Friday, February 17, 2017

Giấc mơ máu và chuyện tin vào tâm linh của cựu đại tá công an

Hương Khê (Danlambao) - Tờ Tâm Sự Gia Đình số báo Xuân 2017 có bài nói về cuộc trò chuyện của nhà thơ Trần Đăng Khoa với cựu đại tá công an Dương Tự Trọng, nguyên Phó Giám đốc công an TP. Hải Phòng, đang bị ngồi tù về tội giúp anh trai là Dương Chí Dũng bỏ trốn trong vụ Vinalines, với tựa đề “Những chuyện kỳ bí bây giờ mới kể về Dương Tự Trọng”.

Điều làm cho người đọc chú ý ở bài báo này không phải là giấc mơ tìm thấy “thần dược” trên núi Tam Đảo của Dương Tự Trọng. Mà đó là giấc mơ Dương Tự Trọng gặp gỡ ông bố mình đúng vào giờ phút ông già này lâm chung. Giấc mơ có máu.

Chúng ta đều biết người cộng sản là vô thần vô thánh. Coi tôn giáo là thuốc độc bùa mê để ru ngủ nhân dân. Con người chết là hết. Tin vào tâm linh là điều xa xỉ đối với họ. Vậy làm sao trong giờ phút lâm chung, ông bố Dương Tự Trọng lại tìm đến người con trong tù của mình để khóc lóc với những giọt nước mắt có máu?

Phải chăng chỉ đến khi đã sa cơ lỡ vận, phải ngồi sau những chấn song sắt của nhà tù như một con hổ bị nhốt trong cũi sắt, ôn lại những tội ác mình đã gieo rắc cho nhân dân trong những năm tháng đã qua, thì Dương Tự Trọng mới ngộ ra rằng, con người chết chưa phải là hết. Có thế giới tâm linh.

1. Bi kịch của một gia đình có truyền thống làm công an

Ở thành phố Hải Phòng, không ai là không biết gia đình ông Dương Khắc Thụ, nguyên Đại tá, Giám đốc công an thành phố Hải Phòng trong thập niên 1970-1980, được mệnh danh là gia đình có truyền thống cách mạng, không chỉ với ông bố một thời hét ra lửa ở thành phố đất Cảng này, mà gia đình ông còn có những người con “làm nên sự nghiệp” trong guồng máy nhà nước Việt Nam.

Dương Chí Dũng, nguyên Cục trưởng Cục hàng hải Việt Nam, nguyên Chủ tịch Hội đồng Thành viên Tổng công ty Hàng hải Việt Nam(Vinalines), Ủy viên Thường vụ Đảng ủy khối Đảng ủy khối doanh nghiệp Trung ương ĐCSVN.

Dương Tự Trọng, nguyên Đại tá, Phó Giám đốc công an Hải Phòng, nguyên Cục phó Cục Cảnh sát Quản lý Hành chính về trật tự xã hội, Bộ Công an.

Cô con gái là Thượng tá Băng Tâm, Công an PC25 Hải Phòng.

Con rể là Nguyễn Bình Kiên (chồng bà Băng Tâm), nguyên Đại tá, Phó Giám đốc công an Hải Phòng, nguyên Phó cục trưởng Cục An ninh Tài chính, Tiền tệ và đầu tư (Bộ Công an).

Trong bốn người con và rể ấy, đã có ba người vướng đến pháp luật: Dương Chí Dũng bị bắt về tội “cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng theo điều 165 Bộ luật Hình sự, xảy ra tại Tổng Công ty Hàng hải Việt Nam (Vinalines)”. Dương Tự Trọng bị bắt về tội “Tổ chức cho người khác trốn đi ngoài” theo điều 275 Bộ luật Hình sự. Nguyễn Bình Kiên bị lột hết sao và vạch, bị khai trừ đảng vì đã “vi phạm nghiêm trọng quy định công tác nghiệp vụ của ngành công an, xâm phạm đến quyền tự do của công dân, vi phạm tư cách đảng viên; vi phạm 19 điều đảng viên không được làm và những điều cán bộ, chiến sĩ công an không được làm”.

2. Những thành tích bất hảo của anh em Dương Tự Trọng

Trong những người con của ông Dương Khắc Thụ, người nổi tiếng nhất là Dương Chí Dũng với “thành tích” làm thất thoát hàng chục triệu đô la trong vụ án Vinalines. Chiếc ụ nổi đã hết hạn sử dụng mua 2,3 triệu USD được Dương Chí Dũng phù phép thành 19 triệu USD. Dự án nhà máy sửa chữa tàu biển tại tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu ban đầu được phê duyệt với tổng mức đầu tư 3.854 tỷ đồng, cũng được Dương Chí Dũng và các đồng chí của y nâng lên thành 6.489 tỷ đồng v.v... (1)

Sau khi đã chôm chĩa được khối tiền khổng lồ, là mồ hôi nước mắt và máu của nhân dân, Dương Chí Dũng đã bỏ ra năm trăm mười ngàn USD đưa cho Thượng tướng Phạm Quý Ngọ, Thứ trưởng Bộ Công an để Ngọ báo tin nếu có nguy cơ bị bắt, và đã bỏ trốn ra nước ngoài, nhưng “lưới trời lồng lộng”. Cuối cùng Dương Chí Dũng vẫn phải tra tay vào còng. Trong phiên tòa xét xử Dương Tự Trọng, với tư cách là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, DCD đã “nói toạc móng heo” ra rằng, ngoài số tiền năm trăm mười ngàn USD mà DCD đã đưa cho Phạm Quý Ngọ để mua tin, DCD còn đưa 1 triệu USD của bà Trương Mỹ Lan, chủ Tập đoàn Vạn Thịnh Phát cho Phạm Quý Ngọ, để nhờ Ngọ chuyển cho Bộ trưởng Công an Trần Đại Quang nhằm không làm khó Tập đoàn Vạn Thịnh Phát trong quá trình chuyển đổi công năng Cảng Sài Gòn. (2), (3)

Những lời khai này của DCD đã thành một cơn địa chấn làm chấn động dư luận cả nước. Mặc dù Phạm Quý Ngọ đã bác bỏ việc 3 lần nhận tiền từ DCD, nhưng sau đó Phạm Quý Ngọ “bỗng dưng” bị đột tử một cách khó hiểu. Vì vậy trong dân gian đã có câu ca về cái chết của người này như sau: “Tin đâu như sét đánh ngang Thượng tướng đang sống chuyển sang từ trần Bạn bè, đồng chí mừng thầm Anh đi như rứa nhiều thằng yên thân”.

Không thua kém người anh mình, Dương Tự Trọng cũng có những thành tích lẫy lừng trong ngành công an. Ngoài việc được mệnh danh là khắc tinh của các đối tượng tội phạm hình sự, Dương Tự Trọng được cho là đã được lên chức Phó Giám đốc Công an Hải Phòng và được thăng hàm Đại tá là nhờ công lao đã “ buộc” Nguyễn Văn Chưởng nhận tội trọng vụ án Thiếu tá công an Nguyễn Văn Sinh bị giết hại tại phường Đông Hải 2, quận Hải An, TP Hải Phòng. Mặc dù Nguyễn Văn Chưởng được nhiều người dân xã Bình Dân, huyện Kim Thành, Hải Dương làm chứng rằng, vào tối hôm xảy ra vụ án, họ thấy Chưởng ở quê, cách địa điểm xảy ra vụ án đến 35 km, nhưng Nguyễn Văn Chưởng vẫn bị kết án tử hình và đang chờ ngày bị xử tử. Dương Tự Trọng lúc đó là Thượng tá, Phó Thủ trưởng cơ quan điều tra, đã “bằng các biện pháp nghiệp vụ”, đã buộc Nguyễn Văn Chưởng phải nhận tội giết người mà mình không phạm. Dương Tự Trọng đã cầm chiếc áo mà Nguyễn Văn Chưởng rút từng sợi chỉ thêu thành những lời kêu oan gửi trong tù ra. Cầm chiếc áo trên tay, Dương Tự Trọng hùng hồn tuyên bố: “Tao, Thượng tá Dương Tự Trọng, thề sẽ làm cho thằng chủ tịch xã Bình Dân mất chức”, vì ông chủ tịch xã này lỡ xác nhận rằng những nhân chứng đó là người thuộc địa phương mình. (4)

Trong việc tổ chức cho Dương Chí Dũng bỏ trốn, Dương Tự Trọng đã nhờ những người thuộc diện có “số má” trong giới giang hồ Hải Phòng, là những tội phạm hình sự và buôn lậu ma túy trợ giúp. Họ đã đưa Dương Chí Dũng đi trốn, lo nơi ăn chốn ở và lấy tiền của Dương Tự Trọng tiếp tế cho Dương Chí Dũng lúc Dũng còn ở Campuchia. Điều này cho thấy những dư luận cho rằng ngành công an bảo kê, thao túng cho bọn tội phạm hình sự, bọn buôn bán ma túy là có cơ sở.

