lịch sử” và truy nguyên sự phát triển của xã hội ở Việt Nam từ thời công xã nguyên thủy đến hiện tại, thay vào đó, họ cuối cùng đã viết ra một lịch sử dựa trên nền tảng của một thứ thiếu tính khoa học rất nhiều nhưng lại cực kỳ có uy quyền – thứ ấy là “chủ nghĩa dân tộc” (nationalism).
Thursday, July 31, 2014
PICS : Nhân 120 năm chiến tranh Trung-Nhật, nhìn lại Công ước bổ túc 1895 về biên giới Việt-Trung
Có lẽ ít người biết rằng công ước bổ túc 1895 về biên giới giữa hai nước Việt-Trung có quan hệ (khá mật thiết) với chiến tranh Trung-Nhật. Cuộc chiến tranh Trung-Nhật tuyên bố ngày 1 tháng 8 năm 1894 và kết thúc qua hòa ước Mã Quan (Simonoseki) ngày 7 tháng 4 năm 1895.
Công ước bổ túc 1895 được ký kết ở Bắc Kinh ngày 20 tháng 6 năm 1895, giữa đại diện nhà Thanh là thân vương Cung với đại diện Pháp quốc là ông Đặc sứ Toàn quyền A. Gérard. Do vậy Công ước này còn gọi là Công ước Gérard (để phân biệt với Công ước Constans, tức Công ước phân định biên giới 26-6-1887). Nguyên nhân đưa đến việc ký Công ước bổ túc 1895 là do những sai lầm (về phân định biên giới) của Công ước 1887.
Sai lầm của Công ước phân định biên giới 1887 là đã giao toàn vùng hữu ngạn sông Đà cho Trung Quốc, mà vùng này là lãnh địa của các đầu lĩnh người Thái, Mèo… (như dòng họ của Đèo Văn Trị), vốn đã thần phục triều đình An Nam từ trước đến nay.
Sau khi buộc triều đình nhà Thanh ký Hiệp ước Thiên Tân 1885, (Thanh triều phải từ bỏ mọi quan hệ với An Nam), Pháp bắt đầu đặt nền móng nhà nước thực dân lên toàn cõi Việt Nam. Việc này đòi hỏi biên giới hai bên phải được phân định rõ rệt mà việc này buộc Pháp phải « bình định » vùng biên giới Bắc Kỳ.
Công cuộc « bình định » của nhà nước thực dân gặp rất nhiều khó khăn, một mặt do sự chống đối của các lực lượng yêu nước người Việt, mặt khác, trên vùng biên giới Việt-Trung, còn có sự quấy nhiễu của những đảng cướp người Hoa (giặc cờ Đen, cờ Vàng… là tàn dư của các thế lực chống Thanh Triều như Thái Bình thiên quốc…). Song song đó, trên vùng biên giới tây-bắc, lại là lãnh địa của các đầu lĩnh (tù trưởng) người Thái, người Mèo… mà các thế lực này lúc thì theo Trung Quốc, lúc thì theo triều đình Việt Nam. Các vua chúa VN, để chiêu dụ những người này thường phong quan (hay gã con gái) cho họ để giữ yên bờ cõi. Trên thực tế, dân địa phương ở các vùng này sống « tự trị », không chịu ảnh hưởng của triều đình Trung Hoa cũng như VN.
Từ khoảng những năm 1886-1892, việc bình định vùng biên giới của nhà nước thực dân luôn gặp thất bại do chủ trương sử dụng vũ lực để đàn áp. Chỉ đến năm 1893, phương pháp « chiến tranh tâm lý » theo lối « chiêu dụ » được áp dụng, việc bình định mới thành công. Các đầu lĩnh (thổ ti) người Thái, Mèo… về hàng phục Pháp. Đổi lại, những người này được Pháp hứa hẹn sẽ bảo vệ cho gia đình, giòng tộc của họ.
Năm 1893, việc phân giới cắm mốc (theo tinh thần Công ước 1887) bắt đầu thực hiện trên khu vực biên giới Vân Nam.
(Công ước 1887 phân chia vùng biên giới Vân Nam với VN thành 5 đoạn. Đoạn thứ 5 tương ứng với đoạn từ sông Hồng đến biên giới Lào).
