Thursday, June 15, 2017

ĐCS Việt Nô sẽ đẩy cả dân tộc vào cái chết!

Nguyên Thạch (Danlambao) - Cái độc đáo của Hồ Chí Minh, của Nguyễn Phú Trọng... là luôn ngụy biện, luôn hứa hẹn những thứ bánh vẽ để lùa người dân rời xa thực tế của xã hội, của đất nước mà quên đi hiện tình của đất nước đã quá là nguy kịch và thê thảm. 

Đến nước này thì đàng nào chúng ta cũng phải chết, chết cho quê hương hay chết trong nô lệ đau đớn trong cảnh bị cưỡng ép về mọi mặt, bắt mổ nội tạng...? Cái chết của hôm nay cho dân tộc, cho ngàn thế hệ nối tiếp là những cái chết quả cảm đầy ý nghĩa. Con kỳ nhông Hồ Chí Minh cùng đảng Việt Nô đã lừa chúng ta một cách bền bỉ và lì lợm trong suốt 3/4 thế kỷ qua bởi lẽ không gian trá, không là VẸM, chúng ta đừng để bị mắc lừa thêm nữa.

*

Trước khi bước vào phần nội dung, người viết xin khẳng định rõ cụm từ ĐCS Việt Nô là một đảng nô lệ ngoại bang mà rõ ràng nhất là nô lệ Trung cộng. Đảng nô Hán này là bọn cẩu nô, sẵn sàng cắn lại đồng bào, sẵn lòng nguyện làm Thái thú để phục tùng thiên triều phương Bắc. Chúng là một bọn phản quốc và bán nước nên không được xứng đáng gắn liền với hai chữ Việt Nam. Vì lý do đó, từ nay tôi sẽ không còn dùng cụm từ này nữa, và nếu phải viết tắt thì bạn đọc nên hiểu rằng ĐCSVN là đảng cộng sản Việt Nô.

Tôi chắc rằng có một số thành viên của đảng gian xảo này sẽ nhảy đỏng lên đòi ăn tươi nuốt sống người viết và "giận sẽ mất khôn" mà quên rằng Tự Do Ngôn Luận là của mỗi công dân, phải được tôn trọng và bảo đảm.

Qua các giai đoạn của lịch sử, bất luận là trong chiến tranh hay hòa bình, đảng cộng sản luôn thay màu đổi sắc để phù hợp với điều kiện và môi trường xung quanh mà Hồ Chí Minh là con kỳ nhông chúa. Từ lúc ban sơ, sau khi vớ được mớ lý thuyết của chủ nghĩa cộng sản, ông ta đã mừng rỡ, khóc ròng mà thốt lên rằng "Nó đây rồi, cái mà ta đã chờ đợi, tìm kiếm từ lâu", xong ông mang về Việt Nam theo lệnh của quan thầy Đệ Tam cộng sản quốc tế. "Cái thuở ban đầu lưu luyến ấy", con kỳ nhông chúa đã giấu nhẹm 2 từ cộng sản mà chỉ nói đến tình. Kỳ nhông chúa đã lừa gạt một đám kỳ nhông, tắc kè con ngây ngô vụng dại để nghe theo tiếng gọi của con tim "Tình yêu Tổ Quốc" mà lúc bấy giờ tình yêu này của đại đa số người dân không thiếu, Hồ Chí Minh đã thừa mánh khóe để khơi dậy, dụ dỗ và lợi dụng một cách triệt để và ông ta đã thành công.


Các cụ đã khuyên "nếu không muốn người biết thì tốt nhất là đừng làm", thời gian dần dà, cây kim trong bọc cũng phải lòi, qua Đấu Tố Ruộng Đất, qua Nhân Văn Giai Phẩm, những đoàn quân bên "Chiếc cầu biên giới" đã thấy được bên nay "Tôi bước đi, không thấy phố, không thấy nhà. Chỉ có mưa sa trên màu cờ đỏ" của người chiến sĩ cách mạng Trần Dần hoặc "Màu tím hoa sim" của người cán binh "có con tim và tình yêu" mà trong vụ án Nhân văn giai phẩm, nó bị coi là thứ văn chương ủy mị, mang tư tưởng tiểu tư sản, và là một trong những bằng chứng để bộ văn hóa đương thời kết tội tác giả của nó. (1). 

"Một chiều rừng mưa
ba người anh,
từ chiến trường Đông Bắc
được tin em gái mất
trước tin em lấy chồng"

Thế là Hồ Chí Minh cùng đảng chuột đã lòi mặt chuột!. Cái tình yêu mà trước đó ông đã hô hào kêu gọi, nó gồm cả tình người, tình yêu đôi lứa, tình yêu gia đình và Tổ Quốc đã bị khước từ. Cho nên sau này đảng Việt Nô chẳng có gì ngần ngại mà bán đứng đồng bào cũng như bán cà đất nước cho ngoại bang Tàu cộng.

Bên nay biên giới là nhà
Bên kia biên giới cũng là quê hương

hoặc

Bên nay biên giới là mình
Bên kia biên giới cũng tình quê hương

Tố Hữu đã dặn thế thì tại sao còn chưa hiểu?.

"Cá cắn câu, biết đâu mà gỡ?, chim vào lồng biết thuở nào ra"? Đấy là sự tài tình của Hồ Chí Minh, của đảng Việt Nô điếm xảo, tráo trở và lừa lọc. Và hôm nay toàn dân phải đối mặt Với Mật Nghị Thành Đô 1990 đã ký kết để Việt Nam trở thành một tỉnh kỵ thuộc quyền trung ương Trung cộng. 90 triệu con cá đã dính câu, dính chấu, 90 triệu con chim đã bị nhốt trong lồng thì gỡ, thì tung cánh vào bầu trời tự do thế nào đây?.

Một câu hỏi được đặt ra mà trên thực tế vẫn chưa có sự giải đáp cụ thể và thỏa đáng!. Nâng cao trình độ Dân Trí là việc cần thiết, trong đó hành động là bước tối cần. Mỗi người dân hãy là một chiến sĩ thông tin, 90 triệu dân phải là 90 triệu tay đao, tay súng vực dậy để tự cứu lấy mình thì cuộc cách mạng sẽ nắm chắc phần thắng. 


Cái độc đáo của Hồ Chí Minh, của Nguyễn Phú Trọng... là luôn ngụy biện, luôn hứa hẹn những thứ bánh vẽ để lùa người dân rời xa thực tế của xã hội, của đất nước mà quên đi hiện tình của đất nước đã quá là nguy kịch và thê thảm. 

Đến nước này thì đàng nào chúng ta cũng phải chết, chết cho quê hương hay chết trong nô lệ đau đớn trong cảnh bị cưỡng ép về mọi mặt, bắt mổ nội tạng...? Cái chết của hôm nay cho dân tộc, cho ngàn thế hệ nối tiếp là những cái chết quả cảm đầy ý nghĩa. Con kỳ nhông Hồ Chí Minh cùng đảng Việt Nô đã lừa chúng ta một cách bền bỉ và lì lợm trong suốt 3/4 thế kỷ qua, bởi lẽ không gian trá, không là VẸM, chúng ta đừng để bị mắc lừa thêm nữa.

14/6/2017


_________________________________________

Ghi chú:

Củng cố bạo lực hành chánh!!!

Xã luận bán nguyệt san Tự do Ngôn luận - Bạo lực là một trong hai phương pháp hành xử xưa nay của chế độ cộng sản (phương pháp kia là lừa gạt). Điều này chẳng ai không thấy. Để mặc cho nó một ý nghĩa, người cộng sản gọi nó là “bạo lực cách mạng” với hai khía cạnh: bạo lực hành chánh và bạo lực vũ khí. Bạo lực vũ khí chủ yếu dùng phương tiện công an, bạo lực hành chánh chủ yếu dùng phương tiện pháp luật. Công an để đàn áp cuộc sống xã hội và pháp luật để bức bách tâm trí con người.

Đứng trước nguy cơ bị nhân dân lật đổ, một nguy cơ ngày càng lớn lao do bao sai lầm, tội ác và thất bại tích tụ từ hơn 70 năm qua và ngày càng nhiều, đảng càng lúc càng khiến lực lượng công an mạnh tay với nhân dân bằng đủ mọi kiểu hành xử bạo tàn và càng lúc càng khiến lực lượng lập pháp mạnh tay với nhân dân bằng đủ mọi thứ luật lệ ngang ngược.

Ngày 18 tháng 11 năm 2016, Đảng hội dưới cái tên Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIV, kỳ họp thứ 02, đã thông qua Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo, và Luật này sẽ có hiệu lực thi hành kể từ 01 tháng 01 năm 2018. Nó đã bị nhiều công dân lẫn tổ chức xã hội phê phán hay từ khước (quyết liệt nhất là Hội đồng Liên tôn qua Kháng thư ngày 20-10-2016). Mới đây, hôm 01-06-2017, Hội đồng Giám mục, một định chế quan trọng của Giáo hội Công giáo Việt Nam, qua Nhận định về Luật Tín ngưỡng Tôn giáo gởi cho Quốc hội, một lần nữa cho thấy bạo lực hành chánh của Cộng sản đã được vận dụng như thế nào đối với lực lượng tín đồ đông đảo.

