Showing posts with label ChinhTri-QuanDiem-BinhLuan. Show all posts
Showing posts with label ChinhTri-QuanDiem-BinhLuan. Show all posts

Saturday, April 27, 2024

Hà Nội tiếp tục thịt "đồng chí nhà thờ"

 JB Nguyễn Hữu Vinh

Mới đây, Nhà thờ Thái Hà thuộc Dòng Chúa Cứu Thế nhận được giấy mời từ Ủy Ban Nhân dân Phường Quang Trung, Quận Đống Đa, thành phố Hà Nội với nội dung : "Mời đồng chí tới dự họp lấy ý kiến về quy hoạch Tổng Mặt bằng tỷ lệ 1/500 phương án kiến trúc, Dự án đầu tư cải tạo, nâng cấp bệnh viện Đống Đa. Phòng hợp lại là Trụ sở Đảng ủy, Ủy ban nhân dân Phường Quang Trung"

nhatho1

Đọc qua cái "Giấy mời" này, người thấy sự hài hước, dốt nát cũng như sự lỳ lợm của hệ thống công quyền, cán bộ cộng sản. Và người ta hiểu rằng : Một lần nữa, âm mưu của nhà cầm quyền Việt Nam với tài sản Giáo hội Công giáo vẫn không thay đổi và ngày càng trắng trợn.

Cuộc đấu tranh dai dẳng và sự lì lợm, trắng trợn của nhà cầm quyền Hà Nội

Cuộc đấu tranh của giáo dân Giáo xứ Thái Hà cùng với các tu sĩ, linh mục Dòng Chúa Cứu Thế Hà Nội hàng chục năm nay, vẫn chưa có hồi kết. Họ đấu tranh để đòi lại công bằng, đòi lại tài sản của mình như một điều đương nhiên đã đành, mà còn là một việc làm để khẳng định, để trả lại cho xã hội Việt Nam một lần những cái không thể thay đổi trong đời sống văn hóa ngàn năm của dân tộc Việt. Đó là việc không thể đổi đen thành trắng, đổi sai thành đúng, đổi xuôi thành ngược, đổi sự thật thành gian trá mà nhà cầm quyền Việt Nam đã áp dụng vào xã hội Việt Nam mấy chục năm nay kể từ khi người cộng sản xuất hiện tại Việt Nam cho đến hiện tại.

Cần nhắc lại rằng : Dòng Chúa Cứu Thế Hà Nội được thành lập, được xây dựng từ rất lâu trước khi người cộng sản manh nha ở mảnh đất Việt Nam. Bằng chứng là các tu sĩ, linh mục đã mua khu đất nơi có Giáo xứ Thái Hà hiện nay với diện tích là hơn 71.000 mét vuông và năm 1928 đã bắt đầu tiến hành xây dựng tu viện tại đây.

Cho đến nay, dù nhà cầm quyền Việt Nam bằng nhiều thủ đoạn, bằng nhiều cách để xóa vết tích, rồi chiến tranh, rồi loạn lạc… thì những công trình của Dòng Chúa Cứu Thế vẫn còn sừng sững đứng đó để chứng minh một điều : Sự thật không dễ gì đảo ngược, không dễ gì xuyên tạc, bóp méo hoặc che đậy.

Ở đây, dù đã nhiều lần ở nhiều nơi, nhiều cấp, qua văn bản, qua đấu tranh, đối thoại trực tiếp, nhà cầm quyền Hà Nội vẫn không thể trả lời được câu hỏi : Cơ sở pháp lý nào, để tài sản của Giáo hội Công giáo trở thành tài sản của Bệnh viện ?

Bởi trong lịch sử tồn tại của cộng sản ở Việt Nam nói chung và Hà Nội nói riêng, chưa bao giờ có văn bản nào để những tài sản này được coi là đối tượng của bất cứ chính sách nào của cộng sản. Hẳn nhiên là điều ai cũng biết rằng người cộng sản xưa nay vẫn nói cái không làm và làm cái không nói.

Tuy nhiên khi mà họ luôn luôn rêu rao rằng nhà nước cộng sản này là nhà nước pháp quyền, thì việc yêu cầu đúng luật pháp là điều đương nhiên.

Và đó cũng chính là sự khó khăn cho nhà cầm quyền Việt Nam khi bộ mặt của họ bị vạch ra rõ nhất qua những vụ việc này.

Trong truyền thống văn hóa ngàn đời nay của dân tộc, chuyện có vay, có mượn thì phải trả là chuyện đương nhiên, chẳng cần phải lý giải, chẳng cần phải giải thích bằng bất cứ loại ngôn ngữ lập luận nào thi điều đó cũng là chân lý hiển nhiên.

nhatho2

Tín đồ trong tu viện Dòng Chúa Cứu Thế Hà Nội - Ảnh minh họa

Có lẽ, với công trình Tu viện của Dòng Chúa Cứu Thế tại Giáo xứ Thái Hà, nhà cầm quyền Hà Nội qua biết bao đời Bí thư Thành ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố đã giở đủ trò nhằm cướp bằng được một tài sản của tôn giáo đã từng "mượn" rồi nay không chịu trả. Đã không chịu trả lại còn cù nhầy đủ cách để nhằm "Cả vú lấp miệng em" và đủ mọi trò bẩn thỉu, nham nhở nhằm cướp bằng được tài sản này của Giáo hội Công giáo Việt Nam.

Với một nhà nước luôn tự xưng là "Nhà nước pháp quyền" lẽ ra không cần phải để công dân, tổ chức xã hội, tôn giáo đòi hỏi mà chính nhà nước phải gương mẫu thi hành điều đó. Nhưng, ở đây đã xảy ra những điều hoàn toàn ngược lại. Những đơn từ, những phản ứng của người dân luôn bị bỏ qua, bị bóp méo nhằm thực hiện cho được việc chiếm và cướp. Những tiếng kêu cứu thất thanh của giáo dân, giáo sĩ đã được xếp vào hàng ngũ thù địch, được đối phó bằng công an, cảnh sát, bằng nhiều thủ đoạn đê hèn.

Tu viện không thể là bệnh viện

Tu viện Dòng Chúa Cứu Thế Thái Hà được xây dựng từ những năm 1928 - 1931 của thế kỷ trước, vốn là một nơi tu hành của Giáo hội, quá trình thiết kế và xây dựng chắc chắn chẳng ai nghĩ đến sẽ ngự trị một bệnh viện sau này. Do đó, từ phần cấu trúc xây dựng, dây chuyền sinh hoạt cho đến bố trí các phòng chức năng của Tu viện không thể đem áp dụng vào cho bệnh viện.

Việc cố tình áp đặt quy trình bệnh viện là nơi chữa bệnh cho nhân dân vào một nơi không đúng chức năng, không đủ điều kiện chắc chắn sẽ gây nên những hậu quả rất lớn cho việc điều trị và chăm sóc sức khỏe cho nhân dân. Có phải vì thế mà người dân nơi đây có câu truyền miệng rằng "Vào Đống Đa, ra Văn Điển". Việc cố tình bố trí sai trái như thế để làm chỗ đùa giỡn với tính mạng nhân dân của nhà cầm quyền, phải được coi là tội ác.

Hệ thống công trình phụ trợ, khu vệ sinh, lây nhiễm của bệnh viện được gò gẵng ép vào cơ sở của Tu viện khi không đủ các điều kiện về cách ly cần thiết cho dân cư, cho cộng đồng xung quanh theo yêu cầu nghiêm ngặt của việc bảo vệ sức khỏe nhân dân. Trong khi chính nhà nước đã công nhận rằng Bệnh viện Đống Đa được coi là một trong các bệnh viện gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng nhất. Việc đó vẫn cố tình áp đặt thời gian dài mấy chục năm qua gây những hậu quả lây nhiễm cho nhân dân, những người dân lành vô tội, phải được coi là tội ác.

