Showing posts with label XaHoi-DoiSong-VietNam. Show all posts
Showing posts with label XaHoi-DoiSong-VietNam. Show all posts

Monday, January 11, 2021

Trời rét thấu xương, trẻ em nghèo ở Sapa vẫn phải ra đường mưu sinh

 LÀO CAI, Việt Nam (NV) – Đêm ở Sa Pa, mưa rét, sương mù phủ kín, nhiệt độ giảm xuống 2 độ C, nhưng nhiều đứa trẻ người H’Mông run rẩy vẫn phải chạy theo du khách chào bán hàng lưu niệm, thậm chí ăn xin để sống.

Theo báo VietNamNet, tình trạng trẻ em (nhỏ nhất là 4 tuổi) người H’Mông nghèo khó đến từ các xã Lao Chải, Tả Phìn, Trung Chải, Tả Van… phải theo gia đình đi bán hàng rong ở thị xã Sa Pa, tỉnh Lào Cai, đã có từ lâu.

Trời lạnh 2 độ C nhưng bé trai phải theo mẹ đến thị xã Sa Pa bán hàng đến nửa đêm mới về. (Hình: Vũ Tuấn/Tuổi Trẻ)

Đứng khuất trong một góc đường, tay ôm túi đồ lớn bên trong chứa bưu thiếp, đồ lưu niệm bằng thổ cẩm… vợ chồng chị Mú chờ ba đứa con từ 5 đến 7 tuổi chào mời du khách mua hàng. Khi có khách muốn mua đồ, một đứa chạy lại kéo cha mẹ đến giới thiệu sản phẩm.

Kể với báo VietNamNet, chị Mú cho biết mình lấy chồng từ năm 17 tuổi. Hiện giờ con gái lớn 7 tuổi, đứa thứ 4 vẫn còn ẵm ngửa. Ban ngày, vợ chồng chị ở nhà làm nương, rẫy. Đến khoảng 6 giờ chiều thì bồng bế nhau xuống thị xã Sa Pa bán hàng kiếm thêm. Thu nhập tùy ngày, hôm nào may mắn thì kiếm được vài trăm ngàn đồng, song có ngày ít hơn.

Anh Lý Láo San (35 tuổi, ở xã Tả Van, thị xã Sa Pa) chạy xe ôm cho biết thêm ở xã anh cũng có rất nhiều trẻ em xuống thị xã Sa Pa bán hàng như vậy. Trước đây, các con của anh cũng từng đi bán hàng rong.

“Đời mình vất vả rồi, không được học hành đầy đủ nên cái đói, cái nghèo vẫn bủa vây. Tôi bảo vợ khổ một chút, lấy tiền lo cho lũ trẻ đi học. Ban ngày tôi chạy xe ôm, tối tôi dựng sạp thuê ở chợ đêm, hết chợ lại ra dỡ sạp xuống cho chủ. Vợ bán hàng rong gần nhà thờ. Hai vợ chồng thuê phòng trọ nhỏ gần chợ, tiện đi lại,” anh San nói.

Mới đây, sau khi bị du khách đưa hình ảnh phản ánh tình trạng đêm ở Sa Pa, mưa rét, sương mù phủ kín, nhiệt độ giảm xuống 2 độ C, những đứa trẻ người H’Mông run rẩy bám theo khách bán đồ lưu niệm lên mạng xã hội, chính quyền thị xã Sa Pa liền ra khuyến cáo khách du lịch “Không cho tiền, không mua hàng của trẻ em” song vẫn không thể thay đổi, nhiều em vẫn theo cha mẹ ra đường mưu sinh vì đói nghèo.

Anh Trần Thịnh, từ Sài Gòn đến Sa Pa du lịch cho biết nhìn các em nhỏ mưu sinh trong giá rét mà không khỏi mủi lòng.

Nói với báo Tuổi Trẻ ngày 10 Tháng Giêng, ông Ngọc Ánh, nhân viên Đội Kiểm Tra Trật Tự Đô Thị Sa Pa, cho rằng khi tổ công tác kêu gọi, nhiều người đã không cho con em mình đi bán rong nữa, tuy nhiên ở thị xã vẫn còn một nhóm chuyên chèo kéo du khách.

Bé gái mới 4 tuổi nhưng phải đi bán hàng giữa trời giá rét, tối hôm 9 Tháng Giêng. (Hình: Vũ Tuấn/Tuổi Trẻ)

Theo đó, những người bố mẹ đưa trẻ đến thị xã rồi canh chừng một chỗ, để trẻ địu em đi bán hàng nhằm “lấy lòng thương hại của du khách.”

“Chúng tôi đã xử lý rất nhiều, nhiều lần đưa trẻ về Trung Tâm Bảo Trợ Xã Hội, nhưng sáng đưa ra thì chiều chúng trèo tường trốn mất. Tối đã thấy chúng bán hàng ngoài phố,” ông Ánh nói.

Trong khi đó bà Hoàng Thị Vượng, trưởng Phòng Văn Hóa Thông Tin thị xã Sa Pa, cho biết hiện chính quyền thị xã đã “thực hiện một kế hoạch dài hạn. Trong đó, điểm mấu chốt là tạo điều kiện để chính người dân H’Mông tiếp cận với cách làm kinh tế văn minh.”

“Chúng tôi đang tập hợp nguyện vọng của từng gia đình. Hộ nào muốn bán hàng chúng tôi sẽ bố trí địa điểm, hướng dẫn kỹ năng. Hộ nào muốn phát triển nghề dệt thổ cẩm, thủ công mỹ nghệ, dịch vụ du lịch… chúng tôi xây dựng chính sách để hỗ trợ,” bà Vượng nói. (Tr.N)

Thursday, January 7, 2021

Không có cầu, dân Quảng Nam kết bè bằng thùng nhựa vượt sông

 QUẢNG NAM, Việt Nam (NV) – Hàng chục gia đình ở làng Tắc Rối, xã Trà Tập, huyện Nam Trà My, phải dùng tám thùng nhựa kết lại với nhau để làm bè đi lại hằng ngày và vận chuyển hàng hóa qua sông Tranh rất mạo hiểm.

Do không có cầu từ làng bắc qua sông Tranh rộng khoảng 70 mét để ra bên ngoài, nhiều năm qua hơn 40 gia đình với khoảng 250 người ở làng Tắc Rối, xã Trà Tập, huyện Nam Trà My, chỉ còn cách mùa nắng thì dùng thuyền, bè qua sông, mùa mưa nước lũ thì đành bám trụ ở làng, khiến việc đi lại của người dân bị hạn chế, thụ động.

Chiếc bè thứ năm mà người dân làng Tắc Rối tự làm để vượt sông Tranh. (Hình: Thanh Thắng/VOV)

Theo báo VNExpress, do bờ sông bị sạt lở ngày càng nặng, hồi Tháng Năm, 2019, chính quyền huyện Nam Trà My đã sắp xếp lại khu dân cư. Làng Tắc Rối mới được hình thành trên bãi đất tương đối bằng phẳng, phía sau là những ngọn núi cao, phía trước là dòng sông Tranh. Quốc lộ 40B nằm bên kia sông, song cũng không có cầu nối vào làng.

Bà Hồ Thị Vân (35 tuổi ở làng Tắc Rối), cho hay đã có một số trường hợp chết đuối do cố gắng lội qua sông, trong đó có một giáo viên tiểu học… Nhiều người đau ốm không thể qua sông đến bệnh viện kịp thời.

Thế là những ngày cuối năm 2020, sau khi vận động chuẩn bị đủ vật liệu gồm thùng nhựa, ván gỗ và dây thừng, đinh sắt…, người dân làng Tắc Rối đã cùng nhau làm một chiếc bè rộng 4 mét vuông, có sức chứa khoảng 500 kg để hằng ngày qua lại con sông Tranh nước chảy cuồn cuộn. Họ kéo dây cáp qua sông, nối chiếc bè vào sợi dây cáp bằng ròng rọc. Khi cần di chuyển bè, người trong bờ dùng dây kéo.