Sau khi điểm qua vài chi tiết, Nhận định của Hội đồng Giám mục đã cho thấy Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo thực chất là nỗ lực hợp pháp hóa và củng cố hóa cơ chế xin-cho hết sức bất công, phi lý và ngang ngược của một nhà cầm quyền luôn tuyên bố là “của dân, do dân, vì dân”. Việc tráo đổi ngôn từ (từ “xin phép” và “cho phép” sang “đăng ký, thông báo, đề nghị”) rốt cục vẫn không che giấu được ý đồ làm cho cơ chế xin-cho càng thêm vững mạnh, thậm chí hơn cả Pháp lệnh tín ngưỡng tôn giáo 2004. Các vị Giám mục đã nói thẳng: “Cơ chế này cho thấy tự do tín ngưỡng tôn giáo không thật sự được coi là quyền của con người nhưng chỉ là ân huệ cần phải xin và được ban phát. Chính cơ chế đó hợp pháp hóa sự can thiệp của chính quyền vào sinh hoạt nội bộ và kiểm soát chặt chẽ mọi hoạt động tôn giáo” (Nhận định, số 3). Mục đích là làm cho mọi Giáo hội không ngừng lệ thuộc nhà cầm quyền, ngoan ngoãn để được ban ơn và cuối cùng trở nên công cụ của chế độ hay chí ít cũng quên đi bản chất và sứ mạng của mình.

Không dừng lại đó, Hội đồng Giám mục còn cho rằng Luật Tín ngưỡng Tôn giáo là biểu hiệu của não trạng thâm căn cố đế, thái độ trước sau như một của Cộng sản là luôn xem mọi tôn giáo và tổ chức tôn giáo như những lực lượng đối kháng, nghĩa là như những kẻ thù không đội trời chung, vừa từ quan điểm chính trị độc tài toàn trị vừa từ quan điểm triết lý duy vật vô thần.

Chính vì thế, nhà cầm quyền “đã tiêu tốn biết bao nhiêu tiền của và nhân lực để theo dõi, dò xét, kiểm soát mọi hoạt động tôn giáo, đồng thời sử dụng các tổ chức tôn giáo như công cụ của chế độ”; trình bày các Tôn giáo tại nhiều cơ sở đào tạo cán bộ và sinh viên “với những thành kiến thù nghịch, tạo nên nhận định sai lầm và hình ảnh biến dạng về Giáo hội Công giáo [lẫn các Giáo hội khác] nơi thế hệ trẻ”; đã không đánh giá đúng mức, thậm chí ngăn cản “những hoạt động của các tôn giáo trong lĩnh vực từ thiện, y tế và giáo dục”; và nay, với những điệp khúc đậm màu chính trị và những từ ngữ mơ hồ cố ý của Luật Tín ngưỡng tôn giáo, nhà cầm quyền sẵn sàng quy kết trách nhiệm và lên án bất công các tổ chức lẫn nhân sự tôn giáo như họ đã và đang làm. “Cách nhìn và cách hành xử như vậy có nguy cơ làm mất bản sắc đích thực của các tôn giáo, gây chia rẽ trong nội bộ các tôn giáo cũng như giữa các tín đồ và người ngoài tôn giáo”(Nhận định, số 4).

Thời gian gần đây, tại Quốc hội, nhân cuộc thảo luận về việc sửa đổi Bộ luật Hình sự 2015, hai đại biểu có nguồn gốc công an là Nguyễn Thị Xuân, Đại tá, Phó Giám đốc công an tỉnh Đak Lắc, và Nguyễn Thị Thủy, công tác tại Viện Kiểm sát Tối cao, đại biểu tỉnh Bắc Kạn, đã gây sóng gió khi ủng hộ dự thảo tại Điều 19 Bộ luật Hình sự là "Luật sư phải tố giác thân chủ khi họ biết thân chủ phạm tội xâm phạm an ninh quốc gia…", lấy lý do: xâm phạm an ninh quốc gia là tội bất trung, đại nghịch mà từ xưa cũng đã trừng phạt nặng nề. Nhưng ai cũng biết khái niệm “xâm phạm an ninh quốc gia” bị người cộng sản -do não trạng bảo vệ quyền lực độc tài của mình- hiểu rất rộng, không những là chuyện phản bội đất nước, làm hại Tổ quốc, giết hại Đồng bào mà còn là chuyện động tới đảng và chế độ dưới mọi hình thức, dù chỉ là thành lập một chính đảng hay một tổ chức xã hội dân sự đấu tranh bất bạo động, dù chỉ là phê bình chính sách sai lầm của đảng, phản đối chủ trương tai hại của nhà nước trên ngôn từ mà thôi. Đàn áp dân biểu tình khiếu kiện chính đáng, chặn đường các nhà dân chủ tranh đấu ôn hòa, bắt trước công dân yêu nước để phòng hậu họa, nhà cầm quyền đều lấy lý do “an ninh quốc gia”….

Nếu đọc qua BLHS 2015, người ta thấy đã có quy định về đồng phạm ở điều 17 và và che giấu tội phạm ở điều 18. Nhưng nay, với điều 19 (Tội không tố giác tội phạm), Cộng sản làm cho luật thêm khắt khe và ngang ngược. Khắt khe và ngang ngược ở chỗ Điều 19 Khoản 1 quy định bất kỳ ai nếu biết rõ tội phạm đang được chuẩn bị thực hiện mà không tố giác, thì phải chịu trách nhiệm hình sự về tội không tố giác tội phạm. Khoản 2 quy định ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội phải tố giác các tội đặc biệt nghiêm trọng và các tội xâm phạm an ninh quốc gia. Và quan trọng nhất, đang gây tranh cãi nhất, là Khoản 3 quy định Luật sư phải tố giác các tội đặc biệt nghiêm trọng và các tội xâm phạm an ninh quốc gia của thân chủ mà họ biết được khi thực hiện nghĩa vụ bào chữa. Cả ba khoản này tần tật công an hóa toàn thể xã hội!

Ai cũng biết việc không tố cáo tội phạm hoàn toàn khác với việc giúp đỡ, che giấu người phạm tội. Vì người biết về hành vi phạm tội của một kẻ khác chẳng đồng nghĩa với việc đương sự tham gia và giúp đỡ tội ác được thực hiện hay cố ý che giấu nó. Mọi pháp chế văn minh trên thế giới đều công nhận điều này, nên chẳng có việc quy lỗi kẻ không tố giác tội phạm!

Do đó, nhiều đại biểu hiểu biết pháp luật và thành tâm thiện chí như Đỗ Ngọc Thịnh, Nguyễn Văn Chiến, Chủ tịch và Phó Chủ tịch Liên đoàn Luật sư VN, Trương Trọng Nghĩa của Sài Gòn đều đã nhấn mạnh: Khoản 3 Điều 19 sẽ gây ra ảnh hưởng nghiêm trọng đến công việc của các Luật sư, có thể khiến họ không thể bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người dân trong các vụ kiện. Quan điểm này dựa trên hai nguyên tắc: Một là nghĩa vụ im lặng của Luật sư xuất phát từ quyền im lặng của bị can, bị cáo. Bị can, bị cáo vốn dĩ không phải khai báo bất kỳ điều gì về bản thân, bởi lẽ trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc cơ quan điều tra, nên khi họ cần Luật sư, thuê mướn luật sư, là để bảo vệ quyền của mình, chứ không phải để Luật sư đem thông tin đi nói cho người khác biết. Hai là mối quan hệ giữa Luật sư và thân chủ được bảo vệ bởi đặc quyền về bảo mật thông tin, bất kể là vụ án hình sự, dân sự hay chính trị. Đây cũng là vấn đề nguyên tắc đạo đức của nghề Luật sư, được các Luật sư đoàn trên thế giới quy định. Luật sư và thân chủ cần có đặc quyền về bảo mật thông tin, vì đó chính là điều kiện tối cần thiết để thiết lập sự tin tưởng tuyệt đối giữa họ.

Ngoài ra, quy định như khoản 3 Điều 19 Dự thảo BLHS 2015 sẽ biến luật sư trở thành tội phạm nếu tham gia bào chữa cho các tội danh liên quan đến xâm phạm an ninh quốc gia (nay được khoác lên hầu hết cho các vụ án chính trị) và các tội đặc biệt nghiêm trọng khác. Luật sư sẽ trở thành nạn nhân của điều luật kinh hoàng man rợ, phản khoa học pháp lý, đi ngược lại văn minh nhân loại. Từ chỗ đang thực thi nhiệm vụ bào chữa cho thân chủ theo đúng quy định của pháp luật, bỗng dưng luật sư lại trở thành kẻ bị tình nghi phạm tội. Chỉ có cộng sản mới nghĩ ra điều này!

