Showing posts with label XaHoi-DoiSong-VanHoa. Show all posts
Showing posts with label XaHoi-DoiSong-VanHoa. Show all posts

Sunday, February 12, 2017

Treo cổ trâu, chém lợn có nên xem là văn hóa?

 Mặc Lâm, biên tập viên RFA 2017-02-11  
Trò chơi cờ người trong một lễ hội mùa xuân hàng năm tại đình làng Triều Khúc, Hà Nội vào ngày 16 tháng 2 năm 2016.

 Trò chơi cờ người trong một lễ hội mùa xuân hàng năm tại đình làng Triều Khúc, Hà Nội vào ngày 16 tháng 2 năm 2016.  AFP photo
Trong thời gian lễ hội Tết vài năm qua, miền Bắc rộ lên những hình ảnh bị cho là quá bạo lực trong khi thực hiện các nghi lễ truyền thống. Hình ảnh một chú lợn được mang ra giữa làng, người đại diện cầm thanh đao thật dài chặt ngang mình nó, máu lợn được dân làng cầm tiền nhúng vào để lấy may mắn làm cho nhiều tổ chức văn hóa thế giới lên án vì quá dã man trong một nghi thức được xem là văn hóa.
Những hành động dã man
Năm nay người dân cả nước lại được xem những khúc phim video quay cảnh treo cổ chú trâu lên cây đến chết rồi sau đó dân làng xẻ thịt chia nhau. Hình ảnh con vật hiền lành dãy giụa khi bị xử tử đã gây không ít giận dữ trong dư luận và hàng ngàn ý kiến xuất hiện trên mạng xã hội cho thấy sự không đồng tình ngày càng cao và hầu như mọi ý kiến đều lên án một cách gay gắt, đôi khi đi tới chỗ cực đoan, đạp đổ.
Chưa hết, con trâu vốn là bạn của người nông dân từ nhỏ cho tới khi chết già, bị đem ra giữa làng cột chặt vào cột, một người cầm rìu bổ thằng vào sọ của nó. Trong khi còn đang loay hoay với chiếc lưỡi rìu trong óc, con vật đáng thương tiếp tục bị một người làng cầm rựa chặt phăng sợi gân chân khiến nó sụm xuống và lết trên mặt đất trước khi tắt thở. Hình ảnh gây sốc này không thể biện minh bằng bất cứ ngôn ngữ nào trong thời đại mà loài người cấm kỵ hành hạ những vật nuôi, kể cả con vật ấy được dùng vào việc giết thịt.
Tiến sĩ Mai Thanh Sơn, nhà nghiên cứu văn hóa đang công tác tại Viện Khoa học xã hội miền Trung và Tây Nguyên, tại Đà Nẵng cho biết:
Thật ra những lễ hội nó có những tính chất cá biệt như là chém lợn hoặc là treo cổ trâu. Ngay cả tại Tây nguyên những lễ hội ăn trâu thì đó là những lễ hội mang tính tiều vùng hoặc từng địa phương của làng thật ra nó không có gì mang tính man rợ cả. Trên thế giới có rất nhiều lễ hội liên quan đến việc sát sinh như lễ hội tàn sát cá voi ở Nhật chẳng hạn. Hoặc là ở vùng Bắc Âu cũng có lễ hội liên quan đến giết cá voi. Thật ra nó liên quan đến tín ngưỡng cổ xưa người ta dùng những con vật ấy làm vật hiến trưng, thay thế cho con người. Về truyền thống thì vật hiến trưng chết thế cho con người. Đấy là một cách lý giải. Cách lý giải thứ hai nó có tính chủ quan của các nhà nghiên cứu đó là những con vật ấy có tính thông linh giữa con người với trời đất tổ tiên.
Truyền thông
Báo chí là nơi lan truyền tất cả những hình ảnh không đẹp về cung cách tham gia lễ hội của quan chức và người dân. Trong những lễ hội có tính cách tâm linh như giật phết, xin ấn, hay ban phát lộc đã cho thấy hình ảnh những con người chồng đạp lên nhau để giành giật những thứ chỉ có ý nghĩa biểu tượng. Tất cả cách hành xử này đi tới kết luận của người quan sát rằng nền văn hóa lễ hội của Việt Nam đặc biệt tại miền Bắc đã tiến tới tận cùng của sự tha hóa nhân cách và điển hình cho sự tàn ác tiềm ẩn trong dân chúng.
000_838HW-400.jpg
Nam thanh niên Việt Nam tham gia lễ hội cướp phết hàng năm ở Phú Thọ hôm 20/2/2016. AFP photo
Nhận xét vai trò báo chí truyền thông trong cách đưa tin, TS Mai Thanh Sơn cho biết:
Câu chuyện ấy nó sẽ không là cái gì cả, không thành vấn đề nếu như nó chỉ trong phạm vi thôn làng thôi, thế nhưng trong câu chuyện này nó liên quan tới sự thổi phồng của báo chí. Nó liên quan đến việc can thiệp từ phía chính quyền. Liên quan đến sự dòm ngó, hiếu kỳ của số đông và bình phẩm từ bên ngoài để nó trở thành một vấn đề xã hội. Tuy nhiên những tục tranh cướp này khác trong những hội có tính chất mô phỏng lại việc đấu tranh giữa con người với thiên nhiên hay giữa các thể lực xã hội với nhau thì nó có từ xưa chứ không phải bây giờ mới có. Đặc biệt là với thông tin nhanh nhạy của các phương tiện nghe nhìn, rồi Internet thì nó trở thành những câu chuyện xã hội mà đôi khi người ta phê phán nó với cách phê phán của người ngoài cuộc.
Cá nhân tôi thấy rằng chuyện ấy cũng không có gì quá đáng cả, chuyện ấy hết sức bình thường. Tố cáo nó vô văn hóa là như thế này. Cái chính là những phương tiện mới phát sinh gần đây như tranh cướp ấn, tranh cướp lộc hay tranh cướp những linh vật trong các lễ hội như Hội Đền Gióng chằng hạn. . .những cái đó thật đáng phê phán. TS Trần Trọng Dương có viết một bài cho rằng đây là cuộc khủng hoảng các giá trị nhân văn và tôi cho rằng đây là một quan điểm rất đúng.
Khi chúng ta nhìn vào những gì mà báo chí gọi là tiêu cực hiện nay thì nó không hẳn hoàn toàn là tiêu cực và ta cần có một cái nhìn khách quan hơn. Với tư cách là một nhà nghiên cứu tôi nghĩ chúng ta cần khách quan trong việc nhìn nhận cái nào là cái tiêu cực, nó bắt đầu từ sự khủng hoàng giá trị nhân văn như TS Trần Trọng Dương nói mà chúng cần được phê phán. Cái gì là hiệu ứng số đông, phản cảm vô văn hóa. . .còn những cái gì liên quan đến tín ngưỡng của buôn làng, của cộng đồng có liên quan tới truyền thống cổ xưa thì người ta cần xem lại cách quản lý của nó dựa trên pháp luật. Quản lý nó phải dựa trên pháp luật chứ không phải dựa những phê phán hay dựa vào hiệu ứng số đông.
Sẽ không tái diễn?
Về mặt nhà nước, vai trò của các cơ quan văn hóa đã tỏ ra trách nhiệm khi UBND tỉnh Yên Bái ra lệnh cấm tục lệ treo cổ trâu trong những lần tới. Lễ hội chém lợn cũng bị ngay tại địa phương phản ảnh và người dân đã không còn tổ chức giữa làng như mọi năm mà khoanh vùng lại ở một nơi kín đáo hơn.
024_240899-400.jpg
Người dân đi lễ chùa trong ngày năm mới. Ảnh chụp tại một ngôi chùa ở thành phố Hồ Chí Minh hôm 11/3/2016. AFP photo
Nói về việc cấm đoán TS Mai Thanh Sơn cho biết:
Trong tất cả các bộ luật ấy thì chúng ta cần những tiêu chí rõ ràng cái nào nó phù hợp với những tiêu chí văn minh nhân loại cái nào phù hợp với nguyên lý cơ bản của quyền con người, cái nào phù hợp với nguyên tắc bảo tồn thiên nhiên thì chúng ta được phép bảo vệ, tôn vinh còn cái gì vi phạm những cái đó thì nhà nước phải đưa ra cái bộ luật quản lý cho phép hay không cho phép. Đấy là cái điều rất quan trọng
Các bộ luật Việt Nam hiện nay liên quan đến lễ hội liên quan đến chấp hành văn hóa tâm linh và liên quan đến các quyền con người về cơ bản nó còn nhiều lổ hỗng và chính vì thế cho nên đôi khi chúng ta phê phán không dựa trên các cơ sở về quyền con người hay các cơ sở luật pháp mà chủ yếu dựa vào cảm tính và hiệu ứng số đông đấy là những gì đang diễn ra tại Việt Nam
Một tin khác có lẽ quan trọng và ý nghĩa nhất lại xảy ra trên Tây nguyên khi có tới 90 làng của tộc người Cơ Tu bỏ tục đâm trâu, mặc dù truyền thống này không thể thiếu trong văn hóa của họ hàng trăm năm qua.
Người Cơ Tu tuy đâm trâu vào dịp lễ nhưng cách mà họ tổ chức đâm trâu khiến cho người Kinh phải tham khảo và nhất là các chuyên gia nghiên cứu văn hóa lễ hội khó thể xem đây là hình thái bạo lực qua cách mà họ đối xử với con trâu trước khi bị đâm giữa làng.
Theo báo Tuổi Trẻ ghi lại thì “đêm trước lễ đâm trâu người Cơ Tu thường làm lễ Nơơi, tức là lễ khóc tế trâu. Các cụ già thức đến sáng để khóc tế con trâu của mình. Nội dung tế trâu là nói lên câu chuyện đời ẩn uất, đau xót, khổ ải, cả đời lam lũ vẫn nghèo khó...
Cũng theo Tuổi Trẻ thì “khóc tế trâu là thể hiện lòng yêu thương con người với con người, thương trâu cả đời cực nhọc nay phải hiến xác thịt cuối cùng cho con người. Thường 5-6 người ngồi khóc tế thương tiếc trâu bên ngọn lửa cháy giữa sân làng với tiếng trống ngắt nhịp 1-2-1 đến khi trời sáng”.
Người Kinh không có những nghi thức tế nhị và nhân văn như thế. Con trâu bị treo cổ, bị bổ vào đầu bị chặt nhượng chân trong tiếng cười nói ồn ào phấn khích của đám đông, không ai để ý tới sự đau đớn của nó huống chi lòng biết ơn sự trắc ẩn công lao của nó đối với vựa thóc nhà mình.
Nhận xét về điều này TS Mai Thanh Sơn chia sẻ:
Việc phê phán văn hóa hay phê phán hiện tượng phản cảm vô văn hóa thì tôi luôn nghĩ rằng nó mang dấu ấn chủ quan. Cái mà mình cho là phản cảm thì cộng đồng người ta lại nghĩ khác. Cần những tiêu chí rõ ràng và cách quản lý lễ hội mà dựa trên luật pháp thì chúng ta phải đặt ra tiêu chí thế nào là phản cảm, Thế nào là những tiêu chí thuộc về văn hóa mà được phép thực hành còn những cái gì không thuộc tiêu chí văn hóa, tiêu chí quốc tế thì chúng ta không được phép thực hành.
Câu chuyện thứ ba mà tôi muốn nói đến là chúng ta nhìn nhận vấn đề dưới góc độ người Việt hay dưới góc độ của phương Tây thì chúng ta đều phải dựa trên một tiêu chí rất cơ bản đó là tiêu chí quyền về văn hóa, tiêu chí về nhân quyền. Trong 5 cái quyền cơ bản của con người có cái quyền về văn hóa. Nhà nước trước đây cấm các quyền văn hóa liên quan đến tâm linh thì chúng ta phê phán họ là vi phạm nhân quyền. Thế bây giờ nhà nước cho phép thực hành tái tạo hoặc là tái thực hiện lại quyền văn hóa tâm linh. Từ khi người ta khôi phục lại hoặc sáng tạo hay khôi phục nhân bản thì chúng ta lại cho là thái quá, đẩy từ thái cực này sang thái cực kia và rồi chúng ta nghĩ đến chuyện cấm. Ta quên điều này cấm hay không cấm anh phải dựa trên vấn đề rất cơ bản đấy là cái quyền về văn hóa của cá nhân và của các cộng đồng.
Câu chuyện đang đặt ra ở đây theo quan điểm của tôi thì chúng ta phải xác định, trước hết chúng ta phải tôn trọng cái quyền văn hóa. Thứ hai nữa không phải nhà nước cấm hay không cấm mà nhà nước phải dựa vào cái hệ thống luật pháp liên quan đến di sản, liên quan đến văn hóa, liên quan đến việc thực hành văn hóa.
Nhìn ở một khía cạnh khác về văn hóa, không thể kết luận đám đông một cách tùy tiện mà nên xem xét nội dung cùng ý nghĩa thật sự phía sau những nghi thức dã man khó chấp nhận trong thế kỷ 21, khi con người văn minh và tiếp cận nhiều hình ảnh nhân đạo hơn đặc biệt là đối với súc vật, không riêng một loại nào.
Theo TS Mai Thanh Sơn, người ta cần xem xét lại từng góc cạnh của vấn đề và đừng nên dựa vào cảm tính, ông chia sẻ:
Điều quan trọng nhất ở đây là nó luôn luôn dựa vào cảm tính. Nó luôn luôn chủ quan của người viết hoặc người quan sát và khi nó đưa ra rồi thì phản ứng của số đông bắt đầu hình thành lên những nhóm khác nhau nhưng người ta quên mất một điều rằng là những nhóm ấy nó chưa phải là đại diện cho bất kỳ một cái gì có tính cách chính thống cả nó chỉ là các nhóm xã hội không chính thức. Điều nó hơi bất cập ở Việt Nam đôi khi từ phía nhà cầm quyền lại dựa vào hiệu ứng số đông. Người ta quên mất là nhà cầm quyền điều hành đất nước phải dựa trên hiến pháp, luật pháp và hiến pháp luật pháp ấy phải phù hợp thông lệ quốc tế, nó phải phù hợp tuyên ngôn về nhân quyền và công ước quốc tế về quyền con người.
Cả hai thái độ đều có mặt tích cực và tiêu cực. Lựa chọn đúng bao giờ cũng khó khăn nhất là cho một hướng hành xử hợp lý về văn hóa truyền thống trong lễ hội, điều mà xã hội cần vài trăm năm để định hình không lẽ chỉ một vài năm để tiêu diệt hay cải cách chúng, nhất là những phạm trù tâm linh đầy tranh cãi?

