Tuesday, January 17, 2017

VN: chính sách đất khiến dân phải sống nghèo?

LS Ngô Ngọc Trai

 Gửi cho BBC từ Hà Nội 

7 giờ trước 

Hà NộiBản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Một người dân ở xã Nam Mỹ, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định mới nhờ tôi tư vấn pháp lý một việc, đó là gia đình ông từ mấy năm trước do nhu cầu sản xuất đã xây dựng một khu chuồng trại ấp trứng gia cầm và xưởng ép nhựa trên đất nông nghiệp trồng lúa.
Mới đây chính quyền huyện Nam Trực đã tổ chức cưỡng chế phá dỡ với lý do công trình xây dựng trái phép, cùng trong danh sách các hộ bị cưỡng chế là 6 trường hợp khác.
Tôi giải thích cho vị khách hàng rằng ông muốn xây dựng hợp pháp thì phải xin phép chuyển mục đích sử dụng đất và phải nộp tiền. Tôi hướng dẫn cho ông làm thủ tục thực hiện nhưng không biết liệu có được hay không.

Tự ý chuyển đổi

Đây là trường hợp điển hình cho tình trạng phổ biến hiện nay đó là tình trạng sử dụng đất không đúng mục đích mà lâu nay thường bị quy cho là những hành vi vi phạm pháp luật.
Việc người dân có nhu cầu xây dựng chuồng trại nhà xưởng để sản xuất là sự thật, đây là nhu cầu chính đáng bộc lộ năng lực khát vọng vươn lên thoát nghèo nơi người dân. Và để có mặt bằng sản xuất kinh doanh thì người ta nhìn vào mảnh ruộng nhà mình vốn biết nó từ lâu không đem lại hiệu quả kinh tế.
Theo tính toán hiện nay thì cấy một sào ruộng hai vụ lúa sau khi trừ đi các khoản tiền giống, tiền phân bón, tiền công cày bừa, tiền công cấy gặt, tiền thuốc sâu, tiền thủy lợi, và nhiều khoản khác thì một năm chỉ được vài trăm nghìn đồng. Nếu năm nào thời tiết không thuận lợi khiến sâu bệnh phá hoại hay chuột cắn thì coi như mất trắng, thực tế nhiều nơi ruộng bị người dân 'bỏ sấm' tức là bỏ không để cỏ mọc.
Đứng trước bài toán kinh tế so sánh giữa cấy lúa và sản xuất phi nông nghiệp người dân dễ dàng nhìn ra lời giải đáp và theo lẽ thường họ làm theo cái việc tất yếu là chuyển đổi mục đích sử dụng theo cách tạo ra hiệu quả kinh tế cao nhất.
Nhưng pháp luật về đất đai hiện nay lại trói buộc người dân khi không cho họ được tự ý chuyển đổi mục đích sử dụng đất. Luật buộc họ phải xin phép trong khi sự cho phép lại theo cơ chế xin cho với những yếu tố mơ hồ như vấn đề quy hoạch, khiến cho hành lang pháp lý thay vì là cơ chế bảo vệ quyền lợi cho người dân thì đó lại là thử thách lớn nhất mà người dân phải vượt qua để tự bảo vệ quyền lợi của mình.
Đến khi người dân xây dựng và chính quyền cưỡng chế phá dỡ thì đó lại là lối xử lý bế tắc vô trách nhiệm, vì dù sao đi nữa đất đó cũng chẳng thể khôi phục trở lại làm đất nông nghiệp được, và đất đó cũng vẫn thuộc quyền sử dụng của chủ hộ. Không cho người dân xây xưởng sản xuất lại buộc người ta làm nông nghiệp trong khi họ không muốn thì sẽ ra sao?

Yếu tố quy hoạch

Hộ gia đình nêu trên sau khi bị phá dỡ chuồng trại nhà xưởng thì hoạt động sản xuất bị đình trệ, gia đình lâm vào tình cảnh chơi vơi mà nếu không có giải pháp thì sẽ dần bị bần cùng kinh tế.
Cho nên việc cấm cản người dân chuyển đổi mục đích sử dụng đất đang là vấn đề bất cập nhất trong số các quyền của người sử dụng đất hiện nay.
Theo pháp luật hiện nay thì đất đai thuộc sở hữu nhà nước còn người dân chỉ được giao quyền sử dụng, người dân tuy không là chủ sở hữu nhưng cũng được thực hiện gần đủ các quyền của người sở hữu như được phép giao dịch chuyển nhượng, tặng cho, thừa kế, thế chấp, cầm cố.
Duy chỉ còn vấn đề mục đích sử dụng thì vẫn bị bó buộc hạn chế, và mặc dù pháp luật cũng cho phép người dân được xin phép chuyển đổi mục đích sử dụng, nhưng những cơ chế đi kèm nhiều nhiêu khê nên gây nhiều hệ lụy tiêu cực.
Lấy ví dụ, một con đường quốc lộ được làm cắt ngang cánh đồng. Những hộ có ruộng ven đường rất muốn san lấp để xây dựng một quán bán hàng hay một xưởng mộc, xưởng cơ khí nhưng không được phép. Nhưng nếu một doanh nghiệp mua gom nhiều ruộng rồi lập đề án xin xây dựng nhà máy xí nghiệp thì lại được.
Hà NộiBản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionChính sách đất đai ảnh hưởng cuộc sống người dân
Khi đó thì thử hỏi yếu tố quy hoạch đâu phải là vấn đề, vì doanh nghiệp kia làm theo cái mục đích mà người dân cũng muốn làm. Vậy thì tại sao người dân thì không được làm mà doanh nghiệp thì lại được? Câu trả lời chỉ có thể là do yếu tố tiêu cực mua bán giấy phép dự án, một hình thức cấu kết giữa doanh nghiệp và quan chức trục lợi trên pháp luật mà thôi.
Một ví dụ khác cho thấy sự bất công lớn trong chính sách đất đai, ví như khu Dương Nội thuộc quận Hà Đông, thành phố Hà Nội. Nhiều gia đình có đất vườn hay đất nông nghiệp ở đây nếu họ được phép chuyển mục đích sử dụng sang đất ở thì họ có thể cắt một sào 360m2 ra làm hai ba suất bán đi thu về nhiều tỷ đồng.
Nhưng họ không được làm thế vì quy định luật không cho phép, song cũng đất đó nếu một doanh nghiệp kinh doanh bất động sản xin phép chính quyền lập dự án thu hồi và bán với giá thị trường thì thu về không biết bao nhiêu tiền.
Yếu tố quy hoạch cùng sự cho phép trở thành cái mơ hồ tùy tiện lúc được lúc không, chính nó tạo ra sự bất công mà một đằng là bần cùng hóa người dân một đằng là tài phiệt hóa những doanh nghiệp bất động sản.

