Thursday, April 27, 2017

Ông Đinh La Thăng chính thức 'đứt gánh đường chính trị'?

Lê Kiên-27-04-2017 
(VNTB) Ông Đinh La Thăng, Bí thư Thành ủy Tp. Hồ Chí Minh chính thức bị Ban bí thư "đề nghị xem xét kỷ luật" liên quan án trọng án thua lỗ thời kỳ ông nắm quyền tại PVN (giai đoạn 2009 – 2011), theo Thông báo của Ủy ban kiểm tra Trung ương vừa được phát đi sau kỳ họp thứ 14, từ ngày 24 đến 26/4/2017.


Cụ thể, ông Đinh La Thăng phải chịu trách nhiệm khi ký ban hành Nghị quyết 233/NQ-ĐU có nội dung không phù hợp với quy định pháp luật để HĐTV, dẫn đến quyết định chỉ định nhiều gói thầu trái pháp luật; tham mưu, đề xuất Thủ tướng Chính phủ cho chỉ định nhiều gói thầu không bảo đảm các điều kiện theo quy định của pháp luật; chịu trách nhiệm trong việc HĐTV ban hành Nghị quyết số 4266/NQ-DKVN góp vốn vượt mức quy định vào OceanBank, theo báo Tuổi Trẻ đưa tin chiều ngày 27/04

Về mức độ kỷ luật, theo tin từ blogger Lê Nguyễn Hương Trà cập nhật chiều 27/4 trên facebook cá nhân, thì Ban Bí thư đã quyết định cảnh cáo đối với ông Đinh La Thăng. Đây cũng có thể xem là mức nặng, buộc ông Đinh La Thăng sẽ phải rời chức vụ hiện tại. Và theo blogger này, "động thái này mới chỉ là bước đầu, cho các vụ khởi tố mà ảnh có dính líu và các trách nhiệm liên quan sau này".

Liên quan đến câu hỏi, ai sẽ về ngồi ghế Bí thư Thành ủy TP. Hồ Chí Minh, nhiều nguồn tin đồn đoán cho biết, suất ghế này sẽ do ông Tô Lâm (hiện giữ chức vụ Bộ Trưởng Bộ Công An) nắm. Thay thế ông Lâm giữ chức vụ bên Bộ Công An là ông Phạm Minh Chính (hiện đang giữ chức vụ Trưởng Ban Tổ chức Trung ương Đảng). Chức vụ Trưởng ban Tổ chức Trung ương Đảng sẽ do bà Tòng Thị Phóng (hiện giữ chức vụ Phó Chủ tịch Quốc hội) nắm giữ. Nếu điều này xảy ra, ông Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng sẽ thực sự là người nắm quyền lực lớn nhất trong Bộ chính trị.

Trước đó, vào ngày 17/04, ông Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chủ trì cuộc họp Thường trực Ban Chỉ đạo T.Ư về phòng, chống tham nhũng chỉ đạo phải tập trung lực lượng điều tra mở rộng vụ án xảy ra tại Tổng công ty cổ phần Xây lắp dầu khí Việt Nam (PVC); truy bắt, dẫn độ Trịnh Xuân Thanh về nước phục vụ điều tra, xử lý vụ án.

PVC, doanh nghiệp liên đới trực tiếp đến ông Trịnh Xuân Thanh và ông Đinh La Thăng là một trong những doanh nghiệp nhà nước thua lỗ hơn 3.400 tỷ. Theo nhà báo tự do Huy Đức, dù thế, đây "chỉ là một cái 'đinh' trong tập đoàn của anh La Thăng - Tư lệnh tiên phong thực hiện chủ trương tập đoàn kinh doanh đa ngành của thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng".'
Tính đến nay, trong lịch sử vận hành chính trị Việt Nam hiện nay, từng có những Ủy viên Bộ Chính trị - ĐCSVN bị truất phế như: Trần Xuân Bách (Ủy viên Bộ chính trị, Bí thư Trung ương Đảng), Nguyễn Hà Phan (Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Chủ tịch Quốc hội), Hoàng Văn Hoan (Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Chủ tịch Quốc Hội).

Hết thời ‘đổ vỏ’: Tạm dừng bảo lãnh Chính phủ cho các khoản vay trong và ngoài nước

Thiền Lâm-27-04-2017

(VNTB) - Lại vừa xuất hiện thêm một dấu hiệu cho thấy tâm thế của Thủ tướng Phúc đang cố gắng tránh thoát tối đa cơ chế “đổ vỏ” cho đời những kẻ “ăn ốc” trước đây.

  
 'Kẻ ăn ốc, người đổ vỏ'

Chương trình quản lý nợ trung hạn giai đoạn 2016-2018 với mục tiêu nợ công (bao gồm nợ Chính phủ, nợ được Chính phủ bảo lãnh và nợ chính quyền địa phương) vừa được ông Phúc phê duyệt vào cuối tháng 4/2017 đã tạm dừng toàn bộ việc cấp mới bảo lãnh Chính phủ cho các khoản vay trong và ngoài nước. Điều đó có nghĩa là Chính phủ sẽ không còn chịu trách nhiệm gì về những khoản nợ vay của các doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhà nước, cho dù là vay từ các ngân hàng thương mại cổ phần trong nước.

Cần nhắc lại, vào đầu tháng 3/2017, Cục Quản lý nợ và tài chính đối ngoại (Bộ Tài Chính) đã phát ra thông tin Chính phủ chỉ bảo lãnh vay 1 tỷ USD cho doanh nghiệp trong năm 2017.

Mức bảo lãnh chỉ có 1 tỷ USD trên là giảm mạnh so với những năm trước (năm 2015 là 2,5 tỉ USD và 2016 là 1,5 tỉ USD), và giảm rất mạnh so với mức 6,6 tỷ USD của năm 2014.

Những năm trước, hiện tượng nhiều tập đoàn và doanh nghiệp nhà nước vay nợ tràn lan, đã cho thấy tâm lý vay là cực kỳ vô trách nhiệm. Và thậm chí một số doanh nghiệp còn có biểu hiện “xù nợ” khi làm ăn lỗ lã.

Có đến ít nhất 30% số tập đoàn và doanh nghiệp nhà nước đã rơi vào vòng lỗ lã, và đối mặt với nguy cơ phá sản kể từ năm 2008, khi kinh tế Việt Nam bắt đầu rơi vào giai đoạn suy thoái. Con số mới nhất từ một nhà nghiên cứu độc lập là Tiến sĩ Vũ Quang Việt – cựu vụ trưởng vụ Thống kê Liên hiệp quốc – cho biết các tập đoàn và doanh nghiệp nhà nước đang gánh một khoản nợ công lên đến 231 tỷ USD – vượt hơn rất nhiều số “dự tính” khoảng 25 tỷ USD do một số cơ quan nghiên cứu của chính quyền Việt Nam đưa ra.

Chỉ riêng năm 2016, một số dự án “khủng” như Dự án Đường sắt cao tốc Bắc Nam (ước toán đầu tư đến hơn 50 tỷ USD), Dự án Đường bộ cao tốc Bắc – Nam (hơn 10 tỷ USD), Dự án Điện hạt nhân Ninh Thuận (20 tỷ USD) đã bị Chính phủ và Quốc hội “dũng cảm” đình hoãn vô thời hạn, nhưng ai cũng hiểu lý do thực chất là… hết tiền. Ngay cả dự án xây dựng sân bay Long Thành có ước toán đầu tư đến 15 tỷ USD (khoảng 60- 80% là vay ODA) cũng chưa biết làm cách nào để “xoay” ra tiền…

Đầu năm 2017, chính phủ còn tuyên bố thẳng thừng sẽ không đưa nợ vay nước ngoài của các tập đoàn và doanh nghiệp nhà nước vào khái niệm nợ công, nằm trong Luật về Nợ công (đang dự thảo sửa đổi). Điều này đồng nghĩa với việc chính phủ từ chối trả thay nợ vay nước ngoài cho doanh nghiệp, và hẳn sẽ có nhiều doanh nghiệp nhà nước phải phá sản.