Những quân nhân Pháp phụ trách việc phân giới nhận ra rằng công ước 1887 đã nhượng cho Trung Hoa lãnh địa của các đầu lĩnh người Thái, Mèo, Tày, Nùng… đã thần phục Pháp, trong đó có lãnh địa của đầu lĩnh Đèo Văn Trị, người Thái, lãnh đạo một dòng tộc có thế lực lớn. Tức là vùng toàn vùng hữu ngạn sông Đà, gồm Lai Châu, từ Mường Tè cho tới Điện Biên, trên bản đồ hôm nay, thuộc về Trung Hoa. Viên quan phụ trách phân giới (đại tá Servière) quyết định ngưng công việc, vì sợ gặp sự chống đối từ phía dân địa phương.
Ông này gởi công văn về Paris cảnh cáo rằng, nếu thực thi công ước 1887 thì vấn đề an ninh của Bắc Kỳ sẽ không bảo đảm được. Ông này cho biết, để chiêu dụ được những đầu lĩnh này, họ đã nhân danh nước Pháp cam kết bảo vệ họ. Mà tục lệ của những dân tộc thiểu số sống vùng biên giới phía tây của VN, khi thần phục ai thì sáp nhập lãnh địa của họ vào nước đó. (Do việc này mà quân đội của Pháp ở Đông Dương sau này có nhiều đạo binh người Thái, Nùng… rất trung thành với Pháp. Việc bình định, sau này là giữ an ninh biên giới, là nhờ ở các đạo quân người Thái, Nùng… Đến khi quân viễn chinh của Pháp rút về nước năm 1954, những người này (cùng gia đình) cũng đi theo, vì sợ bị trả thù nếu ở lại.)
Do đó hành vi giao các vùng đất này cho Trung Hoa là có ý nghĩa phản bội lại các cam kết mà Pháp đã hứa hẹn.
Phe quân nhân trong chính trường Paris làm áp lực, cho rằng không thể thi hành Công ước 1887. Nếu công ước này thi hành sẽ không giữ được Bắc Kỳ. Trong khi phe ngoại giao thì không có lý do nào để đặt lại nội dung Công ước 1887 với Thanh triều ở Bắc Kinh.
Việc kết thúc chiến tranh giữa Nhật và Trung Hoa tháng 4 năm 1895 mở ra cho Pháp một cơ hội để sửa chữa sai lầm của công ước 1887.
Sau khi thua Nhật phải ký hiệp định Mã Quan 1895, Thanh triều phải bồi thường cho Nhật trên 200 triệu lạng bạc, là con số khổng lồ vào thời đó. Pháp liền chụp lấy cơ hội, đề nghị cho Thanh triều vay với lãi suất nhẹ. Nhà Thanh chấp thuận đề nghị, đổi lại, công ước 1887 sẽ được điều chỉnh lại, sao cho các vùng đất của các tù trưởng người Thái, Mèo thuộc về Bắc Kỳ. Tuy vậy, để cho các quan chức địa phương ở Vân Nam không bất bình, Bắc Kinh đòi Pháp phải nhượng lại một vùng đất như là vật trao đổi. Vùng đất của VN (Mường Tung) thuộc tổng Phương Độ (thuộc tỉnh Hà Giang hiện nay) vì vậy phải nhượng lại cho Vân Nam.
Việc trao đổi này phía VN được lợi về mặt diện tích nhưng bị thiệt hại về mặt kinh tế. Vùng đất mà VN phải nhượng nổi tiếng có nhiều hầm mỏ quan trọng (vì kế cận vùng Tụ Long, cũng nhượng cho TQ theo công ước 1887).
Việc thay đổi biên giới có thể trình bày theo nội dung các công ước và các bản đồ đính kèm sau đây :
Nguyên văn công ước 1887, đoạn biên giới thứ 5, khu vực Vân Nam :
A partir de Long-pô-tchaï (5e section), la frontière commune du Yunnan et de l’Annam remonte le cours du Long-po-hô jusqu’à son confluent avec le Ts’ïng-choueï-hô, marqué A sur la carte ; du point A, elle suit la direction générale du N.E au S.O jusqu’au point indiqué B sur la carte, endroit où le Saï-Kiang-hô reçoit le Mien-choueï-ouan. Dans ce parcours, la frontière laisse à la Chine le cours du Ts’ïng-choueï-hô.
