Friday, June 29, 2018

Thằng Lợn

Ông Bút (Danlambao) - Ở xứ mình, ông bà cha mẹ, có vốn liếng chữ nghĩa, nhà khá giả, thường đặt tên cho con cháu, vừa hay, vừa có ý nghĩa. Nhà nào nghèo, đặt tên con nghe khô khốc, không những thế, họ đặt tên con, còn kèm theo cái ước mơ nhỏ bé ở thôn quê, như thằng Bờ, con Ruộng, Việt Cộng xuất thân từ bần cố nông, nên đa số có tên Lém, (tên này bị tướng Loan bắn bỏ, hồi Mậu Thân) Luốc, Lượm, Con Gà, thằng Vịt...

Tương tự như trên, quê tôi Quảng Nam, có nhà kia đặt tên con là thằng Heo, tội nghiệp, cái tên của nó nghe cộc lốc: Võ Heo, lớn lên Heo vào Sài Gòn, học Sư Phạm, môn "Hán học", bị bạn bè chọc quê cái tên Heo, nên tự đổi thành tên Hợi, khi "hán" đã rộng, hắn bèn đặt cái tên dài thòng, cho bỏ ghét: Vũ Đức Sao Biển, tuy dài như toa xe lửa, nhưng chẳng có ý nghĩa gì sất!

Năm nay Võ Heo 70 tuổi, mới giật mình, thấy ông bà cha mẹ Võ Hợi thật là linh, quả là nhìn xa, thấy rộng, đến mức tuyệt thế. Bảy mươi năm trước, ông bà thân sinh Võ Heo, biết thế nào con mình, sau này sẽ hoàn về óc lơn, nên mới đây, ngày 17 tháng 6/2018 Võ Heo có bài báo:

Để ngày cuối tuần được hạnh phúc

Không kể cái tựa đề, nội dung chứa chỉ có 513 chữ, hơn một tuần sau, nhận lại hàng ngàn lời nguyền rủa, người ta gọi thẳng là "thằng bưng bô khốn nạn Vũ Đức Sao Biển"

Mấy lời nhập đề của Heo, rất ư là Trư Bát Giới:

"Mấy ngày vừa qua, đã có hiện tượng một số anh em công nhân (CN) bị rủ rê, lôi kéo vào chỗ tụ tập đông người; thậm chí ngừng việc hàng loạt khiến hoạt động của xí nghiệp, công ty bị ngưng trệ. Hiện tượng đáng tiếc ấy đã được tổ chức Công đoàn các cấp kịp thời phân tích, uốn nắn, ổn định tình hình."

Ngày nay, từ đứa con ít, tới người ngu nhất, cũng biết nước mình đã và đang mất vào tay giặc Tàu, tin rằng người dân trong và ngoài tổ quốc Việt Nam, đang ngưỡng mộ và tri ơn những người xuống dường biểu tình chống Tàu xâm lược. Chỉ có tình yêu non sông, tình yêu dân tộc "lôi kéo, rủ rê".

Nhân đây xin tỏ bày sự thán phục, đến hai điều dưỡng viên, quý cô:

Nguyễn Thị Ngọc Mai

Nguyễn Thị Hồng, bệnh viện tỉnh Thái Bình, đã gởi đi thông tin và kêu gọi biểu tình, tên của hai cô xứng đáng tiêu biểu của hai loại hoa đẹp và quý, tất nhiên còn hàng ngàn tên tuổi đẹp khác, đã làm nên sóng người, tràn lên giữ nước vừa qua, song hiểu biết có chừng, bài viết có hạn, xin mạn phép được thiếu sót.

Đất nước bị xâm lược, "công ty bị ngưng trệ" cái nào đáng đau hơn? Điều nào đáng lo hơn? Người bình thường vẫn biết câu trả lời, óc Heo đành chịu!

CS kết tội những người biểu tình, tội: Gây rối trật tự, so với tội bán nước, tội nào nặng hơn?

Chế độ CS khống dám thông qua luật biểu tình, cũng không dám kết tội biểu tình, chỉ gán cái tội: "Gây rối trật tự", nhưng đừng quên, bán nước chính là tội đồ dân tộc.

Thường tính Heo ăn no nằm in, chắc bị bỏ đói, hoặc quá tham ăn, dù là nhạc sĩ, dù đang làm cho báo: Côn An, tp Hồ Tập Chương, Thanh Niên, Pháp Luật, nên Heo kêu váng lên:

"Dưới cái nhìn của bạn bè quốc tế, đất nước Việt Nam ta là đất nước hòa bình, ổn định bậc nhất; xứng đáng để đến đây tham quan, du lịch, đầu tư. Chúng ta đã xây dựng được một nền kinh tế thị trường phát triển, ổn định, bền vững, trong đó mỗi công dân đều có quyền sống, quyền được bảo vệ phẩm giá và tính mạng. Phải nói rằng trong suốt lịch sử dân tộc thì chỉ có thời đại chúng ta đang sống, người Việt Nam mới có được cuộc sống no đủ, an vui đến như vậy."

Sặc mùi cám sú, Hợi ơi là Heo! "Bạn bè quốc tế", chắc có nước Đức, và nước Xích Lô Vo Kia (Slovokia), tức đến bể bọng đái, vì tin cho CS mượn máy bay. Không biết cái nhìn quốc tế đánh giá nước Việt Cộng XHCN thế nào, chứ báo Thanh Niên viết rằng: "Hộ chiếu Việt Nam 'kém quyền lực' hơn cả Lào, Campuchia", làm gì có vụ, "hộ chiếu kém quyền lực" chẳng qua không dám nói thẳng:

Cầm hộ chiếu CHXHCNVN là nhục chết được! 

Heo từng ra trường từ năm 1970, trước 5 năm, ngày CS cướp miền Nam cho Tàu, Heo nói "thị trường phát triển ổn định" Heo còn nhớ xe Ladalat không? nó là của VNCH đấy Heo, làm năm 1969, 15 năm (1954-1969) bị Cộng Phỉ đánh phá liên liên, VNCH vẫn có thành quả bé nhỏ, nhưng nó đúng với từ gọi là phát triển, CS 43 năm "hoà bình" chế được con ốc, nào chưa vậy Heo?

Vậy thì phát triển cái gì? Trước đây theo chế độ CS nghèo kiết xác, sau trải thảm đỏ mời tư bản vào mở nhà máy, cơ xưởng, người dân đi làm mướn, đi làm nô lệ xứ người (xuất khẩu lao động), nhờ đó đời sống mới "thay da, đổi thịt", sao gọi là phát triển? Hợi học xong đại học "Hán" dùng từ như Heo!

"trong đó mỗi công dân đều có quyền sống, quyền được bảo vệ phẩm giá và tính mạng" 

Heo nói vậy oan cho dân mình quá, có quyền sống, mà sống như con vật, thì sao? Nhà đang ở, ruộng đang cày, bọn cướp CS, chỉ cần hô lên: Cưỡng chế! Ôi thôi rồi, ai bảo vệ cho họ, và hàng triệu người dân oan, từ Bắc, chí Nam, Heo thấy không? Heo ở Tam Kỳ, từ nhỏ đã thấy VNCH có báo chí tự do, báo chí tư nhân, 43 năm rồi cả VN, chỉ có báo đài của đảng, Heo nghĩ sao?

Bảo vệ phẩm giá, tính mạng? Chỉ đơn cử gia đình Đỗ Thị Minh Hạnh, đang bị CS khủng bố tàn khốc, Heo chắc biết chứ? Hơn bốn ngàn năm lập quốc, Heo có thấy "nhà nước" nào dùng côn đồ, lưu manh, đánh đập người dân mình không? Bảo vệ phẩm giá như thế ru? Vào đồn CA, kể như vào nhà xác, vĩnh biệt.

Phải nói rằng trong suốt lịch sử dân tộc thì chỉ có thời đại chúng ta đang sống, người Việt Nam mới có được cuộc sống no đủ, an vui đến như vậy."