Nợ trả nước ngoài chưa bao giờ phi mã như hiện thời!

Vào năm 2015, thủ tướng lúc đó là Nguyễn Tấn Dũng cho biết Việt Nam phải trả nợ đến 20 tỷ USD. Còn vào năm 2016, người “may mắn” thế chỗ cho ông Dũng là Nguyễn Xuân Phúc cho biết Việt Nam phải trả 12 tỷ USD.

Nguyễn Xuân Phúc lại là đời thủ tướng “cực hình” nhất trong lịch sử tồn tại của đảng Cộng sản Việt Nam. Trả nợ nhiều nhất, kinh tế be bét nhất, xã hội hỗn tạp nhất, chính trị “tan nát” nhất… Nhưng phải sau nửa năm kế thừa chức thủ tướng từ Nguyễn Tấn Dũng, ông Phúc mới nhận ra được cảnh nạn đó để chính ông phải than “Nợ công nếu tính đủ thì đã vượt trần” và cảnh báo về nguy cơ “sụp đổ tài khóa quốc gia”.


Còn bây giờ, hẳn nhiên ông Phúc không hề mong muốn mình phải trở thành nạn nhân “đổ vỏ” cho quá nhiều hậu quả gầy dựng bởi đời thủ tướng trước.  

Vụ Đồng Tâm: Khi báo chí tự cách… mạng

Theo VOA-27/04/2017 
Một cảnh sát cúi lạy dân Đồng Tâm sau khi được thả ngày 22 tháng Tư. (Hình: REUTERS/Kham)

Trân Văn
Tuy vụ nổi loạn ở xã Đồng Tâm, huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội đã kết thúc nhưng dư luận vẫn chưa lắng. Điểm đặc biệt là lần này, sau sự kiện Đồng Tâm, mũi dùi của dư luận xoáy vào báo chí sâu hơn là đâm vào hệ thống công quyền.

Cố che nhưng chắn lộn… chiều

Sự kiện Đồng Tâm (dân rào làng, cầm giữ 38 cá nhân bao gồm cảnh sát cơ động, công an và viên chức địa phương làm con tin, đòi thả năm người bị bắt giữ trái phép, đối thoại công khai về chuyện cưỡng chế, thu hồi đất vô lý) xảy ra sáng 15 tháng 4.
Suốt từ đó cho đến cuối ngày 16 tháng 4, chỉ có các facebooker cung cấp cho công chúng thông tin và hình ảnh về cuộc nổi loạn. Hệ thống truyền thông chính thống làm như không biết.
Hệ thống truyền thông chính thống chỉ lên tiếng sau khi Sở Thông tin – Truyền thông thành phố Hà Nội xác nhận, tại xã Đồng Tâm có một vụ “gây rối trật tự công cộng”, dân chúng xã Đồng Tâm đang “giam giữ trái pháp luật” cả cảnh sát cơ động, công an lẫn một số viên chức.
Những ngày sau đó, thông tin về sự kiện Đồng Tâm trên hệ thống truyền thông chính thống chủ yếu vẫn là những “thông tin chính thức” từ Ban Tuyên giáo Thành ủy Hà Nội, Công an thành phố Hà Nội và… Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Việt Nam.
Nhiều cơ quan truyền thông đã cử phóng viên đến Đồng Tâm nhưng các nhà báo có thẻ hành nghề không được dân chúng Đồng Tâm hoan nghênh. Ở thời điểm là “đỉnh” của sự kiện Đồng Tâm (hệ thống công quyền chưa trả tự do cho bốn người bị công an bắt giữ nên dân chúng xã Đồng Tâm chưa phóng thích con tin nào), chỉ có phóng viên của VnExpress và Tuổi Trẻ được phép vào bên trong “khu vực tử thủ” dưới sự giám sát nghiêm ngặt của những người nổi loạn.
Đối thoại ở thôn Hoành” của Bảo Hà – VnExpress và tâm sự của Duy Hoàng – một trong ba tác giả “Vào ‘tâm bão’ ở Đồng Tâm” mà tờ Tuổi Trẻ “tự ý đục bỏ” sau khi đưa lên Internet chừng 30 phút – trên trang facebook cá nhân cho thấy, tuy trước giờ, báo chí vẫn được ví von như “quyền lực thứ tư” nhưng tại Việt Nam, “dưới sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Đảng”, ngay cả “quyền lực thứ tư” cũng không thuộc về nhân dân. Trong mắt dân chúng, “quyền lực thứ tư” chỉ là một thứ “quyền rơm”, thành ra dân Đồng Tâm không tin mà cũng chẳng có ý định “cậy” vào đó.
Đáng chú ý là trong khi nhiều cơ quan truyền thông trong hệ thống truyền thông chính thống ý thức rất rõ về thân phận của mình, khép nép đứng bên lề sự kiện thì có vài cơ quan truyền thông đột nhiên nhập cuộc, sắm vai “xung kích”. Dẫn đầu nhóm thiểu số này là tờ Pháp Luật TP.HCM và Hà Nội Mới.
Giữa lúc nhiều người, nhiều giới, kể cả báo giới kêu gọi hệ thống công quyền nên “đối thoại” với dân chúng xã Đồng Tâm nhằm giải quyết khủng hoảng một cách ôn hòa, không gây đổ máu, khiến hậu quả trở thành khó lường thì ngày 21 tháng 4, tờ Pháp Luật TP.HCM, cảnh cáo những người nổi loạn bằng bài: “Đồng Tâm, mọi việc đều có giới hạn của nó”. Tờ Pháp Luật TP.HCM nhấn mạnh, việc dân chúng xã Đồng Tâm đòi hỏi ông Nguyễn Đức Chung, Chủ tịch thành phố Hà Nội, phải đến xã Đồng Tâm là vô lối vì dân chúng xã Đồng Tâm “có lỗi”. Chuyện dân chúng xã Đồng Tâm cầm giữ con tin được tờ Pháp Luật TP.HCM khẳng định là “hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng”, có thể bị phạt tù đến 15 năm. Tờ Pháp Luật TP.HCM còn cảnh cáo: “Sự thông cảm của bên ngoài dành cho người dân Đồng Tâm đang suy giảm dần”.
Rất dễ hiểu là tại sao tờ Hà Nội Mới – cơ quan ngôn luận của Thành ủy Hà Nội – lập tức đăng lại “Đồng Tâm, mọi việc đều có giới hạn của nó” của tờ Pháp Luật TP.HCM. Trước ngày 21 tháng 4, Hà Nội Mới hoàn toàn lẻ loi khi đơn phương lên án các chuyên gia, luật sư và những cá nhân kêu gọi “đối thoại” bằng bài “Lật mặt những luận điệu sai trái lợi dụng sự việc xảy ra ở xã Đồng Tâm, huyện Mỹ Đức.
Không may cho cả tờ Pháp Luật TP.HCM lẫn Hà Nội Mới là ngay ngày hôm sau – 22 tháng 4 - Chủ tịch thành phố Hà Nội về tận Đồng Tâm, tự tay viết một văn tự với ba cam kết: Trực tiếp giám sát cuộc thanh tra việc quản lý và sử dụng đất tại xã Đồng Tâm, bảo đảm đúng với “sự thật khách quan” và “đúng pháp luật”, xác định rạch ròi đâu là “đất nông nghiệp”, đâu là “đất quốc phòng”. Không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với toàn thể dân chúng xã Đồng Tâm. Chỉ đạo điều tra việc bắt và gây thương tích cho cụ Lê Đình Kình, xử lý theo đúng qui định pháp luật.
Bị hớ, Pháp Luật TP.HCM vội vàng đục bỏ “Đồng Tâm, mọi việc đều có giới hạn của nó”.
Có một điểm cần lưu ý là trước khi đục bỏ “Đồng Tâm, mọi việc đều có giới hạn của nó”, tờ Pháp Luật TP.HCM đã từng đục bỏ “Ông Nguyễn Đức Chung đợi dân Đồng Tâm đến đối thoại” – tường thuật chuyện ông Chung thất bại trong việc “vời” dân đến trụ sở huyện Mỹ Đức chiều 20 tháng 4.
Thử so “Ông Nguyễn Đức Chung đợi dân Đồng Tâm đến đối thoại” với “Đồng Tâm, mọi việc đều có giới hạn của nó” để lý giải tại sao tờ Pháp Luật TP.HCM thiếu “nhất quán” ắt sẽ thấy, “Ông Nguyễn Đức Chung đợi dân Đồng Tâm đến đối thọai” sẽ làm giảm… điểm “kiên định” của tờ Pháp Luật TP.HCM.
Còn nếu chấm điểm “kiên định” trong sự kiện Đồng Tâm thì tờ Pháp Luật TP.HCM và Hà Nội Mới qua mặt cả Nhân Dân – cơ quan ngôn luận của Ban Chấp hành Trung ương Đảng CSVN. Nhân Dân không hề có dòng nào về sự kiện Đồng Tâm.