Để củng cố thêm cho bạo lực hành chánh, “chuyên chính” pháp luật, sáng ngày 24/5, tại kỳ họp Quốc hội khóa 14, nữ đại tá công an Nguyễn thị Xuân nói trên lại muốn việc bôi nhọ, nói xấu lãnh đạo đảng, quan chức nhà nước CS phải bị xử lý hình sự, nghĩa là phải ngồi tù. Tay nữ công an này cho rằng, trong điều 155 về tội làm nhục người khác và điều 156 về tội vu khống cần phải bổ sung thêm việc xuyên tạc, bịa đặt, lan truyền những nội dung sai sự thật nhằm bôi nhọ, gây mất uy tín lãnh đạo đảng, chính quyền. Theo bà ta, việc nói xấu, bôi nhọ gây mất uy tín thường diễn ra vào những kỳ đại hội đảng CS, bầu cử Quốc hội. Việc tung ra những tin tức như thế sẽ gây hoang mang, giảm sút “niềm tin của nhân dân” đối với các lãnh đạo mà đảng đã chọn. Quả là trong 2 kỳ đại hội đảng gần đây, một số tờ như: Quan làm báo, Chân dung quyền lực, Tư Sang nham hiểm… đã tung ra rất nhiều thông tin động trời mà ngay các tờ báo chính thống không thể có được. Công luận đều cho rằng đó là chuyện các phe cánh trong nội bộ đảng đánh phá nhau. Nhưng dẫu không có những tờ báo ấy, toàn dân cũng thấy giới lãnh đạo đảng, từ Hồ Chí Minh tới hôm nay, tất cả đều đã chung tay vào tội ác giết hại đồng bào, tàn phá đất nước, làm đạo đức văn hóa suy đồi, làm quốc gia lụn bại và bây giờ làm cho Tổ quốc ngày càng lâm nguy trước kẻ thù truyền kiếp phương Bắc. Nên trúc Trường Sơn không ghi hết tội, nước Biển Đông chẳng rửa sạch mùi và bao nhiêu nhọ nồi cũng chẳng đủ! Nhưng vấn đề là ở chỗ, như TS Nguyễn Quang A nói, “Luật pháp phải bình đẳng. Không có chuyện phân biệt lãnh đạo cấp cao của đảng, của nhà nước với một người dân bình thường. Trước pháp luật thì một người lao động bình thường, một bà buôn thúng bán mẹt với ông TBT đảng hay Chủ tịch nước đều ngang nhau”.

Công luận đang phẫn nộ vì công an TP Hà Nội vào hôm 13/6 đã ra quyết định khởi tố điều tra hình sự vụ việc xảy ra tại thôn Hoành, xã Đồng Tâm, huyện Mỹ Đức, Hà Nội ngày 15/4. Báo chí đã đồng loạt tường thuật việc khởi tố vụ án "nhằm làm rõ các hành vi bắt giữ người trái pháp luật theo Điều 123 và hành vi hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản theo Điều 143 BLHS", cho dù chủ tịch TP Nguyễn Đức Chung đã long trọng cam kết không truy tố dân bằng thủ bút. Lại một trò bạo hành luật pháp mới của Ba Đình, xuất phát từ thói lật lọng và lừa đảo là bản chất của mọi chế độ CS từ khi chúng đoạt được quyền trên toàn thế giới vào năm 1917 ở Nga và sau đó lan rộng khắp hoàn cầu. Với vụ việc mới này, CS thêm lộ nguyên hình là một băng đảng chủ trương lấy cướp bóc làm mục đích sinh tồn, lấy dối trá và bạo lực làm phương tiện hành xử. Nhưng nó có nhờ như thế mà tồn tại mãi được chăng? 

Xã luận bán nguyệt san Tự do Ngôn luận số 269 (15-06-2017)

Ban biên tập

VN xã nghĩa: Công Lý chỉ là tên của một diễn viên hài!

Le Nguyen (Danlambao) - Bất cứ ai hễ là người Việt Nam, kể cả con người mới xã hội chủ nghĩa hay là kẻ mê cuồng cộng sản chắc hẳn ít nhiều cũng biết bản chất côn đồ của nhà nước nằm dưới sự lãnh đạo của đảng cộng sản VN. Một nhà nước tổ chức quản trị điều hành quốc gia vô luật, vô pháp ngang ngược như băng đảng xã hội đen sống ngoài vòng pháp luật. Với hệ thống cai trị đặc thù cộng sản này đã được cựu quan chức, đảng viên đảng cộng sản xác định rất chính xác không thể chính xác hơn: “Việt Nam có một rừng luật nhưng chỉ sử dụng có mỗi luật rừng...” Xa hơn nữa là lời mai mỉa, diễu cợt khá đắng lòng, rất thật không thể thật hơn của người dân sống trong chế độ được gọi là pháp quyền XHCNVN: “Ở Việt Nam công lý chỉ là tên của một diễn viên hài...”

Chuyện thi hành luật pháp rừng rú của chế độ cộng sản là sự thật hiển nhiên không thể tranh cãi, cho dù ai đó có tài hùng biện lẫn ngụy biện cũng khó có thể phản biện thuyết phục, trừ những tên lý luận gia thuộc trường phái “nước bọt” cố tình nói lấy được bất chấp lý lẽ đúng sai. Thế cho nên, những ai đem luật pháp ra luận bàn hay cãi lý với cộng sản dù lập luận hợp lý, luận chứng hay ho thế nào đi nữa - đều gặp phải sự phản ứng quyết liệt lẫn phản bác mạnh mẽ, dứt khoát như một số lời còm của các còm sĩ dưới bài chủ “Hãy Biết Quyền Của Mình: Chống Bắt Giữ Tùy Tiện” trên báo lề dân của blogger kiêm nhà báo Đoan Trang có những đoạn tiêu biểu như sau:

“1) Tôi xin nói thật với bạn Đoan Trang. Với bọn tà quyền, côn an mặt thớt cộng sản thì chúng ta phải dùng mọi phương pháp chống lại chúng. Bất bạo động hoặc bạo động chứ đừng bao giờ nói luật này, luật nọ và chỉ ra các điều của luật mà chúng vi phạm, vì hiến pháp, luật pháp thực tế đối với bọn chúng (từ chóp bu đến tép riu) chỉ là giấy lộn. Hiến pháp và luật pháp của bọn chúng chỉ dùng để bịp bợm dư luận thế giới và lừa gạt nhân dân Việt Nam là bọn chúng cũng có dân chủ, có tam quyền phân lập.

2) Luật bày ra cho có để che đậy nhà nước có pháp quyền chứ có tôn trọng đâu, nói về luật với bọn rừng này trơ như khúc gỗ đã nhiều lần nghe nói côn an vi phạm pháp luật nhưng vẫn trơ ra có cái tòa, bộ, ban, ngành nào tra xét, rõ ràng chúng cùng một lũ. Nói đã nhiều bây giờ các nhà tranh đấu hiểu phải làm gì? Trong rọ nói không được thì la lên cho người ngoài biết, bọn này chỉ có chiến đấu trực diện chứ không thể lý luận.

3) Ở đất nước độc tài và cộng sản thì hiến pháp luật lệ chỉ là những mảnh giấy, nó không có một giá trị nào, thậm chí nó còn thấp hơn cả tờ giấy toilet tissue nữa (bởi vì nếu chùi vô nơi đó, nó còn rát cái hậu môn nữa). Hãy nên nhớ rằng bọn chúng là những tên lừa láo quốc tế, từ thời Hồ Chí Minh đến giờ có bao giờ chúng thi hành nghiêm chỉnh? Ngay cả đến những hiệp định chúng ký kết như Hiệp đinh Geneve 1954, Hiệp ước đình chiến tết mậu thân 1968, Hiệp đinh Paris 1973. Hiện tại là Công Ước Quốc tế Nhân quyền và nhiều công ước khác nữa...”

Lời còm của các còm sĩ báo lề dân biểu lộ tính cách bộc trực, thẳng thắn không kiềm chế có vài chỗ hơi thô tục không che dấu cảm xúc, không loanh quanh né tránh sự thật, có chút hơi hám khí chất “giang hồ” thứ thiệt như đấm vào mặt những kẻ thực thi luật pháp, như tát vào mồm bọn cầm cán cân công lý của nhà nước tự xưng là pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. 

Có lẽ ai cũng biết cãi lý với cán cộng cháu ngoan ngu Hồ như cãi với đầu gối và đấu luật với quan chức chế độ cộng sản như đấu với cối xay gió, chỉ mất thời giờ chứ không đi tới đâu cả! Tuy thế, chúng ta cần phải tỉnh táo biết uyển chuyển tư duy để phân biệt hiểu biết cộng sản, kinh nghiệm cộng sản... khác với phương thức đấu tranh chống cộng sản nhằm có bước đi vững chắc mang tính chiến lược, hiệu quả và đi vào chiều sâu. 