Hợi học đại học Hán Việt, thời VNCH, học lịch sử vững chắc lắm, nói ra nghe như trình độ của một con lợn, lịch sử dân tộc, sự thật chưa có thời nào phải đi ăn xin "mạnh" như thời CS, Hợi không tin, cứ vào Internet sẽ rõ, mới đây xin của Nam Hàn mấy chục ngàn tấn gạo, nợ công đụng trần rồi Hợi nhé, no đủ ai mà gả con cho Đài Loan, Đại Hàn... để làm nô lệ tình dục cho cả nhà? "Suốt lịch sử" có thời nào bệ rạc như vậy?

Heo khuyên:

"Hãy tận dụng ngày cuối tuần, biến nó thành ngày hạnh phúc quý giá, đầm ấm với gia đình, vợ con"

Đúng là con chim sẻ, vui dưới mái đình đang bị cháy, nằm đêm suy nghĩ buồn thấm thía, ai cũng biết CS là cái họa cho nước, thế nhưng không thiếu những người có học, những người tu hành ở miền Nam, nay xuống đường, mai xuống đường, toa rập viết nhạc "tranh đấu" đình công bãi thị liên miên, cho tới ngày tàn 30/4/1975. Những tưởng người có học như Hợi sẽ nhận ra được vận nước, đồng hành cùng đồng bào tranh đấu giữ nước, cuối cùng học cho lắm, phí cơm cha, áo mẹ, chữ thầy, xoay mặt lơ với đồng bào, chạy theo xỉm nịnh bọn bán nước.

Ôi! Trăm năm cuộc vô thường, có là bao, Hợi bảy mươi rồi, nếu im lặng cũng có miếng ăn vậy, xỉm nịnh làm gì, để tiếng nhục muôn đời sau, con cháu tủi hổ. Hợi đừng quên, mình là con cháu của các đấng tiền nhân: Phan Chu Trinh, Trần Cao Vân, Trần Quý Cáp, Hoàng Diệu, Thái Phiên...


Đối diện với các nền độc tài một cách thực tế

Gene Sharp * Chuyển ngữ: Tiểu Thạch Nguyễn Văn Thái, Ph.D. - ...Khi người ta muốn đánh đổ một nền độc tài một cách hữu hiệu và ít tổn thất hơn cả thì người ta phải thi hành ngay bốn công tác: Phải tăng sức mạnh cho chính dân chúng bị áp bức về sự quyết tâm, lòng tự tin, và kỹ năng đối kháng của họ; Phải tăng sức mạnh cho những nhóm xã hội và những cơ chế độc lập của người dân bị áp bức; Phải tạo ra một lực lượng đối kháng quốc nội mạnh; và phải thiết lập một đại kế hoạch chiến lược khôn ngoan cho công việc giải phóng và thực thi kế hoạch này một cách rành rẽ. Một cuộc đấu tranh giải phóng là thời gian để tự quản và tăng cường nội bộ của nhóm đấu tranh... 

*

Trong những năm vừa qua nhiều nền độc tài - có nguồn gốc từ quốc nội cũng như quốc ngoại - đã sụp đổ hay bị đảo lộn vì dân chúng được huy động thách thức. Mặc dù thường được xem là đã ăn sâu bén rễ vững chắc và không thể bị chọc thủng được, nhưng một số những nền độc tài này đã chứng tỏ là không có khả năng chịu đựng nổi sự thách thức đồng bộ về kinh tế, xã hội và chính trị của dân chúng. 

Từ 1980 đến nay những nền độc tài đã từng sụp đổ trước sự thách thức chủ yếu là bất bạo động của dân chúng tại Estonia, Latvia, và Luthiania, Ba Lan, Đông Đức, Tiệp Khắc và Slovenia, Madagascar, Mali, Bolivia, và Phi Luật Tân. Đối kháng bất bạo động đã đưa phong trào đến việc dân chủ hoá ở Nepal, Zambia, Nam Hàn, Chí Lợi, Á Căn Đình, Haiti, Ba Tây, Uruguay, Malawi, Thái Lan, Bulgaria, Hung Gia Lợi, Nigeria, và nhiều nơi khác của Liên Bang Sô Viết cũ (đóng một vai trò quan trọng trong vụ đánh bại cuộc đảo chánh hụt của phe cứng rắn vào tháng Tám 1991). 

Hơn nữa, thách thức chính trị của quần chúng đã từng xảy ra tại Trung Quốc, Miến Điện, và Thái Lan trong những năm vừa qua. Mặc dù những cuộc đấu tranh này không dứt điểm được những nền độc tài đang cai trị hay ngoại xâm, nhưng đã vạch trần được bản chất tàn bạo của các chế độ đàn áp này với cộng đồng thế giới và đã cung cấp cho dân chúng những kinh nghiệm giá trị nhờ hình thái đấu tranh này. 

Sự sụp đổ của những nền độc tài tại những quốc gia nói trên đã không xoá bỏ được những vấn đề khác trong các xã hội này: nghèo đói, tội ác, sự vô hiệu năng của chuyên viên bàn giấy, và sự tàn phá môi trường thường là thừa tự của những chế độ bạo tàn. Tuy nhiên sự sụp đổ của những nền độc tài này tối thiểu đã loại bỏ một phần lớn sự đau khổ của những nạn nhân bị áp bức, đã mở đường cho công việc tái thiết những xã hội này để có dân chủ chính trị, và những tự do cá nhân và công lý xã hội nhiều hơn. 

Một vấn đề cứ mãi tiếp diễn 

Đúng là đã có một khuynh hướng tiến đến dân chủ hoá và tự do nhiều hơn trên thế giới trong những thập niên vừa qua. Theo nhà phát hành Random House thường hằng năm thu thập một sưu khảo quốc tế về thực trạng các quyền chính trị và các tự do dân sự, thì con số những quốc gia trên toàn thế giới được xếp vào loại “Tự Do” đã tăng trưởng một cách đáng kể trong những năm vừa qua. 


Tuy nhiên, khuynh hướng tích cực này đã bị điều chỉnh bởi những con số rất lớn những người vẫn đang còn sống trong những điều kiện của chuyên chế. Tính từ 2008 có 34% của 6,68 tỉ dân số thế giới sống tại những quốc gia bị chỉ định là “Không Tự Do,”3 nghĩa là những khu vực mà ở đó các quyền chính trị và các tự do dân sự hết sức bị hạn chế. Bốn mươi hai (42) quốc gia thuộc loại “Không Tự Do” bị cai trị bởi những nền độc tài quân phiệt (như ở Miến Điện), những nền quân chủ đàn áp truyền thống (như ở Saudi Arabia và Bhutan), các đảng chính trị thống trị (như ở Trung cộng và Bắc Hàn), ngoại xâm (như ở Tây Tạng và Miền Tây Sahara), hay là đang ở trong tình trạng chuyển tiếp. 

Nhiều quốc gia ngày nay đang ở trong tình trạng thay đổi nhanh chóng về kinh tế, chính trị, và xã hội. Mặc dù con số những quốc gia “Tự Do” đã gia tăng trong những năm vừa qua, nhưng có một nguy hiểm lớn là nhiều quốc gia, đối diện với những thay đổi nền tảng nhanh chóng như thế, sẽ tiến theo chiều hướng ngược lại và trải nghiệm những hình thái độc tài mới. Các bè nhóm quân phiệt, những cá nhân tham vọng, những giới chức dân cử, các đảng chính trị giáo điều sẽ liên tục tìm cách áp đặt ý đồ của họ. Những vụ đảo chánh đang là và sẽ là những diễn biến thông thường. Rất nhiều dân tộc sẽ tiếp tục bị khước từ nhân quyền và các quyền chính trị khác. 

Rất tiếc là quá khứ vẫn còn đó với chúng ta. Vấn nạn các nền độc tài vẫn đậm nét. Người dân tại nhiều quốc gia đã trải nghiệm hằng thập kỷ hay ngay cả hằng thế kỷ áp bức, dù có nguồn gốc tại quốc nội hay quốc ngoại. Sự khuất phục không cần chất vấn đối với những nhân vật quyền hành hay các nhà cai trị đã thường xuyên được nhồi sọ từ lâu. Trong những trường hợp cực đoan thì những cơ chế xã hội, chính trị, kinh tế, và ngay cả tôn giáo của xã hội – ngoài vòng kiểm soát của nhà nước – đã bị cố tình làm cho suy yếu, phục tòng, hay cả bị thay thế bởi những cơ chế đã được đoàn ngũ hoá do nhà nước hay đảng cai trị sử dụng để kiểm soát xã hội. Dân chúng thường đã bị phân hoá (biến thành một khối những cá nhân rời rạc) không có khả năng làm việc chung với nhau để tranh thủ tự do, để tâm sự với nhau, hay ngay cả làm một điều gì theo sáng kiến của chính họ. 