Lập trường là chuyện không nên… “đăng ký”

Quyết định và cách hành xử của ông Nguyễn Đức Chung, Chủ tịch thành phố Hà Nội trong sự kiện Đồng Tâm được xem là “chưa từng có” khi hệ thống công quyền được đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng CSVN giải quyết các vụ đối kháng. Tại sao thì quyết định và cách hành xử này đã, đang, cũng như sẽ còn được bàn.
Cũng bởi “chưa từng có”, quyết định và cách hành xử của ông Chung đã làm một số cá nhân và nhiều cơ quan truyền thông lỡ… bộ vì đoán định sai hướng gió. Cuối cùng phải trân mình lãnh búa rìu dư luận.
Facebooker Trần Đình Triển gọi “Lật mặt những luận điệu sai trái lợi dụng sự việc xảy ra ở xã Đồng Tâm, huyện Mỹ Đức” trên Hà Nội Mới là “phản động”. Ông Triển khẳng định, Hồng Đức – tác giả bài viết vừa kể “dốt nát”, toan bênh hệ thống công quyền nhưng lại “vạch áo cho người xem lưng”: Hồng Đức tiết lộ, chính phủ chỉ cấp cho Bộ Quốc phòng 206 héc ta nhưng thực tế đo đạc là 236,7 héc ta, chênh lệch là 30,7 héc ta. Ông Triển chất vấn, tại sao không trả lại cho dân mà đổ lỗi cho “kỹ thuật đo đạc”, khẳng định dân “lấn chiếm”? Thu hồi đất làm sân bay nhưng không làm mà để hoang trong khi dân không có đất trồng trọt là đúng hay sai?
Tương tự, facebooker Bao Trung Nguyen – từng là một nhà báo, nhận định “Hiển hố hàng. “Hiển” trong status của facebooker Bao Trung Nguyen là ông Nguyễn Đức Hiển – Tổng Thư ký Tòa soạn báo Pháp Luật TP.HCM.
Ông Nguyễn Đức Hiển cũng là một facebooker. Những ý kiến, thông tin, hình ảnh dựa vào các hoạt động của tờ Pháp Luật TP.HCM mà ông Hiển thường xuyên chia sẻ trên facebook tạo ra cảm giác ông là một nhà báo lớn, vừa chuyên đi dạy thiên hạ (cả ở trong lẫn ngoài Việt Nam) làm báo, vừa đủ kiến thức lẫn kỹ năng xử lý khủng hoảng truyền thông. Tuy nhiên trong sự kiện Đồng Tâm, ông Hiển đã tạo ra một cuộc khủng hoảng mà ông không xử lý được vì nó sai hoàn toàn so với thực tế.
Sau khi một facebooker bày tỏ sự băn khoăn về nhận định của ông Hiển: “Tốt nhất người dân nên thả người. Việc đối xử tốt với con tin như cho ăn uống là tình tiết giảm nhẹ khi định khung hình phạt chứ không thể thay đổi dấu hiệu định tội của hành vi bắt giữ người trái pháp luật”, ông Hiển tuyên bố: “Chú tin anh đi, ít lắm cũng có chục chú nhân danh nhân dân đi tù!”.
Bất bình với giọng điệu của ông Hiển, facebooker Bao Trung Nguyen nhắc nhở: “Hiển tưởng làm vậy là được lòng nhà cầm quyền ư? Hiển nhầm to. Hiển cũng đừng rêu rao cái giọng điệu ‘lý tính’ với "thượng tôn pháp luật. Hiển bịp bợm”. … Theo facebooker Bao Trung Nguyen, nếu ông Hiển muốn dẫn dắt tờ Pháp Luật TP.HCM đi theo tinh thần “thượng tôn pháp luật” thật sự thì việc đầu tiên phải chỉ rõ và phân tích là hành vi bắt người trái pháp luật và gây thương tích đối với ông cụ Lê Đình Kình - nguyên nhân dẫn đến cơ sự. Facebooker Bao Trung Nguyen cho rằng: “Hiển đại diện cho sự láu cá, khôn vặt chứ không phải người thông minh khi hết lần này đến lần khác nhảy ra múa may dưới bệ rồng”.
Faacebooker Nguyen Binh Nguyen – cũng đã từng làm báo thì viết: “Đề nghị đưa nhà báo Đức Hiển ra Thôn Hoành với những bài viết bốc mùi trên tay và phân tích, giảng dạy cho bà con về ‘tinh thần thượng tôn pháp luật’. Tôi xin tài trợ chuyến đi này - không có vé khứ hồi”.
Trong trận bão dư luận xoay quanh sự kiện Đồng Tâm, ngoài yếu tố tâm bão xoáy vào một số cá nhân và cơ quan truyền thông “kiên định” với lập trường phải sử dụng “bạo lực cách mạng”, một điểm đáng chú ý khác là những mũi nhọn nhất đến từ các facebooker đã từng làm báo tại Việt Nam.
Facebooker Bạch Hoàn phẫn nộ khi báo chí im lặng lúc người dân Đồng Tâm được thông báo đi cắm mốc phân ranh rồi bị bắt, sau đó tiếp tục im lặng khi cảnh sát cơ động được điều tới để đàn áp và vì vậy mà bị dân bắt giữ, lúc lên tiếng thì chỉ đề cập đến việc các nạn dân vi phạm pháp luật nghiêm trọng, gây rối trật tự công cộng, cản trở người thi hành công vụ, lấn chiếm đất quốc phòng, vẽ ra một bức tranh xấu xí, đáng sợ về những người dân hung dữ… Cô hỏi những người từng là đồng nghiệp của mình rằng, khi làm ngơ trước nỗi đau của dân chúng, quay lưng lại với sự thật, đạp lên công lý thì họ có cảm thấy thấy run sợ hay không? Nuôi vợ, nuôi con bằng viết những bài viết vấy máu thì họ có thấy tanh tưởi không?
Facebooker Bạch Hoàn đề nghị, nếu không thể lên tiếng hai chiều một cách tử tế thì nên im lặng, đừng sẵn sàng đổ mực vào mặt nhân dân như không ít tờ báo, nhà báo vừa làm. Nếu là người tử tế, khi bị chỉ đạo viết những phóng sự, đọc những thông tin trái với luân thường đạo lý thì phải từ chối. Từ chối là quyền của người cầm bút.
Bạch Hoàn nói thêm, cô không nhắm vào toàn bộ báo giới, bởi làng báo còn nhiều người làm báo tử tế.
Facebooker Bạch Hoàn tin và khẳng định điều đó nhưng lúc nào thì các cơ quan truyền thông chính thống ở Việt Nam mới thôi “kiên trì”, “kiên định” với việc chỉ bám theo một bên và cùng nhau ngắc ngoải bởi hệ thống công quyền nuôi không nổi, còn dân chúng thì không bận tâm?

