Wednesday, April 5, 2017

Đằng sau sự kiện Formosa xả thải đầu độc biển

Le Nguyen (Danlambao) - Formosa xả thải đầu độc biển, không đơn thuần là giết sinh vật biển, tàn phá môi trường biển làm cho biển Việt Nam chết. Formosa xả thải còn để lại hậu quả nghiêm trọng khiến cho người dân Việt Nam, những ai thiếu hiểu biết vô tư chạm vào độc chất, nhiễm phải độc chất thì di căn của nó quả là khôn lường và di họa nhiễm độc chất thải Formosa, rất có khả năng kinh khủng hơn chất độc màu da cam (dioxin) nhiều lần hơn.

Đến thời điểm này, vụ việc điều tra sự kiện Formosa vẫn chưa được đảng CSVN làm rõ và đưa ra kết luận cụ thể? Có thể sự kiện Farmosa xả thải nằm trong chuỗi âm mưu tàn phá môi trường, triệt tiêu nguồn sống nhằm làm giảm dần số lượng lẫn chất lượng thể hình và trí tuệ, thậm chí là diệt chủng dân tộc Việt Nam cho ý đồ thôn tính của đế quốc thực dân mới Tàu cộng? 

Thảm họa môi trường làm cá chết trắng biển miền trung đã làm lộ ra nhiều bí mật của đảng tay sai bán nước Việt cộng cấu kết, hợp tác toàn diện với kẻ thù Phương Bắc để từng bước giết dần, giết mòn dân tộc Việt Nam nhằm tiến tới giao nộp, sáp nhập đất nước Việt Nam vào lãnh thổ của nhà nước bá quyền Đại Hán.

Từ biến cố Formosa có nhiều bài viết của một số tác giả báo lề dân liên quan đến thảm họa môi trường phát sinh từ đặc khu kinh tế Vũng Áng, là tô giới Tàu nằm trong lãnh thổ Việt Nam. Nội dung nói đến xả thải có yếu tố Trung cộng chỉ là một phương án nằm trong chuỗi kế hoạch diệt chủng xóa sổ Việt Nam trên bản đồ thế giới. 

Ngoài các bài viết bàn đến yếu tố trung Quốc, còn có một số bài bình luận, phân tích, mổ xẻ, xoáy sâu vào mọi ngóc ngách nhằm truy tìm nguyên nhân, hậu quả cá chết của Formosa, có liên quan đến môi trường chính trị, kinh tế và xã hội Việt Nam. Do đó để tránh nội dung trùng lắp, bài viết này sẽ mở ra tầm nhìn chưa được nhiều tác giả bàn đến về đặc khu kinh tế Vũng Áng - một khu kinh tế trọng điểm nằm trong chiến lược phát triển các kế hoạch ngũ niên nhằm đưa Việt Nam từ một nước nông nghiệp trở thành nước công nghiệp hóa, hiện đại hóa như giấc mơ “lãng mạn cách mạng xã hội chủ nghĩa” của các lãnh đạo đảng cộng sản Việt Nam mơ mộng.

Thực chất của khu liên hợp kinh tế Formosa Vũng Áng với sản xuất thép là sản phẩm chủ lực của đặc khu và nhà máy thép Formosa là nhân tố chính của đặc khu, dù chỉ mới vận hành thử nghiệm, chưa chính thức đi vào hoạt động sản xuất thép thực thụ đã gây thảm họa môi trường nghiêm trọng. Vậy, với 70 năm toàn quyền khai thác nhượng địa Vũng Áng của ông chủ giấu mặt Tàu cộng thì môi trường trên biển, trên bờ, trên không của Việt Nam sẽ như thế nào?

Chắc chắn với những cái đầu tham lam, ngu dốt và bộ óc tay sai, nội tuyến của các lãnh đạo đảng cộng sản Việt Nam khó có khả năng lường ra được. Căn cứ trên dư án sản xuất gang thép của Formosa và những gì xảy ra chung quanh, liên quan đến dự án khai thác luyện cán thép ở Vũng Áng, Hà Tỉnh, không khó để nhận ra dự án Vũng Án, có liên quan đến những cái đầu tham lam, ngu dốt và bộ óc tay sai của lãnh đạo trung, cao cấp cộng sản Việt Nam.

Ai cũng biết trước khi đặc khu kinh tế Vũng Áng được cấp phép xây dựng - như dự án bauxite luyện nhôm ở Tây Nguyên đã có không ít chuyên gia Việt Nam lẫn quốc tế tính toán, phân tích trên các số liệu khoa học thực tiễn về kỹ nghệ sản xuất thép của thế giới suy thoái, là đã rớt giá hơn 50% và kỹ nghệ sản xuất thép gây ô nhiễm môi trường cao nhất so với các ngành kỹ nghệ khác. 

Do đó, nếu như sử dụng công nghệ hiện đại xử lý khí thải, phế thải của nhà máy thép đúng chuẩn quốc tế yêu cầu để giảm thiểu ô nhiễm môi trường, để bảo vệ, bảo đảm môi trường xanh, sạch, đẹp sẽ đội giá thành sản phẩm thép cao hơn giá bán và sản xuất thép quy mô của công ty Formasa. 

Sản xuất thép không hiệu quả kinh tế đã quá rõ, chỉ cần trình độ kiến thức trung bình là có thể tính toán ra? Thế thì tại sao lãnh đạo cộng sản Việt Nam với tập đoàn Formosa cấu kết với nhau kiên quyết thực hiện xây dựng nhà máy sản xuất gang thép Formosa trong khu liên hợp kinh tế Vũng Áng bằng mọi giá? 

Hiện tại dù chưa đi vào hoạt động chính thức, Formosa đã gây ra thảm họa môi trường làm cá chết trắng bờ biển miền trung và cũng chính dự án Formosa đã khiến cho cư dân sống trong khu quy hoạch, giải tỏa đền bù “tái nghèo” sống dỡ chết dỡ, đi không được ở cũng không xong như báo lề đảng, dù cố làm giảm nhẹ vụ việc nghiêm trọng nhưng vẫn nhận thấy sắc màu nhếch nhác, ảm đạm, u ám như sau:

“...Dự án này được khai thác từ tháng 9-2009 với kỳ vọng sẽ biến Hà Tĩnh từ một tỉnh thuần nông thành một trong những trung tâm công nghiệp nặng của cả nước và là trung tâm khai thác luyện cán thép lớn nhất Việt Nam... 

...Vùng dự án khai thác mỏ sắt Thạch Khê phải chịu nhiều ảnh hưởng rất nặng nề của dự án. Theo kế hoạch báo cáo ban đầu của ban quản lí mỏ sắt thì đến năm 2013 cả xã phải di dời đến nơi ở mới. 

...Thực tế đến nay chủ đầu tư không thực hiện được như phương án ban đầu mà còn gây hậu quả ảnh hưởng trực tiếp kéo lùi đời sống dân sinh trở lại khó khăn, môi trường ô nhiễm nặng, nguồn nước ngầm bị cạn kiệt. 

Liên tục trong 4 năm qua, hàng chục héc-ta lạc, rau màu và các loại cây trồng khác đã bị chết khô, sản xuất không có thu hoạch, đời sống nhân dân hết sức vất vả, hộ đói nghèo ngày càng tái diễn. Đất ở thì không cấp cho nhân dân... 

...Bãi thải của dự án đã san lấp hàng chục ha đất sản xuất nông nghiệp và làm sạt lấp hàng trăm ngôi mộ. Hàng nghìn ngôi mộ hư hỏng không được đền bù cho dân để tu sửa và hàng trăm héc-ta cây cối chưa trả tiền cho nhân dân. Còn khu tái định cư cho các hộ dân vẫn chỉ nằm trên giấy. 

Việc cam kết của công ty khai thác sắt Thạch Khê đối với chính quyền địa phương từ đầu năm 2012 về việc đền bù, hỗ trợ cho nhân dân đầu tư xây dựng một số công trình trên địa bàn xã đến nay vẫn chỉ là con số không tròn trĩnh...

...Nhìn chung toàn cảnh bức tranh về sự nghiệp của nhân dân xã nhà nằm trong tình trạng đi không được ở không xong...”(1)

Bên cạnh chuyện đi không được ở không xong của người dân Hà Tỉnh, là thông tin từ hệ thống truyền thông lề đảng công khai công bố tập đoàn Formosa có kế hoạch sản xuất 7.5 tấn thép trong những năm đầu và sẽ tăng dần lên để đạt công suất 22 triệu tấn/năm. Với chỉ tiêu của Formosa đề ra thì các mỏ quặng sắt của Việt Nam có trữ lượng lớn như: Mỏ Thạch Khê, Hà Tỉnh có 554 triệu tấn; Mỏ Quý Sa, Lào Cai có 120 tấn... cùng với hàng trăm mỏ quặng sắt nhỏ tập trung ở cao nguyên trung phần và các tỉnh phía bắc Việt Nam, tổng cộng trữ lượng của các mỏ sắt Việt Nam độ chừng trên dưới 1 tỷ tấn. 

Thuần túy trên phương diện sản xuất thì trữ lượng quặng sắt của Việt Nam không đáp ứng được nhu cầu cho công suất sản xuất 22 triệu tấn thép/năm. Công suất 22 triệu tấn thuộc vào loại hàng đầu thế giới và mỏ sắt Thạch Khê có trữ lượng lớn nhất Việt Nam vẫn không cung ứng đủ cho nhu cầu sản xuất thép của Formosa. Lẽ khác mỏ sắt Thạch khê lại nằm ở độ sâu 120 m dưới mặt nước biển nên chi phí khai thác phải cao và không dễ để khai thác? Chắc chắn nếu khai thác mỏ Thạch Khê cung ứng cho nhu cầu sản xuất thép của nhà máy Formosa là không hiệu quả kinh tế nhưng các bên tham gia vẫn cứ tiến hành thực hiện hẳn là có nguyên nhân?

Tập đoàn Formosa chủ đầu tư, chính xác là Trung cộng mới thực sự là “ông chủ” chọn Vũng Áng, Hà Tỉnh để thành lập đặc khu kinh tế liên hợp với ngành thép là có âm mưu? Dự án Formosa không thuần túy là kinh tế và cũng không đơn thuần là chuyện đàn anh Tàu cộng hào phóng ra tay, tạo điều kiện giúp đàn em Việt cộng thực hiện kế hoạch công nghiệp hóa, hiện đại hóa cho Việt Nam? 