“Từ ngày về làng mới, người dân dùng ghe thuyền để qua sông nhưng chỉ chở được ít người. Giờ đi bè chở được nhiều người và hàng hóa hơn, song chúng tôi vẫn lo bởi bè thường chao nghiêng mỗi khi nước chảy xiết,” ông Hồ Văn Thịnh (37 tuổi, ở làng Tắc Rối) cho biết.

Theo ông Thịnh, bè chỉ giúp người dân đi lại lúc thời tiết bình thường, còn nếu trời mưa lớn, nước từ thượng nguồn đổ về mạnh thì dan làng Tắc Rối như bị cô lập.

“Nước sông dâng lên sẽ khiến học sinh bán trú ở xã xã Trà Tập cuối tuần không thể về nhà, hoặc nếu đã về nhà trước đó thì không thể trở lại trường học. Trường hợp ốm đau gặp nước lớn cũng không thể đưa đi cấp cứu,” ông Thịnh lo lắng nói thêm.

Khi qua sông, người dân đi bè phải dùng tay để kéo rất nguy hiểm. (Hình: Đắc Thành/VNExpress)

Trả lời báo VNExpress về việc tại sao chính quyền không xây cầu cho dân làng, ông Trần Văn Mẫn, phó chủ tịch huyện Nam Trà My, cho biết huyện đã nhiều lần đề nghị với cấp có thẩm quyền xây cầu qua sông Tranh nhưng “chưa có kết quả.”

“Vừa qua, chúng tôi có khảo sát xây dựng cây cầu treo khoảng 2.5 tỷ đồng ($108,170), nhưng chưa có nguồn kinh phí để bố trí xây dựng. Đây là vấn đề rất lớn của huyện. Từ nay đến năm 2025, nếu không vận động được nguồn vốn thì huyện sẽ bỏ ngân sách ra làm để bảo đảm có cây cầu cho khu vực này,” ông Mẫn hứa hẹn.

Ông Lê Văn Bốn, giáo viên điểm trường Tắc Rối, thuộc trường phổ thông Dân Tộc Bán Trú Tiểu Học Trà Tập, huyện Nam Trà My, cho biết ông đã đi dạy ở miền núi hàng chục năm nay, nhưng Tắc Rối là điểm trường phải đi qua lại con sông Tranh bằng thuyền và bè đáng sợ nhất.

Nói thêm với báo VOV Đài Tiếng Nói Việt Nam, ông Hồ Văn Thịnh bày tỏ: “Đây là đợt thứ năm người làng vận động cùng nhau làm bè để cho bà con vượt sông bởi vừa rồi có hai người bị lật thuyền, nhưng may mắn có người vớt được. Những người không biết bơi đi bè ai cũng lo sợ, hoang mang, nhưng vì công việc, đói nghèo nên buộc phải đi thôi. Ước mơ lớn nhất là người dân nơi đây là có một cây cầu giúp mọi người qua lại sông Tranh dễ dàng hơn.” (Tr.N) [qd]

Saturday, January 2, 2021

Bộ Y Tế CSVN ‘nổi hứng’ biến rau, củ gia vị thành dược liệu để ‘siết’

 HÀ NỘI, Việt Nam (NV) – Bộ Y Tế CSVN “nổi hứng” đưa hàng trăm loại thực phẩm rất phổ biến được dùng trong đời sống hằng ngày vào “nhóm dược liệu” để quản lý như kinh doanh thuốc trị bệnh, khiến hàng ngàn doanh nghiệp khốn đốn.

Điều gây bất ngờ với các doanh nghiệp là trong danh mục mới của Bộ Y Tế có đến hàng trăm loại thực phẩm bình thường như các loại đậu ván, đậu đen, đậu khấu, đậu nành, đậu xanh, đậu trắng, hạt bí ngô, óc chó, bạch quả…; các loại rau củ gia vị như bạc hà, húng chanh, húng quế, ngải cứu, kinh giới, lá lốt, diếp cá, đinh lăng, riềng, gừng, nghệ, sả, tỏi… đến các loại bông Atisô, rau má, râu bắp, hoa cúc, cam thảo, sắn dây,… hay táo tàu, kỷ tử, táo mèo, hạt sen, long nhãn, thảo quả… và cả rễ cỏ tranh, lá khế, lá xoài, bồ kết…Tất cả đều trở thành “dược liệu” phải chịu sự quản lý theo quy định về sản xuất và kinh doanh của bộ này.

Những thực phẩm thông dụng giờ bị Bộ Y Tế CSVN biến thành “dược liệu” để quản lý. (Hình: Nguyễn Công Thành/Tuổi Trẻ)

Kể với báo Tuổi Trẻ, ông Nguyễn Thanh Minh, giám đốc một công ty xuất nhập cảng và logistics tại quận 7, Sài Gòn, cho biết hơn một tháng qua ông phải bỏ rất nhiều thời gian, công sức “chạy ngược chạy xuôi” liên hệ với nhiều nơi để tìm cách lấy các đơn hàng thực phẩm kinh doanh của công ty như óc chó, bạch quả, đậu đen, đậu khấu, đậu nành, đậu xanh, táo tàu, kỷ tử, táo mèo, ý dĩ, hạt sen, long nhãn, nấm linh chi, thảo quả… đã về đến cảng nhưng bị hải quan giữ lại từ cuối Tháng Mười đến nay do vướng quy định mới của Bộ Y Tế.

Ông Minh cho biết trước đây, công ty vẫn nhập các mặt hàng trên bình thường. Khi hàng về cảng, cán bộ của Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn kiểm tra rồi đưa về kho. Nhưng gần đây, Bộ Nông Nghiệp không kiểm tra nữa vì theo quy định mới, các mặt hàng nói trên thuộc quyền kiểm tra của Bộ Y Tế.

“Thực sự tôi không hiểu tại sao các loại thực phẩm thông thường như trên đã nhập cảng bao nhiêu năm, lại bị đưa vào quản lý như dược liệu. Mà nếu quản lý như dược liệu, thì các công ty xuất nhập cảng thực phẩm sẽ nghỉ hết do không nơi nào đủ điều kiện. Chúng tôi làm thực phẩm thì xây dựng nhà máy, kho hàng theo chuẩn an toàn thực phẩm của Bộ Nông Nghiệp, nay sản phẩm bị chuyển sang Bộ Y Tế quản lý thì các nhà máy, kho hàng mọi thứ lại phải thay đổi theo điều kiện của nhà thuốc. Như thế là quá lãng phí,” ông Minh bất bình nói.

Đại diện một doanh nghiệp ở Bình Định cũng bất an vì nhập cảng một số loại nguyên liệu như trái bồ hòn khô, vỏ quế khô, rễ hương bài khô, hương nhu tía… từ Ấn Độ, Nepal về để chế biến nước giặt tẩy, làm hương xuất cảng… cũng bị xếp vào nhóm dược liệu nên công việc bị đình trệ. Trong đó trái bồ hòn, hương nhu tía dùng để làm chất giặt tẩy tự nhiên không hóa chất đang được người tiêu thụ khá ưa chuộng.

“Ngay khi nhận được thông tin từ đơn vị lo xuất nhập cảng về quy định mới của Bộ Y Tế, chúng tôi đã phải chuyển sang mua nguyên liệu tại Việt Nam với giá cao hơn rất nhiều. Một số nguyên liệu trong nước không có hoặc không đủ, nên chúng tôi đã phải hủy một số đơn hàng xuất cảng dịp cuối năm,” đại diện công ty này cho biết.

Báo Tuổi Trẻ cho biết có hàng trăm doanh nghiệp nhập cảng thực phẩm và nguyên liệu đang bị vướng bởi quy định tại Thông Tư 48/2018 của Bộ Y Tế. Thông tư này ban hành danh mục dược liệu, các chất chiết xuất từ dược liệu, tinh dầu làm thuốc; thuốc cổ truyền, dược liệu xuất cảng, nhập cảng…

Bên cạnh thông tư trên, Thông Tư 03/2016 của Bộ Y Tế còn quy định “cơ sở xuất nhập cảng dược liệu phải có đủ các điều kiện ‘đã được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh thuốc với phạm vi bán buôn dược liệu,’ đạt các nguyên tắc ‘thực hành tốt bảo quản thuốc’ đối với dược liệu theo quy định do Bộ Y Tế kiểm tra…”

Theo Tiến Sĩ Nguyễn Thị Hồng Minh, chủ tịch Hiệp Hội Thực Phẩm Minh Bạch (AFT) thì “với quy định mới của Bộ Y Tế, các loại thực phẩm kể trên là dược liệu và phải được quản lý theo quy định về sản xuất và kinh doanh dược liệu. Điều này sẽ đẩy tất cả các doanh nghiệp xuất nhập cảng và kinh doanh có liên quan đến các mặt hàng nói trên vào thế không thể kinh doanh.”

