Friday, October 6, 2017

Lần đầu đến Sài Gòn

Phan Thành Khương
Theo VOA-05/10/2017

Sài Gòn, nhìn từ trên cao.

(Hôm 24-5-2016, Tổng thống Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ (United States of America), Barack Obama, đến Sài Gòn lần đầu tiên. 43 năm trước, hè năm 1973, tôi cũng đã lần đầu tiên đến Sài Gòn. Tôi xin phép kể lại vắn tắt như dưới đây):

Hè 1973, sau khi kết thúc năm học thứ 3 ở ĐHSP Huế, tôi về Hòa Khánh (cách Đà Nẵng non 10 KM) để nghỉ hè. Gia đình tôi tản cư đến ở đấy. Nhưng chưa nghỉ được ngày nào thì có người rủ đi làm thợ nề trên đèo Hải Vân. Tôi đi làm ngay vì muốn có ít tiền để vào Sài Gòn cho biết “Hòn Ngọc Viễn Đông” nó như thế nào!

“Nắng Sài Gòn anh đi mà chợt mát,

Bởi vì em mặc áo lụa Hà Đông”

(“Áo lụa Hà Đông” - Nguyên Sa – Trần Bích Lan)

“Con đường Duy Tân cây dài bóng mát

Buổi chiều khuôn viên mây trời xanh ngát”

(“Trả lại em yêu” – Phạm Duy)


Và ca khúc “Ghé bến Sài Gòn” của Nhạc sĩ Văn Phụng cứ thôi thúc tôi!
Công việc thợ nề của tôi là xây các vách ở hai đầu các cống thoát nước. Vách có hình thang vuông: đáy 2 mét, đỉnh 0,2 mét. Cống có đường kính 2 mét, bằng thép. Và xây các đường dẫn nước phía vách núi để khi mưa lớn, nước chảy mạnh, không bị xói lở. Mỗi ngày được trả 250 đồng.

Tôi dự định sẽ bắt xe Phi Long hay Tiến Lực để đi Sài Gòn. Nhưng, làm được hơn một tháng, đã có hơn 10.000 đồng (1 xe máy Honda 50 cc nguyên thùng chỉ 29.000 đồng) thì ông anh họ nói sẽ gửi đi máy bay. Thích quá!

Đúng ngày giờ hẹn, tôi đến chỗ làm của ông anh họ (gần Bảo tàng điêu khắc Chăm Đà Nẵng). Chờ một lát thì có người đọc danh sách những người được bay chuyến sáng hôm ấy. Nghe tên mình, tôi lên xe.

Chiếc GMC chở gần 30 người, chạy ra phi trường Đà Nẵng. Xe đến gần một chiếc máy bay khổng lồ. Đó là chiếc máy bay Lockheed C-130 Hercules. Chúng tôi được hướng dẫn lên máy bay từ phía đuôi máy bay và được chia đều ngồi dọc hai bên. Mỗi ghế một người và phải buộc dây ngang bụng.

Tấm bục lớn ở đuôi máy bay được nâng lên, khép kín phía đuôi máy bay và chiếc Lockheed C-130 Hercules lăn bánh, cất cánh. Qua ô cửa nhỏ, tôi thấy bên dưới là núi rừng trùng điệp. Có lẽ “nó” đang bay trên Tây Nguyên.

Tôi đã bay trên một số loại máy bay trực thăng, C123, … nhưng phải công nhận anh C130 này rất êm, rất thoải mái.

Có người bảo: “Đến rồi! Sông Đồng Nai kia rồi!” Và máy bay hạ dần độ cao rồi đáp xuống phi trường Tân Sơn Nhất.

Tôi lên một chiếc Lambretta để ra cổng phi trường rồi đi xích lô về nhà bạn, người bạn cùng lớp thời trung học, đã vào Sài Gòn để học Đại học.

Ngày thứ nhất, bạn giao cho tôi một chiếc xe máy Suzuki. Tôi đi đổ xăng và mua một cái bản đồ Thủ đô Sài Gòn và bắt đầu khám phá “Hòn Ngọc Viễn Đông”.

Tôi đến đường Trương Minh Kí, ngắm Đại học Vạn Hạnh. Đi hết đường Trương Minh Giảng, rẽ trái, đến Ngã tư Bảy Hiền, ngắm Bệnh viện Vì Dân đồ sộ, vào Hương lộ 14 để thăm ông anh cô cậu. Khu Bảy Hiền có rất đông người Quảng Nam vào làm ăn sinh sống.

Ở chơi nhà ông anh cô cậu đến 14 giờ, tôi đến đường Trần Quốc Toản để thăm bà chị kết nghĩa. Năm 1964, Quảng Nam bị lụt lớn, thiệt hại khủng khiếp về người và tài sản. Trường Trung học Trưng Vương (Sài Gòn) của chị N. quyên tiền giúp học sinh miền Trung. Lớp 11A2 của chị N. đã gửi tiền giúp lớp tôi. Tôi và bạn tôi, mỗi người nhận được 200 đồng. Tôi viết thư cảm ơn lớp 11A2 của chị N. Từ đó, chị N. và tôi thường viết thư cho nhau. Chị N. học trên tôi hai lớp. Tôi cũng nhận được nhiều thư của các chị cùng lớp với chị N. nữa. Ba chị N. là một Bác sĩ và sau này chị N. cũng trở thành một Bác sĩ. 21 năm sau (1973-1994), trong dịp đi tăng cường cho Bệnh viện đa khoa tỉnh Ninh Thuận, chị N. có đến Khu tập thể trường THPT. DTNT. Ninh Thuận để thăm gia đình tôi.