Wednesday, February 1, 2017

Hồng ký ức, mai tâm tưởng, đào thực tại

Thục Trâm - Giai Phẩm Người Việt Xuân Đinh Dậu
Mang hoa vào chợ Tết. (Hình: Dân Huỳnh/Người Việt)
Nhớ những năm một chín tám mươi, Vườn Hồng Sa Ðéc nức tiếng một vùng. Miền Tây Nam Bộ địa hình đơn điệu, không có nhiều địa điểm thăm thú vui chơi. Vì vậy mà một nơi du xuân như Vườn Hồng càng có sức hút.
Hồi đó tôi sống ở Vĩnh Long. Vĩnh Long cách Sa Ðéc có hai chục cây số. Bây giờ thì thấy chẳng xa xôi gì. Nhưng với điều kiện sống hồi đó, đường sá thô sơ xe cộ thiếu thốn, với tuổi nhỏ học trò muốn đi đâu còn cần có người giám hộ, thì hai chục cây số cũng xa vời mộng tưởng. Hễ trong đám bạn trung học có đứa nào được ba má đưa đi chơi Tết Vườn Hồng về kể chuyện thì cả bọn cũng thích thú lây. Mà chỉ là nghe kể khơi khơi thôi, chứ làm gì có hình ảnh kỷ niệm nào minh họa.
Mãi đến khi tốt nghiệp đại học, đưa người yêu về thăm Vĩnh Long, tôi mới có một cơ duyên để lần đầu tiên, và cũng là duy nhất, tới Vườn Hồng. Tôi đã choáng ngợp trước bao nhiêu giống hồng quen lạ, đã ngạc nhiên trước thiết kế vườn hoa mang đặc trưng của miền nước lụt. Hoa được trồng vào chậu đặt trên giàn cao để phòng mùa nước nổi. Những tán hoa cao qua đầu người vây thành không gian riêng cho từng đôi nam thanh nữ tú.
Người yêu tôi là một giảng viên trẻ, còn say nghề. Chàng làm một bài tứ tuyệt viết bằng chữ Hán hẳn hoi vào cuốn sổ lưu niệm Vườn Hồng. Hơn hai chục năm rồi, tôi chỉ còn nhớ hai câu đầu:
“Kim niên ngã đáo hồng hoa viênHòa sắc hòa thanh tuế thiếu niên”
Lúc đó tôi đã mơ mộng là vài mươi năm sau quay lại, tìm được trang lưu niệm xưa, hồi tưởng lại nụ hôn dưới hoa, thật thi vị biết bao!
Nhưng sự đời dâu bể. Ông Tư Tôn, người sáng lập Vườn Hồng, người đã từng xuất hiện trong những trang văn Sơn Nam, qua đời đã hơn mười năm. Nghe nói các con cháu của ông vì có tranh chấp trong việc sử dụng đất mà không duy trì Vườn Hồng nữa. Có lần tình cờ đọc báo, nghe con trai ông nói vẫn còn giữ những cuốn sổ lưu niệm xưa và mơ ước một ngày khôi phục thương hiệu hoa mà người cha từng dày công gầy dựng. Thốt nhiên tôi tự hỏi liệu đã có ai biết chữ Hán đến Vườn Hồng, chia sẻ thông điệp ngày xanh của chúng tôi? Hay nó vẫn là mật ngữ bị bỏ quên mấy chục năm dài?
Hùm chết để da. Vườn Hồng không còn nhưng cái tên đường Vườn Hồng thì vẫn còn đó. Ở một đất nước mà lịch sử luôn đổ bóng lên hiện tại, mỗi con đường mang tên một danh nhân, thì Vườn Hồng được đặt tên đường quả là một sự hiếm hoi, vô tình mang âm hưởng cách đặt tên đường của… Hoa Kỳ vậy.
Hậu duệ nhà ông Tư Tôn không gìn giữ được vườn hoa gia đình, nhưng ý tưởng trồng hoa của ông thì lại được nhân rộng trong cả vùng, để bây giờ Sa Ðéc có một làng hoa Tân Qui Ðông. Trong thời kỳ mới, giao thông phát triển, truyền thông bùng nổ, tiếng lành Tân Qui Ðông đồn xa ra khỏi miền lục tỉnh. Nhiều bạn trẻ Sài Gòn vượt hơn trăm cây số về thưởng hoa mỗi mùa chớm Tết, mà đi bằng xe bốn bánh hẳn hoi chứ không phải lóc cóc xe đạp gập ghềnh gắn máy như dân miền Tây lân cận chúng tôi ngày xửa ngày xưa.
Khách thập phương tìm tới Tân Qui Ðông, và hoa Tân Qui Ðông cũng được vận chuyển đến mọi miền. Mỗi năm lại có những giống hoa mới được du nhập, lai tạo và tung ra thị trường. Hoa Tân Qui Ðông bây giờ đa dạng phong phú lắm, chứ không chỉ có mỗi nàng hồng kiêu sa. Thế nhưng loài hoa biểu tượng của xuân phương Nam là hoa mai lại không thể tìm thấy ở nơi này.
Hồng ký ức, mai tâm tưởng, đào thực tại
Mai vàng miền Nam. (Hình: Dân Huỳnh/Người Việt)
Người yêu đi Vườn Hồng từ lâu đã là chồng, vẫn miệt mài với cổ văn, cổ ngữ. Có lần chàng khảo cứu bài thơ Phiếu Hữu Mai (Mai Rụng) trong Kinh Thi, chỉ ra rằng cây mai trong thi họa Trung Hoa, nổi tiếng nhất là hình tượng nhành mai trên tuyết, không phải là cây mai vàng Việt Nam. Mai vàng là thực vật nhiệt đới, không chịu được cái lạnh phương Bắc, lại nở hoa đúng vào dịp Tết. Trong khi mai Trung Quốc nở hoa mùa Ðông, nên mới trở thành biểu tượng cho đức kiên cường của người quân tử. Tên gọi đồng âm của hai giống mai đã gây nhầm lẫn không ít.
Tôi dân miền Tây, tính tình hời hợt, không tìm hiểu sâu xa như chồng. Nhắc tới hoa mai, chỉ nghĩ ngay tới… tuồng cải lương nổi tiếng Tiếng hạc trong trăng. “Giống như là một cành mai. Tới độ trổ bông, đừng ai quá bận lòng. Hỏi sao trên cành không còn lá điểm. Vì đó là tâm sự của bông mai khi mở mắt chào đời.” Ðó là lớp cao trào, đã lấy nhiều nước mắt của bao nhiêu thế hệ khán thính giả miền Nam bởi sự hy sinh to lớn mà âm thầm trong tình phụ tử thể hiện qua chu trình sinh học bình thường của cây mai. Nhưng nếu chồng tôi mà coi tuồng này thế nào cũng phê bình mấy ông soạn giả lộng giả thành chân, đem triết lý về cây mai vàng Việt Nam đặt vào miệng một nhân vật kiếm sĩ xứ Phù Tang.
Cái thời coi Tiếng Hạc Trong Trăng đó, tôi thích nhất là đi chợ mua mai với ba tôi những ngày giáp Tết. Thời đó chưa có phong trào chơi mai nguyên chậu, hay nói đúng hơn là do mức sống chưa cho phép. Từng cô từng chị, thậm chí có cả em nữa, rõ nét quê mùa, hai tay cầm mấy cành mai đầy nụ giơ cao quá đầu đi len lỏi vào dòng khách du xuân rao bán. Sự tuềnh toàng của họ đối lập hoàn toàn với sự tươm tất của khách du xuân, như hai mảng màu sáng tối cho bức tranh xuân được vẹn toàn.