Kết quả có thể tiên đoán được là: dân chúng trở nên yếu kém, thiếu tự tin, và không có khả năng đối kháng. Người dân thường quá sợ hãi nên không thể san sẻ sự căm thù nền độc tài và sự khát khao tự do của mình ngay cả với gia đình và bạn bè. Người ta thường quá kinh hãi để có thể suy nghĩ nghiêm túc về đối kháng công khai. Dù sao thì đối kháng nào có ích gì? Thay vì đối kháng, người ta đành chịu đựng khổ đau không vì một mục đích nào cả và một tương lai không có hy vọng. 

Những tình trạng hiện tại của các nền độc tài ngày nay có thể tệ hơn rất nhiều so với trước đây. Trong quá khứ, một vài người có thể cố thử đối kháng. Những phản đối tập thể và những cuộc biểu tình ngắn ngủi có thể đã xảy ra. Có lẽ tinh thần đã tạm thời lên cao. Những lúc khác, những cá nhân và các nhóm nhỏ có thể đã có những hành vi can đảm nhưng thiếu sức mạnh, nhằm khẳng quyết một nguyên tắc nào đó hay chỉ là sự thách thức của họ. Tuy nhiên những động lực thanh cao, những hành động đối kháng như thế trong quá khứ thường đã không đủ để thắng lướt sự sợ hãi và thói quen tuân phục của người dân, một tiền điều kiện để đánh đổ độc tài. Đáng buồn là thay vì như vậy, những hành động đó có thể chỉ đã đem lại đau khổ và chết chóc gia tăng, chứ không đem lại chiến thắng hay ngay cả hy vọng cũng không. 

Tự do nhờ bạo lực? 

Cần phải làm gì trong những trường hợp như thế? Những điều hiển nhiên có thể làm được thì hình như là vô ích. Những rào cản hiến định và pháp lí, những quyết định tư pháp, vá ý kiến công chúng thường bị các nhà độc tài không để ý đến. Cũng dễ hiểu là khi phản ứng lại bạo tàn, tra tấn, mất tích, và giết chóc, người dân thường đã kết luận là chỉ có bạo lực mới có thể chấm dứt được độc tài. Những nạn nhân tức giận đôi khi đã tổ chức đánh lại các nhà độc tài tàn bạo bằng bất cứ khả năng bạo động và quân sự nào mà họ có thể vận động được, bất kể những yếu kém về phía họ. Những người này thường chiến đấu rất dũng cảm, với những tổn thất lớn lao về khổ đau và sinh mạng. Những thành quả của họ đã có khi thật đáng chú ý, nhưng hiếm khi họ giành được tự do. Những cuộc nổi loạn bạo động có thể kích động đàn áp tàn bạo thường làm cho dân chúng còn bất lực hơn là trước kia. 

Tuy nhiên, mặc dù giải pháp bạo động có giá trị nào đi nữa, nhưng có một điểm rõ ràng là Bằng cách đặt tin tưởng vào phương tiện bạo động, người ta đã chọn chính loại đấu tranh mà với loại này thì những kẻ áp bức hầu như là luôn luôn có thế thượng phong. Những nhà độc tài hầu như luôn luôn có thế thượng phong về vũ khí quân sự hạng nặng, đạn dược, vận tải, và kích cỡ của những lực lượng quân sự. Mặc dù dũng cảm, các nhà dân chủ (hầu như luôn luôn) không phải là đối thủ. 

Khi nổi dậy bằng quân sự quy ước đã được thừa nhận là không thực tế, thì các nhà bất đồng ý kiến lại thiên về chiến tranh du kích. Tuy nhiên, chiến tranh du kích hiếm khi, nếu thực bao giờ có, đem lại lợi ích cho người dân bị áp bức hoặc đem lại dân chủ. Chiến tranh du kích không phải là một giải pháp hiển nhiên, nhất là khi xét đến khuynh hướng nghiêng hẳn về những tổn thất quá lớn cho chính người dân của mình. Kỹ thuật này không phải là một bảo đảm khỏi bị thất bại, dù cho có lý thuyết và những phân tích chiến lược bênh vực, và đôi khi cả sự hỗ trợ của quốc tế. Những cuộc đấu tranh du kích thường kéo dài rất lâu. Dân chúng thường bị chính quyền cai trị di tản, phải chịu nhiều đau khổ và phân hoá xã hội. 

Ngay cả khi thành công, đấu tranh du kích thường gây ra những hậu quả tiêu cực dài hạn trầm trọng về cơ cấu. Ngay tức khắc, chế độ bị tấn công trở nên độc tài hơn như là kết quả của những biện pháp phản công. Nếu những người du kích nhỡ rốt cuộc thành công, thì hệ quả của chế độ mới thường sẽ còn độc tài hơn cả những người tiền nhiệm vì tác dụng tập trung của những lực lượng quân đội đã được bành trướng và sự làm suy yếu hay phá huỷ của những nhóm và cơ chế độc lập của xã hội trong thời gian đấu tranh – là những cơ phận thiết yếu cho việc thiết lập và duy trì một xã hội dân chủ. Những ai hận thù độc tài thì nên tìm kiếm một giải pháp khác. 

Đảo chánh, bầu cử, và những vị cứu tinh quốc ngoại? 

Một cuộc đảo chánh quân sự chống lại một nền độc tài có thể tương đối tỏ ra là một trong những phương cách dễ dàng và nhanh chóng nhất để cắt bỏ một chế độ cực kỳ ghê tởm. Tuy nhiên kỹ thuật này có nhiều vấn đề rất nghiêm trọng. Quan trọng hơn cả là kỹ thuật này vẫn giữ nguyên tình trạng phân phối quyền lực sai lạc giữa người dân và nhóm ưu tú lãnh đạo trong việc kiểm soát chính quyền và các lực lượng quân đội. Việc cất đi một số người hay bè nhóm nào đó khỏi những vị thế cai trị rất có thể là sẽ chỉ làm cho một nhóm khác có khả năng thay thế những vị thế đó mà thôi. Trên lý thuyết nhóm này có thể hành sử hoà dịu hơn và cởi mở có giới hạn về những cải cách dân chủ. Tuy nhiên, trường hợp ngược lại có khuynh hướng xảy ra nhiều hơn. 

Sau khi đã củng cố địa vị, bè nhóm mới có thể trở nên tàn nhẫn và nhiều tham vọng hơn cả nhóm cũ. Do đó, phe đảng mới này - mà người ta đã đặt nhiều hy vọng - sẽ có khả năng làm bất cứ gì họ muốn mà không cần quan tâm đến dân chủ và nhân quyền. Đó không phải là một đáp án có thể chấp nhận được trong việc giải quyết vấn nạn độc tài. 

Những cuộc bầu cử dưới những chế độ độc tài không thể là công cụ cho việc thay đổi chính trị có ý nghĩa. Một vài chế độ độc tài, như những chế độ tại khối Đông Âu cũ dưới sự thống trị của Sô Viết, đã có những động tác trình diễn để tỏ ra là dân chủ. Tuy nhiên, những cuộc bầu cử đó đơn thuần chỉ là những cuộc trưng cầu dân ý bị kiểm soát chặt chẽ để lấy sự ủng hộ của người dân cho những ứng cử viên đã được các nhà độc tài chỉ định trước. Những nhà độc tài trước áp lực đôi khi có thể đồng ý cho tổ chức những cuộc bầu cử mới, nhưng rồi lại sắp xếp những cuộc bầu cử này để đặt những bù nhìn dân sự vào các chức vụ chính phủ. Nếu những ứng cử viên đối lập được phép tranh cử và thực sự được bầu chọn, như đã từng xảy ra ở Miến Điện năm 1990 và Nigeria năm 1993, thì kết quả có thể đơn giản chỉ bị lơ đi và những “người thắng cử” bị đe doạ, bắt bớ, hay ngay cả bị hành quyết. Những nhà độc tài không có tập quán cho phép những cuộc bầu cử loại bỏ họ khỏi ngai vàng. 