Từ giã chị N. và gia đình, tôi đến chợ Bến Thành, đi qua nhà sách Khai Trí, vòng ra đường Bạch Đằng chiêm ngưỡng tượng đài Đại Vương Hưng Đạo – Trần Quốc Tuấn.

Sau đó, tôi đến dinh Độc Lập, ngắm công trình của Kiến trúc sư lừng danh Ngô Viết Thụ, đến chiêm ngưỡng Nhà thờ Đức Bà rồi đến Bảo tàng Lịch sử.

Tại Bảo tàng Lịch sử, nhìn những cây cọc Bạch Đằng, hình ảnh Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Ngô Quyền, Lý Thường Kiệt, Trần Quốc Tuấn, Lê Lợi, Quang Trung, … lòng tôi dào dạt cảm xúc tự hào, cảm phục cha ông mưu trí, anh hùng, kiên cường, bất khuất! Ngắm những phiên bản trống đồng Đông Sơn, thạp đồng Đào Thịnh, những mũi tên đồng, … tôi như thấy lại cả một quá khứ gian khổ, hào hùng và tài hoa của dân tộc!

Rời Bảo tàng Lịch sử, tôi vào Thảo Cầm Viên để xem voi, gấu, sư tử, … Con hổ trong Thảo Cầm Viên, lúc này, trông rất giống con hổ của Thế Lữ trong bài thơ nức tiếng “Nhớ rừng”. Nó khinh khỉnh, nghênh ngang, dữ dằn, hung tợn lắm! Chắc là được ăn uống đầy đủ nên rất sung sức, mạnh mẽ.

Gần 17 giờ, khát nước và mệt, tôi quay về nhà bạn. Gặp một chị bán trái cây, đang đẩy xe đi bên đường, tôi dừng lại, hỏi: “Bao nhiêu một chục cam vậy chị?”. Chị trả lời ngay: “Bốn đồng chú à!”. Tôi nói: “Chị bán cho em một chục!”. Chị nhặt cam, bỏ vào một bao giấy đã được dán sẵn. Tôi trả tiền cho chị.

Cầm bị cam, nghe nằng nặng, tôi mở xem. Thấy 13 trái cam, tôi nói với chị: “Dư 3 trái chị ơi!”. Chị bảo: “Không dư đâu! Một chục là 12 trái, tôi biếu chú 1 trái nữa là 13. Nghe tiếng chú, tôi biết chú ở ngoài Trung mới vào. Quảng Nam phải không? Ở đây, tôi tính chục 12, chứ chú xuống miền Tây, người ta tính cho chú chục 14, chục 16 nữa kìa.”. Tôi vô cùng ngạc nhiên: chục 12, chục 14, chục 16 và còn biếu 1 trái vì “tôi biết chú ở ngoài Trung mới vào”! Người Sài Gòn sống nghĩa tình quá! Tôi vô cùng cảm động trước tình cảm của chị bán trái cây, tôi nói: “Vậy, em cảm ơn chị! Chào chị nhé!”.

Ngày thứ hai, tôi đi lung tung: đến cầu Chữ Y, qua Khánh Hội, đến Đa Kao, Chợ Lớn, … Đi trên các con đường Tú Xương, Hồ Xuân Hương, Bà huyện Thanh Quan, … rợp bóng me, hoa và lá me rắc vàng trên đường. Đúng là những con đường dành cho các nhà thơ!

Đến chiều, tôi đến nhà sách Khai Trí, mua gần 20 quyển sách các loại: từ điển, thơ, tiểu thuyết, sách dịch, sau khi tính toán số tiền cần để ăn uống và đi xe.

Sáng hôm sau, tôi chia tay bạn và lên xe Phi Long để về lại Đà Nẵng.

Xe chạy tới Sa Huỳnh thì trời tối, những người anh em con Lạc cháu Hồng đang bắn giết nhau, xe không thể đi tiếp. Xe phải đưa hành khách xuống bờ biển để lên 2 chiếc thuyền. Thuyền chạy cách bờ vài cây số. Nhìn vào trong đất liền, thấy đạn bay đỏ trời, hỏa châu chiếu sáng, tiếng súng lớn nhỏ, lúc nhặt lúc thưa. Tôi không hiểu sao người Việt Nam mình lại thích bắn giết nhau dữ vậy!

Ra tới quãng thị xã Quảng Ngãi, thuyền mới cập bến, chúng tôi lên bờ và lên xe – một xe Phi Long khác – để đi tiếp ra Đà Nẵng.

Đấy, lần đầu đến Sài Gòn của tôi là như vậy. Còn rất nhiều tình tiết nhưng tôi xin thuật vắn tắt như thế vì sợ làm mất thì giờ của người đọc!