Cành mai đẹp nhất mà tôi từng mua được không phải là đi với ba mà là đi với chồng vào cái Tết đầu tiên sau đám cưới. Cành mai năm đó đặc biệt không phải vì thế cây độc đáo hay vì trổ nhiều hoa mà là vì trổ hoa đúng lúc. Vợ chồng tôi đã thức trắng đêm ba mươi xem mai nở, không biết đã sánh được với cái thú xem hoa thủy tiên của các cụ ngày xưa chưa. Mai mua về còn nụ, đến giao thừa bắt đầu le lưỡi, khoảng hai ba giờ sáng hàm tiếu, và đến sáng mồng một thì mãn khai. Xem hoa mà như cảm nhận được thời gian trôi, được năm mới tới, mà suy ngẫm về ý nghĩa của chữ thời. Cành mai nào lại không một lần nở, nhưng nếu nở được đúng thời thì giá trị được nhân lên gấp nhiều lần. Làm sao chọn được đúng thời để những thành tựu cuộc đời thêm phần rực rỡ?
Bây giờ thì chơi mai nguyên gốc đã phổ biến, nhưng người ta không mua đứt như ngày xưa nữa. Với những gốc mai thường thường bậc trung, người mua chưng xong một mùa Tết, ra Giêng đem gửi lại cho chủ vườn và trả tiền chăm sóc, sang năm lại chở về chưng tiếp. Còn những cội mai quí giá đắt tiền thì người ta chỉ thuê mấy ngày xuân. Chẳng khác nào các vườn mai đã kết nối vào thế giới ảo đúng gu của thời đại nối mạng toàn cầu.
Cái ảo của những chậu mai đi thuê dù sao cũng là cái thật tạm thời. Người ta vẫn có cây mai hiện hữu dù trong mấy ngày ngắn ngủi. Còn hoa mai đối với tôi bây giờ đã hoàn toàn là ảo. Hơn mười năm ở Mỹ là chừng đó thời gian tôi không nhìn thấy hoa mai. Không phải ở Mỹ không có hoa mai, nhưng cũng không phải chỗ nào cũng có. Tôi không sống ở những tiểu bang nắng ấm. Tết âm lịch luôn rơi vào những ngày Ðông lạnh nhất. Mai không có mặc dầu, cộng đồng người Việt khắp nơi vẫn có hội hoa xuân.
Hồng ký ức, mai tâm tưởng, đào thực tại
Hoa anh đào Hoa Thịnh Ðốn. (Hình: Dân Huỳnh/Người Việt)
Trời lạnh, hội xuân tổ chức trong nhà, ở một trung tâm hội nghị hay một trường học nào đó, vào một ngày Chủ Nhật cận Tết. Những tiết mục phổ biến thường là mua bán hoa và bánh mứt, ẩm thực dân tộc, văn nghệ mừng xuân, bầu cua cá cọp, thi người đẹp áo dài. Ở chỗ tôi người ta nhỏ to rằng ra siêu thị bán sỉ Costco mua một chậu hoa cúc có dăm bảy đồng, về bọc giấy điều dán thêm chữ phúc chữ thọ gì đó, rồi đem tới bán ở hội xuân của người Việt, một vốn bốn lời. Ai cũng biết tỏng, mà gian hàng hoa cúc ở hội xuân vẫn có người mua. Người ta đâu chỉ mua hoa, mà mua cái cảm giác được đắm chìm trong một không gian Việt, nghe tiếng Việt, ngắm áo dài, nao nức chờ xuân. Thoáng chốc thôi, rồi ngày hết, rời hội xuân, tiếp tục cuộc mưu sinh thường nhật.
Tết của người Việt rơi vào mùa Ðông, nên chỉ là một mùa xuân ảo, chỉ có trên lịch và trong lòng người Việt mà thôi. Còn tiết xuân thật sự nơi ta đang sống thì đến muộn hơn ngoài một tháng. Nếu hoa là nét đặc trưng nhất của thiên nhiên mùa xuân thì ở Mỹ không đâu xuân bằng Hoa Thịnh Ðốn, nơi có hoa anh đào và lễ hội hoa anh đào nổi tiếng thu hút du khách khắp nơi mỗi đầu Tháng Tư. Hoa anh đào là quốc hoa Nhật Bản, vượt trùng dương tới Hoa Thịnh Ðốn như là quà tặng của Nhật Bản cho nước Mỹ, để bây giờ hàng năm hậu thế có dịp kỷ niệm lễ hội hoa anh đào biểu dương tình hữu nghị Mỹ-Nhật.
Lễ hội hoa anh đào kéo dài khoảng ba tuần, với nhiều hoạt động biểu diễn, vui chơi, ẩm thực phong phú, bàng bạc màu sắc văn hóa Phù Tang. Lễ hội mấy tuần, nhưng hoa nở có mấy ngày. Du khách thập phương đổ về thưởng hoa, không phải lúc nào cũng may mắn toại nguyên. Sớm một chút thì hoa chưa rộ, mà trễ một chút thì hoa đã tàn. Những đóa hoa trắng hồng phơn phớt mong manh lắm, chỉ một ngày trở gió là đã trải thảm hoa đầy gốc.
Mùa hoa anh đào là đặc trưng của cả vùng. Anh đào có nhiều giống, dạng hoa đơn kép màu sắc trắng hồng có khác biệt, thời gian nở hoa cũng xê xích đôi ngày. Hoa tập trung ở quảng trường tháp Bút Chì, đồng thời rải rác ở khắp noi, hiện diện trong sân nhiều nhà dân. Ngược dòng du khách đổ về tháp Bút Chì, dân địa phương đến làng đào Kenwood. Ðào Kenwood toàn là gốc cổ thụ mấy người ôm không xuể. Thân xấu xí xù xì mà hoa mong manh tha thướt. Tôi chợt nhớ tuồng cải lương năm xưa, lẽ ra các soạn giả nên tìm một triết lý về hoa anh đào cho nhân vật kiếm sĩ mới đúng.
Sống ở thủ đô đã lâu nhưng lòng tôi vẫn nao nức mỗi mùa anh đào nở. Các con trai tôi càm ràm: mẹ à, xem anh đào một lần là đủ rồi, năm nào lại không nở hoa y chang như vậy. Chúng nó còn trẻ, chưa trải sự đời, không hiểu được những tâm tình nhìn hoa vẫn nở y chang mà người năm trước năm sau không gặp lại.
Chồng tôi nửa đùa nửa thật: chà, sống ở nước Mỹ thiên đường rồi, còn muốn tìm tới tiên cảnh nào nữa, coi chừng quên đường về như Từ Thức. Từ Thức lạc thiên thai, một ngày bằng trăm năm trần thế. Tôi lạc giữa thiên đường Mỹ quốc, giữa đào viên Hoa Thịnh Ðốn, tuy vẫn xài chung một thứ lịch với Việt Nam, nhưng thời gian lại không trôi cùng tốc độ. So sánh đồng lương làm ra, so sánh những biến cố xảy đến thì một năm ở Mỹ có khi bằng dăm bảy, thậm chí là mười năm ở Việt Nam. Ðể đến một ngày về lại, dù thân bằng quyến thuộc còn đầy đủ, nhưng lại hoàn toàn cách biệt trong tư tưởng, nếp nghĩ, cách làm, chắc cũng ngơ ngác kém chi Từ Thức.
Thôi thì cứ để Vườn Hồng thắm mãi trong ký ức, mai vàng khoe sắc trong tâm tưởng, mà chấp nhận thực tại hôm nay phơn phớt sắc anh đào.

Saturday, November 19, 2016

Dân mua 800 con vịt chết, dàn đèn 24 tỷ tan hoang...

(BáoĐấtViệt) - Câu chuyện người dân ở Long An mua giúp 800 con vịt chết để giúp đỡ một người nuôi vịt bị lật xe tải khiến cư dân mạng cảm động.