Đi sâu vào phân tích những mối nối chung quanh dự án liên hợp Vũng Áng, chúng ta sẽ thấy bộ đầu não của cộng đảng Tàu với cộng đảng Việt đã điều nghiên, đề ra kế hoạch hành động khá hoàn hảo. Kế hoạch hoàn hảo đến độ là chúng lồng mục tiêu quân sự dưới vỏ bọc kinh tế và vô hiệu hóa các lãnh đạo cộng sản không đồng tình trong nội bộ đảng. Thậm chí cho dù có nhận ra âm mưu quân sự của Tàu cộng nằm trong lớp áo kinh tế của tập đoàn tài phiệt Formosa thì cũng chẳng làm gì được chúng và những lãnh đạo Việt cộng nào không biết ngoan ngoan vâng lời hay bép xép miệng nói lý lẽ thiệt hơn, còn bị gán tội chống chính sách, chủ trương lớn của đảng là đi tù, là bị chích thuốc, là cho nhiễm phóng xạ!...

Với lớp lãnh đạo trung ương như ủy viên bộ chính hay lãnh đạo địa phương như bí thư, phó bí thư tham lam, ngu dốt thì Tàu cộng và nội tuyến Tàu trong nội bộ đảng cộng Việt không khó để đối phó. Với bọn tham lam, chỉ cần chúng học theo, áp dụng phương châm của Năm Cam, trùm xã hội đen Sài Gòn: “Cái gì không mua được bằng tiền thì mua thật nhiều tiền” thì mọi sự đều ổn thỏa. Với bọn ngu dốt, chỉ cần chúng ca bài tài sản quý báu Mao - Hồ và diễn giảng rằng thì là mỏ Thạch Khê với nhà máy thép Formosa là đòn bẩy đưa Việt Nam hướng đến mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa như đảng, nhà nước đề ra, là làm câm mõm những đứa hèn với giặc ác với dân?

Về dự án Formosa đối với các chuyên gia ngành mỏ, ngành luyện kim thì Tàu cộng, tay sai Tàu cộng không thể lu loa, đặt miếng mồi “công nghiệp hóa, hiện đại hóa” vào mỏ Thạch Khê và nhà máy luyện thép Formosa để bịp được những nhà khoa học có tâm, có tầm nằm ngoài vùng phủ sóng của đảng, nhà nước. Ngay cả những người không phải là chuyên gia nhưng có trí tuệ trung bình chịu đọc, chịu học hỏi, chịu tìm kiếm thông đa chiều và biết so sánh, biết phân tích sẽ thấy những điều bất bình thường trong kế hoạch sàn xuất thép để nhận ra yếu tố Việt cộng cấu kết với Tàu cộng tác động lên dự án Formosa là có thật.

Cụ thể là mỏ sắt Thạch Khê, xa hơn nữa là trữ lượng các mỏ sắt của cả nước Việt Nam cũng không đủ cung cho nhu cầu chỉ tiêu sản xuất 22 triệu tấn thép một năm của nhà máy thép Formosa. Do đó để cho nhà máy hoạt động như chỉ tiêu đề ra thì Formosa phải nhập quặng thô về Việt Nam để luyện thép thành phẩm và ai sẽ là “ông chủ” cung cấp quặng thô cho nhà máy luyện thép Formosa?

Trong thực tế không có nước nào trong khu vực Đông Nam Á, xa hơn là Á Châu có trữ lượng quặng sắt dồi dào đủ cung ứng cho nhu cầu sản xuất thép của nhà máy thép Formosa. 

Có bao nhiêu người biết? Nhà thầu tiềm năng cung cấp quặng thô cho Formosa không ai khác là Trung Cộng, nước xã hội chủ nghĩa anh em, môi hở răng lạnh của Việt cộng. Có lẽ ai cũng biết Trung cộng đang có trong tay mỏ quặng sắt Hà Bắc ở đông bắc Trung Quốc có trữ lượng 10 tỷ tấn, rất lý tưởng cho kế hoạch sản xuất thép của nhà máy Formosa và cả cho dự án thép ở Bình Thuận đang manh nha thực hiện trong tương lai.

Nối kết mối nối nhà máy thép Formosa với mối nối mỏ quặng sắt Hà Bắc có trữ lượng 10 tỷ tấn của Trung Cộng. Chúng ta sẽ không thấy mỏ sắt Thạch Khê và mục tiêu hiện đại hóa, công nghiệp hóa của Việt Nam nằm ở đâu cả! Chúng ta chỉ thấy nhà máy thép Formosa nối kết với mỏ sắt Hà Bắc sẽ cung ứng sắt thép đủ cho Trung cộng chế tạo súng đạn, phi cơ, tàu ngầm, hạm đội, tên lửa hành trình, vệ tinh, phi thuyền... nhằm thực hiện tham vọng hiện đại hóa quân đội, cải thiện sức mạnh quân sự, chạy đua vũ trang với các siêu cường phục vụ cho nhu cầu bành trướng của bá quyền Đại Hán.

Qua đó đủ cơ sở để cho chúng ta thấy nhà máy thép Formosa nằm trong khu liên hợp kinh tế Vũng Áng không phải phục vụ mục tiêu kinh tế của Việt Nam. Formosa đích thực là phục vụ mục tiêu quân sự của bá quyền Tàu cộng, có sự hợp sức nội tuyến Tàu cài cấm trong nội bộ đảng cộng sản Việt Nam. 

Các tên lãnh đạo trung, cao cấp tham lam, ngu dốt, độc ác cộng sản Việt Nam, đa phần không nhìn xa hơn ngọn cỏ, dễ trở thành miếng mồi ngon không đầy miếng nuốt của các tên nội tuyến, của bọn giặc thù truyền kiếp phương bắc và không khó cho Tàu cộng từng bước lấn dần, đưa Việt nam vào thế triệt buộc cho đến lúc thuận tiện sáp nhập xóa sổ Việt Nam, thực hiện mộng bá quyền, xâm lăng thế giới... 

Ngoài ra dự án luyện thép Formosa còn là động thái nhất cử lưỡng tiện của Tàu cộng: Một là Formosa đẩy gánh nặng ô nhiễm môi trường cho Việt Nam; Hai là Formosa bảo đảm nguồn cung sắt thép phục vụ công nghiệp chế biến vũ khí cho cộng đảng Tàu. 

Từ đó, nếu chúng ta kẻ một đường thẳng từ căn cứ hải quân Du Lâm ở đảo Hải Nam tới đặc khu kinh tế Vũng Áng, Hà Tỉnh, rồi nối liền với cảng Cửa Việt, Quảng Trị, với dự án Bauxite Tây Nguyên và từ các cứ điểm cốt lõi này - kẻ tiếp các mối nối “phụ”chằng chịt nối liền với các khu công nghiệp, phố Tàu, làng Tàu bên trong lãnh thổ Việt Nam và các đảo thuộc quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa trên biển Đông sẽ không khó cho chúng ta thấy âm mưu thôn tính đáng sợ của bành trướng Đại Hán. 

5/4/2017



__________________________________

Nên đối kháng hay đối thoại với CSVN

Mai Thanh Truyết (Danlambao) - Giữa lúc dầu sôi lữa bỏng như hiện nay, trong lúc toàn dân trong nước đang dâng trào đứng lên chống Tàu khựa, chống Thái thú biết nói tiếng Việt là đảng CSVN, thế mà, tại hải ngoại vẫn còn luận điệu... “nội-ngoại” cùng nhau đoàn kết chống giặc Tàu”! (nội đây là nhà cầm quyền CSVN). Đây là một suy nghĩ hết sức trái khoáy và là sức cản không nhỏ đẩy lùi tiến trình mang lại dân chủ cho Việt Nam.

Để làm sáng tỏ vấn đề, bài viết nầy hy vọng mang lại một hướng suy nghĩ rốt ráo về tư thế của một người con Việt trước tình trạng cấp bách đang xảy ra ở Việt Nam.

1. Đối thoại là gì? Tại sao phải đối thoại?

Đề tài hòa giải xuất hiện ở cộng đồng hải ngoại qua Nghị Quyết 36 từ năm 2006 qua các sự việc như CSVN tung tiền mua chuộc những nhân vật “nhẹ dạ” bằng tiền và những lời hứa hão huyền cho một vài chức vụ đại diện “dân cử” trong nước qua Thứ trưởng ngoại giao CS Nguyễn Thanh Sơn (thời bấy giờ) ở hải ngoại và do Phạm Thế Duyệt, Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc ở trong nước. 

Cao điểm của Nghị quyết nầy là lúc Nguyễn Thanh Sơn được thành phố Houston tiếp đón vào năm 2012, đã tạo ra nhiều xáo trộn cho cộng đồng thành phố trên qua việc một Nghị viên và một số nhân vật cộng đồng ủng hộ và cổ xúy cho chính sách hợp tác với CSVN. 

Từ đó, vấn đề hòa giải được mặc chiếc áo khác là “đối thoại”. Có lẽ học kinh nghiệm những năm trước về sự thất bại qua lời kêu gọi hòa giải mà phía CSVN lùi lại một bước và chỉ kêu gọi đối thoại nhằm mục đích để tìm hiểu những khác biệt, mâu thuẫn hay làm quen, một bước khởi đầu hữu lý để đưa tới hòa giải. Quả thật sự hữu lý đã xảy ra, khiến cho một số người Việt ở Houston đã đi gặp ông Sơn và chiêu bài đối thoại đã được một số người, vài đảng phái hải ngoại chấp nhận và thậm chí cổ võ. 

Thử xem xét về hai ý tưởng sai lầm mà những người bênh vực lý lẽ ‘đối thoại’ đưa ra.

- Đối thoại là bước khôn ngoan, hòa bình để giải quyết mâu thuẫn, tốt hơn là đối đầu có thể gây ra nhiều tổn hại. Trong ý nghĩa này, đối thoại còn có thể được tận dụng làm vũ khí đấu tranh;

- Hiện nay nội bộ nhà cầm quyền CSVN có nguy cơ sụp đổ vì những rối loạn trong nhiều lãnh vực như kinh tế, tham nhũng, xã hội... nhất là nguy cơ xâm lược của Tàu cộng và bị bế tắc không biết phương cách giải quyết. 