Với quy mô khu vực Tu viện, chỉ hơn 12.000 mét vuông, đây không thể là một mặt bằng phù hợp để xây dựng một bệnh viện tầm cỡ với những nhiệm vụ như đã được giao. Vì thế việc cố tình đổ tiền đổ của của nhân dân vào những nơi này chỉ nhằm cướp đoạt trái pháp luật bằng được Tu viện của tổ chức tôn giáo, phải được coi là tội ác.

Đăc biệt mới đây Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội đã có chủ trương di dời một số bệnh viện và Trường Đại học ra khỏi Trung tâm Hà Nội. Hàng loạt bệnh viện lớn được đề xuất đưa ra ngoại thành, kể cả những bệnh viện hiện đại mới xây dựng như Bệnh viện Bạch Mai, Bệnh viện Hữu Nghị, Bệnh viện Phụ sản Trung ương, Bệnh viện Tai Mũi Họng Trung ương… hay ngay cả bênh viện mới xây như Bệnh viện Đại học Y Hà Nội cũng đều có phương án di chuyển ra ngoại thành. Chủ trương của Thành phố Hà Nội ghi rõ : "Trong số các bệnh viện được đề xuất di dời đợt này chủ yếu là các bệnh viện truyền nhiễm nằm trong khu vực mật độ dân cư quá dày đặc, bệnh viên có lượng chất thải y tế lớn không có khả năng xử lý, bệnh viện đa khoa có khoa lây không đủ điều kiện cách ly theo quy định".

Hệ thống các bệnh viện Bạch Mai, Việt Đức cơ sở 2 đang được xây dựng tại Hà Nam và các tỉnh xung quanh Hà Nội là ví dụ cụ thể cho chủ trương này.

Vậy thì tại sao, nhà cầm quyền Hà Nội nhất định không di dời bệnh viện Đống Đa dù ai cũng biết rõ ràng sự vô lý, sự bẩn thỉu và nham nhở của bộ mặt nhà cầm quyền đối với Dự án này.

Tất cả chỉ nhằm phục vụ mục đích của nhà cầm quyền Hà Nội là cướp bằng được Tu viện của Dòng Chúa Cứu Thế tại Hà Nội, hạn chế một tôn giáo mà từ xưa đến nay, nhà cầm quyền cộng sản không thể khuynh loát.

Người ta thừa biết rằng, nếu đây không phải là tài sản của Giáo hội công giáo bị chiếm cướp bất hợp pháp, thì bệnh viện này đã không tồn tại từ lâu. Mỗi chiều, mỗi sáng đứng trước bệnh viện này, nhìn dòng người ra vào tắc nghẽn, cũng đủ thấy sự vô lý của cái gọi là bệnh viện này dù nó vẫn tồn tại và trêu ngươi biết bao thế hệ.

Thế nên, một bệnh viện với đủ loại bệnh tật truyền nhiễm được đưa vào một trung tâm sinh hoạt tôn giáo cũng như những tệ nạn xã hội đã được tổ chức bao vây nhà thờ.

Hậu quả của sói gửi chân

Chẳng rõ với tư cách nào, mà ả Chủ tịch Ủy ban nhân dân Phường Quang Trung lại gọi linh mục đại diện Nhà thờ Thái Hà là "đồng chí" ?

Phải chăng là ả đã nhầm tưởng rằng khi làm thân được với nhà thờ, thì tất cả đều là "Đồng chí" của ả ?

Mấy năm gần đây, sau khi phong trào đòi Sự thật – Công lý – Hòa Bình của toàn xã hội dâng cao, nhất là người Công giáo Việt Nam vốn đi đầu trong công cuộc công chính đó, đã đặt nhà cầm quyền Việt Nam vào thế bị động. Họ bị động, bởi hễ đụng vào đâu là ở đó lại lúng túng như gà mắc tóc, lại bí, lại mất mặt và khó ăn khó nói trước thiên hạ.

Thế nên, những năm qua, nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam đã đổ tiền của, công sức vào việc tập trung bằng mọi cách tiêu diệt mọi tiếng nói đối lập, bất đồng ở trong nước. Hàng trăm người bị bắt vào tù với những cái gọi là bản án nặng nề khủng khiếp nhằm hăm dọa, dập tắt những tiếng nói bất đồng, phản đối chính sách phản động của nhà cầm quyền Hà Nội đối với người dân, với đất nước, dân tộc.

Đặc biệt, nhà cầm quyền Hà Nội đã đổ công sức đầu tư, kết thân, can thiệp bằng nhiều cách vào Giáo hội Công giáo Việt Nam, một thành trí khá vững chắc bảo vệ tính độc lập bấy lâu nay của tôn giáo.

Và những cuộc thương lượng, và con bài ngoại giao, "bang giao"… tổng hợp bằng nhiều cách, nhiều kiểu kể cả trắng trợn lẫn tinh vi, nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam đã đạt được những ý đồ nhất định.

Điều ai cũng thấy, là Vatican, đã cắn khá sâu miếng mồi câu "Bang giao" của nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam, để rồi mấy chục năm nay, có điều khoản đồng ý với việc Hà Nội được ý kiến, được thông qua việc bổ nhiệm các Giám mục Công giáo vốn là một đặc quyền riêng của Giáo Hoàng.

Và chỉ cần có thế, bằng mọi cách lươn lẹo của mình, nhà cầm quyền Việt Nam đã dần dần thò được bàn tay khuynh loát vào Giáo hội bằng nhiều cách.

Và sản phẩm là một số chức sắc công giáo là linh mục, thậm chí là cả Giám mục đã thỏa hiệp và sự thỏa hiệp đó ngày càng công khai, trắng trợn trước mặt giáo dân.

Cũng trong trào lưu đó, nhiều vị linh mục, nhiều giáo xứ coi việc kết thân với chính quyền cộng sản là việc làm bình thường và thậm chí nhiều nơi, nhiều vị còn lấy làm hãnh diện mà bỏ qua điều cơ bản, căn nguyên nhất mà người xưa đã từng dạy : "Hãy cho tôi biết ai là bạn anh, tôi sẽ nói cho anh biết anh là ai".

Xem lại những hình ảnh "tay bắt mặt mừng" của một số chức sắc trong Hàng giáo phẩm Công giáo Việt Nam với các quan chức cộng sản, ta thấy điều gì ?

Hầu hết, những quan chức đã đến bắt tay, chúc mừng, hàn huyên và giao hữu với các đấng bậc trong hàng Giáo phẩm Việt Nam như Đinh La Thăng, Tất Thành Cang… chăm chỉ đến Tòa Tổng Giám mục Sài Gòn thì nay đang ở trong tù. Cho đến Nguyễn Đức Chung, Chu Ngọc Anh đến thăm hỏi chúc mừng Giáng sinh chỗ nọ, chỗ kia, thì sau đó cũng đã lần lượt rủ nhau vào tù để "học tập và làm theo đạo đức Hồ Chí Minh" là viết nhật ký trong tù.

Ở mức cao hơn, Võ Văn Thưởng vừa đến Tòa Tổng Giám mục Huế tươi cười hớn hở thông báo mời Giáo hoàng sang thăm Việt Nam, thì ngay sau đó, chỉ việc đón tiếp Hoàng Gia Hà Lan lại bị hoãn đột xuất vì Thưởng vi phạm luật pháp và bị đuổi cổ nhục nhã.

Và người ta nhớ lại, Nguyễn Xuân Phúc cũng từng vác mặt đến chúc tết, chụp hình hớn hở tại các Tòa Tổng Giám mục của Việt Nam.

Vậy giờ đây, các Tòa Tổng Giám mục, các giáo xứ ấy, các chức sắc ấy có thấy xấu hổ, ăn năn vì đã trót làm bạn với quân trộm cướp ?

