Wednesday, November 22, 2017

Bởi vì mua đồ Trung Quốc thì có ‘hoa hồng’

Trân Văn 
Theo VOA-22/11/2017 
Thủ tướng Việt Nam dự lễ cắt băng khánh thành một tổ máy đốt than của nhà máy nhiệt điện Formosa ngày 17/9Thủ tướng Việt Nam dự lễ cắt băng khánh thành một tổ máy đốt than của nhà máy nhiệt điện Formosa ngày 17/9
Cả Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) lẫn chính phủ cùng làm ngơ trước thông tin Việt Nam phải trả thêm hàng tỉ Mỹ kim vì giá than trên thị trường thế giới tăng. Không có ai trong số 496 đại biểu của Quốc hội khóa 14 đang tham dự kỳ họp thứ 4 tỏ ra bận tâm đến thông tin này.
***

Sở dĩ gần đây, Việt Nam mất thêm hàng tỉ Mỹ kim cho việc nhập cảng than là vì phải duy trì hoạt động của các nhà máy phát điện bằng cách đốt than (nhà máy nhiệt điện dùng than).
Tuần trước, tờ Tuổi Trẻ công bố một nghiên cứu do Viện Kinh tế năng lượng và Phân tích tài chính (IEEFA) thực hiện. Theo đó, do số lượng các nhà máy nhiệt điện dùng than gia tăng, lượng than mà Việt Nam phải nhập cảng hàng năm đang tăng rất nhanh. Nếu năm 2015, Việt Nam chỉ nhập cảng 5,2 triệu tấn than thì sang năm 2016, lượng than nhập cảng đã tăng hơn gấp đôi (12 triệu tấn). Bởi giá than trên thị trường thế giới tăng gấp đôi, Việt Nam phải chi 1,27 tỉ Mỹ kim/năm cho than.
Vì Việt Nam cương quyết phát triển hệ thống nhà máy nhiệt điện dùng than nên Cơ quan Năng lượng quốc tế (IEA) dự báo, đến 2021, Việt Nam cần nhập cảng tới 35 triệu tấn than/năm. Nếu giá than trên thị trường thế giới “ổn định” ở mức như hiện nay thì thời điểm đó Việt Nam sẽ phải chi tới 3,5 tỉ Mỹ kim/năm để nhập cảng than.
Giống như nhiều chuyên gia cả ở trong lẫn ngoài Việt Nam từng khuyến cáo Việt Nam nên hủy bỏ kế hoạch phát triển hệ thống nhà máy nhiệt điện dùng than, IEEFA cảnh báo Việt Nam cần tính toán lại để không sa lầy khi đầu tư dài hạn vào hệ thống nhà máy nhiệt điện dùng than nhưng có lẽ cảnh báo này cũng sẽ như đàn gảy tai… trâu.
***
Đầu thập niên 2010, Việt Nam chỉ có chừng một chục nhà máy nhiệt điện dùng than. Vào thời điểm mà nhiều quốc gia quyết định loại bỏ các nhà máy phát điện bằng cách đốt than bởi đã có những bằng chứng rất rõ ràng cho thấy chúng là tác nhân gây ô nhiễm không khí, ô nhiễm nguồn nước, khiến sức khỏe của hàng triệu người cư trú gần các nhà máy này suy giảm không thể hồi phục thì chính quyền Việt Nam phê duyệt “Quy hoạch điện VII” (kế hoạch phát triển nguồn điện tại Việt Nam đến năm 2030): Xây dựng thêm hàng loạt nhà máy nhiệt điện dùng than để đến năm 2020, các nhà máy phát điện bằng than sẽ chiếm 46,8% cơ cấu năng lượng của Việt Nam. Tới năm 2030, nâng tỷ lệ này lên thành 56,4%.
“Quy hoạch điện VII” đã làm nhiều tổ chức, chuyên gia cả trong lẫn ngoài Việt Nam kinh ngạc và ái ngại.
Hồi tháng 9 năm 2015, nhóm mô hình hóa học khí quyển thuộc Đại học Harvard từng công bố kết quả nghiên cứu của về “các tác động tới sức khỏe do gia tăng phát thải từ than” ở Đông Nam Á và Việt Nam. Theo đó, hàng chục ngàn người Việt sẽ chết dần, chết mòn vì nhiệt điện dùng than.
Cũng năm đó, tại hội thảo về “than và nhiệt điện dùng than" do Trung tâm Phát triển Sáng tạo Xanh (GreenID), thuộc Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức, GreenID loan báo, mỗi năm, tại Việt Nam có khoảng 4.300 người Việt thiệt mạng do sức khỏe suy giảm, bởi tình trạng ô nhiễm từ nhiệt điện dùng than. Nếu chính quyền Việt Nam tiếp tục cho phép đầu tư - vận hành các nhà máy nhiệt điện dùng than theo “Quy hoạch điện VII” thì số người thiệt mạng sẽ tăng lên thành 25.000 người/năm.
GreenID tính toán, quá trình đốt than để tạo điện sẽ thải vào không khí 15 triệu tấn tro, một lượng lớn các chất nguy hiểm (lưu huỳnh dioxit - SO2, oxit nitơ - NOx, carbon dioxit - CO2, thủy ngân, thạch tín,...). Những chất này sẽ phá hủy hệ thần kinh, hệ tuần hoàn, hệ hô hấp, tăng nguy cơ bị ung thư phổi, đột qụi, mắc các bệnh về tim mạch, bệnh mãn tính hoặc bệnh truyền nhiễm về đường hô hấp... Chưa kể các loại khí sunfat và nitrat còn gây ra mưa axit, hủy hoại những dòng suối, những cánh rừng.
Gần đây, một tổ chức khác - Trung tâm Hành động và Liên kết vì Môi trường và Phát triển (CHANGE), cho biết, mỗi 3,5 phút, một nhà máy phát điện bằng than có công suất 500 MW sẽ hút từ biển lượng nước khoảng 2.500 khối để làm mát hệ thống. Sau đó nước sẽ được xả lại hồ, sông, biển với nhiệt độ cao hơn ban đầu từ 8 độ C đến 13 độ C. Đó là lý do tất cả các sinh vật biển: tảo, san hô, tôm, cá,… bị hủy diệt. Bởi các nhà máy phát điện bằng than cần một lượng nước rất lớn cho hệ thống làm mát, chưa kể việc đặt sát biển sẽ giúp giảm chi phí vận chuyển than nhập cảng nên đa số nhà máy nhiệt điện dùng than theo “Quy hoạch điện VII” đều nằm sát biển. Việc phát triển nguồn điện bằng cách xây dựng thêm hàng loạt nhà máy nhiệt điện dùng than đồng nghĩa với hủy diệt biển.
Dù “Quy hoạch điện VII” bị nhiều chuyên gia xác định là kế hoạch hủy diệt môi trường, sức khỏe và tính mạng con người (số người chết vì các nhà máy nhiệt điện dùng than cao gấp ba lần số người chết vì tai nạn giao thông, chưa kể chi phí khổng lồ do phải chăm sóc sức khỏe của các nạn nhân) nhưng việc thực hiện “Quy hoạch điện VII” vẫn được tiến hành như đã định. Hàng chục nhà máy nhiệt điện dùng than đã hoàn thành hoặc đang được xây dựng ở cả đồng bằng sông Hồng lẫn đồng bằng Sông Cửu Long. Thậm chí số lượng nhà máy nhiệt điện dùng than theo “Quy hoạch điện VII” đã được điều chỉnh, tăng từ 52 thành… 57!
Vào lúc này, dẫu số lượng nhà máy nhiệt điện dùng than mới chỉ ngừng ở 21, chưa tới một nửa số lượng dự tính nhưng nhiều loại hậu quả đã nhãn tiền.
Tháng 10 năm ngoái, Liên minh Năng lượng bền vững Việt Nam và Liên minh Phòng chống bệnh không lây nhiễm Việt Nam công bố kiến nghị ngưng thực hiện các dự án xây dựng nhà máy nhiệt điện dùng than chưa khởi công vì các nhà máy nhiệt điện dùng than đang hoạt động chiếm tới 50% số cơ sở công nghiệp gây ô nhiễm môi trường, cần giám sát đặc biệt. Vì các cộng đồng dân cư quanh những nhà máy nhiệt điện dùng than này đang phải đối mặt với những lo lắng hàng ngày về môi trường sống bị ô nhiễm, ảnh hưởng tới sinh kế. Vì theo “Quy hoạch điện VII”, khu vực đồng bằng sông Cửu Long sẽ ngộp thở bởi bị vây bởi 14 nhà máy nhiệt điện dùng than. Liên minh Năng lượng bền vững Việt Nam và Liên minh Phòng chống bệnh không lây nhiễm Việt Nam đề nghị chính phủ Việt Nam xem xét kỹ lưỡng giữa hiệu quả, lợi ích với tác động, tổn thất đối với toàn bộ nền kinh tế và xã hội Việt Nam.
Tháng 10 năm nay, Bộ Xây dựng Việt Nam cho biết, bộ này chưa biết làm thế nào với 40 triệu tấn tro, xỉ do 21 nhà máy nhiệt điện dùng than thải ra. Năm tới, con số này sẽ tăng thành 60 triệu tấn, đến 2020 sẽ là 109 triệu tấn và tăng lên thành 248 triệu tấn vào năm 2025, rồi thành 422 triệu tấn vào năm 2030.
***
Giữa thập niên 2010, các chuyên gia trong và ngoài Việt Nam đã từng lưu ý, ngoài việc phải cân nhắc những thiệt hại do môi trường và sức khỏe con người bị hủy hoại, nếu thực hiện “Quy hoạch điện VII” với tổng lượng than cần phải nhập cảng tối thiểu khoảng 85 triệu tấn/năm, cần phải tính toán lại xem phát điện bằng than có thật sự rẻ như EVN khẳng định hay không (?). Bây giờ, lúc giá than trên thị trường thế giới tăng gấp đôi không cần nghiên cứu cũng có thể thấy, hệ thống nhà máy nhiệt điện dùng than vừa ngốn hàng trăm ngàn tỉ vốn đầu tư, vừa đẩy giá bán điện lên, không tăng giá điện thì phải bù lỗ, tăng giá điện thì hàng hóa Việt Nam không còn khả năng cạnh tranh do giá thành cao,…
Các chuyên gia trong và ngoài Việt Nam đã từng khuyên Việt Nam nên chú trọng phát triển năng lượng tái tạo (điện gió, điện mặt trời). Khuyến khích, hỗ trợ đầu tư cho năng lượng tái tạo vừa bảo vệ môi trường, vừa giúp duy trì sự ổn định về an ninh năng lượng, giảm giá điện. Theo IEEFA, Trung Quốc – quốc gia hỗ trợ hết mình cho Việt Nam về vốn và công nghệ để phát triển hệ thống nhà máy nhiệt điện dùng than – vừa loại bỏ hệ thống nhà máy nhiệt điện dùng than, vừa phát triển năng lượng tái tạo và trong năm nay sẽ có thêm khoảng 50 gigawatt điện mặt trời.
Còn Việt Nam? “Quy hoạch điện VII” – phát triển hệ thống nhà máy nhiệt điện dùng than ằng vốn và công nghệ của Trung Quốc – đã bóp các dự án phát triển năng lượng tái tạo ngắc ngoải từ trong trứng vì “khó đủ đường”(giá mua điện của EVN quá thấp, khó vay vốn, thiếu đất, chính phủ không bận tâm nên các nhà đầu tư tự bơi...).
Vay vốn, mua công nghệ từ Trung Quốc thường hấp dẫn vì có “hoa hồng”. Đó là loại “hoa hồng” không gai bởi chắc chắn chẳng bao giờ chính quyền Trung Quốc thèm bận tâm, điều tra về chuyện “lại quả”, thành ra đừng dễ dãi cho rằng, việc soạn thảo, thông qua và gạt bỏ tất cả các cảnh báo, hậu họa, khăng khăng thực hiện cho bằng được “Quy hoạch điện VII” là ngu dốt.