Nhiều người hiện nay đang chịu đau khổ dưới một nền độc tài tàn bạo, hay những người tự lưu đày biệt xứ để tránh quá gần gũi, thường không tin là những người bị áp bức có khả năng tự giải phóng. Họ mong đợi là người dân chỉ có thể được cứu bởi những hành động của người khác mà thôi. Những người này đặt tin tưởng vào những lực lượng từ bên ngoài. Họ tin là chỉ có sự giúp đỡ của quốc tế mới có thể mạnh đủ để đánh đổ những nhà độc tài. 

Quan điểm cho rằng những người bị áp bức không có khả năng hành động hữu hiệu đôi khi chính xác trong một khoảng thời gian nào đó. Như đã có lưu ý trước đây, thường thì những người bị áp bức không sẵn lòng và tạm thời không có khả năng đấu tranh bởi vì họ không tin tưởng vào khả năng của họ trong việc đối đầu với nền độc tài tàn ác, và họ không biết cách gì để tự cứu mình. Do đó cũng dễ hiểu khi nhiều người đặt hy vọng giải phóng vào kẻ khác. Lực lượng bên ngoài này có thể là “ý kiến công chúng,” Liên Hiệp Quốc, một quốc gia nào đó, hay là những chế tài kinh tế và chính trị của quốc tế. 

Một viễn ảnh như thế có thể làm cho người ta yên tâm, nhưng trông cậy vào một vị cứu tinh từ bên ngoài có những vấn đề nghiêm trọng. Một sự tin tưởng như thế có thể được đặt sai chỗ hoàn toàn. Thường sẽ không có những vị cứu tinh quốc ngoại đến, và nếu một nhà nước ngoại quốc can thiệp, thì có lẽ không nên tin nhà nước này. 

Một vài thực thế phủ phàng liên hệ đến sự trông cậy vào sự can thiệp của ngoại quốc cần phải được nhấn mạnh ở đây: 

• Thường thì những nước ngoài không phản đối, hay ngay cả tích cực hỗ trợ, độc tài để thúc đẩy những quyền lợi kinh tế và chính trị của chính họ. 

• Những nước ngoài cũng có thể phản bội một dân tộc bị áp bức thay vì trung thành với những hứa hẹn hỗ trợ giải phóng gây phương hại cho một mục đích khác. 

• Một vài nước ngoài sẽ hành động chống lại độc tài chỉ để giành quyền kiểm soát về kinh tế, chính trị, và xã hội đối với quốc gia đó mà thôi. 

• Những nước ngoài có thể chỉ trở nên can dự một cách năng động vì những mục đích tích cực nếu và khi nào phong trào đối kháng quốc nội đã bắt đầu lay chuyển được nền độc tài, do đó đã tập trung được sự chú ý của quốc tế vào bản chất tàn bạo của chế độ. 

Những nền độc tài hiện hữu chủ yếu bởi vì sự phân phối quyền lực bên trong quốc gia đối tượng. Dân chúng và xã hội quá yếu nên không thể gây ra những vấn đề nghiêm trọng cho nền độc tài. Của cải và quyền lực được tập trung vào trong tay của quá ít người. Dù cho những nền độc tài có thể thủ lợi hay phần nào bị làm suy yếu bởi những hành động của quốc tế, nhưng sự tiếp tục tồn tại của họ lại chủ yếu tuỳ thuộc vào những nhân tố quốc nội. 

Tuy nhiên, những áp lực quốc tế có thể rất hữu ích khi những áp lực này phụ trợ một phong trào đối kháng đã mạnh ở trong nước. Lúc bấy giờ, ví dụ như những tẩy chay kinh tế của quốc tế, những cấm vận, cắt đứt liên hệ ngoại giao, khai trừ khỏi những tổ chức quốc tế, sự lên án bởi những cơ quan Liên Hiệp Quốc, và những điều như thế có thể hỗ trợ rất nhiều. Tuy nhiên, nếu thiếu vắng một phong trào đối kháng quốc nội mạnh thì những hành động bởi những người khác như thế có lẽ sẽ không xảy ra. 

Đối diện với sự thực gay cấn 

Kết luận là một kết luận gay cấn. Khi người ta muốn đánh đổ một nền độc tài một cách hữu hiệu và ít tổn thất hơn cả thì người ta phải thi hành ngay bốn công tác: 

• Người ta phải tăng sức mạnh cho chính dân chúng bị áp bức về sự quyết tâm, lòng tự tin, và kỹ năng đối kháng của họ; 

• Người ta phải tăng sức mạnh cho những nhóm xã hội và những cơ chế độc lập của người dân bị áp bức; 

• Người ta phải tạo ra một lực lượng đối kháng quốc nội mạnh; và 

• Người ta phải thiết lập một đại kế hoạch chiến lược khôn ngoan cho công việc giải phóng và thực thi kế hoạch này một cách rành rẽ. 

Một cuộc đấu tranh giải phóng là thời gian để tự quản và tăng cường nội bộ của nhóm đấu tranh. Như Charles Stewart Parnell đã kêu gọi trong thời gian của chiến dịch đình công về tiền thuê mướn đất của người Ái Nhĩ Lan năm 1879 và 1880: 

Trông cậy vào Chính Quyền sẽ không ích lợi gì... Quý vị phải trông cậy vào chính sự quyết tâm của chính quý vị mà thôi... Hãy tự Giúp mình bằng cách đứng lại với nhau... hãy tăng sức mạnh cho những ai trong quý vị đang còn yếu..., nối chặt bàn tay lại với nhau, hãy tự tổ chức... và quý vị phải thắng... 

Khi quý vị đã làm cho vấn nạn này chín muồi để giải quyết, thì lúc đó và chỉ đến lúc đó thì vấn nạn mới được giải quyết. 

Chống lại một lực lượng tự quản mạnh, với điều kiện có chiến lược khôn ngoan, hành động có kỷ luật và dũng cảm, và sức mạnh đích thực, nền độc tài rốt cuộc sẽ sụp đổ. Tuy nhiên, tối thiểu bốn yêu cầu nói trên cần phải được thoả mãn. 

Như cuộc thảo luận ở phần trên đây cho thấy, giải phóng khỏi những nền độc tài rốt cuộc tuỳ thuộc vào khả năng của chính người dân phải tự giải phóng. Những trường hợp thách thức chính trị thành công – hay là đấu tranh bất bạo động cho những mục đích chính trị -- được trích dẫn ở trên cho thấy là có những phương tiện để cho dân chúng tự giải thoát, nhưng giải pháp này vẫn chưa được khai thác. Chúng ta sẽ xét đến giải pháp này một cách chi tiết trong những chương sau. Tuy nhiên trước tiên chúng ta nên xét đến vấn đề thương thảo như là một phương tiện để dẹp tan độc tài. 

Ghi chú

1 Từ dùng trong bối cảnh này được giới thiệu bởi Robert Helvey. “Thách thức chính trị” là đấu tranh bất bạo động (phản đối, bất hợp tác, và can thiệp) được áp dụng một cách thách thức và năng động vì mục đích chính trị. Từ này được phát sinh từ phản ứng lại sự lẫn lộn và bóp méo tạo nên bởi việc đồng hoá đấu tranh bất bạo động với chủ thuyết hoà bình và “bất bạo động” theo nghĩa đạo đức hay tôn giáo. “Thách thức” mang ý nghĩa một sự thách đố có chủ ý đối với quyền hành bằng cách bất tuân, không cho phép có chỗ nào cho sự khuất phục. “Thách thức chính trị” mô tả một môi trường mà trong đó hành động (chính trị) cũng như mục tiêu của hành động (sức mạnh chính trị) được sử dụng. Từ này được dùng chủ yếu để mô tả hành động của dân chúng nhằm giành lại từ tay những nhà độc tài sự kiểm soát những cơ chế chính quyền bằng cách không ngớt tấn công những nguồn sức mạnh của những nhà độc tài này và sử dụng có chủ ý thiết kế chiến lược và những vận động để thực hiện điều này. Trong bài này, thách thức chính trị, đối kháng bất bạo động, và đấu tranh bất bạo động sẽ được dùng thay cho nhau, dù hai từ cuối cùng thường nói đến những cuộc đấu tranh có nhiều mục tiêu rộng lớn hơn (xã hội, kinh tế, tâm lý, v.v...) 