Trở lại vụ việc tại Giáo xứ Thái Hà hôm nay.

Khoảng hơn mười lăm năm nay, cuộc đấu tranh của giáo dân, linh mục, tu sĩ tại Giáo xứ Thái Hà đã thức tỉnh trái tim những người khao khát sự thật, công lý trên khắp thế giới. Thái Hà đã trở thành biểu tượng đấu tranh cho Sự thật – Công lý – Hòa Bình tại Việt Nam và đã được sự ủng hộ từ khắp nơi bằng nhiều cách.

Và người ta hy vọng không phải là việc Thái Hà lật đổ chế độ cộng sản hay điều gì cao siêu. Người ta chỉ mong ở đó, tinh thần của Giáo dân, giáo sĩ được vững vàng như một sự kiên trinh, nói lên sức sống của Sự thật, hiềm hy vọng vào Công lý và tinh thần Hòa bình.

Thế nhưng, dần dần, người ta đã thấy những sự thay đổi tại đó.

nhatho3

Cách đây mới mấy tháng, người dân khắp nơi ngạc nhiên thấy một sĩ quan an ninh với đầy đủ quân phục, quân hàm vào tận nhà thờ Thái Hà để múa may quay cuồng như ở nhà mình, cùng với linh mục quản xứ chia quà Giáng sinh. Viên sĩ quan đó, chẳng ai lạ, là người có thâm niên theo dõi, là kẻ bày mưu tính kế cho nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam đối với âm mưu chiếm cướp đất đai, tài sản Thái Hà mấy chục năm qua.

Điều mà người ta khâm phục ở tay sĩ quan an ninh này, là sự lì lợm và tráo trở. Với chính bản thân người viết bài này, Cách đây 17 năm, tay sĩ quan này từng nói : "Em bây giờ là đảng viên, là công an, nhưng sau này khi về hưu em sẽ là tín hữu công giáo". Và thực tế đã chứng minh anh ta là ai. Vì thế khi thấy anh ta ngang nhiên múa may bên cạnh Linh mục Bề trên Thái Hà, thì thiên hạ không khỏi ngạc nhiên.

Và người ta cứ tưởng với mối quan hệ "đề huề" vậy, thì đồng chí đảng sẽ tha cho "đồng chí nhà thờ" ?

Nhưng không, hôm nay, đồng chí đảng lại định thịt "đồng chí nhà thờ" lần nữa để chứng minh câu nói của người xưa : "Chớ thấy đỏ mà tưởng là chín".

J.B Nguyễn Hữu Vinh

Nguồn : RFA, 25/04/2024

Wednesday, April 24, 2024

Hà Nội mở chiến dịch đày đoạ tù nhân chính trị

 Viết Dũng/SGN

Một đợt trấn áp vô cớ đang diễn ra ở nhiều trại giam Việt Nam. Tin cho biết những tù nhân chính trị bị cô lập trong buồng giam, bị biệt giam, bị thiếu thuốc chữa bệnh, ăn thức ăn trại phát thì bị tiêu chảy, nguồn nước thì bị ô nhiễm, thiếu nguồn nước sạch để sinh hoạt…

Trong chuyến thăm chồng vào hôm nay, ngày 21 Tháng Tư năm 2024, bà Đỗ Thị Thu, vợ ông Trịnh Bá Phương (tù nhân lương tâm, dân oan Dương Nội – Hà Nội) cho hay, hiện tại chồng bà và một số các anh em bị giam giữ tại Trại giam An Điềm (tỉnh Quảng Nam) đang bị đối xử tồi tệ, hà khắc. Ông Hoàng Đức Bình (Hoàng Bình – tù nhân lương tâm, hoạt động cho Phong Trào Lao Động Việt, người đã từng huy động hàng chục ngàn ngư dân đi khởi kiện Formosa trong vụ công ty này đầu độc biển miền Trung hồi 2016) thì bị biệt giam.

Bà Thu cho biết, bắt đầu từ ngày 8 Tháng Tư, trại giam An Điềm không mở cửa như trước kia mà đóng cửa buồng 24/7. Mọi thư từ, đồ ăn, lấy nước sôi đều qua khe cửa. Việc đóng cửa này là việc làm tùy tiện của trại, bởi phía trại An Điềm không đưa ra bất kỳ nguyên nhân hay lý do nào. Ông Phương kể, hiện mọi người ở đây đang bị nhốt giam, y như lúc ông còn ở Trại Tạm giam số 1 của CATP Hà Nội (tên gọi khác là Hỏa Lò).

Ông Phương khẳng định, đây chẳng khác nào một hình thức biệt giam tra tấn tinh thần các anh em trong trại giam.

(Hình: Kayla Ng)

Bà Thu nói thêm, phía trại giam An Điềm cũng tịch thu một số đồ dùng của các anh em trong tù và gửi trả lại cho gia đình. Và cũng chính vì việc tịch thu đồ dùng không có nguyên nhân này mà ông Hoàng Bình và phía trại giam xảy ra cãi nhau với cán bộ, nên phía trại nhốt ông vào trại biệt giam. Ngày đầu của 10 ngày biệt giam ông Hoàng Bình bị xước hết chân vì bị cùm chân xiết chặt.

Ngay trong ngày đầu tiên bị giam lỏng, ông Phương có gửi cho bà một bức thư 4 trang nói về việc trại giam An Điềm xâm phạm quyền con người, kêu gọi quốc tế can thiệp và đồng hành.

Trong thư có ý kiến xác nhận của ông Hoàng Bình, Thái Bình và ông Phan Công Hải. Cũng trong ngày hôm đó, 4 người bắt đầu tuyệt thực hơn 3 ngày để biểu thị sự phản đối xâm phạm quyền con người.

Khi gặp được chồng, bà Thu cho biết chồng bà đã bị sút 4kg. Hiện tại bà vẫn chưa nhận được bức thư nào như chồng bà mô tả.

Bà nói, hiện nay ông Hoàng Bình không được khỏe. Ông bị đau lưng, đau xoang, mất khứu giác và bị đau tim. Ông Bình có xin phía trại thuốc đau tim nhưng trại không cho.

Chia sẻ thêm về tình hình sức khỏe, trong quá trình thăm gặp, ông Trịnh Bá Phương cho bà biết rằng, trong khoảng một năm nay chồng bà đã không còn nhận đồ ăn trại phát như thịt, cá… vì đồ ăn ở đây không sạch sẽ và làm rất mất vệ sinh.

Có lần chồng bà ăn và bị tiêu chảy cấp, đau bụng, đi ngoài nhiều lần và phải xin thuốc uống. Nguồn nước thì bị ô nhiễm, chồng bà bị viêm da, khi sục rửa bể nước thì thấy trong bể nước có rất nhiều cá con và các con nòng nọc bị chết.

Tìm hiểu thêm về việc ông Hoàng Đức Bình bị 10 ngày cùm chân, sau đó biệt giam, người nhà cho hay: Gia đình đã đi thăm ông vào ngày 08 Tháng Tư vừa rồi, nhưng phía Trại giam An Điềm từ chối, không cho thăm gặp.

Khi hỏi nguyên nhân, trại đưa ra thông báo về quyết định kỷ luật. Hình thức ông phải chịu là “giam tại buồng kỷ luật 10 ngày. Hình thức phạt phụ trội ông phải chịu là bị hạn chế nhận gửi thư, nhận quà, mua hàng hóa tại căng tin, liên lạc điện thoại với thân nhân trong vòng 3 tháng (kể từ ngày 05 Tháng Tư). Còn về thăm gặp, ông sẽ chỉ được gặp thân nhân 2 tháng một lần.