Du point B, la frontière à la direction est-ouest jusqu’au point C, où elle rencontre le Teng-tiao-tchiang au-dessous de Ta-chou-tchio . Ce qui est au sud de cette ligne appartient à l’Annam, ce qui est au nord à la Chine.
Du point C, elle redescend vers le sud, en suivant le milieu de la rivière Ting-tiao-tchiang jusqu’à son confluent au point D avec le Tsin-tse-ho.
Elle suit ensuite le milieu du Tsin-tse-hô pendant environ 30 lis et continue dans la direction est-ouest jusqu’au point E où elle rencontre le petit ruisseau qui se jette dans la rivière noire (Heï-tciang ou Hac-giang) à l’est du bac de Meng-pang. Le milieu de ce ruisseausert de frontière du point E au point F.
A partir du point F, le milieu de la rivière noire sert de frontière à l’ouest.
Bản đồ đính kèm công ước :
Nội dung công ước cũng như bản đồ đính kèm, đoạn thứ 5 biên giới Vân Nam, tức đoạn từ sông Hồng đến biên giới Lào, hoàn toàn không phù hợp trên thực tế với những cái tên con sông không có thên thực địa, hay những con sông vẽ trên bản đồ không hề đúng với vị trí cũng như dòng chảy trên thực địa. Điều quan trọng nhất là câu « A partir du point F, le milieu de la rivière noire sert de frontière à l’ouest – từ điểm F, đường trung tuyến sông Đà là đường biên giới phía tây » mà điều này hoàn toàn không đúng trên thực tế thời đó.
Nguyên văn Công ước bổ túc 1895 gồm hai phần : 1/ mô tả đường biên giới trong vùng (phần đất) của VN nhượng cho TQ và 2/ mô tả đường biên giới phía hữu ngạn sông Hồng.
Đường biên giới vùng đất của VN nhượng cho TQ được mô tả như sau :
« La ligne frontière part du point R, se dirige au nord-est jusqu’à Man-Mei, et suivant la direction ouest-est jusqu’à Nam-Ta sur le Tsing-Chouei-Ho, laissant Man-Mei à l’Annam et les territoires de Mong-Tong-Chang-Ts’ouen, Mong-T’ong-Chan, Mong-T’ong-Tchong-Tsouen, Mong-T’ong-Hia-T’ouen à la Chine. »
Tạm dịch :
« đường biên giới từ điểm R đi về hướng Ðông-Bắc cho tới Man-Mei; sau đó từ Man-Mei theo hướng Tây-Ðông cho tới Nam-Ta, để lại An-Nam Man-Mei và Mường Tung thượng thôn. Mường Tung Sơn, Mường Tung trung thôn, Mường Tung hạ thôn để lại cho Trung Hoa. »
Đường biên giới phía hữu ngạn sông Hồng thì được xác định lại theo biên bản và bản đồ dưới đây, theo đó lãnh thổ Bắc Kỳ mở ra cho tới sông Cửu Long :
« La frontière commune du Yun-Nan et de l’An-Nam entre la rivière Noire à son confluent avec le Nam-Nap et le Mékong , est tracé ainsi qu’il suit : A partir du confluent de la Rivière Noire et du Nam-Nap, le frontière suit le cours du Nam-Nap jusqu’à sa source, puis, dans la direction Sud-Ouest la chaine de partage des eaux jusqu’aux sources du Nam-Kang et du Nam-Hou.
A partir des sources du Nam-Hou la frontière suit la chaine de partage des eaux entre le bassin du Nam-hou et le bassin du Nam-La, laissant à la Chine , à l’Ouest, Ban-Noi, O-Pang, O-Hou, les six montagnes à thé, et à l’Annam, à l’Est, Muong-Wou et Wou-Te et la confédération des Hua-panh-ha-tang-hoc. La frontière suit la direction Nord-Sud, Sud-Est jusqu’au sources du Nan-Suo-Ho ; puis elle contourne, par la chaine de partage des eaux, dans la direction Ouest Nord-Ouest, les vallées du Nan-Suo-Ho et les affluents de gauche du Nam-La jusqu’au confluent du Mékong et du Nam-La, au Nord-Ouest de Muong-Pou. Le territoire de Muong-Mang et de Muong-Joueun est laissé à la Chine. Le territoire des Huit sources salées (Pa-Fat-Sai) demeure attribué à l’Annam ».