Khác với hai người con trai của ông Dương Khắc Thụ, người con rể Nguyễn Bình Kiên lại bị “ngựa đá” vì tội dám “mò dái ngựa”. Khi còn làm Phó cục trưởng Cục An ninh Tài chính, Tiền tệ và đầu tư (Bộ Công an), Nguyễn Bình Kiên đã tổ chức ghi âm trộm và phát hiện vụ làm ăn phi pháp hàng triệu đô la của cha con ông Nguyễn Văn Thành lúc ông Thành còn làm Chủ tịch TP. Hải Phòng. Vì vụ này đụng phải hòn đá lớn, nên kế hoạch “cất vó” cha con ông Thành không được cấp trên phê duyệt. Sau này, lúc Nguyễn Bình Kiên về làm Phó GĐ CA Hải Phòng, cũng là lúc ông Thành lên làm Bí thư TP. Hải Phòng. Cơ hội đã đến,“kiến ăn cá thì cá ăn kiến”. Ông Kiên liền bị buộc tội “đã chỉ đạo cấp dưới về nghiệp vụ liên quan đến liên lạc điện thoại cá nhân của gia đình ông T., một vị lãnh đạo hàng đầu đất Cảng”, bị khai trừ đảng và cách hết mọi chức vu, đuổi về chờ nghỉ hưu (5). 

Việc ghi âm trộm bất cứ cá nhân và tổ chức nào mà ngành công an nghi ngờ, là việc làm vi phạm pháp luật về bí mật thư tín. Nhưng với ngành công an lại là việc bình thường. Phạm Quý Ngọ khi báo cho Dương Chí Dũng bỏ trốn cũng dặn Dương Chí Dũng hãy dùng sim rác gọi cho mình theo một số đặc biệt, và gọi xong thì vứt sim đi. Đến trường hợp của Nguyễn Bình Kiên thì phải trả giá.

3. Dương Tự trọng đã thấy gì trong giấc mơ?

Dương Tự Trọng kể với Trần Đăng Khoa: “Anh có tin vào tâm linh không? Là vì trong đời, có những việc em không thể lý giải được. Chỉ có thể khẳng định rằng, có một thế giới vừa hiện thực vừa huyền bí bao phủ quanh mình. Đó là thế giới tâm linh... Đấy là cuộc gặp gỡ với bố em. Ông cụ đến thăm em. Lâu lắm rồi em mới được gặp bố... Em thấy ông cụ đứng nhìn em trân trân... Em bảo bố nói gì với con đi chứ... Rồi ông khóc, nước mắt lại có máu. Máu nhỏ xuống cả mặt em. Thế là em khóc ầm lên và bừng tỉnh... Lúc ấy là 4giờ 15 phút ngày 25 tháng Giêng năm 2016... Em nói với các bạn cùng buồng giam rằng bố tôi mất rồi. Cụ vừa mới mất cách đây ít phút thôi. Chắc cụ đến để vĩnh biệt con... Sau này người nhà vào thăm, em biết sụ thật. Đúng là lúc ấy bố em đang hấp hối...”

Đúng là một giấc mơ rùng rợn. Giấc mơ có máu. Nhưng là máu của ai? Phải chăng đó là máu của những người vô tội mà ngành công an nói chung và cha con Dương Tự Trọng nói riêng đã gieo rắc cho nhân dân trong mấy chục năm qua? Phải chăng việc mấy người con và rể của ông Dương Khắc Thụ đang chịu quả báo nhãn tiền?

Trong hàng ngũ cán bộ nhà nước, rất nhiều người vẫn tin vào tâm linh. Hình như các vị quan chức cộng sản địa vị càng cao thì lại càng sùng bái thánh thần, cho dù ý thức hệ cộng sản đã tẩy não và áp đặt lên tư tưởng Mác-Lê là vô thần Có người đã bỏ ra hàng trăm triệu đồng để lẻn lút đi hết chùa này chùa nọ để cầu tài cầu lộc.

Hồ Đức Việt, Trưởng ban Tổ chức Trung ương ĐCSVN khóa X, hậu duệ của dòng họ Hồ nổi xứ Nghệ, đã bị thất sủng trong Đại hội ĐCSVN khóa XI vì đã mời thầy về yểm bùa chú, gọi âm binh, nhờ thần linh trợ giúp nhằm “đánh bại đối thủ’’ để tranh chức TBT ĐCSVN khóa XI. Vì vậy mà Hồ Đức Việt đã “ra đi” trong khắc khoải, quằn quại, với mối hận đã kết tủa sâu nặng trong tâm khảm, chỉ còn biết’ “mang xuống tuyền đài chưa tan’’! (6)

Nhà thơ Đại tá công an Hồng Thanh Quang, TBT báo Đại Đoàn Kết, trong một lần nói chuyện với nhà báo Hồng Cư trong chương trình Cà phê sáng với VTV3, khi nhà báo Hồng Cư hỏi về chuỗi hạt mà HTQ đeo trên cổ tay có ý nghĩa gì, thì vị Đại tá công an này nói, tôi tin vào tâm linh. Và hy vọng chuỗi hạt này sẽ đem lại nhiều điều may mắn.

Không nên chờ đến lúc phải ngồi sau chấn song sắt nhà tù mới ngộ ra rằng con người chết chưa phải là hết, có thế giới tâm linh như Dương Tự Trọng. Những kẻ đã gây nợ máu cho nhân dân hãy tỉnh ngộ và trở về với nhân dân. Đừng gây thêm tội ác thì sẽ chịu sự phán xét của luật nhân quả ngay khi còn sống.

Những kẻ tù oan đang chờ ngày chịu chết như Nguyễn Văn Chưởng, Hồ Duy Hải v.v... phải được trả tự do ngay tức khắc.

18.02.2017



____________________________________

Chú thích:

Ngày 17-2-1979

Dân Làm Báo - Ngày 17.02.1979, đảng CSVN dựa vào di sản Hồ Tập Chương - Mao Trạch Đông để lại và tin tưởng vào quan hệ đồng chí hữu hảo đối với Tàu cộng đến nỗi bị Bắc Kinh tấn công bất ngờ. Niềm tin lúc đó có thể được xem là ngu xuẩn hoặc ngây thơ. Còn bây giờ, niềm tin của tập đoàn lãnh đạo Ba Đình đối với Bắc Kinh được xây dựng trên nền móng của sự hèn hạ, với tấm bạt mang hàng chữ "hèn với giặc ác với dân" treo trên nóc để che chở cho sự ấm êm, giàu có, quyền lực của những kẻ mà Bắc Kinh gọi là "những đứa con hoang đã trở về nhà". 

Ngay đêm trước ngày 17-12-1979 binh lính Tàu cộng vẫn còn sang đất Việt Nam tung tăng chơi như bình thường. Lúc này quan hệ hai nước vẫn còn trong giai đoạn hữu hảo, tuy có căng thẳng trên cấp cao nhưng phía CSVN vẫn nghĩ không bao giờ Tàu cộng có thể tấn công Việt Nam. Dù sao giữa những kẻ "vừa là đồng chí vừa là anh em" trong cùng hệ thống CNXH này cũng có những điểm tương đồng khăng khít, những quan hệ lâu đời đến mức được coi là di sản của 2 nước thì không thể bỗng nhiên mà trở mặt tấn công nhau.

Bởi vậy ngày tệ hại trong lịch sử Việt Nam đó xảy ra khi mà các cán bộ từ cấp tiểu đoàn của quân độ CSVN đều về hậu phương họp, quân đóng vùng biên giới đều là quân hậu phương hay quân mới bổ sung. Những cánh quân thiện chiến thì đóng đô ở biên giới Tây Nam.