Không những không cho thăm gặp, trại giam An Điềm còn trả ngược lại cho gia đình những đồ đạc mà theo trại là đã “tạm giữ” được từ buồng giam của ông Hoàng Đức Bình. Trong biên bản tạm giữ, ông Hoàng Bình vẫn thể hiện ý chí cứng rắn, khi gạch bỏ chữ “phạm nhân” đi, và ghi rõ: “Tôi không phải là phạm nhân. Tôi là nạn nhân của chế độ Cộng sản độc tài, vô nhân đạo!”

“Tất cả những đồ vật này (những đồ vật có trong danh sách bị tạm giữ) tôi đã chấp hành theo yêu cầu của trại, vậy bây giờ (trại) tạm giữ là trại sai! Tôi phản đối nội dung trong biên bản này!”

Những sự ngược đãi đối với các tù nhân lương tâm nói trên không chỉ xảy ra tại trại giam An Điềm (tỉnh Quảng Nam), mà còn diễn ra tại nhiều nơi khác.

Tại Trại giam Nam Hà (tỉnh Hà Nam), ông Vũ Quang Thuận (người sáng lập phong trào Chấn Hưng Nước Việt) cũng thường xuyên bị thiếu thuốc chữa bệnh.

Từ một người có thể trạng khỏe mạnh, cân nặng 75kg, sau hơn 1 năm bị biệt giam, ông được cho ra khỏi đó và trở về đội để “cải tạo” Tháng Năm 2022 với một cơ thể gầy gò ốm yếu, cân nặng chỉ còn 38kg, mang trong mình đủ thứ bệnh từ hen suyễn, phổi tắc nghẽn mãn tính (COPD), suy gan… Hiện nay tuy sức khỏe của ông đã khá hơn, nhưng vẫn trong thể trạng yếu. Thuốc gia đình gửi vào cho ông gặp nhiều trở ngại, vì càng ngày, trại giam càng đòi hỏi thêm nhiều giấy tờ thủ tục khác. Ông chỉ có thể mua thuốc theo tháng trích từ tiền lưu ký, theo đơn của bác sĩ, mà theo ông là “không đủ cho ông để sử dụng.”

Việc đối xử tồi tệ với tù nhân gần như xảy ra ở mọi trại giam. Ở Trại giam Nam Hà (còn có tên gọi khác là Trại Ba Sao, tỉnh Hà Nam) – tôi, người viết bài – cũng từng trải qua chuyện nguồn nước sinh hoạt thì bẩn thỉu, thường có màu xanh và xuất hiện rong rêu. Không tắm thì không được, mà tắm thì ngứa, viêm da. Cựu tù nhân, nhà báo Lê Anh Hùng cho biết cũng từng nhiều lần bị dị ứng nổi đỏ, mẩn ngứa khắp người với nguồn nước như vậy.

Thức ăn trại phát không bảo đảm vệ sinh an toàn, đặc biệt là rau muống, ăn vào là tiêu chảy, nhiều người bị đau bụng, đi ngoài triền miên, buộc phải ngừng ăn rau muống do trại cấp phát.

Rau muống là một trong những nguồn thực phẩm chính của các trại phía bắc, thông thường dùng làm thực phẩm chính trong khoảng 7, 8 tháng, mới được thay rau khác. Trong tình cảnh đó, nếu tù nhân nào thiếu sự quan tâm của gia đình hay cộng đồng, thì đều phải sống kham khổ, bất chấp nhà nước Việt Nam vẫn tuyên bố với thế giới là điều kiện trong tù là bảo đảm cho người thi hành án.


Làm sao cho dân tôi giàu?

 

VNTB – Làm sao cho dân tôi giàu?

TS Phạm Đình Bá

(VNTB) – Để trả lời câu hỏi “làm sao cho dân tôi giàu”, nói trắng ra là cần làm tàn hình cái thể chế Nhà nước độc đảng hiện nay để dân có cuộc sống ấm no và hạnh phúc.

Các nhà máy của hãng sản xuất dược phẩm Novo Nordisk làm việc không ngừng nghỉ để sản xuất Ozempic và Wegovy, những loại thuốc giảm cân ở những người mập, nhưng công ty Đan Mạch này có tham vọng lớn hơn nhiều. [1]

Lars Jorgensen có một vấn đề: quá nhiều người muốn mua những gì ông ấy đang bán. Ông Jorgensen là giám đốc điều hành của Novo Nordisk, hãng sản xuất dược phẩm Đan Mạch. Ngay cả khi công ty không phải là một cái tên quen thuộc, TV vẫn vang lên tiếng vang về loại thuốc bán chạy nhất của họ – “Oh-oh-ohhh, Ozempic!” – có thể vang vọng trong tai nhiều người.

Trên khắp nước Mỹ, các loại thuốc trị tiểu đường và giảm cân của Novo Nordisk, Ozempic và Wegovy, đã trở thành rất nổi tiếng và giúp công ty trở thành công ty đại chúng có giá trị nhất Châu Âu. Công ty không thể sản xuất đủ thuốc để bán.

Trong gần 100 năm từ lúc công ty khởi nghiệp, Novo Nordisk đã tập trung vào hoạt động kinh doanh ổn định là điều trị bệnh tiểu đường, một trong những bệnh mãn tính phổ biến nhất trên thế giới. Thậm chí ngày nay, công ty vẫn còn sản xuất ra một nửa lượng insulin trên thế giới.

Nhưng sự phát triển của hai thứ thuốc Ozempic và Wegovy đã dẫn đến tham vọng lớn hơn và táo bạo hơn là “đánh bại các căn bệnh mãn tính nghiêm trọng”. Điều đó bao gồm điều trị và thậm chí ngăn ngừa béo phì, căn bệnh có liên quan đến các vấn đề sức khỏe khác như bệnh tim và thận.

Bằng cách theo đuổi mục tiêu lớn hơn nhiều so với bệnh tiểu đường, công ty hy vọng sẽ mở ra cánh cửa dẫn đến một thị trường trị giá hàng tỷ đô la với gần một tỷ bệnh nhân tiềm năng. Chỉ riêng ở Hoa Kỳ, hơn 40% người trưởng thành bị béo phì.

Và do đó, công ty Đan Mạch này đang trải qua những thay đổi to lớn – nó ngày càng lớn hơn và mang tính quốc tế hơn. Ông Jorgensen đang cố gắng tăng cường sản xuất để đáp ứng nhu cầu lớn về thuốc giảm cân, vượt qua sự cạnh tranh từ những công ty khác, đồng thời đảm bảo tương lai của công ty để có thể đạt được mục tiêu cao cả của mình.

Nhưng trong tất cả tình trạng hỗn loạn này, có một điều mà các giám đốc điều hành đang cố gắng nắm giữ: những giá trị lâu đời của công ty, được hệ thống hóa theo “Phương thức Novo Nordisk”.

Những nguyên tắc đó, bao gồm cả “cách tiếp cận kinh doanh lấy bệnh nhân làm trung tâm”, đã giúp công ty có được danh tiếng tốt ở quê nhà, nơi được coi là nơi mọi người tự hào khi làm việc. Nhưng những hướng dẫn này đang phải đối mặt với áp lực khi hàng chục nghìn nhân viên mới được thuê, các nhà lập pháp tố cáo nhà sản xuất thuốc này vì giá cao và các phiên bản giả của sản phẩm khiến nhiều người phát ốm.

 

Phương thức Novo Nordisk [1]

Camilla Sylvest, phó chủ tịch điều hành chiến lược thương mại và các vấn đề doanh nghiệp, là thành viên của nhóm đang tìm cách để Novo Nordisk có thể phát hiện bền vững.

Cô Sylvest cho biết ở đây cô được hướng dẫn bởi Phương thức Novo Nordisk, được giới thiệu vào cuối những năm 1990. Nó bao gồm 10 nguyên tắc, như “chúng tôi tò mò và đổi mới vì lợi ích của bệnh nhân và xã hội nói chung” và “chúng tôi xây dựng và duy trì mối quan hệ tốt với các bên liên quan của mình”.