Tạm dịch :
« Ðường biên giới giữa Vân Nam và An Nam từ hợp lưu của sông Ðà với sông Nậm Nạp cho đến sông Cữu Long được định như sau : Từ hợp lưu sông Ðà với sông Nậm Nạp, đường biên giới theo sông Nậm Nạp cho đến nguồn, sau đó, theo hướng Tây Nam, đường phân thủy, cho đến nguồn của sông Nam-Kang và Nam-Hou.
Từ nguồn của sông Nam-Hou, đường biên giới theo đường phân thủy giữa lưu vực sông Nam-Hou và sông Nam-La, nhường cho Trung Hoa, phía Tây, Ban-Noi, O-Pang, O-Hou, sáu núi trà, và nhường cho An Nam, phía Ðông, Muong-Hou và Wou-Te cùng với « confédération Hua-Panh-ha-tang-hoc ». Ðường biên giới theo hướng Bắc Nam, Tây Nam cho tới nguồn của Nan-suo-Ho và hợp lưu tả ngạn sông Nam-La cho tới hợp lưu sông Cữu-Long và sông Nam-La, phía Tây-Bắc của Muong-Pou. Vùng đất Muong-Man và Muong-Joueun thì để cho TQ. Vùng đất Tám Mỏ Muối (Pa-Fat-Sai) thì để cho An-Nam».
Các cột mốc hữu ngạn sông Hồng :
Từ Sông Hồng đến sông Ðà (Rivière Noire) thì không cắm mốc. Từ sông Ðà đến biên giới Lào có 4 cột mốc được cắm theo thứ tự từ Ðông sang Tây. Theo các biên bản viết bằng tiếng Việt, vị trí các cột mốc được ghi lại như sau : Cột thứ 1 ở miệng núi Phúc Ngỏa, cột thứ 2 ở miệng núi Chỉ Sưởng, cột thứ 3 giáp Mường La và Mường Bun, cột thứ 4 ở cửa trại Sông Mặc Ô. « Miệng núi » có nghĩa là đèo (col).
Troupe de l’Indochine
1er territoire Militaire
Cercle de Lao-Kay
Col de Tchou-Oua le 16 mars 1896
Le 16 mars 1896 (le trois du deuxième mois annamite) en présent de Monsieur Lin-Cheu-Yin, et le Monsieur Ouan-Tin-Tsan officiers délégués par le gouvernement chinois et le monsieur Pasquier (Gaston Louis , Félix Paul) sous-lieutenant à la 7e compagnie du 1e régiment de Tirailleurs Tonkinois une borne frontière a été placée au col de Tchou-Oua au point déterminé par la commission de délimitation, et indiqué sur les cartes annexées à cette convention.
Cette borne porte le numéro un.
Le Sous Lieutenant
Pasquier (signé)
Biên-bản cột thứ 1
Ngày 17 tháng 3 năm 1896 Tây là ngày 8 tháng 2 năm Bính-Thân An-Nam.
Nước Ðại-Thanh sai hai người Ðại Lão Da. Một người tên Lâm Thế Ấn và một người tên Văn Ðình Toản, cùng với quan Một Khuyên nước Ðại Pháp tên là Ba-Kiệt coi lính Tập xứ Bắc-Kỳ, cơ thứ 7, vệ thứ 1 đi giựng bia đất cõi, nước Ðại-Chiều và Nước Tiểu-Chiều.
Quan Tổng-Lý Ðại Thần nước Ðại-Thanh sai hai người Ðại Lão Da, một người tên là Lâm Thế Ấn và một người là Lâm Ðình Toản, mang một bức địa-đồ đi chia đất cõi giựng bia, bia thứ 1 ở miệng núi Phúc Ngõa.
Ngày 3 tháng 2 năm Quang-Tự thứ 22.
Ký tên Lâm Thế Ấn và Văn Ðình Toản.