Nay đại diện CSVN đề nghị ‘đối thoại’ với cộng đồng người Việt hải ngoại:

1. Phải chăng là “họ” đang bị bế tắc chính trị? 

2. Phải chăng họ muốn nhờ cộng đồng hải ngoại giúp một tay gỡ mối rối: xây dựng lại đất nước và chống ngoại xâm. 

3. Hay phải chăng người CS đã chán chủ nghĩa CS và chỉ muốn thoát thân ‘an toàn’?

Ba giả thuyết về câu chuyện ‘đối thoại’ này có hai điểm sai lầm khi được nhìn dưới lăng kính đấu tranh (còn những ai nếu có ý muốn ‘chia phần’ với CSVN thì xin miễn đọc tiếp) như sau:

- Đối thoại không hề là một công cụ đấu tranh như từng được diễn tả trong lịch sử chiến tranh. Trong chiến tranh, thắng bại đều do sự tương quan thế lực của hai bên mà đối thoại thường xảy ra để dàn xếp vấn đề thắng thua một cách ổn thỏa và tránh thêm đổ máu. Cuộc đấu tranh với chế độ CSVN ngày hôm nay, cũng là chiến tranh với hình thức đấu tranh dân sự, thay vì bằng quân đội vũ trang. Sự thắng thế trong bất kỳ thương thảo nào cũng tương ứng với thắng thế ngoài mặt trận và không thể có điều ngược lại. Dựa trên nguyên lý này, thử điểm lại tình hình đấu tranh của lực lượng dân chủ chống lại chế độ độc tài CSVN thì thấy ngay rằng, phía dân chủ thực ra chưa gây được thiệt hại đáng kể nào cho phía CSVN cả. 

Vậy thì phía dân chủ lấy gì để đặt điều kiện, để gây áp lực hay đưa ra đòi hỏi? Nếu một bên không có vật trao đổi thì để nhận được điều mình muốn sẽ hoàn toàn tùy thuộc vào ‘lòng tốt’ của đối phương. Ý nghĩa này là gì nếu không phải là sự xin-cho? Kết luận là hoàn toàn không phải đối thoại.

- Rồi có giả thuyết cho rằng, sẽ có ngày CSVN rơi vào một tình thế gọi là ‘bế tắc chính trị’ (vì không thể kết hợp dân tộc để chống ngoại xâm và xây dựng đất nước) và con đường giải quyết duy nhất là ‘hòa giải’ giữa hai miền Nam và Bắc, quốc nội và hải ngoại, cộng sản và quốc gia để mọi người Việt Nam có thể cùng góp phần chống ngoại xâm và xây dựng quê hương. 

Đây lại là một giấc mơ của những người không muốn dấn thân đấu tranh mang tâm khảm chủ bại và muốn có phần thưởng một cách dễ dàng qua sự “hòa giải, hòa hợp” của ĐCSVN. Khi một nhà làm chính trị “xôi thịt” thích mơ mộng thì ông hay bà ta không muốn nhìn vào thực tế, những thực tế CSVN đã làm trong quá khứ như:

- Công hàm bán nước của Phạm Văn Đồng, 

- Hiệp định biên giới, thái độ ươn hèn của thời Nông Đức Mạnh, 

- Né tránh hàng loạt ‘tàu lạ’ ngoài Biển Đông, 

- Đàn áp người biểu tình chống Tàu cộng xâm lược,

- Càng mạnh tay hơn với người biểu tình đòi đuổi Formosa, đòi biển sạch. 

Giấc mơ này càng làm cho người cộng sản được nâng lên thành những người yêu nước đang tìm kiếm hướng đi đúng đắn cho đất nước chứ không phải là những kẻ bán nước. 

Nếu thực sự CSVN cảm thấy bị bế tắc chính trị thì chẳng cần hỏi đâu xa, chính họ cũng biết rất rõ, rõ hơn tất cả 93 triệu người dân sống trong nước. Nhưng vì họ là một đảng độc tài đảng trị, chọn cơ chế chuyên chính vô sản làm kim chỉ nam, cho nên dù có bế tắc chính trị đi nữa... họ vẫn bám chặt quyền bính, nếu cần sắt máu, họ cũng không từ nan. Do đó, mọi chuyện sẽ chỉ được giải quyết một khi giải tán và giải thể được ĐCSVN mà thôi.

2. Tại sao phải đối kháng?

Cuộc tranh chấp giữa lực lượng dân chủ và độc tài CSVN là một cuộc tranh chấp nằm trong ý thức hệ giữa cộng sản và tự do, độc tài và dân chủ. Đó là hai nguyên lý xung khắc không thể nhượng bộ hay thương thảo mà kết quả đưa tới phải là thắng hoặc thua. Chính hoàn cảnh này nói lên tính dứt khoát của lực lượng dân chủ phải là đối kháng mới có thể đạt mục tiêu. 

Bất cứ ai chủ trương đối thoại là chưa thực sự bước vào con đường đấu tranh với CSVN hay chưa hiểu bản chất về cuộc tranh chấp.

Trong đấu tranh, sự thắng thua đặt căn bản trên thực lực của mỗi bên, không phải trên đối thoại. Thông thường, bên yếu muốn ‘đối thoại’ để ngưng chiến để có thời gian củng cố lực lượng hay để xin đầu hàng tránh bị tận diệt. Mặt khác bên mạnh muốn ‘đối thoại’ để dụ chiêu hàng bên thua mà không tổn hao lực lượng. Với tương quan lực lượng ngày nay, nhà cầm quyền CSVN hẳn nhiên là bên mạnh đối với lực lượng dân chủ thì khi họ ngỏ ý muốn “đối thoại” với cộng đồng người Việt hải ngoại thì chỉ có nghĩa là dụ ‘chiêu hàng’!

Đối kháng với CSVN là công việc thiên nan vạn nan. Tầm mức to lớn của vấn đề quả đã làm nhiều người e ngại, mất tự tin, nhưng hãy điểm qua trường hợp cách mạng bất bạo động Ba Lan để tìm xem nền dân chủ mà dân Ba Lan có được ngày hôm nay là do đảng CS Ba Lan ban cho (đối thoại) hay phải tự đổ xương máu giành lấy?

Sơ lược công cuộc đấu tranh ở Ba Lan bắt đầu từ khoảng năm 1970 với cuộc đình công lớn của công nhân xưởng đóng tàu Lenin ở thành phố cảng Gdansk kéo theo các cơ xưởng trong vùng, sau đó dẫn tới việc đốt phá trụ sở đảng cs thành phố. Nhà cầm quyền cs đã phải huy động tới 60,000 quân lính để đối phó và dẹp yên. Tuy nhiên, cuộc đấu tranh vẫn âm ỷ tiếp diễn ngoài vòng pháp luật. Năm 1979, buổi thánh lễ do Đức Giáo Hoàng John Paul II cử hành, trong lần đầu tiên trở về Ba Lan sau khi nhậm chức (1978), đã quy tụ 3 triệu người trong trật tự, không cần tới an ninh của chính quyền và đã không xảy ra bất cứ xô xát nào. Năm 1980, công nhân toàn quốc đình công với sự tham gia của 1 triệu đảng viên cs, số thành viên của Công đoàn đoàn kết Solidarity lúc này lên đến 10 triệu người. ĐCS Ba Lan đã phải dùng tới đội quân 100,000 người được huấn luyện đặc biệt và toàn thể đội cảnh sát cơ động (riot police) để đối phó. Sau đó Solidarity đổi chiến thuật qua phương thức bất hợp tác làm suy yếu nền kinh tế dần và cuối cùng ĐCS đã phải chấp nhận ‘đối thoại’ theo điều kiện do Solidarity đòi hỏi. Năm 1990, Lech Walesa trở thành tổng thống và đcs Ba Lan bị mất quyền chủ động.

Qua 20 năm đấu tranh, người công nhân và dân chúng Ba Lan đã hiểu ra rằng bắt buộc phải thay đổi thể chế thì các quyền dân sự của họ mới được bảo đảm và cuối cùng họ đã không chấp nhận bất cứ điều kiện gì thấp hơn đòi hỏi dân chủ hoàn toàn.

Từ ví dụ của Ba Lan mà ngẫm ra Việt Nam sẽ thấy ngay rằng người dân Việt Nam, nếu muốn có tự do thì chính mình phải tranh đấu để giành lại. 

Muôn đời sẽ không có người CS nào ban phát cho cả.

Xin đừng mong cầu, van xin, khuyên nhủ.

Chỉ có áp lực mới có thể đưa ĐCSVN tới chỗ giải thể.

Cộng sản và Tự do, Độc tài và Dân chủ không thể đi đôi. Người CS hiểu rất rõ điều này và phía dân chủ cũng phải hiểu như thế.

Chỉ có đối kháng mới loại bỏ được chế độ CSVN, Thái thú của Tàu Khựa mà thôi!

05.04.2017

Nghề nào đang "hot" nhất tại VN?

Phóng viên vỉa hè lề dân (Danlambao) - Theo thông tin lọt ra vỉa hè lề dân từ Cục Việc làm của Bộ Lao động thì tình hình thất nghiệp trong tuần qua đã giảm đột biến. Trên 200000 các cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ đang ngồi nhà gải lăn tăn không có nghiệp bây giờ đã có nghiệp. Các ngư dân 4 tỉnh miền Trung đang phiêu bạc giang hồ vì đảng ta chưa thèm quan tâm sâu sắc giờ đã phiêu bạc trên đường phố với job mới.

Bên cạnh sự cố có việc làm tăng vọt là tình trạng mỗi người làm 2 jobs cũng gia tăng. Đặc biệt là các cán bộ, đảng viên đã tranh thủ không ngủ trưa, không đi chùa, không hát karaoke, không tiếp dân, không chơi game, không vào những trang web đồi trụy để tự diễn biến, tự chuyển hóa trong giờ hành chánh... để làm thêm việc thứ hai. Ngày cả nhiều đồng chí gái "quy hoạch" của đảng giống như hot girl Trần Vũ Quỳnh Anh, cả ngày không làm gì, chỉ làm việc ban đêm, cũng đã tranh thủ đi làm thêm vào ban ngày.

Theo đồng chí cục lớn nhất của cục việc làm thì theo chiều hướng này, trong 3 năm tới nước ta sẽ có thêm nhiều đại gia bậc trung, trong 10 năm nữa thì đảng ta sẽ hoàn tất sự nghiệp xóa sạch giai cấp vô sản trên toàn quốc.