Dan mua 800 con vit chet, dan den 24 ty tan hoang...
Người dân góp tiền mua vịt chết để giúp đỡ chiếc xe bị nạn. Ảnh: danviet
Vài tuần trước, câu chuyện một chiếc xe tải đi qua địa phận Bình Định bị cháy, người dân ra hôi của lấy đi hàng hóa trên xe khiến dư luận bức xúc. Tuy nhiên, vừa mới hôm qua, 1 vụ tai nạn xe tải chở vịt ở Long An khiến 800 con vịt chết ngộp văng ra đường được người dân mua giúp đang khiến mạng xã hội cảm động.
Báo Dân Việt cho biết, khoảng 6 giờ 20 sáng 17/11, xe tải biển số 63C.023.59 chở gần 800 con vịt thịt nặng từ 2kg trở lên, xuất phát từ đồng ruộng khu vực Đan Mỹ thuộc địa bàn ấp Bình Đông, xã Mỹ Bình, huyện Tân Trụ, tỉnh Long An ra quốc lộ 1 thì gặp tai nạn. Xe bị lật nghiêng, vịt chết ngộp, chủ xe đứng khóc ròng vì số vịt trị giá cả trăm triệu đồng coi như mất trắng.
Chứng kiến cảnh tượng đó, người dân chẳng những không hôi vịt mà còn rủ nhau mua giúp chủ xe với giá 20.000 đồng/con vịt chết để giúp khắc phục bớt phần nào hậu quả. Có chị còn đứng ra thu tiền hộ rồi giao lại cho chủ xe, không quản quần áo lấm bùn, mùi vịt chết hôi hám.
Câu chuyện thật đẹp về tình người khiến mạng xã hội cảm động với hàng ngàn lượt chia sẻ. Chuyện người dân tự đứng ra giúp đỡ nhau trong cơn hoạn nạn, sẻ chia những đồng bạc nghĩa tình để giúp 1 người không quen biết chẳng may gặp tai nạn đúng là một “chuyện hiếm” thời nay.
Một xã hội thiếu thốn và khao khát những câu chuyện đẹp, nên chỉ cần một hành động đẹp, một nghĩa cử, một lời nói tử tế cũng khiến chúng ta rưng rưng cảm động. Câu chuyện về việc người dân mua giúp 800 con vịt chết (mà chắc chắn là ăn không ngon, thậm chí có khi phải bỏ đi) cho thấy, trong xã hội, những người tốt quanh ta còn nhiều lắm.
Người Việt còn biết yêu thương đùm bọc nhau theo kiểu “lá rách ít đùm lá rách nhiều” thế này, là chúng ta còn có nhiều hy vọng ở tương lai. Bởi một khi để sự vô cảm lan tràn trong cộng đồng, khiến tình người nguội lạnh thì quả thực là một điều rất đáng lo ngại.
Dan mua 800 con vit chet, dan den 24 ty tan hoang...
Dàn đèn 24,5 tỷ giờ thành đống sắt vụn. Ảnh: vnexpress
Bên cạnh câu chuyện người dân ứng xử đẹp ở Long An, chúng ta vẫn có một câu chuyện buồn và rất đáng bức xúc ở Hải Phòng. Đó là sau hai năm hoạt động chập chờn, dự án đèn led nghệ thuật hàng chục tỷ đồng ở trung tâm thành phố Hải Phòng phải dỡ bỏ.
Dự án đèn led nghệ thuật trang trí trung tâm thành phố được UBND giao Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hải Phòng làm chủ đầu tư với tổng giá trị gần 24,5 tỷ đồng, trong đó riêng phần trang trí đường Lê Hồng Phong chiếm 14,65 tỷ. Tuy nhiên đến nay, sau gần 2 năm đi vào hoạt động, dàn đèn đã nhanh chóng xuống cấp, gây mất mỹ quan đô thị.
Báo Vnexpress dẫn lời ông Chánh văn phòng UBND thành phố Nguyễn Kim Pha cho biết, Ủy ban giao Sở Xây dựng tháo bỏ hệ thống đèn trang trí này, đồng thời Sở đang trình UBND thành phố thẩm định, phê duyệt đề án trang trí mới dịp Tết Nguyên đán 2017. 
Một dự án đèn trang trí đường phố trị giá 24,5 tỷ nhưng tuổi thọ quá ngắn, chỉ chưa đến 2 năm là dỡ bỏ, sau đó lại lập dự án trang trí mới cho tết 2017. Quá xót xa cho tiền ngân sách, tức là đóng góp từ tiền thuế của người dân.
Người dân thì vẫn có tấm lòng, vẫn có thể bỏ tiền ra để giúp người dưng trong cơn hoạn nạn. Thế nhưng những dự án “đốt tiền” kiểu như dàn đèn ở Hải Phòng hay những nhà máy ngàn tỷ đắp chiếu là những mất mát quá lớn mà họ không thể nào quyên góp để bù lại được.
  • Mi An

Sunday, March 13, 2016

Tướng Lê Mã Lương: 'Không hội đồng thẩm định nào thay thế được nhân chứng Gạc Ma'

Theo vnexpress- 13/3/2016 | 11:09 
Người chủ biên sách "Gạc Ma - Vòng tròn bất tử" khẳng định các tác giả của ấn phẩm này đã gặp trực tiếp nhân chứng lịch sử hải chiến Gạc Ma để ghi lại vụ việc.

Về vụ việc bản thảo sách Gạc Ma - Vòng tròn bất tử trong hai năm bị hơn 10 nhà xuất bản (NXB) từ chối cấp phép, mới đây, ông Chu Văn Hòa - Cục trưởng Cục xuất bản, in và phát hành - cho biết bản thảo sách vẫn còn nhiều sự kiện, chi tiết chưa được thẩm định. Các NXB muốn in cuốn này phải có hội đồng lịch sử thẩm định chuyên môn. Khi nhà xuất bản ra quyết định xuất bản, Cục Xuất bản, In và Phát hành sẽ có cơ sở để cấp xác nhận đăng ký đề tài sách.
tuong-le-ma-luong-khong-hoi-dong-thm-dinh-nao-thay-the-duoc-nhan-chung-gac-ma
Thiếu tướng Lê Mã Lương phát biểu trong buổi lễ cầu siêu tưởng niệm 64 liệt sĩ Gạc Ma và đấu giá tranh "Gạc Ma - Vòng tròn bất tử", diễn ra vào ngày 22/7/2015. Ông Lê Mã Lương là Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân, nguyên Giám đốc Bảo tàng Quân sự Việt Nam. Ảnh: Hải Duyên.
Trước những giải thích của Cục về việc cuốn sách chưa được cấp phép, Thiếu Tướng Lê Mã Lương - chủ biên sách - khẳng định các nhà báo đóng góp bài viết cho Gạc Ma - Vòng tròn bất tử đã lặn lội đi gặp trực tiếp các gia đình liệt sĩ Gạc Ma và các chiến sĩ bị Trung Quốc bắt giữ thời đó để ghi lại sự việc.
"Không ai hơn người trong cuộc có thể kể lại những gì họ đã trực tiếp trải qua, chứng kiến. Sau ngày 14/3/1988, trừ những người có mặt ở trận hải chiến, rất ít người bên ngoài biết tường tận sự việc. Không có một Hội đồng lịch sử nào có thể thay thế được nhân chứng lịch sử", ông nêu ý kiến.
Thiếu tướng nhận xét ý kiến của Cục xuất bản về việc lập Hội đồng lịch sử của Bộ quốc phòng và Bộ Tư lệnh Hải quân để thẩm định sách về Gạc Ma là một điều không tưởng. Nếu như vậy, chờ vài chục năm nữa hội đồng đó cũng chưa ra đời và cuốn sách cũng không thể xuất bản. "Tôi đã phục vụ và làm việc trong quân đội gần 50 năm và biết rất rõ ở Bộ Quốc phòng và Bộ Tư lệnh Hải quân không có hội đồng thẩm định đó", ông nói.
Theo người chủ biên, tất cả chi tiết và hình ảnh trong sách đều có trích nguồn, chính ông đã đọc và tìm hiểu về tính xác thực của các chi tiết. Trong phần phụ lục có những bài phân tích Luật Biển quốc tế và chiến lược quân sự của những nhà học giả, khoa học nước ngoài, cùng những tấm ảnh chụp đảo Gạc Ma năm 2014 được Trung Quốc bồi đắp, xây dựng đường băng, căn cứ quân sự chụp từ vệ tinh của Kyodo (Nhật Bản) và Philippines. Các thông tin, hình ảnh này đã được công bố trên các tờ báo uy tín của họ.
tuong-le-ma-luong-khong-hoi-dong-thm-dinh-nao-thay-the-duoc-nhan-chung-gac-ma-1
Bìa sách dự kiến "Gạc Ma - Vòng tròn bất tử" của First News .
Hiện First News vẫn tiếp tục tìm kiếm đơn vị xuất bản có thể liên kết thực hiện cuốn sách tri ân các liệt sĩ. "Chúng tôi xem đây là việc làm hết sức thiêng liêng và nghiêm túc. Chúng tôi sẽ đứng ra chịu trách nhiệm về nội dung sách. Nếu đơn vị xuất bản thẩm định, trao đổi về mặt nội dung, chúng tôi sẽ hợp tác chặt chẽ, sẵn sàng biên tập nội dung khi có yêu cầu chính đáng, hy vọng sách sớm ra mắt bạn đọc", ông Nguyễn Văn Phước - giám đốc công ty First News nói.
Ông Lê Mã Lương chia sẻ: "Nếu ai từng gặp, tiếp xúc với các gia đình liệt sĩ Gạc Ma và các cựu binh Gạc Ma bị Trung Quốc bắt mới hiểu được suốt 28 năm qua, họ đã sống vất vả vì những mất mát không thể bù đắp. Nhưng nỗi đau đớn lớn nhất của họ không phải là tiền bạc, vật chất mà là sự lãng quên".
Ngày 14/3/1988, khi các tàu vận tải cùng bộ đội Việt Nam đang thực hiện nhiệm vụ bảo vệ đảo Cô Lin, Gạc Ma và Len Đao thì nhiều tàu chiến Trung Quốc ngang ngược lao đến dùng pháo lớn bắn vào các tàu HQ-604 (đảo Gạc Ma), HQ-605 (đảo Len Đao) và HQ-505 (đảo Cô Lin). Quân Trung Quốc sau đó đổ bộ lên đảo Gạc Ma, nhổ cờ Việt Nam, nổ súng vào bộ đội.
64 chiến sĩ trên tàu HQ 604 đã hy sinh, 9 người bị Trung Quốc bắt giữ đưa về Quảng Đông. Từ năm 1988 đến nay, Trung Quốc đã xâm chiếm Gạc Ma. Việt Nam bảo vệ được Cô Lin và Len Đao.
Thất Sơn

Monday, February 22, 2016

Lễ hội tại Việt Nam ngày càng u mê, xô bồ và man rợ

HÀ NỘI (NV) - Những gì vừa xảy ra tại Hội Phết Hiền Quan (huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ) khiến nhiều người khuyến cáo phải xem lại các lễ hội trong Tháng Giêng Âm Lịch, đặc biệt là ở miền Bắc. 