Thiên Hạ Luận

‘Rau răm ở lại’

Theo VOA-27/04/2017
Sài Gòn, những ngày cuối tháng Tư, 1975.

Thục Trâm
Trật giuộc giờ giấc năm lần bảy lượt, cuối cùng tôi cũng gọi được qua mạng cho người chú ruột ở Việt Nam.
Vẫn giữ liên lạc qua thư từ hay qua trung gian là mẹ tôi. Tôi cũng hay gửi hình gia đình cho chú, nhưng chú chỉ toàn gửi cho tôi những tấm ảnh cũ của nhà nội, trong ảnh bà tôi còn trẻ hơn tôi hiện tại.
Đây là lần đầu tiên sau mấy chục năm tôi mới nhìn thấy chú. Trên màn hình webcam là một ông già ngoài sáu mươi, khuôn mặt đậm nét khắc khổ của dân lao động tỉnh lẻ. Chỉ có cặp kính vuông và hàm răng vẫn trắng đều tăm tắp là còn lưu lại dấu tích của một thời thanh niên tuấn tú.
Cô tôi nhìn ghé vào màn hình: "Con thấy chú giống ba không? Buồn quá hả?" "Dạ giống, nhưng chú đẹp hơn ba con chớ." Cô chú cười xòa. Còn tôi thốt nhiên nhớ lại một lần sum họp đại gia đình chắc cũng gần 40 năm trước. Nội tôi cười thắm đỏ môi trầu, mắng yêu hai đứa con trai: "Hai thằng giống nhau in hệt, má nhìn còn lộn." Tôi không dám trả lời bà nội, mà đu cổ rỉ tai ba: "Chú đẹp trai hơn ba chớ bộ."
Ngày đó chú tôi chưa tới ba mươi, cao hơn mét bảy, tóc dợn sóng bồng bềnh, đeo cặp kính cận gọng vuông đen trên khuôn mặt chữ điền, nước da trắng hồng, nụ cười tỏa nắng. Chú đẹp thanh lịch, trí thức, nhất là không có vẻ gì là mới ra trại cải tạo chưa lâu.
Nội tôi vốn mua may bán đắt từ trước 1975, có tiền dành dụm hối lộ chính quyền nên chú được ra trại sớm hơn bè bạn đồng liêu cùng cấp bậc. Cả nhà hí hửng mừng vui. Ai lường được chuyện họa phúc tái ông thất mã, khi chương trình xuất cảnh HO tiến hành, thì chú lọt sổ vì thời hạn cải tạo còn thiếu mấy tuần.
Chú tôi là người từng nuôi nhiều mộng lớn. Ba tôi kể hồi xưa chú học giỏi, nhưng lại chọn đường binh nghiệp. Thời thế đổi thay, ra trại cải tạo, chú tính chuyện đi Mỹ, rất lâu trước khi cánh cửa HO mở ra cho chúng bạn và đóng lại với chú. Giàu út ăn, tiền bạc của nội tiếp tục đổ vào nhiều chuyến vượt biên không thành của chú. Cũng như bao nhiêu người ra trại, lý lịch tỳ vết, không có đường tiếp tục học vấn hay làm những công việc chính qui, chú học lấy một cái nghề chân tay là hớt tóc. Rồi từ đó sống ẩn nhẫn mưu sinh đồng thời mưu sự vượt biên.
Chú ăn nên làm ra với cái nghề mọn. Ai lại không nảy sinh hảo cảm với một anh thợ cạo đẹp trai phong độ như thế. Trong số đó hẳn phải thấp thoáng những bóng hồng. Nhưng chú chẳng mặn mà với chuyện lứa đôi. Nhiều lần ba tôi giục, chú nói: em tính chuyện "đi" nên không muốn ràng buộc. Tới khi giấc mộng viễn du tàn lụi, chú lại thoái thác: cảnh nhà đơn chiếc. Khó út chịu, chú trở thành trụ cột gia đình nuôi nội và hai người cô bệnh trầm kha. Mẹ tôi vốn có một sở thích không giống ai là làm mai, đã mấy lần giới thiệu chú với cô cháu này cô em kia. Nhưng rốt cuộc các cô đều rút lui khi thấy gánh nặng làm dâu út nhà nội.
Thấm thoát đã hơn 30 năm chú miệt mài với tông đơ kềm kéo. Cái nghề tưởng sống tạm chờ thời lại thành cái nghiệp cả đời đeo đẳng. Thời kinh tế mở cửa, du lịch Châu Đốc phát triển, chú làm ăn phát đạt lắm. Chú nói được tiếng Anh, du khách ngoại quốc đi lễ bà chúa xứ kéo đến chú nườm nượp. Nhà rộng, chú tranh thủ cho Tây ba lô thuê phòng. Không dư dả hơn ai nhưng nuôi bốn miệng ăn thong thả.
Bây giờ thì nội và một người cô đã mất, chú chỉ còn một người để cưu mang. Ban ngày hớt tóc, tối về mày mò vi tính, gọi cho bè bạn đồng ngũ năm xưa, coi tuyết rơi, coi hoa nở ở Virginia, đi Mỹ qua màn ảnh webcam.
- Thiệt chú không ngờ có ngày dùng được máy móc kỹ thuật tân tiến như vầy gọi cho con.
- Nhất chú rồi. Bạn bè con có đứa dạy đại học ở Sài Gòn còn chưa sắm được laptop.
- Ờ, chú ham quá nên ráng mua. Về mượn sách vở tự học. Chỗ nào bí thì hỏi mấy em trẻ trẻ tới hớt tóc. Chú không có nhiều thời gian vọc máy. Ban ngày bận mưu sinh, tối lo ngủ sớm để giữ sức khỏe mai đi làm tiếp. Tuổi lớn rồi mà con. Chú chỉ xài máy một hai tiếng mỗi ngày.
- Sinh thời ba con hay nói chú rất ham tìm tòi học hỏi.
- Ờ. Nhiều người không hiểu, nói chú hớt tóc mà bày đặt đua đòi. Họ đâu biết mình sa cơ thất thế mới làm nghề này. Tư chất mình đâu phải vậy.
- Sao chú không lập gia đình? Con biết chú sẽ nói chú già rồi. Nhưng con ở Mỹ, quen thấy người ta yêu không có tuổi.
- Bỏ chuyện đó đi con. Cứ nghĩ số phận mình như vậy để khỏi buồn về những điều không như ý.
Tôi cố lôi ra trong ký ức mù xa hình ảnh chiếc ghế hớt tóc của chú trong hàng hiên nhà nội. Anh thợ cạo trẻ đẹp lúc nào cũng âu phục chỉnh tề làm bừng sáng ngời ngời ngôi nhà cổ kính. Không biết chú có sửa sang nâng cấp gì không, hay vẫn là một cái ghế trụi lủi dưới bóng cây, mà tôi không còn nhớ nổi là cây gì. Bây giờ thì người và nhà cũ kỹ như nhau. Không biết bác thợ cạo già có ăn bận tươm tất, hay cứ may ô quần đùi như hình ảnh tôi đang nhìn thấy trên webcam đây?
Ờ thì số phận. Trong số phận chung của miền Nam có biết bao số phận riêng của mỗi con người. Trong câu chuyện lịch sử vẫn được ôn đi ôn lại suốt hơn 40 năm qua từ hai góc nhìn đối lập có câu chuyện riêng của mỗi một gia đình. Nhìn ông chú, tôi lan man nhớ tới ông dượng, chồng người dì ruột, nguyên là bác sĩ quân y mang cấp bậc Đại Úy Dù. Nhớ những cây lược, những chiếc vòng đeo tay được tiện từ nhôm phế liệu bằng bàn tay khéo léo của một bác sĩ phẫu thuật chiến trường đang lao động cải tạo. Những món quà đặc biệt đó đến giờ tôi vẫn còn giữ. Còn dượng tôi sau khi ra trại, may mắn quay lại nghề Y được mấy năm thì mất vì tai nạn giao thông. Năm đó dượng mới ngoài bốn mươi, và chưa có những chương trình xuất cảnh.
À ơi... Gió đưa cây cải về trời.
Rau răm ở lại chịu đời đắng cay...