Hiện tượng này khởi đi từ tấm gương của một cán bộ điển hình và mẫu mực của đảng. Đồng chí này đã từ bàn tay trắng, lặn lội đi theo đảng từ Hà Tĩnh lên vùng cao nguyên, giải phóng các đồng bào dân tộc thiểu số và giải phóng luôn nhiều đất đai, đồng ruộng của họ. Nhờ sống chiến đấu và học tập theo gương bác, đồng chí đã được cân nhắc và trở thành thanh tra của tỉnh. Trong thời gian làm thanh tra, đồng chí đã tranh thủ để chạy xe ôm nên được gọi là thanh tra xe ôm.

Sau một thời gian kiên trì với sự nghiệp ôm, ngày nay đồng chí đã trở thành giàu có một biệt thự nguy nga và nhiều của chìm của nổi khác.

Đây là tấm gương thành công sáng chói lần thứ 3 của các đồng chí đảng ta. Lần đầu là đồng chí Tổng Thanh tra Chính phủ Trần Văn Truyền đã làm nghề móng tay đến thối cả 10 ngón tay và nhờ đó đã làm nên sự nghiệp đồ sộ với nhiều mặt bằng, biệt thự khủng. Kế đến là đồng chí Giàng Seo Phử, bộ trưởng bán vé số vì nhờ làm thêm nghề này trong lúc đang là ĐBQH và Bộ trưởng - chủ nhiệm ủy ban dân tộc, mà thu nhập cao cả nhiều trăm triệu.

Đồng chí đang trở thành niềm tin "có ôm rồi sỏi đá cũng thành dinh" cho nhiều người ngày hôm nay là đồng chí Nguyễn Sỹ Kỷ - Phó ban Nội chính kiêm Thanh tra xe ôm của tỉnh Đắk Lắk. Tin cho biết là đồng chí đang được vận động để trở thành Chủ tịch kiêm Tổng Thanh tra nghiệp đoàn xe ôm toàn quốc sắp được đồng chí Tổng bí thư gắn huân chương lao động hạng nhất.

05.04.2017

Hàng xuất cảng của Việt Nam khó vào Mỹ

Hàng xuất cảng của Việt Nam khó vào Mỹ
Gạo Việt Nam xuất sang Mỹ bị trả về với lý do bị nhiễm thuốc trừ sâu (ảnh: Đ.Minh)
Thông tin từ bà Vũ Kim Hạnh, Trung Tâm Nghiên Cứu Kinh Doanh Và Hỗ Trợ Doanh Nghiệp (BSA) có trụ sở chính tại Sài Gòn, cho biết hiện nay rất nhiều doanh nghiệp ngành gạo và thủy sản của Việt Nam đang gặp khó khi muốn xuất cảng vào Mỹ.
Từ Hoa Kỳ trở về, bà Vũ Kim Hạnh nói rằng đạo luật FSMA (Food Safety Modernization Act.) của Hoa Kỳ, áp dụng từ tháng 6-2016, đã khiến rất nhiều chuyến hàng gạo và thủy sản của Việt Nam xuất cảng sang Hoa Kỳ bị phạt, trả hàng, giam hàng kể cả tiêu hủy vì vi phạm các quy định về an toàn thực phẩm. Tuy nhiên, khác với nhiều quốc gia, một viên chức của FDA thắc mắc với bà Hạnh rằng, khi các công ty Việt Nam bị phạt, trả hàng, giam hàng hay tiêu hủy, thì cứ từng công ty lặng lẽ thi hành, chẳng mấy công ty khiếu nại. Trong khi đó, ở những trường hợp tương tự, các quốc gia khác sẽ nhanh chóng lên tiếng phản ứng ngay, và công ty thì đưa luật sư đến để nỗ lực giải trình, tìm cách giải quyết, giảm thiệt hại.
Bà Vũ Kim Hạnh, kể: “Tôi có gặp vài anh chị tổng giám đốc mà tên doanh nghiệp còn nằm trên danh sách phạt của FDA. Hơi lạ, có bạn thì thào, đừng nói rộng rãi chuyện họ bị phạt (?). Một số khác hơi bất ngờ khi thấy tôi biết rõ về các vi phạm, họ tưởng giữ bí mật được, là do không biết, chứ hồ sơ vi phạm thì vẫn cứ “phơi” trên các trang web cho toàn thiên hạ truy cập mà. Sắp tới, cả Canada, Úc, các nước châu Âu sẽ áp dụng biện pháp tương tự “Hiện đại hóa an toàn thực phẩm” như Hoa Kỳ. Khi đó, doanh nghiệp xứ Việt “chuyển hóa” thị trường xuất khẩu đi đâu?”.
Bà Vũ Kim Hạnh nhận xét ở Việt Nam gần như đang thả nổi thị trường cho các thương nhân của Trung Cộng tha hồ hoành hành. Doanh nghiệp Việt Nam vẫn đang xoay sở tự bơi là chính. Không ít doanh nhân Việt Nam đã qua Singapore mở công ty khởi nghiệp, nhiều doanh nhân lại chạy qua đầu tư nông nghiệp ở Thái Lan.
“Họ phải làm ăn, phải sống!”. Bà Hạnh nói như vậy.
Vũ Minh Ngọc / SBTN

Bộ Tài Nguyên CSVN cho phép nhà máy thép Formosa bắt đầu chạy thử

Bộ Tài Nguyên CSVN cho phép nhà máy thép Formosa bắt đầu chạy thử
Bất chấp hạng mục quan trọng vào bậc nhất vẫn chưa được sửa chữa, bất chấp những cuộc biểu tình, khiếu kiện của chính những nạn nhân của Formosa, Bộ Tài Nguyên Và Môi Trường CSVN tuyên bố nhà máy thép Formosa Hà Tĩnh đã đáp ứng các điều kiện để bắt đầu chạy thử.
Truyền thông nhà nước cộng sản cho hay như vậy hôm Thứ Tư 5 tháng 4, một năm sau khi hoạt động xả thải độc hại từ chính nhà máy này đã gây ra thảm họa môi trường tệ hại nhất trong lịch sử Việt Nam. Đài truyền hình VTV nói rằng, Bộ Tài Nguyên loan báo kết luận sau cuộc thanh tra ba ngày tại nhà máy của công ty Đài Loan. Hiện nhà máy này vẫn còn cần được sự chấp thuận của nhà cầm quyền Hà Nội, trước khi có thể tiến tới thử vận hành lò luyện thép đầu tiên.
VTV trích dẫn báo cáo của Bộ Tài Nguyên nói rằng Formosa đã giải quyết xong 52 trong 53 vi phạm. Vi phạm còn lại chưa được giải quyết là việc sử dụng hệ thống luyện cốc “ướt”, tạo ra nhiều chất thải hơn so với những hệ thống luyện cốc “khô” hiện đại hơn.
Nguyên nhân của vụ xả thải chất độc được cho là do nước làm nguội lò nung từ hệ thống ướt thoát ra biển sau một vụ mất điện. Công ty Formosa dự trù hoàn tất hệ thống luyện cốc mới vào năm 2019. Không rõ dựa trên điều kiện bảo đảm nào, mà Bộ Tài Nguyên cho phép Formosa vận hành thử dù chưa có hệ thống luyện cốc khô.
Huy Lam / SBTN

Lại xuất hiện dải nước đỏ tại cảng Sơn Dương

Lại xuất hiện dải nước đỏ tại cảng Sơn Dương
Vệt nước màu hồng xuất hiện tại cảng Sơn Dương vào sáng nay 4-4. (Ảnh: HV)
Vào lúc 10 giờ sáng 4-4, tại khu vực tiếp giáp giữa bến tàu Tây 1 và Nam 1 cảng Sơn Dương (thuộc Công ty Công ty Formosa Hà Tĩnh) xuất hiện một dải nước màu hồng phấn dài khoảng 10m tấp vào cảng.
Một nữ nhân viên phụ trách an toàn cầu cảng Sơn Dương cho biết thêm: “Dải nước này giống với màu dải nước từng xuất hiện tại cảng Sơn Dương vào ngày 27-2. Đặc biệt, thời điểm xuất hiện dải nước cũng vào buổi sáng”.
Trước đó, vào các ngày 19-1, 17-2, tại vùng biển xã Kỳ Lợi, khu vực cầu cảng Sơn Dương và xã Kỳ Hà cũng từng xuất hiện dải nước màu đỏ.
Nhà chức trách ngay sau đó đưa ra kết luận đây là hiện tượng “tảo nở hoa” do nguồn nước nơi đây bị ô nhiễm.
Trên lý thuyết, nếu ở một nơi mà chưa từng xảy ra tảo nở hoa, hoặc ít xảy ra nhưng giờ xảy ra nhiều hơn, nguyên nhân là do các hoạt động của con người đã tác động đến môi trường nước. Ngoài ánh sáng, tảo còn cần các chất vô cơ khác như phosphat, nitrat, silicat, và sắt.
Trong trường hợp ở khu Formosa Hà Tĩnh, có thể nước thải công nghiệp của doanh nghiệp này khi đổ ra biển đã cung cấp nguồn hóa chất vô cơ cho tảo.
Từ hôm 3-4 đến nay, một đoàn các quan chức của Bộ Khoa Học, Công Nghệ Và Môi Trường CSVN đang có mặt ở Formosa Hà Tĩnh, với lý do rà soát lại các vấn đề trong xả chất thải.
Nhiều nguồn tin cho biết nhà nước CSVN có thể sẽ tiến tới cho phép nhà máy Formosa Hà Tĩnh tái hoạt động, sau một năm ngưng trệ vì đã xả chất thải hủy diệt môi trường biển miền Trung.
Vũ Minh Ngọc / SBTN