GS. Đặng Hùng Võ: Cần kiểm tra kỹ đằng sau phát biểu ‘Thương dân’ trong vụ Sơn La

Khánh An-VOA-21/11/2017  GS. 
GS. Đặng Hùng Võ: Cần kiểm tra kỹ đằng sau phát biểu ‘Thương dân’ trong vụ Sơn La
 GS. Đặng Hùng Võ: Cần kiểm tra kỹ đằng sau phát biểu ‘Thương dân’ trong vụ Sơn La
Phát biểu của một giới chức tỉnh Sơn La đã bị chỉ trích và phản đối trên mạng xã hội khi cho rằng 17 cán bộ tỉnh bị khởi tố liên quan đến công tác đền bù, tái định cư thủy điện Sơn La là “không liên quan đến chuyện tiền nong, tư túi, mà chỉ vì thương dân, làm lợi cho dân”. Tuy nhiên, một cựu giới chức Bộ Tài nguyên và Môi trường Việt Nam cho rằng phát biểu trên có thể có căn cứ, nên cần xem xét kỹ hồ sơ vụ án, xem liệu có yếu tố “thương dân, làm lợi cho dân”, hay chỉ đơn thuần là tham nhũng trong vụ án liên quan đến dự án thủy điện lớn nhất Đông Nam Á này.
Thương dân?
Phát biểu trước báo chí bên hành lang Quốc hội chiều 20/11 về vụ 17 cán bộ tỉnh Sơn La bị khởi tố, Đại biểu Quốc hội-Phó Chủ tịch thường trực UBND tỉnh Sơn La Tráng Thị Xuân nói vụ này “không liên quan đến chuyện tiền nong, tư túi, mà chỉ vì thương dân, làm lợi cho dân”.
Dân Trí trích lời khẳng định của bà Tráng Thị Xuân, nói: “Một số hồ sơ để giải quyết việc bồi thường, đền bù thu hồi đất, giải phóng mặt bằng chưa đầy đủ nhưng anh em vì thương dân nên vẫn làm hoàn thiện sớm hồ sơ giúp dân nên người dân được lợi. Nhưng chính vì thế giờ cán bộ giải quyết lại phải chịu trách nhiệm chứ họ không tư túi gì, không đút một xu nào vào túi cá nhân.”
Phát biểu của bà Xuân đã vấp phải nhiều chỉ trích trên cả mạng xã hội lẫn các trang thông tin chính thống. Đa số người dân phản đối ý kiến của bà Xuân và cho rằng đây là một vụ án tham nhũng lớn cần phải được xử lý thấu đáo, một điển hình cho thấy quyết tâm chống tham nhũng mà Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng từng khẳng định “Lò đã nóng lên rồi thì củi tươi vào đây cũng phải cháy”.
Nhận xét về phát biểu của Đại biểu Tráng Thị Xuân, Giáo sư-Tiến sĩ Đặng Hùng Võ, nguyên Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Việt Nam, cho rằng cần phải xem xét kỹ vụ án sau phát biểu “có thể có căn cứ” của bà Xuân.
“Đại biểu Quốc hội mà phát biểu như vậy thì cũng là một điểm lưu ý trong việc xem xét hồ sơ cụ thể, xem nó có phải là sự trộn lẫn giữa yếu tố tham nhũng và yếu tố làm lợi cho dân hay không. Một động tác mà tôi biết ở Việt Nam rất hay làm là có những chi tiết được khai khống trong các phương án bồi thường, hỗ trợ tái định cư là có liên quan đến tham nhũng”.
Tuy nhiên, cựu giới chức Bộ TNMT nhận định khả năng về “bồi thường không thỏa đáng”, một trong những nguyên nhân có thể dẫn đến việc lách luật để “làm lợi cho dân”, khó có thể xảy ra trong một dự án lớn được dốc hầu bao để đầu tư như thủy điện Sơn La.
GS. Võ phân tích: “Dự án Sơn La là dự án cấp quốc gia, được Quốc hội thông qua chủ trương đầu tư, tức là dự án thuộc loại đặc biệt. Phương án bồi thường, hỗ trợ tái định cư được Thủ tướng chính phủ phê duyệt. Theo tôi biết, có khá nhiều tiền ngân sách chi cho việc bồi thường, hỗ trợ tái định cư. Thành ra khả năng có vấn đề trong việc bồi thường không thỏa đáng trong dự án Sơn La thì tôi nghĩ không có”.
Sau dự án là vụ án
Thông tin trên báo chí hôm 19/11, tỉnh Sơn La cho biết trong số 17 cán bộ bị khởi tố về tội “Cố ý làm trái quy định của nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng” và “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng”, có 15 đảng viên, trong đó có Giám đốc và 2 Phó Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh, nguyên Phó chủ tịch UBND và Chủ tịch Hội đồng bồi thường, hỗ trợ tái định cư huyện Mường La và nhiều chuyên viên, cán bộ phòng, ban.
Kết quả điều tra cho biết sai phạm xảy ra ở các bước thẩm định, đo đạc, lập bản đồ địa chính, thu hồi và bồi thường không đúng quy định, trong đó có hơn 600 hộ dân có hồ sơ đất đai được lập khống, tăng diện tích đất hay không đúng loại đất quy định.
Nhận định về tình trạng tham nhũng trong việc bồi thường các dự án tại Việt Nam, GS. Đặng Hùng Võ thừa nhận khai khống là một “thủ pháp” xuất hiện khá phổ biến, đặc biệt trong các dự án lớn, có số lượng người nhận bồi thường đông như thủy điện Sơn La. Ông nói:
“Sự thực mà nói, trong các dự án, nhất là dự án lớn như thủy điện Sơn La, số lượng người được nhận bồi thường, hỗ trợ tái định cư là cực kỳ nhiều. Mà cực kỳ nhiều như vậy thì ai là người có thể rà soát lại toàn bộ? Từ đấy dẫn đến việc Ban bồi thường giải phóng mặt bằng hay sử dụng thủ pháp đó”.
Cựu giới chức Bộ TNMT cho rằng cơ chế thanh tra, kiểm tra hiện nay của Việt Nam thiếu hiệu quả trong việc rà soát các lỗ hổng trong quản lý, chi tiêu đối với các dự án lớn.
GS. Võ nói thêm: “Hiện nay, cơ chế của Việt Nam có việc thanh tra, kiểm tra, nhưng không có quy trình hai cơ quan thực hiện kiểm tra chéo nhau. Không có quy trình đó, nên Ban bồi thường giải phóng mặt bằng hoàn toàn lập phương án và tính toán cho từng trường hợp cụ thể. Việc kiểm tra, thanh tra có thể xảy ra từ cơ quan hành chính cấp trên, nhưng thực ra cũng không thể kiểm tra 100% được”.
Nhà máy thủy điện Sơn La được khởi công vào năm 2005, với tổng mức đầu tư lên đến hơn 60.000 tỷ đồng, tăng 60% so với mức phê duyệt ban đầu (gần 45.000 tỷ đồng). Đây được xem là 1 trong 10 nhà máy thủy điện lớn nhất Đông Nam Á.
Để xây dựng công trình này, Việt Nam đã phải di chuyển hơn 20.000 hộ dân ở các tỉnh Sơn La, Điện Biên, Lai Châu ra khỏi khu vực. Riêng tại tỉnh Sơn La, có hơn 12.000 hộ dân phải di chuyển đến định cư tại 276 điểm tái định cư trong tỉnh.