Biên bản cột thứ 2
Tiếng Pháp :
Troupe de l’Indochine
1er territoire Militaire
Cercle de Lao-Kay
Col de Tchou-Tchang le 14 mars 1896
Le 14 Mars 1896 (le premier jour du deuxième mois annamite), en présent de Monsieur Lin-Cheu-Yin , et de Monsieur Ouan-Tin-Tsan officiers délégués pour le gouvernement Chinois, et de Monsieur Pasquier Gaston Louis Félix Paul Sous-lieutenant à la 7e Compagnie du 1er Régiment de Tirailleurs Tonkinois, une borne frontière a été placé au col de Tcheu Tchang, au point déterminé par la commission de délimitation, a indiqué sur les cartes annexées à cette convention.
Cette borne porte le numéro deux.
Le Sous-Lieutenant
(signature Pasquier)
Tiếng Việt :
Ngày 14 tháng 3 năm 1896 Tây là ngày 30 tháng 1 năm Bính-Thân An-Nam.
Nước Ðại-Thanh sai hai người Ðại Lão Da. Một người tên Lâm Thế Ấn và một người tên Văn Ðình Toản, cùng với quan Một Khuyên nước Ðại Pháp tên là Ba-Kiệt coi lính Tập xứ Bắc-Kỳ, cơ thứ 7, vệ thứ 1 đi giựng bia đất cõi, nước Ðại-Chiều và Nước Tiểu-Chiều.
Quan Tổng-Lý Ðại Thần nước Ðại-Thanh sai hai người Ðại Lão Da, một người tên là Lâm Thế Ấn và một người là Lâm Ðình Toản, mang một bức địa-đồ đi chia đất cõi giựng bia, bia thứ 2, ở miệng núi Chỉ-Sưởng.
Ngày 3 tháng 2 năm Quang-Tự thứ 22.
Ký tên Lâm Thế Ấn và Văn Ðình Toản.
Biên bản cột thứ 3
Ngày 26 tháng 3 năm 1886, Tây
Ngày 12 tháng 2 năm Bính-Thân, An-Nam.
Nước Ðại-Thanh sai tên Kha Thụ Huân là Ðại Lão Da, cùng với Quan Ba Khuyên nước Ðại-Pháp, để giựng bia đất cõi nước Ðại-Chiều và nước Tiểu-Chiều,
Quan Tổng-Lý Ðại Thần nước Ðại-Thanh sai tên Kha Thụ Huân là Ðại Lão Da, mang một cái địa-đồ đi chia đất cõi giựng bia, quan Tổng-Lý Ðại Thần nước Ðại Pháp sai quan Ba Khuyên mang một cái địa-đồ đi chia đất cõi giựng bia, bia thứ 3 giáp Mường La và Mường Boun.
Ký tên Kha Thụ Huân.
Biên bản cột thứ 4
Ngày 13 tháng 3 năm 1886, Tây
Ngày 4 tháng 2 năm Bính-Thân, An-Nam.
Nước Ðại-Thanh sai tên Kha Thụ Huân là Ðại Lão Da, cùng với Quan Ba Khuyên nước Ðại-Pháp, để giựng bia đất cõi nước Ðại-Chiều và nước Tiểu-Chiều,
Quan Tổng-Lý Ðại Thần nước Ðại-Thanh sai tên Kha Thụ Huân là Ðại Lão Da, mang một cái địa-đồ đi chia đất cõi giựng bia, quan Tổng-Lý Ðại Thần nước Ðại Pháp sai quan Ba Khuyên mang một cái địa-đồ đi chia đất cõi giựng bia, bia thứ tư ở cửa trại Sông Mặc Ô.
Ký tên Kha Thụ Huân.
Sơ đồ vị trí các cột mốc:
Theo FB Trương Nhân Tuấn
Saturday, May 24, 2014
VIDEO : Trung Quốc xuyên tạc nội dung công thư 1958
Nội dung công thư 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng không có một từ nào công nhận Hoàng Sa và Trường Sa là của Trung Quốc.