Tham nhũng ở Việt Nam: Cần việc gì cũng phải hối lộ

Tình trạng hối lộ cho giáo viên tiểu học ngày một tăng để con em được quan tâm hơn. (Hình: báo Thanh Niên)
HÀ NỘI (NV) – Tỉ lệ người dân cho biết, họ phải chi hối lộ cho cán bộ công chức để làm xong giấy chủ quyền nhà đất; cho giáo viên tiểu học công lập để con em được quan tâm hơn tiếp tục tăng lên trong năm 2016.
Ðó là thông tin tại buổi công bố khảo sát chỉ số quản trị và hành chính công cấp tỉnh (PAPI) năm 2016, do Chương Trình Phát Triển Liên Hiệp Quốc tại Việt Nam (UNDP) phối hợp với Trung Tâm Nghiên Cứu Phát Triển và Hỗ Trợ Cộng Ðồng (CECODES) cùng Trung Tâm Bồi Dưỡng Cán Bộ và Nghiên Cứu Khoa Học của Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam thực hiện vừa được công bố ngày 4 Tháng Tư.
Theo báo Thanh Niên, trong 6 chỉ số nội dung, chỉ số kiểm soát tham nhũng khu vực công năm 2016 bị giảm điểm. Cụ thể, tỉ lệ người dân cho biết, họ phải chi “lót tay” cho công chức để làm xong giấy chứng nhận chủ quyền nhà đất, và cho giáo viên tiểu học công lập để con em được quan tâm hơn vẫn tiếp tục tăng lên trong năm 2016.
Bên cạnh đó, khoảng 54% số người dân cho rằng, cần phải đưa hối lộ mới xin được việc làm trong khu vực nhà nước, tăng 3% so với năm 2015 và 9% của năm 2011. Ðồng thời, chỉ số cán bộ chính quyền các địa phương biển thủ công quỹ cũng tăng mạnh.
Phúc trình cũng cho biết, các tỉnh trong nhóm điểm thấp nhất tập trung phần lớn ở khu vực miền núi phía Bắc và cực Nam. Yên Bái, Lạng Sơn, Cao Bằng, Hà Giang và Lai Châu có tên trong nhóm đạt điểm thấp nhất cùng với Cà Mau, Bạc Liêu, Trà Vinh và Kiên Giang.
Chỉ số PAPI thể hiện đánh giá của người dân thông qua trải nghiệm và cảm nhận của họ về hiệu quả quản trị, hành chính công và cung ứng dịch vụ công của bộ máy chính quyền các cấp. Trong đó, PAPI 2016 được thực hiện với hơn 14,000 người ở tất cả 63 tỉnh thành qua phỏng vấn ngẫu nhiên. (Tr.N)