Nợ? Không lo! Đã có dân trả

 Trân Văn   
Theo VOA-20/11/2017 
Đồng hồ nợ công của tạp chí The Economist nêu con số nợ công của Việt Nam vào ngày 16/7/2017 là hơn $94 tỉ. (Hình: Trích từ website của The Economist)
Đồng hồ nợ công của tạp chí The Economist nêu con số nợ công của Việt Nam vào ngày 16/7/2017 là hơn $94 tỉ. (Hình: Trích từ website của The Economist)
11 bộ (Kế hoạch – Đầu tư, Tài nguyên - Môi trường, Khoa học - Công nghệ, Giao thông - Vận tải, Nông nghiệp - Phát triển nông thôn, Thông tin - Truyền thông, Công Thương, Tài chính, Quốc phòng, Công an, Xây dựng), chính quyền hai tỉnh Lâm Đồng, Đắk Nông và hai tập đoàn nhà nước là Than – Khoáng sản (TKV), Điện lực (EVN), vẫn chưa khảo sát xong và chưa có báo cáo cuối cùng về dự án khai thác bauxite ở Tây Nguyên.
Theo chỉ đạo của Thủ tướng Việt Nam thì 11 bộ, chính quyền hai tỉnh Lâm Đồng, Đắk Nông và TVN, EVN sẽ phải kháo sát, báo cáo về năm khía cạnh có liên quan tới dự án này: Chủ trương, hiệu quả sử dụng vốn, công nghệ, thị trường, sản phẩm.
Bởi Thủ tướng Việt Nam không ấn định thời gian nên chưa rõ bao giờ sẽ có báo cáo chính thức (?), sau đó báo cáo có được công bố rộng rãi hay không (?) và quan trọng nhất là có thừa nhận sai lầm, đồng thời có truy cứu trách nhiệm những cá nhân chủ trương và thúc đẩy việc khai thác bauxite ở Tây Nguyên hay không?
***
Dựa trên kết quả khảo sát của giới địa chất Liên Xô - xác định trữ lượng bauxite ở khu vực Tây Nguyên khoảng tám tỉ tấn, năm 2001, Ban Chấp hành Trung ương (BCH TƯ) của Đảng CSVN khóa 9, xác định phải khai thác bauxite ở Tây Nguyên và nhấn mạnh đó là “chủ trương lớn” của đảng này. Sau đó, Ban Chấp hành Trung ương của Đảng CSVN khóa 10 tái tuyên bố, khai thác bauxite ở Tây Nguyên là “chủ trương nhất quán” của giới lãnh đạo Đảng CSVN.
Không chỉ các chuyên gia, trí thức, báo giới, một số tôn giáo, dân chúng mà nhiều cựu viên chức cao cấp của chính quyền CSVN đã cùng lên tiếng ngăn cản việc thực hiện kế hoạch khai thác bauxite ở Tây Nguyên. Đã có rất nhiều phân tích cặn kẽ cho thấy, nếu thực hiện dự án khai thác bauxite ở Tây Nguyên, Việt Nam sẽ chìm trong nợ, môi trường – hệ sinh thái ở khu vực Tây Nguyên sẽ bị hủy diệt, Tây Nguyên sẽ thiếu cả nước lẫn điện, hàng tỉ tấn bùn đỏ do khai thác bauxite thải ra sẽ là một quả bom bùn lơ lửng trên đầu miền Nam, chưa kể nó còn mở toang cửa cho công nhân Trung Quốc tràn vào, cư trú tại một trong những khu vực trọng yếu về an ninh, quốc phòng,…
Bất chấp các khuyến cáo và phân tích thiệt hơn, cuối năm 2007, ông Nguyễn Tấn Dũng, lúc đó là Thủ tướng Việt Nam vẫn phê duyệt kế hoạch khai thác bauxite tại Tây Nguyên. Tổng vốn đầu tư trong hai năm từ 2007 đến 2029 là 3,1 tỉ Mỹ kim.
***
Sau khi ngốn hết 15.415 tỉ đồng, Nhà máy Alumin Tân Rai ở Lâm Đồng bắt đầu được vận hành vào tháng 3 năm 2013 và chỉ tính đến tháng 9 năm ngoái, nhà máy này đã lỗ khoảng 3.700 tỉ đồng. Tương tự, sau khi ngốn hết 16.821 tỉ đồng, Nhà máy Alumin Nhân Cơ ở Đắk Nông bắt đầu vận hành vào tháng 11 năm ngoái. Đến tháng 8 vừa qua, chính quyền tỉnh Đắk Nông cho biết, họ hết sức thất vọng khi năm nay, Nhà máy Alumin Nhân Cơ chỉ có thể đóng góp cho ngân sách của cả trung ương lẫn địa phương (thuế) chừng 150 tỉ đồng, bằng ¼ so với dự trù (437 tỉ đồng), thành ra chính quyền tỉnh Đắk Nông đề nghị chính phủ cho họ hưởng luôn khoản 78 tỉ đồng - tương đương 52% - mà lẽ ra phải chuyển cho ngân khố quốc gia.
Đến giờ đã có khá nhiều dấu hiệu cho thấy, dự án khai thác bauxite ở Tây Nguyên trở thành “chủ trương lớn của Đảng CSVN”, gây ra đủ loại thiệt hại nghiêm trọng cho kinh tế - xã hội – môi trường, không đơn thuần là vì ngu dốt.
Tháng 3 năm nay, Thanh tra của Bộ Tài chính kết luận: Năm 2006, lúc vận động cho dự án khai thác bauxite ở Tây Nguyên, TKV chỉ có ý định đầu tư 7.787 tỉ đồng vào Nhà máy Alumin Tân Rai ở Lâm Đồng. Sau khi giới lãnh đạo Đảng CSVN xác định, khai thác bauxite ở Tây Nguyên là “chủ trương lớn, nhất quán”, TKV đã nâng vốn đầu tư vào Nhà máy Alumin Tân Rai ở Lâm Đồng (15.500 tỉ đồng). Dù vốn đầu tư tăng gấp đôi nhưng công suất của Nhà máy Alumin Tân Rai chỉ tăng chưa tới 1/10.
Nhà máy Alumin Nhân Cơ cũng vậy. Lúc đầu, TKV chỉ có ý định đầu tư 3.285 tỉ đồng vào nhà máy này nhưng sau khi khai thác bauxite ở Tây Nguyên trở thành “chủ trương lớn, nhất quán”, TKV đã nâng vốn đầu tư vào Nhà máy Alumin Nhân Cơ lên năm lần (16.821 tỉ đồng). Dù vốn đầu tư tăng gấp năm lần, công suất của Nhà máy Alumin Nhân Cơ chỉ tăng hơn gấp đôi.
Dẫu Nhà máy Alumin Tân Rai ở Lâm Đồng thua lỗ trầm trọng vì giá quặng trên thị trường thế giới liên tục sụt giảm, mức tiêu hao năng lượng, nguyên vật liệu, hóa chất và nước cao hơn mức trung bình của thế giới nên giá thành rất cao, không thể cạnh tranh, dẫu tháng 8 năm 2014, TKV công khai thú nhận, cả Nhà máy Alumin Tân Rai và trong tương lai, Nhà máy Alumin Nhân Cơ sẽ tiếp tục lỗ, ít nhất là hơn một thập niên nữa mới có thể thu hồi vốn nhưng tháng 3 năm 2016, dựa vào yếu tố khai thác bauxite ở Tây Nguyên là “chủ trương lớn, nhất quán” của Đảng CSVN, Bộ Công Thương Việt Nam đã đề nghị và chính phủ Việt Nam đã chuẩn y, “hỗ trợ” thêm cho kế hoạch khai thác bauxite tại Tây Nguyên khoảng 5.000 tỉ trong 10 năm từ 2016 đến 2025. Theo một số chuyên gia, nếu tính cả hỗ trợ về giá điện thì khoản “hỗ trợ” phải tới 1,2 tỉ Mỹ kim!
Bởi thiếu thông tin nên người ta không biết các khoản “hỗ trợ” có bao gồm chi phí khắc phục hậu quả những vụ bùn đỏ tràn ra bên ngoài khuôn viên các nhà máy alumin Tân Rai và Nhân Cơ hay chưa? Từ tháng 10 năm 2014 đến nay, thỉnh thoảng, bùn đỏ từ hai nhà máy alumin tại Tân Rai và Nhân Cơ lại tràn ra ngoài. Ông Nguyễn Văn Ban, cựu Trưởng ban Nhôm – Titan của TKV, từng nhận định đó là hệ quả tất nhiên của… “công nghệ Trung Quốc”.
***
Khoan kể tới 32.000 tỉ đồng đã đầu tư cho kế hoạch khai thác bauxite ở Tây Nguyên không những không hề sinh lợi mà còn tạo thêm nợ nần do phải trả lãi và bù đắp các khoản thua lỗ, chủ trương khai thác bauxite ở Tây Nguyên đã hủy diệt tương lai của nhiều cá nhân, gia đình. Chẳng hạn trường hợp ông Đinh Đăng Định.
Ông Định, 51 tuổi, từng là một sĩ quan của quân đội CSVN. Sau khi giải ngũ, làm việc cho nhiều công ty khác nhau, ông trở thành giáo viên dạy Hóa của trường trung học Lê Qúy Đôn ở huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông. Ông Định là một trong những người tích cực vận động dân chúng Đắk Nông ký tên vào kiến nghị yêu cầu không khai thác bauxite tại Tây Nguyên, vừa để bảo vệ môi trường của Tây Nguyên và vùng Đông Nam bộ, vừa nhằm ngăn chặn Trung Quốc đặt chân vào khu vực này.
Ông Định bị bắt năm 2011. Năm 2012 bị hệ thống tư pháp Việt Nam kết án sáu năm tù vì “tuyên truyền chống nhà nước”. Nhiều lần ông Định được khuyến dụ nhận tội để hưởng “chính sách khoan hồng, nhân đạo của Đảng và nhà nước” song ông cương quyết từ chối. Trong tù, sức khỏe của ông suy kiệt trầm trọng và giờ chót mới được thăm khám, kết luận là ung thư bao tử.
Đại diện nhiều chính phủ, nhiều tổ chức quốc tế đã liên tục kêu gọi chính quyền Việt Nam phóng thích ông Định để ông nhắm mắt bên cạnh những người thân. Tháng 2 năm 2014, chính quyền Việt Nam loan báo đã cho ông Định tạm hoãn thi hành án trong 12 tháng. Tháng 3 năm 2014, Tòa án tỉnh Đắk Nông đến tư gia trao cho ông “Quyết định đặc xá”. Đầu tháng 4 năm 2014, ông Định qua đời để lại ba đứa con dại…
Chủ trương khai thác bauxite ở Tây Nguyên cũng là nguyên nhân hủy diệt nhiều khu vực, nhiều doanh nghiệp.
Song song với kế hoạch khai thác bauxite ở Tây Nguyên, TKV đề nghị xây dựng một hải cảng tại khu vực Kê Gà thuộc xã Tân Thành, huyện Hàm Thuận Nam, tỉnh Bình Thuận để tiếp nhận – xuất cảng quặng khai thác từ Tây Nguyên. Theo dự trù, cảng Kê Gà chiếm 2,3 cây số bờ biển, diện tích 366 héc ta, chi phí đầu tư lên tới một tỉ Mỹ kim. Đề nghị của TKV đã khiến tất cả các dự án xây dựng resort đã được cấy giấy phép đầu tư và đang triển khai ở Kê Gà bị đình chỉ để thu hồi đất, giao cho TKV.
Năm 2009, TKV tổ chức lễ khởi công xây dựng cảng Kê Gà nhưng sau đó, 366 héc ta ở Kê Gà bị bỏ hoang vì rõ ràng, bauxite tưởng vậy mà không phải vậy. Thế nhưng mãi đến năm 2013, ông Nguyễn Tấn Dũng, lúc đó là Thủ tướng Việt Nam mới chính thức tuyên bố hủy bỏ kế hoạch xây dựng cảng Kê Gà và yêu cầu các bộ hữu trách trong chính phủ Việt Nam phối hợp với chính quyền tỉnh Bình Thuận giải quyết thiệt hại cho các doanh nghiệp du lịch từng đầu tư vào khu vực Kê Gà! Nhiều doanh nghiệp trong số này đã mấp mé bên bờ vực phá sản.
Bộ Công Thương đã từng tổ chức giám định thiệt hại nhưng những doanh nghiệp phải gánh chịu hậu quả của dự án cảng Kê Gà không đồng ý vì hai lý do: (1) Mức độ thiệt hại được bên gây thiệt hại (TKV) thừa nhận thấp hơn nhiều so với thiệt hại thực tế. Chính quyền tỉnh Bình Thuận, trung gian giữa hai bên (gây thiệt hại và bị thiệt hại) ước tính thiệt hại là 85,7 tỉ đồng nhưng TKV chỉ đồng ý bồi thường 37,4 tỉ đồng. (2) Dù tổng số thiệt hại thấp hơn nhiều so với thiệt hại thực tế nhưng những doanh nghiệp bị thiệt hại vẫn chưa nhận được đồng nào.
Cho dù khoản bồi thường là 85,7 tỉ đồng hay 37,4 tỉ đồng thì chắc chắn tiền bồi thường cũng sẽ được lấy từ ngân sách. Ở Việt Nam, nợ nần là thứ mà chính phủ không hề lo.