Cần mở rộng quyền

Hiện tôi cũng đang tư vấn pháp lý cho các hộ dân ở thôn Trường Xuân, xã Xuân Dương, huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội liên quan đến việc khiếu nại dồn điền đổi thửa mà lý do chính là người dân không muốn bị lấy bớt đi 20,5m2 mỗi sào để làm giao thông thủy lợi nội đồng.
Tôi tư vấn cho bà con rằng ngoài việc đòi hỏi phải giao đủ diện tích thì anh chị cần đấu tranh đòi quyền cho người dân được tự chủ lựa chọn cơ cấu sản xuất cây trồng vật nuôi, vì đây là vấn đề bức thiết nhất của người sử dụng đất hiện nay, đòi quyền này không chỉ cho các anh chị mà là vấn đề của người dân cả nước.
Ví như sau dồn điền đổi thửa người dân phải được quyền lựa chọn loại hình canh tác như có thể trồng khoai tây, rau màu, trồng hoa, cây cảnh, ruộng trũng thì thả cá và có thể xây chuồng trại để chăn nuôi, chứ không thể cứ bắt người dân phải cấy lúa.
Các yếu tố quy hoạch đủ các loại phải được các cấp chính quyền tính toán thật khoa học rõ ràng để trở thành yếu tố thúc đẩy kiến tạo cho người dân sản xuất kinh doanh chứ không được trói buộc người dân.
Việc cưỡng ép người dân sử dụng đất chỉ vào một mục đích, đó là sự rập khuôn máy móc, lười biếng trong suy nghĩ hành động, nghèo nàn trong nhận thức hiểu biết của tầng lớp cán bộ mà rồi cuối cùng kìm hãm sự phát triển do không tạo ra hiệu quả canh tác.
Nay đứng trước bài toán đòi hỏi thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, và giảm tránh những bất công xã hội đang ngày một lan rộng, Chính phủ cần nhìn ra và tháo gỡ nới lỏng cho người dân được tự chủ trong mục đích sử dụng đất.
Những lo ngại về quy hoạch này nọ thực chất là sự níu giữ những quyền hạn lợi lộc hẹp hòi cho một bộ phận giới chức, trong khi người dân hơn ai hết chính họ biết cách sử dụng đất vào việc gì cho đạt hiệu quả, và hiệu quả kinh tế cho họ cũng chính là hiệu quả đem lại cho nền kinh tế.
Bài thể hiện quan điểm và cách hành văn của tác giả, một luật sư đang hành nghề tại Hà Nội.