Sài Gòn thật tuyệt vời! Đúng là một Hòn Ngọc! Hòn Ngọc không chỉ là nhà cửa, lâu đài, cao ốc, đường sá, … mà quan trọng hơn (tôi nhấn mạnh), đó là Hòn Ngọc của Tình Người, của Nhân Cách, của Tâm Hồn người Sài Gòn!

Ninh Thuận, 24-5-2016

PHAN THÀNH KHƯƠNG

Những oan hồn của cuộc chiến

Bùi Tín
Theo VOA-05/10/2017
Lính Mỹ truy bắt Việt Cộng tại Đà Nẵng, tháng Tư 1965.

Lính Mỹ truy bắt Việt Cộng tại Đà Nẵng, tháng Tư 1965.

Bộ phim Chiến tranh Việt Nam của các đạo diễn Hoa Kỳ gây nên nhiều tranh luận, ý kiến khác nhau của người Việt trong và ngoài nước.

Đó là điều tất yếu vì cuộc chiến tranh kéo dài gần 30 năm, liên quan đến nhiều nước, với những động cơ khác nhau, không thể làm thỏa mãn mọi người.

Đây là một dịp bổ ích và lý thú để công luận có thể được dịp phát biểu thêm, soi tỏ thêm nhiều điều mới mẻ, những góc tối của cuộc chiến, từ đó có thể bổ xung cho nhau nhiều hiểu biết mới để soi tỏ thêm quá khứ, hiện tại và tương lai của các bên tham chiến trong mối quan hệ quốc tế phức tạp hiện nay.

Một số nhà báo, làm phim truyền hình người Việt, người Pháp, Hoa Kỳ, Đức… phỏng vấn tôi nhân dịp này. Tôi đã phát biểu ý kiến của mình.

Với tư cách là một nhân chứng sống, từng tham dự cuộc chiến từ ngày đầu đến ngày cuối, ở miền Bắc cũng như ở miền Nam, ở chiến trường Cam-bốt cũng như ở Lào, tôi có nhiều suy nghĩ, kỷ niệm về cuộc chiến tranh, nay có dịp để nói lên những điều quan trọng bị khỏa lấp mà bộ phim hoành tráng của các nhà làm phim Hoa Kỳ không đề cập đến.

Nhiều bạn hỏi tôi, nếu tôi tham gia một bộ phim khác về Chiến tranh Việt Nam, tôi sẽ nói lên những điều gì? Tôi có khá nhiều điều cần phát biểu về cuộc chiến, khi tưởng nhớ, ngẫm nghĩ lại về cuộc chiến. Qua bài báo này trước hết, tôi muốn nói đến những oan hồn của cuộc chiến.

Tôi có một số người thân, ông chú, các anh chị em họ Bùi vốn là đảng viên Quốc Dân Đảng và Đại Việt Quốc dân đảng đã bị Việt Minh chụp mũ cho là Việt gian, bị bắt giam sau Cách mạng tháng Tám. Tiêu biểu là ông Bùi Nhữ Uyên chú ruột tôi từng theo cụ Nguyễn Thượng Hiền, người cùng làng sang Nhật Bản vận động cho phong trào Đông Du và sau đó về Trung Quốc, tham gia Việt Nam Quang Phục hội của Cụ Phan Bội Châu. Chú tôi bị bắt năm 1946, bố tôi (Bùi Bằng Đoàn) lúc đó là trong Ban Thường trực Quốc hội can thiệp với ông Hồ chí Minh, ông Hồ lệnh cho chính quyền tỉnh Hà Đông thả ngay chú tôi, nhưng đúng vào đêm lệnh thả đến nhà giam ở Vân đình thì chú tôi mất vì «đau bụng» khẩn cấp. Bạn tù cùng giam cho rằng chú tôi bị trại giam đầu độc.

Những oan hồn tôi không thể quên. Việt Minh từ hồi đó coi tất cả các đảng yêu nước chống Pháp là Việt gian, như Quốc Dân đảng, Đại Việt, Việt Nam Quang Phục hội, Việt Nam Cách mạng đồng minh, đệ tứ (Trostkyt)… Họ phê phán rất mạnh cụ Phan Bội Châu và Phan Chu Trinh, coi là sai lầm thân Tàu, chuộng Pháp.

Tôi còn nhớ trước năm 1940 1941 số đảng viên Quốc dân đảng rất đông, vượt con số đảng viên đảng CS Đông dương ở các nhà giam, ở Côn Đảo. Rất nhiều giáo viên tiểu học các xã, huyện, trí thức nông thôn tham gia phong trào Quốc dân đảng của Nguyễn Thái Học. Rất nhiều trung nông, phú nông, cả địa chủ nhỏ có học tham gia đảng này, về sau bị Cải cách ruộng đất kiểu Mao vu cáo là địa chủ ác bá, là việt gian, bị sát hại gần hết, theo thống kê khi sửa sai con số oan hồn này lên đến hơn 15.000.

Ngoài số nói trên cần kể đến oan hồn của các nhà yêu nước Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm – lãnh đạo nhóm Troskyt, tướng Nguyễn Bình và nhà sử học Trần Huy Liệu - nguyên là đảng viên Quốc dân đảng, cụ Đặng Văn Hướng – nguyên Bộ trưởng không bộ do ông Hồ phong chức và cụ Nguyễn Khắc Niêm, thân sinh ông Nguyễn Khắc Viện, chủ tịch Hội Việt kiều yêu nước ở Pháp – 2 cụ đều bị tàn sát trong Cải cách ruộng đất.