Dâng’ các tỉnh biên giới cho Trung Quốc?

 Lê Anh Hùng 
Theo VOA- 20/11/2017  
Trẻ em sắc tộc thiểu số tại Lào Cai. (Photo by Bùi Thụy Đào Nguyên/Vietnam/VOA reader)
Trẻ em sắc tộc thiểu số tại Lào Cai. (Photo by Bùi Thụy Đào Nguyên/Vietnam/VOA reader)
Việc các nhà lãnh đạo quốc gia trên thế giới thăm viếng nước này nước nọ là hoạt động bình thường trong bang giao quốc tế, mà mục đích chủ yếu là nhằm kết nối tình hữu nghị hoặc thắt chặt quan hệ giữa các quốc gia.
Việt, Trung xoành xoạch qua lại
Nhìn chung, giữa các quốc đã thiết lập quan hệ ngoại giao với nhau, lâu lâu người ta lại chứng kiến một chuyến thăm của lãnh đạo nước này tới nước kia hay ngược lại. Chẳng hạn, mặc dù Hoa Kỳ và Hàn Quốc là hai quốc gia đồng minh gần gũi, nhưng chuyến công du của Tổng thống Donald Trump tới Hàn Quốc ngày 7/11 vừa rồi là chuyến thăm cấp nhà nước đầu tiên của một Tổng thống Mỹ đến xứ sở kim chi trong suốt 25 năm qua. Còn chuyến công du Hoa Kỳ trung tuần tháng 3 năm 2016 của Thủ tướng Justin Trudeau thì cách chuyến thăm gần nhất của lãnh đạo Canada sang quốc gia láng giềng gần hai thập niên.
Tuy nhiên, thông lệ trên lại không đúng với mối quan hệ “vừa là đồng chí, vừa là anh em” giữa Việt Nam và Trung Quốc. Lãnh đạo hai quốc gia cộng sản này thường xuyên thăm viếng lẫn nhau, với tần suất có thể nói là “xoành xoạch”.
Điều này không phải là vì lãnh đạo Trung Quốc muốn cho người dân Việt Nam thấy họ thực sự yêu mến quốc gia láng giềng phương Nam, hay vì lãnh đạo Việt Nam cảm nhận được tình hữu nghị chân thành từ phía lãnh đạo cũng như nhân dân Trung Quốc và đáp lại tương xứng.
Động cơ quan trọng nhất ở đây thiếu cao cả nhưng lại thừa thiết thực: Bắc Kinh muốn thường xuyên giám sát để Hà Nội không đi ra ngoài quỹ đạo Đại Hán, còn Hà Nội thì vừa buộc phải “đáp lễ” vừa muốn bám vào Bắc Kinh để duy trì chế độ độc tài cộng sản tại Việt Nam.
Và sau mỗi cuộc thăm viếng như vậy, thứ “bảo bối” giúp thắt chặt “tình hữu nghị cộng sản” giữa hai nước chính là bản tuyên bố chung Việt - Trung cùng các thoả thuận hợp tác kèm theo.
Chuyến thăm thứ 2 của Tập Chủ tịch
“Đến hẹn lại lên”, sau chuyến thăm Trung Quốc của TBT Nguyễn Phú Trọng trung tuần tháng 1 và của Chủ tịch nước Trần Đại Quang trung tuần tháng 5 năm 2017, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình lại thăm chính thức Việt Nam từ ngày 10-13/11/2017. Đây là lần thứ hai họ Tập đến Việt Nam trên cương vị Chủ tịch Trung Quốc, sau chuyến thăm lần đầu hai năm trước.
Và kết quả – hay chính xác hơn là mục đích – của chuyến thăm này là bản Tuyên bố chung Việt - Trung cùng 19 văn kiện hợp tác giữa hai bên.
Trong bản Tuyên bố chung dài đến 7 trang A4 ấy, từ “tăng cường” được lặp đi lặp lại tới 24 lần. Chừng đó đủ nói lên tinh thần xuyên suốt của cái văn kiện đóng vai trò “kim chỉ nam” cho mối quan hệ giữa hai quốc gia cộng sản: “Trói” chặt Hà Nội vào quỹ đạo Đại Hán!
Và đó là những nội dung mà bất kỳ người Việt nào quan tâm đến vận mệnh nước nhà cũng không khỏi âu lo: hết “tăng cường trao đổi chiến lược”, “tăng cường giao lưu kênh Đảng”, “tăng cường giao lưu hợp tác giữa các cơ quan trung ương hai Đảng và các tổ chức Đảng địa phương, đặc biệt là các tỉnh (khu) giáp biên”, lại đến “tăng cường hợp tác về quốc phòng, an ninh” hay “tăng cường hơn nữa việc kết nối giữa doanh nghiệp hai nước”, v.v. và v.v.
Hợp tác đào tạo cán bộ “đặc sắc Trung Quốc”?
“Công tác cán bộ là then chốt của mọi then chốt, nguyên nhân của mọi nguyên nhân.” Đó là điệp khúc mà người đứng đầu Đảng CSVN vẫn lặp đi lặp lại gần như mọi lúc mọi nơi.
Dĩ nhiên, trong các bản tuyên bố chung ký với lãnh đạo Trung Quốc, ngài TBT luôn đặc biệt chú trọng vấn đề cán bộ và hợp tác đào tạo cán bộ với phía “bạn”.
Trong bài “Ông Nguyễn Phú Trọng quyết tâm ‘Hán hoá’ đội ngũ lãnh đạo Việt Nam?” ngày 18/1/2017, tác giả đã chỉ ra rằng, dưới thời TBT Nguyễn Phú Trọng, việc hợp tác đào tạo cán bộ giữa Việt Nam và Trung Quốc đã từng bước “tự diễn biến, tự chuyển hoá” từ những chỉ đạo chung chung, với mức độ ràng buộc thấp, đến các văn kiện hợp tác cụ thể, mang tính ràng buộc cao.
Hai bản tuyên bố chung Việt - Trung ngày 15/10/2011 và ngày 9/4/2015 chỉ nêu nội dung hợp tác đào tạo cán bộ một cách chung chung. Đến bản Tuyên bố chung ngày 5/11/2015, nội dung này đã trở thành “Kế hoạch hợp tác đào tạo cán bộ giữa Đảng CSVN và Đảng CSTQ giai đoạn 2016-2020”. Và cuối cùng là “Thoả thuận hợp tác đào tạo cán bộ cấp cao” trong bản Tuyên bố chung Việt - Trung ngày 14/1/2017 nhân chuyến thăm Trung Quốc lần thứ 3 chỉ trong vòng 6 năm của TBT Nguyễn Phú Trọng.
Xin dẫn lại một đoạn từ bài viết trên về “quy trình đào tạo” mà các ông chủ Trung Nam Hải áp dụng cho cán bộ Việt Nam: “…Tuần đầu sang Trung Quốc, họ được đưa đi thăm thú các danh lam thắng cảnh trên đất nước Trung Quốc. Sau đó, người của Cục Tình báo Hoa Nam dưới những vỏ bọc khác nhau sẽ tham gia đào tạo họ. Ngày thì học tập, tối thì mỗi cán bộ Việt Nam ở một phòng VIP và có mỹ nữ phục vụ…”
Việt Nam thì đơn giản là không thể nào “đào tạo” cán bộ cho “bạn” được. Vậy nên, tuy gọi là “hợp tác” nhưng trên thực tế, thông qua những thoả thuận như thế, nhà lãnh đạo cao nhất Việt Nam đã trao vô số đồng chí của mình cho Trung Quốc “đào tạo” theo kiểu “giao trứng cho ác” hay “đem con bỏ chợ”. Về mặt con người, hành động đẩy người khác vào chỗ (buộc phải) phạm tội, dù với bất kỳ lý do gì đi nữa thì cũng là độc ác, bất nhân.
Và “chiến công” mới nhất của ngài TBT
Trong bản Tuyên bố chung do mà TBT Nguyễn Phú Trọng ký với Tập Cận Bình ngày 13/11 vừa qua, từ “cán bộ” xuất hiện 4 lần. Ba lần đầu là trong những chỉ đạo chung chung (“làm sâu sắc […] hợp tác đào tạo cán bộ kênh Đảng”; “thực hiện tốt kế hoạch đào tạo cán bộ” giữa hai Bộ Ngoại giao và “tăng cường hợp tác đào tạo cán bộ” giữa hai Bộ Quốc phòng), thiếu sự ràng buộc cụ thể, nên người ta khó hình dung ra mức độ tai hại của chúng.
Vậy nhưng, khi từ “cán bộ” xuất hiện trong một văn kiện mang tính ràng buộc cao là “Thỏa thuận về hợp tác đào tạo cán bộ giữa Tỉnh ủy Quảng Ninh, Lạng Sơn, Cao Bằng, Hà Giang và Khu ủy khu tự trị Dân tộc Choang Quảng Tây” thì có lẽ bất kỳ người Việt nào chỉ với đôi chút hiểu biết về cái gọi là “hợp tác đào tạo cán bộ Việt - Trung” thôi là đã phải giật mình thon thót.
Không giật mình sao được khi vấn đề “then chốt của mọi then chốt, nguyên nhân của mọi nguyên nhân” của một loạt tỉnh biên giới được ngài Tổng Bí thư điềm nhiên trao vào tay những kẻ vẫn đang luôn lăm le nuốt chửng Việt Nam.
Không giật mình sao được khi, với tư cách đứng đầu “kênh đảng”, ông ta có thể trực tiếp chỉ đạo từng tỉnh uỷ nói trên để triển khai thực hiện thoả thuận hợp tác. (Trong các thoả thuận về hợp tác kinh tế, nếu không bị Bắc Kinh thao túng, người đứng đầu chính phủ Việt Nam vẫn có thể trì hoãn, thực hiện chiếu lệ, hoặc thậm chí là viện lý do hợp lý để không triển khai thực hiện thoả thuận đã ký với Trung Quốc.)
Trong số 7 tỉnh biên giới phía bắc, 5 tỉnh có vị trí chiến lược quan trọng nhất là Quảng Ninh, Lạng Sơn, Cao Bằng, Hà Giang và Lào Cai. Vậy nên hẳn sẽ có người “thắc mắc”: Vì sao Lào Cai không nằm trong danh sách “hợp tác đào tạo cán bộ” nói trên? Xin thưa, trong bài “Lào Cai: ‘Tử huyệt’ của phòng tuyến biên giới phía bắc?” ngày 18/3/2014, chúng tôi đã cung cấp đầy đủ dữ liệu để độc giả thấy Lào Cai gần như đã trở thành một tỉnh Trung Quốc trên đất Việt Nam.
Hết “hợp tác đào tạo cán bộ cấp cao” với Trung Quốc lại đến bắt tay với họ để “đào tạo cán bộ” cho một loạt tỉnh biên giới – chỉ riêng chừng đó thôi có lẽ cũng đã khiến ngài GS.TS chuyên ngành “xây dựng đảng” khó tìm ra “đối thủ xứng tầm” về những “chiến công” mà ngài lập được cho kẻ thù truyền kiếp của dân tộc.