Tranh cướp phết trong Hội Phết Hiền Quan. (Hình: Tuổi Trẻ)

Phết là một quả cầu được làm từ gốc tre. Vì phết được xem là vật đem lại may mắn nên Hội Phết là dịp mà những người dự hội giành với nhau để đoạt cho bằng được.

Trong Tháng Giêng Âm Lịch, tại miền Bắc Việt Nam có hai nơi tổ chức Hội Phết là Bản Giản, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc (mùng 7 Tháng Giêng Âm Lịch) và xã Hiền Quan, huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ (12 và 13 Tháng Giêng Âm Lịch).

Năm nào các Hội Phết cũng hỗn loạn và năm nay, mức độ hỗn loạn ở Hội Phết Hiền Quan khiến nhiều người, kể cả dân chúng ở đây kinh hoàng. Thanh niên ở xã Hiền Quan chia làm nhiều nhóm, lao vào tấn công nhau bằng cả tay chân, lẫn gậy gộc. Một số kẻ chạy trên đầu đám đông để giành cho bằng được “may mắn.” Cho đến nay, chưa có thống kê chính thức về số người bị thương nhưng báo chí Việt Nam khẳng định là rất nhiều.

Trong khoảng hai thập niên vừa qua, Tháng Giêng Âm Lịch - tháng của lễ hội dân gian - là thời điểm mà miền Bắc Việt Nam trở thành hỗn loạn vì rác rưởi của những đoàn người từ khắp nơi đổ về dự hội xả ra, vì trộm cắp, cướp giựt, lừa đảo. Đặc biệt là vì sự ái ngại khi càng ngày càng nhiều người nhận ra, các “lệ hội dân gian” đã trở thành dịp cho thấy sự u mê, man rợ trong đám đông càng ngày càng lớn.

Dù có nhiều khuyến cáo về tác hại nhưng năm nay, lễ hội chém lợn ở làng Ném Thượng, phường Khắc Niệm, thành phố Bắc Ninh, vẫn được tổ chức. Hàng ngàn con người tiếp tục háo hức chờ đợi hai người đàn ông dùng dao bén chặt đứt cổ hai con heo sống rồi lao vào chấm máu tươi bôi lên mặt, lên người hoặc dùng các vật dụng khác để thấm máu rồi giữ lại để cầu may.

Một trong những nạn nhân. (Hình: Tuổi Trẻ)

Hồi cuối Tháng Giêng vừa qua, Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam tái khẳng định sẽ không in và phát hành các loại tiền có mệnh giá 500 đồng, 1000 đồng và 2000 đồng để phục vụ dịp Tết Bính Thân.

Trong khoảng hai thập niên vừa qua, tại miền Bắc Việt Nam có một phong trào, đó là đổi tiền lẻ để rải khắp các đình, đền, chùa, miếu cầu may. Tuy phong trào này chỉ phổ biến ở miền Bắc nhưng vì nhu cầu “hối lộ thần thánh” quá lớn, mỗi năm, ngân hàng phải chi hàng trăm tỷ đồng để in tiền lẻ. Sau đó phải chi thêm cả tỷ đồng nữa để kiểm, đếm, gom mớ tiền lẻ khổng lồ đó đem cất vào kho, ít năm sau phải tổ chức hủy vì tiền lẻ không có chỗ trong sinh hoạt hàng ngày.

Vào thời điểm vừa kể, một phó thống đốc Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam khẳng định, nếu in tiền lẻ chỉ nhằm thỏa mãn nhu cầu “hối lộ thần thánh” trong dịp Tết thì đó rõ ràng là một sự lãng phí không thể chấp nhận được.

Tuy nhiên, từ Tết đến nay, các đình, đền, chùa, miếu ở miền Bắc Việt Nam vẫn ngập tiền lẻ. Báo chí Việt Nam kể rằng, hôm 17 Tháng Hai (mùng 10 Tháng Giêng Âm Lịch), ngày đầu tiên của Lễ Hội Yên Tử (diễn ra trên núi Yên Tử, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh), tuy ban tổ chức kêu gọi khản giọng qua loa rằng đừng thắp quá nhiều nhang vì khói sẽ làm người khác ngộp, đừng dùng tiền chà xát vào chùa Đồng nhưng khu vực Yên Tử vẫn mù mịt khói và đám đông vẫn xô đẩy nhau để lấn tới, dùng đủ thứ mài vào chùa Đồng để lấy hên, trong đó có không ít kẻ là viên chức, đeo phù hiệu “khách mời.” Dù cấu trúc của chùa Đồng rất khít song đa số khách hành hương vẫn tìm đủ cách nhét tiền... lẻ vào các khe để “hối lộ thần thánh...”

Mỗi năm, tại Việt Nam có khoảng 8,000 lễ hội dân gian. Khoảng hai phần ba diễn ra trong Tháng Giêng Âm Lịch và chủ yếu là ở miền Bắc Việt Nam.

Cuối năm ngoái, Bộ Văn Hóa-Thể Thao-Du Lịch xác nhận, nhiều lễ hội không còn phù hợp, có biểu hiện lợi dụng lễ hội để trục lợi. Một số lễ hội có biểu hiện mê tín, bạo lực, truyền bá các hành vi tội ác,... cần hạn chế và chấn chỉnh.

Chưa rõ chính quyền sẽ “chấn chỉnh” thế nào nhưng nhiều người khẳng định, sở dĩ các lễ hội tại Việt Nam càng ngày càng u mê, xô bồ và man rợ vì những viên chức Việt Nam dẫn đầu trong việc cầu may ở mọi nơi, đồng thời cố tình tạo “nét riêng” nhằm tăng “tính hấp dẫn” để thu hút thiên hạ đến dự hội, mở rộng cơ hội tìm thêm nguồn thu. (G.Đ.)

02-21-2016 3:31:13 PM 

Monday, February 8, 2016

Táo quân 2016: Bình phịt xã giao - Lương tâm Thiên lôi

 ĐÀO TUẤN -11:41 PM, 07/02/2016
Khi anh Thiên lôi má lúm đồng tiền mặt bôi đen bất thần cởi mão ném búa gập đầu trước sân rồng xin từ chức, Táo quân năm nay đã thực hiện một cú “ép phê” đằm tay hoàn hảo!
    À ừ, hiểu theo nghĩa thông thường thì rằng không phải cứ chức quyền là không còn tự trọng. Nhưng “cao khét” hơn phải ở chuyện nỗi xấu hổ, hay sự tự trọng dường như chỉ có ở những anh gác cổng. Tôi nhớ là anh Táo Xã hội (Chí Trung) sau đó đã thốt lên rằng: (Cái) Thằng này quê ở đâu mà liều vậy!
    Đúng rồi! Mày ở đâu ra vậy Thiên Lôi. Bao nhiêu ông to bà lớn. Bao nhiêu thiên đình với các vị táo quyền nghiêng thiên hạ còn chưa biểu hiện tham nhũng thì ở đâu nảy nòi ra cái thằng thiên lôi bày đặt xin từ chức. Không lẽ tham nhũng đúng là chỉ từ kheo chân trở xuống!
    “Vòng quay tham nhũng” là một sáng tạo tuyệt vời của Táo quân năm nay.
    Nó tải bao nhiêu là hiện thực. Nào là khẳng định cứ như thể chỉ có trong táo quân “tham nhũng ổn định”. Nào là chuyện hết từ Hà Nội, TP HCM, Đà Nẵng đều không phát hiện tham nhũng. Nào là bộ nọ ngành kia cam kết không tham nhũng.
    Và trước “vòng quay” khắc nghiệt đến mức người ta phải nói lời tử biệt sinh ly, phải viện “mẹ ơi” ra đó, hóa ra, cuối cùng là chuyện đuề huề, chuyện hòa cả làng khi rút cục họa may có thằng Thiên Lôi tham nhũng!
    Trong cái vòng quay chỉ để quay đó, có những chi tiết đáng giật mình. Đó là việc cái người duy nhất không qua “vòng quay tham nhũng” lại là anh Dưa vàng! Cái anh bao năm nay không chịu đổi mới trong khi luôn kêu gào người khác phải đổi mới.
    Táo dưa vàng! Anh tài quá đi thôi!
    Có người nói Táo quân năm nay khá thẳng thắn trước những vấn đề được xem như là nhạy cảm. Chuyện 100% không biểu hiện tham nhũng- và mới chỉ dừng ở “biển hiệu” chứ chưa có biểu hiện. Hay chuyện “con ông cháu cha” với những sáng tạo đáng để nhổ râu mà ngẫm nghĩ dài dài: “Trước thì cần một chỗ đứng! Giờ cần phải đứng đúng chỗ đó”. Hay “nó phải là con của bố nó thì mới hiên ngang như thế”.
    Có người bảo tác giả của Táo quân quá tài, chơi hẳn hợp xướng với chỉ 4 chữ “cải cách đổi mới”, nhưng rõ ràng, ngành giáo dục còn tài hơn với đổi mới cải cách chỉ là chuyện đút vào rồi lại rút ra với những chi tiết có bịa cũng không nghĩ ra nổi: Thuê xe cấp cứu để đi thi. Hay chuyện nó lá “cái nón, cái nón lá ấy, đấy đấy nón.. bài thơ ấy”. Cái nón phở nem nhiệm kỳ sắp hết đó đó!
    Tất nhiên, giá như cái bình “Phịt xã giao” không phải né quá thể khi phải ngoằng sang chuyện thực phẩm bẩn thì táo quân năm nay hẳn sẽ trọn vẹn hơn rất nhiều.
    Xin cảm ơn các nghệ sĩ với một táo quân cười có lẽ là cũng đã đời cho ngày cuối một năm khốn khó mà nhiều người sẽ không quên hình ảnh DN Việt vừa thấp bé nhẹ cân vừa chỉ tài tung hứng làm xiếc.
    Theo Laođộng

    Saturday, November 21, 2015

    Có nên xem lịch sử là môn học tự chọn cho học sinh trung học

    Mặc Lâm, biên tập viên RFA 2015-11-21 
    lich-su-622
     Kỳ thi Môn Sử tại điểm thi Trường THPT Yên Thành 2, ảnh minh họa chụp trước đây.  Courtesy photo
    Vấn đề giảng dạy lịch sử hiện đang gây nên một phong trào tranh luận dữ dội tại Việt Nam, một bên là Bộ giáo dục một bên là các GS đầu ngành môn lịch sử cũng như Hội sử học Việt Nam sau khi Bộ giáo dục đưa ra dự án tích hợp môn lịch sử như một môn học tự chọn cho học sinh trung học. Trong chương trình văn hóa và nghệ thuật kỳ này Mặc Lâm có cuộc phỏng vấn với GS Nhà giáo nhân dân Vũ Dương Ninh, xoay chung quanh mối tương quan mật thiết giữa văn hóa và lịch sử để nhìn vấn đề sử học ở góc nhìn văn hóa và từ đó xác định vai trò của lịch sử đúng với bản chất của nó.
    GS Nhà giáo nhân dân Vũ Dương Ninh là người thầy đối với rất nhiều thế hệ tốt nghiệp môn lịch sử. Học trò ông không hiếm người đang giữ các vị trí then chốt trong hệ thống giáo dục Việt Nam. Ông đang là một tiếng nói mạnh mẽ trong các diễn đàn tranh luận có nên xem lịch sử là một môn tích hợp như chủ trương của Bộ giáo dục và đào tạo đang vận động dư luận hay không.