Người Việt Nam hoàn toàn không phòng bị, khi pháo của Tàu cộng hàng loạt nã sang. Người Việt lúc đầu còn không hiểu chuyện gì, khi nhận ra thì quá muộn, không có sự chống đỡ nào, trong cơn hoảng loạn binh lính Việt tháo chạy thoát thân dưới làn đạn pháo dồn dập. Ngay lúc đầu tại các cửa khẩu hải quan, lính biên phòng còn không ngờ quân Tàu cộng tấn công, người Việt còn hồn nhiên ra đứng chặn lại và hỏi lý do. Đáp lời họ là những tràng đạn tiểu liên của lính Tàu, những người mà mới tối hôm trước còn cười nói đi sang bên này để xem phim chiếu nơi công cộng cùng bà con Việt Nam.

Tàu cộng chủ động chiếm lĩnh những điểm cao quan trọng, sau này khi tái chiếm các vị trí này, phía Việt Nam đã chịu nhiều tổn thất nặng nề về người. Từng trung đoàn bị nướng sạch, có trung đoàn chỉ còn có 1 tiểu đội. Nhờ áp lực quốc tế cộng với sự tiếp viện của quân thiện chiến từ trong Nam chuyển ra, pháo Cachiusa một loại vũ khí khủng khiếp nhất lúc đó được chuyển lên... Tàu cộng lui quân nhưng cũng đã kịp phá hủy nhiều cơ sở vật chất của Việt Nam, cũng như dịch chuyển cột mốc để chiếm đất, một số cao điểm quan trọng của Việt Nam rơi vào tay Tàu cộng cho đến ngày hôm nay.

Điểm lại những dữ kiện này, không phải để nói về chiến thắng hay thất bại, không mổ xẻ về những trận chiến bên thiệt nhiều, bên thiệt ít. Mà điểm lại để xét một điều, tại sao CSVN lại chủ quan như vậy.

Vì CSVN như đã nói, họ tin rằng với tình hữu hảo như vậy, gắn bó như vậy nên Bắc Kinh không thể nào một sớm, một chiều trở mặt dù có những bất đồng.

Cuộc chiến đã qua hơn mấy mươi năm, lớp lãnh đạo CSVN ngày nay có thái độ còn tin cậy các quan thầy Bắc Kinh hơn bao giờ hết. Họ nghĩ rằng chỉ cần hợp tác toàn diện, mở lòng cho Tàu cộng thấy rõ thiện chí của mình, những điều ấy sẽ khiến người Tàu hiểu biết mình thì sẽ hạn chế được chiến tranh. Một suy luận đúng hay không thì chỉ cần nhìn lại lịch sử thì biết.

Người Tàu với tham vọng và tự tin sức mạnh của mình đã như một con hổ tham tàn, chưa bao giờ nhìn thấy con nai hiền mà nó nghĩ có thể buông tha. Thế những dường như tập đoàn lãnh đạo CSVN chỉ cần nghĩ họ quy phục là đủ để Tàu cộng từ bỏ dã tâm độc ác. Một niềm tin đầy nét hèn mạt của những kẻ mang tâm địa làm tay sai, vì cũng chẳng biết làm gì hơn, hay nói cách khác là không dám làm gì hơn, sợ mất đi vị trí cầm quyền độc tôn tại Việt Nam. Từ đó, đảng CSVN đã đem lãnh thổ, tài nguyên, lợi ích dân tộc để mặc cả, đổi chác với Trung Quốc nhằm mưu cầu lợi ích riêng tư và củng cố quyền lực. Bằng những sự hợp tác toàn bộ về chính trị, kinh tế, văn hóa... đảng CSVN đã đầu hàng và thần phục Bắc Kinh một cách toàn diện.

Ngày 17.02.1979, đảng CSVN dựa vào di sản Hồ Tập Chương - Mao Trạch Đông để lại và tin vào quan hệ đồng chí hữu hảo đối với Trung Quốc đến nỗi bị Bắc Kinh tấn công bất ngờ. Niềm tin lúc đó có thể được xem là ngu xuẩn hoặc ngây thơ. Còn bây giờ, niềm tin của tập đoàn lãnh đạo Ba Đình đối với Bắc Kinh được xây dựng trên nền móng của sự hèn hạ với tấm bạt mang hàng chữ "hèn với giặc ác với dân' treo trên nóc để che chở cho sự ấm êm, giàu có của những kẻ mà Bắc Kinh gọi là "những đứa con hoang đã trở về nhà". 

Đảng CSVN phải chịu trách nhiệm lớn nhất khi để mất biển Đông, mất đất biên giới. Trách nhiệm ấy là rõ ràng khi họ đang ở vị trí độc tôn lãnh đạo đất nước. Không có đảng CSVN đất nước vẫn còn, dù có xâm chiếm bắt Việt Nam làm thuộc địa, thực dân Pháp vẫn tôn trọng và bảo vệ chủ quyền, lãnh thổ của Việt Nam qua hiệp ước Pháp-Thanh. Nếu ĐCSVN đánh đuổi Pháp mà lại để lãnh thổ đất nước bị mất đi thì phải chăng họ đánh Pháp để dành lợi ích cho mình chứ không hẳn vì đất nước. Người dân Việt Nam dứt khoát phải đồng lòng đứng lên chấm dứt vai trò lãnh đạo độc tôn của đảng CSVN.

17.02.2017

Quyết định mới của cộng sản: “chó” kiểm soát chó

Dân đen (Danlambao) - ...Thay vì dùng tiền thuế của người dân vào những việc vớ vẩn như thế, thiết nghĩ cộng sản đảng nên dùng nó để quản lý những con “chó” do đảng đang nuôi dưỡng thì hơn. Những con chó ấy là những tên cảnh sát giao thông suốt ngày rình rập người đi đường để vòi tiền. Những con chó ấy là những tên côn an sắc phục, an ninh mật vụ vừa mới phá buổi tưởng niệm trận chiến biên giới 17/2/1979 được người dân Hà Nội, Sài Gòn tổ chức ngày 17/2/2017. Những con chó này ngày đêm làm việc theo lệnh của những con cáo già trong đảng cộng sản...

*

Nhà nước cộng sản vừa ban hành quyết định phê duyệt “chương trình khống chế và tiến tới loại trừ bệnh dại giai đoạn 2017-2012”. Nội dung mà chính phủ CSVN vừa ban hành yêu cầu UBND cấp xã và cấp trưởng thôn, ấp, bản lập danh sách hộ nuôi chó. Trong đó các hộ nuôi chó phải thông báo cho các cấp trên và cam kết nuôi nhốt trong khuôn viên gia đình.

Nhà nước cộng sản ngày càng tỏ ra sâu sát đến quần chúng, ngay cả mấy con chó, con mèo cũng đã được đảng và nhà nước quan tâm. Vấn đề này trước đây đã từng có những quyết định gây xôn xao dư luận. Năm 2009, đại diện cho nhà cầm quyền là Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thông đã quy định, các hộ nuôi chó mèo phải tới UBND xã để đăng ký cấp số cho vật nuôi. Việc này cũng giống như việc mỗi công dân phải làm chứng minh nhân dân. Tuy nhiên quyết định này đã gặp nhiều phản ứng trái chiều nên mặc dù đã ban hành nhưng chẳng mấy người quan tâm thực hiện. Tuy vậy nhưng đến năm 2011, cộng sản một lần nữa ra văn bản quyết định quản lý “chó chính chủ” với lý do kiểm soát và giảm thiểu bệnh dại.

Chính phủ cộng sản ban hành quyết định trên quả là chuyện nực cười chỉ có nơi thiên đường xã nghĩa. Nhiều người cho rằng “hôm nay đăng ký cấp số cho chó, lỡ ngày mai nó chết phải lên làm giấy khai tử nữa sao”, “lỡ chúng bị bắt trộm thì có cần thông báo mất tích không, và nếu báo chính quyền có điều tra này nọ không”. 