Hẳn những ai đã từng sống trong lòng chế độ cộng sản đều nhận ra luật pháp của cộng sản làm ra chỉ là vũ khí trấn áp tiếng nói đối lập, là công cụ bảo vệ chế độ trong đối nội và mang tính đối phó với đối ngoại. Với đối ngoại chúng luôn hứa “cuội” để thích nghi với các tình huống cần đối phó cũng như biết đáp ứng các văn bản luật, phù hợp với luật pháp quốc tế trên giấy nhằm lừa bịp quốc tế trên trường văn trận bút chứ không có thực chất trong đời sống luật pháp Việt Nam. 

Do đó, đấu tranh trên mặt trận pháp lý trực diện với nhà cầm cộng sản quỷ quyệt bên trong nước Việt Nam, chỉ với cộng sản Việt Nam chẳng khác nào chúng ta nói chuyện với kẻ câm điếc không có tác dụng “nghe nói” chi cả. Thế nhưng, nếu chúng ta chịu khó vận dụng, sử dụng luật pháp của cộng sản tấn công cộng sản trên chính trường quốc tế là lối “đánh” tuy không thể hạ gục (knock out) nhưng có thể làm suy yếu, vô hiệu đối phương trên mặt trận quốc tế vận - một “mặt trận” không tiếng súng nhưng quan trọng bậc nhất mà cộng sản Việt Nam cần tranh thủ, cần chiến thắng để cứu nguy sự khủng hoảng kinh tế, tài chánh toàn diện dẫn đến nguy cơ sụp đổ chế độ. 

Trở ngại lớn nhất của cộng sản Việt Nam để thoát thế trận bao vây cô lập của cộng đồng quốc tế là vấn đề nhân quyền. Giải quyết được khúc xương khó nuốt nhân quyền là cộng sản Việt Nam tiến rất gần đến sự hậu thuẫn quốc tế và chiếc ghế hội đồng nhân quyền Liên Hiệp Quốc là mục tiêu, là vũ khí chiến lược che đậy thực trạng vi phạm nhân quyền là có thật của csVN. 

Trước tình thế nguy cấp này nên vài năm trước đây, đảng cộng sản Việt Nam tập trung nội lực, quyết tâm trả bằng mọi giá để mua cho được một vé vào “hội đồng nhân quyền” nhằm giải tỏa áp lực bao vây, cô lập của các nước dân chủ giàu mạnh đối với độc tài toàn trị cộng sản trên trường quốc tế. Chiếc vé vào hội đồng nhân quyền là để giúp cho chúng có cơ sở lu loa “...nhân quyền Việt Nam mình như thế nào người ta mới bầu chọn vào hội đồng nhân quyền Liên Hiệp Quốc chứ!...Việt Nam không tôn trọng nhân quyền sao được bầu chọn vào chiếc ghế danh giá này?” 

Thế cho nên đảng cộng sản Việt Nam ráo riết dàn dựng nhiều kịch bản để cải thiện bộ mặt nhân quyền bằng các văn bản, hình ảnh do chúng bày ra với thông tin, chứng cứ ráp ghép dưới sự chỉ đạo, diễn trò của đảng cộng sản qua các sự kiện nổi bật như trường hợp mạng lưới blogger Việt Nam ra tuyên bố 258 và rất người lớn đường đường chính chính công khai đến các tòa đại sứ Hoa Kỳ, Thụy Điển cùng với việc bay sang Thái Lan trao bản tuyên bố 258 cho cao ủy Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc... tuy có bị an ninh sách nhiễu mời “làm việc” nhưng người nào bị bắt giữ. 

Rất có khả năng tất cả đều nằm trong toan tính, trong âm mưu dàn dựng “nhân quyền” của đảng cộng sản được xác minh qua việc nhà báo Thảo Nguyễn viết theo đơn đặt hàng, kém nghiệp vụ đã làm lộ “bí mật quốc gia” trên nguyentandung blog: 

“...Mạng lưới blogger đi rêu rao, xuyên tạc với thế giới về vấn đề nhân quyền của Việt Nam. Thử hỏi nếu Việt Nam không có nhân quyền, thì sao các người tự do đi nước này nước kia tuyên bố này nọ, và trở về an toàn, hay là đã sống cảnh trốn chui trốn lủi như Edward Snowden (cựu nhân viên CIA.)”

Qua các hình thức đấu tranh vận dụng, tiêu biểu trên mặt trận pháp lý quốc tế vận, góp phần vạch trần bộ mặt gian trá với thủ đoạn diễn trò nhân quyền của cộng sản Việt Nam, đỉnh điểm của nó là khoảng thời gian phiên tòa xử phúc thẩm Phương Uyên - Nguyên Kha rải truyền đơn có nội dung nói xấu đảng cộng sản Việt Nam bán nước - có lời nói không hay đối với Trung Quốc(!) bị cho là vi phạm vào điều 88, tội tuyên truyền chống nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam nhưng cả bộ máy an ninh mật vụ dày đặc với một rừng luật không tìm đâu ra tội nói xấu đảng, tội nói không hay về Trung Quốc và một lần nữa Phương Uyên khẳng định, chịu trách nhiệm việc mình làm trước phiên tòa: 

“Tôi không cần giảm án, chỉ cần xử đúng người đúng tội... chống đảng cộng sản không phải là chống đất nước, dân tộc...”

Đặc biệt trong ngày xử phúc thẩm của hai bạn trẻ Phương Uyên – Nguyên Kha bên ngoài phiên tòa đã có cuộc biểu tình của hàng trăm người tay cầm biểu ngữ hát vang bài ca tranh đấu “Dậy Mà Đi”, hô to các khẩu hiệu: “Đả đảo Trung Quốc xâm lược... Đả Đảo tay sai bán nước... Uyên – Kha vô tội...” và bên lề cuộc tuần hành theo lời tường thuật của tác giả Hoàng Hưng trên Boxitvn: 

“...Hãy nhìn cảnh một rừng công an cảnh sát, dân phòng tự vệ… ngây mặt nghe một người đàn bà sang sảng kêu gọi, hãy tìm một lối quay súng trở về với nhân dân...” 

Hoạt cảnh diễn ra rất nhạy cảm, tuy có cảnh xô xát bắt bớ một số người rất phản cảm nhưng đều được thả trước khi phiên tòa Uyên – Kha kết thúc. Nếu bình thường nhẹ nhất cũng bị bắt giữ vì tội gây rối trật tự công cộng, nặng hơn là tội tuyên truyền chống phá hay âm mưu lật đổ nhưng “rất lạ” tất cả đều bình an vô sự?

Có một điều ít người chú ý là trước khi phiên tòa phúc thẩm diễn ra đã có cuộc “mặc cả” lưu manh ngoài tòa về việc ép “nhận tội”(?) để đổi lấy sự giảm án của Nguyên Kha, sự tự do của Nhật Uy. Khá buồn cười là khi màn diễn xét xử hạ màn Phương Uyên tự do rời tòa và Nguyên Kha phải chịu án 4 năm là nhờ vào chính sách khoan hồng, nhân đạo của đảng, nhà nước “ta”? 

Với các diễn biến tích cực thời gian qua, có sự đóng góp công sức không nhỏ của lực lượng đấu tranh trong, ngoài nước và trước sức ép nhân quyền rất cương quyết của cộng đồng quốc tế buộc cộng sản Việt Nam phải lùi bước không dám bất chấp hậu quả, manh động làm liều. Như thế có phải nhân quyền đã được cải thiện, được bảo đảm tôn trọng trong đất nước Việt Nam hay tất cả chỉ là màn kịch vội vã, vụng về hơi trẻ con được quyết định, xếp đặt trên bàn đàm phán, đối thoại bên ngoài nước Việt Nam nhắm vào việc “giải độc” dư luận quốc tế về thực trang nhân quyền VN, vì đó cũng chính là lối thoát khủng hoảng chính tri, kinh tế, tài chính, xã hội... để chế độ tồn tại. Tất cả những sự việc nêu trên đều nằm trong âm mưu khư khư nắm giữ độc quyền lãnh đạo, không chịu rời bỏ quyền tiền của cộng đảng Việt Nam?