Tuesday, April 4, 2017

Tháng Tư nhớ lại: Giờ phút cuối cùng của một đơn vị QLVNCH tại Sài Gòn

Chi Lan (viết theo Hùng)-04-04-2017
Không bao giờ chúng ta có thể ngờ được có ngày 30 Tháng Tư 1975 và không bao giờ, trước đó, chúng ta nghĩ rằng ngày 30 Tháng Tư 1975 chính là ngày vành khăn tang phủ lên đầu Bà Mẹ Việt Nam.
Ðơn vị chúng tôi đang đùa giỡn với địch quân tại vùng ngoại ô Sài Gòn, khu xa lộ Ðại Hàn nối liền từ ngã tư Quân Vận (Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung) đến xa cảng Phú Lâm. Ðược lệnh nguyên tiểu đoàn phải về phòng thủ dọc theo Quốc lộ 1 từ ngã tư Quân Vận đến ngã ba Bà Quẹo trong đêm 27 Tháng Tư 1975.
Thưa quý vị độc giả vì vài lý do riêng mà lý do chính vẫn là anh em đồng ngũ của chúng tôi, một số đông vẫn còn trong vòng kiềm tỏa của bọn Cộng Sản khát máu, vậy những tên tuổi trong cốt truyện này chỉ là tên giả cũng như tên của đơn vị chúng tôi xin được tạm quên, trong câu chuyện đầy đau thương thống khổ, cười ra, mà nước mắt lại là máu huyết của chúng tôi, vì chúng tôi tan hàng trong lúc địch quân đang bạt vía kinh hồn không hiểu chúng tôi đang ở đâu, không hiểu chúng tôi còn hay rã, nên bước chân vào Sài Gòn mà vẫn còn run rẩy. Nếu không được bọn ăn cơm Quốc Gia thờ ma Cộng Sản chỉ lối đưa đường thì chúng cũng chưa có hoàn hồn khi bước chân vào Dinh Ðộc Lập.
Và sau đó nhân loại đâu có ngờ được những sự dã man, tắm máu khô, khủng khiếp đang bao trùm lên dân tộc tôi, những đơn vị Mũ Ðỏ, những đứa con chỉ biết sống chết cho vinh quang của đất nước, chết để bảo vệ quê hương “Quê Mẹ Việt Nam” đành phải gạt nước mắt tan hàng trong ngỡ ngàng, trong đau đớn tột cùng, trong tiếng cười khan pha lẫn máu bạn bè, đồng đội.
Với 15 tiểu đoàn tác chiến (chắc có người lấy làm lạ): Vâng đúng như vậy, 15 tiểu đoàn tác chiến, 4 tiểu đoàn pháo binh, 4 đại đội Trinh sát, 15 đại đội đa năng với kỷ luật cao độ, tác phong đứng đắn, lúc nào cũng hiên ngang đùa giỡn với tử thần, và châm ngôn “Thân dân, bảo vệ dân và giúp đỡ dân” được chúng tôi ghi khắc trong tâm hòa khẩu hiệu “Cố Gắng” để hoàn thành mọi vấn đề khó khăn trầm trọng.
Chúng tôi không sao quên được những cánh tay gầy guộc của bà mẹ Trị Thiên đã ôm chúng tôi run run dâng lệ vì sung sướng khi thấy chúng tôi trở lại Trị Thiên năm 1972. Các bà mẹ, các em gái đón chúng tôi tại đầu đường, không do chính quyền tổ chức mà do tình cảm của con người đối với con người: của các bà mẹ, của các em gái đón những đứa con yêu, những người anh can trường mang thân mình để bảo vệ đồng bào, quê hương đọa đầy. Ôi những em bé Huế dưới làn mưa đạn của quân thù đã đem đến cho chúng tôi những nắm cơm sấy trong biến cố Mậu Thân. Những vòng hoa chiến thắng của nữ sinh Quảng Ngãi đã choàng cho chúng tôi trong dịp Xuân 1966 sau Liên Kết 81, miền Trung đậm đà, miền Nam thương yêu, ở bất cứ chiến trường nào chúng tôi cũng tôn trọng kỷ luật của quân đội và kỷ luật sắt thép của binh chủng là phải tôn trọng dân được dân mến, dân thương thì chiến thắng quân thù chỉ còn là bước chân nhẹ nhàng để đón nhận vinh quang. Tại những vùng tiền tuyến, đi đâu dân cũng mến, dân cũng thương đoàn quân Mũ Ðỏ.
Tại chiến trường cam go Quy Nhơn, Bình Ðịnh đoàn quân nào ngoại quốc tới đó cũng khựng lại, nhưng đoàn quân Mũ Ðỏ dễ dàng lấn chiếm các mật khu mà chúng tự cho là đời đời bền vững. Tại miền Ðông chiến khu D, tam giác sắt trở thành những vùng quang đãng, thanh bình sau khi những cánh Thiên Thần lướt qua. Tại miền Tây Cầu Kè đến U Minh, Ðông Tháp, nơi nào ngập lụt, nơi nào khó khăn nhất, chúng tôi ít nhất cũng qua đó một lần trong vinh quang.
Vậy mà năm 1975, chúng tôi phải tan hàng, phải tù tội phải chịu đựng mọi sự trả thù thấp hèn, đón mạt dã man mà loài người không tưởng tượng nổi. Chúng tôi không một oán hờn với những người lầm đường lạc lối, nhưng nay đã thức tỉnh. Chúng tôi không một ngạo mạn với những bạn bè cùng chung chí hướng, những ân tình của dân chúng đã vun đắp chúng tôi thành một ý chí sắt đá nguyện đem tấm thân còn lại trở về quê hương.
Xin hãy đừng vơ đũa cả nắm, xin hãy dành một ý niệm tốt cho những thanh niên miền Nam Việt Nam, những người đã dâng hiến cả cuộc đời thanh xuân của mình cho Quốc gia Dân tộc, quyết không bao giờ lừa dối, man trá được. Xin hãy dùng tất cả mánh lới thủ đoạn, dù lớn hay nhỏ, dù hời hợt hay sâu xa cho quân thù. Xin linh hồn bạn bè hãy soi sáng cho đường đi lối về của những người con yêu của đất nước, xin hãy bỏ bớt những trò múa may quay cuồng, để gồm thâu tình nghĩa gần lại với quê hương dân tộc, xin hãy lấy tâm gan cộng tác với nhau, xin đừng gièm pha xấu xa, con đường trở về Thiên nan, vạn nan, đầy dẫy những chướng ngại của quân thù. Xin đừng giúp quân thù cài thêm chướng ngại cho chiến hữu, bạn bè.
***
Ðúng 10 giờ sáng ngày 30 Tháng Tư 1975, tôi nhận được lệnh rút lui, lúc đó đại đội của tôi là tuyến đầu của tiểu đoàn tại vùng ngã tư Quân Vận đến cầu Tham Lương cách hãng dệt Vinatexco 300 mét về hướng Hóc Môn. Cùng lúc đó đứa con đầu đàn của tôi báo cáo đoàn xe địch đang di chuyển vào phòng tuyến xin lệnh tôi. Tôi xin lệnh trên, được lệnh vắn tắt (“Tiêu diệt xong rút về Lăng Cha Cả chờ lệnh kế tiếp. Không thu chiến lợi phẩm, bảo toàn lực lượng”). Tôi cũng xin một nói thêm tiểu đoàn chúng tôi rải quân như sau: Ðại đội thứ 4 của tôi từ ngã tư Quân Vận đến cầu Tham Lương, đại đội thứ 3 khu Bình Thới đến ngã ba Bà Quẹo, đại đội thứ 2 từ ngã ba Bà Quẹo đến ngã tư Bảy Hiền, đại đội thứ 1 từ ngã tư Bảy Hiền đến Lăng Cha Cả và Trương Minh Ký.
Tôi cho lệnh chi tiết cho Chuẩn Úy Nhiên, trung đội trưởng Trung Ðội 1 của tôi, Nhiên nhanh nhẹn trả lời, “Hiểu và thi hành.”
Ðoàn xe địch dẫn đầu bằng 3 chiếc PT 76 thư thả tiến vào Sài Gòn không gặp một sức kháng cự nào, qua ngã tư Quân Vận, qua Khu gia binh của Liên Ðoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù. Tôi đưa ống nhòm theo dõi từng vết xích của chiến xa dẫn đầu đang nghiền nát quê hương tôi. Hai cột khói nâng bổng hai chiến xa dẫn đầu kèm theo tiếng nổ của mìn chống chiến xa, một loạt hỏa tiễn M72 phóng ra, 3 chiến xa dẫn đầu tan nát, kèm theo 10 xe vận tải chở đầy bộ đội Bắc Việt bị lật nghiêng. Ðoàn xe sau đụng nhau dồn cục gây thêm một số thương vong cho chúng. Những Cán Ngố chĩa súng bắn loạn xạ, nhưng chúng không thấy chúng tôi. Chúng tôi rút về tới ngã ba Bà Quẹo, một giờ vất vả và vô sự. Ðúng lúc đó địch quân cũng đã hoàn hồn và tiếp tục di chuyển, lần này chúng thận trọng di chuyển thật chậm, vừa đi vừa bắn những chỗ chúng khả nghi. Ðơn vị chúng tôi tiếp tục di chuyển về ngã tư Bảy Hiền.
Một số phóng viên ngoại quốc bu lấy tôi hỏi đủ chuyện. Lúc đầu tôi trả lời bằng tiếng của họ “Tôi không biết,” nhưng sau đó một phóng viên ngoại quốc hỏi tôi bằng tiếng Việt:
– Anh thuộc đơn vị nào?
– Nhảy Dù
– Tôi muốn hỏi anh thuộc tiểu đoàn nào?
– Anh cứ biết một tiểu đoàn Nhảy Dù đủ rồi.
Thấy tôi không muốn trả lời họ không hỏi nữa. Họ thi nhau chụp hình đơn vị đang rút của tôi rồi bỏ đi về hướng tiền quân.
Nhảy Dù! Không hiểu ai đặt ra cái luật khắt khe, “Không được tự ý trả lời phóng viên dù là tên của mình.” Quý vị thấy những đơn vị bạn có những tên thật đẹp như Cọp Vằn, Hắc Báo, Kình Ngư… Nhưng Nhảy Dù có những tên vô cùng đẹp như: Con Gà tử mị, Sư Tử mắc nước, Con Cù lần, v.v… Còn tên các tiểu đoàn trưởng như: Trưởng ấp, Xã trưởng, Bồi bàn, Cao bồi… Ðại Ðội Trưởng: T… sốt rét, N. Lai H… ghẻ,… Có một đại đội trưởng may mắn hơn có cái tên đẹp Út Bạch Lan. Thường những tên như vậy cấp dưới biết nhưng không ai dám gọi cả.
Mặc dầu địch quân tiến thật chậm, và thận trọng nhưng chúng tôi nhất định không tha, nếu chúng nắm vững tình hình tiến chậm hai giờ nữa để đơn vị chúng tôi rút lui xong, thì chắc chắn chúng sẽ vào Dinh Ðộc Lập như vào chỗ không người. Khi tới gần Vinatexco, 2 thiết giáp đi đầu bắn xả vào những “Lô cốt” trong phi trường, nhưng các lô cốt này đã bỏ trống, đơn vị phòng thủ phi trường đã bỏ ngõ từ lúc trưa ngày 29 Tháng Tư 1975. Các loại súng trên thiết giáp thi nhau nhả đạn vào những chỗ chúng nghi ngờ. Chúng đâu có ngờ một pháo đội ngụy trang kín đáo tại vị trí vãng lai của TÐ 1 PB đang sẵn sàng tiêu diệt chúng, 4 viên đạn chống chiến xa ra khỏi nòng súng 105 ly các pháo thủ đầy kinh nghiệm chiến trường rang muối thêm 2 con cua sắt và 2 vận tải. Lần này chúng có kinh nghiệm, chúng không bị dồn cục, nên không bị tổn thất thêm, nhưng đau cho chúng là chúng không biết từ đâu để bắn lại trả thù. Xong nhiệm vụ các pháo thủ Mũ Ðỏ cũng rút lui sau khi phá hủy súng.
Ðối với chúng tôi, đánh giặc phải tiêu diệt chúng xong, chiếm mục tiêu, thu chiến lợi phẩm thì đơn vị mới có tổn thất, còn diễn trò như hôm nay, gây cho chúng tổn thất rồi mình chạy làng, thì không bao giờ anh em chúng tôi phải hy sinh. Nhưng trò đùa này của chúng tôi cũng làm chúng điên đầu nhức óc, mỗi lần như vậy, chúng lại phải điều quân lại, tổ chức lại đội hình thật lâu chúng mới dám dè dặt tiến quân tiếp. Chúng bắn tứ tung, mất tinh thần thấy rõ, chính vì vậy mà những đơn vị của chúng ta trước đây mỗi khi đi hành quân bảo vệ đồng bào, nếu không cẩn thận dễ bị tổn thất, vì địch không đương đầu chống lại, chúng vừa đánh vừa rút, hoặc phải đương đầu với ta là vì chúng không còn ngõ để chạy nữa. Nhất là những vùng rừng núi rộng rãi chỗ cho chúng chạy thì: Kỹ thuật tác chiến yếu, tinh thần suy sụp là đơn vị hành quân rất dễ bị nướng lắm.