Trong khi đất nước còn vô số những điều bất cập cần giải quyết, cần thay đổi, cần quản lý thì nhà cầm quyền cộng sản chẳng mấy quan tâm. Ngoài biển đảo thì Trung cộng cướp lãnh thổ, cướp thuyền, thủy hải sản, ngư cụ thậm chí giết hại đồng bào ta. Lúc ấy thử hỏi lực lượng nào của cộng sản sẽ bảo vệ hay quan tâm đến họ. Khi ấy đảng chỉ biết tỏ ra hế sức quan ngại và cực lực phản đối. Biết bao người dân oan bị cướp mất đất đai, nhà cửa vì dự án, vì an ninh quốc gia ảo, trên tay họ là hàng vạn hồ sơ, tố cáo, khởi kiện doanh nghiệp, quan chức tham ô, tham nhũng, nhưng ai sẽ giải quyết cho họ. Hằng trăm, hàng ngàn vụ trộm, cướp, giết, hiếp diễn ra hằng ngày đấy sao không thấy công an, công quyền mạnh tay tung quả đấm thép như Đinh La Thăng tuyên bố... Những việc ấy tổn hại lớn đến an ninh, đời sống, xã hội của người dân, của đất nước. Vậy sao không thấy nhà cầm quyền đưa ra những quyết định để giải quyết nỗi oan của người dân hay để bảo vệ chủ quyền biển đảo.

Việc quản lý cấp số cho chó mèo hay lập danh sách những hộ nuôi theo quyết định của nhà cầm quyền là một việc làm gây lãng phí ngân sách. Trong khi người dân đang phải è cổ đóng đủ các loại thuế để nuôi cả một hệ thống cồng kềnh của đảng cộng sản. Nay số tiền thuế đó lại dùng vào việc quản lý những con chó chẳng mấy khi gây ra hậu quả đáng tiếc cho xã hội. 

Thay vì dùng tiền thuế của người dân vào những việc vớ vẩn như thế, thiết nghĩ cộng sản đảng nên dùng nó để quản lý những con “chó” do đảng đang nuôi dưỡng thì hơn. Những con chó ấy là những tên cảnh sát giao thông suốt ngày rình rập người đi đường để vòi tiền. Những con chó ấy là những tên côn an sắc phục, an ninh mật vụ vừa mới phá buổi tưởng niệm trận chiến biên giới 17/2/1979 được người dân Hà Nội, Sài Gòn tổ chức ngày 17/2/2017. Những con chó này ngày đêm làm việc theo lệnh của những con cáo già trong đảng cộng sản. 

Chúng ngày đêm tìm cách hãm hại những người yêu nước khi giam lỏng, trấn áp họ mỗi khi họ lên tiếng hay tham gia phản đối bất công xã hội, phản đối tàu cộng xâm lược. Chúng đánh đập bỏ tù dân đen khi họ tố cáo hành vi cướp đất đai, ruộng vườn, nhà cửa của doanh nghiệp, của quan tham. Chúng vung gậy đánh đổ máu hàng chục, hàng trăm ngươi dân Nghệ An tổ chức đi Hà Tĩnh gửi đơn khiếu kiện một cách ôn hòa. Chúng rắp tâm bảo vệ Formosa, thủ phạm gây ra thảm họa môi trường biển miền Trung. Chúng dàn dựng, vu khống, ghép tội và bỏ tù những ai không thích hoặc phản đối những điều sai trái của đảng cộng sản gây ra.

Nếu nhà cầm quyền thật sự tỏ ra quan tâm tới quần chúng nhân dân thì hãy quản lý những con chó này. Đây mới là những con vật mang trên mình mầm móng của bệnh dại vô cùng nguy hiểm. Thứ bệnh đã lây lan kể từ khi đảng cộng sản được thành lập, kể từ lúc Mao Trạch Đông biết sử dụng những con vật cho về hang Pắc Pó nhiễm bệnh phù-tàu và cho đến nay chúng chỉ biết còn đảng còn mình và hèn với giặc ác với dân.

18.02.2017

"Nhân loại ơi, hãy cảnh giác!"


Hà Nội, tháng Tư 1979 Người lính thuộc Quân đoàn 41 của Trung Quốc, bị bắt ở Cao Bằng vào ngày 23 tháng Hai 1979, thú nhận: "Chúng tôi thấy hai đứa trẻ Việt Nam. Chúng đang băng qua cánh đồng để đi về hướng rừng. Một đứa độ tám tuổi và đứa kia độ bốn tuổi. Một đồng đội tôi chĩa súng vào bọn trẻ, nhưng chính ủy của đơn vị ngăn lại. "Đồng chí Lý Xuân này," chính ủy nói, "Đồng chí có căm thù bọn tiểu bá quyền Việt Nam không?" "Có, tôi căm thù bọn chúng," đồng đội tôi đáp. Chính ủy khoác tay ra hiệu, và Lý Xuân liền đuổi theo bọn trẻ. Hắn đứng đối mặt với chúng và rồi đâm chúng bằng lưỡi lê cho đến chết."

Đặc trưng của lính Trung Quốc là chúng cực kỳ tàn ác. Sự dã man của chúng như ở vào thời trung cổ nhưng phương tiện chúng sử dụng lại hiện đại. Các công cụ hủy diệt của chúng rất đa dạng-đại bác 130 ly, 122 ly và 75 ly, súng cối đủ cỡ, súng phóng hỏa tiễn H.12 mười hai nòng, vũ khí bộ binh thông thường, súng phun lửa, lựu đạn, mìn, thuốc nổ TNT, lưỡi lê, dao găm, dao vân vân. Khắp nơi chúng đều tấn công một cách cực kỳ tàn bạo, san bằng những khu vực rộng lớn, bắn gục toàn bộ những nhóm người tỵ nạn, ném lựu đạn vào những nơi trú ẩn, đặt mìn nổ sập những hang chứa hàng trăm người.

Có vô số trường hợp về sự dã man của Trung Quốc.

Vào rạng sáng ngày 17 tháng Hai, một xe buýt từ Lạng Sơn đi Cao Lộc. Ở Đồng Đăng xe bị trúng đạn đại bác. Khi bốn mươi hành khách bước lảo đảo ra khỏi xe thì họ bị quân xâm lược Trung Quốc bắn chết. Xe cứu thương chịu cùng số phận cũng ở nơi này vào độ 10 giờ sáng. Xe mang biển số 12A-04-25 của bệnh viện tỉnh Lạng Sơn chạy đến cứu những người bị thương, nhưng tất cả ba người trên xe- tài xế, nữ bác sĩ tên Nguyễn Thu Thủy, và y tá tên Nguyễn Thị Sâm, đều bị quân Trung Quốc bắn chết. Ở tỉnh lỵ Lào Cai, giáp tỉnh Vân Nam Trung Quốc, bọn xâm lược san bằng bệnh viện và giết tất cả những nhân viên và bệnh nhân không thể chạy trốn.

Những đơn vị Trung Quốc, được những kẻ phản quốc người Việt gốc Hoa dẫn đường, giả dạng thành bộ đội, bộ đội biên phòng, thợ rừng hay dân quân người Việt. Chúng băng rừng và bất ngờ tấn công vào nhiều nông trường nhà nước và làng mạc, bắn giết rất lạnh lùng. Ở nhiều lâm trường ở các tỉnh Quảng Ninh, Lạng Sơn, Cao Bằng và Hoàng Liên Sơn, các công nhân nam bị giết ngay lập tức, còn phụ nữ bị hãm hiếp trước khi bị sát hại hay bị bắt sang Trung Quốc. Nhiều gia đình hầu như hoàn toàn bị giết sạch. Bọn xâm lược giết sáu trong số bảy người trong gia đình ông Nông Việt Quan-người dân tộc Nùng ở xã Bảo Lâm, huyện Văn Lãng, Lạng Sơn. Mẹ ông chết vì trúng đạn trái phá, cha ông bị bắn chết khi quân Trung Quốc tiến vào xã, còn vợ ông và ba con bị thảm sát dưới hỏa lực súng máy và lựu đạn trong một hang núi lân cận. Ở xã Thanh Lòa, huyện Cao Lộc, bọn xâm lược xô các nạn nhân-phần lớn phụ nữ, trẻ em và người già-xuống các ao và rồi bắn chết họ.