    Khi lịch sử bị tách rời khỏi dòng chảy văn hóa

    Mặc Lâm: Thưa GS, lịch sử và văn hóa luôn song hành và văn hóa được bồi đắp vun trồng từ lịch sử. Dựạ trên kinh nghiệm đó GS nghĩ sao khi lịch sử bị tách rời khỏi dòng chảy văn hóa đặc biệt đối với động thái xem môn học lịch sử không cần thiết như nó vốn có từ khi chữ quốc ngữ được dem vào giảng dạy ở nước ta?
    Dù ở thời xa xưa hay bây giờ thì việc thông qua lịch sử, thông qua văn hóa, để giáo dục về tinh thần dân tộc, ý chí tự cường đều có ý nghĩa rất quan trọng cả, và tất cả những cái đó cần thấm nhuần trong hệ thống giáo dục, trong nhà trường của chúng ta.
    -GS Vũ Dương Ninh
    GS Vũ Dương Ninh: Vâng, trong thực tế cuộc sống thì lịch sử và văn hóa nó luôn đi với nhau. Nó hòa trộn, kết hợp với nhau. Nó không phải là hai mảng hoàn toàn riêng như khi chúng ta nghiên cứu thì nghiên cứu sâu về lịch sử hay sâu về văn hóa, nhưng dẫu sao nó là một thể thống nhất. Tôi nghĩ rằng bất cứ một thời đại nào thì nghiên cứu lịch sử phải rất quan tâm tới văn hóa và nghiên cứu văn hóa thì phải có cái nền của lịch sử.
    Như vậy thì dù ở thời xa xưa hay bây giờ thì việc thông qua lịch sử, thông qua văn hóa, để giáo dục về tinh thần dân tộc, ý chí tự cường đều có ý nghĩa rất quan trọng cả, và tất cả những cái đó cần thấm nhuần trong hệ thống giáo dục, trong nhà trường của chúng ta.
    Mặc Lâm: Có ý kiến cho rằng nếu lịch sử hình thành từ kinh nghiệm của quá nhiều cuộc chiến tranh như nước ta đã trải qua thì dân chúng sẽ lớn dần với nó bằng những thức ăn tinh thần có dáng vẻ tự hào dân tộc, sau đó dẫn tới chủ nghĩa dân tộc cực đoan, và cuối cùng thì những trang sử chiến tranh được lập lại. Giáo sư nghĩ sao về các ý kiến này?
    GS Vũ Dương Ninh: Đây là chỗ chúng ta kế thừa học tập trong lịch sử như thế nào. Đúng là trong một thời gian dài chúng ta phải trải qua cuộc chiến tranh để bảo vệ độc lập và chủ quyền. Cái tinh thần dân tộc nó được hun đúc và phát triển kể cả cho tới bây giờ trong việc bảo vệ biên cương bảo vệ tổ quốc thì tinh thần dân tộc cũng được phát huy. Nhưng cũng phải thấy rằng yếu tố dân tộc ấy nó phát triển đến chừng nào thì hợp lý và nó đủ sức để động viên nhân dân, động viên tất cả mọi người trong xã hội tham gia vào công cuộc bảo vệ đất nước.
    Nhưng đồng thời lịch sử cũng đem lại nhiều kinh nghiệm cho cái việc xây dựng đất nước trong tất cả các lĩnh vực, kinh tế, văn hóa, xã hội, chính trị….thì cũng phải khai thác cả cái mặt ấy, nhất là bây giờ chúng ta đang xây dựng trong điều kiện tương đối hòa bình. Lịch sử đó nó vừa thấm những kinh nghiệm do ông cha chúng ta để lại, đồng thời nó nâng lên tinh thần tự hào của một dân tộc. Nhưng tất cả các điều đó không thể đi đến chủ nghĩa dân tộc cực đoan để rồi phạm phải những sai lầm khác mà trong lịch sử thế giới đã có những trường hợp sai lầm như vậy.
    Tôi nghĩ rằng chúng ta phát huy tinh thần dân tộc nhưng đồng thời trong thời buổi toàn cầu hóa và hội nhập ngày nay, chúng ta phải làm cho thế hệ trẻ hiểu được về mối tương quan với các quốc gia, về mối quan hệ trong quá trình xây dựng một thế giới mới, một thế giới mà con người ta phải tiến tới một nền văn minh cao hơn. Nền văn minh của công nghiệp, nền văn minh của thông tin và như vậy nó sẽ hòa hợp cả yếu tố dân tộc và yếu tố nhân loại. Tôi hiểu vấn đề là như vậy.
    SGK-1-305.jpg
    Sách giáo khoa môn Lịch Sử.
    Mặc Lâm: Trong nhiều năm qua các thế hệ trẻ của Việt Nam không học và thi môn sử trong tinh thần khao khát tìm hiểu những diễn tiến trong hàng ngàn năm giữ nước và dựng nước. Trái lại họ thờ ơ gần như vô cảm với môn học này. Nhiều người trẻ than phiền môn sử chỉ là những con số tổng hợp, người khác lại cho rằng sách giáo khoa không dạy lịch sử cho học sinh mà đang nhồi nhét những câu chuyện thiếu vắng tính chân thật và mang mầu sắc chính trị nhiều quá. Giáo sư nghĩ sao về các ý kiến trái chiều này?
    GS Vũ Dương Ninh: Đây chính là vấn đề mà giới sử học của chúng tôi đặt ra để xây dựng một hình ảnh lịch sử đúng, chân thực, khách quan và từ đó cung cấp cho người học một cách nhìn lịch sử đúng đắn hơn. Trước đây do nhu cầu của cuộc kháng chiến nên lịch sử được khai thác nhiều về mặt dấu tranh, cái đó không sai, thế nhưng bây giờ nếu như chúng ta tiếp tục như thế thì sẽ không đưa được hình ảnh một cách toàn diện của lịch sử cho thế hệ trẻ.
    Chúng tôi nghĩ lịch sử vừa là kế thừa các thế hệ trước đồng thời phục vụ cho xã hội ngày hôm nay cho nên nó vừa phải đúc kết kinh nghiệm của ngày xưa đồng thơi gợi mở cho thế hệ sau những bước tiến cùng với nhân loại để bắt kịp được trình độ của nhân loại. Tôi nghĩ, nếu chúng ta nhìn lịch sử ở góc độ như vậy thì sẽ thấy được những sai lầm có thể đưa học sinh đến chỗ hiểu không đúng lịch sử hoặc hiểu nó một cách cực đoan hoặc mặt này hay mặt kia.

    Môn học lịch sử sẽ từ từ biến mất?

    Mặc Lâm: GS đang cùng với nhiều người khác tranh đấu với Bộ giáo dục đào tạo ngưng dự án đem môn lịch sử vào chung với các môn khác mà họ gọi là tích hợp. Xin ông cho biết liệu hành động này có làm cho môn lịch sử từ từ biến mất trong không gian giáo dục hay không?
    Văn hóa và lịch sử tồn tại tự nhiên và muốn hay không muốn cũng phải học tập nó, thừa nhận nó, công nhận nó và phát huy nó. Cho nên phương án tích hợp mà Bộ giáo dục đưa ra không thực hiện được những điều này.
    -GS Vũ Dương Ninh
    GS Vũ Dương Ninh: Văn hóa và lịch sử tồn tại tự nhiên và muốn hay không muốn cũng phải học tập nó, thừa nhận nó, công nhận nó và phát huy nó. Cho nên phương án tích hợp mà Bộ giáo dục đưa ra không thực hiện được những điều này. Giới khoa học chúng tôi không tán thành và đang có nhiều cuộc tranh luận, trao đổi để đưa lịch sử và văn hóa vào đúng vị trí của nó mà nói cụ thể thì trong nhà trường nó phải là một môn học quan trọng.
    Nó không những chỉ cung cấp kiến thức và đồng thời đào tạo nâng trình độ nhận thức của tuổi trẻ. Họ thấy trách nhiệm của công dân đối với đất nước, đối với xã hội, đối với sự phát triển của dân tộc thì nó phải là một môn khoa học độc lập, khách quan và có vị trí quan trọng trong hệ thống giáo dục. Còn cái phương án mà Bộ giáo dục đưa ra thì chúng tôi không tán thành và chúng tôi đang có nhiều ý kiến tranh luận.
    Mặc Lâm: Lại cũng có quan điểm cho rằng lịch sử Việt Nam gắn bó với lịch sử Trung Hoa nhiều ngàn năm nay, lịch sử ấy đã có nhiều máu và nước mắt của dân quân Việt Nam trong các cuộc chiến chống phương Bắc. Nếu học lịch sử một cách có khuôn phép thì sự thật ấy sẽ truyền đời gây hận thù mãi mãi cho hai dân tộc. Có người đề nghị là nên giảm bớt các câu chuyện chống ngoại xâm trong sách giáo khoa để dân tộc hai nước sống hòa bình hữu nghị với nhau. GS thấy lập luận như thế có chấp nhận được hay không?
    GS Vũ Dương Ninh: Vâng, ở đây nó có hai điểm. Một, đứng về mặt nguồn gốc và quá trình phát triển văn hóa thì không một nước nào có thể phát triển văn hóa một cách đơn độc mà nó phải ảnh hưởng lẫn nhau kể cả châu Âu cũng thế. Các nền văn minh lớn như Hy Lạp cũng ảnh hưởng từ nhiều nước cho nên chuyện Việt Nam chúng ta chịu ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa kể cả Ấn độ nữa thì cũng là một thực tế lịch sử và điều đó là chuyện rất bình thường.
    Nhưng từ những cái đó chúng ta đi vào lịch sử như thế nào thì tôi nghĩ rằng một mặt ta phải chắt lọc những tinh hoa của các nền văn hóa dù của dân tộc nào thì vẫn là văn minh của nhân loại, cũng là thành tựu của nhân loại.
    Thế nhưng cũng phải qua lịch sử để hiểu được bối cảnh lịch sử từng thời kỳ từng giai đoạn. Giai đoạn nào là giai đoạn độc lập tự chủ, giai đoạn nào là giai đoạn phụ thuộc hay bị lệ thuộc để phân biệt nó ra. Từ đó nâng được cái ý thức chúng ta chấp nhận nền văn hóa của thế giới, của tất cả các dân tộc và đồng thời chúng ta có tính tự hào trên tinh thần dân tộc của mình, hai cái đó nó hòa hợp với nhau.
    Trong cuộc trao đổi về chủ trương tích hợp của Bộ giáo dục thì chúng tôi muốn đặt vấn đề rằng khoa học lịch sử phải đúng với nó, với tư cách là một môn khoa học mang tính độc lập, khách quan, chân thực và như vậy thì nó mới có thể phục vụ được, đáp ứng được nhu cầu phát triển của xã hội Việt Nam chúng ta.
    Mặc Lâm: Xin cám ơn ông.