Cũng cần ghi thêm trong danh sách các oan hồn những cán bộ cộng sản có ít nhiều thức tỉnh đã bị thải loại, ra rìa, như tướng Đặng Kim Giang, tướng Nguyễn Vịnh, các đại tá Đỗ Đức Kiên, Lê Trọng Nghĩa, Lê Minh Nghĩa, Hoàng Minh Chính… trong vụ án «xét lại», Trần Dần, Hoàng Cầm, Phùng Quán… trong vụ Nhân văn Giai phẩm, Trần Xuân Bách, Trần Độ, Nguyễn Hộ, Nguyễn Cơ Thạch, Võ Nguyên Giáp… từng có tư duy độc lập chống lại một số chủ trương chính sách của đảng.

Các đồng đội của tôi vào Nam chiến đấu theo lời nguyện «sinh Bắc tử Nam để giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc», chết vài chục vạn, hơn 300.000 tử sĩ hiện chưa tìm ra thi hài mộ chí, cũng là những oan hồn, nỗi đau lòng uất hận của hàng vài triệu bố mẹ, anh chị em ruột thịt. Đó là những oan hồn vì khi chiến đấu, tự nguyện hy sinh, các đồng đội của tôi đều mang theo hy vọng rồi gia đình mình, bố mẹ anh chị em mình, đồng bào mình sẽ được hưởng độc lập tự do, an bình, phồn vinh hạnh phúc. Những hy vọng thiêng liêng ấy đến nay vẫn còn xa vời. Ngược lại đất nước còn bị ách Bắc thuộc từ sau mật đàm Thành Đô năm 1990, tự do tư tưởng, ngôn luận còn bị cấm đoán, trừng phạt, an ninh của nhân dân, nông dân, trí thức, nhà kinh doanh tự do bị đe dọa, các chiến sỹ yêu nước, đòi tự do cho nhân dân bị tù đầy, chênh lệch giàu nghèo tồi tệ hơn thời phong kiến, thực dân, đảng cộng sản biến thành lực lượng kìm hãm đà tiến bộ, phát triển của đất nước, mắc nợ hàng triệu oan hồn đã hy sinh do những lời đường mật giả dối.

Tôi có nhiều anh em, cháu, - con các bà chị ruột và chị họ vào Nam chiến đấu và hy sinh ở Đức Phổ, Quảng Ngãi, Bình Định nay vẫn chưa tìm ra thi hài, mộ chí. Đã đến lúc phải nói thẳng ra là gia đình và các cháu đã bị lừa. Họ đưa ra Luật nghĩa vụ quân sự, tuyên truyền về vinh quang trai thời loạn là sinh Bắc tử Nam, cưỡng bức các cháu bỏ học cầm súng, bắt ký các bản tình nguyện nhập ngũ, buộc bố mẹ phải ký tên «vinh dự hiến con cho Tổ quốc», trong khi con cháu các quan lớn hầu hết đều được xuất ngoại học tập ở Liên Xô, Trung Quốc , Ba lan, Đông Đức, Tiệp… Một sự bất công khổng lồ. Bố mẹ các cháu tôi lo nghĩ tiếc thương con, ban đêm xụt xùi khóc, nhưng vẫn phải tỏ ra vui vẻ khi tiễn con vào Nam. Các cháu đều miễn cưỡng ký giấy «tình nguyện vào Nam chiến đấu, đâu cần xin có mặt» theo ý nguyện (cưỡng bức) của Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh. Cả một khoa học bịp bợm thành hệ thống.

Tôi đã từng nhiều lần vào Nam cùng các đơn vị, vào Bình Trị Thiên, rồi vào Tây Nguyên – Kon Tum, Gia Lai, vào Bình Định, Buôn Ma Thuột, Bình Long, Sài Gòn… có những điều ít ai biết, đó là tình trạng cực kỳ phi lý, thương tâm, oan trái, từ khi lên đường vào Nam, các cán bộ chiến sĩ đều bị cắt đứt liên lạc một cách tuyệt đối với bố mẹ, anh chị em, bạn bè, vài năm, có khi hàng chục năm, mà không có một lá thư được nhận hay được gửi về nhà. Sự bặt tin thật là buồn đau độc ác. Đây là một nét độc đáo của cuộc chiến ở miền Nam Việt Nam. Cuộc chiến tranh không có thư từ của người cầm súng, đằng đẵng từ khi lên đường, cho đến khi trở về, lành lặn hay bị thương nặng nhẹ, hay thành người tàn tật suốt đời. Hoặc có khi tử trận, nhưng giấy báo tử để chậm vài năm là thường, vì chiến tranh khốc liệt, tử sỹ nhiều, đơn vị giải thể, tiêu tùng hết, nhiều đơn vị sát nhập vào nhau, sổ sách mất, cháy, chỉ huy thuyên chuyển liên miên, không có nền nếp chính quy, kiểu du kích, đại khái, lem nhem.