Các cuộc tàn sát tập thể được tiến hành ở nhiều nơi. Những người tỵ nạn ở khe núi gần lâm trường Cao Lâu, huyện Cao Lộc bị súng phun lửa thiêu chết. Không thể nào xác định được họ bao nhiêu người. Chỉ hai mươi người còn sống sót qua cuộc thảm sát ở cánh đồng gần Na Rụa, ngay sát thị xã Cao Bằng. Họ ở trong đoàn 283 người tỵ nạn ở khu vực Pác Bó. Bốn mươi ba xác phụ nữ và trẻ em được khám phá ở làng Tổng Chúp, xã Hưng Đạo, huyện Hòa An, Cao Bằng. Các nạn nhân này bị đập bể đầu hay bị mổ bụng. Và nhiều trường hợp như thế.

Nếu chúng ta xem xét vài trường hợp này thì chúng ta thấy rõ tâm tính của những thủ phạm Trung Quốc. Ở Lai Châu, bọn giết người đập đầu trẻ em vào đá hay cây. Một em bé ở huyện Phúc Hòa, Cao Bằng, bị chặt tay chân rồi để cho chảy máu đến chết. Chúng còn giăng bẫy bằng cách đặt mìn và lựu đạn dưới các xác chết. Chúng bỏ thuốc độc xuống giếng nước và vào thực phẩm.

Bệnh dịch hạch mới, dịch hạch chủ nghĩa bá quyền của Bắc Kinh, đã lộ diện và đe dọa toàn thế giới và trên hết nhân dân Trung Quốc. Cho nên lời cảnh cáo trước thế giới về nguy cơ của chủ nghĩa Phát xít của Julius Fucik cách đây nửa thế kỷ hôm nay vẫn lại thích hợp: "Nhân loại ơi, hãy cảnh giác!"


Nguồn:

Trích dịch từ bài xã luận của báo Anh ngữ Vietnam Courier trong tác phẩm "Chinese War Crimes in Vietnam" xuất bản tại Hà Nội 1979, trang 6-12. Tựa đề bài xã luận tiếng Anh "A Month of Exploits of the Great Army of Crimes". Tựa đề tiếng Việt của người dịch.


Bản tiếng Việt:

Xô xát với bà con đi khiếu kiện - xử lý ai?

Thanh Trúc, phóng viên RFA 2017-02-17  
Linh mục JB Nguyễn Đình Thục và bà con giáo dân Song Ngọc thuộc ba xã Quỳnh Ngọc, Sơn Hải, Quỳnh Thọ đi nộp đơn khởi kiện Formosa hôm 14/2/2017.
 Linh mục JB Nguyễn Đình Thục và bà con giáo dân Song Ngọc thuộc ba xã Quỳnh Ngọc, Sơn Hải, Quỳnh Thọ đi nộp đơn khởi kiện Formosa hôm 14/2/2017.  Courtesy of anhbasam
Hôm 15 vừa qua, chính quyền tỉnh Nghệ An, qua báo đảng địa phương, đề nghị các cơ quan truyền thông cũng như báo chí đưa tin một cách trung thực và kịp thời về cuộc biểu tình khiếu kiện Formosa của bà con Giáo xứ Song Ngọc mà đã dẫn đến náo loạn và xô xát do thái độ quá khích từ những người đi khiếu kiện.
Ngoài yêu cầu loan tin trung thực và kịp thời để dân hiểu và chấp hành đúng pháp luật, chính quyền địa phương Nghệ An còn loan báo sẽ kiên quyết điều tra, xử lý nghiêm các đối tượng vi phạm pháp luật gây ra vụ việc phức tạp trong ngày 14 tháng Hai.
Đó là tin đăng trên báo Nghệ An chiều 15 tháng Hai, nói về vụ tập trung đi nộp đơn kiện công ty Formosa gây ô nhiễm môi trường biển miền Trung khiến dân phải gánh chịu và đến giờ vẫn chưa được bồi thường thỏa đáng.
Cha Thục đã kêu gọi bà con ngồi xuống đấu tranh ôn hòa thì làm gì có chuyện con chiên mà không nghe linh mục.
- Ông Chung
Báo Nghệ An, kênh thông tin chính thức của tỉnh, viết rằng dưới sự chỉ đạo của linh mục Nguyễn Đình Thục, sáng 14 tháng Hai khoảng 500 giáo dân đã tập trung tại Giáo xứ Song Ngọc rồi kéo vào Hà Tĩnh. Khi đến xã Diễn Hồng, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An, đoàn biểu tình đã  không chấp hành lệnh giữ trật tự của cảnh sát giao thông mà còn cản trở và  gây ách tắc. Khi đó lãnh đạo tỉnh đề nghị đoàn biểu tình vào bãi đất trống bên đường để làm việc và đối thoại nhưng linh mục Nguyễn Đình Thục lại chỉ đạo bà con dừng xe giữa Quốc lộ 1A.
Nhiều người biểu tình không chịu xuống xe nên để giải quyết ách tắc công an buộc lòng phải cho câu xe. Một số giáo dân quá khích, báo Nghệ An viết tiếp, đã cố tình chống lại khiến xô xát xảy ra giữa dân với lực lượng công an. Lợi dụng tình cảnh hỗn loạn đó, linh mục Nguyễn Đình Thục liền gọi điện thoại thông báo là công an đánh ông bị thương.
Buổi chiều cùng ngày viên chức địa phương gồm bí thư tỉnh ủy, phó chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh, giám đốc công an tỉnh cùng một số linh mục đến hiện trường, yêu cầu không nên có hành động quá khích và đề nghị linh mục Nguyễn Đình Thục  chỉ đạo giáo dân quay về nhà. Tuy nhiên sau đó một số đối tượng phản động lại xúi dục giáo dân kéo lên Quốc lộ 1A để ném đá vào cảnh sát công an khiến 16 cán bộ bị thương, trong đó có cả giám đốc công an tỉnh Nghệ An.
Đó là thông tin chính thức về cuộc biểu tình khiếu kiện Formosa của giáo dân  Giáo xứ Song Ngọc, được báo Nghệ An tường thuật lại.
Nhận định của người dân
Ông Bảo, một cư dân Nghệ An, không trực tiếp đi biểu tình nhưng đã chứng kiến vụ việc trên Quốc lộ 1A, nhận định chuyện dân đi biểu tình thì không có gì sai nhưng vì chính quyền  nghĩ là dân bị linh mục kích động nên mới có chuyện:
Đi biểu tình là đúng thôi, người đi bộ người đi xe, kéo đoàn kéo lũ đi biểu tình gây ách tắc cái này cũng có chớ không phải không. Riêng báo chí thì không báo nào lên cả, chỉ có báo Nghệ An tức là báo đảng và báo của công an trực thuộc tỉnh ủy Nghệ An là lên tiếng nhiều nhất, còn tôi thấy không có báo nào lên cả.
Còn nữa, công an coi như có ý đồ là động chạm một cái có thể đánh lại. Công an đánh dân thì dân họ đánh lại cũng đúng thôi, cái này là có cả, trong các clip là có cả chứ không phải không đâu.
song-ngoc-2-400.jpg
Hàng ngàn người dân Song Ngọc Nghệ An đi bộ vào Kỳ Anh để kiện Formosa hôm 14/2/2017. Courtesy of vanews.org
Mọi chi tiết trên Báo Nghệ An đều không đúng với sự thật  là khẳng định của một giáo dân Quỳnh Lưu, có mặt cùng đoàn biểu tình ngày 14:
Báo Nghệ An nói như vậy là vu khống. Thực tế những giáo dân mang đơn đi kiện cùng với cha Thục thì rất ôn hòa bởi họ nghe lệnh của cha, họ không chủ tâm để mà xô xát hay là đánh nhau. Trên đường đi thì công an và bên lãnh đạo của tỉnh lúc đầu họ yêu cầu cha Thục là làm việc ngay trên Quốc lộ nhưng cha Thục nghĩ là sẽ ách tắc. Thế thì họ đề nghị vào một bãi đất trống để làm việc và cha Thục cho bà con vào đó nhưng rất tiếc ở đó đã bị bao vây. Lực lượng mà  ném đá thì thực sự chúng tôi không biết họ là ai, cũng không xác minh được họ là công an giả danh đánh người hay không. Việc công an bị thương thực sự cũng không ai biết, bởi vì trong lúc hỗn loạn như vậy không ai biết những người đó có phải là công an bị đánh trọng thương hay không.
Phía giáo dân thì có một số bị đánh thậm tệ, công an sử dụng lưu đạn hơi cay bắn tung hỏa mù lên, khoảng 15 người gì đó là bị thương nặng, sự thật nó là như vậy.
Biểu tình ôn hòa
Lựu đạn cay và dùi cui để dẹp biểu tình là 2 chi tiết hoàn toàn không được báo Nghệ An nhắc tới trong bản tin ngày 15. Ông Chung, từ Yên Thành sang Quỳnh Lưu tham gia cuộc biểu tình ngày 14, cho biết:
Bà con đi bộ và đi bằng xe máy, rất tuân thủ giao thông chứ không làm ách tắc giao thông được. Thậm chí khi thấy chính quyền tấn công thì linh mục đã hô “ai là con chiên của Giáo xứ Song Ngọc thì ngồi xuống, tất cả ngồi xuống”. Ý cha làm như thế để tránh xô xát, chứng tỏ là biểu tình với một tính cách ôn hòa chứ không phải đi gây gổ .
Được hỏi người biểu tình có manh động và có ném đá vào những người thi hành công vụ hay không, ông Chung quả quyết:
Công an đánh dân thì dân họ đánh lại cũng đúng thôi, cái này là có cả, trong các clip là có cả chứ không phải không đâu.
- Ông Bảo
Làm gì có người dân mà dám vác gạch để xáng công an này khác, cha Thục đã kêu gọi bà con ngồi xuống đấu tranh ôn hòa thì làm gì có chuyện con chiên mà không nghe linh mục. Nói thật không ai dám lấy trứng chọi đá được, bởi vì người dân, đặc biệt trên truyền hình thấy toàn ông bà già, lực lượng thanh niên thì không có, còn rõ ràng là công an dùng lựu đạn dùng dùi cui, đặc biệt còn có công an cải trang trà trộn vào trong dân.
Ở Việt Nam bây giờ đang xảy ra hiện tượng là cử công an mật, công an không mặc sắc phục  trà trộn vào dân gây rối loạn trong dân. Thậm chí công an mật còn đánh lại công an để có cơ hội cho chính quyền nhảy vô đập đánh nhân dân, dùng bạo lực để giải tán biểu tình. Rất  nhiều người bị đánh, người bị  đánh gãy tay người  bị đánh tét đầu, thâm chí có một anh mất một chân, còn có một chân mà vẫn bị  đánh bị thương tích.
Về tin 16 cán bộ công an bị thương  khi xô xát, trong đó có giám đốc công an Nghệ An như báo Nghệ An loan đi, đường dây viễn liên của RFA được nối về giám đốc công an Nguyễn Hữu Cầu để hỏi chuyện nhưng rất tiếc bên kia không bắt máy.
Chúng tôi không còn cách nào khác để kiểm chứng đúng sai khi cấp thẩm quyền tỉnh Nghệ An không hợp tác để trả lời về cuộc biểu tình của  giáo dân Song Ngọc ngày 14 tháng Hai vừa qua.