Các giá trị then chốt làm nền tảng cho phương thức là sự cởi mởtrách nhiệm giải trình và sự tôn trọng lẫn nhau cũng như tôn trọng mọi người. Những giá trị này hướng dẫn các quyết định và hành động của mỗi nhân viên Novo Nordisk.

Cô ấy nói: “Bằng cách này hay cách khác, Phương thức luôn giúp chúng tôi có được những điều cần thiết về những điều đúng đắn cần làm.”

Cô nói thêm, Novo Nordisk không chỉ muốn bán ở những nơi có giá cao nhất – Hoa Kỳ – mà còn mở rộng khả năng tiếp cận quốc tế cho những người có thu nhập thấp hoặc những người không có đủ bảo hiểm, đồng thời vẫn giữ những bệnh nhân hiện tại ở đầu danh sách.

 

Rút ra những bài học gì cho dân mình từ Phương thức trên?

Cách làm việc của Novo Nordisk hoàn toàn tương phản với cách làm việc thợ đụng của giới lãnh đạo Nhà nước độc đảng bên nhà, nhất là từ ông Thủ tướng Phạm Minh Chính. Ông Chính thường làm việc theo kiểu đưa ra nghị định chạy theo đuôi vấn đề đã xảy ra, như trong các vụ giải quyết thiếu điện, giải quyết khan hiếm thuốc và vật tư y tế, hay giải quyết khan hiếm Covid vắc-xin chỉ sau khi biến thể lây lan nhanh làm tăng số người bệnh trên nhiều vùng của đất nước. Cách ông Chính làm cũng giống cách ổng nói… “Mẹ nó, đụng đâu làm đó, có sợ gì!” [2]

Bài học từ Phương thức Novo Nordisk áp dụng vào hoàn cảnh đất nước là lấy dân làm chủ đạo, xây dựng những giá trị lâu dài và làm việc bền vững để duy trì những giá trị đó, không làm việc theo văn hóa mì ăn liền và cách làm việc theo kiểu đụng đâu làm đó.

Trên khắp các nước phát triển, nhiều người Việt tỵ nạn cộng sản đã và đang làm việc trong các ngành sản xuất y dược và y khoa với kỹ năng không thua gì những người dân của các nước phát triển này. Tiềm năng của dân mình rất lớn, thế thì tại sao dân nghèo bên nhà phải khốn đốn.

Tôi xin dùng câu nói của nhà nghiên cứu Nguyễn Quốc Trí ở Sài Gòn để tạm trả lời câu hỏi “Làm sao cho dân tôi giàu”. Ông Trí so sánh Việt Nam với Indonesia – một nước đang phát triển – và những ý kiến của ông ấy cũng hoàn toàn thích ứng với việc so sánh Việt Nam với các nước đã phát triển.

“Ngày còn đi du học, tôi thấy những bạn bè Indonesia thường ít được đánh giá cao như sinh viên Việt Nam và Ấn Độ. Nhưng rõ ràng là thể chế của Indonesia hiện tại tốt hơn hẳn Việt Nam.” [3]

Để trả lời câu hỏi “làm sao cho dân tôi giàu”, nói trắng ra là cần làm tàn hình cái thể chế Nhà nước độc đảng hiện nay để dân tôi có cuộc sống ấm no và hạnh phúc.

________________

Tham khảo:

1. Eshe Nelson. It Introduced Ozempic to the World. Now It Must Remake Itself. The New York Times 20/04/2024; Available from: https://www.nytimes.com/2024/04/20/business/ozempic-novo-nordisk-wegovy.html.

2. VNTB. Phạm Đình Bá – Thủ tướng thợ đụng. 11/06/2023; Available from: https://vietnamthoibao.org/vntb-thu-tuong-tho-dung/.

3. RFA. Thấy gì từ việc CEO các tập đoàn công nghệ đến Việt Nam ca tụng rồi sang Indonesia đầu tư? 19/04/2024; Available from: https://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/what-can-see-from-ceos-of-technology-corporations-coming-to-vietnam-to-praise-and-then-going-to-indonesia-to-invest-04192024145653.html.

Wednesday, December 6, 2023

Đạo đức xã hội xuống cấp do đâu?

 Dương Quốc Chính-6-12-2023

Việc học sinh mất dạy không phải chỉ lỗi của nền giáo dục đâu, mà bọn trẻ con cấp 1-2 thì gia đình dạy là chính. Nhà trường vẫn là thứ yếu về giáo dục đạo đức. Càng lớp nhỏ thì cô giáo còn có chút vai trò dạy đạo đức chứ càng lên cao thì càng ít và ở cấp đại học và sau đại học thì hầu như vai trò giáo dục đạo đức là bằng không, thậm chí còn âm. Vì nhiều khi giáo viên dạy sinh viên đút lót, đổi tình lấy điểm…

Mấy vụ học sinh đánh nhau, bắt nạt học đường. Giờ là bắt nạt cả cô giáo, nó thuộc phạm trù đạo đức. Bây giờ vùng quê hay vùng ven, hay các khu vực dân lao động ở nhiều thì càng nát. Vì bố mẹ vất vả, ít học, chẳng có thời gian dạy con hoặc dạy con mất dạy thêm thông qua sự mất dạy của chính bố mẹ (do nghề nghiệp tạo ra).

Xã hội Việt Nam và Trung Quốc dễ giống nhau ở chỗ vô đạo (không có tôn giáo) và nền tảng đạo đức xuống cấp. Chính ra thời phong kiến, người ta còn nhiều rào cản đạo đức hơn bây giờ. Bây giờ rào cản răn đe hành vi con người chủ yếu chỉ còn là pháp luật mà thôi. Nhưng lẽ ra một xã hội văn minh cần có thêm rào cản đạo đức xã hội và tôn giáo nữa thì con người mới có thể giữ được lề thói.

Thời phong kiến người ta còn sự ràng buộc bởi đạo đức Nho giáo. Lưu ý là Nho giáo không chỉ về quy tắc chính trị mà cả đạo đức. Tất nhiên đến giờ nhiều cái hủ lậu nhưng vẫn còn nhiều giá trị đạo đức. Ví dụ như răn dạy về quân tử và tiểu nhân, đạo làm vợ, làm chồng, làm con, làm thầy, trò.

Ngoài ra thì còn đạo Phật, Công giáo… cũng dạy đạo đức rất nhiều, cơ bản cũng hướng thiện. Nông thôn xưa còn có hương ước và lệ làng, cũng là thứ rào cản đạo đức theo chuẩn mực thôn quê, cũng dựa trên nền tảng Nho giáo. Dân người ta sợ lệ làng hơn cả luật vua. Sợ bị làng xóm chê cười, nên cũng không dám làm điều xấu, thất đức. Kiểu gọt đầu bôi vôi nghe nó hủ lậu thật nhưng cũng đỡ khoản chịch dạo này kia.

Nhưng từ ngày cách mạng thành công, lật đổ cmn hết cả các nền tảng nói trên, thì xã hội chỉ còn rào cản bằng điều lệ đảng (hồi đầu còn có rất ít luật, nghị quyết dùng thay luật) và rơi rớt lại chút ít nề nếp gia phong của một số dòng họ lớn. Nên tạm gọi hồi đó theo cái gọi là nền đạo đức XHCN (đạo đức cách mạng), kiểu mỗi người làm việc bằng hai, thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu làm nô lệ… Giáo dân lúc nguy cấp thì lạy Chúa, Phật tử thì mô Phật, còn con người XHCN sẽ hô khẩu hiệu, gọi tên Bác 3 lần!