Từ ngã ba Bà Quẹo dân chúng còn lại, hối hả chạy dọc theo đường hướng về phía Sài Gòn, sự sợ hãi, hốt hoảng lộ ra trên nét mặt, không còn một nu ỳcười trên môi các thiếu nữ, không còn tiếng nô đùa trên miệng các em bé vui tươi. Nhìn những khuôn mặt ngây thơ đầy u uất, lòng tôi se lại trong đớn đau nát da, đứt ruột. Ðồng bào tôi đây, đang cần sự che chở của quân đội, của chúng tôi, nhưng chúng tôi lại “Khiếp nhược” rút lui! Không thể được, việc trước mắt như cứu lửa, phải bảo vệ đồng bào như một phản ứng tự nhiên. Có bao giờ chúng tôi phải rút lui cay đắng như thế này đâu? Có bao giờ đồng bào nhìn chúng tôi xong lặng lẽ chạy tiếp đâu? Bây giờ giặc đã đến ngõ cụt của thủ đô. Những giọt mồ hôi quái ác làm mắt tôi cay cứng lấy tay áo quệt mồ hôi; mặc dù chưa rõ tình hình chung, nhưng tôi biết đây là trận chiến cuối cùng để dân tộc này, quê hương này sẽ đi vào con đường u tối miên man, không một ánh sáng cuối đường hầm.
Chúng tôi cố tình trì hoãn rút lui để đồng bào chúng tôi đi được một khoảng cách xa an toàn, tôi cho lệnh rút lui tiếp tục, đứa con đầu của tôi, trước cổng Hoàng Hoa Thám chậm chạp di chuyển về phía sau đồng bào. Tôi đang từ Trung Ðội 4 trước Hội Ðồng Xã Tân Sơn Hòa lướt qua Trung Ðội 3, những anh em chiến hữu của tôi đã xả thân tại khắp các chiến trường đất nước, từng làm quân thù bạt vía kính hồn từ trận nhỏ đến trận lớn. Tôi nhìn vào tận mắt của từng người như cầu van tha thứ cho tôi, “Vì đã cho lệnh họ rút lui trước quân thù”; nhưng những ánh mắt nhìn tôi như oán hờn, như trách móc. Tôi cúi mặt tránh những ánh mắt thân thương, lầm lũi bước đi trên đường Lê Văn Duyệt quen thuộc, trước cổng trại Thạch Văn Thịnh (TÐII Nhảy Dù) con đường rộng thênh thang, không còn bóng người dân di chuyển, chỉ còn lại chúng tôi và một số phóng viên ngoại quốc. Tới cổng Hoàng Hoa Thám tự nhiên chân tôi chùn lại, tưởng như một khối chì nặng nề níu chân lại.
Ðứng lại trong thế nghiêm tự nhiên, cay đắng nhìn cổng trại thân yêu, cách đây 10 năm tôi vui mừng rạng rỡ bước qua để chính thức trở thành một quân nhân Mũ Ðỏ, chiếc cổng vô tri này nhưng ma lực của nó đã có sức hút vô cùng mạnh mẽ đối với biết bao thanh niên anh hùng ở lứa tuổi đôi mươi. Hình ảnh chiếc cổng hoang tàn với hàng rào Concertina ngổn ngang như hoang phế lâu ngày, nhìn sâu vào trong trại, tôi thấy thấp thoáng những bạn bè, chiến hữu chúng tôi đang vội vã di chuyển trong đó. Tôi không hiểu tôi đang là một thứ người gì, nhưng tôi đang đứng sững nghiêm chỉnh trước chiếc cổng như đại diện cho đơn vị, đơn vị tôi tôn thờ như thánh thần trong tâm khảm. Những ngày tung hoành ngang dọc nào có mơ ước gì hơn là tiêu diệt kẻ thù để đồng bào được yên ổn làm ăn.
Tôi đưa tay chào chiếc cổng thân yêu, các phóng viên muốn thu hình này nhưng quá muộn, tôi lững thững bước đi như xác không hồn. Nước mắt tôi giàn giụa xen lẫn mồ hôi cay đắng, cơn nấc nghẹn ngào làm tôi nghẹt thở. Giã từ Hoàng Hoa Thám, giã từ đơn vị thân yêu, đơn vị đã được chúng tôi dâng trọn cuộc đời thanh niên cho Hoàng Hoa Thám, dâng trọn cho đoàn quân Mũ Ðỏ.
Bây giờ với cái thân tàn tạ, hèn nhát này, dẫn đơn vị rút lui, dù theo lệnh trên, nhưng trước sức tấn công ào ạt của địch quân vào thủ đô. Ôi những chiến tích nức lòng dân như: A Châu, A Lưới, Tân Cảnh, Quảng Ngãi, Chương Thiện, Tây Ninh, Kiến Phong, Bình Long, Kom Tum, Quảng Trị, v.v… có chăng chỉ còn là một cơn gió thoảng qua trong cơn nóng nung lửa của tâm hồn. Sự dằn vặt tột cùng của sự tháo lui. Ôi cấp chỉ huy của tôi ơi! Ôi bạn bè của tôi ơi! Ôi những chiến hữu Mũ Ðỏ kiêu hùng của tôi ơi! Chúng ta đã chạy thật hay sao đây? Ðồng bào của chúng ta kia! Quê hương của chúng ta đó! Doanh trại của chúng ta đây! Hồn thiêng của bạn bè ẩn hiện đâu đây có ai cảm thông nỗi thống khổ này? Những khuôn mặt của Hiền, Ðược, Khiêm, Nhượng, Tống, Hùng, Hòa và hàng ngàn các chiến hữu Mũ Ðỏ đã ra đi giận dữ nhìn tôi.
Tôi nhắm mắt bước đi theo đoàn quân chậm chạp rút lui như tử tội nặng nề bước chân lên bực thang máy chém.
Tôi cố gắng im lặng để thanh thản bước đi nhưng hình ảnh anh em bạn bè, họ là những Chiến sĩ vô danh cứ soi mói nhìn tôi như oán trách, như căm hờn. Bảy điều tâm niệm khi mới bước chân vào quân ngũ tôi vẫn còn thuộc lòng từng câu từng chữ:
Luôn nêu cao danh dự của quân đội
………
Phải thân dân bảo vệ dân và giúp đỡ dân.
Nhưng giờ đây lúc này không phải một điều nào chúng tôi cũng giữ được, thế hệ sau sẽ nguyền rủa. Chúng tôi không phủ nhận, xin nhận tất cả tội lỗi nhưng phải làm gì khác hơn đây. Từ ngày bước chân vào quân ngũ là đã sẵn sàng chấp nhận tấm poncho gói ghém thân mình, hay vinh hạnh hơn nữa là “lá Quốc kỳ phủ lên thân,” sống chết chẳng qua là cuộc đổi đời, quan niệm như vậy nên sự sống, sự chết đối với những người Mũ Ðỏ thật cụ thể và nhiệm vụ quân đội, nhân dân giao phó mới đáng kể, nhưng bây giờ nhiệm vụ của quân đội giao phó là rút lui hay sao đây? Lằn tên nào cản được bước chân chúng tôi, bom đạn nào làm chùn chân chúng tôi, quân thù nào ngang cấp số với đơn vị dám đương đầu. Thân xác chúng tôi ai mà chẳng có vết tích của chiến tranh để lại trên thân thể. Thương xót cho bạn bè, cho đồng bào, cho dân tộc không biết sẽ phải đi về đâu đây?
– Thưa Ðích Thân “Ba” vừa đánh cháy thêm hai chiến xa nữa. Tiếng của Hòa người mang máy cho tôi. (Hiện nay Hòa đang ở Úc Châu.)
– Ở đâu? Tôi hỏi vắn tắt.
– Ngã ba Bà Quẹo.
Tôi vừa băng qua Ðại Ðội 1 của đơn vị, được lệnh trực chỉ theo đường Trương Minh Giảng về hướng Sài Gòn đến ngã ba Trương Tấn Bửu chờ lệnh.
Dọc theo bên đường dân chúng ngơ ngác nhìn chúng tôi, người chạy theo lên hướng Sài Gòn, người ngơ ngác đứng nhìn. Tôi vừa dừng chân tại Trương Tấn Bửu, trước bót cảnh sát.
– “Hai” đánh cháy 1 chiến xa và 3 xe vận tải tại ngã tư Bảy Hiền, “Ba” đã qua Lăng Cha Cả, cùng Bộ Chỉ Huy tiểu đoàn. “Một” còn nằm tại chỗ.
Tôi im lặng nghe Hòa báo cáo.
– Thưa Ðích Thân, “Hai” đã qua Lăng Cha Cả.
Cùng lúc đó tôi nhận được lệnh kiếm chỗ trống trải để tập họp cả tiểu đoàn. Trung Ðội 4 của Hạnh cho biết có sân trường Ðại Học Vạn Hạnh có thể tập họp được. Năm phút sau Hạnh báo cáo có một xe Jeep mang huy hiệu Biệt Ðộng Quân, nhưng do bọn mang băng đỏ bên tay trái lái. Tôi cho lệnh chận xe đó lại khai thác tin tức.
Trung Ðội 4 báo cáo xe đó là của một trung tá BÐQ nhà gần đó bị bọn mang băng đỏ (Sau này đồng bào gọi là bọn 30-4 ) cướp sử dụng, trên xe có 6 tên đa số là sinh viên của Ðại Học Vạn Hạnh. Chúng sử dụng súng của Nhân Dân Tự Vệ.
Ðồng bào thấy chúng tôi mồ hôi nhễ nhãi, người tiếp tế nước đá lạnh, người mang ra bình trà, có người mang cả đồ ăn. Lúc đó mặc dầu khát dữ dội nhưng cầm ly nước lạnh, không sao tôi có thể nuốt trôi được; Tôi đang căm tức bọn băng đỏ, bọn đê tiện phản bội. Ý tưởng thịt bọn chúng lẩn quẩn trong đầu tôi, nhưng tôi nghĩ sau này có thể bị xuyên tạc và dân chúng sẽ hiểu lầm đơn vị, hiểu lầm Binh chủng. Một điều chúng tôi tối kỵ, làm gì cũng được, nhưng nếu danh dự binh chủng bị xúc phạm, dù có chiến thắng hay lợi lộc mấy đi chăng nữa, chúng tôi cũng phải suy xét lại. Tôi nhớ Tết Mậu Thân, đơn vị chúng tôi trên đường về giải cứu cố đô Huế, tiểu đoàn của tôi bị tiểu đoàn VC bố trí trên Cổ Thành Huế chận lại; trong khi chúng tôi ở dưới thấp lại còn vướng một dẫy lạch sâu trồng sen chung quanh Cổ Thành này.
Thành cao không thể leo lên dễ dàng, khó khăn không thể nào vượt qua, nhưng vị chỉ huy của chúng tôi cầm chiếc “nón đỏ” và nói: “Ðây là lần đầu tiên nón đỏ này bị ô nhục.” Ðơn vị nghe thấy máu nóng bừng bừng ai cũng tưởng như mình thêm cánh, thêm sức. Không đầy 30 phút sau sức lực huyền bí dũng mãnh của tinh thần bảo vệ danh dự đơn vị bùng lên, những thiên thần sát Cộng đã hiên ngang bay qua từng chốt của địch diệt trọn phòng tuyến chính để vào Thành nội Huế. Chính nhờ vậy chúng tôi tiếp cứu được Bộ Tư Lệnh Sư Ðoàn I BB trong trại Mang Cá Huế.
Cùng lúc đó Hòa báo cáo “1 vừa đánh cháy một chiến xa tại Lăng Cha Cả và 2 xe vận tải.”
Vào khu Ðại Học Vạn Hạnh, tôi cho lệnh đứa con thứ tư của tôi đóng chốt giữ an ninh chung quanh khu đại học và từng đơn vị vào sân Ðại Học Vạn Hạnh tập họp chờ lệnh. Tôi thấy bọn băng đỏ lố nhố trong khuôn viên ÐHVH, chúng có vũ khí nhưng không một tên nào dám nhố nhăng, vì sau chúng có anh em của tôi kềm súng sẵn sàng hỏi tội chúng. Ý tưởng phải thanh toán hết bọn này lại hiện ra trong trí. Nhưng vị anh cả của chúng tôi im lặng, lầm lì quan sát, tôi thấy môi anh mím chặt, cặp mắt giận dữ nhìn chúng nhưng chưa một phản ứng, thì một tên mặc áo tu hành Phật Giáo tay cầm loa đưa ngang miệng dõng dạc trong câu nói điên rồ: “Ðất nước đã thống nhất, yêu cầu các anh em Nhảy Dù hãy buông súng trở về với cách mạng, cách mạng sẽ khoan hồng cho anh em.”