Kinh tế Việt Nam khó thoát Trung

Tổng Bí thư Việt Nam Nguyễn Phú Trọng hội đàm với Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình ngày 12/01/2017 tại Bắc Kinh. (Ảnh: TTXVN)
Tổng Bí thư Việt Nam Nguyễn Phú Trọng hội đàm với Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình ngày 12/01/2017 tại Bắc Kinh. (Ảnh: TTXVN)
Theo VOA- 17.01.2017
Hơn phân nửa trong tổng số 15 văn kiện về “hợp tác kinh tế” mà Việt Nam vừa ký kết với Trung Quốc trong chuyến thăm của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng cho thấy nền kinh tế của Việt nam càng ngày càng phụ thuộc vào Trung Quốc, từ lĩnh vực ngân hàng, hàng không cho đến nông nghiệp.
Theo thông cáo chung mà hai bên đưa ra trong chuyến đi của ông Trọng tới thăm Trung Quốc, Việt Nam sẽ kết nối với Trung Quốc trong khuôn khổ chương trình hợp tác kinh tế "Hai hành lang, một vành đai” và lên “phương án tổng thể xây dựng khu hợp tác kinh tế qua biên giới”. Theo phương án này, bảy tỉnh phía Bắc và 20 cửa khẩu của Việt Nam sẽ hoạt động tất bật hơn để đón lượng hàng hóa khổng lồ từ Trung Quốc. Chưa kể dự án đường sắt đô thị Cát Linh-Hà Đông và tuyến đường sắt khổ tiêu chuẩn Lào Cai-Hà Nội-Hải Phòng cũng sẽ phục vụ cho mục tiêu này.
Ngoài ra, dân Việt Nam có khả năng sẽ trồng lúa Trung Quốc khi hai bên “tăng cường hợp tác trong lĩnh vực lai tạo các giống lúa.” Hơn nữa, không loại trừ khả năng Việt Nam nhận thanh toán xuất nhập khẩu của Trung Quốc bằng đồng nhân dân tệ thay vì đồng USD. Cuối cùng, ông Trọng kêu gọi các nhà đầu tư Trung Quốc xúc tiến các dự án hạ tầng tại Việt Nam.
Từ năm 2004 đến nay, Trung Quốc liên tục là “đối tác thương mại lớn nhất” của Việt Nam. Năm 2015, kim ngạch song phương đạt hơn 66,6 tỷ USD; 10 tháng năm 2016 đạt 57,6 tỷ USD (tăng 5% so với cùng kỳ năm 2015). Tuy nhiên, việc Việt Nam xuất khẩu hơn 17 tỷ USD, nhập khẩu hơn 40 tỷ USD phản ánh sự mất cân bằng trong trao đổi thương mại Việt – Trung.
Giáo sư Nguyễn Mạnh Hùng, một chuyên gia về Chính trị và Bang giao Quốc tế của Đại học George Mason, đồng thời là một học giả của Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quan hệ Quốc tế ở Thủ đô Hoa Thịnh Đốn (CSIS) nhận định về sự lệ thuộc về kinh tế của Việt Nam đối với Trung Quốc:
“Vấn đề kinh tế giữa Việt Nam với Trung Quốc thì nhiều người ở Việt Nam, kể cả các kinh tế gia đều phàn nàn về cán cân mậu dịch không cân bằng và lo là Việt Nam phụ thuộc rất nhiều trong tương lai với Trung Quốc.”
Theo giáo sư Nguyễn Mạnh Hùng, Việt Nam cần đa đạng hoá hơn nữa các quan hệ kinh tế quốc tế, bên cạnh mối quan hệ với Trung Quốc:
“Họ theo chính sách ngoại giao đa phương đa diện hóa, tìm cách quan hệ với các nước khác. Không có TPP (Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương) thì sức đẩy kinh tế bớt đi. Việt Nam có thể ký hiệp ước song phương với Mỹ, sử dụng những điều khoản thỏa thuận trong TPP. Đó là một giải pháp. Hoặc ký hiệp ước hợp tác với các nước Á Châu khác.”
Trung Quốc đang muốn tận dụng cơ hội Mỹ rút khỏi TPP để thúc đẩy hai hiệp định lớn khác để thay thế TPP, như Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP) hay Hiệp định Thương mại Tự do châu Á-Thái Bình Dương (FTAAP).
Báo Kinh tế Đô Thị trích lời tiến sĩ Nguyễn Trí Hiếu - chuyên gia tài chính ngân hàng, nói rằng Việt Nam sẽ tăng cường quan hệ mậu dịch, xuất nhập khẩu sang thị trường Trung Quốc là tất yếu trong khi Mỹ sắp tới đây có thể tăng cường bảo hộ mậu dịch trong nước.
Tiến sĩ Nguyễn Trí Hiếu nhận định rằng quan hệ mậu dịch giữa hai nước hiện nay chủ yếu dựa trên đồng USD, tuy nhiên, hiện đồng Nhân dân tệ (NDT) đã vào giỏ tiền tệ của IMF và đồng tiền này ngày càng mạnh. Vì vậy, trong thời gian tới, việc thanh toán xuất nhập khẩu của Trung Quốc có thể sẽ bằng đồng NDT thay vì USD.
Chương trình hợp tác kinh tế “Một vành đai, một con đường” được Việt Nam cho là tâm điểm của “chiến lược toàn diện giữa hai nước được nâng lên một tầm cao mới trong bối cảnh tình hình mới.” Nhưng trước thực tế địa lý Việt Nam và Trung Quốc “núi liền núi, sông liền sông”, giới quan sát nói rằng những gì trao đổi tại cuộc “trà đàm” kéo dài tới 80 phút giữa Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng và Chủ tịch nước Trung Quốc Tập Cận Bình trong tuần vừa rồi là một dấu hiệu cho thấy Việt Nam khó ‘thoát Trung’.
Nguồn: VietnamNet, Kinhtedothi

Một quốc gia cần mấy đầu tàu?