2. Freedom House, Tự Do trên Thế Giới, http://www.freedomhouse.org

3. Như trên 

4, Patrick Sarsfield O’Hegarty, A History of Ireland Under the Union, 1880-1922 [Lịch Sử Ái Nhĩ Lan Dưới thời Liên Hiệp] (London: Methuen, 1952), tt.490-491. 


Chuyển ngữ:


Vua tham và vua ngu?

Nguyễn thị Cỏ May (Danlambao) - Người xưa, trong chế độ quân chủ, nói "Tham quân bất như hôn quân". Vua tham không như vua ngu. Vua tham biết giữ nước để ăn lâu dài. Còn thứ vua ngu thì đem bán ngay đất nước cho ngoại bang để ăn một lần cho ngập mặt.

Ở Việt Nam, năm 1945, sau khi Nhật đảo chính Pháp đã trao quyền lại cho Hoàng Đế Bảo Đại. Vua Bảo Đại mời Cụ Trần Trọng Kim thành lập chính phủ và đây là chính phủ dân chính (chấm dứt chế độ quân chủ) đầu tiên của Việt Nam độc lập và thống nhất. Bỗng có tên Hồ Chí Minh từ đâu xuất hiện, lợi dụng lúc Cụ Trần Trọng Kim muốn trao trả chính phủ lại cho vua Bảo Đại, tuyên bố cướp chính quyền, đứng lên làm Chủ tịch nước. Ông đem cộng sản áp đặt lên đất nước Việt Nam và từ đó Việt Nam bị cộng sản cai trị. Mất nước cho Tàu cũng do đảng cộng sản của Hồ Chí Minh chủ trương. Mà Hồ Chí Minh và những người đứng đầu đảng cộng sản là thứ vua. Vua cộng sản. 

Nay nhân dân hỏi: Vua cộng sản là thứ vua tham hay vua ngu? 

Đất nước nguyên vẹn bị cộng sản Hà Nội bán 

Từ thế kỷ 17, năm 1686, chúa Nguyễn đã tổ chức một Hải Đội Hoàng Sa để thường xuyên tuần tiểu đảo Bãi Cát Vàng, tức Hoàng Sa, và triều đình nhà Nguyễn cũng đã vẽ bản đồ vùng đảo này để xác định vùng lãnh thổ của Việt Nam. 

Sau khi thực dân Pháp đặt xong nền cai trị ở Việt Nam, năm 1885, nhà cầm quyền Pháp ký kết với nhà Mãn Thanh Hiệp Ước Thiên Tân, phân định biên giới bằng cột mốc. Hai năm sau, Pháp ký tiếp Hiệp Ước Brévié, phân ranh lãnh hải vùng vịnh Bắc Việt. 

Từ đó, mọi tranh chấp vùng biển được LHQ giải quyết theo công ước về luật biển. 

Đến thời Việt Nam Cộng Hòa Đệ I và Đệ II, Hoàng Sa và Trường Sa vẫn thuộc lãnh thổ của Việt Nam. 

Như vậy, từ thế kỷ 17, Hoàng Sa và Trường Sa liên tục thuộc chủ quyền và lãnh thổ Việt Nam. 

Về mặt pháp lý, chính quyền Việt Nam, và cả chính quyền thuộc địa ở Việt Nam, luân phiên nhau hiện diện thường trực, với những tấm bia minh xác chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa này. Trái lại, trong lúc đó, Bắc Kinh chỉ lên tiếng đòi chủ quyền chớ không có bằng cớ về sự có mặt liên tục quản lý hành chính hai đảo này. 

Thế mà vào ngày 06-12-2007, Bắc Kinh ngang nhiên phê chuẩn việc thành lập thành phố Tam Sa, bao gồm Hoàng Sa với Trường Sa, là đơn vị hành chính cấp Huyện trực thuộc Tỉnh Hải Nam. Trước đây, năm 1988, Bắc Kinh đã từng ban hành nghị quyết cho đảo Hải nam trở thành Tỉnh bao gồm luôn hai đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc lãnh thổ Hải nam. 

Trước hành động ngang ngược của Tàu vi phạm chủ quyền Việt Nam, đảng cộng sản cũng như Nhà nước ở Hà nội hoàn toàn không phản ứng để bảo vệ sự vẹn toàn lảnh thổ. 

Chẳng những không bảo vệ đất nước trước sự xâm lấn ngang ngược của Tàu, đảng và nhà nước CSVN còn thỏa hiệp với Tàu cộng để nhìn nhận tình trạng mất nước từng phần. Năm 1958, Bắc Kinh vẽ bản đồ mới, tự qui định lãnh hải là 12 hải lý, thay vì 3 hải lý như trước đây, thì Hồ Chí Minh chấp thuận. Tiếp theo, Thủ tướng Phạm Văn Đồng gởi công hàm xác nhận chủ quyền của Bắc Kinh về lãnh hải, bao gồm cả Hoàng Sa và Trường Sa.

Ngoài ra, Ung Văn Khiêm, Bộ trưởng Ngoại giao của Chính Phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng hòa cũng thừa nhận chủ quyền của Tàu cộng, và Hoàng Tùng, Trưởng Ban tư tưởng TƯ, tuyên bố: “Thà giao Hoàng Sa và Trường Sa cho Trung quốc, cùng phe xã hội chủ nghĩa anh em còn hơn để tụi Ngụy Sài Gòn làm chủ”

Năm 1988, Trường Sa bất ngờ bị Tàu cộng tấn công, chiếm giữ một vài đảo. Báo Sài Gòn Giải Phóng viết: “Hoàng Sa và Trường Sa có thuộc chủ quyền Trung quốc không có nghĩa là chủ quyền về lãnh thổ của ta bị mất, mà chỉ tạm thời do Trung quốc cùng phe xã hội chủ nghĩa anh em quản lý. Một ngày nào đó, chúng ta cần lấy lại, Trung quốc sẽ hoàn trả cho ta”!. 

Hồ Chí Minh đã tự nguyện thừa nhận chủ quyền của Tàu cộng trên lãnh thổ và lãnh hải của Việt Nam. Lê Duẩn đánh chiếm Miền nam, thống nhất đất nước xã hội chủ nghĩa là cho Tàu cộng và Liên Sô. Nguyễn Văn Linh và Đỗ Mười ký Hiệp ước Thành Đô giao trọn Việt Nam sáp nhập vào lãnh thổ Tàu. Riêng Mười Cúc Nguyễn Văn Linh biết rõ đi với Tàu là mất nước nhưng chấp nhận mất nước hơn mất đảng (nguyên văn: "Tôi cũng biết rằng dựa vào Trung quốc thì mất nước. Mà mất nước còn hơn mất đảng"). Tiếp theo, TBT Lê Khả Phiêu lén lút và độc đoán nhượng đất và biển cho Tàu, dời cột mốc, cổng biên giới. Gần đây, Nguyễn Phú Trọng mở cửa cho Tàu tự do tràn qua, sử dụng đất nước Việt Nam như tỉnh lẻ của họ và lại có luật pháp Việt Nam bảo vệ. Để đổi lấy bao nhiêu tiền của Bắc Kinh? Riêng trong gần đây, Tàu cộng đã chi cho đảng cộng sản Việt Nam 15, 200 tỷ USĐ qua tay Nguyễn Phú Trọng để tổ chức đại hội XII, xây dựng đảng, phát triển kinh tế xã hội. Tổ chức Đại hội và xây dựng đảng đem lại kết quả cụ thể như ta thấy đảng và nhà nước nhấtt trí cho Tàu thuê đất, thuê 3 đặc khu 99 năm, ban hành Luật An ninh mạng để bảo vệ quyền lợi của Tàu cộng ở Việt Nam, bảo vệ việc làm của đảng CSVN, đàn áp dân chống đối... Trước sau, đảng cộng sản và Nhà nước CSVN không hề ý thức về sự mất còn gia sản của tổ tiên, chỉ biết lây tiền thiệt nhiều bỏ túi là trên hết. 