14/6/2017

Tha phương cầu thực

Huy Phương - VOA-13/06/2017
 Các ngư dân Việt Nam bị Malaysia bắt giữ trong các cuộc tuần tra ngày 10/3 và 11/3. (Ảnh: NST). Ảnh chụp màn hình trang web vnexpress.net

Các ngư dân Việt Nam bị Malaysia bắt giữ trong các cuộc tuần tra ngày 10/3 và 11/3. (Ảnh: NST). Ảnh chụp màn hình trang web vnexpress.net

Người ta định nghĩa “tha phương cầu thực” là đi nơi khác (ngoài quê hương) để kiếm ăn (mưu sinh!) Sau tháng 4-1975, chính quyến mới ở Việt Nam thường cho những người bỏ nước ra đi, đến một quốc gia khác sinh sống là để kiếm “bơ thừa sữa cặn,” vì miếng cơm manh áo, là những người “ tha phương cầu thực.”
Không ai hãnh diện phải bỏ quê hương, làng mạc, mồ mả tổ tiên để di cư sang xứ khác vì cơm áo. Một đất nước vì chính kiến khiến người ta phải bỏ nước ra đi, một đất nước không giữ chân được người dân làm ăn sinh sống trên quê hương mình mà phải bỏ xứ kiếm ăn, là một đất nước có những nhà lãnh đạo tồi.
Thử nhìn lại đất nước chúng ta ngày hôm nay, một xứ nông nghiệp mà lâm vào tình cảnh, đến mùa lúa, không có người canh tác. Hầu hết nông dân đều đã bỏ xứ ra đi tìm nơi khác, nghề khác để làm ăn. Chính quyền trước cảnh đất ruộng bỏ hoang đã hứa sẽ cung cấp giống lúa tốt, chịu mặn, nhưng con số nông dân chịu một nắng hai sương cấy cày không còn lại bao nhiêu. Ông Ðặng Thanh Quang, phó chủ tịch huyện Trần Ðề, Sóc Trăng kêu gọi cha mẹ, vợ con những người bỏ xứ hãy vận động họ quay về làm đất cho kịp vụ lúa mới…
Hồi tháng 9-2016, Ngân Hàng Thế Giới (WB) công bố bản “Báo cáo Phát triển Việt Nam 2016,” cho thấy, cơn sốt nông dân bỏ ruộng đồng, từ nông thôn ra thành thị giờ đã trở nên trầm trọng. Không chỉ nông dân ở miền Bắc, miền Trung là những nơi khí hậu không thuận lợi cho nông nghiệp, mà còn cả nông dân từ đồng bằng sông Cửu Long, nơi từ xưa được gọi là vựa lúa Đông Nam Á.
Theo cuộc tổng điều tra dân số của VN, từ năm 2009-2014, mặc dầu có 97,000 người từ nơi khác đến đồng bằng Cửu Long, nhưng từ 1984-89 đã có 92,000 người, năm 1994-99 có 230,000 người, năm 2004-2009 có 733,000 người, năm 2009-2014 có 544,909 bỏ vựa lúa Cửu Long để đi xứ khác mưu sinh, kiếm ăn. Tính ra trong vòng 30 năm, hơn 1 triệu rưỡi người đã bỏ xứ sở của mình, một nơi có tiếng là mảnh đất mầu mỡ, trù phú nhất Việt Nam để đi tha phương cầu thực. Trong mười tháng đầu năm 2016, tại Cà Mau có 26,000 bỏ xứ đi nơi khác làm thuê, Kiên Giang con số này là 20,000, Sóc Trăng là 10,000 người.
Đó là chuyện những nông dân của khu vực đồng nằng sông Cửu Long, còn ngư dân vùng biển của quê hương lại lâm vào cảnh tệ hại hơn. Họ không còn đánh bắt được trong vùng biển quê hương, một phần biển đã nhiễm độc, một phần ra khơi thì bị tàu lạ (Trung Cộng) xua đuổi đánh dập, bắt bớ, nên đành phải làm những ngư dân đánh cá bất hợp pháp trong vùng biển của các nước láng giềng.
Từ tháng 1-2013 đến tháng 3- 2017, đã có 134 tàu với hơn 1,000 ngư dân của tỉnh Bà Rịa (Xuyên Mộc - Long Điền) bị nước ngoài bắt giữ do xâm phạm vùng biển đánh bắt hải sản trái phép; trong đó, 132 tàu với 997 ngư dân bị Indonesia bắt giữ; hai tàu khác do Malaysia bắt giữ. Malaysia tố cáo lãnh hải của họ bị các tàu cá Việt Nam xâm phạm nhiều nhất. Dựa trên số liệu các vụ bắt giữ của nhà chức trách Malaysia trên Biển Đông, Bộ trưởng đặc trách an ninh quốc gia Shahidan Kassim ngày 8/4 cho hay trong tổng số 273 vụ bắt giữ từ năm 2010 tới tháng 2 năm nay, các tàu cá Việt Nam chiếm phần lớn. Gần đây, ngư dân Việt Nam lại lân la đến Papua New Guinea và vùng biển Úc Châu để bắt trộm hải sâm, một số đã bị bắt tù và phạt tiền, khiến đại diện Bộ Nông Nghiệp Việt Nam phải sang Port Moresby, thủ đô của PNG để ký cam kết hứa ngăn chận ngư dân xứ mình đến trộm hải sâm ở đây nữa!
Biển Đông bị Trung Cộng khống chế, ngư dân Việt phải tha phương vào vùng biển cá nước khác kiếm ăn, lớp bị bắt, lớp bị giết, lớp bị săn đuổi, lớp bị bắn chìm.
Ngư dân miền Trung vốn tay chài tay lưới, sống với nghề biển lâu năm, nay trở thành công nhân “xuất khẩu” bất đắc dĩ, nôm na là bỏ nghề, lưu lạc đi làm thuê xứ người.
Xã Cương Gián (huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh) 20 năm trước, khi chưa có phong trào ra nước ngoài làm thuê (xuất khẩu lao động) thì xã này cũng như hầu hết đất ven biển miền Trung khác, lam lũ quanh năm, nhưng không đủ ăn, đói nghèo, cơ cực. Ngày nay nhờ đám tha phương cầu thực, làm thuê tận Nam Hàn, đường làng sạch sẽ, nhà cửa cất lên san sát, khang trang không thua gì nơi phố thị.
Chúng ta cứ tưởng tượng một xã ven biển, tính tới tháng 3-2016, đã có tới gần 2.700 người đang đi làm thuê ở Nam Hàn, Nhật Bản, Úc, Đài Loan...làng xóm mới được “đỏ da thắm thịt” như hôm nay!
Cũng như thế, Cương Gián, xã Đô Thành (huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An) giàu có bậc nhất xứ Nghệ nhờ nguồn thu từ tha phương. Xã hiện có khoảng 2.000 người đi làm ăn ở các nước như Nam Hàn, Đức, Nga, Thái Lan, Lào... Nhờ nguồn ngoại tệ gửi về từ nước ngoài mà đến nay, xã có trên 1.000 nhà dân xây nhà lầu trị giá cả triệu đô la, trong đó có nhiều gia đình có xe hơi.
Hiện nay nhà nước có chính sách đào tạo cho ngư dân trong độ tuổi từ 18 đến 35, để đưa sang Nhật Bản, Thái Lan, Hàn Quốc làm thuê. Nhưng muốn đi sang các nước này, phải tốn kém một khoản chi phí khá lớn, số ngư dân không có tiền chạy “xuất khẩu” đã tìm cách trốn qua Tàu, làm thuê, như làm bánh kẹo, ở các nhà máy chế biến nhựa, nông sản và một số công trình xây dựng khu vực biên giới Việt Hoa.
Ở trong nước thì dân vào đến tận miền Nam, Vũng Tàu, Biên Hoà để làm ăn, vào biển Ninh Chữ để làm thuê, ai thuê gì làm nấy.
Với những ngư dân Quảng Bình nói riêng và miền Trung nói chung, một khi biển chết, tương lai chết dần chết mòn theo, kéo theo nhiều nhóm ngành nghề khác đành phải ly hương kiếm ăn. Từ sau Tết, mỗi ngày hàng nghìn người dân các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình làm thủ tục đi du lịch nước ngoài như Lào, Thái Lan, nhưng thực tế là đi tìm kế sinh nhai. Đây là khu vực giáp với các tỉnh miền Trung, chỉ cần đi xe hơi hơn nửa ngày trời là sang đến Lào và qua sông Mekong làm thủ tục nhập cảnh là được vào đất Thái Lan.
Ngày nay số người cầu thực ở Lào không ít, người sang Lào làm ăn cho biết: "Đi làm ở Lào, Thái là được gần nhà hơn, thủ tục không rắc rối, không tốn tiền vé máy bay!” Sở lao động Thương binh Nghệ An cho biết, lượng người làm hộ chiếu, giấy thông hành tăng đột biến, vào những ngày cao điểm có thể tới 1,200-1,300 người một này.
Một điều xót xa là ngày càng có nhiều học sinh ở các xã Lộc Sơn và Lộc Bổn (huyện Phú Lộc-Thừa Thiên) bỏ học để theo người thân sang Lào làm thuê, mà nhà trường và chính quyền không thể ngăn chặn... Nhiều năm trở lại đây, năm nào trường cũng có 30-40 học sinh bỏ học khiến cho các lớp học ngày càng trống vắng, số học sinh toàn trường giảm đáng kể.
Tỉnh Kiên Giang thì số nông dân rời quê đi làm ăn ngoài tỉnh tăng khá nhiều, chủ yếu do mất mùa bởi hạn hán và nước ngập mặn thời gian qua. Tại huyện An Biên, năm 2015, cả huyện có khoảng 6.000 lao động đi làm ngoài, trong 4 tháng đầu năm nay con số này đã tăng lên 1.400 người. Dân phải rời quê kéo cả nhà đi Saigon, Bình Dương, Bà Rịa - Vũng Tàu, Đồng Nai, thậm chí lên tận Tây nguyên làm thuê kiếm sống!
“Tha phương cầu thực” trở thành phổ biến vì những gia đình có thành viên tha phương thấy mình ra khỏi được cảnh bần cùng, đói rách.
Khổ một nỗi, đất nước nghèo đến nỗi người Việt Nam phải đi móc túi tha phương tận bên đất Nhật, bên Thái Lan.
Việt Nam thích làm cường quốc, thì lần này được gọi là cường quốc “tha phương cầu thực,” quốc sách là bỏ làng làm thuê, ở mướn lần hồi kiếm ăn.