Nhưng cái làm đảo lộn giá trị xã hội lớn nhất là tư duy cào bằng, cào bằng không chỉ về kinh tế mà cào bằng cả về đạo đức và sự tôn trọng lẫn nhau. Mọi người đều bình đẳng, không có tôn ti trật tự thời phong kiến nữa. Bần nông có thể chỉ mặt chửi địa chủ. Công nhân, thợ thuyền, buôn bán nhỏ có thể chỉ mặt chửi tư sản, giáo sư, nhân danh sự bình đẳng. Dưới chế độ ta, trí thức còn không bằng cục phân (lời Lenin và Mao).

Rồi chuyện đấu tố thời cải cách ruộng đất mới thực sự “đào tận gốc, trốc tận rễ” nền tảng tôn ti cũ. Con cái đấu tố bố mẹ, người làm đấu tố chủ, ân nhân cũ… Giá trị đạo đức cũ bị triệt hạ tận gốc rễ. Bây giờ anh em che’m giê’t nhau để tranh giành đất đai không còn là hiếm. Con đô’t cả mẹ nữa…

Rồi đến khi đổi mới, xã hội trở nên xôi thịt hơn, thì đồng tiền nó bẻ lái hết cả giá trị xã hội. Mới sinh ra sự mục nát như giờ. Tiền bạc, lợi ích nó là động lực phát triển của Chủ nghĩa Tư bản. Nhưng Chủ nghĩa Tư bản nó không bị mục ruỗng nền tảng đạo đức vì nó còn duy trì tôn giáo và tôn ti trên dưới của xã hội và quan trọng nhất là pháp luật nó nghiêm minh và độc lập. Còn Việt Nam và Trung Quốc  hiện nay thì đang có đủ tật xấu của Cộng sản và Tư bản. Nhưng luật lại không thể nghiêm vì có nhiều kẻ được ngồi trên luật.

Tổng quan về đạo đức xã hội nó đang là như vậy. Nên đừng vội chỉ trách thầy cô giáo. Họ cũng chỉ là những tế bào của xã hội mà thôi. Tổng thể xuống cấp thì các tế bào cũng sinh bệnh cả.

Trong một tổng thể như vậy, điểm yếu nhất về nền tảng đạo đức là giai cấp cần lao. Nên mấy trường lớp kể trên mới lắm học sinh mất dạy thế. Như bạn của con mình, có đứa hay chửi bậy, là mình hỏi con ngay, bố mẹ bạn làm nghề gì? Y như rằng, là buôn bán vặt, chắc chửi bậy hàng ngày. Nói thế không phải là phân biệt giai cấp. Cũng có người này người kia, nhưng đa số sẽ là vậy. Mình phải đe con là đề phòng bạn rủ rê chơi bời, chứ không cấm nó chơi chung.

Tại sao Đảng che giấu nguyên nhân cơ bản của tham nhũng

 Nguyễn Đình Cống   

(VNTB) – Bản chất độc tài chưa đủ để tạo ra tham nhũng mà phải là độc tài của những người kém trí tuệ và tham lam.   

 Cứ mỗi đợt lò của ông Nguyễn Phú Trọng nhập thêm vài súc củi gộc, lần sau lớn hơn lần trước thì một số người hân hoan, phấn khởi, ca ngợi, hy vọng, nhưng một số khác lại thờ ơ vì cho rằng ông Trọng không thật lòng chống tham nhũng, nên vừa đốt củi này lại để củi mọc lên ở chỗ khác. Vì sao vậy?. Vì một lý do nào đó mà vô tình hay cố ý không vạch ra nguyên nhân cơ bản (NNCB) làm phát sinh, phát triển tham nhũng. Ban do ông Trọng lập ra có tên “chỉ đạo phòng chống tham nhũng, tiêu cực”, nhưng chẳng thấy phòng được gì, chỉ thấy tìm củi để đốt. Mà phải chăng, tham nhũng chỉ mới là tiêu chuẩn cần nhưng chưa đủ để đưa vào lò. 

Tôi không đồng ý với một số người cho rằng “Nguyên nhân cơ bản của nạn tham nhũng là sự tự diễn biến, tự chuyển hóa làm suy thoái tư tưởng chính trị dẫn đến thoái hóa đạo đức, lối sống của một số cán bộ các cấp các ngành”(1). 

Trong văn bản Ban chỉ đạo trung ương về phòng chống tham nhũng, tiêu cực không nêu nhiệm vụ tìm nguyên nhân tham nhũng và ở mục 1 điều 3 có ghi :    

Điều 3. Phạm vi chỉ đạo của Ban Chỉ đạo  

1.Chỉ đạo công tác phòng, chống tham nhũng; phòng, chống tiêu cực, trọng tâm là suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp của các tổ chức trong hệ thống chính trị trong phạm vi cả nước. 

Theo Đảng, suy thoái về tư tưởng chính trị là nghi ngờ chủ nghĩa Mác Lê (CNML) và lý tưởng cộng sản (LTCS), là đòi đa nguyên, đòi thoát ly sự lãnh đạo toàn diện và tuyệt đối của Đảng, là phủ nhận vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân và đòi thành lập các tổ chức xã hội dân sự v.v…,. Đảng cho rằng đó là tiêu cực lớn và rất lo sợ điều này, phải xem việc chống lại nó là trọng tâm. 

Xin tạm chưa bàn đến quan điểm của  Đảng là đúng hay sai, chỉ biết rằng những điều vừa kể là sự nhận thức lại về CNML và LTCS của một số người. Trước đây họ nhận thức rằng bản chất CNML là đúng, là tốt, LTCS là đáng tôn thờ thì bây giờ, qua kiểm nghiệm thấy rằng nó khác xa chứ không phải như thế. Thực tế chứng tỏ rằng, sự nhận thức lại bất kỳ việc gì, thường là đúng. Đảng đang ra sức chống người có nhận thức lại, kết tội họ “tự diễn biến, tự chuyển hóa”. Việc đó là trái lẽ tự nhiên. 

Đọc kỹ đoạn trên thấy rằng kết luận (1) chưa phải là NNCB mà chỉ là nguyên nhân gần. Dùng A>>B để ký hiệu “A là nguyên nhân, sinh ra B là kết quả”. Trong chuỗi A>>B>>C>> ….>>M>>N, khi truy từ A sinh ra B cho đến N, là truy xuôi, từ nguyên nhân ra kết quả, còn truy từ N ra M cho đến A là truy ngược, từ kết quả tìm nguyên nhân. Có M>>N rồi, cần hỏi tiếp, cái gì làm sinh ra M. Trong việc truy ngược này  sẽ  truy được nguyên nhân gần đến nguyên nhân cơ bản, giống như lần theo các cành cây, từ cành bé đến cành lớn để tìm gốc rễ. Truy ngược, đến một lúc thấy tạm đủ, không cần truy tiếp hoặc không thể tìm được câu trả lời mà phải công nhận là “Trời sinh ra thế” (Ngẫm hay muôn sự tại Trời- Truyện Kiều) thì có thể dừng lại và xem đó là NNCB. 

Mà một kết quả N thường không phải chỉ do một nguyên nhân M mà là có sự kết hợp giữa nguyên nhân M1 và nguyên nhân M2 trong đó một cái được gọi là nhân, cái kia là duyên. Thí dụ một đám cháy, do chập điện tạo ra tia lửa (nhân), nó chạm vào vật cháy ngay được (duyên) mới xảy ra đám cháy. 

 Để đề phòng, khắc phục, tiến tới xóa bỏ được một tai họa thì phải tìm cho được NNCB, còn nếu chỉ tìm thấy nguyên nhân gần mà tập trung vào chữa nó thì giống như bệnh trong tủy sống làm da bị ngứa  mà chỉ gãi ngoài da, gãi chỗ này chưa xong đã ngứa chỗ khác. Tìm ra nguyên nhân gần khá dễ. Nhưng khi Đảng tuyên bố nguyên nhân (1) thì nhiều kẻ a dua đã vội ca ngợi và reo lên “Tìm thấy rồi”. 