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc. (Ảnh tư liệu)
Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc. (Ảnh tư liệu)
Cao Huy Huân Theo VOA- 17.01.2017 
Mới đây mạng xã hội lại một phen nhốn nháo khi vào dịp cuối năm 2016, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, không biết vô tình hay cố ý, đã nhấn mạnh cụm từ “vai trò đầu tàu” của thành phố Hồ Chí Minh và thủ đô Hà Nội cùng nhiều địa phương khác như Hải Phòng, Quảng Ninh, Đà Nẵng, Bình Dương, Cần Thơ, thậm chí là Long An, với kỳ vọng các địa phương này “trở thành đầu tàu kinh tế cho cả nước”. Điểm tương đồng đáng lưu ý này trong các bài phát biểu nhanh chóng được phát hiện và được nhiều người mổ xẻ, có người cho rằng đó là chuyện bình thường vì chúng chỉ là những phát biểu mang tính khích lệ. Tuy nhiên, đã có người phản đối vì cho rằng khái niệm “đầu tàu kinh tế” này nghe như một trò hề.
Tôi chợt nhớ có bài hát rằng “một đoàn tàu có mấy sân ga, xin em xem anh như một ga nhỏ dọc đường”. Như vậy một đoàn tàu có thể có nhiều sân ga, nhưng một con tàu không thể có quá hai đầu (đầu thuận và đầu ngược lại). Thậm chí ngay cả các ga tàu, tuy có nhiều, nhưng chính yếu cũng thường chỉ là một, hai chứ không phải ở đâu cũng là ga chính. Nói như thế để thấy quan điểm muốn nơi nào cũng trở thành đầu tàu kinh tế, nghe thì vui tai, nhưng thực ra ẩn chứa nhiều thách thức mà Việt Nam phải đối mặt.
Thứ nhất, chính là sự phân bố nguồn lực kinh tế. Tất nhiên, không vì lời nói của Thủ tướng rằng chỗ nào cũng cần trở thành đầu tàu mà phán xét chính sách của ông ấy. Tuy nhiên, trên thực tế, nếu “đầu tàu kinh tế” mọc khắp nơi thì sẽ dẫn đến tình trạng phân bố nguồn lực dàn trải và thiếu hiệu quả. Để phát triển các ngành công nghiệp mũi nhọn, hay các ngành dịch vụ mũi nhọn mang về GDP và môi trường sống tốt cho quốc gia, một số thành phố nhất định (không nhiều) cần phải được tập trung nguồn lực. Mới đây, dư luận rất bức xúc khi nguồn tiền từ thu thuế và GDP của thành Phố Hồ Chí Minh cao ngất ngưỡng, nhưng lượng tiền trả ngược đầu tư cho địa phương này lại giảm mạnh, trong khi các thành phố kém phát triển, nguồn thu thấp thì lại được phân bố rất đậm. Nhiều chuyên gia kinh tế cho rằng làm như vậy sẽ khiến Sài Gòn trở nên kiệt sức trước nhu cầu đầu tư. Người ta ví von, một đứa trẻ đang ăn, đang lớn, làm ra tiền của lại bị cắt giảm chén cơm của nó một cách mạnh bạo, về lâu dài ai sẽ gánh vác đại cục? Nguyên tắc căn bản của đầu tư chính là nguồn lực luôn có hạn, nhu cầu thì vô hạn, vậy nên phải biết chọn điểm phân bố đầu tư hợp thời, hợp thế, từ đó kích thích tăng trưởng của địa phương đó trong khi tìm cách khai thác thế mạnh của các địa phương khác để tạo ra liên kết vùng. Hiểu một cách nôm na, với các đặc tính tự nhiên và xã hội của Việt Nam hiện nay, sẽ có một hoặc hai, hay cùng lắm là 3 khu vực cần được tập trung đầu tư để trở thành đầu tàu, mở rộng chân rết cùng kéo các vùng lân cận phát triển dựa theo kế hoạch liên kết vùng.
Thứ hai, việc phát biểu “muôn nơi như một” cho thấy phía Chính phủ dường như vẫn loay hoay trong việc đặt trọng tâm, hay nói chính xác hơn là xác định trọng tâm phát triển kinh tế của từng vùng. Ví dụ, khu vực Cần Thơ, Long An hay Đồng bằng sông Cửu Long lẽ ra nên đặt trọng tâm vào nông nghiệp sạch, nông nghiệp chất lượng cao; Bình Dương là khu công nghiệp mới giảm tải yêu cầu hạ tầng cho Sài Gòn, Đồng Nai; còn Sài Gòn là khu dịch vụ tài chính - kinh tế trọng điểm, là điểm mấu chốt để mở đường ra cho các vùng lân cận (nông nghiệp, công nghiệp lẫn dịch vụ). Điều này tương tự với Đà Nẵng với hệ thống cầu cảng, du lịch là ưu thế; khu vực Quảng Ninh, Hải Phòng cũng cần được xác định các thế mạnh tương tự (ví dụ công nghiệp khai khoáng, du lịch); trong khi Hà Nội là thủ đô văn hóa, trung tâm đầu não chính trị. Nói như thế chỉ là những ví dụ mang tính gợi mở, còn nhiệm vụ xác định trọng tâm của từng vùng của chính phủ phải rõ ràng, cụ thể mới mong có chiến lược liên kết vùng và phát triển toàn diện đất nước.
Về mặt hình thức, để xảy ra sự trùng lắp khái niệm “đầu tàu” trong các bài phát biểu của Thủ tướng Phúc trước hết phải trách ông Phúc chủ quan và thiếu cẩn trọng trong khâu xử lý bài phát biểu. Nếu ông Phúc biết sự chồng chéo này mà vẫn cố ý không điều chỉnh, tức tầm nhìn và triết lý quản trị đất nước của ông, như đã trình bày, chưa kỹ càng. Trong khi đó, bộ phận soạn thảo phát biểu của Thủ tướng Phúc dường như cũng mơ hồ và cẩu thả về nội dung mà họ soạn thảo. Một quốc gia muốn phát triển, trước hết triết lý quản trị đất nước phải rõ ràng và có tầm nhìn, sau đó việc thực hiện phải nghiêm túc và bài bản, ngay cả trong việc soạn thảo một bài phát biểu để thủ tướng vực dậy lòng dân.
* Blog của Cao Huy Huân là blog cá nhân. Các bài viết trên blog được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ.