Hải sâm, vú nàng, máu và nước mắt

Theo VOA-13/06/2017
Image may contain: 1 person, indoor
Từ Việt Nam: Hải sâm, vú nàng, máu và nước mắt
Nói về đất Quảng Ngãi là đang nói đến một vùng đất có nhiều mộ gió để tưởng nhớ các ngư dân đã bỏ mình trên biển và cũng nói về một làng chài mà ở đó, đời sống ngư dân chưa bao giờ bình yên.
Nếu như làng chài Lý Sơn luôn bất an bởi ngư dân luôn bị tàu Trung Quốc đâm chìm, thậm chí xả súng thì làng chài Sa Kỳ, đặc biệt là ngư dân xã Bình Châu lại luôn thấp thỏm bởi lựa chọn chẳng đặng đừng của họ. Đó là đánh bắt trộm hải sâm, vú nàng ở các vùng biển của nước khác.
Hầu hết các gia đình có người bị bắt đều ngại tiếp xúc với người lạ và đóng cửa khi có ai đó bước vào xóm.
Hải sâm, vú nàng là tiếng gọi đầy ma lực mà cũng đầy rủi ro.
Ông Khái, ngư dân xã Bình Châu, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi chia sẻ với VOA:
"Họ lặn bắt hải sâm thì thu nhập lớn lắm. Một ký họ bán được 700 ngàn. Nếu trúng thì một người được vài trăm triệu, ít thì vài chục triệu."
Ông Thương, thợ lặn hải sâm xã Bình Châu, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi cho biết:
"Nhà nước không có ủng hộ gì hết, vì nhà nước mình cũng cấm, nhưng mình qua bên đó mình đi ăn trộm."
Làng chài Bình Châu có ba nhóm đánh bắt cơ bản, nhóm gần bờ, nhóm xa bờ và nhóm bắt trộm hải sâm, vú nàng. Những người không còn đủ sức thì đánh bắt gần bờ, những người không sợ Trung Quốc thì ra ngư trường Hoàng Sa đánh bắt và người muốn đổi đời, liều lĩnh một chút thì đi đánh bắt trộm hải sâm, vú nàng ở vùng biển các nước khác như Papua New Guinea, Philippines, Australia…
"Họ đi lặn hải sâm thì đi hai tháng, ba tháng mới về. Qua tận Pháp, Úc, Papua [New Guinea] mới có," ông Khái nói. "Còn mình làm lưới ở đây, hồi êm ái thì bình thường nhưng hồi mưa gió, nước chảy thì nguy hiểm lắm!"
Những ngư dân đi đánh bắt trộm không nhận được hỗ trợ gì của nhà nước, theo lời ông Thương. "Vì mình trộm bên nước của họ, mình đi làm bên nước họ mà bị bắt thì mình tự bỏ tiền ra mà chuộc về thôi chứ nhà nước không hỗ trợ đâu, bên Hoàng Sa mới có hỗ trợ," ông nói.
Hiện nay tại Việt Nam, giá thành một ký hải sâm tươi là 800.000 đồng, một ký vú nàng là 1,6 triệu đồng. Nhưng để có một ký vú nàng hay hải sâm bán ra thị trường, cái giá phải trả của người thợ lặn trộm không hề nhỏ chút nào.
Nếu không bị các nước chủ quyền vùng biển bắt nhốt, phạt tù thì cũng bị chính công việc giết dần giết mòn bởi lặn ở độ sâu 70 mét, 80 mét dưới đáy biển trong vòng vài giờ và tiếp xúc với khí độc, áp suất cao, nguy cơ hỏng bình hơi và vỡ mạch máu rình rập.
Dường như cái chết có thể đến bất kì lúc nào với người lặn hải sâm, vú nàng.
Ông Hùng, người có nhiều kinh nghiệm và hiểu biết trong nghề thợ lặn, ở Quảng Ngãi nói:
"Đại đa số người đi lặn về là bị [liệt] hết, vì lý do vì sao, vì không có tiền để chữa bệnh, vì ra ngoài biển, lặn sâu quá, độ độc hại quá nhiều. Từ đó dẫn đến việc họ bị bệnh hết, nằm một chỗ."
Vì kế sinh nhai, những người thợ lặn bắt hải sâm bất chấp mọi nguy hiểm tới tính mạng của chính mình. Ông Thương chia sẻ thêm:
"Khổ lắm, đi đây thì không đủ xăng dầu, đi ra Hoàng Sa thì bị Trung Quốc dí. Ở biển mình thì không có hải sâm, vú nàng, vậy nên cứ lén lén vượt ra biển nước ngoài để khai thác lén lút."
Rủi ro nhỏ của người thợ lặn là mất vốn, bị bắt nhốt tù, lao động khổ sai và rủi ro lớn thường là cái chết, mọi sự chấm hết, bỏ lại vợ con, cha mẹ già bơ vơ, lạc lỏng. Như trường hợp cái chết của chồng chị Thúy ở xã Bình Châu là một ví dụ đau lòng.
"Sống ở đây thì không làm biển thì biết làm gì," chị Thúy nói. "Biết ảnh đi lặn thì nguy hiểm đó nhưng biết làm sao. Một bữa trưa em nghe tin bị sự cố bình hơi, ảnh chết. Từ đó gia đình mất đi ảnh, em phải bươn chải qua ngày để nuôi con."
Người ta thường nói rằng nghề biển, đặc biệt là nghề lặn hải sâm, vú nàng là nghề giàu có, xài tiền như lá mít và đôi khi vứt tiền qua cửa sổ. Nhưng người ta cũng nói với nhau rằng sự giàu có của nghề biển và thợ lặn hải sâm, vú nàng ở Việt Nam giống như bọt nước, thoáng chốc đã thấy trắng cả vùng và thoáng chốc tiêu tan.
Và có vẻ như hiếm có nơi nào chúng tôi đến lại im vắng đến lạnh lùng như xóm thợ lặn ở xã Bình Châu, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi.
Nhóm cộng tác viên của VOA

Hết 18 ngàn tỷ, lại đến 18 tỷ

Theo VOA-13/06/2017 Phạm Chí Dũng
Sân bay Tân Sơn Nhất cũng đang quá tải.

Sân bay Tân Sơn Nhất cũng đang quá tải.