Trong thế giằng co, tháng 8/1958 Trung Quốc đột ngột tăng cường nã pháo vào đảo Kim Môn dẫn đến cuộc khủng hoảng eo biển Đài Loan lần thứ hai. Mỹ tiếp tục điều Hạm đội 7 đến bảo vệ đường tiếp tế hậu cần từ đảo Đài Loan đến Kim Môn và Mã Tổ.
Trước sự đe dọa chia cắt lãnh thổ, ngày 4/9/1958, Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai ra tuyên bố quốc tế về hải phận 12 hải lý kể từ đất liền của Trung Quốc trong đó có Đài Loan, đồng thời nêu cả Tây Sa và Nam Sa (tức quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam).
Thời điểm này, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Trung Quốc đang giữ quan hệ "anh em thân tình". Năm 1949, Việt Minh chiếm vùng Trúc Sơn thuộc lãnh thổ Trung Quốc từ tay các lực lượng khác rồi trao trả cho Quân giải phóng Trung Quốc. Năm 1957, Trung Quốc chiếm giữ đảo Bạch Long Vĩ của Việt Nam từ tay một số lực lượng khác, rồi cũng trao trả cho Việt Nam.
Xuất phát từ mối quan hệ đặc thù đó, Thủ tướng Phạm Văn Đồng gửi công thư, một cử chỉ ngoại giao của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong việc tôn trọng lãnh hải 12 hải lý của Trung Quốc, trước các diễn biến quân sự phức tạp trên eo biển Đài Loan.
Công thư thể hiện: "Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4/9/1958 của Chính phủ nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa quyết định về hải phận của Trung Quốc.
Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc trong mọi quan hệ với nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa trên mặt biển".
Công thư không nêu tên bất cứ quần đảo nào cũng không từ bỏ chủ quyền của Việt Nam với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Ngược dòng lịch sử, Hội nghị các nước đồng minh sau Thế chiến hai tổ chức tại San Francisco (Mỹ) năm 1951, 46/51 quốc gia tham dự đã bác bỏ yêu sách về chủ quyền của Trung Quốc trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Cũng tại hội nghị này, Việt Nam đã tuyên bố chủ quyền lâu đời và liên tục của mình trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trong phiên họp toàn thể mà không có bất kỳ sự phản đối hay ý kiến nào khác của các quốc gia tham dự.
![]() |
| Giàn khoan Hải Dương 981 được Trung Quốc hạ đặt trái phép trong thềm lục địa của Việt Nam. Ảnh: Nguyễn Đông. |
Hiệp định Genève 1954, mà Trung Quốc là một nước tham gia chính thức, cũng thừa nhận chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc về Việt Nam. Các điều khoản trong Hiệp định yêu cầu các quốc gia tham dự Hội nghị cam kết tôn trọng chủ quyền độc lập, nền thống nhất quốc gia và sự toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. Do vậy, phần tuyên bố về chủ quyền của Trung Quốc liên quan tới hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam trong bản tuyên bố ngày 4/9/1958 về cơ sở pháp lý quốc tế là không có hiệu lực.
Theo Hiệp định Genève 1954, hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa nằm phía Nam vĩ tuyến 17 tạm thời thuộc quyền quản lý của Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa (VNCH). Dưới góc độ tài phán quốc tế, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không có nghĩa vụ và quyền hạn hành xử chủ quyền tại hai quần đảo này theo luật pháp quốc tế.
Chính quyền VNCH, theo Hiệp định Genève 1954, đã liên tục thực thi chủ quyền lâu đời của người Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa bằng các văn bản hành chính nhà nước cũng như bằng việc triển khai chủ quyền thực tế trên hai quần đảo này. Đỉnh cao của sự khẳng định chủ quyền Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là trận hải chiến quyết liệt của Hải quân VNCH chống lại sự xâm lược của tàu chiến và máy bay Trung Quốc tại quần đảo Hoàng Sa năm 1974.
Không có cơ sở pháp lý quản lý hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, nội dung Công hàm ngày 14/9/1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng là phù hợp với hoàn cảnh và mối quan hệ đặc thù giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Trung Quốc bấy giờ.
Video: Vạch trần luận điệu xuyên tạc của Trung Quốc về công thư 1958
T.A/Theo Chinhphu.vn
Subscribe to:
Posts (Atom)






