Tháng Hai, hoa Sim vẫn nở…

Mặc Lâm, biên tập viên RFA
 2017-02-17 
Hoa Sim và Người lính.
Hoa Sim và Người lính.  File photo
Bắt đầu câu chuyện về ngày 17 tháng Hai năm 1979, chúng tôi xin được lấy cảm nhận của nhà thơ Nguyễn Duy, vào thời điểm lúc ấy ông công tác cho báo Văn nghệ Quân đội và được đưa lên tận chiến trường Lạng Sơn để viết tin. Ông kể lại những gì ghi nhận được:
“Ngay sáng ngày 17 tôi đi cùng với nhóm phóng viên của báo Văn nghệ quân đội lên mặt trận biên giới phía Bắc. Tường là lên lấy thông tin rồi về thôi nhưng mà ở cho đến 1 tuần lễ trên mặt trận cho đến lúc quân mình rút về thì mình cũng phải rút thôi. Bọn mình vào ngồi trực tiếp ở cái hầm chỉ huy của trung đoàn An Lão của sư đoàn Sao Vàng chốt ở Tam Lung. Lúc mình lên thì Đồng Đăng mất rồi lính chốt lại ở Tam Lung tức là cách Đồng Đăng 6 cây số. Mình ở với ban chỉ huy trung đoàn và không có cách nào ra ngoài được, người ta không cho mình ra chỉ ngồi trong hầm. Sư đoàn Sao Vàng từng đánh nhau với quân Hàn Quốc ở Bình Định.
Có một thực tế thế này, toàn bộ trang bị của quân Việt Nam hoàn toàn sử dụng vũ khí của Trung Quốc hết. Súng của Trung Quốc, đạn của Trung Quốc thậm chí lương khô cũng của Trung Quốc. Cái mũ, cái ngôi sao cái đôi dép trên chân vẫn là trang bị của Trung Quốc từ hồi chiến tranh tức là đem cái đồ của Trung Quốc ra bắn lại quân Trung Quốc”.
Nhà văn Ngọc Bái cũng từng tới chiến trường phía Bắc đã thấm thía với những gì ông cảm nhận khi mỗi năm ngày 17 tháng Hai lại đến:
“Những ngày này đối với người dân Việt Nam và cá nhân tôi thì tôi luôn luôn thấy cuộc chiến tranh này thật là vô nghĩa. Nò là một sự phản bội của một quốc gia lớn đối với đất nước của chúng ta. Quân Trung Quốc đã tràn sang Việt Nam ở khắp các tỉnh biên giới. Hâu quả nó để lại cho người dân Việt Nam nói chung và quân đội Việt Nam nói riêng rất nặng nể và cái di chứng, hậu quả cuộc chiến tranh nó còn tồn lưu đến tận bây giờ”
Nhà thơ Nguyễn Duy với mắt nhìn sắc sảo và nhân ái, ông ghi nhận hình ảnh Lạng Sơn bị tàn phá như sau:
“Thị xã Lạng Sơn không còn một cái nhà nào còn nguyên lành cả, Trung Quốc nó đánh bằng bộc phá, giật sập tất cả công sở và những ngôi nhà xây, chỉ chừa lại lều quán hay các nhà nhỏ thì không vấn đề gì. Ngay cả chợ Kỳ Lừa hay cầu Kỳ Cùng nó cũng giật sập”
Kỷ niệm của nhà thơ Nguyễn Duy đáng nhớ nhất là câu chuyện một cô giáo của trường Đông Kinh Phố. Cô là một trong bốn thầy cô giáo ở lại trực chiến tới giờ phút cuối cùng của ngôi trường này. Hình ảnh một cô gái xinh đẹp đứng giữa đổ nát hoang tàn trên vai khoác khẩu súng nặng trĩu đã làm nhà thơ bừng lên niềm sáng tạo để cho ra đời bài thơ mà ông ưng ý nhất trong suốt cuộc đời mình, bài thơ có tên: Lạng sơn 1989.
Ta về thăm chiến trường xưa
em – hoa đào muộn Kỳ Lừa mùa xuân
gió đi để lạnh mưa dầm
người đi để buốt dấu chân trên đường

Đồng Đăng... Ải Khẩu... Bằng Tường...
chợ trời bán bán buôn buôn tít mù
ta đầy một bị ưu tư
giá như cũng bán được như bán hàng

Trớ trêu nỗi Hữu Nghị Quan
giá như máu chẳng luênh loang mặt đèo
A. Q. túm tóc Chí Phèo
để hai bác lính nhà nghèo cùng thua

Nỗi Tô Thị xót xa chưa
giá như đừng biết ngày xưa làm gì
giá như đã chả vô tri
để ta hỏi lối trở về thiên nhiên