Bài học đạo lý cho một chế độ cuối mùa

Bùi Tín
Theo VOA-18/11/2017  
Ông Trịnh Văn Bô thời còn trẻ. (Hình: Wikipedia)
Ông Trịnh Văn Bô thời còn trẻ. (Hình: Wikipedia)
Cụ bà Trịnh Văn Bô/Hoàng Thị Minh Hồ, nữ doanh nhân có lòng yêu nước nồng nàn đã từ trần. Cuộc đời của một nữ doanh nhân thành đạt có lòng yêu nước mình, thương dân mình, tiêu biểu cho truyền thống nhân ái của dân tộc – thương người như thể thương thân, là bài học sống động cho mỗi người Việt.
Một nhà giàu, cực giàu, có hàng ngàn lạng vàng, hàng tấn lạng bạc nén, nhà cửa khang trang, nhưng không bị đồng tiền làm cho lóe mắt, càng giàu càng tự nguyện chia sẻ cho người nghèo – cứ lãi 10 phần thì để ra 3 phần làm từ thiện, khi nền độc lập cần đến thì cần bao nhiêu cũng hiến, không hề tính toán.
Vậy mà chế độ độc đoán độc đảng đối xử với gia đình cụ thật là tàn tệ. Ngôi nhà do Bộ Quốc phòng mượn tạm trong 2 năm, nhưng 45 năm sau vẫn không trả lại khi gia đình cụ có phước lớn, phương trưởng lên thành hơn 40 con cháu, chắt, tứ đại đồng đường, ở chật chội trong ngôi nhà 24, Nguyễn Gia Thiều.
Bà Cụ bị dồn vào thế cùng, oan ức, cay đắng khôn cùng, đã thông minh nghĩ ra diệu kế, ôm giấy tờ chứng nhận điền thổ từ thời xưa để có chứng cứ pháp lý, cho con trai cõng cụ đột nhập vào biệt thự vốn là nhà mình vào ban đêm sau khi thuyết phục anh bộ đội gác cổng, rồi trưng lên trước nhà từ trên gác xuống tấm lụa mang dòng chữ « Cám ơn chính quyền đã cho gia đình Trịnh Văn Bô chúng tôi trở về ngôi nhà cũ ». Cụ còn cho con cháu mang theo can nhựa chứa đầy xăng, để đề phòng bị họ ngăn chặn gây sự thì quyết sống mái liều thân, khi Cụ vừa làm lễ thượng thọ 90 tuổi. Một con người hiền hậu lại kiên cường.
Cụ Bô đã chỉ đạo cuộc đột nhập thật kỹ lưỡng, dự kiến đủ mọi mặt, thời điểm, cách đột nhập không ồn ào, vào ban đêm, có thuyết phục vận động chú bộ đội canh gác, có giấy tờ gốc hợp pháp, nhũn nhặn cám ơn chính quyền, lại có tính đến trường hợp bị họ gây chuyện to, cụ thật là nhà mưu lược tài ba.
Chúng tôi mừng cho Cụ đã an bình trở về nhà mình sống ấm cúng cùng con, cháu, chắt, để rồi Cụ yên lòng sống thêm hơn một chục tuổi nữa.
Nhưng với chính quyền trung ương và thủ đô, họ vẫn một mực cho hành động của Cụ là phạm pháp với cái lý sự cùn là ngôi nhà đã thuộc Nhà nước trưng thu của tư sản qua cải tạo. Cho nên trước khi mất, Cụ vẫn còn ấm ức không yên tâm vì chính quyền Thủ đô một mực không cấp « sổ đỏ » cho Cụ.
Sau khi Cụ mất, câu chuyện ly kỳ trên đây bị phơi bày ra ánh sáng công luận, thành chuyện bàn tán hàng ngày trên báo chí, ở các phòng họp, phòng trà thủ đô và cả nước. Thế là các ông lãnh đạo đảng, Nhà nước phải thanh minh vì bị chạm nọc, bị chỉ trích phê phán nặng, nhất là các ông đại tướng của Bộ Quốc Phòng, kể cả 2 đại tướng Lê Đức Anh và Trần Văn Trà, nguyên chủ tịch nước và nguyên bộ trưởng Bộ Quốc Phòng.
Thế là họ vội vàng nhún nhường. Ông bí thư thanh ủy Hà Nội Hoàng Trung Hải vội tuyên bố sẽ sớm cấp « sổ đỏ » hợp lệ cho gia đình Cụ Bô. Chính quyền quyết định sẽ làm « tang lễ cao cấp » cho Cụ Bô, và Cụ sẽ được an táng trong Nghĩa Trang Nhà nước Mai Dịch. Rồi một phố cổ Hà Nội sẽ được đặt tên Trịnh Văn Bô.
Thế nhưng câu chuyện chưa kết thúc. Theo tôi được biết, con cháu Cụ Trịnh Văn Bô cho biết gia đình đã họp, và phần lớn con cháu muốn thể theo ý muốn của cụ Trịnh Văn Bô/Hoàng Thị Minh Hồ, gia đình sẽ tự đảm nhận việc đưa Cụ về mai táng ở quê nhà, thuộc huyện Thanh Oai, quận Hà Đông.
Tôi đã phỏng đoán trước chuyện này. Bà chị Hoàng Thị Minh Hồ rất nhân ái và ngay thật, sòng phẳng. Yêu ai thì nói là yêu, ghét ai nói thẳng là ghét, không bao giờ tự dối mình. Bà không giữ lòng thù oán ai. Nhưng bà đã có lần tâm sự với tôi là bà không ngờ ông Hồ Chí Minh lại tệ, u minh đến vậy. Bà phàn nàn là khi ông Vũ Đình Huỳnh từng sống làm việc sát với ông Hồ, theo ông Hồ sang Pháp khi bị oan ức tù đầy, bà và bà Tề vợ ông Huỳnh đến gặp ông Hồ yêu cầu cứu nguy, ông Hồ chỉ nghe thoáng qua rồi bỏ mặc.
Tệ hơn là trường hợp bà Trịnh Thị Thục, vợ ông Bùi Xuân Học, Chủ nhiệm tờ Hà Thành Ngọ báo, Tuần báo Loa, Việt Báo... từ thời thập kỷ 1930. Bà Thục là chị cả của hai ông Trịnh Văn Bính và Trịnh Văn Bô. Hai bà Trịnh Văn Bính và Trịnh Văn Bô là con cụ Hoàng Đạo Phương, có bà chị cả là bà Hoàng Thị Hiến lấy ông Đặng Văn Hướng, đồng thời là thân mẫu của ông Đặng Văn Việt, “con hùm xám đường số 4”. Cụ Đặng Văn Hướng vốn là Tham tri bộ Tư pháp thời vua Bảo Đại về hưu, hồi 1946 được ông Hồ mời ra làm Bộ Trưởng Không Bộ để vận động các nhân sỹ. Đến năm 1956 cụ Đặng Văn Hướng bị dân xã Nho Lâm mang ra đấu tố kiểu tra tấn trong Cải cách ruộng đất, cụ bà Trịnh Thị Thục đau lòng cắn lưỡi tự sát. Ông Hồ biết chuyện do ông Đặng Văn Việt báo tin khẩn cấp, nhưng ông vẫn làm thinh.
Hiện nay ông tổng bí thư vẫn kêu gọi toàn đảng toàn dân noi gương đạo đức ông Hồ Chí Minh, có ông Hoàng Chí Bảo hàng năm rao giảng om sòm về đạo đức « Bác Hồ », lại lập nên Viện Đạo đức, thì thật là chuyện mỉa mai!
Bà chị Minh Hồ có lần nói với tôi trong quan hệ xã hội, buôn bán bà chỉ thân với ai ngay thật, lương thiện, không trí trá lừa dối, không khinh người nghèo.
Tôi rất hiểu tâm tư tình cảm trong sáng tự tin, lại tự cường tự lập, không khinh ghét thù oán ai - kể cả những kẻ ăn cháo đá bát, vô ân bạc nghĩa với gia đình bà - nhưng cũng không muốn hạ mình hàm ơn, quỵ lụy ai, luôn sống ngẩng cao đầu trước cường quyền phi pháp, nhất là khi bà chứng kiến rất rõ sự phất lên tội ác của vô số tỷ phú đỏ, tham nhũng vô độ của các quan chức cộng sản hiện nay, còn giàu gấp nhiều lần tài sản do kinh doanh của gia đình bà thời xưa.
Thái độ của bà Chị và phần lớn các con cháu từ chối nghĩa trang Mai Dịch mà bao nhiêu quan chức ước mong, muốn an táng bà ở quê nhà là một quyết định sáng suốt chân thật, gắn bó với quê hương, không cần hình thức phô trương hào nhoáng. Một bài học của một nhân cách, một doanh nhân yêu nước tột đỉnh, nhân ái tận cùng, luôn tự trọng, nhắn gửi toàn xã hội một bài học sống động về đạo lý làm Người, làm con người chân chính, cho mọi người, nhất là cho các nhà tư sản / cộng sản mới, những tỷ phú đỏ tội phạm thời Hồ Chí Minh lúc rã đám cuối mùa.