Tháng 4: Tháng Tang

VOA Tiếng Việt/27/04/2017 
Một người lính Thủy quân Lục chiến VNCH mang xác một đồng đội.

Những người Việt tại Hoa Kỳ từng phục vụ cho chính quyền Sài Gòn rất đau lòng mỗi khi nhắc đến ngày 30/4. Họ gọi đó là ngày Quốc hận, và xem tháng Tư là tháng Tư Đen hay Tháng Tang.
Ông Phạm Ngọc Cửu, thành viên của Cộng đồng Người Việt Quốc gia Liên bang Hoa Kỳ tại Florida, cựu phó tỉnh trưởng tỉnh Bình Thuận, năm nay 76 tuổi, nói với VOA Việt ngữ rằng tháng Tư là tháng Tang:
“Đối với tôi trong 42 năm, tháng Tư là tháng tang. Trừ dịp các đoàn thể có chương trình kỷ niệm gì đó thì tôi tới thôi, còn ngoài ra những gì vui chơi là tôi không bao giờ nghĩ tới, mà tôi nghĩ tới những người anh em, đồng đội, những người cùng chiến đấu đã mất.”
Ông Phạm Ngọc Cửu từng phục vụ tại Tòa Hành Chánh Bình Thuận từ 1967, chức vụ cuối cùng là Phó Tỉnh trưởng tỉnh Bình Thuận mà ông đảm nhận từ năm 1971- đến ngày 18/4/1975.

Sau ngày 1-5-1975, ông Phan Ngọc Cửu bị ở tù 13 năm, bị chuyển qua các trại tù từ Nam ra Bắc, rồi từ Bắc vào Nam, trong đó có 6 tháng bị biệt giam và cùm chân tay trong xà lim ở nhà tù Thanh Hóa. Tháng 2/1988, ông được phóng thích và đến Mỹ vào tháng 6/1991, sau 17 năm mới đoàn tụ gia đình tại thành phố Orlando. Ông còn là Hội Trưởng Hội Tương trợ Cựu Chiến Binh Bình Thuận Hải ngoại và tích cực tham gia các hoạt động cộng đồng tại Florida.
Cũng như ông Cửu, ông Phạm Trần Anh ở California cũng rất đau buồn vì quá nhiều đồng đội đã ngã xuống trong biến cố 30/4/1975.
“Nói và nghĩ về ngày 30/4: đó là một sự kiện lịch sử. Cái mà gọi là thống nhất, thực tế là cuộc xâm lăng. Thống nhất mà lòng người phân tán và hàng trăm ngàn người đã hy sinh chính tính mạng của họ để đổi lấy ý tưởng tự do. Đây là cuộc bỏ thân, bỏ phiếu bằng thân vĩ đại nhất trong lịch sử và 5 vị tướng đã tuẫn tiết, và trăm hàng ngàn sĩ quan đã hy sinh vào ngày 30/4.”
Ông Phạm Trần Anh còn gọi ngày 30/4/1975 là “Ngày Quốc hận” tháng Tư là “tháng Tư Đen”, sau khi Bắc Việt “xé bỏ hiệp ước Paris 27-1-1973 đem quân xâm chiếm miền Nam Việt Nam.”
Trong một bài viết về chiến tranh Việt Nam, sử gia Phạm Trần Anh cho rằng Chiến tranh Việt Nam không phải là giành độc lập dân tộc như nó từng được rao truyền, mà đã trở thành cuộc chiến tranh ý thức hệ giữa 2 hệ thống tư tưởng: Chủ nghĩa Cộng sản và chủ nghĩa Tư Bản của thế giới tự do.
Sử gia Phạm Trần Anh từng là Giám đốc Học viện Hành chánh Quốc gia Sài gòn. Ông còn là nhà văn, nhà biên khảo. Sau ngày 30/4/ 1975, ông thành lập Mặt Trận Tự Do Người Việt Diệt Cộng Cứu Quốc.
Ông Phạm Trần Anh, năm nay 72 tuổi, bị bắt năm 1977 và bị xử án tù chung thân vì tội hoạt động lật đổ chính quyền. Ông được trả tự do vào ngày 3/8/1997 nhờ sự can thiệp của Hội Ân xá Quốc tế, sau hơn 20 năm trải qua các nhà tù ở Việt Nam trong đó có 9 năm bị cùm chân tay trong xà lim biệt giam.

Sang Mỹ vào tháng 9/ 2006, ông Phạm Trần Anh dành mọi nỗ lực vào việc viết sách, nhất là truy tìm nguồn gốc dân tộc Việt Nam với các tác phẩm như: Cội nguồn Việt Tộc, Huyền Tích Việt, Quốc Tổ Hùng Vương, Việt Nam Thời Lập Quốc và năm 2016 xuất bản sách Đế Quốc Mới Trung Cộng.
Cũng như ông Phạm Trần Anh, ông Phạm Ngọc Cửu dành hết thời gian của mình để đóng góp cho cộng đồng và hướng về phong trào dân chủ trong nước.
Đầu tháng 4, một hoạt động cụ thể mà ông Cửu đã thực hiện là tổ chức thành công cuộc biểu tình chống Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình tại Florida, nơi ông Tập hội đàm với Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump.
Ông Cửu cảm nhận đã có một ‘luồng gió mới, một sinh khí mới hiện diện trên quê hương Việt Nam.
“Năm nay cảm tưởng riêng của tôi là tôi phấn khởi hơn năm nào hết vì tình hình trong nước có những chỉ dấu, có những sự kiện xảy ra làm cho mình nghĩ rằng con đường đấu tranh có thể đi tới kết quả, đã dám đứng dậy, dám có tiếng nói, đã dám có những hành động như đi vào các cơ quan của chính quyền biểu tình. Mới đây hành động mạnh nhất là ở Đồng Tâm, đã bắt giữ công an, những người đi chiếm đất đai.”

Ngược lại với các cựu quân nhân và công chức chính quyền Sài Gòn, nhà thơ Lãm Thúy ở Maryland không muốn nhắc đến những mất mác, đau buồn ngày 30/4, nhưng khi nhìn lại Việt Nam sau 42 năm, bà chia sẻ với VOA Việt Ngữ rằng:
“Tôi thấy người nào giàu thì rất giàu. Người nào khổ thì cũng rất khổ. Tôi về thì tôi sống ở dưới quê.”
Là vợ của một cựu quân nhân Việt Nam Cộng hòa, nhà thơ Lãm Thúy sinh quán tại Nhơn Ái, Phong Điền, Cần Thơ, định cư tại Mỹ năm 1992.
Mong mỏi duy nhất của bà cho ngày 30/4 năm nay là Việt luôn gìn giữ được chủ quyền đất nước và không bị lệ thuộc vào Trung Quốc:
“Mong đất nước mình giữ được chủ quyền và đừng lệ thuộc vào Trung Quốc, không bị mất nước. Đó là điều mong mỏi lớn lao nhất, bất cứ là trong dịp lễ này hay là suốt cuộc đời, chỉ mong đất nước Việt Nam là của người Việt Nam.”