Thách thức đầu tiên sau khi dự án sân bay Long Thành được thông qua và triển khai, té ra lại là tiền đâu.
18 ngàn tỷ còn không có, tìm đâu ra $18 tỷ?
Kinh phí giải phóng mặt bằng cho sân bay Long Thành ban đầu dự kiến 18.000 tỷ đồng, nhưng đến giờ số tiền lên đến 23.000 tỷ. So với nhu cầu vốn đặt ra, ngân sách mới đáp ứng được 5.000 tỷ, tức mới được trên 25%, số còn thiếu đến 18.000 tỷ đồng. Mà đó thực ra cũng mới chỉ là con số dự toán sơ khởi…
Bây giờ mới là nỗi tréo ngoe của một nền kinh tế đã quá quen in tiền để bù đắp lạm phát nhưng cũng đồng thời thúc đẩy lạm phát: tiền bạc ngân khố đã trở nên khan hiếm đến mức sẽ là điên loạn nếu cứ trơ mặt phô trương dự toán làm sân bay Long Thành lên đến 18 tỷ USD mà Bộ Giao thông Vận tải “vẽ” ra thời Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng để kịp trình cho Quốc hội “gật sớm”.
Nhưng lại cần nhắc lại câu chuyện Bộ trưởng giao thông vận tải thời đó là Đinh La Thăng - đã từng tuyên bố “sân bay Long Thành là món nợ với nhân dân”.
Tính toán sai thời điểm... vay ODA?
Chẳng hiểu nhân dân đã làm gì nên tội để bị nhóm lợi ích ODA bắt gánh nợ công đến vài ba ngàn USD mỗi đầu người và còn âm mưu chất đống cao hơn, chỉ biết rằng không bao lâu sau một tuyên bố khác “Vì dân và hành động”, ông Thăng đã bị truất phế khỏi chức ủy viên bộ chính trị và cương vị bí thư thành ủy TP.HCM vào năm 2017.
2017 cũng là thời gian mà dự án sân bay Long Thành bắt đầu được triển khai, thậm chí còn bị xem là triển khai quá chậm. Nguyên nhân chính yếu lại thuộc về tài chính.
Trước đây, trong mọi tính toán khôn lanh và khá trót lọt của mình, nhóm lợi ích ODA đã “lobby” được các bộ ngành, lãnh đạo chính phủ và gần hết trong số 500 mái đầu gục gặc nghị sĩ. Nhưng có lẽ vẫn có một li sai lệch mà đã tới thảm cảnh sai lầm chiến lược về tài chính như ngày hôm nay.
Có thể, đó chính là sai lệch trong tính toán về bối cảnh và thời điểm đi vay.
Theo “truyền thống”, các dự án “khủng” như Sân bay Long Thành, Cao tốc đường bộ Bắc - Nam, Điện hạt nhân Ninh Thuận… đều phải đi vay quốc tế tới 80% tổng dự toán. Trong dĩ vãng, đã có nhiều dự án vay ODA đầu xuôi đuôi lọt, “vẽ” được và vay được, làm giàu khủng khiếp cho các nhóm lợi ích, để từ đó những nhân vật này cứ tưởng sẽ mãi “nhân điển hình tiên tiến”.
Thời điểm chốt con số cuối cùng cho dự án sân bay Long Thành là vào cuối năm 2015, tức cuối đời thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Vào lúc đó, những nguồn vốn ODA “gối đầu” từ năm trước và cả năm trước nữa vẫn còn, do vậy nhóm lợi ích ODA không thể tránh khỏi ảo tưởng tình hình vẫn tiếp tục triển vọng vào những năm sau đó.
Nhưng đến tháng 12/2015, Trưởng đại diện Ngân hàng thế giới ở Việt Nam là bà Victoria Kwa Kwa bất ngờ thông báo với Chính phủ Việt Nam là kể từ tháng 7/2017, Việt Nam sẽ không còn được vay vốn ưu đãi nữa. Quả thật, sau đó đã dồn dập tin tức về không chỉ Ngân hàng thế giới mà cả Quỹ tiền tệ quốc tế và Ngân hàng phát triển Á châu đều khẳng định từ tháng 7/2017, Việt Nam sẽ phải vay vốn ODA của quốc tế với mặt bằng lãi suất tăng gấp ba lần trong lúc thời gian ân hạn giảm đi một nửa.
Cánh cửa ODA dành cho các dự án ‘khủng” bỗng dưng sập lại. Một trong những “nạn nhân” đầu tiên là dự án Điện hạt nhân Ninh Thuận với số “vẽ” lên đến 20 tỷ USD, rốt cuộc đã bị Chính phủ của tân thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc “dũng cảm” tuyên bố ngừng thực hiện.
Dự án sân bay Long Thành dĩ nhiên cũng không thoát khỏi số kiếp hẩm hiu…
Ngân sách vô vọng
Kênh ODA đã cám cảnh như thế. Còn ngân sách thì thế nào?
Ngân sách - bầu sữa ngọt ngào thường nuôi dưỡng các nhóm lợi ích vào thời “ăn của dân không chừa thứ gì” và “phá chưa từng có”, đang có nhiều dấu hiệu trở về cảnh trạng hoang tàn như thời “giá - lương - tiền” những năm 1985 - 1986.
Trong cảnh trạng tàn phá đến thế, nhưng bội chi ngân sách năm 2015 và năm 2016 vẫn không hề giảm, thậm chí còn có chiều hướng tăng. Nếu năm 2013 được xem là “đỉnh” của bội chi ngân sách với 6,6% GDP, thì những năm gần đây tỷ lệ bội chi cũng tròm trèm 6% GDP.
Nếu đầu năm 2017, người thay Nguyễn Tấn Dũng là Nguyễn Xuân Phúc bất chợt phải bật lên cảnh báo về “sụp đổ tài khóa quốc gia”, thì đến giữa năm 2017, thậm chí Quốc hội còn phải “đạp lên đầu dân” mà bàn đến chuyện tăng thuế xăng dầu, bắt dân đóng thuế bán hàng qua mạng, thậm chí còn tìm cách thu thuế bằng cách bán… số đẹp.
Vậy thì lấy tiền đâu để trám vào cái lỗ trống toác đến 18 ngàn tỷ dùng cho giải phóng mặt bằng ở dự án sân bay Long Thành? Mà 18 ngàn tỷ đồng còn tìm không ra thì lấy đâu ra 18 tỷ USD - nhiều gấp hai chục lần - để xây dựng “một trong những sân bay hiện đại nhất khu vực Đông Nam Á”?
Nếu không có tiền, tương lai của sân bay Long Thành vẫn chỉ là… bản vẽ. Có chăng năm thì mười họa mới có một đợt xôn xao của giới cò đất để “đánh lên” bất động sản quanh khu vực dự án sân bay này để “lượm bạc cắc”.
Kỳ họp quốc hội tháng 5 - 6 năm 2017 rốt cuộc đã chẳng thể tìm ra phương cách nào để kiếm ra 18 ngàn tỷ đồng còn thiếu, bất chấp vài dấu hiệu rất đáng nghi ngờ của một cuộc vận động nội bộ để “rút rỉa” tiền ngân sách trám vào cái lỗ trống toác kinh phí giải phóng mặt bằng kia.
Ngân sách thời hết tiền. Sân bay Long Thành càng chậm triển khai chừng nào, kẻ lắm thất vọng sẽ không chỉ là là nhóm lợi ích ODA mà cả nhóm lợi ích quân đội.
Ông Lịch và ông Trọng đâu mất rồi?
Đã từ mấy năm qua, một bàn tay bí ẩn và ma quái đã tung ra chiến dịch “dìm hàng” sân bay Tân Sơn Nhất. “Một trong 10 sân bay tệ nhất thế giới”, “sự cố mất điện đe dọa an toàn hàng không”, “quá tải trầm trọng”… là những lý do được một số tờ báo - trong mối quan hệ không khác gì “đi đêm” với nhóm lợi ích quân đội - dồn dập tung hê lên mặt truyền thông, để luôn đi đến “giải pháp” cuối cùng là phải chuyển Tân Sơn Nhất về Long Thành.
Nhưng ở đời tham quá hóa thâm, không phải cái gì muốn đều được. Sau nhiều phản đối dữ dội trên mạng xã hội đối với sân golf Tân Sơn Nhất, không biết vô tình hay hữu ý, kỳ họp quốc hội giữa năm 2017 đã dậy lên con sóng đòi thu hồi sân golf này - có diện tích đến 157 ha do Tập đoàn Him Lam và vài doanh nghiệp mang danh “Bộ Quốc phòng” chiếm dụng của sân bay Tân Sơn Nhất từ hàng chục năm qua, nhất là trong khung cảnh không chỉ nội vi sân bay các ngả đường đường dẫn vào sân bay này đã trở nên kẹt cứng đến mức chỉ biết bay mới thoát.
Kể từ thời bộ trưởng quốc phòng Phùng Quang Thanh với quá nhiều ân huệ “dưới gầm bàn”, chưa bao giờ nhóm lợi ích quân đội phải đối mặt với sức ép công luận sôi sục như hiện nay.
Phản ứng từ nhiều tầng lớp xã hội lại đang kéo theo phản bác của chính giới quân nhân và cựu quân nhân. “Quân ủy trung ương cần có ý kiến” là một yêu cầu của Trung tá Lê Trọng Sành - Nguyên Cục phó Cục tác chiến Quân chủng Phòng không không quân.
“Quân ủy trung ương” ở đây không ai khác là Bí thư quân ủy Nguyễn Phú Trọng và Phó bí thư quân ủy kiêm bộ trưởng quốc phòng Ngô Xuân Lịch - những nhân vật chưa bao giờ dám lộ diện để hồi âm trước đòi hỏi “trả sân golf về sân bay” của công luận.
Chỉ cần sức ép công luận được duy trì đủ mạnh trong một thời gian nữa trong khi sân bay Long Thành vẫn vô vọng nguồn kinh phí giải tỏa và triển khai, không chừng cả hai ông Ngô Xuân Lịch và Nguyễn Phú Trọng sẽ phải ra mặt để xóa đi cái bất công khủng kiếp ấy.

‘Đấu đá hậu trường’ trong vụ khởi tố Đồng Tâm?