Cục Bảo Vệ Thực Vật thuộc Bộ Nông Nghiệp thừa nhận thời gian qua, đơn vị này đã nhận được rất nhiều phản ánh từ các doanh nghiệp nhập cảng thực phẩm cho hay đang khốn đốn do vướng các thông tư kể trên của Bộ Y Tế.

Theo quy định mới của Bộ Y Tế thì người bán rau ngoài chợ sắp tới phải dẹp sạp. (Hình: Phụ Nữ TP.HCM)

Chưa hết, nếu Bộ Y Tế đưa các loại thực phẩm hằng ngày vào “danh sách dược liệu,” thì việc một người bán lẻ các loại hành, tỏi, gừng, quế, hồi, táo tàu, kỷ tử, hương nhu… ngoài chợ cũng phải đáp ứng quy định về hoạt động kinh doanh dược liệu, hoặc phải bỏ nghề vì không thể đáp ứng tiêu chuẩn.

Theo Cục Bảo Vệ Thực Vật “nguyên nhân cốt lõi vẫn là việc cơ quan soạn thảo là Bộ Y Tế ‘không phân định rõ’ sản phẩm nào thuộc quản lý của Bộ Y Tế, sản phẩm nào thuộc quản lý của Bộ Nông Nghiệp.” Do đó, muốn giải quyết dứt điểm khó khăn cho doanh nghiệp thì phải đợi Bộ Y Tế sửa đổi. (Tr.N) [qd]

Tuesday, December 15, 2020

Nghèo đói, mất việc, dân miền Tây theo nhau tha phương cầu thực

 CẦN THƠ, Việt Nam (NV) – Nghèo đói, không có việc làm, biến đổi khí hậu làm vùng đồng bằng sông Cửu Long (miền Tây) nổi tiếng trù phú xưa kia, nay cư dân theo nhau tha phương cầu thực.

Theo một bản báo cáo kinh tế hàng năm mới nhất về khu vực đồng bằng Sông Cửu Long do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), phối hợp với Trường Chính sách Công và Quản lý Fulbright (FSPPM) thực hiện sau hơn một năm nghiên cứu, thập niên vừa qua có gần 1.1 triệu người đã rời bỏ vùng đất này để di cư tới các khu vực khác kiếm sống.

Sông rạch ở Sóc Trăng cạn queo, một nông dân mò mẫm một vũng bùn xem còn cái gì không. (Hình: STR/AFP/Getty Images)

Con số vừa kể được mô tả là còn nhiều hơn tổng số dân của một tỉnh trong khu vực, và tương đương với số người gia tăng tự nhiên cho toàn vùng. Phần lớn họ chạy tới Sài Gòn và khu vực Đông Nam Bộ kiếm sống.

Theo tờ Dân Việt thuật lại bản báo cáo nói trên, nhiều nguyên nhân đã thúc đẩy người ta rời bỏ vùng đất trù phú vốn là vựa lúa không những nuôi cả nước mà còn thặng dư nhiều để xuất cảng.

Vùng đồng bằng sông Cửu Long cũng còn được gọi là Miền Tây của miền Nam Việt Nam gồm 13 tỉnh thành là Cần Thơ, Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh Long, Trà Vinh, Hậu Giang, Sóc Trăng, Đồng Tháp, An Giang, Kiên Giang, Bạc Liêu và Cà Mau.

Dân số khoảng hơn 17 triệu người (18% dân số cả nước) trên một diện tích đất chiếm 13% cả nước với một hệ thống sông rạch chằng chịt. Diện tích trồng lúa, theo thống kê của nhà cầm quyền trung ương, chiếm 47% diện tích khu vực và sản lượng khoảng 56% sản lượng lúa cả nước nhưng lại là khu vực nghèo hơn mức nghèo trung bình của cả nước.

“Tình trạng dịch bệnh, hạn hán kéo dài, xâm lấn mặn ngày càng nghiêm trọng làm môi trường kinh tế – xã hội vùng đồng bằng sông Cửu Long trở nên bấp bênh.”

Tờ Dân Việt ngày Chủ Nhật 13 Tháng Mười Hai kể. “hoạt động sản xuất công nghiệp quan trọng nhất ở dồng bằng Cửu Long là chế biến thủy hải sản, thế nhưng tốc độ tăng trưởng của hoạt động này lại khiêm tốn và nhiều yếu tố khác khiến công nghiệp khó phát triển.”

“Các hoạt động sản xuất công nghiệp còn lại khá trầm lắng, nếu có tăng trưởng thì chủ yếu tập trung vào các hoạt động chế tạo, chế biến thâm dụng lao động với giá trị thấp. Chưa dừng lại ở đó, ngành công nghiệp còn đang bị cản trở bởi nút thắt nghiêm trọng về cơ sở hạ tầng, đặc biệt là hệ thống giao thông kết nối với Đông Nam Bộ.”

Ruộng lúa bị hạn mặn xâm nhập, chết trắng. (Hình: Tuổi Trẻ)

Hơn hai tuần trước, trang mạng của đài VTV kể là “tuyến dân cư vượt lũ xã Phú Lộc, Tân Châu, An Giang có 1,000 hộ dân với khoảng 4,000 nhân khẩu. Khoảng 80% dân số nằm trong độ tuổi lao động. Tuy nhiên, 3/4 trong số đó đã ly hương mưu sinh nơi xứ người.”

Hôm 12 Tháng Mười Hai, 2020, Thủ Tướng CSVN Nguyễn Xuân Phúc tới tỉnh Thái Bình khánh thành tượng đài “Bác Hồ với nông dân Việt Nam” đã đọc bài diễn văn kể lể “Chúng ta cần giáo dục cho con cháu chúng ta về lòng biết ơn đối với người nông dân ta.” Ông nhắc lại câu ca dao “Ai ơi bưng bát cơm đầy. Dẻo thơm một hạt, đắng cay muôn phần” rồi nói thêm “hôm nay đếm chén cơm đầy, bao nhiêu hạt gạo ơn người trồng bấy nhiêu.”

Bây giờ, người nông dân miền Tây bán mặt cho đất bán lưng cho trời để xuất cảng lúa gạo lấy đô la nuôi đảng độc tài, phải tha phương cầu thực vì đất không nuôi nổi người nữa, không thấy ông Nguyễn Xuân Phúc đến đó đọc diễn văn. (TN) [kn]

Wednesday, September 30, 2020

Lũ không về miền Tây, dân vùng lũ ‘tha phương cầu thực’

 AN GIANG, Việt Nam (NV) – Con nước không về, những cánh đồng ở Đồng Bằng Sông Cửu Long chịu cảnh “chết khát,” cá tôm cạn kiệt, không có kế mưu sinh, nhiều người phải rời quê lên miền Đông, Sài Gòn “tha phương cầu thực.”

Báo VNExpress dẫn dự báo của Trung Tâm Dự Báo Khí Tượng Thủy Văn Quốc Gia cho biết: “Lũ năm nay dự kiến chỉ đạt khoảng 55% trung bình nhiều năm, thấp hơn cùng kỳ năm 2019, có thể sẽ là thấp nhất trong 10 năm vừa qua.”

Lũ thấp nên cánh đồng Vĩnh Hội Đông, huyện An Phú, tỉnh An Giang, nước chưa ngập hết gốc rạ. (Hình: Hoàng Nam/VNExpress)

Theo đó, từ đây đến cuối năm 2020, vùng hạ lưu sông Mê Kông “vẫn tiếp tục có mưa, tuy nhiên tổng lượng mưa trên toàn lưu vực sông Mekong vẫn thiếu hụt nhiều so với nhiều năm. Đỉnh lũ năm nay ở thượng nguồn sông Cửu Long, tại trạm Tân Châu và Châu Đốc sẽ ở mức thấp, dưới báo động Một (có khả năng gây tác hại đến các khu vực sản xuất nông nghiệp ở vùng trũng, thấp), xuất hiện muộn vào giữa Tháng Mười và sau đó sẽ giảm nhanh.”