1975, Ký ức – hiện tại: Nỗi sợ hãi vẫn còn đó

Theo VOA- 27/04/2017 
Xe tăng miền Bắc vào Dinh Độc Lập ngày 30 tháng Tư, 1975. (Hình: AP)

Thiên Thanh (*)
42 năm vụt qua. Từ một thiếu nữ tuổi teen, giờ tôi đã thuộc hàng U60, sắp đếm ngược những ngày còn lại. Nhìn lại ký ức, trông vào hiện tại, tại sao nỗi sợ hãi của tôi vẫn còn đó?
1.Tôi sinh ra và lớn lên ở ngoại ô Saigon, trước năm 1975 gọi là vùng Gia Định. Vào ngày 29/4/1975, mới 13 tuổi, tôi trở thành người lớn nhất trong nhà với 5 đứa em từ 6 tuổi – 11 tuổi, vì ba của tôi – vốn là một quân nhân quân đội Việt Nam Cộng Hòa – đang ở trong doanh trại, còn mẹ thì nằm bệnh viện. Lúc đó, cả xóm tôi bấn loạn vì “Việt cộng sắp đến”. Mọi người tập trung ở nhà thờ cầu nguyện sau đó đổ xô đến một ngôi nhà – nơi có hầm trú ẩn lớn nhất trong xóm. Không có ba mẹ, thật khó khăn khi tôi bồng đứa nhỏ nhất trên tay và cố lùa 4 đứa còn lại chạy đến gian hầm trú ẩn đó, bởi lũ em tôi hồn nhiên: đứa leo lên cây cố hái cho hết xoài, đứa đập ống heo gom hết tiền… vì sợ trộm vào lấy thì uổng! Tôi đã trải qua những giờ phút lo lắng hồi hộp khi ngồi cùng các em trong gian hầm trú ẩn. Trong khi mọi người sợ Việt cộng sẽ nã súng nã bom vào hầm thì tôi sợ lỡ ba mẹ tôi không về nữa thì tôi sẽ làm thế nào để nuôi các em?
May thay, xóm tôi “được giải phóng” êm đềm, không có quả bom pháo nào ghé đến và khi các chú bộ đội tiến vào cũng là lúc mọi người ai về nhà nấy.
Mãi cho đến chiều tối, ba tôi mới trở về nhà trong áo may-ô và quần đùi với dáng điệu xơ xác. Quá sợ hãi, ông đã cởi bỏ bộ quân phục và chạy bộ ra khỏi doanh trại về nhà. Hôm sau khi đã bình tĩnh lại, ông vội vã đến bệnh viện kiếm mẹ tôi. Trong lúc ông đi, thì mẹ tôi lại lội bộ về nhà.
Ngày “giải phóng” đối với gia đình tôi thế là may mắn. Và tôi nhớ mãi những buổi tối đầy căng thẳng giữa ba tôi và những người họ hàng – cũng tham gia quân đội Việt Nam Cộng Hòa với cấp bậc cao hơn. Tất cả người lớn trong nhà tôi đều lo lắng, phỏng đoán đủ thứ điều có thể xảy ra, trong khi tôi và các em hồ hởi đi “xem” các chú bộ đội.
2. Mùa khai giảng đầu tiên sau ngày đất nước thống nhất, tôi phải chuyển từ ngôi trường trung học thân yêu trên thị trấn về ngôi trường cấp 2 gần nhà vì nơi đó chỉ dành cho học sinh cấp 3. Năm học đầu tiên ở ngôi trường “làng”, tôi có một người bạn gái thân tên V.N. N. cũng là chị hai giống tôi, với 4 đứa em mỗi đứa cách nhau một vài tuổi. Điều khác biệt là ba N. là sĩ quan nên ông phải đi học tập cải tạo. Còn mẹ N. là người phụ nữ đẹp nhất vùng tôi ở lúc bấy giờ. Bà vừa đẹp vừa tài giỏi với tiệm may thêu lớn trong vùng. Khi tôi đến nhà N. chơi, tôi thường thấy các chú bộ đội tụ tập ở nhà N. để sửa quần áo nhưng trên hết, họ say sưa với những câu chuyện của mẹ N. – một phụ nữ miền nam ăn nói nhỏ nhẹ rất dễ thương.
Vào một ngày khi tôi đến chơi, đứa em trai út của N. lúc đó khoảng 5-6 tuổi chạy ra khoe với tôi: Em sắp có em rồi! Khi tôi còn chưa hiểu chuyện gì thì mẹ của N. đã gọi tôi vào phòng riêng và kể cho tôi nghe câu chuyện tình yêu của bà. Hóa ra, bà vừa phát hiện mình có thai với chú T. – chú bộ đội đẹp trai nhất trong nhóm bộ đội thường hay đến nhà N. Với vẻ rạng rỡ, bà kể tôi nghe chú T. mới là tình yêu đích thực của đời mình vì bà lấy ba của N. theo lời khuyên của gia đình. Nhìn vẻ mặt bà, tôi tin bà nói thực. Vài ngày sau, tôi nghe tin chú T. phải trở về quê nhà ở phía bắc với lời hứa hẹn sẽ sớm quay vào sống bên cạnh mẹ con của N. Cả N, cả tôi và mẹ của N. đều tin chú T. nói thật. Thời gian trôi qua, mẹ N. không nhận được tin tức gì từ chú T. Các chú bộ đội đến nhà N. ít dần đi vì mẹ N. không còn vui vẻ như trước. Không khí gia đình N. càng ngột ngạt hơn khi ba N. đột ngột trở về vì “học tập cải tạo tốt”. Tôi ít đến nhà N. chơi hơn, khi nhìn thấy vẻ bình thản đến lạ của ba N. và vẻ lo lắng sợ hãi của mẹ N. Mọi người xung quanh nhà N. thì thào với nhau: Sao không thấy ba N. nổi giận với mẹ N.?
Mùa hè năm 1976, mẹ N. chuyển dạ sanh con. Ba N. đưa bà đến bệnh viện chu đáo như mọi ông chồng khác nhưng đến ngày xuất viện, họ trở về nhà không có đứa bé trên tay. N. bảo tôi ba mẹ N. đã quyết định cho đứa bé ngay tại bệnh viện. Chuẩn bị vào niên học mới cuối cấp 2, N. chia tay tôi để cùng gia đình trở về quê nhà của mẹ. Kể từ đó, chúng tôi hoàn toàn mất liên lạc, thế nhưng bi kịch của gia đình N. ám ảnh tôi rất nhiều năm sau đó.
3. Sau 1975, xóm của tôi nhiều người dọn đi kinh tế mới. Họ hàng nhà tôi có ba người cấp bậc sĩ quan phải đi học tập cải tạo ở nơi tít mù khơi nào đó. Ba tôi không còn “lương lính” nữa phải xoay đủ thứ nghề, từ buôn bán dạo, về quê làm rẫy phụ bà con và sau cùng chạy xe lam. Mẹ tôi vẫn buôn bán nhưng tất bật hơn và ngày càng thắt chặt chi tiêu. Đồ đạc quý trong nhà như tivi, xe máy, tủ chè… bị bán lần lượt. Tôi thường phải đi chợ nấu ăn cho cả nhà, kiêm luôn việc đi nộp sổ xếp hàng chờ đợi mua dầu hôi, gạo, bột mì, bánh mì, thịt, vải may đồ, vỏ xe đạp… theo tiêu chuẩn. Rồi sau đó, gia đình tôi chỉ còn một bữa cơm trong ngày vào buổi tối, hai buổi còn lại ăn độn đủ thứ, có bữa toàn khoai hoặc toàn bo bo.