Phân tích mấy điều trình bày ở trên có thể vạch ra một số ngụy biện. Thứ nhất là ngụy biện kiểu “vàng thau lẫn lộn” bằng cách ghép người tự diễn biến về tư tưởng với người thoái hóa đạo đức. Hai loại người này đều bị Đảng chống lại, nhưng cho rằng từ tự diễn biến về tư tưởng chính trị sẽ chuyển thành thoái hóa đạo đức là một sự vu cáo. Trong thực tế có thể tìm thấy một vài người như thế, nhưng đó không phải là tất yếu. Đại diện cho những người tự diễn biến như các tướng Trần Độ, Đặng Kim Giang, Nguyễn Trọng Vĩnh, các ông Trần Xuân Bách, Hoàng Minh Chính, Chu Hảo, Nguyễn Đình Bin, Hà Sĩ Phu, Nguyên Ngọc, Nguyễn Hộ, Tống Văn Công, Phạm Đình Trọng, Tương Lai và nhiều trí thức phản biện khác, đã bị Đảng lên án hoặc trừng phạt. Họ là những người có đạo đức trong sáng, là những người yêu nước chân chính. Trộn tên của họ cùng với tên những ủy viên bộ chính trị, ủy viên BCH TƯ mà tham nhũng, đòi hối lộ là một thủ đoạn, nếu không phải đê hèn thì cũng chứng tỏ có trí tuệ quá thấp kém.

 Từ phân tích vừa nêu thì phải bỏ “tự diễn biến, tự chuyển hóa” về tư tưởng chính trị ra khỏi định nghĩa (1) và chỉ giữ lại :“Nguyên nhân của nạn tham nhũng là sự thoái hóa đạo đức, lối sống của một số cán bộ các cấp các ngành”(2) .  

Thứ hai, câu (2) vẫn chỉ là nguyên nhân gần mà chưa phải là NNCB, vì còn có thể hỏi và trả lời “Cái gì làm sinh ra sự thoái hóa đạo đức”. Cái đó là lòng tham có sẵn trong mỗi con người, là bản tính của con người, nó thuộc vào những yếu kém trong truyền thống chưa gột rửa được, và hình như không thể loại bỏ được, chỉ có thể hạn chế. Chứng cớ là người thuộc dân tộc nào, ở thời đại nào cũng có lòng tham, nhưng tham nhũng thì nơi này ít, nơi khác nhiều, lúc này ít, lúc khác nhiều. Ít hay nhiều lại phụ thuộc vào thể chể chính trị là dân chủ, quang minh hay độc tài, xảo trá; vào mức độ minh bạch, liêm khiết, uy tín của chính quyền. Cũng với những con người ấy nhưng với chính thể dân chủ, minh bạch thì nếu có tham nhũng cũng sẽ ít hơn (hoặc không có) so với thể chế độc tài, xảo trá, không minh bạch.  

Lòng tham của con người chỉ mới là một phần của NNCB tạo ra tham nhũng, tạm xem nó là nhân. Nó còn cần kết hợp với duyên là  thể chế độc tài, không minh bạch. Bản chất độc tài chưa đủ để tạo ra tham nhũng mà phải là độc tài của những người kém trí tuệ và tham lam.  

Độc tài ở Việt Nam hiện nay là chuyên chính vô sản, một thể chế độc tài toàn trị của đảng cộng sản, chưa từng có trong lịch sử trước khi có Liên xô, là độc tài của những người vừa kém trí tuệ, vừa tham lam, bắt toàn dân phải phục tùng.  Nó được dựng lên từ cách mạng và chiến tranh do Đảng lãnh đạo, được duy trì và củng cố bằng một số thủ đoạn. Một là bằng bạo lực của công an cùng hệ thống tư pháp do Đảng lập ra, sẵn sàng dẫm lên công lý, chà đạp nhân quyền. Đó là biện pháp làm cho người ta sợ, không dám làm, không dám nói. Hai là hoạt động của tuyên giáo với những thủ đoạn gây ra và phát triển lòng hận thù giai cấp, không dung tha những ý kiến phản biện; bằng những  lời ca ngợi CNML, LTCS , sự anh minh của Đảng cùng lãnh tụ . Ba là tạo ra “Giai cấp thống trị mới”, đó là các “nhóm lợi ích” gắn kết chặt chẽ giữa những người có quyền cao chức trọng trong chính quyền cộng sản với bọn “tư bản đỏ” là những người rất giàu, vừa nổi lên nhờ kết hợp  với nhóm có quyền, làm sân sau cho họ. Chinh giai cấp thống trị mới đã tạo ra một chế độ tư bản hoang dã, mang danh định hướng này nọ. 

Tôi đã khái quát hóa như sau : Nguyên nhân cơ bản của mọi tai họa mà nhân dân Việt Nam phải chịu hiện nay (trong đó có nạn tham nhũng) là sự kết hợp và cộng hưởng, một bên là những yếu kém của truyền thống dân tộc, một bên là chất độc hại trong CNML. 

 “Ngưu tầm ngưu, mã tầm mã”. 

 Lấy vài thí dụ. 1- Yếu kém của truyền thống như là dân trí chính trị thấp, dân chưa quen với sinh hoạt dân chủ mà quen với việc tin và sợ chính quyền, lại quen với cảnh “đèn nhà ai nhà ấy rạng”. Những yếu kém này rất thích hợp cho thể chế độc tài chuyên chính vô sản được dựng lên theo CNML, không minh bạch, không cho tự do ngôn luận, nơi các người có quyền vừa thiếu trí tuệ và tham lam bao che cho nhau, không để dân biết những việc làm gian dối của họ. 

2-Dân trí người Việt nói chung còn thấp, quen với việc lười suy nghĩ. Điều này dễ dàng kết hợp với chủ trương của những người truyền bá CNML rằng phải thống nhất và độc tôn tư tưởng. Mọi người không cần và không được có ý nghĩ khác với lãnh đạo vì có gì cần suy nghĩ thì lãnh đạo đã nghĩ và luôn luôn đúng, luôn luôn sáng suốt, người thường chỉ cần làm theo mà không được phản biện. Thế thì cần gì phải suy nghĩ cho mệt óc, giáo dục chỉ cần đào tạo ra loại người chỉ biết vâng lời. 

3- Bao dung là một nét tốt của văn hóa đối xử. Để có được tính bao dung cần có nền GD nhân bản cao. Nhưng ngược lại tật tranh giành, tước đoạt tài sản của người khác là thói xấu dễ lây lan, lại vẫn còn tồn tại trong một số người Việt. CNML chủ trương và đề cao dùng bạo lực trong đấu tranh giai cấp, là biện pháp dùng để cướp quyền và giữ ổn định chính trị, nó rất dễ kết hợp với tính cách hung bạo của một số người trong quần chúng cách mạng. 

Sự kết hợp và cộng hưởng là tự động, không có người chủ trương, không có ai lập kế hoạch và chỉ đạo, theo kiểu “Ngưu tầm ngưu, mã tầm mã”.  Nhưng phải có người chịu trách nhiệm. Đó là lãnh đạo của Đảng CS. Nếu xã hội VN không do Đảng CS kiên trì CNML thì lấy đâu ra những độc hại của nó để kết hợp với những yếu kém trong truyền thống. Nguyên nhân cơ bản phải được vạch ra để có phương hướng đúng trong việc phục hưng. 