Giữa Tháng Chín, con kênh Phú Hội dài hơn 10 cây số chảy từ thành phố Châu Đốc đến các xã Vĩnh Hội Đông, Phú Hội, Nhơn Hội (huyện An Phú, tỉnh An Giang) rồi đến biên giới tỉnh Takeo (Cambodia), chia những cánh đồng ở đầu nguồn lũ thành hai dãy. Một bên có đê bao khép kín với lúa Đông-Xuân đã được gieo sạ xanh tốt. Bên còn lại nước ngập sâu 40-50 cm, song nhiều khu vực ruộng gò cao còn trơ gốc rạ.

Cũng như nhiều gia đình khác, là dân vùng lũ nên ông Phan Văn Lặng (54 tuổi, xã Vĩnh Hội Đông) cất nhà “cao cẳng” gần ba mét để sống chung với nước ngập. Chỉ tay vào con đường đất trước nhà, ông Lặng cho biết hồi năm 2019, vào thời điểm này con đường đã ngập sâu dưới một mét nước. Còn mùa này, mực nước dưới sông vẫn còn thấp hơn con đường trước nhà đến hơn cả mét.

Tương tự, vùng Đồng Tháp Mười tỉnh Long An có năm huyện, với tổng diện tích lúa hai vụ khoảng 200,000 hécta, sản lượng trên hai triệu tấn mỗi năm. Năm ngoái, lũ thấp nhất nhưng đỉnh nước trên đồng cũng đạt khoảng 1.5 mét. Còn mùa này, những vạt đồng khô trơ gốc rạ.

Do ở thượng nguồn vùng lũ, mấy tuần trước ông Nguyễn Văn Phương (42 tuổi, ở Tân Thành A, huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp) nghĩ lũ bắt đầu về khi có vài cơn mưa lớn, nước ngập xăm xắp ruộng, nên ông cho đắp bờ tám hécta ruộng của mình, dùng máy xới đất để làm vụ Đông Xuân, tránh trường hợp như những năm trước là gieo sạ trễ để rồi lo sợ cảnh đê vỡ, nước tràn đồng ngập lúa. Tuy nhiên những ngày sau đó nắng gắt, mặt ruộng tiếp tục cạn nước, khô nứt nẻ.

Ông Trần Tấn Tài, phó Phòng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn huyện Tân Hưng, cho hay mực nước đầu nguồn hiện ở mức khoảng 1.4 mét, thấp hơn so với cùng kỳ khoảng tám tấc.

“Lũ không về, ruộng đồng sẽ ít phù sa, mầm bệnh, cỏ dại không được rửa trôi, chuột sinh sôi, người dân sẽ tốn thêm chi phí phân, thuốc,” ông Tài cảnh báo nói.

Ở cuối dòng Mekong, cách nhà ông Phương hơn 80 cây số, con kênh Lò Gạch dài trên 10 cây số, rộng khoảng 50 mét, chảy qua huyện đầu nguồn lũ Tân Hưng, tỉnh Long An, sang tỉnh Đồng Tháp, rồi đến biên giới Cambodia có mực nước đang xuống thấp, phải hơn bốn tấc nữa nước mới tràn vào cánh đồng bên trong.

Mùa lũ trước đây, cánh đồng ngập cao tới lưng quần, bông súng nở đầy, từ đầu ruộng đến cuối ruộng xuồng ghe giăng lưới nhộn nhịp. Dọc bờ kênh, xóm nghề lưới cá xã Hưng Điền mùa này những năm trước ghe, xuồng người dân lẫn ghe mua cá tôm đi lại tấp nập nhưng bây giờ vắng lặng.

Đồng cạn khô, mấy tuần nay ông Bảy Dê (53 tuổi, xã Hưng Điền, huyện Tân Hưng), lâm vào cảnh thất nghiệp, ngày nào cũng ngồi không uống trà cùng hàng xóm trong căn nhà sàn. Do không có lũ, phía dưới sàn được ông Bảy dùng làm nơi để hơn 30 miệng dớn, 60 cái lú.

Năm nay lũ nhỏ, người dân không có sản vật bán cho thương lái để mua sắm, đổi gạo sinh sống. (Hình: Hoàng Nam/VNExpress)

Xóm chài lưới xã Hưng Điền từ vài chục gia đình, mấy năm nay ít cá tôm, họ bỏ quê đến miền Đông, Sài Gòn làm công nhân, giờ chỉ còn lại chưa đến 10 nhà giữ nghề. Gọi là giữ nghề cho sang, thực ra họ cũng như ông Bảy Dê, đa số là những người lớn tuổi, chữ nghĩa ít, bị “bỏ rơi” lại quê nhà, bên những cánh đồng “nước năm sau cạn hơn năm nước.”

“Thằng con út tui đã gần 30 tuổi, cái nghề của mình mần được đồng nào ăn hết đồng đó, định ráng để dành vài mùa cá nữa cưới vợ cho nó, mà nước nôi kiểu này chắc nó phải đợi tới cóc mọc râu,” ông Bảy vừa nói vừa cười, nửa đùa nửa thật. (Tr.N) [qd]

Wednesday, September 23, 2020

Vòng lẩn quẩn đói nghèo, lao động trẻ em và buôn người ở Việt Nam

 Hình minh hoạ. Trẻ em đánh giầy trên phố ở Hà Nội hôm 15/11/2006

Hình minh hoạ. Trẻ em đánh giầy trên phố ở Hà Nội hôm 15/11/2006-AFP

Theo RFA- Thanh Trúc- 23-09-2020

Nghèo, lao động trẻ em, buôn bán người ở Việt Nam là tựa bài báo tiếng Anh trên  tờ ASEAN Post hôm 21/9 vừa qua.

Bài báo khiến người ta liên tưởng đến cái mắt xích, cái vòng luẩn quẩn giữa nghèo với lao động thiếu nhi và tệ nạn buôn bán người, không riêng ở Việt Nam mà cả những nước Đông Nam Á khác, là nhận định của bà Diệp Vương, Chủ tịch tổ chức Pacific Links - Vòng Tay Thái Bình, hoạt động tại Việt Nam hơn 2 thập niên qua:

“Mình phải thấy chuyện chênh lệch giàu nghèo là  vấn đề. Việc trẻ em nghèo phải bỏ học sớm để đi làm là cái khổ tâm vì chúng tôi có những chương trình học bổng và chúng tôi biết năm nay là năm các em bỏ học nhiều hơn những năm vừa qua. Tại vì gia đình nào mà mất việc thì cũng nghĩ con ở nhà phải đi kiếm việc mà không biết rằng trong toàn cảnh dịch COVID bây giờ việc làm không có. Thành ra có bỏ học đi kiếm việc cũng không ra. Đây là lúc phải tăng cường hỗ trợ đối với người nghèo để bảo vệ cho họ thoát chuyện trở thành nô lệ, trở thành nạn nhân bị mua bán”.

Bài báo trên ASEAN Post hôm thứ Hai 21/9 đã nhắc lại sự kiện kinh hoàng hồi tháng 10/2019, gọi là “Cái chết trong xe tải ở Essex”, với 39 thi thể đông cứng mà nhà chức trách sở tại  khẳng định là 39 người Việt trên đường đi chui vào nước Anh để kiếm việc làm.

Theo bà Diệp Vương, cả thảy 39 người xấu số đều có điểm xuất phát chung từ vùng nghèo Nghệ An miền Trung, được một đường dây buôn người đưa ra khỏi nước với điểm đến sau cùng là Anh quốc:

Số tiền họ phải trả là 11.000 Đô La/người  để có một  ghế trong cuộc đánh cược với từ thần. Mười một ngàn Đô La này là giá từ quảng  đường qua Anh thôi, chứ còn tổng số tiền đi từ Việt Nam qua Anh  khoảng chừng 30.000 Bảng Anh tức 40.000 Đô La”.