    Friday, November 20, 2015

    Vietnam Airlines xin lỗi và khẩn trương thu hồi tạp chí Heritage in cô gái mặc áo dài hình chùa thiêng Myanmar

    Ngày 18.10, một bức thư được đưa lên mạng xã hội Facebook từ tài khoản mang tên Venerable Nayaka, được cho là của một hòa thượng Myanmar, đang làm dậy sóng cộng đồng mạng. Trong thư vị hòa thượng tỏ ra phẫn nộ khi Tạp chí Heritage sử dụng hình ảnh một cô gái mặc áo dài Việt Nam, trên đó in hình ảnh ngôi chùa Shwedagontại (Chùa Vàng), nơi lưu giữ di vật của các vị Phật.
    Bìa tạp chí được Hòa thượng Nayaka đưa lên FB
    Lá thư cho biết chùa Shwedagon là thánh địa quan trọng của người Myanmar và hình ảnh trên đã xúc phạm đến tôn giáo, tín ngưỡng của người dân Myanmar.
    Ông cho biết đã gửi ý kiến phản ảnh này đến Đại sứ quán Việt Nam tại Myanmar, Sứ quán Myanmar tại Việt Nam và Văn phòng Vietnam Airlines tại Yangon.
    Bức thư của Hòa thượng Nayaka đưa lên Facebook của ông có đoạn (tạm dịch): Shwedagon là địa thánh của một tôn giáo; nơi lưu giữ tóc Phật, áo choàng và các di vật khác mà chúng tôi tôn thờ.
    Xin hãy tránh những hành vi thiếu tôn trọng đến xúc phạm văn hóa và tín ngưỡng của người khác. Xin không sử dụng các hình ảnh của Chùa Shwedagon trên áo quần phụ nữ. Đây là tạp chí trên máy bay của các vị phải không???...Chúng tôi tôn trọng tôn giáo ở khắp mọi nơi; Chúng tôi không thể cho phép ai mặc váy ngắn và quần ngắn lên thăm chùa, dù là người địa phương hay khách du lịch".
    Được biết, Chùa Shwedagon ở Yangon là ngôi chùa Phật giáo linh thiêng nhất ở Myanmar. Ở đây lưu giữ 4 báu vật linh thiêng của 4 vị Phật. Phù đồ (Stupa) dát vàng của chùa cao tới 98m. Theo truyền thuyết và ghi chép của các nhà sư, chùa có từ trước khi Phật qua đời, nghĩa là cách đây 2.500 năm. Song các nhà khảo cổ học cho rằng chùa được xây lần đầu vào khoảng thời gian từ thế kỷ 6 đến thế kỷ 10.
    Trao đổi với Lao Động trưa ngày 20.11, đại diện Tạp chí Heritage Fashion thừa nhận trên số tháng 11.2015, tạp chí này đã giới thiệu những mẫu thiết kế áo dài nghệ thuật mang tính văn hóa truyền thống, thể hiện vẻ đẹp mang bản sắc Châu Á. Hình ảnh chùa tháp trên áo dài truyền thống cũng là cách giới thiệu đặc trưng tín ngưỡng văn hóa Phật Giáo của các vùng đất Châu Á. Tuy nhiên, việc chọn lựa hình ảnh chùa tháp trên áo dài truyền thống đã làm cho một bộ phận độc giả không hài lòng và có những phản ứng trái chiều không tích cực trên trang facebook của một số cá nhân.
    Ý thức được sự khác biệt trong văn hóa thể hiện qua những góp ý này, Heritage Fashion đã ngay lập tức thu hồi tất cả ấn bản của số tháng 11.2015 đồng thời gửi thông điệp ngỏ xin lỗi tới các độc giả đã quan tâm góp ý. Cùng đó,Ban Biên tập Tạp chí Heritage đã nghiêm túc rút kinh nghiệm trong việc sử dụng các hình ảnh mang tính biểu tượng tôn giáo. Xin khẳng định rằng chúng tôi luôn đặt sự kính ngưỡng và tôn trọng tất cả thánh tích thờ tự của các tôn giáo cũng như những tín ngưỡng tâm linh và văn hóa của mỗi quốc gia trên thế giới trong tôn chỉ hoạt động.
    Bìa tạp chí được Hòa thượng Nayaka đưa lên FB

    Saturday, October 31, 2015

    Tự do báo chí của miền Nam VN trước 1975

    Mặc Lâm, biên tập viên RFA -2015-10-31  
    songthan-td-622.jpg
     Báo chí Miền Nam Việt Nam trước năm 1975. Courtesy photo
    Miền Nam trước năm 1975 được xem là có một nền báo chí tự do. Mặc dù chịu rất nhiều sức ép từ chiến tranh lẫn của chính quyền, báo chí vẫn đưa ra các vấn đề tham nhũng hay hủ hóa của lãnh đạo chính phủ. Những  vụ như còi hụ Long An hay vụ tướng Nguyễn Văn Toàn bị điều tra về quan hệ bất chính với trẻ vị thành niên không phải là hiếm. Các câu chuyện bị báo chí phanh phui này không hề nhỏ mặc dù lúc ấy chiến sự đã đến lúc gay gắt và miền Nam đang phải đối phó với sức ép nặng nề từ quân đội miền Bắc.
    Trong vụ vận chuyển hàng ngoại nhập lậu có tên còi hụ Long An, hầu hết báo chí miền Nam đã vào cuộc và ghi nhận mọi chi tiết của vụ buôn lậu mà tên tuổi của người đứng sau bị gián tiếp nêu ra là phu nhân của hai lãnh đạo cao nhất nước đang tại vị. Đoàn xe buôn lậu chở đầy hàng ngoại gồm 7 chiếc GMC và hai chiếc Jeep dẫn đầu bị trạm kiểm sát quân xa tại Tân An phát hiện vào lúc 10 giờ 30 tối ngày 31 tháng 1 năm 1974. Vụ án chấn động này được báo chí Sài Gòn nhanh chóng nhập cuộc và các thế lực đứng sau vụ án không thể làm gì hơn là chấp nhận phán quyết của tòa án quân sự đối với những người trực tiếp tham gia, ngoại trừ những nhân vật chủ chốt.
    Báo chí miền Nam tuy hoạt động trong thời kỳ chiến tranh nhưng tiếng nói của họ không phải lúc nào cũng bị nhân danh bí mật quân sự để bịt miệng. Thủ thuật “tự ý đục bỏ” có nghĩa là để trắng cột báo bị kiểm duyệt, tuy được báo chí nhiều lần sử dụng nhưng điều đó lại nói lên một sự thật khác: ngay cả việc bị kiểm duyệt một cách độc đoán thì báo chí cũng có thể lên tiếng tố cáo sự độc đoán ấy trước công luận.
    Chúng tôi có cuộc nói chuyện với nhà văn, nhà báo Trùng Dương, bà từng là chủ nhiệm nhật báo Sóng Thần từ khi mới thành lập cho tới khi Sài Gòn sụp đổ. Qua câu chuyện với nhà văn Trùng Dương hy vọng sẽ soi sáng một phần nào nền báo chí miền Nam trước các thông tin ngược chiều về tính chất tự do mà một tờ báo nhận được từ chính quyền miền Nam lúc ấy:

    Báo Sóng Thần

    Mặc Lâm: Thưa bà, tờ Sóng Thần có thể nói là tuy xuất hiện rất trễ trong làng báo Việt Nam nhưng nó có chỗ đứng đặc biệt trong lòng độc giả của cả miền Nam lúc ấy. Là người xin giấy phép thành lập tờ báo xin bà cho biết hoàn cảnh những ngày đầu tiên của Sóng Thần như thế nào?
    Tờ Sóng Thần là tờ báo đầu tiên ở Việt Nam có hình thức cổ phần, có nghĩa là mọi người có quyền đóng góp tùy khả năng. Mỗi cổ phần lúc ấy mà tôi nhớ vào năm 1971 là 5 ngàn đồng tiền Việt Nam.
    -Nhà báo Trùng Dương
    Nhà báo Trùng Dương: Tờ Sóng Thần là tờ báo đầu tiên ở Việt Nam có hình thức cổ phần, có nghĩa là mọi người có quyền đóng góp tùy khả năng. Mỗi cổ phần lúc ấy mà tôi nhớ vào năm 1971 là 5 ngàn đồng tiền Việt Nam. Sở dĩ tôi có mặt trong nhóm đó vì các anh Chu Tử, Phạm Văn Lương, Uyên Thao, Nguyễn Liệu và cả anh Hà Tiến Việt hồi đó ở trong nhóm Hà Thúc Nhơn thiên về chống tham nhũng.
    Ông đại úy y sĩ Hà Thúc Nhơn ở Nha Trang ông ấy chống tham nhũng rồi bị giết chết, thành ra nhóm anh em đó họ đứng ra họ lập thành nhóm Hà Thúc Nhơn. Họ xin giấy phép ra báo không được bởi vì ai cũng ở trong black list (danh sách đen) của chính quyền thành ra họ mới quay qua tôi vì tôi là thân hữu đi lại trong nhóm. Họ bảo thôi đứng ra xin giấy phép ra báo. Thế là tôi đứng ra xin còn bên thông tin họ không nghĩ là tôi có chân trong cái nhóm đó.
    Với tư cách nhà văn, hồi đó nhiều nhà văn đứng ra xin giấy phép ra báo nhiều lắm, cuối cùng tôi xin được giấy phép đưa sang cho bên nhóm Hà Thúc Nhơn họ dùng cái giấy phép ấy để xuất bản. Hồi đó ông Chu Tử ông làm tờ tuần báo Đời thì ông có cho mượn nơi đó (platform) mà lăng xê tờ báo cũng như cổ động trong vấn đề góp vốn cho tờ Sóng Thần, từ đó nhiều người nghe tên tờ báo và họ đóng góp, chúng tôi dùng tiền đó và một phần đi vay thêm để ra tờ báo vào cuối năm 1971.
    Mặc Lâm: Năm 1971 cũng là năm bầu cử tổng thống và lúc ấy thì rất nhiều chống đối nổi lên tứ phía, đặc biệt là báo chí theo dõi rất sát các ứng viên và họ viết bài về các liên danh rất khác nhau. Báo Sóng Thần sinh ra trong hoàn cảnh này có bị Bộ Thông tin để ý hay khó dễ gì hay không?
    Nhà báo Trùng Dương: Tôi nghĩ lúc đó việc tranh cử rất rộn ràng thành thử ra họ không để ý với lại chuyện ra báo thì khi có giấy phép thì mình xuất bản thế thôi. Mình đứng ra lo chuyện tiền bạc, liên lạc nhà in, mua giấy rồi thành lập Ban biên tập bận rộn theo kiểu của mình. Tôi không nghĩ chính quyền họ để ý, họ cũng để ý đi nữa nhưng không có một thái độ nào. Hơn nữa hồi đó ông Nguyễn Văn Thiệu ông ấy bận rộn chuyện tranh cử. Hồi đó tôi nhớ có những liên danh tranh cử trong đó có liên danh của ông Nguyễn Cao Kỳ rồi sau có chuyện lộn xộn gì đó mà lâu lắm rồi tôi không nhớ nữa, làm cho tất cả các liên danh đều rút tên chỉ còn lại mỗi mình ông Nguyễn Văn Thiệu mà hồi đó gọi là độc diễn.
    trung-duong-400.jpg
    Nhà văn, nhà báo Trùng Dương (trái) tại buổi ra mắt phim Vietnamerica ở Newseum, Washington DC. Photo courtesy of Người Việt/Hà Giang.
    Mặc Lâm: Báo chí miền Nam được cho là hưởng nền tự do báo chí của các chế độ dân chủ, tuy nhiên rất nhiều tờ báo bị kiểm duyệt, bài vở bị cắt đi không cho đăng, bà giải thích thế nào về việc này?
    Nhà báo Trùng Dương: Thực ra cũng có, hồi đó báo chí trước khi in, trước khi phát hành thì phải qua kiểm duyệt. Họ đọc xem những tin tức có bị ảnh hưởng gì tới cuộc chiến lúc ấy hay không. Họ chú trọng nhiều đến tin chiến sự nhiều hơn chứ còn những vần đề cá nhân thì họ đi đường khác chẳng hạn như hồi đó báo Sóng Thần đi một loạt bài tố ông tướng Nguyễn Văn Toàn khi ấy ông coi vùng cao nguyên, quân khu II. Có một dạo ông ấy dính vào chuyện vớ vẩn gì đó với một cô bé vị thành niên, rồi phóng viên của báo Sóng Thần tìm ra được chuyện đó và tố ông tội dụ dỗ gái vị thành niên.
    Tin đó do một tin từ cảnh sát nhưng mà cảnh sát họ nhẹm đi, phóng viên của mình tìm được cái tin đó và làm cuộc điều tra. Người đứng ra làm cuộc điều tra đó là chị Lê Thị Bích Vân, hồi đó chị là nữ phóng viên sáng giá của làng báo Việt Nam. Chị ấy viết một loạt bài về tướng Toàn thì ông ta kiện tờ báo với lý do là mạ lỵ cá nhân thôi chứ không liên hệ gì tới vấn đề kiểm duyệt hết. Khi có chuyện liên quan đến cá nhân làm bậy thì họ kiện mình theo chiều hướng cá nhân vì mạ lỵ phỉ báng còn về bên chính quyền, bên thông tin thì họ quan tâm và kiểm duyệt đến các tin tức liên quan đến thời sự lúc bấy giờ.
    Mặc Lâm: Cũng có dư luận lúc ấy cho rằng nhà báo Chu Tử bị ám sát vì đã viết những bài chống tham nhũng, bè phái và vì vậy các nhóm bị Chu Tử chống đối đã ám sát ông cùng với ký giả Từ Chung. Theo bà thì ai là thủ phạm trong cả hai vụ ám sát này?
    Nhà báo Trùng Dương: Ông Chu Tử bị ám sát khi ông làm tờ Sống vào giữa thập niên 1960, hồi đó ông là chủ nhiệm tờ Sống. Chu Tử là người viết rất thẳng thắn thành ra có những lực lượng, những nhóm không ưa ông Chu Tử, thế nhưng ông bị ám sát thì không do những nhóm này họ làm mà là do Việt cộng họ chủ trương.
    Trong kế hoạch ám sát của họ thì họ nhắm hai người là ông Từ Chung và ông Chu Tử. Ông Từ Chung thì bị giết chết còn ông Chu Tử thì thoát chết. Cách đây mấy năm tôi có viết bài về ông Chu Tử bị ám sát. Có những tài liệu cho thấy không phải là những phe phái không bằng lòng ông ấy ở miền Nam ám sát ông ấy mà là do cộng sản chủ trương.

    Tự do báo chí

    Mặc Lâm: Theo bà thì báo chí miền Nam lúc ấy có thực sự được tự do trong vấn đề loan tin hay viết lên chính kiến của mình, kể cả việc chống lại chính phủ hay không?
    Có thể nói miền Nam lúc ấy có tự do báo chí trước hết là tư nhân có thể ra làm báo, xin giấy phép để làm. Kiểm duyệt thì cũng có nhưng không phải là thứ kiểm duyệt kêu bằng nhẹm đi hay giết người…
    -Nhà báo Trùng Dương
    Nhà báo Trùng Dương: Trước hết báo chí của miền Nam hồi đó là tư nhân có quyền làm báo. Đa số báo miền Nam hồi đó là báo do tư nhân làm chủ. Chỉ có một số thân với chính quyền hay báo của chính quyền nhưng cũng ít người đọc lắm. Có thể nói miền Nam lúc ấy có tự do báo chí trước hết là tư nhân có thể ra làm báo, xin giấy phép để làm. Kiểm duyệt thì cũng có nhưng không phải là thứ kiểm duyệt kêu bằng nhẹm đi hay giết người… Họ cũng có kiểm duyệt, tất nhiên, nhưng những người làm báo ở miền Nam tôi nghĩ rằng họ có thể diễn tả những gì mà họ thấy cần. Họ ghi chép được và họ diễn tả lại.
    Mặc Lâm: Bà nhận xét thế nào về nền báo chí hải ngoại từ 40 năm qua khi mà Hoa Kỳ được công nhận là có nền báo chí tự do nhất thế giới?
    Nhà báo Trùng Dương: Tôi phải nói rằng báo chí hải ngoại hiện nay có rất nhiều tự do. Nhiều người nhảy vô làm báo mà không cần căn bản báo chí và cũng không có bao nhiêu đạo đức nghề nghiệp thành thử ra cũng có nhiều vấn đề. Quan trọng là họ tự do, họ tự do hơn báo chí miền Nam rất nhiều vì không có ai đứng ra kiểm duyệt hay kiểm soát họ nhưng họ chịu sự kiểm duyệt của độc giả.
    Mặc Lâm: Bà vừa cho biết là báo chí hải ngoại chịu sự kiểm duyệt từ độc giả, theo chúng tôi biết thì một số người đọc báo hải ngoại đã nhiều lần chống lại các tờ báo mà họ cho là thân cộng và trước những động thái này nhiều tờ báo đã nhượng bộ và có tờ phải thay đổi hẳn quan điểm của họ để theo ý muốn của độc giả, bà chia sẻ gì về việc này?
    Nhà báo Trùng Dương: Cũng một phần nào, thế nhưng không thể nói là họ hoàn toàn muốn làm gì với tờ báo mà đã làm họ mất lòng. Ở đây ít ra chúng ta còn có một chỗ để dựa vào nếu chúng ta không bằng lòng. Chúng ta gom lại đủ những tài liệu chứng cứ thì có thể đưa nhau ra tòa. Ít ra nó có một nơi để mình trình bày vấn đề của mình rồi tòa quyết định.
    Mặc Lâm: Kinh nghiệm từ tờ Sóng Thần, theo bà xây dựng một tờ báo thì điều gì khó khăn và quan trọng nhất? Và nếu có dịp làm lại tờ Sóng Thần thì bà mong mỏi điều gì nhất?
    Nhà báo Trùng Dương: Đừng phải lo tiền nhiều quá! Tiền là cái trở ngại nhất. Bởi thế cho nên vào năm 1972 khi chính phủ đưa ra cái Luật Báo chí 0072, bắt mỗi nhật báo phải đóng ký quỹ 20 triệu đồng thì mới được tiếp tục xuất bản. Hồi đó tụi này đi vay muốn chết luôn để mà giữ cho tờ báo còn tiếp tục. Tuy nhiên nếu nói chỉ lo chuyện tiền không thôi thì cũng không đúng đâu, nó phải có một cái môi trường mà trong đó luật báo chí, quyền tự do báo chí được tôn trọng. Điều cần nữa là người phóng viên được huấn luyện và có được tinh thần đạo đức nghề nghiệp. Mong mỏi thì nhiều yếu tố lắm thành thử ra nếu nói về vấn đề tiến bạc không thì cũng không đúng.
    Mặc Lâm: Xin cám ơn nhà báo Trùng Dương.