Tu viện cổ ở Thủ Thiêm vẫn bị ép phải di dời để xây khu đô thị mới

Dòng Mến Thánh Giá Thủ Thiêm. (Ảnh:Tổng Giám Mục Giáo Phận Sài gòn)
Dòng Mến Thánh Giá Thủ Thiêm. (Ảnh:Tổng Giám Mục Giáo Phận Sài gòn)
An Tôn - VOA 17.01.2017 
Từ năm 2015, một tu viện ở Thủ Thiêm, thành phố Hồ Chí Minh, phải đối mặt với sức ép di dời để nhường đất cho một phần của khu đô thị mới thuộc Quận 2.
Soeur Đặng thị Mỹ Hạnh, thư ký Dòng Mến Thánh Giá Thủ Thiêm, hôm 17/1 cho VOA biết chính quyền địa phương muốn gắn việc “giải phóng mặt bằng” một ngôi trường từng thuộc tu viện Dòng Mến Thánh Giá với việc di dời cả tu viện, nhưng phía tu viện không chấp nhận.
Giải thích về sự lắt léo trong ý định của chính quyền nhằm di dời tu viện, Soeur Mỹ Hạnh cho biết hồi năm 1975, tu viện đã cho chính quyền của những người cộng sản “mượn” trường học của tu viện. Đến năm 2015, khi có dự án xây đô thị mới ở Thủ Thiêm, ngôi trường trong diện bị phá dỡ để làm đường. Tu viện đã đề nghị chính quyền bồi thường nhưng họ từ chối. Chính quyền nói nếu “tính chung” cả tu viện và ngôi trường, thì họ sẽ bồi thường.
Theo Soeur Mỹ Hạnh, cho đến nay chính quyền chưa gửi văn bản chính thức đặt ra hạn chót di dời song họ có những hình thức gây sức ép khác:
“Họ cứ làm cách này cách kia. Họ nói là mình muốn được bồi thường trường học thì phải tính cả cơ sở nhà dòng thì họ sẽ bồi thường. Nhưng nhà dòng không bao giờ bằng lòng chuyện đó hết”.
Soeur Mỹ Hạnh cho hay chính quyền đã nhiều lần “hiệp thương” với tu viện. Phía chính quyền nói sẽ cấp đất ở nơi mới cũng như bồi thường chi phí di dời và xây dựng. Tuy nhiên, phía tu viện kiên quyết không ra đi, dù giá trị vật chất của khoản bồi thường có là bao nhiêu. Soeur thư ký của tu viện đưa ra quan điểm:
“Cơ sở này nhà dòng đã lập trên 177 năm rồi. Đây là tên gọi Thủ Thiêm, Hội dòng Mến Thánh giá Thủ Thiêm thì phải gắn vào đất Thủ Thiêm này. Nhà dòng có bao giờ dự định di dời một cơ sở lớn như vầy. Mà chị em tu hành an cư lạc nghiệp. Mình ở một vị trí quá lâu nay rồi, không có muốn đi đâu hết”.
VOA đã cố liên lạc với Ban Bồi thường và Giải phóng Mặt bằng Quận 2 để nghe ý kiến từ phía họ, nhưng không có người trả lời điện thoại.
Lịch sử ghi chép lại rằng giáo đoàn Thủ Thiêm, nơi có Tu viện Dòng Mến Thánh giá, được thành lập năm 1840. Một nhà thờ gỗ được dựng lần đầu ở đó năm 1865.
Các tài liệu khác nhau cho thấy ở khu vực thuộc quy hoạch làm khu đô thị mới Thủ Thiêm, có gần 30 công trình tôn giáo, tín ngưỡng khác nhau, bao gồm các đình, chùa, đền, miếu, tịnh xá, tu viện, nhà thờ và nhà nguyện.
Tuy nhiên, tới giữa 2016, nhiều công trình trong số đó đã bị phá dỡ, di dời. Trong đó, sự kiện gây chú ý là hồi đầu tháng 9 năm ngoái, chính quyền đã cưỡng chế việc di dời chùa Liên Trì dù các vị sư đã tọa kháng.
Một kiến trúc sư đề nghị không nêu tên sinh sống ở miền nam Việt Nam nói với VOA rằng cả chính quyền lẫn hai công ty thiết kế đều đã mắc một lỗi lớn trong quy hoạch khu Thủ Thiêm.
Ông nói sau khi nghiên cứu hồ sơ quy hoạch khu Thủ Thiêm, ông thấy chính quyền đã không nêu ra yêu cầu phải bảo tồn và tích hợp các di sản văn hoá, tôn giáo, kiến trúc vào khu đô thị mới. Trong khi đó, hai công ty thiết kế lần lượt là Sasaki của Mỹ và Norman Foster của Anh đều không có tư vấn, góp ý gì về vấn đề này. Các văn bản liên quan thể hiện điều đó. Vị kiến trúc sư cho rằng “đạo đức của hai công ty có vấn đề.”
Trên mạng xã hội, khi biết tin tu viện của Dòng Mến Thánh giá đang chịu sức ép di dời, nhiều người bày tỏ sự bất bình và đưa ra bình luận rằng chính quyền hoặc “có tầm nhìn ngắn về văn hóa” hoặc “quá tham lam” trong việc phát triển đô thị. Về phần mình vị kiến trúc sư muốn giấu tên đưa ra nhận xét:
“Cách làm quy hoạch của Việt Nam khá là lỗi thời với lạc hậu. Các cách quy hoạch tiên phong với tiến bộ nhất thì người ta tìm cách cố gắng giữ lại tối đa tất cả những gì có giá trị lịch sử ở trong cái hiện trạng. Còn cái cách quy hoạch cũ là họ xóa bỏ toàn bộ, giải tỏa trắng. Đó là một cách quy hoạch sai lầm, với lại nó đã lạc hậu rồi”.
Một số người có kiến thức về quy hoạch đô thị viết trên mạng xã hội rằng Tp. HCM có thể dễ dàng điều chỉnh cục bộ bản quy hoạch Thủ Thiêm là có thể giữ lại gần như nguyên trạng quần thể tu viện Mến Thánh giá và nhà thờ Thủ Thiêm. Có người cho rằng việc đập bỏ cơ sở vật chất của một dòng tu có gần 177 năm lịch sử chuyên chú phụng sự xã hội có thể xem như một tội lỗi.