Báo ASEAN Post cũng nêu tên một bản phúc trình hồi tháng 3/2019, có  tên Precarious Journey, Hành Trình Gian Khổ, do ECPAT UK – tổ chức chuyên hỗ trợ làm việc với nạn nhân buôn người, cùng với  Anti Slavery International - Quốc Tế Phòng Chống Nô Lệ và Pacific Links - Vòng Tay Thái Bình phối hợp thực hiện.

Hình minh họa. Hình chụp hôm 20/10/2018: những người ở trên một căn nhà nổi ở kênh Xuyên Tâm ở thành phố Hồ Chí Minh
Hình minh họa. Hình chụp hôm 20/10/2018: những người ở trên một căn nhà nổi ở kênh Xuyên Tâm ở thành phố Hồ Chí Minh AFP

Kết quả điều tra từ phúc trình này cho thấy chỉ tính trong vòng một năm rưỡi trở lại, trên 3.100 người lớn và trẻ vị thành niên Việt Nam đã bị bán qua Anh, Pháp, Hà Lan, Cộng Hòa Czech, Ba Lan để lao động chui tức không có giấy tở hợp pháp.

Đó là chuyện năm ngoái, còn năm nay, theo bà Diệp Vương, vì đại dịch kéo dài nên có vẻ những đường dây đưa người ra khỏi nước bằng máy bay đang tạm dừng lại:

Tuy nhiên việc mua bán người bằng đường bộ thực sự đang trên đà tăng lên. Vấn nạn xảy ra  ngày 11/9 vừa qua là bộ đội biên phòng Lào Cai chận bắt hai mươi mấy người bị đưa bán qua biên giới. Đồng thời, chính những chủ Trung Quốc sử dụng lao động Việt Nam trái phép, khi mà không có việc làm nữa thì lại đi kêu công an Trung Quốc tới xúc mấy người này thảy trở về Việt Nam. Trong số bị đẩy trở về như vậy cũng có rất nhiều cô gái đã bị lạm dụng đã bị bán qua Trung Quốc, coi như bị những gia đình mua những cô này thảy các cô trở về. Hậu quả của Covid đối với người nghèo càng nặng nể hơn”.

Nói chung nghèo là lý do, nhưng có người không nghèo, nghĩa là có nhà, có đất mà muốn đi để có nhiều tiền hơn. Tôi thấy phụ nữ nghèo mới là nạn nhân, con của người ta còn nguy cơ hơn nữa. Đối với tôi là có trường hợp bị mua bán và trường hợp tự đi - George Blanchard

Vì nghèo mà trở thành nạn nhân của buôn người thì có nhưng không hoàn toàn đúng, là nhận định của ông Georges Blanchard, giám đốc ATT Liên Minh Chống Buôn Người hoạt động tại Việt Nam từ năm 1992:

Nói chung nghèo là lý do, nhưng có người không nghèo, nghĩa là có nhà, có đất mà muốn đi để có nhiều tiền hơn. Tôi thấy phụ nữ nghèo mới là nạn nhân, con của người ta còn nguy cơ hơn nữa. Đối với tôi là có trường hợp bị mua bán và trường hợp tự đi”.

Cô Tăng Thị Duyên Hồng, tổ chức phi lợi nhuận  Coins4Change do cô sáng lập để hoạt động trong lãnh vực bảo vệ quyền phụ nữ và trẻ em,  cho rằng nạn buôn bán phụ nữ và trẻ em ở Việt Nam là có, báo chí và chính quyền cũng thừa nhận và cũng có nhiều vụ việc được tiếp cận một cách công khai như câu chuyện “Cái Chết Trong Xe Tải Ở Essex” mà báo ASEAN Post nói đến:

Hầu hết đều nói rằng  nguyên nhân là đói nghèo, nhưng theo tôi nguyên nhân không phải là đói nghèo mà chính xác hơn là nỗi ám ảnh về sự đói nghèo. Cụ thể như vụ 39 người chết chẳng hạn, họ có nhà có cửa, thậm chí nhà rất to chứ không phải túp lều tranh của người nhất định phải ra khỏi sự đòi nghèo”.

Vậy thì cái ám ảnh về sự đói nghèo là vấn nạn chung của hầu hết người Việt Nam, đặc biệt những người  vùng Thanh-Nghệ Tĩnh lcó truyền thống, có câu chuyện và có những bài vè về đói nghèo nó ám vào tâm trí rằng họ là nghèo đói và phải vượt qua bằng mọi giá”.

“Có thể thấy  rõ ở những làng quê của tỉnh Nghệ An, nạn buôn người hay đúng hơn là những người chủ động trở thành nạn nhân của nạn buôn người, chủ động để bị bán đi sang Anh. Còn ở miền Tây là hôn nhân sắp đặt, gả con gái cho người Trung Quốc, người Đài Loan, người Hàn Quốc, chủ động cho con  trở thành nạn nhân buôn người, nghĩa là chủ động bị bán đi. Mỗi lần gả bán đó thì phụ huynh kiếm được một khoản tiền”.

Cùng với buôn người thì lao động trẻ em, theo ASEAN Post, cũng phải được nêu lên như một vấn đề nghiêm trọng của Việt Nam.

Kết quả từ chương trình Khả Sát Quốc Gia Về Lao Động Trẻ Em mà Hà Nội khởi đông hồi 2012 cho thấy Việt Nam có hơn 1,7 triệu trẻ lao động với 85% là trẻ ở nông thôn, và trên 1/3 phải làm việc trên 42 giờ/tuần.

Đây là cuộc khảo sát do Tổng Cục Thống Kê phối hợp với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và Tổ Chức Lao Động Quốc Tế ILO.

Trong một lần trao đổi với RFA, bà Võ Kim Hiền, chuyên viên Trung tâm Nghiên cứu Dân số, Lao động - Việc làm, Viện Khoa Học Lao Động và Xã Hội từng nhận định rằng :

Đối với các trẻ em sống trong gia đình nghèo thì việc đi kiếm sống là một hiện tượng xã hội đã có từ rất lâu. Ở Việt Nam có hiện tượng trẻ đi  kiếm sống sớm thì các em đã bị bóc lột sức lao động, hoặc phải lao động nặng nhọc trong các điều kiện nguy hiểm, độc hại và thủ đoạn bóc lột ngày càng tinh vi hơn. Vấn đề là không thể để trẻ em phải làm việc trong các điều kiện nguy hiểm”.

Còn theo bà Võ Thị Cẩm Nhung, cựu cán bộ Ủy ban Dân số Kế hoạch hóa gia đình và Bảo vệ bà mẹ, trong một đất nước phát triển , gia đình có khả năng nuôi con thì 18 là độ tuổi hợp pháp để có thể làm việc:

Thực tế ở Việt Nam là con còn nhỏ vẫn phải đồng ý cho nó đi làm để kiếm tiền, thậm chí còn bắt con đi làm. Nhưng bây giờ bảo họ phải chấp hành theo quy định của luật thì gia đình họ lấy gì sống? Mình có can thiệp nuôi được gia đình họ không? Có những cái mà luật phải tùy tình hình thực tế nên phải có những áp dụng cho phù hợp để người dân có thể thực thi mà không vi phạm quy định pháp luật”.

Tuy nhiên theo ASEAN Post, công bằng mà nói thì Việt Nam đã thực hiện nhiều bước tích cực nhằm giảm thiểu số lượng trẻ dưới tuổi vị thành niên.

Bài báo dẫn số liệu của Tổ Chức Bảo Vệ Trẻ Em Save The Children, cho thấy số trẻ lao động ở Việt Nam từ 67% năm 2000 đã giảm dần xuống còn 28% 2 thập niên qua và nay  đang ở mức 9%.

Ngoài việc phê chuẩn các công ước của tổ chức Lao Động Quốc Tế ILO. Việt Nam còn là quốc gia đầu tiên tại Châu Á và thứ hai trên thế giới đã ký tên vào Công ước Quốc tế về Quyền Trẻ Em của Liên Hợp Quốc năm 1990.

Tháng 11 năm 2000, Chính phủ Việt Nam phê duyệt Công Ước số 182 liên quan các hình thức lao động thiếu nhi tồi tệ nhất (năm 1999).

Đến 2003, Việt Nam phê duyệt Công Ước 138, qui định tuổi làm việc tối thiểu (năm 1973).