Nhưng trong nếp suy nghĩ của người cộng sản, khi Tổ Quốc Việt Nam là “tổ quốc xã hội chủ nghĩa”, thì Việt Nam có bị một nước xã hội chủ nghĩa khác đô hộ, đó không gì khác hơn là sự thay đổi người cầm quyền mà thôi, vẫn trên một lãnh thổ chung”. 

Theo bản đồ mới của Bắc Kinh về lãnh hải, thì Đà Nẵng không còn biển. Nên năm 2000, Giang Trạch Dân đến Hội An tắm biển, nằm phơi bụng phệ, không cần cận vệ, để chứng tỏ cho mọi người thấy rằng chủ quyền của Bắc Kinh được bảo đảm an ninh tuyệt đối. 

Xưa nay, trong lịch sử, mất nước do quân giặc hùng mạnh xảy ra rất ít, mà mất nước vì lòng người không biết giữ nước lại rất thường. Nhưng mất nước vì lòng người không muốn hoặc không biết giữ nước, còn có cơ hội lấy lại nước, khi mọi người phản tỉnh về lòng yêu nước, về ý thức trách nhiệm, thấy dân tộc bị ô nhục, sự nghiệp xương máu của tổ tiên bị tiêu tang... chớ mất nước “vì cùng phe xã hội chủ nghĩa anh em” thì không phải mất ở lãnh thổ bị chiếm đoạt, mà mất ở tâm hồn không còn Việt Nam, con tim không còn luân lưu dòng máu kiêu hùng của tiên tổ nữa. 

Đất nước Việt Nam đối với CS Ba Đình chỉ là nơi họ sanh sống tạm, như người ở trọ, trong thời gian họ cầm quyền, để mai này, khi rời khỏi chính quyền, họ sẽ về theo “cụ Mác cụ Lê”, như Hồ Chí Minh, nơi đó mới là tổ quốc thật sự của họ. 

CSVN có thể phản ứng không? 

Vấn đề là CSVN có dám phản ứng để bảo vệ đất nưóc đã mất vào giặc Tàu hay không? 

- Không dám phản ứng vì Bắc Kinh mạnh? 

- Không đúng. Năm 1979, Tập đoàn Ba Đình đã dám phản ứng bằng võ lực khi Đặng Tiểu Bình "dạy cho Việt Nam một bài học". Và tôn sư đã bị môn sinh đánh nặng đòn. 

Trước đó, CSVN đã từng mở chiến dịch rầm rộ chống bá quyền phương Bắc, không cần giữ quan hệ truyền thống “môi liền môi, răng liền răng”

Phải chăng CSVN dám phản ứng vì lúc đó ỷ có chỗ dựa là người anh em xã hội chủ nghĩa vĩ đại Liên Sô? Nhưng phản ứng này chỉ có tính cách nhằm xác định lập trường phe cánh, chớ chưa đủ độ sâu là vì đất nước dân tộc. 

Ngày nay, nếu phản ứng với Bắc Kinh là để bảo vệ đất nước vẹn toàn bờ cỏi, CSVN sẽ có được sự yểm trợ quan trọng và hùng hậu hơn trước rất nhiều, đó là quan hệ quốc tế, hậu thuẫn của toàn dân trong nước và người Việt hải ngọai. 

Từ năm 1995, CSVN đã lần lượt tranh thủ cho mình một vị trí mạnh trong cộng đồng thế giới. Với vị thế có được, nhà cầm quyền Hà Nội có thể công khai lớn tiếng phản kháng Bắc Kinh để bảo vệ chủ quyền và lãnh thổ Việt Nam. Đó là chính nghĩa quốc gia và lẽ phải pháp lý quốc tế. CSVN không có lý do gì khiếp sợ sức mạnh của Tàu cộng. Thế nhưng họ không làm! 

Nên thấy đây có thể là một cơ hội tốt cho CSVN, nếu những người cầm quyền ở Hà Nội còn biết mình là người Việt Nam, biết nắm bắt, thực hiện toàn dân đoàn kết, trên cơ sở cùng chung lòng bảo vệ Tổ Quốc Việt Nam lâm nguy. Công an chỉ lo nhiệm vụ bảo vệ an ninh trật tự xã hội, không đàn áp biểu tình ôn hòa và chính đáng. Báo chí có đầy đủ quyền tự do thông tin trung thực về chủ quyền quốc gia bị Tàu cộng vi phạm, vận động lòng yêu nước và sức mạnh toàn dân làm hậu thuẫn cho chính quyền. Nhà cầm quyền Hà Nội cần thay đổi thứ bậc ưu tiên trong chính sách đối ngoại để cân bằng quan hệ giữa Việt Nam và thế giới. Quân đội hãy trở về đúng vị trí bảo vệ tổ quốc, anh dũng chống ngoại xâm. 

Lòng yêu nước sẵn có của người dân Việt Nam chỉ sôi động, khi nào người dân thấy rõ họ thực sự là thành viên chủ động của cộng đồng dân tộc, với đầy đủ trách nhiêm và quyền lợi. 

Để bắt đầu, những người lãnh đạo ở Hà Nội ngay bây giờ, hãy suy nghĩ với cái đầu Việt Nam, hãy nhìn đất nước bằng con tim Việt Nam, tức tách rời hẳn cái chủ nghĩa xã hội thảm hại kia, và hãy mạnh dạn thật lòng cùng với toàn dân trong và ngoài nước, chung nhau thảo luận tìm một phương sách bảo vệ bờ cõi, phục hồi lãnh thổ và lãnh hải. 

Chúng ta đừng quên rằng Bắc Kinh không bao giờ từ bỏ mộng bá quyền tiến xuống phía nam, khi nội tình của họ ổn định. Trên vị thế ngày nay, CSVN sau khi giải quyết nạn xâm lăng của Bắc Kinh, nên quan hệ thêm chặt chẽ với các nước Nam Thái Bình Dương, trong ASEAN, và đặc biệt với Úc và Tân Tây Lan, để kêu gọi cùng nhau thành lập một tổ chức mở rộng, có khả năng quân sự cao, đủ sức mạnh tự bảo vệ an ninh vùng Đông Nam Á, theo mô hình Hiệp ước Liên Phòng Đông Nam Á trước kia (SEATO). Dĩ nhiên sẽ không thiếu Hoa Kỳ và Liên minh Âu châu tham gia. 

Trước sức mạnh và ý chí liên đới vì an ninh chung của toàn vùng, Bắc Kinh sẽ phải chấp nhận sống hài hòa, tôn trọng chủ quyền quốc gia lẫn nhau, để cùng phát triển giao thương. 

Nhớ lại lúc CSBV đưa chiến tranh vào Miền Nam, Hồ Chí Minh hạ quyết tâm “xẻ dọc Trường Sơn” để tiến chiếm Miền Nam, hay “nếu phải đốt hết cả dãy Trường Sơn để giải phóng Miền Nam, ta sẵn sàng làm” chỉ vì Hồ Chí Minh muốn chiếm lấy Miền Nam cho bằng được về tay phe xã hội chủ nghĩa. Chủ trương làm chiến tranh giải phóng của Hồ Chí Minh không vì lòng yêu nước nên sự hy sinh của nhân dân thật oan uổng vì bị lợi dụng. 

Ngày nay, CSVN không chống lại Bắc Kinh đòi lại lãnh thổ và lãnh hải thì trước sau họ chỉ là đảng và nhà nước bán nước làm giàu. 

Đó là thứ Vua vừa tham vừa ngu. Đó là thực tế Việt Nam ngày nay. 