Các đặc khu kinh tế ở Việt Nam: Người dân mong đợi hay không?

Hòa Ái, RFA 2017-11-22  
Một góc Đảo Phú Quốc, Kiên Giang. Hình chụp tháng 6/2017.
 Một góc Đảo Phú Quốc, Kiên Giang. Hình chụp tháng 6/2017.  Citizen’s photo.
Quốc Hội Việt Nam vào trung tuần tháng 11 thảo luận về Dự án Luật Đơn vị hành chính-kinh tế đặc biệt, hay còn gọi là “đặc khu kinh tế”, với ý kiến của nhiều Đại Biểu là cần thiết phải ban hành.
Đài RFA ghi nhận qua thông tin vừa nêu, dư luận trong nước đặt câu hỏi liệu rằng các đặc khu kinh tế tại Việt Nam được hình thành và hoạt động có hiệu quả khi cơ chế vận hành theo luật định mới?

Nhiều ưu đãi và thuận lợi

Tại phiên họp lần thứ 14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, diễn ra hồi trung tuần tháng 9, Bộ trưởng Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Chí Dũng cho rằng Dự án Luật Đơn vị hành chính-kinh tế đặc biệt có nhiều ưu đãi và thuận lợi hơn so với các đặc khu kinh tế và khu kinh tế tự do ở các nước trong khu vực Đông Nam Á và các quốc gia Châu Á, như Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc…
Bộ trưởng Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Chí Dũng nhấn mạnh một trong những yếu tố trọng tâm giúp cho các đặc khu kinh tế của Việt Nam có thể thành công, là nhờ vào môi trường đầu tư kinh doanh và chính sách ưu đãi cạnh tranh quốc tế cùng với vị trí chiến lược.
Tuy nhiên, đa số Đại biểu Quốc hội trong buổi thảo luận, vào chiều ngày 10 tháng 11 vừa qua, tại tổ về Dự án Luật Đơn vị hành chính-kinh tế đặc biệt mặc dù đồng ý có nhiều điểm tiến bộ, cần thiết ban hành nhưng không nên thu hút đầu tư bằng mọi giá vì các đặc khu đều ở những vị trí chiến lược của Việt Nam.
Về tổ chức chính quyền của đặc khu kinh tế, các Đại biểu Quốc hội đề nghị nên mở rộng quyền hạn của Đặc khu trưởng để tạo ra cơ chế thông thoáng; đồng thời phải xây dựng một tổ chức kiểm soát quyền lực hiệu quả để tránh lạm quyền.
Xã hội đóng khép dưới chế độ Chủ nghĩa Xã hội Cộng sản mà bây giờ mở ra hội nhập, thì tư duy của lãnh đạo muốn thật sự là một chế độ mở hay chế độ vừa đóng vừa mở?
-Ông Bùi Kiến Thành
Tờ trình Dự án Luật Đơn vị hành chính-kinh tế đặc biệt được thảo luận lần này đối với 3 đặc khu, bao gồm Vân Đồn-Quảng Ninh, Bắc Vân Phong-Khánh Hòa và Phú Quốc-Kiên Giang.
Đài RFA ghi nhận một số chuyên gia trong nước lên tiếng rằng với chủ trương và nỗ lực của Chính phủ Hà Nội tạo điều kiện thuận lợi và ưu đãi nhiều hơn tại các đặc khu kinh tế ở Việt Nam, thông qua đơn giản hóa thủ tục hành chính, chế độ ưu đãi thuế phí…có thể sẽ thu hút được đầu tư nước ngoài. Đáp câu hỏi của chúng tôi liệu những đặc khu kinh tế sẽ là môi trường đầu tư tốt khi Dự án Luật Đơn vị hành chính-kinh tế đặc khu được thông qua và ban hành, Chuyên gia Kinh tế Bùi Kiến Thành khẳng định Việt Nam vẫn còn gặp trở ngại trong lãnh vực thu hút đầu tư nước ngoài. Ông Bùi Kiến Thành nói:
“Việt Nam còn phải học hỏi rất nhiều. Lúc nào Việt Nam cũng sợ cái này, sợ cái kia…Xã hội đóng khép dưới chế độ Chủ nghĩa Xã hội Cộng sản mà bây giờ mở ra hội nhập, thì tư duy của lãnh đạo muốn thật sự là một chế độ mở hay chế độ vừa đóng vừa mở? Mình thì không mở ra, mà thế giới thì người ta mở; vì vậy người ta đến làm ăn với mình nhưng lo sợ bị nhốt trong lồng nên người ta không đến.”

Bao giờ thành hình và hoạt động?

Trong số các doanh nghiệp trong nước mà Đài RFA tiếp xúc, thì hầu hết đều cho rằng họ rất quan tâm đến các đặc khu kinh tế. Nhiều doanh nhân cho biết họ muốn có thêm thông tin về 3 đặc khu kinh tế mới: Vân Đồn, Bắc Vân Phong và Phú Quốc để tìm kiếm cơ hội đầu tư và kinh doanh. Trong khi đó, không ít doanh nghiệp tại Sài Gòn tỏ ra không mấy phấn khởi do nguyên nhân đề án thành lập đặc khu kinh tế của thành phố Hồ Chí Minh trong những năm qua, đối với họ dường như chỉ là trên giấy tờ cùng các lời tuyên bố hoa mỹ của giới lãnh đạo. Nữ giám đốc của một công ty tư nhân chia sẻ với RFA:
“Xét về mặt ưu điểm thì hầu như ai cũng thấy được đặc khu kinh tế hỗ trợ cho các doanh nghiệp chung trong cộng đồng đó cùng phát triển và đẩy mạnh cộng đồng đó lên. Tức là, xét về mặt lý thuyết, các doanh nghiệp vẫn mong đợi có các đặc khu kinh tế để khoanh vùng và hoạt động hiệu quả hơn. Nhưng việc phổ biến và công tác tuyên truyền về quy trình không đươc rõ và sát sao cho lắm nên các doanh nghiệp vẫn chưa thật sự quan tâm về vấn đề này và họ cứ nghĩ khi nào có thì làm. Vậy thôi.”
000_NV3WE
Thành phố Hồ Chí Minh. Ảnh chụp tháng 2/2017. AFP.
Đề án thành lập Khu kinh tế đặc biệt thành phố Hồ Chí Minh từng được đề xuất từ những năm cuối của thập niên 90, trong thế kỷ XX. Đến năm 2014, Thủ tướng Chính phủ lúc bấy giờ là ông Nguyễn Tấn Dũng phê duyệt cho Ủy ban Nhân dân thành phố Hồ Chí Minh thành lập Tổ công tác xây dựng Đề án Đặc khu kinh tế, với lộ trình qua 4 giai đoạn và thành phố Hồ Chí Minh khẳng định vị thế của đặc khu kinh tế vào mốc thời gian 2025-2035.
Ông Đinh La Thăng, khi còn giữ chức Bí thư thành ủy thành phố Hồ Chí Minh trong năm 2016, đã từng tuyên bố tại hội nghị lần thứ 4 Ban chấp hành Đảng bộ thành phố rằng “thành phố Hồ Chí Minh phải trở thành đặc khu kinh tế như Thượng Hải”.
Thật sự, mọi người đều có cảm giác rằng tất cả những việc họ làm là trong nhiệm kỳ của họ thì họ cố gắng làm để vơ vét cho xong, rồi hết nhiệm kỳ thì họ bỏ chạy.
-Người dân
Hồi hạ tuần tháng 6 năm 2016, trong buổi làm việc với lãnh đạo của thành phố Hồ Chí Minh, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc cũng nhấn mạnh thành phố Hồ Chí Minh luôn là đầu tàu phát triển kinh tế của cả nước sau ngày 30/04/1975 nên “thành phố Hồ Chí Minh phải là hòn ngọc chiếu sáng Viễn Đông”.
Trước những lời tuyên bố khẳng khái như vừa nêu, không ít người dân Sài Gòn bày tỏ với Đài Á Châu Tự Do rằng họ mong muốn thành phố nơi họ gắn bó hàng thập niên qua sẽ mau chóng “thay da đổi thịt” về đúng vị trí “Hòn ngọc Viễn Đông” như trước năm 1975. Mặc dù hy vọng như thế, nhưng không phải ai cũng có niềm tin là thành phố trở thành đặc khu kinh tế thì người dân sẽ có cuộc sống tốt hơn. Một kiến trúc sư, thế hệ 8X, yêu cầu không không nêu tên, chia sẻ suy nghĩ của anh:
“Tại vì bộ máy vận hành đất nước hiện tại thì không ai tin chính sách sẽ thành công. Thật sự, mọi người đều có cảm giác rằng tất cả những việc họ làm là trong nhiệm kỳ của họ thì họ cố gắng làm để vơ vét cho xong, rồi hết nhiệm kỳ thì họ bỏ chạy. Tất cả hậu quả sau cùng là người dân lãnh đủ hết. Tôi nghĩ rằng họ vẫn cứ làm, nhưng con đường họ đi thì không ai tin là họ sẽ đi đến cùng và người dân sẽ được hưởng lợi từ những thành quả đó.”
Qua các cuộc trao đổi của RFA cùng người dân trong nước, họ cho biết luôn trông đợi viễn ảnh quốc gia với các đặc khu kinh tế sầm uất và phồn thịnh. Tuy nhiên, những đặc khu kinh tế tại Việt Nam giống như Thẩm Quyến hay Thượng Hải của Trung Quốc, thì theo họ có lẽ còn lâu lắm.