Năm 2015, Việt Nam cam kết sẽ xóa bỏ các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất, để tới 2020 sẽ không còn nạn trẻ lao động trong điều kiện nặng nhọc, nguy hiểm.

Việt Nam cũng thành công nâng cao mức sống cho người dân nông thôn, tăng cường ý thức về nạn buôn người, đầu tư mạnh vào giáo dục và giảm thiểu tình trạng lao động trẻ em trong vài năm trở lại đây, là đánh giá của ASEAN Post.

Chủ tịch Vòng Tay Thái Bình, bà Diệp Vương, đồng ý với nhận xét của ASEAN Post:

Thực sự trong thời gian qua chính phủ Việt Nam đã làm rất nhiều và cũng có rất nhiều cố gắng. Tuy nhiên trong đại dịch này thì sự quan tâm về kinh tế sẽ đưa tới chuyện không quan tâm đúng mức đối với nguy cơ buôn người.  Hiện thời chuyện quan trọng nhất là nâng cao ý thức vì nếu không họ sẽ liều mạng, sẽ dấn thân hơn là biết có nguy cơ này”.

Đối với ông George Blanchard của Liên Minh Phòng Chống Buôn Người, Việt Nam hoàn toàn có khả năng chống nạn buôn người, vấn đề là :

Tôi làm ở Việt Nam từ 1992 nên là tôi có được kinh nghiệm gần 30 năm. So với nhiều nước ở khu vực Đông Nam Á phải nói Việt Nam là phát triển tốt, chắc chắn phải có thay đổi, phải có thành công. Nói chung là có tiến bộ nhưng vẫn chưa ổn, quan trọng là giáo dục phòng ngừa về nguy cơ xâm hại tình dục, về nguy cơ buôn bán người”

“Luật pháp Việt Nam không có vấn đề, cán bộ và công an không thiếu, người ta biết tất cả, biết rất rõ, vấn đề là có người không muốn làm. Người ta đã tập huấn vấn đề buôn bán người với Thái Lan 30 năm rồi, làm hay không muốn làm là chuyện khác”.

Theo kết luận của ASEAN Post, muốn xóa sạch nạn buôn người mà nhất là buôn bán trẻ em, Việt Nam phải kiên trì xóa nghèo, phải làm sao cho người dân nhập tâm và nhận thức rằng trường học là nơi trẻ được bảo vệ, học tập và vui chơi chứ không phải môi trường làm việc bên ngoài học đường.

Luật Phòng Chống Mua Bán Người của Việt Nam được Quốc Hội thông qua ngày 29/03/2011, tiếp đó được sửa đổi  bổ sung và có hiệu lực thi hành từ ngày 1/2/2012.

Kế tiếp là Luật Trẻ Em, được Quốc Hội thông qua ngày 5/4/2016, có hiệu lực ngày 1/6/2017. Đến năm 2018 luật được sửa đổi, bổ sung một số điều khoản để chính thức có hiệu lực từ ngày 1/1/2019.

Monday, September 23, 2019

Một gia đình suốt 44 năm sống trên nóc nhà vệ sinh giữa phố cổ Hà Nội

Túp lều 8 mét vuông trên nóc nhà vệ sinh công cộng của vợ chồng ông Hải. (Hình: VNExpress)
HÀ NỘI, Việt Nam (NV) – Khó có ai nghĩ rằng, giữa lòng phố cổ Hà Nội “sầm uất và náo nhiệt” lại có một gia đình phải sống trong túp lều chưa đầy 10 mét vuông được cất ngay trên nóc nhà vệ sinh tập thể của sáu căn hộ trong hẻm nhỏ.
Theo báo VNExpres ngày 21 Tháng Chín, 2019, chính xác diện tích “nhà” của ông Nguyễn Phùng Hải (80 tuổi) và vợ là bà Nguyễn Thị Xâm (70 tuổi) cùng cô con gái (26 tuổi) chỉ rộng có 8 mét vuông, được dựng trên nóc nhà vệ sinh công cộng chung của sáu căn hộ bên dưới trong một con hẻm nhỏ ở giữa phố Hàng Bạc, quận Hoàn Kiếm (Hà Nội).
Vách nhà là những tấm tôn, quây tạm bợ, chắp vá, lâu ngày hoen gỉ tạo thành những lỗ thủng nhỏ. Bên trong nhà tăm tối và xập xệ, tường bong tróc từng mảng, chất đầy đồ đạc cũ kỹ.
Trời nắng, những bữa cơm trưa thường bị cả nhà bỏ dỡ giữa chừng vì vừa bê bát cơm lên thì mùi xú uế từ dãy nhà vệ sinh bên dưới xộc thẳng vào mũi khiến mọi người không thể ăn tiếp.
Còn những hôm trời mưa, nước từ mái tôn dột chảy ồ ạt vào trong nhà, bà Xâm phải liên tục dùng chổi quét nước ra ngoài. “Không quét nhanh, nước lên có lần cao đến 20 cm. Nếu mưa cả đêm thì phải thức theo mưa mà quét nước,” bà Xâm nói.
“Giường” ngủ của bà Xâm và cô con gái là chiếc chiếu phủ lên trên một tấm gỗ ngang một mét, dài một mét rưỡi. Dưới tấm gỗ mục là lớp gạch ẩm ướt, cũng chính là mái của nhà vệ sinh.
Những bữa cơm trưa thường bị bỏ dở giữa chừng vì mùi xú uế từ dãy nhà vệ sinh bên dưới xộc thẳng lên mũi. (Hình: VNExpress)
Kể với báo VNExpress, ông Hải cho biết năm 1975, con hẻm này chỉ có gia đình ông sinh sống, sau có thêm mấy gia đình nữa. Do lúc đó còn độc thân không muốn làm phiền gia đình, thấy nóc nhà vệ sinh công cộng có thể tận dụng được để ở nên ông dọn lên.
“Hồi đó tôi chỉ ở khoảng 3 mét vuông, lợp mái tôn và vách là cót ép, giấy dầu. Năm 1989 lấy vợ, nhà có thêm người nên cơi nới ra bằng diện tích như bây giờ,” ông Hải nói.
Bà Xâm gốc nông dân ở vùng lân cận, lấy ông Hải lúc đã 39 tuổi. “Qua mai mối nên tôi cũng chẳng biết nhà cửa ông ấy ra sao. Đón dâu về, trèo lên nóc nhà vệ sinh, tôi hoảng hồn. Đời mình ra tóp rồi. Phòng cưới gì mà dột nát, tạm bợ, xung quanh dây dưa lê và cỏ mọc xanh rợp,” bà Xâm nhớ lại.
Đêm tân hôn, bà Xâm nhất quyết không ngủ với chồng mà đi ngủ nhờ. Hôm sau bà bỏ đi, nhưng nghĩ lại “giàu nghèo gì đó cũng là chồng mình” nên trở về với ông Hải. Và kể từ ngày đó, bà chẳng dám mời họ hàng lên chơi vì xấu hổ. Cả hai người con của ông bà sau này cũng chưa từng mời bạn bè về nhà chơi.
Ở trên nóc khu vệ sinh nên hầu như lúc nào nhà ông Hải cũng phảng phất mùi xú uế, nhất là khi trời nắng nóng. Ngày nào hai ông bà cũng thay nhau dội nước, quét nhà vệ sinh chung bên dưới để mong nhà mình ở trên bớt ô nhiễm, hôi hám.
Chưa hết, khổ nhất là mùa Hè với cái nắng nóng hầm hập ở Hà Nội, buộc ông Hải phải dành vài tiếng vào buổi chiều để hất nước lên tường nhà vệ sinh bên dưới cho mát.
Điều làm ông Hải an tâm là không lo bị ai kiện cáo và bị nhà nước giải tỏa. (Hình: VNExpress)
Nói với báo VNExpress, hai vợ chồng ông cũng ao ước có một căn nhà đàng hoàng hơn. Tuy nhiên, cuộc sống giờ phụ thuộc vào cậu con trai lớn đã ra ở riêng, trong khi đó ông Hải bơm vá xe ngoài phố chỉ kiếm được vài ngàn đồng mỗi ngày, bà Xâm từng bán bún riêu nhưng bốn năm nay nghỉ vì nhiều thứ bệnh nên ước mơ về ngôi nhà mới dường như là không tưởng.
“Thằng cả cũng có ý định gom góp mua chúng cư rồi đón bố mẹ về ở chung, nhưng chưa chắc chúng tôi đã chuyển đi. Vợ chồng tôi muốn được tự do hơn là làm phiền con cháu,” ông Hải tự an ủi.
Dù là “nhà” trên nóc nhà vệ sinh, nhưng ông Hải không lo bị ai tranh giành, kiện cáo hay bị nhà nước giải tỏa lấy đất như nhiều người dân ở Việt Nam đang bị: “Có ai đi kiện cái người ở trên nóc chuồng xí không?” ông Hải cười buồn nói.
Bà Hồ Thị Minh, hàng xóm của ông Hải cho hay gia đình ông Hải thuộc gia đình nghèo đã nhiều năm, đến tận năm ngoái mới thoát nghèo vì các con đã lớn và đi làm có thu nhập. “Đây là gia đình duy nhất trong tổ với gần 1,000 gia đình phải sống trên nóc nhà vệ sinh công cộng. Và có thể ở Hà Nội này không có trường hợp thứ hai,” bà Minh cho biết thêm. (Tr.N)