Bi quan và lạc quan trong năm mới

 Kính Hòa, phóng viên RFA 2017-01-16  
Một người dân vùng đồng bằng sông Cửu Long tươi cười và vẫy tay chào Ngoại trưởng Mỹ John Kerry khi tàu chở ngoại trưởng  đi ngang túp lều của ông hôm 14/1/2017.
 Một người dân vùng đồng bằng sông Cửu Long tươi cười và vẫy tay chào Ngoại trưởng Mỹ John Kerry khi tàu chở ngoại trưởng đi ngang túp lều của ông hôm 14/1/2017.  AFP photo Bi quan và lạc quan trong năm mới 00:00/00:00  Phần âm thanh  Tải xuống âm thanh
  Những việc mới
Hai sự kiện văn hóa và cả chính trị, bùng nổ trên không gian mạng Việt Nam trong những ngày đầu năm 2017 là quyển sách về học giả Trương Vĩnh Ký bị thu hồi, và con rồng Hải Phòng.
Học giả Trương Vĩnh Ký vốn không được các nhà làm sử chính thống của đảng cộng sản Việt Nam xem là quan trọng vì lý do ông là một trong những người có quan hệ với người Pháp từ sớm. Tuy nhiên ông lại được nhiều người Việt Nam ngưỡng mộ vì kiến thức uyên bác của ông, cùng những tác phẩm về ngôn ngữ, về văn hóa Việt Nam mà ông để lại cho đời.
Với tựa đề rất khiêm tốn “Petrus Ký, nỗi oan thế kỷ” của tác giả Nguyễn Đình Đầu những tưởng sẽ được ra mặt công chúng trong thời điểm cách xa đến hơn 30 năm sau cuộc cải cách thể chế kinh tế xã hội đầu tiên của đảng cộng sản. Nhưng “ai đó” đã ra lệnh thu hồi cuốn sách. Và “Ai đó” cũng là tựa đề của bài viết về câu chuyện văn hóa chính trị này của blogger, nhạc sĩ Tuấn Khanh.
Trong bài viết này tác giả giới thiệu cho độc giả khái niệm “ai đó” trong xã hội cộng sản, một quyền lực thực sự, không mang tên, và tất nhiên không mang một trách nhiệm nào cả. Và “ai đó” không chỉ là nguyên nhân của việc rút bỏ tác phẩm “Petrus Ký, nỗi oan thế kỷ” mà còn là quyền lực đã ra tay xóa bỏ nhiều nhân vật lịch sử của Việt Nam.
“Ai đó” đã xóa từng phần lịch sử Việt Nam chống giặc phương Bắc ra khỏi trí nhớ các thế hệ một cách rất hệ thống, âm mưu bỏ phần giáo dục lịch sử của quê hương, ghép vào môn Công dân.
- Tuấn Khanh 
“Ai đó” đã xóa từng phần lịch sử Việt Nam chống giặc phương Bắc ra khỏi trí nhớ các thế hệ một cách rất hệ thống, âm mưu bỏ phần giáo dục lịch sử của quê hương, ghép vào môn Công dân. Và “ai đó” cũng cổ vũ việc in sách ca ngợi các kẻ xâm lược khát máu Mao Trạch Đông, Đặng Tiểu Bình… cho các thế hệ mới. “Ai đó” cũng dựng nên các câu chuyện dối trá như Lê Văn Tám nhưng không quên trừng mắt chà đạp các nhân vật có thật như Phạm Quỳnh, Trương Vĩnh Ký. Lê Văn Duyệt, Bá Đa Lộc...
Tuấn Khanh cũng kể lại câu chuyện của ông năm xưa khi đi thăm tượng đài cụ Phan Thanh Giản tại một ngôi trường, một nhân vật cũng bị “ai đó” muốn xóa bỏ khỏi lịch sử. Tuấn Khanh và các bạn bè của ông phải bỏ đi khi bị các nhân viên bảo vệ hung hăng cản trở.
Về học giả Trương Vĩnh Ký, nhà văn Mạnh Kim viết:
Dường như người ta vẫn còn “sợ” những vĩ nhân thật sự như cụ Trương? Hay là chân dung vĩ đại của một học giả thông kim bác cổ như cụ Trương có thể làm mờ nhạt đi hình ảnh một bọn học lóm mà xét về học thuật lẫn nhân cách khi so với cụ Trương chỉ đáng là một đám hạ tiện? Mà cần gì phải cấm ở thời mà không gian mạng có thể cho biết đâu là một bậc chân học giả và đâu là phường tiểu nhân vô học luôn tự nhận mình là cha thiên hạ!
Câu chuyện Petrus Ký mang tính chính trị đã rõ, nhưng tại sao con rồng Hải Phòng cũng mang tính chính trị. Mà con rồng Hải Phòng là gì?
Đó là một công trình hoa lá màu vàng, hình rồng được thành phố Hải Phòng dùng hàng tỉ đồng để trang trí cho thành phố nhân dịp đầu xuân. Công luận chê con rồng này quá xấu. Blogger Đoan Trang thì gọi nó là con rồng đầu Pikachu, một quái thú truyện tranh Nhật Bản.
Hãy nghe blogger Cánh Cò để hiểu tại sao con rồng Hải Phòng mang tính chính trị. Cánh Cò nói rằng con rồng là một con vật không có thật, nó cũng không có thật như xã hội chủ nghĩa. Nó đã được tưởng tượng ra vào thời phong kiến, và lạ kỳ thay nó vẫn tồn tại tới ngày nay dưới chế độ cộng sản vốn tự mệnh danh là đả thực bài phong.
Trước sức ép của công luận, người ta đã dở bỏ con rồng Hải Phòng:
Nhưng trước khi tự biến mất vào không gian vô tận con rồng “tạp giống” này là một câu chuyện hay ho nói về quyền lực và quần chúng. Nó nằm chễm chuệ tại một con đường đẹp nhất Hải Phòng bởi sự cho phép của quyền lực. Quyền lực từ thể chế Đảng, âm ỉ và luôn có xu hướng phò “phong kiến” tuy âm thầm nhưng chưa bao giờ vắng bóng trong mọi sinh hoạt của người cộng sản. Phong kiến thờ rồng, lấy kiểu dáng của nó làm chủ đạo. Vua luôn mặc áo màu vàng vì đó là màu của rồng theo hình ảnh mà dân gian tạo ra từ hàng ngàn năm trước.
Con rồng vàng đất cảng không ra ngoài ước vọng âm thầm của lãnh đạo Hải Phòng khi tự cho phép mình một ảo vọng về “cửu trùng” ngay trong triều đại mà cộng sản chỉ tôn sùng màu đỏ.
Con rồng vàng Hải Phòng suy cho cùng chỉ là sản phẩm dị hình của một thể chế hợm hĩnh. Nó không những điển hình cho sự dốt nát về tính thẩm mỹ mà còn phần nào chứng minh tính cách của hệ thống cầm quyền: thờ phụng thứ lý luận tạp nham dưới nhãn mác con rồng Xã hội chủ nghĩa.
Những việc cũ
Một chuyện đã cũ của năm 2016, nhưng chưa chấm dứt trong năm 2017, đã vậy nó còn được các giới chức vô tình xới lên làm công luận tức giận. Đó là chuyện Bộ Tài nguyên và môi trường không xếp thảm họa Formosa Vũng Áng nằm trong những sự việc nổi bật trong lĩnh vực môi trường trong năm 2016. Bạch Hoàn viết trên mạng xã hội:
000_JX6MQ-400.jpg
Công nhân trang trí cho Tết Nguyên đán sắp tới tại Hà Nội, ảnh chụp hôm 13/1/2017. AFP photo
Ông Trần Hồng Hà làm quan rất to. Nhưng chắc là ông chưa được dạy rằng, làm quan là lo trước cái lo của thiện hạ, vui sau cái vui của thiên hạ.
Thế nên, trong con mắt của ông Trần Hồng Hà, hàng trăm ngàn người dân miền Trung khốn khổ phải tha hương cầu thực, chẳng thể nào có sức nặng bằng vài hoạt động của cán bộ của ngành này.
Thế nên, trong con mắt ông Trần Hồng Hà, hàng ngàn lá đơn của ngư dân miền Trung kiện Formosa cũng chẳng thể nào có sức nặng bằng những thứ mang lại thành tích cho ngành này.
Ông Trần Hồng Hà là đương kim Bộ trưởng Bộ tài nguyên và môi trường của Việt Nam.
Câu chuyện cũ hơn, kéo dài từ rất lâu mà dường như chưa có lối ra là chuyện dân chủ hóa Việt Nam.
Có những cái nhìn tuyệt vọng về câu chuyện này.
Tác giả Định An dẫn lời một đại tá về hưu trên trang Dân Luận:
Việt Nam bây giờ như thế này có sự góp phần của thế hệ như tôi, nhưng lúc đó không ai cho rằng nó sai, con đường đó là không đúng. Thế hệ trước tôi và tôi đã say mê lý tưởng cộng sản và chết bởi nó. Đến bây giờ nhiều người vẫn không thức tỉnh, họ vẫn sống với ảo vọng từ quá khứ huy hoàng, và những kẻ thức tỉnh lại chọn cách sống im lặng mặc cho đất nước bị tàn phá.
Blogger Người Buôn Gió cũng có cái nhìn tương tự khi ông nhìn lại năm 2016. Ông viết rằng Môt sự xuống sức dần dần, mòn mỏi, từ từ, theo thời gian ngấm vào thể trạng đất nước Việt Nam là điều đang diễn ra và sẽ diễn ra tiếp tục. Điều này thật đáng tiếc lại phản ánh đúng hiện thực hơn.
Ông Trần Hồng Hà làm quan rất to. Nhưng chắc là ông chưa được dạy rằng, làm quan là lo trước cái lo của thiện hạ, vui sau cái vui của thiên hạ.
- Bạch Hoàn  
Trong bài viết và cũng là câu hỏi rằng Nền chính trị độc tài của Việt Nam có tồn tại dài lâu hay không, blogger Nguyễn Thị Từ Huy đưa ra bốn nguyên nhân có thể làm chế độ hiện nay sụp đổ, đó là tha hóa chính trị, khủng hoảng xã hội, thảm họa môi trường, khủng hoảng kinh tế. Bà cũng nhìn về năm 2016, nhưng với ánh mắt lạc quan hơn:
Một số hiện tượng xã hội tiêu biểu diễn ra trong năm 2016 khiến người ta có thể hình dung một năm 2017 cũng sẽ không kém phần sôi động. Lần đầu tiên các ứng viên độc lập tham gia ứng cử Quốc hội tạo thành một phong trào, thu hút không chỉ các nhà hoạt động xã hội mà cả các nghệ sĩ và các thành phần tự do trong xã hội. Lần đầu tiên hơn mười ngàn người dân đã xuống đường bảo vệ môi trường sống trong tinh thần ôn hoà bất bạo động, trong tình yêu cuộc sống và trong tình yêu của Thiên chúa. Lần đầu tiên xảy ra hiện tượng một MC truyền hình kêu gọi hỗ trợ đồng bào vùng bão lụt chỉ sau ba ngày nhận được 16 tỷ đồng, gợi lên nhiều phân tích bình luận, nhưng có lẽ bình luận đáng ghi nhớ nhất là : hiện tượng này trả lại ý nghĩa cho hai từ « minh bạch » trong một xã hội đặc trưng bởi sự tham nhũng.
Trước tình hình như vậy, nhà hoạt động dân quyền trẻ tuổi Nguyễn Hồ Nhật Thành viết:
Đừng trông chờ một lãnh tụ hay một đảng phái nào có thể làm điều này giúp chúng ta vì nếu một lãnh tụ hay một đảng phái nào có khả năng giải phóng chúng ta thì họ cũng sẽ có khả năng trói chúng ta lại lần nữa. Cuộc chuyển đổi trong tương lai phải là cuộc chuyển đổi từ sức mạnh quần chúng thông qua nền tảng của các hội, nhóm xã hội dân sự độc lập.
Dân quyền không chỉ là những quyền tự do cơ bản mà còn là một kiểu thức văn hóa. Khi mỗi người ý thức và thực hành được quyền của mình thì họ sẽ trở nên tôn trọng quyền của người khác. Xã hội sẽ tốt đẹp hơn nếu mỗi người có thể tự do sống với quan điểm của mình mà không cần phải “đeo mặt nạ”, không sợ bị gọi là “phản động” hay những sự miệt thị khác.
Nguyễn Thị Bích Ngà cũng có niềm lạc quan như vậy trong một đoạn văn tự phán trên facebook:
Tôi không xuống đường, tôi không đi làm phóng sự, tôi chẳng dám mạnh mẽ, tôi cũng chẳng chi đồng chó nào để giúp họ đấu tranh thì tôi làm đếch gì cho phép mình cái quyền phê phán hay bảo họ phải làm gì. Nếu tôi có chi tiền thì tôi cũng không được phép chờ đợi ở họ vì tôi phải biết con số tôi bỏ ra là quá nhỏ so với những gì họ đã bỏ ra. Chờ đợi và thúc giục đến khi chưa được như ý thì phê phán và phủ nhận là hành động vô duyên, không tử tế. Và, nhiều người đang bị mắc lỗi tâm lý chờ đợi này rất nặng, trong đó có tôi.
Thay vì chờ đợi vào người khác, mình hãy tự làm được gì thì làm, không làm được thì hãy giúp người đang làm trong khả năng tốt nhất mà mình có thể. Vậy thôi. Đừng để tâm lý chờ đợi làm mình trở thành người vô duyên, kỳ cục và mất niềm tin!
Đó cũng là niềm tin của nhà hoạt động dân sự trẻ tuổi Nguyễn Anh Tuấn, khi anh nhớ lại những ngày phải cải trang trốn tránh nhà cầm quyền trong vụ bê bối môi trường Formosa. Anh đã nghe những vị chức sắc tôn giáo vùng Hà Tĩnh khuyên bảo giáo dân không bán hải sản nhiễm độc dù rằng có thể không còn phương tiện sinh nhai nào khác. Nguyễn Anh Tuấn viết rằng Ngay lúc đó tôi biết rằng tôi, gia đình tôi, người thân của tôi nợ những người dân nơi đây một lời cảm ơn, vì họ thà chịu đói chứ không đẩy cá độc ra thị trường gây hại cho chúng tôi. Và cũng lúc đó, tôi biết, dân tộc mình vẫn còn hy vọng.