Luật Phá sản ngân hàng yếu kém: Rút tiền kịp thời sẽ được đảm bảo quyền lợi

 Cát Linh, RFA 2017-11-22 
Ngân hàng VPBank, Việt Nam.
Ngân hàng VPBank, Việt Nam.  Courtesy www.vpbank.com.vn
Chiều 20 tháng 11 vừa qua, Quốc hội đã chính thức thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật các tổ chức tín dụng sửa đổi. Theo đó, các ngân hàng yếu kém sẽ được quyền phá sản. Luật có hiệu lực từ ngày 15 tháng 1 năm 2018.
Từ Sài Gòn, ông Nguyễn Nhật Huy, Giám đốc chi nhánh ngân hàng VPBank cho đài RFA biết một số chi tiết liên quan quyền lợi của người gửi tiền.
RFA: Luật phá sản các ngân hàng yếu kém được Quốc hội thông qua hôm 20 tháng 11 trong bối cảnh được hiểu cụ thể như thế nào thưa anh? Và lợi ích lớn nhất của Luật Phá sản Ngân hàng này là gì?
Ông Nguyễn Nhật Huy: Luật phá sản ngân hàng do quốc hội thông qua là những ngân hàng yếu kém hoặc trong tình trạng kiểm soát đặc biệt, nếu như không cơ cấu lại được thì bắt buộc phải cho phá sản. Nhưng những quyền lợi của người gửi tiền và những tài sản mà họ thế chấp thì vẫn phải đảm bảo cho người ta.
Lợi ích lớn nhất là bây giờ những ngân hàng này yếu kém mà không vực dậy được, không làm gì được hết thì bắt buộc phải cho phá sản và nó sẽ có ích cho ngân hàng nhà nước vì ngân hàng nhà nước sẽ không nhảy vô can thiệp, không tốn nhân lực, không tốn tiền để cơ cấu lại nuôi bộ máy đó nữa.
RFA: Quyền lợi đó được đảm bảo như thế nào thưa ông? Luật này được thông qua trong lúc dư luận đang có tranh cãi về quy định hiện hành chỉ trả cho người gửi tiết kiệm 75 triệu đồng nếu một ngân hàng phá sản. Điều này được hiểu như thế nào cho đúng trong Luật phá sản ngân hàng?
Ông Nguyễn Nhật Huy: Bồi thường 75 triệu là khi nào gọi là mất đi hết, nhà nước này thay đổi chế độ thì lúc đó mới đền bù. Chứ khi ngân hàng tái cơ cấu thì trong quá trình đó, khách hàng được quyền đến rút số tiền của mình, thì Ngân hàng nhà nước hoặc những bộ phận tái cơ cấu thì vẫn đảm bảo quyền lợi. Khi ngân hàng tái cơ cấu lại thì có thông báo hết thì quyền lợi của người gửi vẫn được rút hết.
Khi ngân hàng phá sản thì sẽ có công văn, rồi ra toà. Toà sẽ coi người nào gửi tiền, người nào đi vay, người gửi bao nhiêu, ngân hàng phải chi bao nhiêu…Sau khi toà, chính phủ đồng ý cho phá sản mà mình chưa rút, thì lúc đó mới đền bù 75 triệu.
Nếu người Việt ở nước ngoài gửi tiền ở ngân hàng bị phá sản ở Việt Nam mà không về rút kịp, đến 1, 2 năm sau, ngân hàng đó phá sản rồi, cầm thẻ tiết kiệm đó đi rút thì chỉ rút được 75 triệu thôi.
RFA: Sự khác biệt giữa ngân hàng yếu kém và ngân hàng kiểm soát đặc biệt là thế nào?
Ông Nguyễn Nhật Huy: Ngân hàng yếu kém là họ vẫn đang hoạt động được. Còn ngân hàng kiểm soát đặc biệt là ví dụ như vốn chủ sở hữu có 10 tỷ thôi, mà ngân hàng bị âm vốn chủ sở hữu luôn, cho vay mà quá hạn rồi không chi trả, ngân hàng lấy vốn chủ sở hữu để trả nợ hết cho người gửi, không có tiền để trả lương, không có tiền hoạt động.
RFA: Người dân trong nước, đặc biệt là những người gửi tín dụng, đón nhận thông tin này như thế nào thưa ông?
Ông Nguyễn Nhật Huy: Họ vẫn bình thường, không hoang mang. Người Việt Nam trong nước bây giờ hiểu nhiều. Vả lại các tổ chức tín dụng, bên Ngân hàng Nhà nước, chính phủ cam kết là vẫn để cho hoạt động của ngân hàng vẫn tốt. Ngân hàng nào yếu kém thì sẽ tái cơ cấu bằng các đề án do ngân hàng tự đưa ra. Tái cơ cấu thì làm trong mấy năm. Nếu không làm được thì lúc đó ngân hàng nước ngoài nhảy vô mua. Rồi mấy năm mà vẫn không được thì lúc đó mới tính đến câu chuyện cho phá sản.
RFA: Có nghĩa rằng để đi đến quyết định cho phá sản 1 ngân hàng thì cần phải có thời gian thử thách?
Ông Nguyễn Nhật Huy: Hiện tại để đi đến phá sản thì hơi khó vì nó ảnh hưởng đến hệ thống của ngân hàng và những người gửi tiền sẽ không gửi ở những ngân hàng yếu kém hoặc những ngân hàng không có thương hiệu mạnh. Họ sẽ lo gửi ở nước ngoài hoặc những ngân hàng mạnh. Khi đó những ngân hàng kia sẽ nguy hiểm.
RFA: Cơ quan nào có thẩm quyền đưa ra quyết định cho phá sản 1 ngân hàng yếu kém và thời gian cần bao lâu?
Ông Nguyễn Nhật Huy: Thủ tục rất là nhiêu khê và thời gian ít nhất là kéo dài 3 đến 4 năm. Chỉ có chính phủ và Toà án Tối cao mới quyết định được.
RFA: Nguy cơ phá sản của các ngân hàng Việt Nam hiện nay như thế nào?
Ông Nguyễn Nhật Huy: Hiện nay chỉ có những ngân hàng kiểm soát đặc biệt là Ngân hàng Đông Á. Sắp tới là Eximbank, nhưng Eximbank đã có 1 đề án tái cơ cấu lại rồi, đó là Nhật Bản bỏ tiền ra để tái cơ cấu. Nghĩa là nó vẫn hoạt động bình thường. Trong trường hợp hoạt động không tốt nữa, Nhật cũng bỏ luôn thì lúc đó lại tái cơ cấu tiếp. Nếu không thì câu chuyện phá sản mới được tính đến.
RFA: Xin cảm ơn ông Nguyễn Nhật Huy.

Thêm 9000 tiến sĩ: “Một dự án sớm thất bại!”

RFA 2017-11-20  
Bằng Tiến sĩ của Việt Nam.
 Bằng Tiến sĩ của Việt Nam.  Courtesy of Tiin.vv
Bộ Giáo dục Đào tạo Việt Nam vừa đưa ra dự thảo chi 12.000 tỷ đồng để đào tạo thêm 9.000 tiến sĩ từ năm 2018 đến năm 2025.

Công suất “lò ấp”