Saturday, February 9, 2019

Cứ Mùng Bốn Tết, một ngôi làng ở Hà Nội ăn 4 tấn thịt chó ‘lấy may’

Thôn Yên Trường, xã Trường Yên, huyện Chương Mỹ, Hà Nội có tục lệ ăn thịt chó đầu năm mới. (Hình: VietNamNet)
HÀ NỘI, Việt Nam (NV) – Cứ vào ngày Mùng Bốn Tết hàng năm, người dân thôn Yên Trường, xã Trường Yên, huyện Chương Mỹ, lại dùng đến 4 tấn thịt chó để làm tiệc ăn “lấy may.”
Báo VietNamNet ngày 9 Tháng Hai, 2019, cho biết thôn Yên Trường (xã Trường Yên, huyện Chương Mỹ) nổi tiếng với tục ăn thịt chó “đồng loạt” vào ngày Mùng 4 Tết và đã được “duy trì qua nhiều thế hệ.”
Sáng Mùng Bốn Tết, cả thôn như ngày hội. Những người cao tuổi trong dòng họ ra đồng tảo mộ, thắp hương người đã khuất. Trong khi đó, lớp trẻ ở nhà chuẩn bị nấu nướng, chế biến các món ăn từ thịt chó. Khi quay về, tất cả họ hàng sẽ tập trung tại nhà thờ tổ làm lễ cúng bái và mở tiệc toàn bằng thịt chó.
Người dân làng Yên Trường cho biết, công việc chuẩn bị cho ngày này được bàn bạc từ trước Tết. Người trưởng họ sẽ cắt cử thanh niên đi đặt thịt chó tại các lò mổ ở các xã lân cận. Dòng họ nào cũng mua vài con chó để làm cỗ. Sau đó, họ lên thực đơn chế biến và phụ nữ đảm nhiệm việc nấu nướng, đặc biệt là các món: luộc, giềng mẻ, canh măng và dăm hành.
Cả thôn Yên Trường có khoảng 1,300 gia đình, với khoảng 7,000 người. Ước tính ngày Mùng Bốn Tết cả làng sẽ tiêu thụ hết khoảng 4 tấn thịt chó. Chưa kể, nhiều gia đình tự mua về để ăn và mời bà con, hàng xóm vào buổi chiều. Đó còn chưa kể một số gia đình còn làm thêm món giò chó, nên lượng thịt sẽ nhiều hơn gấp đôi gấp ba.
Từ già, trẻ, trai, gái đều thích thú với các món ăn từ thịt chó. Nhiều cô gái từ xứ khác về làm dâu, ban đầu thấy lệ làng ăn thịt chó khá bất ngờ, sợ không dám ăn nhưng lâu dần, họ cũng “nhập gia tùy tục.”
Mới đây, Ủy Ban Nhân Dân Hà Nội đã có văn bản về việc “tăng cường công tác quản lý nuôi, giết mổ, kinh doanh và sử dụng thịt chó, mèo” mong muốn người dân từ bỏ thói quen ăn thịt chó, và sẽ tiến tới việc cấm buôn bán thịt chó ở các quận nội thành vào năm 2021.
Tuy nhiên, nhiều người dân Yên Trường cho biết, nếu nhà nước cấm, dân làng cũng không từ bỏ bởi “đã là tục lệ thì không thể bỏ.”
“Chúng tôi quan niệm thịt chó đơn thuần là món ăn ngon, nhiều đạm và lạ miệng ngày đầu năm. Quan trọng hơn, nó là lệ làng, là truyền thống từ xưa đến nay vẫn được duy trì,” ông Thu (82 tuổi) nói với tờ Trí Thức Trẻ.
Với dân làng Yên Trường, coi việc ăn thịt chó đầu năm là “một điều may mắn, tốt đẹp.”
Một số người dân kể, không chỉ ngày Tết mà trong các ngày quan trọng của gia đình, dòng họ như giỗ, đám cưới, đám ma…, nhất định phải có thịt chó. Nếu không có thịt chó coi như không có cỗ. Các món đưa lên bàn thờ cúng vẫn là gà, xôi, thịt bò… Tuy nhiên, khi ngồi ăn, người làng này chỉ dùng thịt chó. (Tr.N)

Wednesday, January 30, 2019

Bà cụ 85 tuổi dầm mình dưới biển bán ngao, sò nuôi cháu tâm thần

Cụ Rớt dầm mình dưới biển bán ngao sò nuôi người cháu tâm thần 61 tuổi. (Hình: Thanh Niên)
KIÊN GIANG, Việt Nam (NV) – Ngay khu ẩm thực nhộn nhịp nổi tiếng ăn chơi ở cầu cảng Hàm Ninh, huyện Phú Quốc, có một bà cụ 85 tuổi nhưng hằng ngày vẫn phải ngâm mình dưới nước biển để bán ngao, sò nuôi người cháu gái tâm thần 61 tuổi.
Báo Thanh Niên hôm 28 Tháng Giêng, 2019, mô tả, nhiều người tò mò nhìn xuống mặt nước biển khi nghe tiếng rao “Mấy cô chú ơi, mua giúp tui ký sò dẹo” của bà Nguyễn Thị Rớt (85 tuổi) đang dầm mình trong nước biển gọi với lên từ phía dưới chân cầu cảng Hàm Ninh, huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang, nơi dẫn đến khu nhà hàng bè nổi tiếng của “Đảo Ngọc.”
Ở dưới đó, bà Rớt ngẩng gương mặt lên như đang chờ đợi một ai đó thương tình mua cho vài ký, cạnh bên là một chiếc can nhựa khoét một bên bề ngang để chứa sò và chiếc thau chứa ngao dập dềnh trên nước để có chút tiền đắp đổi qua ngày, mặc cho nắng bỏng rát, lại thêm gió biển mặn chát phả da thịt làm hầu hết du khách muốn bước thật nhanh để chui ngay vào nhà hàng.
Trả lời thắc mắc của báo Thanh Niên tại sao không đem lên trên bờ mà bán để khách dễ mua. Vả lại, dầm mình dưới nước cả ngày như vậy không tốt cho sức khỏe, bà Rớt  giải thích: “Tui già rồi không bưng nổi. Bỏ ngao, sò vô can nhựa này kéo đi dưới nước mới được. Mỗi ngày mua mấy ký sò, ký ngao bán kiếm chút tiền để nuôi con cháu khùng 61 tuổi.”
Vẻ mặt chờ đợi du khách trên cầu cảng mua ngao sò của bà cụ 85 tuổi. (Hình: Thanh Niên)
Bà Rớt kể tiếp “con nhỏ khùng” đó là cháu bên chồng tên là Đinh Thị Hết. Khi cô Hết mới vừa lọt lòng thì mẹ chết. Từ đó, vợ chồng bà Rớt đem cô cháu về nuôi.
“Vợ chồng tui không có con, mà con nhỏ đó cũng không còn cha còn mẹ nên phải nhận nuôi nó. Mà đâu có biết lớn lên nó bị tâm thần. Nó làm khổ vợ chồng tui ghê lắm, nhưng đâu nỡ nào bỏ nó được,” bà Rớt nói.
Hỏi về cụ ông, cụ Rớt rơm rớm nước mắt: “Ổng chết cách đây 15 năm rồi. Hồi ổng còn sống, tui và ổng cũng khổ. Hai vợ chồng hai mươi mấy năm đi cắt cỏ tranh về bán cho người ta lợp nhà. Tiền bán cỏ tranh chẳng bao nhiêu, nhưng cũng đỡ. Từ ngày ổng mất thì tui nghỉ đi cắt cỏ tranh vì một mình không làm nổi. Tui phải ở đậu nhà đứa cháu trai bên chồng làm nghề lặn biển thuê.”
Nghe cụ Rớt kể đến đây, một số người dân sống xung quanh gần đó cũng “xác nhận” rằng bà cụ 85 tuổi này có hoàn cảnh y như vậy.
Khi chờ khách mua sò, cụ Rớt gỡ những sợi dây trôi dạt đem về nhà dùng. (Hình: Thanh Niên)
Theo như lời cụ Rớt, trong khoảng 15 năm bán ngao sò ở cầu cảng Hàm Ninh này cũng có một vị du khách “sộp” mua hết mớ sò và còn “bo” thêm tổng cộng hơn cả triệu đồng (khoảng $43). Một vài “ngôi sao” trong làng giải trí cũng tặng cụ tiền triệu. Nhưng những trường hợp như vậy cũng đâu có nhiều.
Vậy là mỗi ngày cụ Rớt lại rời căn nhà ở đậu cùng cháu trai, lội đến cầu cảng cách đó khoảng 500 mét dầm mình dưới nước biển, đội trên đầu cái nắng chang chang để bán ngao sò nuôi “con nhỏ khùng.”
Cụ Rớt thật thà nói tiếp: “Hai năm nay có đỡ hơn. Nhưng thằng cháu nuôi mình cuộc sống cũng còn vất vả, khó khăn lắm. Nó đi lặn sò, lặn ốc thuê cho người khác để nuôi gia đình của nó. Còn tui ráng đi bán sò, bán ngao để nuôi con nhỏ khùng. Khi nào con nhỏ khùng chết, tui nghỉ bán.”