Trong một cuộc hội thảo của Hội cựu giáo chức toàn quốc vào năm 2013 do Chủ tịch hội Phạm Minh Hạc chủ trì, bàn về “Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong giáo dục”, có vài đại biểu tham luận cho rằng cần gắn chặt tư tưởng Hồ chí Minh với CNML. Tôi đã công khai phát biểu, chỉ ra vắn tắt những độc hại của CNML, vậy để làm tốt việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh thì cần từ bỏ  CNML. Ý kiến đó tuy hồi ấy bị một số đại biểu không hiểu được, nhưng có nhiều đại biểu khác tỏ ra đồng tình. 

Tham nhũng, hối lộ bắt đầu từ việc đưa quà cáp, biếu xén có tác dụng tích cực như thứ dầu mỡ bôi trơn mà nguyên nhân gần là vì lương cán bộ thấp, đời sống khó khăn. 

 Tại sao lương thấp ? 

Lương của công chức VN cao hay thấp là ở hệ số: m = L / (LTT), (trong đó L là tiền lương tháng trung bình (thí dụ ở VN hiện nay là L=250 đô la), LTT là lương tối thiểu. Hệ số m dùng để tinh : L= m.LTT. Mỗi lần tăng lương cá nhân là tăng m, còn tăng lương đồng loạt là tăng LTT. Hệ số lương m chỉ phản ảnh lương của công chức trong nước so với nhau. Để có cái nhìn toàn diện hơn nên dùng hệ số : k = L/GDP là hệ số lương công chức, GDP là  thu nhập bình quân của xã hội trên đầu người. Có lẽ nước Cộng Hòa XHCN Việt Nam thuộc loại có k thấp nhất thế giới.  

Tại sao vậy?. Để trả lời phải quay về năm 1945. Lãnh đạo của Việt Minh, vì muốn lôi kéo nhiều người theo nên đã thực hiện một số việc nặng tính dân túy, trong đó có ba việc tạo ra lương thấp. Một là vì cướp chính quyền mà không kế thừa được những gì chính quyền cũ để lại, ngân khố trống rỗng, dù có tổ chức “Tuần lễ đồng, tuần lễ vàng” nhưng chỉ tạm đủ đút lót cho bọn Tàu Ô để chúng rút quân về, nhường chỗ cho quân Pháp. Thu ngân sách được đồng nào lại chủ yếu chi cho chiến  tranh. Hai là, muốn có tiền thì phải thu thuế, nhưng đã lỡ tuyên truyền rằng phải đánh đổ thực dân và phong kiến vì chúng thu nhiều thuế, bòn rút nhân dân đến xương tủy, nay cách mạng sẽ giảm hoặc bỏ thuế cho dân. Ba là dựa quá nhiều vào tinh thần của các cán bộ cách mạng, cho rằng cán bộ là đầy tớ dân, có trách nhiệm phục vụ dân, mà trong lúc ngân khố của chính phủ đang eo hẹp thì cán bộ phải biết thắt lưng buộc bụng. Lương của Chủ tịch nước, của thủ tướng chính phủ, cũng chỉ nhiều hơn lương của cán bộ một chút.  

Thực ra đây là một kiểu ngụy biện, vì thu nhập của cán bộ còn có những thứ được cung cấp, mà cán bộ càng cao thì cung cấp càng nhiều, đặc biệt là nhà đất, xe, đồ dùng sinh hoạt, lương thực, thực phẩm, thuốc men. Tôi biết một số người mà những thứ họ được cung cấp có giá trị bằng hàng chục lần tiền lương suốt đời. Đó là những người may mắn bậc trung. Còn nhiều người may mắn bậc cao thì  khi họ bán bất động sản được phân phối có thể thu nhiều trăm tỷ, gấp hàng trăm lần tiền lương. Đó là chưa kể  những vị còn có những bỗng lộc khác. Còn những vị tham nhũng thì không sao kể xiết.  

Nhưng không phải tất cả đều có may mắn. Tôi cũng có một số bạn là giáo sư, hầu như không được phân phối thứ gì có giá trị. Việc này thể hiện sự bất công của chế độ lương kèm phân phối. 

Khi kinh tế phát triển, chính phủ có tăng lương hàng loạt cho công chức, nhưng vẫn chưa đủ, chỉ tăng nhỏ giọt. Vì sao vậy. Vì sự phát triển về số lượng  của những người hưởng lương quá lớn. Hiện có trên một triệu sáu trăm ngàn giáo viên, còn người trong quân đội, công an và cơ quan nhà nước gồm ba hệ thống chồng chéo, dẫm đạp lên nhau (Đảng, chính quyền, mặt trận), người hưởng lương hưu, không biết bao nhiêu nữa. Nếu tăng lương tháng cho mỗi người một triệu thì mỗi năm ngân sách phải chi thêm nhiều chục ngàn tỷ

 Nhà nước kêu gọi giảm biên chế từ năm 1949 nhưng càng kêu gọi thì biên chế càng tăng vì giảm chỗ này thì chỗ khác phình ra do nạn tham nhũng quyền lực, một thứ tham nhũng gắn với chế độ, được ngụy trang là lòng tốt và còn tệ hại hơn tham nhũng vật chất. Đó là người có quyền tìm mọi cách đưa người thân quen vào biên chế, tở thành công chứa, hưởng lương. Tuy đồng lương ít ỏi, nhưng họ nhìn xa hơn, được hưởng lương hưu khi về già, được mang danh cán bộ nhà nước. Đưa được người vào biên chế rồi thì đưa tiếp họ vào Đảng và tìm cách tiến thân bằng “các thủ đoạn ranh ma”. 

Lại còn cách phân loại cơ quan theo số lượng cán bộ. Cán bộ càng đông thì cơ quan càng lớn và thủ trưởng có càng nhiều quyền nhiều lợi. Các thủ trưởng cơ hội và tham nhũng quyền lực tìm đủ mọi cách tăng số lượng cán bộ. 

Một cách làm tăng biên chế là lương èo uột, cán bộ làm việc cầm chừng, năng suất thấp nên phải tăng số lượng để bù chất lượng. Đây là hiệu ứng “vòng quanh đèn cù”

 Quay trở lại với tác dụng của dầu mỡ bôi trơn. Có bôi có trơn thật. Nhưng rồi lãnh đạo vì vô minh mà không thấy trước sự phát triển tai hại của thứ dầu mỡ này, hoặc cũng muốn dùng nó để trục lợi nên chỉ kêu gọi chống lại bằng lời chứ không hành động có hiệu quả. Muốn hành động có hiệu quả thì trong hai nguyên nhân cơ bản phải trừ bỏ hoặc hạn chế ít nhất một thứ. Mà bỏ được yếu kém của truyền thống thì quá khó, chỉ có thể khắc phục một cách chậm rãi, còn độc hại của CNML thì có thể từ bỏ nhanh hơn. Mà từ bỏ CNML thì lãnh đạo cao cấp của Đảng không muốn, làm như vậy khác nào tự phủ định, tự cầm dao cứa vào cổ mình, tự phá nát nhóm lợi ích, tự giải tán giai cấp mới mà vì nó phải tốn bao công sức, xương máu (của người khác) mới tạo nên được. Đó là lý do chính mà khi lò của ông Trọng đang đốt củi này thì nhiều củi khác vẫn mọc ra. Củi vẫn mọc vì nguyên nhân cơ bản vẫn chưa bị đụng đến. Phải chăng các nhà lý luận của Đảng chưa thấy. Không phải họ chưa thấy mà họ bị buộc phải ngụy biện để che giấu sự thật. Những người bị đặt dưới sự khống chế của Đảng, không có tự do tư tưởng, không thể nào tìm được đúng nguyên nhân cơ bản của tham nhũng tại Việt Nam hiện nay.


https://vietnamthoibao.org https://vietnamthoibao.org/vntb-tai-sao-dang-che-giau-nguyen-nhan-co-ban-cua-tham-nhung/ .