Theo nội dung của dự thảo này, số lượng 9000 tiến sĩ sẽ chủ yếu phục vụ việc giảng dạy tại các trường đại học. Số tiền 12.000 tỷ đồng để chi cho dự án phần lớn được lấy từ Ngân sách Nhà nước (94%), từ các dự án nước ngoài và nguồn xã hội hóa là 5% và 1% từ các nguồn kinh phí khác như học phí hay đóng góp của các cơ sở giáo dục đại học.
Dự thảo này gây ra rất nhiều phản ứng trái chiều từ dư luận, trong đó phần đông đều phản đối dự án này vì họ cho rằng hiện nay số lượng tiến sĩ ở Việt Nam quá nhiều mà chất lượng thì “chẳng ra sao”.
RFA trao đổi với chuyên gia Giáo dục, Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Đăng Hưng về dự thảo này. Giáo sư Hưng cho rằng đây chỉ là dự án chữa cháy cho dự án 911 mà dưới thời Bộ trưởng Phạm Vũ Luận đã đề ra là phải đào tạo 23.000 tiến sĩ mới đến năm 2020:
Dự án này mới đây Bộ Giáo dục Đào tạo đã thú nhận là từ năm 2012 cho đến năm 2016, đề án này chỉ đem lại được 800 nghiên cứu sinh về nước công tác. Nghĩa là chỉ tiêu đạt được chỉ có 4%. Cho nên đây là một dự án bị phá sản.
Mặc dù thất bại nhưng họ không tìm cách cải tiến mà lại đòi hỏi tiền, một phần là tiền còn lại của dự án 911 để đào tạo 9000 tiến sĩ thì chuyện này hoàn toàn vô vọng.Trừ trường hợp các ông ấy đào tạo tiến sĩ y như cái lò ấp tiến sĩ ở Viện Xã hội học ở Hà Nội. Họ cho ấp mỗi năm ra nhiều tiến sĩ nhưng toàn tiến sĩ với các đề tài vớ vấn.
Họ đòi số tiền đó trong điều kiện ngân sách quốc gia đang cạn kiệt là một điều rất đáng phàn nàn, mà không mang lại kết quả được đâu.
- Gs. Nguyễn Đăng Hưng
Giáo sư Nguyễn Đăng Hưng chỉ ra 2 khó khăn lớn nhất khiến dự án này có nhiều nguy cơ thất bại, đó là để có được 9000 tiến sĩ chất lượng thì Việt Nam phải cần 9000 thạc sĩ có năng lực, có đam mê nghiên cứu và có khả năng ngoại ngữ tốt. Ngoài ra, Việt Nam cần tìm được 9000 giáo sư từ các nền giáo dục phát triển để hướng dẫn những thạc sĩ này nghiên cứu.
Trước những khó khăn này, giáo sư Hưng cho rằng đây rốt cuộc chỉ là một dự án tiêu tốn tiền bạc của người dân:
Tôi đánh giá họ chỉ có nhu cầu muốn sử dụng 12.000 tỷ tiền thuế của dân. Mà đòi số tiền đó trong điều kiện ngân sách quốc gia đang cạn kiệt là một điều rất đáng phàn nàn, mà không mang lại kết quả được đâu. Một điều làm tôi rất ngán ngẩm đó là họ thất bại một cách thê thảm nhưng không tự phê bình và rút kinh nghiệm như họ thường nói.
Việt Nam hiện có trên 24.300 tiến sĩ tuy nhiên chất lượng của những tiến sĩ này còn gây nhiều tranh cãi. Chính Bộ Giáo dục Đào tạo cũng thừa nhận là mặc dù tiến sĩ đông nhưng kết quả nghiên cứu khoa học của Việt Nam tụt xa so với các nước trong khu vực ASEAN. Cụ thể, số công trình nghiên cứu được Việt Nam công bố chỉ bằng 1/5 so với Thái Lan, 1/3 so với Malaysia và 1/14 so với Singapore.
Trả lời báo chí trong nước, PGS.TS Trần Xuân Nhĩ, nguyên Thứ trưởng Bộ Giáo dục Đào tạo nói rằng Việt Nam nên dành số tiền đó để nâng cao đời sống giáo viên và chất lượng giảng dạy bởi vì hiện nay lương giáo viên còn thấp mà cơ sở vật chất nhiều trường học còn khó khăn.
Đại biểu Quốc hội Dương Trung Quốc cũng tỏ ra lo ngại về dự án này. Ông cho rằng nhiều tiến sĩ không đóng góp được bao nhiêu cho sự phát triển của xã hội:
Trong xã hội theo tôi có nhiều người có vị trí rất quan trọng nhưng không cần đến bằng cấp mà cần đến năng lực và kỹ năng khác. Trước đây chúng ta đã đào tạo hàng vạn tiến sĩ nhưng dư luận vẫn rất băn khoăn về vấn đề đó. Và rất nhiều người được đào tạo đó trở nên lãng phí khi mà những tri thức đó không ứng dụng vào đời sống được bao nhiêu.
Cá nhân tôi nghĩ rằng đối với các thầy cô ở bậc cao học thì việc phải có bằng cấp là cần thiết, cũng là theo quy chuẩn chung có nhiều nền giáo dục. Nhưng nếu các quan chức ông nào cũng thêm chữ Tiến sĩ hay Giáo sư thì tôi cho rằng đó là điều lãng phí lớn.
Tôi nghĩ nên xem xét lại chuyện này. Với giáo dục thì rất cần đầu tư, nhưng đầu tư cho chính đáng, đừng để cái danh nó át đi cái thực.

Giảng viên có nhất thiết phải là tiến sĩ?

Hôm vừa rồi Bộ trưởng Giáo dục ông Phùng Xuân Nhạ đã lên tiếng giải thích về dự án này, nói rằng do Việt Nam hiện nay còn thiếu tiến sĩ giảng dạy nên cần phải bổ sung. Ông Nhạ cho biết hiện nay Việt Nam  chỉ có 21% giảng viên đạt trình độ tiến sĩ nên cần nâng tỷ lệ này lên 35%. Ông nói thêm với đại ý là Bộ Giáo dục đã ban hành quy chế đào tạo tiến sĩ với yêu cầu cao hơn nên những tiến sĩ này sẽ có chất lượng tốt hơn.
Cần khắc phục tình trạng nhiều người có nhiều danh vị nhưng hầu như không phát huy được điều đó và cuối cùng trở thành một lãng phí xã hội khá lớn.
- Đại biểu Quốc hội Dương Trung Quốc
Đại biểu Dương Trung Quốc nhận xét về việc Việt Nam thiếu giảng viên học vị tiến sĩ:
Điều này tôi nghĩ nên có kiểm tra thật kỹ. Bởi vì đúng là trong hệ thống giảng dạy cần có thẩm hàm và tôi ủng hộ điều đó. Nhưng phải xem có thực là như vậy không. Đồng thời cũng cần khắc phục tình trạng nhiều người có nhiều danh vị nhưng hầu như không phát huy được điều đó và cuối cùng trở thành một lãng phí xã hội khá lớn.
Còn Giáo sư Nguyễn Đăng Hưng lại phản đối lý do Bộ Giáo dục đưa ra rằng Việt Nam cần thêm giảng viên tiến sĩ. Bởi vì ông cho rằng chất lượng giáo dục không nằm ở việc giảng viên có phải là tiến sĩ hay không, mà thay vào đó cả sinh viên và giảng viên cần có được sự tự do trong học tập và giảng dạy để phát triển trí tuệ:
Đâu có phải bây giờ tăng số lượng tiến sĩ thì chất lượng đại học sẽ cao lên. Chất lượng đại học của Việt Nam tụt hậu là do Việt Nam đi lạc đường. Người ta không đào tạo con em người Việt theo hướng tự do, đa chiều để họ có thể có đầu óc phản biện và có được tinh thần độc lập. Phải như vậy họ mới có thể sáng tạo và phát minh.
Cho nên phải cải tiến môi trường và tư duy giáo dục của nhà chức trách Việt Nam và ban Tuyên giáo Việt Nam. Anh phải làm thế nào để bỏ đi việc dùng trường học làm cơ sở để tuyên truyền chính trị.
Cả hai nhân vật RFA có dịp được trò chuyện đều nói rằng hiện nay Việt Nam có quá nhiều tiến sĩ mà trong đó chỉ số ít là thật sự có chất lượng xứng với danh hiệu của họ. Còn lại số đông là những “tiến sĩ giấy” hữu danh vô thực. Vì vậy họ mong muốn đề án này cần được xem xét một cách kỹ lưỡng để Việt Nam có được đội ngũ giảng viên có cả học vị và trí tuệ cao trong tương lai.

VN cần tịch thu tài sản không rõ nguồn gốc

 RFA 2017-11-21  
Đại biểu Nguyễn Thị Thủy, Ủy viên thường trực Ủy ban Tư pháp của Quốc hội.
 Đại biểu Nguyễn Thị Thủy, Ủy viên thường trực Ủy ban Tư pháp của Quốc hội.  Courtesy of news.zing.vn
Việt Nam cần tiến hành tịch thu tài sản không giải trình được nguồn gốc.
Đây là ý kiến của bà Nguyễn Thị Thủy, Thường trực Ủy ban Tư pháp tại phiên họp Quốc hội sáng ngày 21/11 về nội dung dự án Luật phòng, chống tham nhũng.
Bà Thủy dẫn số liệu cho thấy trong 10 năm qua thiệt hại do tham nhũng gây ra cho Việt Nam là trên 59.700 tỷ đồng và 400 ha đất nhưng chỉ thu hồi được khoảng 10% số này, tức là khoảng trên 4.600 tỷ đồng và 219 ha đất.
Nguyên nhân được bà Thủy đưa ra là do pháp luật Việt Nam chưa có cơ sở xử lý sớm với tài sản tham nhũng. Thậm chí nhiều người kê khai tài sản không đúng nhưng chỉ bị phạt dưới hình thức cảnh cáo hay cách chức.
Trong khi đó, theo bà, hơn 40 quốc gia trên thế giới đã đưa ra quy định về xử lý tài sản không giải trình được nguồn gốc. Một trong những nước được bà Thủy khen ngợi là Trung Quốc vì theo bà tại quốc gia này nếu tài sản không giải trình nguồn gốc được sẽ bị tịch thu và bị tù đến 5 năm.
Cũng tại phiên họp Quốc hội sáng 21/11, đại biểu Dương Trung Quốc cho rằng tham nhũng ở Việt Nam là một căn bệnh cần thuốc đặc hiệu nhưng các biện pháp giải quyết tràn lan, không trọng tâm giống như thuốc bị pha loãng không trị được bệnh.
Vì vậy, vị đại biểu này nói rằng Việt Nam cần thay đổi cơ chế chống tham nhũng để tránh sự tràn lan này.
Theo ông Quốc, để làm được điều này cần phải huy động toàn bộ hệ thống pháp luật chứ không riêng gì luật phòng chống tham nhũng.
Cũng liên quan đến tham nhũng, 4 lĩnh vực được xác định xảy ra tham nhũng nhiều nhất ở Việt Nam là cảnh sát giao thông, quản lý đất đai, hải quan và ngành xây dựng.
Thông tin trên dược Thanh tra Chính phủ và Ngân hàng Thế giới công bố vào ngày 21/11 qua một cuộc khảo sát ý kiến người dân và doanh nghiệp về tình trạng tham nhũng ở Việt Nam. Cuộc khảo sát được tiến hành trên gần 5.500 người.
Kết quả cuộc khảo sát cho thấy tham nhũng là một trong 3 vấn đề được người dân quan tâm nhất, chỉ sau giá cả sinh hoạt và an toàn thực phẩm. 82% số người được hỏi cho rằng tham nhũng rất phổ biến ở Việt Nam. 45% cho biết họ từng chứng kiến tham nhũng và 44% doanh nghiệp cùng 28% người dân phải trả chi phí không chính thức.
Nhiều doanh nghiệp cho biết họ bị vòi vĩnh tiền và quà tặng để công việc được suôn sẻ. Các ngành thường xuyên đòi phí ngoài quy định nhất là cảnh sát giao thông, công an kinh tế, quản lý tài nguyên, và xây dựng.
Hầu hết những người được hỏi đều cho rằng đối tượng tham nhũng ở Việt Nam chưa phải chịu hình phạt thích đáng và các biện pháp chống tham nhũng cũng chưa được hiệu quả. Ngoài ra người dân còn lên án sự tiếp tay và bao che giữa công chức và đối tượng tham nhũng.