Nói với báo Thanh Niên về trường hợp của cụ Rớt, một cán bộ xã Hàm Ninh cho biết, cụ Rớt đang hưởng chế độ trợ cấp 270,000 đồng/tháng (khoảng $12), cộng với số tiền bảo trợ cho cô cháu bị tâm thần cũng được khoảng trên 1 triệu đồng (hơn $43)/tháng. Tuy nhiên, bà cán bộ này cũng cho biết thêm, “gia đình cụ Rớt đã được đưa ra khỏi diện nghèo mấy năm nay.” Như vậy theo quy định, số tiền này cũng không còn được lãnh. (Tr.N)

Sunday, December 2, 2018

Việt Nam, ‘bước ra đường là đụng quán nhậu’

Du khách “Tây ba lô” uống bia vỉa hè ngay trên đường xe lửa ở Hà Nội. (Hình: Getty Images)
SÀI GÒN, Việt Nam (NV) – Kéo dài từ Ải Nam Quan tới Mũi Cà Mau, từ Hà Nội đến Sài Gòn, từ Đà Nẵng đến Nha Trang, Đà Lạt, Hải Phòng… tất cả đều bị quán nhậu bao vây như một ma trận của rượu bia. Nó bốc mùi đến mức đi ngủ vẫn còn nghe thấy.
Câu cửa miệng của dân Việt bây giờ là “Sao làm vài ve chứ?” Và, tiếp theo đó là “kéo nhau ra quán, ừ ra quán.” Ở đó đang có “quái nhân bằng hữu” chờ đợi, không nhiều thì ít cũng cạn vài ba ly, bét nhất cũng hết năm ba lon…
Lai rai cũng hết chiều tà, sương sương cũng hết vài thùng, lùng bùng cũng vài két, bia mà, nhẹ nhàng lắm, uống nhiều mới xỉn, uống ít thấy “sưng sưng,” trăm phần trăm thấy “sừng sừng” mà khi đã … “sung sung” rồi thì mấy mấy cũng được, cho đến khi không thấy đường về.
Không sao hết cứ leo lên xe và chạy, cái xe nó sẽ đưa mình về, không tới nhà thì cũng đến… bệnh viện và tệ hơn có thể là… nhà xác. Không có gì lạ, khi mà tai nạn giao thông do bia rượu chiếm tỷ lệ cao nhất trong các loại tai nạn khác.
Một quán bia hạng sang ở Hà Nội. (Hình: Getty Images)
Theo thống kê hàng năm nhất là vào các dịp lễ tết thì những cái chết hay bị thương tật do say xỉn phóng nhanh vượt ẩu của những tay “bợm nhậu” thuộc hàng quán quân, luôn “top” đầu của bảng tử thần, chết như chơi, chết như đùa.
Mà đúng như “đùa” thiệt, đêm đêm cứ nghe tiếng nẹt pô, rú ga rồi còi hụ là người ta biết ngoài phố kia… đâu đó đang có một vụ đụng xe, và chắc cũng có người bị gãy tay lọi chân, có người vù một phát xuống địa ngục.
Có bao nhiêu người xấu số vô duyên phải đi theo mấy tay hung thần đó thì không đếm xuể, chỉ cần “leo” lên mạng là có thể thấy đầy hình ảnh máu me kinh hoàng xe cộ móp méo quằn quại, nó xuất hiện khắp nơi từ núi cao đến tận đồng bằng phố thị.
Đâu đâu cũng thấy quán nhậu, nhìn đâu cũng thấy dân nhậu “dzô dzô trăm phần trăm” những tiếng hô gào lên cùng một lúc như lên đồng tập thể. Hỏi có gì vui thế? Trả lời “không có gì, cuối tuần nghỉ việc cả cơ quan kéo nhau ra quán làm vài ly cho đỡ buồn.”
Hỏi “buồn gì mà đi nhậu ác chiến vậy?” Trả lời “không buồn gì hết, chỉ thấy buồn buồn (?). Người ta đi mình cũng đi, người ta uống mình cũng uống, vài ba ly…, dăm ba lon xong rồi hùn nhau trả tiền là đủ một bữa nhậu tưng bừng ‘một hai ba dzô!’”
Một quán nhậu bình dân ở Sài Gòn. (Hình: Nguyễn Sài Gòn/Người Việt)
Nhậu mà không có “bóng hồng” nào thì chán chết nên gì gì thì cũng phải cố gắng kêu thêm một vài “em” cho nó nóng thêm cuộc nhậu. Vì có “mấy bả” thì nhậu càng sung, uống rượu mà không có giai nhân thì chán chết, ông bà nói “tửu sắc” không sai.
Vậy nên “rủ nhau ra quán ừ ra quán.” Một câu thơ của ai đó xưa kia như một nỗi niềm thì bây giờ như một “khẩu hiệu” của dân nhậu, nhiều khi “vui quá cũng nhậu, buồn quá cũng nhậu, bị bồ đá cũng nhậu, yêu nhau rồi chia tay nhau cũng nhậu.” Nói chung chuyện gì cũng có thể nhậu được hết!
Vì biết làm gì đi đâu trong cái đất nước “hỗn mang” này, khi mà giới quan chức tham ô nhũng lạm ngày đêm cũng chìm đắm trong những nhà hàng, bar rượu, gái đẹp,… ngút ngàn sang trọng, thì dân đen mình cũng tội gì mà không nhậu.
Mỗi nơi nhậu nhậu một kiểu, thôn làng thì có rượu đế, thị thành thì có bia chai, bia lon, mồi màng thì vô thiên lủng, từ hải sản đến cào cào châu chấu… Quán nhậu đáp ứng hết, “thượng vàng hạ cám” từ cao cấp cho tới bình dân…
Bước ra đường là đụng quán nhậu. Một đất nước nhìn đâu cũng thấy “lưu linh” thì thử hỏi không bước tới thời đại 4.0 của “thiên đường ma men” thì có lạ lắm không? (Nguyễn Sài Gòn)