Giá như ta chớ gặp em
để không mắc nợ cái duyên Kỳ Cùng
giá như em đã có chồng
để bòng bong khỏi rối lòng người dưng.
Đâu chỉ riêng ngày 17 tháng Hai năm 79 mà kéo dài sau đó nhiều năm nữa Trung Quốc vẫn tiếp tục thọc bàn tay đẫm máu của họ vào mảnh đất Việt Nam, nơi trước đây họ vẫn thường hãnh diện gọi là đồng chí. Nhà văn Ngọc Bái chia sẻ:
“Sau ngày 17 tháng Hai năm 79 thì đến ngày 12 tháng Bảy năm 1984 nó lại gây hấn ở Hà Giang và chính cuộc xâm lăng của nó một lần nữa đã để lại quá nhiều đau thương cho người Việt Nam. Năm 2016 tôi và một số anh em đã lên ngày giỗ trận tại Hà Giang và thấy cuộc chiến tranh mà Trung Quốc nó gây cho mình rất vô lý. Người Trung Quốc không phải ai cũng biết sự vô lý này vì tôi được biết sự tuyên truyền của họ về cuộc chiến tranh này rất là sai lệch đấy là điều mà tôi suy gẫm khi cuộc chiến tranh kéo dài từ tháng Hai năm 79 cho tới tháng Bảy năm 84 cho tới cuối năm 88”
“Trớ trêu nỗi Hữu Nghị Quan /giá như máu chẳng luênh loang mặt đèo /A. Q. túm tóc Chí Phèo /để hai bác lính nhà nghèo cùng thua”
A.Q của Trung Quốc và Chí Phèo của Việt Nam theo nhà thơ Nguyễn Duy xứng đáng một cách buồn bã đại diện cho hai đội quân với hình ảnh của những binh sĩ nhà nghèo, đặc biệt là phía Trung Quốc chỉ biết cầm súng theo lệnh của Đặng Tiểu Bình phát động cuộc chiến tranh xâm lược.
Đau thương mất mát thuộc về người dân và chiến sĩ Việt Nam bởi họ là nạn nhân, là đội quân yếu thế, là nhân dân không tấc sắt trong tay để tự vệ. Bởi lẽ nhân chứng sống đã chứng kiến, ghi lại biết bao cảnh tượng đau lòng mà dưới đôi mắt của loài người không ai có thể đưa ra một lý do gì để biện minh sự xâm lược ấy.
Nhà văn Ngọc Bái kể lại những nhận xét của ông sau khi đến hiện trường đầy tan nát:
“Lính và những người dân trải qua chiến tranh thì họ cũng ghi xương khắc cốt cái đau thương đó còn những lớp trẻ thì tất nhiên bây giờ người ta đâu có triệu thú vui cho nên người ta đâu có quan tâm có thể vì không nhớ. Cái người đã từng trải qua chiến tranh qua tâm sự với tôi thì hầu hết người ta nói rằng nó là một cuộc chiến tranh bất đắc dĩ. Cuộc chiến tranh do phía đối phương chủ động đã gây cho chúng ta nhiều mất mác, hy sinh.
Nếu như người Việt Nam nào mà không biết căm thù bọn lính Trung Quốc và nhà cầm quyền Trung Quốc lúc bấy giờ thì đấy là những người cực kỳ vô tâm”
Vâng, người Việt vì nhiều lý do vẫn còn những người vô tâm đối với ngày 17 tháng Hai. Hàng năm khi đến ngày này người Sài Gòn không chú ý lắm vì khi xảy ra chiến tranh họ còn đang vật lộn với đời sống khó khăn đói nghèo trong các chiến dịch “kinh tế mới”, nhưng người Hà Nội và các tỉnh biên giới thì có lẽ sẽ không bao giờ quên, bởi nó dính liền tới máu xương của những người thân trong gia đình, dòng họ.
Tuy nhiên sự vô tâm lớn nhất thuộc về cán bộ còn đang làm việc trong guồng máy. Không phải là không biết, không nhớ cái ngày này, nhưng những người làm việc cho chính quyền tuy ý thức ngày kỷ niệm nhưng lại nghe theo lệnh cấp trên cản phá, sách nhiễu, bạo hành đối với ai quan tâm tới ngày 17 tháng Hai. Nhà giáo Tô Oanh kể lại việc ông và bạn bè bị cản trở khi đi thăm nghĩa trang liệt sĩ Lạng Sơn:
“Sáng 14 tháng Hai vừa rồi chúng tôi có 10 người tất cả thuê một chuyến xe để lên thắp hương tưởng nhớ các liệt sĩ đã hy sinh trong cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc ở Lạng Sơn. Nhưng rất tiếc khi lên đến đó, chúng tôi vừa dừng xe thì đã có trên 30 cán bộ an ninh mặc thường phục ập đến vây quanh chúng tôi trong đó trên một nửa là lực lượng nữ an ninh. Khi chúng tôi trình bày là vào viếng các ngôi mộ thì họ không cho vào, họ nói muốn vào thì phải liên hệ trước, phải có giấy giới thiệu rồi phải được địa phương đồng ý. Chúng tôi lấy máy ảnh ra chụp hình thì họ không cho họ bảo địa phương ở đây quản lý tất cả không cho phép. Chúng tôi đành lỡ cuộc thắp hương này”
Mỗi năm một lần, dù ai nhớ hay quên ngày 17 tháng Hai thì hoa sim tím nơi vùng cao tuyến đầu ấy vẫn nở, vẫn âm thầm nhắc tới máu xương người nằm xuống. Nói như anh Lê Đức Dục qua tám câu thơ đầy hình ảnh:
“Mặc ai cấm rằng không được nhắc
bạn vàng Trung Hoa từng thảm sát dân mình
Nhưng làm sao cấm hoa đào hoa mận
Nở rưng rưng rụng xuống những mộ phần
Kệ báo chí cứ phập phồng chờ đợi
Nói hay im? Ngồi nghe ngóng công văn
Những bông hoa không cần chỉ thị
Cứ ra Giêng, rụng thắm đất anh nằm…”