Cho đến chuyện quản lý tù binh Mỹ chặt chẽ, có sổ sách hàng ngày mà cuối cùng vẫn mất tích, không lý giải được, lên đến hơn 100 người, đủ biết công việc quản lý của quân đội thời chiến luộm thuộm ra sao.

Ở các nước văn minh, với quân đội hiện đại, họ rất quan tâm đến việc thông tin, thư từ gia đình quân nhân được chuyển nhanh nhất, chu đáo nhất đến tay chiến sĩ ngoài mặt trận. Đây là trách nhiệm, đền đáp thiết thực có ý nghĩa nhất những hy sinh của gia đình và các quân nhân. Ở Việt Nam, đảng Cộng sản cho việc cố tình bặt tin là biện pháp cưỡng bức để các chiến sĩ không còn suy nghĩ thao thức mong chờ thư đi từ lại, một lòng một dạ hy sinh chiến đấu cho những mục tiêu riêng của đảng. Đây là món rất độc của chiến tranh tâm lý. Vì nếu tự do thư từ, thông tin, các chiến sĩ sẽ kể về những trận đánh thiêu thân, cả đơn vị chết quá nửa như sau tết Mậu Thân thì hậu phương sẽ bị chấn động, rất nguy hiểm để kêu gọi tiếp những đợt «sinh Bắc tử Nam», mà phần lớn sẽ không trở về.

Ngoài hàng mấy chục vạn oan hồn trên đây, tôi không thể không nhắc đến vài vạn người chưa chết nhưng bị những oan khiên dằn vặt không kém các oan hồn kể trên. Họ rất đáng thương, nhưng xã hội đã lãng quên họ.

Đó là chừng 20.000 cán bộ, chiến sĩ Quân đội Nhân dân (theo thống kê chưa đầy đủ của Cục quân lực Bộ Tổng tham mưu) vào Nam bị chiêu hồi bởi Việt nam Cộng hòa, sau chiến tranh trở về gia đình ở miền Bắc, đã bị hỏi tội, bỏ tù, cải tạo, trả thù, bôi xấu, hạ nhục, hành hạ ra sao, bị gia đình xỉ vả, láng giềng khinh miệt, không sao ngẩng mặt lên được. Theo tôi biết, rất đông anh em đó ở Hà Nội, Hà đông, Thái Bình, Nam Định, Hải Phòng, Nghệ Tĩnh… Một số bảo mạng, cầu an, không chịu được gian khổ, căng thẳng, nhưng không ít có ý nghĩ lành mạnh, không đang tâm bắn vào anh em trong một cuộc huynh đệ tương tàn phi lý vô đạo nên đã chịu chiêu hồi, hy vọng khi chiến tranh kết thúc, không ai nỡ trị tội mình. Đã có nhà văn nào nói lên thảm cảnh của số anh em bị chiêu hồi rồi trở về quê quán này để tiếp tục bị oan khiên, kêu trời không thấu này. Đã có tổ chức xã hội nào cúi xuống nâng đỡ các số phận đen đủi này, tất cả chỉ là nạn nhân của một cuộc chiến tranh phi lý vô đạo do đảng Cộng sản gây nên vì những mục tiêu và cuồng vọng riêng.

Nếu tôi tham gia dựng lên những bộ phim về cuộc chiến tranh ở Việt Nam, tôi sẽ nói đến bản chất của chiến tranh, qua những mặt tối, những góc tối bị che dấu, bị che lấp, nhưng oan hồn, những nỗi oan trái chưa được biết, để có thể nói lên hết mặt trái của cuộc chiến tranh không anh hùng, chẳng oanh liệt, một cuộc nồi da xáo thịt, huynh đệ tương tàn đáng hổ thẹn, đáng sám hối. Tít bộ phim có thể là «Những oan hồn - hay mặt trái của chiến tranh», hay «Một cuộc chiến đầy dối trá», cũng có thể là «Cuộc chiến của những người nô lệ», vì đảng Cộng sản tự nguyện làm nô lệ cho học thuyết Mác – Lênin, rồi qua đó bắt nhân dân, quân đội làm nô lệ cho những tham vọng riêng của đảng, để cho đất nước lạc hậu, tàn lụi đổ nát, bất công như hiện nay.

Ông Đào Công Tiến, nguyên Hiệu trưởng Đại học Kinh tế Sài Gòn, một đảng viên cộng sản kỳ cựu rất có lý khi đề nghị mỗi ngày kỷ niệm 30/4 là một cuộc Sám hối và xin lỗi của đảng Cộng sản đã chủ động gây nên những tổn thất về sinh mạng, tài sản, thời gian của dân tộc đến mức quá sức chịu đựng của nhân dân, để lịch sử có thể sang trang, đất nước có một chế độ chính trị dân chủ, độc lập thật sự, lãnh thổ toàn vẹn, có nhân quyền, phát triển phồn vinh cho toàn xã hội.

Viên chức Bộ KH-CN bị nghi ăn cắp ở siêu thị Nhật

VOA Tiếng Việt
06/10/2017
Cảnh sát Nhật nói năm 2015 họ bắt 2488 vụ trộm có người Việt Nam
Cảnh sát Nhật nói năm 2015 họ bắt 2488 vụ trộm có người Việt Nam

Cảnh sát tại một địa phương ở Nhật Bản tạm giữ một viên chức thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ Việt Nam vì nghi ông này ăn cắp trong siêu thị, theo tin trên các trang Dân Trí, VietnamNet và Người Lao Động hôm 6/10.