Viễn Đông Theo VOA-15/06/2017 
Ông Nguyễn Đức Chung thời còn làm Giám đốc Công an TP Hà Nội năm 2013.
Ông Nguyễn Đức Chung thời còn làm Giám đốc Công an TP Hà Nội năm 2013.
Một số nhà quan sát trong và ngoài nước nhận định rằng có dấu hiệu cho thấy tình trạng “đối đầu” ở hậu trường, trước khi Hà Nội “khởi tố hình sự” người dân Đồng Tâm.
Quyết định bất ngờ, khiến người dân xã ngoại thành Hà Nội “phẫn nộ” hôm 13/6, còn nổi lên thu hút sự quan tâm của dư luận nhất, theo trang tìm kiếm Google, mà nhiều người cho rằng đã “làm chìm” vấn đề sân golf trong sân bay Tân Sơn Nhất lúc đang “nóng bỏng”.
Ông David Brown, một cựu quan chức ngoại giao Mỹ ở Việt Nam, cho VOA Việt Ngữ biết rằng bản thân ông cũng “ngạc nhiên” vì vụ khởi tố, vì “ngày 22/4 [khi Chủ tịch Hà Nội Nguyễn Đức Chung ký vào cam kết “không truy cứu trách nhiệm hình sự”], ông ấy đã đánh cược với danh tiếng của bản thân cũng như uy tín của đảng”.
Bản cam kết của ông Chung hôm 22/4 đã dẫn tới việc hàng chục cảnh sát cơ động được người dân phóng thích.
Bản cam kết của ông Chung hôm 22/4 đã dẫn tới việc hàng chục cảnh sát cơ động được người dân phóng thích.
​“Ông Chung đi lên trong ngành công an và cũng dễ hiểu nếu ông ấy đã bàn chuyện cam kết với người dân Đồng Tâm với các quan chức cấp cao của Bộ Công an cũng như của Đảng Cộng sản”, nhà nghiên cứu chính trường Việt Nam nhiều năm qua này nói.
“Cũng không có gì khó hiểu nếu bước đi táo bạo của ông Chung có thể đã khiến một số người trong Bộ Công an không hài lòng, và chính vì thế, họ tìm cách khôi phục kỷ cương bằng cách điều tra và truy tố các dân làng. Nói tóm lại, vụ khởi tố này là bằng chứng cho thấy một sự đấu đá ở hậu trường”.
"Cũng không có gì khó hiểu nếu bước đi táo bạo của ông Chung có thể đã khiến một số người trong Bộ Công an không hài lòng, và chính vì thế, họ tìm cách khôi phục kỷ cương bằng cách điều tra và truy tố các dân làng. Nói tóm lại, vụ khởi tố này là bằng chứng cho thấy một sự đấu đá ở hậu trường."-Nhà nghiên cứu về Việt Nam David Brown viết.
 VOA Việt Ngữ không thể liên lạc được với Chủ tịch Chung để hỏi phản ứng của ông trước những ý kiến trái chiều của dư luận trong mấy ngày qua.
Dường như cũng đồng tình với quan điểm của nhà ngoại giao Mỹ từng làm việc ở Việt Nam, luật sư Võ An Đôn cho rằng vụ khởi tố này có vẻ cho thấy một sự khác biệt.
Người từng bào chữa cho nhiều người nghèo ở trong nước nói tiếp: “Vụ này người dân không nắm được luật, và hơn nữa, ở Việt Nam, thông thường người ta thấy ông lãnh đạo ở địa phương, chủ tịch hay bí thư chỉ đạo làm sao thì người dân tin thế, vì ở Việt Nam hoạt động của các cơ quan tư pháp đều dưới sự chỉ đạo của đảng nên một người đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan đảng mà chỉ đạo thì đương nhiên các cơ quan khác nghe. Nhưng mà trường hợp này lại khác với các trường hợp thông lệ là, ông chủ tịch thành phố chỉ đạo như thế nhưng các cơ quan tư pháp thì không nghe lời, lại khởi tố vụ án”.
Đại biểu quốc hội Dương Trung Quốc (giữa) đang trao đổi với các đại biểu khác trong bức cảnh chụp năm 2016.
Đại biểu quốc hội Dương Trung Quốc (giữa) đang trao đổi với các đại biểu khác trong bức cảnh chụp năm 2016.
​Trả lời An Tôn của VOA Việt Ngữ khi được hỏi là liệu ông Chung có vấp phải áp lực từ cấp cao hơn hay không trong vụ truy tố, đại biểu quốc hội Dương Trung Quốc, một trong những người ký vào bản cam kết, nói: "Tôi không bình luận về việc này vì tôi không có thông tin nào cả".
Tôi nghĩ rằng cơ quan cảnh sát ở địa bàn xảy ra vụ việc làm theo quy định của pháp luật. Còn sức ép có hay không, tôi không nói, nhưng mà tôi muốn nói rằng việc khởi tố để mà điều tra là việc cần thiết phải làm. Không thể một câu chuyện như thế mà bây giờ mọi người cùng nhau quên đi. Không ai quên được cả. Nếu không cẩn thận nó sẽ trở thành một tiền đề, một cái tiền lệ, rất là nguy hại về lâu dài.-Đại biểu quốc hội Dương Trung Quốc nói.
 "Tôi nghĩ rằng cơ quan cảnh sát ở địa bàn xảy ra vụ việc làm theo quy định của pháp luật. Còn sức ép có hay không, tôi không nói, nhưng mà tôi muốn nói rằng việc khởi tố để mà điều tra là việc cần thiết phải làm. Không thể một câu chuyện như thế mà bây giờ mọi người cùng nhau quên đi. Không ai quên được cả. Nếu không cẩn thận nó sẽ trở thành một tiền đề, một cái tiền lệ, rất là nguy hại về lâu dài", ông Quốc nói.

Nhà lập pháp này nói thêm: "Người ta chờ đợi xem ứng xử của nhà nước, ở một cách rất là nghiêm khắc, nhưng cũng rất là khoan dung, hay nói cho cùng là vì lợi ích lâu dài, lợi ích bền vững. Đấy chính là cái mà mọi người, trong đó có tôi đang chiêm nghiệm và theo dõi nó. Riêng cá nhân tôi, với tư cách là đại biểu quốc hội, tôi sẽ giám sát việc làm này".
Người nhà của ông Lê Đình Kình cho VOA Việt Ngữ biết rằng vị đại diện 82 tuổi của người dân Đồng Tâm này đã gọi điện cho ông Chung sau khi nghe tin về quyết định truy tố của Cơ quan cảnh sát điều tra (Công an Hà Nội) , và được chủ tịch thủ đô của Việt Nam nói rằng bản cam kết chỉ có chữ ký của ông và không có con dấu của chính quyền cũng như quyết định truy tố là của cơ quan pháp luật.
Tin cho hay, ông Chung đã nói với cụ ông Lê Đình Kình rằng bản cam kết không có dấu của chính quyền.
Tin cho hay, ông Chung đã nói với cụ ông Lê Đình Kình rằng bản cam kết không có dấu của chính quyền.
​Một văn bản điều lệ đảng được đăng trên trang web của báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam đề ngày 25/7/2016 viết: “… Đồng chí phó bí thư là chủ tịch ủy ban nhân dân được phân công phụ trách đảng ủy công an địa phương cùng cấp thường xuyên nắm chắc tình hình mọi mặt của cấp ủy công an”.
"Đồng chí phó bí thư là chủ tịch ủy ban nhân dân được phân công phụ trách đảng ủy công an địa phương cùng cấp thường xuyên nắm chắc tình hình mọi mặt của cấp ủy công an..."-Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam có đoạn.
 Ngoài ra, theo điều lệ này, vị trí mà ông Chung hiện nắm giữ “chịu trách nhiệm trước cấp ủy địa phương về hoạt động của cấp ủy công an; tham gia cùng cấp ủy địa phương lãnh đạo kiện toàn cấp ủy công an; trực tiếp tham dự các hội nghị quan trọng của cấp ủy công an để truyền đạt ý kiến chỉ đạo của cấp ủy địa phương đối với cấp ủy công an về những vấn đề có liên quan đến giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội và xây dựng lực lượng công an nhân dân ở địa phương”.

Vụ khởi tố bất chấp “cam kết” của ông Chung đã khiến người dân Đồng Tâm chỉ trích nhà lãnh đạo thành phố Hà Nội là người “lật lọng”. VOA Việt Ngữ muốn hỏi suy nghĩ của người từng làm giám đốc công an của thủ đô Việt Nam về phản ứng này của người dân, nhưng không thể liên lạc được với ông.
"Chúc mừng người dân Đồng Tâm đã được đảng dậy cho ‘sáng mắt, sáng lòng"-Facebooker Stephanie Nong viết.
 Không chỉ chính dân Đồng Tâm mà nhiều độc giả của VOA cũng đưa ra nhiều ý kiến bình luận trái chiều. Một Facebooker tên Stephanie Nong viết: “Chúc mừng người dân Đồng Tâm đã được đảng dậy cho ‘sáng mắt, sáng lòng’”, trong khi một người khác tên Bui Trong Loi viết: “Khởi tố là việc khởi tố còn có khởi tố bị can không mới là vấn đề, mà có khởi tố bị can đi chăng nữa thì mức án nhẹ nhất sẽ đc áp dụng, khởi tố là để răn đe những trường hợp khác chứ, không thì loạn hết…”
Về việc ông Chung cam kết “sẽ hoàn chỉnh kết quả điều tra về việc quản lý và sử dụng đất đai ở Đồng Tâm vào tháng Bảy tới”, nhà nghiên cứu David Brown cho rằng đó là điều “đáng hoan nghênh”.
Cựu quan chức Mỹ từng nhiều năm làm việc ở Việt Nam nhận định rằng “sẽ sớm biết phe nào sẽ thắng thế”.
“Liệu đó có phải cách tiếp cận mới mẻ của ông Chung trong việc quản lý các vấn đề đất đai hay cách tiếp cận mang tính áp chế ‘như thường lệ’ mà nhiều năm qua đã làm tổn hại tới tính chính danh của đảng cầm quyền trong mắt nhiều người dân Việt Nam?”, ông Brown đặt câu hỏi.