Phản ứng tự nhiên, tôi rút súng chĩa về phía hắn, hắn thụt lùi vào trong hành lang, và hàng trăm cây súng sẵn sàng nhả đạn. Nhìn lên những anh em trên cao ốc, tôi thấy anh em đều chĩa súng sẵn sàng chờ lệnh. Tôi biết rằng nếu tôi siết cò súng là súng nổ rền trời ngay lập tức, để đưa bọn Cộng con về với thiên đường Cộng sản. Nhưng thấy chúng cụp đuôi khiếp vía chạy trốn tôi cho súng vào bao, thầm nghĩ may mắn cho chúng gặp tôi, chứ gặp đơn vị khác thì hẳn là ÐHVH này chắc chắn phải trở thành ÐH “Bất Hạnh” ngay lập tức…
Anh cả của chúng tôi im lặng, đứng sững như trời trồng, sau đó anh cho lệnh Ðại Ðội 1 tìm bãi đất trống trải để tập họp tiểu đoàn, và cả đơn vị rút ra khỏi khu ÐHVH. Ðơn vị tôi là đơn vị sau cùng ra khỏi khu Vô Hạnh này. Tôi không thể hiểu nổi ngay tại nơi huấn luyện đào tạo ra lớp người Tổ Quốc mong cho mai sau lại có đuôi chồn đỏ như thế này hay sao? Thua địch quân không đau, buông súng không tủi bằng phải thua ngay những người mình hằng quý mến. Người tình lang mất người yêu chắc cũng chỉ đau đớn thấm thía như chúng tôi lúc này.
Quê hương ơi! Tổ quốc ơi! Ðồng bào ơi! Lỗi tại ai đây? Tại chúng tôi hèn nhát? Tại chỉ huy tồi? Tại vận nước suy đồi? Hay nó đã ruỗng ra từ bên trong…! Chúng tôi chỉ còn là cái vỏ mỏng bên ngoài làm sao chống đỡ nổi đây? Ðại đội tôi đi sau cùng và vừa ra khỏi khu phản bội được 3 trung đội, trung đội sau cùng và tôi rút ra khỏi khu Vô Hạnh mà phải đi giật lùi như trong vùng địch, cẩn tắc biết đâu chúng giở trò cắn trộm. Tâm hồn tôi chùng xuống xen lẫn cơn giận vô bờ. Bọn chồn đỏ lại ló đầu ra, tôi định cho đơn vị khai hỏa, vì cơn giận trong tôi lại bừng lên, nhưng cùng lúc đó danh dự của đơn vị trồi lên lấn át, tôi cho súng vào bao cho lệnh đơn vị tiếp tục rút lui ra vùng tập trung mới.
May cho bọn chúng nếu không nghĩ đến danh dự có thể sẽ bị hiểu lầm, bị nguyền rủa thì chắc chắn chúng phải đền tội. Nếu không thì tôi, phải chính tôi, vì căm hận chắc chắn không thù hằn, nhưng vì uất ức trước sự phản bội phũ phàng, một phút không kềm hãm được sự nóng giận, tôi chỉ cần nhẹ nhàng vẫy tay thôi bọn chúng sẽ phải theo Cáo Hồ của chúng. Ôi danh dự của đơn vị sao cao siêu quá, sao dũng mãnh quá, chế ngự được tất cả. Tôi không hiểu bọn chúng có biết rằng chúng vừa thoát chết hay không? Chúng có hiểu rằng nếu danh dự của đơn vị không chế ngự được chúng tôi thì hậu quả sẽ đến với chúng như thế nào?! Những dòng chữ này chắc chắn sẽ được một hay nhiều tên trong bọn chúng tại chốn Vô Hạnh hôm đó đọc được, để chúng hiểu rằng hôm đó không may súng nổ: Chính là vì chúng đã không khôn ngoan, đã phản bội trắng trợn, đã ngoại tình đê tiện hèn hạ trước mặt người yêu thương quý mến mình.
Bước ra khỏi khu đê hèn, hai trung đội trưởng của tôi có ý trách móc tại sao tôi không giết bọn chúng. Tôi im lặng, tôi muốn anh em giãi bày để vơi đi niềm uẩn ức của những anh em đang bị phản bội trắng trợn đê hèn. Bọn vô lương tâm đó ngày nay không hiểu chúng có còn được như Trịnh Công Sơn hay đang lần mò trong những trại giam cầm cho đáng đời bọn xảo trá gian manh.
Vùng tập họp mới của chúng tôi ngay tại ngã tư Yên Ðỗ và Trương Minh Giảng. Chúng tôi vừa vào hàng ngũ, đơn vị nghiêm chỉnh trình diện anh cả của đơn vị.
Huynh trưởng của đơn vị gương mặt thiểu não nói trong nghẹn ngào. Tôi có cảm tưởng như tiếng nói của anh bị đứt đoạn nhiều lần vì tiếng nấc đau thương: “Tôi xin chào tạm biệt các anh em. Xin báo cho các anh em biết chúng ta đã nhận được lệnh buông súng đầu hàng từ cấp chỉ huy tối cao của chúng ta. Cấp chỉ huy trực tiếp của chúng ta hoàn toàn mất liên lạc từ ngày hôm qua. Nhưng chúng ta không thể đầu hàng chúng được, vì danh dự của đơn vị tôi điều động anh em đến đây để bảo với anh em một lệnh cuối cùng: Chúng ta chào tạm biệt nhau tại đây ai về nhà nấy; tất cả quân trang, quân dụng tùy anh em định liệu; quyền chỉ huy của tôi đến đây đã chấm dứt.”
Cả đơn vị im lặng không một tiếng xì xào bàn tán.
Chúng tôi lặng người trong ngỡ ngàng tột độ, những lời lẽ thiếu mạch lạc của vị huynh trưởng phát ra từ xúc động. Tiếng nói của anh chấm dứt sau 5 phút đơn vị vẫn đứng im, từ trên xuống dưới không ai muốn xa nhau, không ai muốn tan hàng. Cái im lặng xa vắng, cái im lặng khủng khiếp. Tôi cũng đã biết giờ phút này phải đến, nhưng không ngờ nó đến trong bẽ bàng thế này! Nhìn hàng quân oai hùng, súng đạn còn đủ dùng, mặt mũi âu sầu. Cặp mắt mọi người đỏ hoe, tất cả đều gục mặt như mặc niệm bạn bè, mặc niệm đơn vị. Cơn đau đớn ê chề xâm chiếm dần dần như làn hơi thổi vào chiếc bong bóng tới độ không chịu được phải phát nổ. Sự phản bội từ trên xuống dưới, từ trong ra ngoài như cơn lốc bạt ngàn tạt vào mặt chúng tôi, cả hàng quân đang im lặng; vị huynh trưởng vẫn còn đứng đó, anh đang cúi mặt chận cơn đau đại nạn.
Tôi biết hàng ngày anh ăn nói rất văn hoa, nhưng hôm nay làm sao lời anh cộc lốc. Anh còn muốn nói nhiều, có lẽ anh còn muốn nói thật to, gào thét thật lớn, để một lần, một lần thôi rồi không bao giờ được tâm sự nữa. Thình lình Trâm một trung đội trưởng của tôi, nước mắt giàn giụa nhảy ra ngoài hàng quân. Trâm dơ cao trái lựu đạn quát to: “Xin các vị huynh trưởng kính mến của tôi hãy ra về. Các anh em của tôi hãy tan hàng, để một mình Trâm ở lại thôi. Tôi đã thề không đội trời chung với bọn vô thần, chúng vào đây thì tôi phải đi.” Trâm vừa nói xong khoảng 10 anh em vừa bước tới chỗ Trâm vừa nói: “Ðể tụi tao (tụi em) chơi chung với. Chúng ta không đầu hàng và cũng không tan hàng. Nhảy Dù chỉ có tiến không có lùi.”
Hoàng, đại đội trưởng đại đội thứ nhất la lớn:
– Ðể tao chơi chung với tụi bay.
Vị huynh trưởng cũng chạy lại chỗ Trâm. Tiếng Trâm sang sảng nhưng nghẹn ngào đứt quãng:
– Không được Ðích Thân còn nhiều việc phải lo, còn nhiều việc phải làm, nhất là gia đình của Ðích Thân.
– Ai cũng có gia đình tao chỉ biết có Gia Ðình Mũ Ðỏ, Gia Ðình của Mũ Ðỏ là gia đình của chính tao.
Một số anh em khác từ từ rời bỏ hàng ngũ, súng đạn, quân phục vứt ngổn ngang. Nhất là những anh em lớn tuổi, từ từ rời bỏ bãi tập họp mỗi người một phương, tôi không biết họ có mang theo vũ khí hay không, hay bỏ lại những gì? Còn lại từng tốp một ôm nhau nói chuyện. Tôi không biết họ đang nói gì nhưng nhìn khuôn mặt ai ai cũng chứa đựng đầy uất hận hiện rõ ràng trên khóe mắt đỏ ngầu rực lửa. Trên bãi súng đạn, ba lô, nón sắt nằm ngổn ngang và trải dọc theo bốn hướng ngã tư. Con phố hiền hòa của Ðô Thành nay lại chứng kiến cảnh tan hàng của một đơn vị. Tôi chắc rằng đây là một đơn vị lớn nhất và là đơn vị sau cùng của Biệt Khu Thủ Ðô giã từ vũ khí, đi theo mệnh lệnh của dân tộc. Ðơn vị đã tan hàng có trật tự và kỷ luật của đơn vị thực sự bãi bỏ sau tiếng nói nghẹn ngào của một huynh trưởng đơn vị. Tôi quyết định phải khuyên Trâm và anh em chúng tôi đang bu lại quanh Trâm. Tôi linh cảm thấy, chậm trễ sẽ xảy ra hậu quả không lường được. Tôi chen vào đám đông và la lớn:
– Chúng ta đàng nào cũng chết, nhưng phải chết cho xứng đáng mới được. Chúng ta hãy liên lạc với nhau trở về Long Khánh. Lâm Ðồng rồi cùng chiến đấu. Trâm đưa trái lựu đạn cho anh.
Trâm đưa trái lựu đạn cho tôi sau một hồi giằng co. Chúng tôi cùng thỏa thuận hãy tan hàng rồi kiếm kế sau. Bất chợt hai tiếng lựu đạn nổ chát chúa ở gần bức tường cuối bãi. Chúng tôi chạy vội lại quan sát. Tổng cộng 11 anh em đã ôm nhau từ giã, mắt người nào cũng mở như gửi lại những thông điệp bất khuất, không đội trời chung với Cộng Sản. Trong số 11 anh em cấp bậc lớn nhất là thiếu úy trung đội trưởng, người cấp bậc nhỏ nhất là binh nhì khinh binh. Không có thì giờ cùng địa điểm để chôn cất họ,chúng tôi chỉ còn biết sắp xếp họ nằm ngay ngắn, cùng nhau nghiêm chỉnh chào họ. Anh em đã tự chọn con đường vinh quang cho mình, tôi thầm khấn nguyện trước mặt anh em: “Chúng tôi cần phải sống, vì chắc chắn chúng tôi vẫn còn phải tranh đấu với bọn quỷ hại nước hại dân.”
Sau này tôi được tin Trâm về Bảo Lộc hoạt động nhưng bị nội phản, bị xử tử tại đó. Hoàng về Xuân Lộc hoạt động cũng bị tử thương, còn tôi lưu lạc khắp nơi, nhất quyết không trình diện bọn chúng, tôi vượt biên bằng đường bộ qua Khe Sanh, Lao Bảo, Hạ Lào. Hỡi các bạn trong Gia Ðình Mũ Ðỏ Việt Nam; Thưa các bạn quân nhân QLVNCH; Bạn bè chúng ta đã chết, một số đang bị đầy đọa cực hình, Quê hương chúng ta còn trong tay bọn quỷ đỏ. Xin các bạn đừng vì xe hơi, nhà cao cửa rộng, ham chơi phù phiếm, mà quên đi những người thân yêu, những vong hồn bạn bè đã khuất, những cô nhi tử sĩ đang đón chờ từng giờ từng phút, mong mỏi bước chân nhịp nhàng của quý bạn tiến về quê hương. Hỡi các bạn thanh niên, lịch sử 4,000 năm văn hiến không lúc nào, không thời đại nào dân tộc chúng ta khiếp vía trước móng vuốt tàn ác của quân thù, không khi nào thanh niên Việt Nam lại đê hèn, quên đi gông cùm đỏ dã man đang siết chặt dân tộc ta. Xin hãy cùng nhau bước lên tiến tới và đừng bao giờ quên bọn quỷ đỏ đang lẩn khuất đâu đây đang ra sức ngăn cản bước chân oanh liệt của chúng ta.
Nghiêm ơi, Trâm ơi, Hoàng ơi, linh hồn các bạn có linh thiêng hãy soi sáng bước chân chúng tôi, máu của các bạn đã chảy, thân xác của các bạn đã nằm xuống, nhưng tấm gương can đảm của các bạn sẽ còn mãi mãi. Trận chiến vừa qua chúng ta tạm lùi, tạm thua giặc. Nhưng chúng ta không đầu hàng giặc, đơn vị chúng ta không buông súng để qui hàng giặc. Tinh thần chúng ta còn đó, chúng ta bỏ nước ra đi bằng áp lực của ma quỷ. Xin hãy hứa cùng nhau “Chúng Ta Sẽ Trở Về.”