Tin không nói cụ thể thời gian và địa điểm xảy ra vụ việc, cũng như không nêu tên viên chức liên quan.

Dẫn các câu trả lời từ Bộ KH-CN, các báo cho hay người đàn ông có tên viết tắt là T.Q.H “được mời đến làm việc tại cơ quan cảnh sát” do gặp “sự cố” khi đi mua sắm.

Tin cho hay sau khi “trao đổi, giải trình”, ông T.Q.H, hiện là một phó phòng thuộc Cục An toàn và Bức xạ Hạt nhân của bộ, đã “được cho về và tiếp tục chuyến công tác” của ông.

Cục An toàn và Bức xạ Hạt nhân nói vị phó phòng có mặt ở Nhật để dự một hội thảo nhưng không cung cấp thêm chi tiết.

Theo các báo, trước hôm 5/10 đã xuất hiện thông tin về việc ông T.Q.H bị giữ lại tại Nhật Bản vì bị nghi có liên quan đến trộm cắp trong siêu thị.

Hôm 5/10, ông Nguyễn Tuấn Khải, Cục trưởng Cục An toàn bức xạ và Hạt nhân, cho báo chí biết cục này ở thời điểm đó vẫn đang trong quá trình làm rõ thông tin và họ có phối hợp với phía Nhật về việc này.

Trong vài năm gần đây, đã xảy ra nhiều vụ người Việt trộm cắp ở Nhật Bản nói riêng và nhiều nước ngoài khác nói chung.

Sử dụng từ khóa “người Việt ăn cắp ở Nhật Bản” hoặc “người Việt ăn trộm ở Nhật Bản” đều cho ra trên 300.000 kết quả tìm kiếm trên Google.

Trong số các kết quả là hàng loạt bài báo trên báo chí chính thống trải dài trong nhiều năm với các hàng tít như “Nhật bắt 3 người Việt nghi trộm cắp liên hoàn hàng triệu đô”, “Nhật Bản bắt giữ 7 người tình nghi trộm mỹ phẩm”, “Cảnh sát Nhật bắt 9 du học sinh Việt ăn trộm đồ thể thao”, “Trộm dưa lưới ở Nhật, 6 người Việt bị bắt”, “Bốn người Việt bị bắt giữ ở Nhật vì ăn cắp sữa bột”.

Một số báo dẫn thông tin từ cảnh sát Nhật cho hay năm 2015 họ đã bắt 2.488 vụ ăn trộm có người Việt Nam. Tính trung bình, mỗi ngày có 8 vụ ăn trộm dính dáng đến người Việt. Chưa có số liệu cho năm 2016 và 2017.

Ngay sau khi có tin về phó phòng T.Q.H bị tạm giữ ở Nhật Bản mới đây, hôm 6/10, luật sư Lê Luân, một người có nhiều ảnh hưởng trên mạng xã hội viết trên trang Facebook cá nhân rằng đây là “sự cố nhục nhã”.

Luật sư đưa ra nhận định giáo dục có liên quan đến vấn đề này. Ông viết: “…cán bộ cấp Bộ đi công tác sang một đất nước được coi là văn minh nhất châu Á và cũng là cường quốc thế giới mà còn giở thói trộm cắp ở nơi công cộng thì không còn gì để nói về kết quả trồng người của mấy chục năm (nửa thế kỷ) qua nữa”.

Từ ‘sụp đổ tài khóa quốc gia’ đến ‘xin tiền không hoàn lại’

Theo VOA-06/10/2017
Phạm Chí Dũng

Hình minh họa. (Lê Anh Hùng)

Vì sao Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc lại bộc lộ động tác “xin tiền” một cách công khai và đã được báo chí nhà nước tường thuật cũng công khai, trong cuộc gặp Giám đốc quốc gia Ngân hàng Thế giới (WB) tại Việt Nam Ousmane Dione vào buổi chiều 20/9/2017 tại trụ sở Chính phủ?

“Lời đề nghị khiếm nhã”

Chín tháng sau khi bật ra cảm thán cảnh báo chưa từng có trong giới quan chức cao cấp về “sụp đổ tài khóa quốc gia”, ông Phúc vừa phải “đề nghị Ngân hàng thế giới tìm kiếm nguồn vốn tài trợ cho Việt Nam các khoản không hoàn lại để giảm tối đa làm chi phí vay vốn, tăng thành tố ưu đãi của các khoản vay”.

“Lời đề nghị khiến nhã” trên lại xuất hiện trong bối cảnh ngân sách quốc gia Việt Nam có quá nhiều dấu hiệu cạn kiệt và thậm chí có thể vỡ nợ như trường hợp của Argentine vào các năm 2001 và 2014.

Nguyễn Xuân Phúc - nhân vật đang trở nên quá cám cảnh bởi tư thế phải “đổ vỏ” cho thời thủ tướng trước, giờ đây rơi vào một vòng xoáy “cơm áo gạo tiền” cho đảng và chính phủ cầm quyền ở Việt Nam. Đã quá đủ cho vài chục năm vay nợ nước ngoài, chi xài vô tội vạ và bỏ mặc tham nhũng hoành hành của chính phủ cùng chính quyền các địa phương Việt Nam, để lại núi nợ công lên đến ít nhất 210 % GDP, tương đương khoảng 431 tỷ USD.