29.06.2018



Sha

Châu Phi: “Đặc khu kinh tế” và ý đồ quân sự đáng sợ của Tập Cận Bình

Lính Trung Quốc tràn vào châu Phi với chiêu bài bảo vệ tài sản” tại “đặc khu kinh tế” và ý đồ quân sự đáng sợ của Tập Cận Bình
Theo hãng tin CNBC ngày 27.6, quân đội Trung Quốc (PLA) đang tính chuyện tăng cường hiện diện quân sự ở châu Phi để bảo vệ tài sản của Trung Quốc, bán vũ khí, tham gia gìn giữ hòa bình…
Hàng chục năm qua, sự hiện diện của Trung Quốc ở châu lục đen chủ yếu là các hoạt động kinh tế, thương mại và gìn giữ hòa bình. Nay Bắc Kinh xây dựng kế hoạch lập quan hệ quân sự đáng kể để bảo vệ quyền lợi, tài sản tại lục địa này, cũng như để gieo tầm ảnh hưởng lớn hơn, nhằm thể hiện vai trò Trung Quốc phải lãnh đạo toàn cầu mà Chủ tịch Tập Cận Bình đã yêu cầu.
Dùng binh lính bảo vệ công dân và tài sản ở nước ngoài
Cho đến nay, quân lính Trung Quốc chưa hề tham chiến, từ sau lần gây chiến tranh biên giới Việt-Trung năm 1979 và dù thảm bại trước bộ đội Việt Nam nhưng PLA vẫn tuyên bố chiến thắng.
Từ sau đó, Trung Quốc quyết định không can thiệp vào những cuộc chiến ở nước ngoài, cho đến khi ông Tập làm lãnh đạo thì có sự thay đổi. Từ khi nắm quyền lực, ông Tập muốn Trung Quốc chuyển mình thành một cường quốc của thế giới.
Nhà lãnh đạo Trung Quốc còn nhắm đến năm 2020 sẽ cải tổ PLA, để có thể tham gia các chiến dịch khác ở nước ngoài, nhằm bảo vệ các quyền lợi và công dân Trung Quốc ở nước ngoài.
Từ đó, PLA thường xuyên tiến hành tập trận chung trên toàn châu Phi và tại một số nước mà Trung Quốc giành được việc xây dựng cơ sở hạ tầng trong chương trình Một vành đai – Một con đường (BRI) mà ông Tập khởi xướng.
Tại nước Djibouti (châu Phi) có các công ty Trung Quốc xây dựng các cảng chiến lược và hệ thống đường sắt chuyên quốc gia đầu tiên của châu Phi. Năm ngoái, Bắc Kinh chính thức mở cửa căn cứ quân sự đầu tiên ở nước ngoài tại Djibouti, và căn cứ này cũng là một cơ sở hậu cần và tình báo.
Nhiều chuyên gia dự báo Trung Quốc sẽ còn có nhiều căn cứ nữa trong tương lai, và Namibia được đồn đoán là nơi sẽ mọc lên căn cứ quân sự của PLA.
Trong khi đó ở Tanzania, nơi mà tập đoàn nhà nước Merchants Holdings International (Trung Quốc) hy vọng sẽ đầu tư vào siêu cảng Bagamoyo, Bắc Kinh đã xây một tổ hợp để huấn luyện quân đội Tanzania từ đầu năm 2018.
Tại Diễn đàn An ninh-Quốc phòng Trung Quốc và châu Phi đầu tiên (tổ chức ở Bắc Kinh hôm 26.6), Bắc Kinh tuyên bố sẽ “hỗ trợ toàn diện” các nước châu Phi về những vấn đề như chống hải tặc, chống khủng bố. Báo chí nhà nước đưa tin sự ủng hộ này gồm cung cấp nhân lực, tư vấn chiến lược, công nghệ và phương tiện.
Tất các các động thái này vào lúc Mỹ có thể giảm số quân ở châu Phi (theo chính sách “Nước Mỹ trên hết” của Tổng thống Donald Trump) khiến Trung Quốc có thể ngoi lên là một quyền lực nước ngoài thống trị châu Phi.
Nhà nghiên cứu cao cấp Luke Patey thuộc Viện Nghiên cứu quốc tế Đan Mạch nói vài năm qua, việc Trung Quốc bán vũ khí cho châu Phi đã qua mặt Mỹ, đặc biệt là vũ khí hạng nhẹ và vũ khí nhỏ được bán tràn lan, vì không như các nhà cung cấp phương Tây, Trung Quốc không bị cấm bán vũ khí cho các nước đang có chiến tranh.
Ông nói thêm rằng hoạt động này song hành cùng kế hoạch của Bắc Kinh là mở rộng hợp tác quân sự. Đằng sau những nỗ lực cấp chính phủ này, có lẽ là ý đồ bảo vệ các nhân công Trung Quốc và các dự án do Trung Quốc tài trợ tại lục địa đen.
Viện Quan hệ đối ngoại Hà Lan (Clingendael) vừa ra báo cáo, nêu: “Những quan ngại an ninh của Trung Quốc thật sự nhắm vào bảo vệ công dân của họ, ngoại giao quân sự được ứng dụng khéo léo để bảo vệ họ cùng quyền lợi của Trung Quốc”.
Báo cáo viết thêm: “Việc phải sơ tán hàng trăm công dân Trung Quốc và người nước ngoài khỏi Yemen năm 2015 trên những hộ tống hạm PLA đến từ vùng biển Somalia đã chứng minh sự cần phải có một căn cứ hậu cần quân sự ở vùng biển phía đông châu Phi cho Trung Quốc”.
Mục tiêu của Trung Quốc là cố gắng tránh tái diễn kinh nghiệm của họ ở Libya, khi các công ty Trung Quốc mất gần hết những khoản đầu tư trong cuộc nội chiến Libya, vốn đã buộc Bắc Kinh phải sơ tán 35.000 công dân của họ hồi năm 2011.
Châu Phi cần mở to mắt cảnh giác Trung Quốc can thiệp chính trị
Từ lâu, Trung Quốc mô tả sự hợp tác quân sự Trung Quốc-châu Phi là một thỏa thuận “đôi bên cùng thắng”: nền kinh tế lớn thứ nhì thế giới “vô tư” tiếp cận nguồn tài nguyên của lục địa đen, trong khi các nền kinh tế châu Phi lại rất cần cơ sở hạ tầng.
Nhưng trong khi các chính phủ kẹt tiền tại châu Phi hoan nghênh dòng tiền tài trợ của Bắc Kinh, vẫn có sự sợ lo rằng số vốn đầu tư ngày càng tăng này có thể chuyển thành một lợi thế chính trị cho Bắc Kinh.
Thực tế là nhiều chuyên gia đã nói chính vì Trung Quốc lo ngại cho nguồn đầu tư của mình, đã dẫn đến hậu quả là Tổng thống Robert Mugabe bị quân đội Zimbabwe lật đổ hồi cuối năm 2017.
Đó là một cáo buộc mà chính phủ Trung Quốc cực lực bác bỏ. Nhưng ông Duncan Innes-Ker, Chủ nhiệm nhánh châu Á của tổ chức nghiên cứu Economist Intelligence, nói: “Sự lo ngại của nhiều đối tác chính xác là Trung Quốc sẽ giữ vai trò nào tại châu Phi và nó sẽ tương tác thế nào với các tổ chức quân sự và các diễn đàn an ninh”.
Nhà nghiên cứu cao cấp Patey cũng nói thêm: “Các nước châu Phi cần phải mở to mắt và tai để hiểu rằng đã kết thúc cái thời mà Trung Quốc tuyên bố không bao giờ can thiệp vào chính trị của các nước khác”.
Trung Trực (theo CNBC)
Theo http://motthegioi.vn/the-gioi-c-79/linh-trung-quoc-ngay-cang-nhieu-o-chau-phi-91220.html