Bên cạnh đó, vì khan hiếm dầu hôi, chị em chúng tôi phải đi vào những cánh đồng và rẫy xa nhà vài cây số để mót củi, xin gốc rạ, bã mía, các gốc cây cà chua… về phơi khô để đun nấu. Chúng tôi lớn lên trong cảnh đủ no là may, không quan trọng là đang ăn cái gì. Quần áo toàn mặc lại đồ cũ của họ hàng, có được cái xe đạp vào năm lớp 10 – ráp nối từ đủ thứ đồ gom nhặt được – cũng đã là sang.
Ấn tượng sâu đậm nhất với tôi vào thập niên 80 chính là sự vượt biên của bạn bè, đặc biệt là những bạn người gốc Hoa. Mặc cho những tin tức về những bạn mất tích trên biển, có những bạn bị cướp biển hãm hiếp… thế nhưng người bạn gái thân nhất của tôi những năm cuối trung học vẫn vài lần ra đi mà không thành công. Vào thời gian đó, tôi cũng ước nhà mình giàu có để vượt biên. Nhìn những gia đình có thân nhân nước ngoài được đi lãnh đồ ở bưu điện Saigon, đứa nào cũng thấy ham.
4. May mắn hơn các bạn con sĩ quan quân đội Việt Nam Cộng Hòa, lý lịch có cha là “lính nguỵ” và gia đình Thiên Chúa Giáo không cản trở tôi vào đại học. Nhưng năm đó, dù tôi đạt điểm cao so với tiêu chuẩn thì vẫn không được chọn đi du học nước ngoài giống như mấy bạn con nhà cách mạng cùng mức điểm.
Khi ra trường, nộp lý lịch xin vào làm ở một tờ báo thì tôi không được nhận do là “lý lịch không đỏ”. Sau 6 năm tốt nghiệp cử nhân ngành khoa học xã hội, tôi trải qua đủ thứ nghề, từ mài tượng thạch cao, xếp kho sách, nhân viên thư viện đến thư ký cho một nhà văn… Mãi đến những năm đầu thập niên 90, khi đổi mới, kinh tế thị trường ập đến như một cơn lốc, các tòa soạn báo nổi tiếng ở Saigon không còn câu nệ lý lịch đỏ hay vàng nữa, tôi mới được tiếp nhận vào đội ngũ các nhà báo ở Saigon, sau hai năm thử việc không lương.
Những năm cuối thế kỷ 20 và đầu thế kỷ 21, tôi luôn tự hào với nghề nghiệp của mình: một cái nghề phù hợp khả năng, giúp ích được cho xã hội, cho người dân và giúp tôi nuôi sống được gia đình nhỏ của mình. Vai trò nhà báo trong thời gian đó được chính quyền và người dân coi trọng, cho đến khi vụ PMU 18 nổ ra, hai nhà báo của Tuổi Trẻ và Thanh Niên bị tống giam, Tổng biên tập của Tuổi Trẻ và Thanh Niên lần lượt ra đi. Tuy làm việc ở một tòa soạn nhỏ hơn, tờ báo của tôi cũng có thay đổi về đội ngũ lãnh đạo… Những tin/bài phản biện xã hội thường bị gác lại. Và mỗi lần có một tin bài nào đó bị “cấp trên” phê bình, phóng viên viết bài đó sẽ bị tổng biên tập mới làm khó dễ chứ không có chuyện bênh vực, che chắn phóng viên như các sếp cũ ngày trước. Mất môi trường làm việc tốt, tôi nghỉ việc ở tòa soạn đó và sang làm ở báo Sài Gòn Tiếp Thị - một tờ báo có nhiều bài phản biện nhất thời kỳ đó.
Sau hơn 20 năm chính thức làm nghề báo, tôi buộc phải nhận quyết định nghỉ việc từ quyền tổng biên tập Nguyễn Xuân Minh khi Sài Gòn Tiếp Thị (địa chỉ 25 Ngô Thời Nhiệm, phường 6 quận 3) bị rút giấy phép ra báo vào ngày 28/2/2014. Hơn 100 lao động làm việc tại báo Sài Gòn Tiếp Thị phải tan tác ra đi tìm công việc khác để sinh sống.
Vào thời khắc đau lòng đứng nghe quyền tổng biên tập Nguyễn Xuân Minh đọc quyết định đóng cửa báo Sài Gòn Tiếp Thị, tôi biết niềm tự hào nghề báo của mình ở Saigon đã hết.
5. 42 năm sau ngày thống nhất đất nước, tôi có một nỗi sợ hãi thường trực: lo mình bệnh hoặc người thân bệnh phải vào bệnh viện.
Sống ở một thành phố có đóng góp lớn nhất vào ngân sách trung ương, bên cạnh sự căng thẳng thường trực về môi trường ô nhiễm (bụi, khói xe, tiếng ồn, rác thải…), tôi không chỉ nơm nớp lo sợ cảnh trời mưa nước ngập, an ninh đường phố ngày càng kém, thực phẩm không an toàn… mà còn sợ không có tiền để vào bệnh viện (BV).
Nỗi sợ này ngày càng tăng lên khi tuổi tác ngày càng lớn mà tiền làm ra ngày càng eo hẹp. Chung quanh tôi, người bị bệnh ung thư ngày càng phổ biến. Thỉnh thoảng gặp bạn bè, hỏi ra nhà nào cũng có người bị bệnh ung thư. Đau lòng nhất là những đứa trẻ bị bệnh ung thư. Cả miền Nam chỉ có BV Ung Bướu TP HCM có khoa ung thư nhi nhận chữa tất cả bệnh ung thư theo tiêu chuẩn bảo hiểm y tế. Các BV khác chỉ nhận chữa một loại ung thư cho bệnh nhi như BV Truyền Máu & Huyết Học nhận chữa ung thư máu, BV Chấn Thương Chỉnh Hình chữa ung thư xương, BV Nhi Đồng 2 nhận chữa các khối u cứng… với giá thỏa thuận theo từng phác đồ.
Nói chung, dù là trẻ em hay người lớn, khi vào BV Việt Nam, cảm giác thật bất an. Dù có thẻ bảo hiểm y tế thì luôn luôn vẫn phải có tiền mặt để đóng tiền cọc thì các biện pháp chữa trị mới được tiến hành. Không chỉ có tiền, người bệnh ở Việt Nam phải có mối quen biết với các y bác sĩ, nếu không… thì phó mặc cho may rủi!
Sắp sửa lại đến ngày 30/4 – đúng 42 năm. Tôi không quan tâm đến lễ diễu binh, không quan tâm đến các tấm pano mô tả chiến thắng, không quan tâm đến pháo bông sẽ bắn ở đâu, khi nào. Ước mơ về một môi trường sống tốt hơn cũng thật xa vời vợi. Nhìn vào thực tại, tôi chỉ có một cầu mong: Nếu bị bệnh, xin chết ngay tại nhà và không phải vào BV (để khỏi làm phiền người thân và bản thân không bị hành)!
(*) Tác giả từng là một nhà báo, đang sinh sống ở Sài Gòn.