Cuộc chiến 1979 ở Lạng Sơn

Nhóm phóng viên tường trình từ VN 
Theo RFA-2017-02-17  
Người dân dọc biên giới phía Bắc thuộc tỉnh Lạng Sơn chạy lánh nạn khi Trung Quốc đem quân xâm chiếm Việt Nam. Ảnh chụp hôm 23/2/1979.
Người dân dọc biên giới phía Bắc thuộc tỉnh Lạng Sơn chạy lánh nạn khi Trung Quốc đem quân xâm chiếm Việt Nam. Ảnh chụp hôm 23/2/1979.  AFP photo
Lạng Sơn có 15 cửa khẩu liên thông với Trung Quốc, trong đó có 3 cửa khẩu lớn gồm Tân Thanh, Chi Ma và Hữu Nghị. Lạng Sơn cũng là một trong những tỉnh đầu tiên bắt tay hợp tác với một tỉnh khác của Trung Quốc để khai thông đường du lịch từ các tỉnh Trung Quốc vào Việt Nam và ngược lại. Lạng Sơn cũng là một tỉnh mà cuộc chiến tranh Việt Nam – Trung Quốc kéo dài suốt 10 năm, đỉnh điểm là ngày 17 tháng 2 năm 1979. Cuộc chiến dằng dài từ năm 1978 cho đến 1988 đã lấy đi nhiều thứ, trong đó, sinh mệnh con người bị cướp đi không ít.
Cuộc chiến 10 năm
Một người dân Lạng Sơn, có năm anh em tham gia chiến đấu chống Trungg Quốc, tên Hiển, chia sẻ:
Thì các cụ sinh được tám anh em, thế thì trong chiến tranh chống Tàu thì có năm người tham gia chiến tranh chống Tàu. Sau 1979 nó không đánh bộ binh vào Lạng Sơn này nữa mà nó chỉ câu pháo cho đến năm 1987 nó mới tạm ngừng câu pháo do hiệp định tạm chiến Việt – Trung....
Ông Hiển cho biết thêm là thời gian cuộc chiến hoa sim, tức chiến tranh biên giới Việt – Trung kéo dài từ năm 1978 đến 1988 chứ không đơn giản chỉ là cuộc chiến năm 1979 như người ta vẫn thường nghe và đọc. Bởi từ những tháng giữa năm 1978, cuộc chiến mượn tay nhân dân của hai bên đã xảy ra, Trung Quốc đã thể hiện rõ âm mưu xâm lược của họ thông qua những gây hấn trên các tuyến biên giới Việt – Trung.
Việc dễ nhận biết nhất là họ thường xuyên đào bỏ cột mốc biên giới và đổ đá dăm trên các đường tàu cho lệch dần về phía Việt Nam. Bởi do tương quan lực lượng thiếu cân xứng, với chiến thuật biển người của Trung Quốc, phía Việt Nam chỉ còn cách duy nhất là ban ngày Trung Quốc đào bỏ thì ban đêm Việt Nam trồng lại, ban ngày Trung Quốc đổ đá dăm thì ban đêm Việt Nam cào đi và lấy lại lãnh thổ.
Cuộc giằng co này kéo dài mãi cho đến khi phía Việt nam có người bị giết và có những đụng độ với phía Trung Quốc, đây là cái cớ để Trung Quốc xua quân xâm lược Việt Nam. Đến rạng sáng ngày 17 tháng 2 năm 1979, khi người dân thị xã Lạng Sơn thức dậy thì dường như lính Trung Quốc đã có mặt mọi nơi. Và nhìn lên núi Phai Vệ, nơi có cột cờ biểu trưng quốc gia thì đã thấy lá cờ Trung Quốc, một số lính bộ binh Trung Quốc đứng tập thể dục dưới chân cột cờ.
Cuộc tản cư tránh Trung Quốc của nhân dân thị xã Lạng Sơn chính thức bắt đầu. Các mũi quân bộ đội chủ lực Việt Nam tiếp tục chiến ở lại đấu chống các mũi tiến công của Trung Quốc và các cây cầu từ Đông Bắc đến Tây Bắc đều được đập bỏ để giảm sức tiến công của đối phương. Cầu Cốc Lếu ở Lào Cai, cầu Kỳ Cùng ở Lạng Sơn đều bị phá sập. Nhưng có vẻ như tất cả những chiếc cầu bị phá đều được thay thế bằng cầu phao và Trung Quốc vẫn tiếp tục tấn công, giết người, đốt nhà.
Điều này khiến cho sau vài tháng tấn công và rút lui, nhà cửa ở các tỉnh biên giới không còn gì. Các trường học và cơ sở y tế trở thành bình địa, các cơ quan, xí nghiệp trở thành đống đổ nát. Và không dừng ở đó, sau khi rút quân về, hằng ngày Trung Quốc vẫn cho nã pháo sang Việt Nam. Cứ đúng 12 giờ trưa thì một vùng nào đó của Việt Nam sẽ bị dính pháo. Hầu như mọi nơi vẫn không thể phục hồi. Tình trạng này kéo dài mãi đến năm 1988 mới chấm dứt.
Những người lính chống Trung Quốc sau 1979
0479c9cc-a48c-4661-8144-d23e8535204d-400.jpg
Bộ đội Việt Nam trên vùng biên giới phía bắc trong cuộc chiến biên giới với Trung Quốc hôm 1/3/1979. 600 ngàn lính Trung Quốc tấn công các tỉnh dọc biên giới của Việt Nam ngày 17 tháng 2 năm 1979. AFP photo
Ông Đặng, một cựu quân nhân nhập ngũ vào năm 1984, tiếp tục chiến đấu với quân Trung Quốc đến năm 1988, chia sẻ:
Anh không tham gia 17 tháng 2 năm 1979 đâu. Anh chỉ tham gia vào năm 1984. Lúc đó nó không đánh bộ binh vào Lạng Sơn mà nó chỉ câu pháo vào Việt Nam, cứ đúng 12 giờ trưa thì nó câu, kể cả Tết nó cũng câu. Mãi cho đến năm 1988 thì mới yên. Lúc đó thì Lạng Sơn này đã tan nát hết rồi!.
Ông Đặng cho biết thêm là nếu nói một cách nghiêm túc, cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc cướp đi rất nhiều sinh mệnh của cả hai bên trong thời gian đầu. Nhưng sau đó, khi đã rút quân khỏi lãnh thổ Việt Nam, Trung Quốc vẫn tiếp tục câu pháo vào Việt Nam mỗi ngày và những cái chết của người dân vẫn chưa dừng lại, hằng ngày có những người ra nương, lên rẫy tiếp tục bị dính pháo kích và có khi chết không tìm thấy xác. Hậu quả của những trận pháo kích này là nhiều trẻ con mất cha mẹ, trở thành mồ côi và nhiều người già trở thành neo đơn vì sau một buổi trưa, lại phải lang thang ra những cánh rừng hoa sim, những cánh đồng hoa cứt lợn và những vườn đào để tìm xác con.
Cuộc chiến chống Trung Quốc, riêng tỉnh Lạng Sơn phải chịu mất mát hơn một ngàn quân nhân, nếu tính cả những người dân chết oan có thể lên đến hàng chục ngàn người. Và có rất nhiều ngôi mộ gió của người còn sống đắp lên ở các triền đồi để tưởng nhớ đồng đội, tưởng nhớ người thân. Hơn hết, nếu nói về một ngày quốc giỗ. Có vẻ như Việt Nam có duy nhất ngày 17 tháng 2. Bởi không có ngày nào mà dân tộc tổn thương, chết chóc nhiều như ngày 17 tháng 2.
Ông Đặng cũng thay lời các đồng đội đàn anh đã ngã xuống, kêu gọi mọi người hãy dành một phút mặc niệm để tưởng nhớ đến các anh hùng liệt sĩ đã ngã xuống trong ngày 17 tháng 2 và dành 3 phút mặc niệm cho những đồng bào bị chết oan vì khói lửa chiến tranh 1979. Bởi theo ông nói, mỗi cành đào trên đất Lạng Sơn bây giờ trở nên đỏ thắm hơn là do hoa đào đã nhuộm máu của con dân Lạng Sơn, mỗi cụm hoa sim trở nên tím ngát và thẫm màu bởi nỗi buồn xứ Lạng sau binh biến đã ngấm vào màu hoa.
Có thể cách ví von của ông Đặng có chút lãng mạn và quá đau buồn. Nhưng có lẽ, chỉ có những người từng sống trong chảo lửa chiến tranh và mất mát, đau thương, thấy đồng bào đổ máu, thấy núi rừng thành nấm mộ hoang mới thấu hiểu nỗi đau của ông Đặng cũng như bao con người khác nơi chiến trường Đông Bắc.

Giáo phận Vinh phản đối đàn áp giáo dân kiện Formosa

 RFA -2017-02-17  
Giáo dân Song Ngọc, Nghệ An đi kiện Formosa bị đàn áp, đánh đập hôm 14/2/2017.
 Giáo dân Song Ngọc, Nghệ An đi kiện Formosa bị đàn áp, đánh đập hôm 14/2/2017. Photo courtesy of wordpress.com
Ban Công Lý và Hòa bình Giáo phận Vinh hôm 15 tháng 2 vừa qua ra thông cáo lên án hành động đàn áp người dân biểu tình ôn hòa đi khởi kiện công ty Formosa hôm 14 tháng 2 vừa qua.
Thông cáo của giáo phận Vinh viết rằng chính quyền tỉnh Nghệ An đã vi phạm nghiêm trọng các quyền dân sự của con người đã được Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền 1948 và Công ước Quốc tế về các Quyền dân sự và chính trị 1966 ghi nhận và Việt Nam đã ký kết tham gia, vi phạm quyền khởi kiện của công dân là quyền đã được Hiến pháp và pháp luật Việt Nam ghi nhận.
Lãnh đạo tôn giáo thuộc giáo phận Vinh trong thông cáo của mình cũng phản đối hành vi sử dụng vũ lực thô bạo đối với những người tuần hành khởi kiện Formosa, lên án việc tấn công gây thương tích cho linh mục Nguyễn Đình Thục, người dẫn đầu đoàn người.
Ngoài ra bản thông cáo cũng lên án nhà cầm quyền Nghệ An sử dụng các phương tiện truyền thông để bóp méo sự thật.
Khoảng gần 1.000 người công giáo thuộc giáo xứ Song Ngọc, giáo phận Vinh hôm 14 tháng 2 vừa qua khởi hành đến tòa án nhân dân huyện Kỳ Anh để nộp đơn kiện công ty Hưng nghiệp Formosa vì đã xả thải hóa chất gây thẩm họa môi trường biển ở 4 tỉnh miền trung vào tháng 4 năm ngoái. Chính quyền địa phương đã huy động công an và lực lượng an ninh để đàn áp, đánh đập và bắt giữ người tuần hành.
Đây không phải là lần đầu tiên giáo dân Song Ngọc tuần hành phản đối Formosa. Hồi tháng 5 năm ngoái, linh mục Nguyễn Đình Thuc và hàng ngàn giáo dân tại đây cũng đã tuần hành yêu cầu nhà nước phải công bố nguyên nhân ô nhiễm môi trường gây cá chết ở các tỉnh miền trung.