Sau “triều đại Nguyễn Tấn Dũng” để lại một núi nợ nần, đến “triều đại Nguyễn Xuân Phúc” từ đầu năm 2016 đến nay, người ta thấy vị thủ tướng này bắt đầu tỏ ra kiên quyết những động tác ‘thắt lưng buộc bụng”. Lần đầu tiên sau nhiều năm, Chính phủ không còn dám bảo lãnh cho vay bạt mạng như thời Nguyễn Tấn Dũng.

Con số vay ODA của nước ngoài từ năm 1993 đến năm 2014 đã lên tới 90 tỷ USD. Sau khi trừ đi 10 - 12% vốn vay không hoàn lại trong số đó, mỗi năm ngân sách Việt Nam phải có trách nhiệm trả nợ quốc tế hàng chục tỷ USD. Mà muốn trả được số nợ này, Việt Nam lại phải tìm cách “vay đảo nợ” của các tổ chức tín dụng quốc tế. Trước đây, những tổ chức này vẫn cho Việt Nam vay vốn “đầu tư phát triển” và vay đảo nợ khá dễ dàng. Nhưng đến năm 2015, WB bất ngờ thông báo hai “tin buồn” cho Việt Nam: Việt Nam đã “tốt nghiệp IDA” mà sẽ không được xếp vào loại quốc gia “xóa đói giảm nghèo”; và từ tháng 7/2017 sẽ không được vay với lãi suất ưu đãi 0,7 - 0,8%/năm cùng thời gian ân hạn đến 30 - 40 năm như trước đây, mà mức lãi suất vay sẽ được nâng lên gấp ba và thời gian ân hạn giảm xuống một nửa.

Trong khi đó, ngân sách Việt Nam vẫn buộc phải làm cái chuyện vừa lo trả nợ vừa phải tiếp tục vay mượn vượt hơn đến 30% số trả nợ hàng năm để phục vụ các khoản chi tiêu thường xuyên khổng lồ của bộ máy gần 4 triệu công chức viên chức và lực lượng vũ trang.

Mới đây, Tiến sĩ Vũ Quang Việt - cựu chuyên viên tài chính của Liên hiệp quốc - đã công bố một tính toán của cá nhân ông: tỷ lệ chi cho lực lượng công an ở Việt Nam lên đến 12% chi ngân sách - một mức chi cực kỳ lớn, chưa kể gần 5 tỷ USD chi cho bộ máy quốc phòng hàng năm.

Phương án “ăn sẵn”

Trong tình thế nước sôi lửa bỏng “chỉ ăn không làm” và “tiền chỉ ra không vào” ấy, dù Chính phủ, Ngân hàng nhà nước và Bộ Tài chính vẫn có thể thu xếp các khoản trả nợ trong nước bằng cách in thêm tiền, nhưng nguồn ngoại tệ để trả nợ cho nước ngoài thì lại rất hạn hẹp. Đó hẳn là nguồn cơn để Thủ tướng Phúc và Ngân hàng nhà nước như “lên đồng” với chiến dịch thúc giục “huy động vàng và đô la trong dân”.

Và hẳn đó cũng là nguồn cơn khiến trong thời gian gần đây, đã xuất hiện một luồng quan điểm từ giới chóp bu chính phủ về “vay không hiệu quả thì không cần vay”. Theo đó, hàng loạt đề nghị chính phủ bảo lãnh vay vốn bổ sung từ nước ngoài của Tập đoàn Dầu khí quốc gia (PVN) - một doanh nghiệp khổng lồ đang khốn quẫn trong chiến dịch được xem là “chống tham nhũng” của Tổng bí thư đảng Nguyễn Phú Trọng - đã gần như chỉ nhận được cái lắc đầu quầy quậy của Chính phủ.

Thay vào đó, dường như giới quan chức chính phủ đang tính đến phương án “ăn sẵn”: thay vì phải đi vay mượn nhưng sẽ cột chặt thêm trách nhiệm phải trả nợ, cần cố gắng xin được viện trợ không hoàn lại mà sẽ không gắn với bất kỳ trách nhiệm thanh toán nào.

Từ lâu nay ở Việt Nam, viện trợ không hoàn lại nằm trong cơ chế vay vốn ODA vẫn được xem là “tiền chùa”.

Chỉ có điều, “xin tiền” nước ngoài vào lúc này cũng không còn dễ dàng nữa.

Không hề hứa hẹn

Chi tiết đáng chú ý là trong buổi gặp Thủ tướng Phúc, Giám đốc quốc gia Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam Ousmane Dione đã không có bất kỳ hứa hẹn hay cam kết cụ thể nào về những khoản vay không hoàn lại và có hoàn lại. Dù ông Phúc nói nhiều và không quên ca ngợi “tình bạn của Ngân hàng thế giới với Việt Nam”, chẳng có bất kỳ con số nào được thốt ra từ miệng Ousmane Dione.