Hãy nhanh chóng cất giữ những gì cần thiết trên drive, dropbox, mega…



Áp lực phải kiếm tiền là điều có thật, nhưng mãi miết chạy theo để tha hóa nhân cách ngang bằng cầm thú và chống lại loài người, thì rõ là một chuyện khác. Điều đó đang là một thách thức đối với các nhà cung cấp mạng xã hội, như Facebook.
Vài ngày khi ông Trần Đại Quang ký thông qua luật an ninh mạng, đã có biểu hiện các bài viết trên FB về các ngày biểu tình 10/6 và 17/6 đang mất dần. Thậm chí các hình ảnh tố cáo về việc tra tấn, nhục hình, đánh đập và chà đạp lên luật pháp của các thành phần chịu sự chỉ đạo của công an Việt Nam cũng dần dần không còn nhiều trên các trang FB, mà chỉ tạm thời còn tìm thấy trên youtube hay các trang web hay blog như wordpress, blogspot, minds…
Lúc này, rất nhiều trang FB bất đồng chính kiến đã bị khóa hay mất một cách khó hiểu, và đây là một biểu hiện đầy nhục nhã cho người kiểm soát hệ thống của FB, vốn lớn mạnh từ một quốc gia tự do và dân chủ. Tình trạng này đặc biệt nhục nhã đối với những người quản lý FB có khả năng hiểu biết tình hình Việt Nam, và biết nói tiếng Việt.
Hãy nhanh chóng cất giữ những gì các bạn thấy cần thiết trên các hệ thống cloud như drive, dropbox, mega… vì đó là điều mà kẻ ác sợ hãi, và đó cũng là sức mạnh lương tri của các bạn. Hãy làm ngay hôm nay.
Hãy bắt đầu chọn cho mình một cách nhắn tin và gọi điện thoại an toàn qua internet, chọn cho mình một trang blog mới và từ chối trách nhiệm khi bị tra hỏi về bút tích hay hình ảnh của bạn trên một không gian đầy sự bất tín như FB.
Status này đánh dấu một chặng mới, nhắc bạn rằng không chỉ cuộc sống của chúng ta đang bị bao vây bằng hàng rào kẽm gai và dùi cui, mà ngay cả không gian mạng cũng đã bắt đầu bị dựng song sắt.
TB: Trên trang FB này, sẽ có sớm có các cập nhật về các phương tiện liên lạc internet khả dĩ an toàn và các hướng dẫn lập trang mạng xã hội mới, giúp cho các anh chị nào đang thắc mắc.
Đây là bài viết đầu tiên trên căn nhà mới Minds: https://www.minds.com/newsfeed/subscribed
—————————
For #facebookadmin
The pressure to make money is real, but it does matter if you let your desire downgrade the personality like the animals and against the human race. That is a challenge for social network providers, like facebook.

Không “lấy”, là “mua bán” đàng hoàng!


LỘNG NGÔN CỦA KẺ CƯỚP
TẬP CẬN BÌNH TUYÊN BỐ VỚI BỘ TRƯỞNG BỘ QUỐC PHÒNG MỸ JAMES MATTIS TẠI ĐẠI LỄ ĐƯỜNG NHÂN DÂN BẮC KINH 27/6/2018
Tập Cận Bình – James Mattis
Ông Tập đã nói rằng Trung Quốc sẽ không chịu mất dù chỉ một tấc lãnh thổ được thừa kế từ tổ tiên. (Theo báo Hoàn Cầu)
Tờ New York Times của Mỹ cũng đưa lại tuyên bố này và cho biết nó được đưa ra trong bối cảnh khi hai bên đề cập vấn đề Biển Đông. Tuyên bố của ông Tập đưa ra đã bất chấp một sự thật là Việt Nam có đầy đủ bằng chứng lịch sử và cơ sở pháp lý để khẳng định chủ quyền không thể tranh cãi của mình đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Hiện Trung Quốc đang chiếm đóng phi pháp quần đảo Hoàng Sa và một số khu vực trên quần đảo Trường Sa chính là xâm phạm chủ quyền của Việt Nam. Vậy mà trong tuyên bố của mình với Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ, ông Tập còn thòng thêm câu: “Chúng tôi sẽ không lấy những gì thuộc về người khác”.

Ông cựu Chủ tịch tỉnh Gia Lai và tô phở úp lên đầu!

 
***
Ông cựu Chủ tịch tỉnh vô liêm sỉ

Nhà ông Phạm Thế Dũng ở Tăng Bạt Hổ kín như nhà tù và nhiều lần bị dân phá, lại thêm chuyện khi ông cựu Chủ tịch tập thể dục ở công viên thì bị vài ‘thằng dân’ ném đất và đá vào người kèm theo chửi thề. Hay câu chuyện, ‘thằng dân’ còn mang máu chó lên mộ mẹ ông Dũng ở nghĩa trang TP Pleiku viết văn tế sống cắm lên mộ.
Thế nên chuyện ông Dũng có nhà ở Gia Lai nhưng ít khi ở, mà ở Sài Gòn nhiều hơn ở quê nhà là vậy.

‘Thằng dân’ nói thẳng ra không có quyền gì đánh ông cựu Chủ tịch hết, nhưng bởi khi còn tại chức, ông quan Dũng chỉ lo ‘vơ vét’ của cải bằng quyền lực chiếc ghế mà bỏ việc chăm lo đời sống nhân dân, nên dân ghét. Và hầu như phố núi Gia Lai,… ai cũng ghét ông cả.

Ông Phạm Thế Dũng từng bị Ủy ban Kiểm tra trung ương kỷ luật vì vi phạm trong giao đất, cho thuê đất không đấu giá, bổ nhiệm người thân không đủ tiêu chuẩn… Nhiều người coi ‘kỷ luật’ là vết nhơ trong đường công danh, nhưng đó là khi họ còn phấn đấu, chứ vơ vét xong và làm chuyến hoàng hôn nhiệm kỳ như kiểu ông Phạm Thế Dũng thì kỷ luật chỉ như muỗi đốt đồng. Chính vì vậy, mà ông Dũng đã buông ra câu nói hời hợt và vô liêm sỉ: Tôi về hưu rồi, xử sao thì xử.

Phá là thế, nhưng ông Dũng lại được những hai nhiệm kỳ với 10 năm tròn (2005- 2015). Vào 1 thập niên đủ khiến cho Gia Lai ‘ngộp thở’ với hàng loạt dự án nghìn tỷ như Tượng đài Bác Hồ và các dân tộc Tây Nguyên (1.000 tỷ đồng), nâng cấp mở rộng sân bay Pleiku (gần 1.000 tỷ đồng). Thậm chí, ngay cả dự án mua sắm sách, vở và đồ dùng học tập cho trẻ em và học sinh dân tộc thiểu số thuộc hộ nghèo, cận nghèo cũng được ông nhón tay quyền lực vào để ‘thông thầu’ cho vợ.

Nhắc đến Gia Lai mà quên nhắc đến rừng là một thiếu sót lớn. Có thể nói, 10 năm trước ai làm Chủ tịch Kon Tum – Gia Lai – Đắk Lắk – Đắk Nông là những người góp công lớn nhất để dọn dẹp sạch sẽ nguồn rừng bạt ngàn của vùng đất đỏ bazan này. Riêng ông Dũng, ông có công lao chuyển đổi rừng quý sang rừng khai thác phổ thông; rừng nghèo thành vùng trồng cao su.

Sự ‘ăn tàn phá hoại’ qua 2 nhiệm kỳ của ông Dũng đã để lại một di chứng mà báo Tiền Phong ngày 30.09.2017 đã phải đặt dấu hỏi: Ai khắc phục nổi?

Dân ‘thế thiên hành đạo’

Khi pháp luật của chính quyền và kỷ luật của đảng không được nghiêm, thì nghiễm nhiên người dân sẽ ‘thế thiên hành đạo’, bởi ‘dân ghét các ông chủ tịch, các ông ủy viên vì cái tật ngông nghênh cậy thế cậy quyền’ như ông cụ khai sinh ra nhà nước CHXHCN Việt nam từng lên tiếng phê phán.

Người ta bảo làm quan ở Việt nam nếu luồn cúi thì cần phải mặt dày, và mặt dày thì cần phải tập chui rúc. Trong thời đại công nghệ phẳng với mạng xã hội Facebook 30 triệu người dùng, những hành vi – phát ngôn ‘trái dân, hại nước’ đều bị bóc mẽ. Từ những vị ĐBQH song tịch đến những anh quan phụ mẫu đương quyền – cậy chức rao giảng ngày đêm ‘đạo đức cách mạng’.

Lòng dân là thứ quan trọng, nhưng có vẻ các vị quan ở Việt nam chưa bao giờ để ý tới, họ chỉ vơ vét và lên chuyến bay sang nước ngoài. Và vì quan chức mặt dầy nằm trong thể chế, nên cả thể chế vì thế trở thành một đối tượng đáng tổng xỉ vả trong mắt dân. Nói nôm na, cả thể chế sẽ có lúc bị dân úp tô phở lên đầu như cách ‘thằng dân’ úp tô phở lên đầu ông cựu Chủ tịch tỉnh Gia Lai vậy.