Vòng tay lớn mãi để nối sơn hà

Theo VOA-27/04/2017
Tháng 03-1965: Máy bay trực thăng Mỹ nổ súng vào đám cây để yểm trợ cho binh sĩ bộ binh Việt Nam Cộng Hòa tiến lên trong một cuộc tấn công Việt Cộng ở phía tây bắc Sài Gòn. (AP)

Nguyễn Tiến Trung

Vào mỗi dịp 30/4, trong lòng cả “bên thắng cuộc" và “bên thua cuộc" lại dậy lên bao nhiêu cảm xúc.
Còn nhớ cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt từng công nhận: “Một sự kiện liên quan đến chiến tranh khi nhắc lại, có hàng triệu người vui, mà cũng có hàng triệu người buồn. Đó là vết thương chung của dân tộc, cần được giữ lành thay vì lại tiếp tục làm cho nó thêm rỉ máu”.
Mâu thuẫn xã hội bùng nổ
Ngày 30/4 năm nay 2017 lại còn nóng hơn với những sự kiện chấn động cả ba miền đất nước. Miền Bắc, người dân xã Đồng Tâm, huyện Mỹ Đức, đã bắt giữ một số chiến sỹ cảnh sát, cố thủ trong thôn xóm để đòi công bằng trong việc chia đất đai. Miền Trung, ngư dân Nghệ An, Hà Tĩnh liên tục biểu tình đòi được bồi thường công bằng sau sự kiện Formosa đầu độc biển. Miền Nam, tại An Giang, tín đồ Phật giáo Hòa Hảo biểu tình phản đối đàn áp tôn giáo.
Một cách tình cờ, các cuộc phản kháng của người dân ba miền phản ánh ba mâu thuẫn rất lớn trong xã hội: đó là mâu thuẫn đất đai giữa những người tham nhũng có tiền, có quyền và người dân mất đất; mâu thuẫn giữa những nhà tư bản kiếm lợi nhuận bằng mọi giá với môi trường sống của người dân; và mâu thuẫn tôn giáo, ý thức hệ giữa nhà cầm quyền muốn độc quyền tư tưởng và sự đa nguyên trong ý thức của người dân.
Cả ba mâu thuẫn đã và đang bùng nổ đó đều bắt nguồn từ mâu thuẫn giữa việc tuyên bố tạo dựng xã hội công bằng, nhân dân làm chủ, mọi người đều bình đẳng trước pháp luật với việc một đảng độc quyền nhà nước, đứng trên pháp luật. Nghĩa là mâu thuẫn giữa mục tiêu xã hội công bằng và cơ chế nhà nước bất công, quyền lực chỉ thuộc về thiểu số lãnh đạo của đảng cộng sản.
Gia tài của mẹ
Trước bất công xã hội hiển nhiên như thế, ngay cả các đảng viên cộng sản cũng đã nhận thức rất rõ vấn đề. Nói theo ngôn ngữ “thời thượng” bây giờ là họ cũng đã “tự diễn biến, tự chuyển hóa”.
Ngày 16/3/2017, chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng - An ninh, Thượng tướng Võ Trọng Việt thừa nhận: “Tôi đi cả nước thấy rằng về cơ bản rừng đã bị phá hết rồi, do nạn phá rừng, có lãnh đạo còn nói là đi nhìn bên ngoài xanh tốt nhưng… cây quý ở trong bị rút hết rồi… Bao nhiêu gỗ quý, thú quý, khoáng sản quý ta lấy hết rồi”.
Liền sau đó, ngày 21/3/2017, Thượng tướng Phạm Ngọc Minh cũng công nhận: “Bây giờ tất cả các vùng biển từ Bạch Long Vĩ trở ra đến Phú Quốc, hay các vùng ven biển, cá đã không còn, chính vì vậy ngư dân ta phải đi rất xa để đánh bắt”.
Ngày 1/4/2016, đại biểu quốc hội Trương Trọng Nghĩa giải thích cho việc người dân đua nhau bỏ nước ra đi là: “Không phải vì nghèo về tiền mà cảm thấy không vui, không an toàn về pháp lý, các quyền tự do dân chủ không đảm bảo đầy đủ, lo sợ đất nước bị lệ thuộc. Điều này ai cũng thấy và cũng biết.”
Như thế, “gia tài của mẹ” Việt Nam để lại cho con cháu mai sau đã cạn kiệt không còn gì. Tài nguyên thiên nhiên “rừng vàng, biển bạc” chỉ còn trong ký ức. Tài nguyên con người thì bỏ nước mà đi. Đất nước đang lệ thuộc về chính trị và kinh tế với kẻ thù xâm lược Trung Cộng. Dân tộc bị chia rẽ vì cả dân tộc bị giới lãnh đạo của một đảng cai trị không chính danh, xâm phạm quyền công dân và quyền con người.
Vậy là từ ngày 30/4/1975, đất nước được thống nhất về mặt địa lý nhưng tiếp tục chia cắt trong lòng người. Tất nhiên, đảng cầm quyền phải chịu trách nhiệm lớn nhất cho “một nước Việt buồn”.
Công cụ bạo lực mất thiêng
Cuộc Cách mạng tháng Tám chỉ mới hoàn thành giai đoạn một là đánh đuổi thực dân. Còn giai đoạn hai là đảng cầm quyền phải chuyển giao quyền lực về tay nhân dân thì vẫn chưa hoàn thành. Nói cách khác, đó là món nợ xương máu to lớn của đảng cộng sản với dân tộc sau bao nhiêu cuộc chiến tranh mà đảng đã tiến hành.
Tiến sĩ Nguyễn Sĩ Dũng, nguyên Phó chủ nhiệm văn phòng Quốc hội, mới đây, ngày 3/4 cũng viết: “Với cách thức đề bạt, bổ nhiệm người nhà, người thân ngày một tràn lan như hiện nay, không khéo trật tự xã hội bất công trước Cách mạng tháng Tám đang được âm thầm tái lập trở lại”.
Bất công xã hội lan tràn như vậy nên việc người dân đứng lên phản kháng là chuyện bình thường, đúng với quy luật mà đảng cộng sản luôn tuyên truyền là “có áp bức, có đấu tranh”.
Chế độ nào cũng muốn dân ủng hộ, nhưng xem nhân dân là “thế lực thù địch” khi dân không phục tùng những sai trái của chế độ thì rõ ràng đó không phải là chính quyền “của dân, do dân, vì dân”.
Hình ảnh cảnh sát cơ động, công an, quân đội bỏ chạy trước khí thế và sức mạnh của người dân ở Vũng Áng, ở Đồng Tâm là lời cảnh báo nghiêm khắc với những người còn đang ảo tưởng muốn nắm quyền bằng sức mạnh của bạo lực và dối trá.
Tiếp tục phối hợp cải tổ xã hội
Thế hệ dấn thân hôm nay không thể như các thế hệ “cách mạng” ngày trước, nói một đằng, làm một nẻo. Thế hệ cải tổ xã hội hiện nay từ suy nghĩ đến lời nói, hành động cần phải trước sau như một, không mâu thuẫn.
Người Việt là đồng bào thì giữa người Việt không có thù địch. Tinh thần Việt Nam bao dung, đoàn kết sẽ mở ra vận hội mới cho toàn xã hội. Người Việt Nam cùng nhau đoàn kết để tạo dựng và bảo vệ nền tảng xã hội là bản Hiến pháp chuẩn mực của toàn dân.
Giới lãnh đạo cộng sản biết rõ sức mạnh đoàn kết của dân tộc nên mới đây, ngay trước ngày 30/4 đã đòi cấm những ca khúc bất hủ của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn kêu gọi đoàn kết quốc gia như “Nối vòng tay lớn”, “Huế - Sài Gòn - Hà Nội”.
Việt Nam ơi, còn bao lâu, những con người ngồi nhớ thương nhau
Triệu chân em, triệu chân anh, hỡi ba miền vùng lên cách mạng
Đã đến lúc nối tấm lòng chung
Tuổi thanh niên hãy đi bằng những bước tiền phong
Từ Trung Nam Bắc chờ mong nung đốt
Những bó đuốc reo vui tự do
Đường đi đến những nơi lao tù
Ngày mai sẽ xây trường hay họp chợ,
Dân ta về cày bừa đủ áo cơm no
Bàn tay giúp nước, bàn tay kiến thiết
Những dấu căm hờn xưa nhạt mờ
(Huế - Sài Gòn - Hà Nội - Trịnh Công Sơn)
Sự thật là Việt Nam Cộng Hòa, Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa hay Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam dù khác biệt nhưng vẫn là Việt Nam. Có phải đã đến lúc người Việt đoàn kết cho một Việt Nam đoàn kết trên nền tảng pháp luật chuẩn mực? Có phải đã đến lúc gác lại quá khứ trong tình tự dân tộc cho quốc gia độc lập, dân chủ, đoàn kết, công bằng, hòa bình và phát triển?
Việt Nam không phải chỉ có con đường theo cộng hay chống cộng mà con đường đoàn kết quốc gia “nối vòng tay lớn" mới là con đường ưu việt, là con đường phía trước cho Việt Nam cất cánh bay cao. Nếu chúng ta đã thấy được con đường phía trước thì tại sao không mạnh dạn tiến bước?
Chú thích:
Tựa đề bài viết “vòng tay lớn mãi để nối sơn hà” là một câu trong tác phẩm “Nối vòng tay lớn” của cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn.
“Gia tài của mẹ” là tựa một bài hát của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn.

“Một nước Việt buồn” là một đoạn trong bài hát “Gia tài của mẹ.”