Tính từ năm 2016 khi Nguyễn Xuân Phúc trở thành thủ tướng đến nay, phía WB đã có một số lần gặp gỡ với giới quan chức lãnh đạo đảng và nhà nước Việt Nam. Nhưng khác hẳn với thời gian trước, họ trở nên rất kiệm lời, đặc biệt liên quan đến phát ngôn về con số.

Hình như sau khi phải chứng kiến cảnh “ăn của dân không chừa thứ gì” ở Việt Nam, mối quan hệ giữa Ngân hàng thế giới và Hà Nội đã nhòa nhạt đi nhiều.

Nhưng lại khá khó hiểu về việc tại sao Nguyễn Xuân Phúc - nhân vật đã có thâm niên lâu năm trong Văn phòng chính phủ và có thể đã quá biết, quá hiểu về quốc nạn tham nhũng ODA (nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức) lên tới 40-50% giá trị dự án tại Việt Nam, vẫn có thể “trơ mặt” đến mức đề nghị “các khoản không hoàn lại” với WB.

Trong khi đó, chính thể Việt Nam đã “khai thác có hiệu quả ODA” như thế nào?

Nhân nào quả nấy

Từ nhiều năm qua, ODA đã trở thành một trong những quốc nạn về tham nhũng. Tỷ lệ thất thoát bình quân tại nhiều dự án ODA được đồn đoán khoảng 20 - 25%. Nhưng đó chỉ là mức “hợp pháp”. Thậm chí tỷ lệ “lại quả” ODA còn lên đến 40% - được chứng thực bởi một dự án xây dựng trường tiểu học ở Hà Tĩnh và giai đoạn 2009 - 2010. Ngoài ra, còn rất nhiều bằng chứng về lãng phí và “ăn dày” ODA.

Nhưng vẫn chưa phải hết. Từ trước tới nay, nguồn vốn ODA do các tổ chức tài chính quốc tế và chính phủ nước ngoài đều quy định hết sức chặt chẽ về việc chính phủ Việt Nam không được sử dụng số tiền cho vay sai mục đích. Tuy nhiên trong thực tế “đúng quy trình” của ngân sách Việt Nam, tiền vay nước ngoài, đặc biệt là vay vốn ODA, có nhiều dấu hiệu đã bị chi sai mục đích và chi xài vô tội vạ. Tình trạng này rất phổ biến trong 8 năm cầm quyền của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng.

Kể cả đến thời Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, cũng có ít nhất một bằng chứng cho thấy vốn ODA bị chi sai mục đích.

Tại một phiên họp thường kỳ của Ủy ban Thường vụ Quốc hội vào ngày 22/12/2016, phía Chính phủ đã đề nghị dùng 4.482 tỷ đồng vốn ODA để cấp vốn điều lệ cho Ngân hàng Phát triển Việt Nam và Ngân hàng Chính sách xã hội. Câu hỏi đặt ra là ai và cơ quan nào đã tham mưu cho chính phủ để lấy vốn ODA cấp cho ngân hàng - một cơ chế thuần túy kinh doanh?

Việc Chính phủ đề nghị Quốc hội cấp vốn ODA cho giới chủ ngân hàng cũng là một bằng chứng mới cho thấy dưới thời Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, Chính phủ rất có thể đã quen với việc dùng tiền ODA để chi cho những mục đích khác, như thay vì sử dụng đúng mục đích ODA cho các dự án hạ tầng cơ sở và môi trường, họ đã cắt nguồn vốn này cho các khoản chi tiêu thường xuyên của chính phủ, thậm chí còn có thể cắt ODA cho các dự án xây dựng trụ sở hành chính và tượng đài từ hàng ngàn đến hàng chục ngàn tỷ đồng đầy tai tiếng và cực kỳ đáng lên án.

Trong khi đó, ở Việt Nam vẫn chưa có bất kỳ tổ chức giám kiểm độc lập nào cho một khu vực được coi là nhạy cảm như ODA. Những tổ chức phi chính phủ Việt Nam muốn làm việc này thì không được cho phép thành lập, trong khi đó những tổ chức phi chính phủ nước ngoài vốn có truyền thống kiểm định những dự án lớn như thế này lại chưa hoạt động ở Việt Nam, và cũng chưa được được một cơ quan nhà nước Việt Nam nào mời.

Quá hiển nhiên, đó là lý do vì sao ngay cả những quốc gia được coi là có “thiện cảm” với Việt Nam như Đan Mạch, Thụy Điển, Úc… cũng phải thẳng tay cắt giảm viện trợ ODA đối với một chính quyền “ăn của dân không chừa thứ gì”.

Bây giờ thì không còn có thể mơ đến viện trợ không hoàn lại từ trên trời rơi xuống như nhiều năm trước.

Tiền nào cũng là tiền. Viện trợ không hoàn lại là tiền của người dân các nước phát triển đóng thuế cho chính phủ, và những người dân này sẽ phẫn nộ đến mức nào khi biết tiền của họ đã bị một quốc gia nằm trong nhóm đầu thế giới về tham nhũng như Việt Nam “ăn không chừa thứ gì”.

Gieo nhân nào gặt quả nấy. Từ khoảng ba năm qua, không chỉ các dự án cho vay mà cả viện trợ không hoàn lại từ phương Tây vào Việt Nam đã trở nên rất ít…

Ít đến mức thảm thiết.