Nhà thờ Thủ Thiêm, sợ hãi và đập bỏ


Người Do Thái có câu “Một bông lúa trĩu hạt là một bông lúa biết cúi đầu”, người Nhật Bản có câu “Người ta sẽ đập bỏ mọi thứ khi nỗi sợ hãi không được giải quyết”. Sở dĩ tôi phải nhắc đến hai câu này trong lúc nói về quyết định của nhà cầm quyền Việt Nam: Đập bỏ nhà thờ có tuổi thọ 177 năm, lớn hơn quốc gia Canada 27 tuổi trong khi tình trạng bảo dưỡng của nhà thờ rất tốt, kết cấu nhà thờ hoàn toàn vững chắc và các hoạt động tôn giáo nơi đây vẫn diễn ra bình thường… Là vì, có hai điều mà nhà cầm quyền Việt Nam và bất kỳ nhà cầm quyền độc tài nào cũng phạm phải, đó là: Tính tự mãn, ngông cuồng và; Sự sợ hãi có căn nguyên.
Ở khía cạnh tính tự mãn, ngông cuồng, sự rỗng tuếch về văn hóa, hơn ai hết, lịch sử hơn 40 năm chiếm miền Nam và rải đều chủ nghĩa Cộng sản trên toàn cõi Việt Nam đã cho thấy người Cộng sản đã chọn từ việc đập phá toàn bộ các giá trị văn hóa vật thể cũng như phi vật thể nhằm biến văn hóa Việt Nam thành một vùng đất trắng… Đến sau giai đoạn đập phá này là giai đoạn “trùng tu”, người ta trùng tu một cách vô tội vạ và chẳng có bất chút tư duy nào về văn hóa khi đụng đến vấn đề trùng tu. Mọi thứ, khi được trùng tu xong, nó sẽ biến dạng thành một quái thai văn hóa. Và bên cạnh đó, vẫn tiếp tục đập phá những công trình tôn giáo để xóa trắng các giáo hạt, biến nó thành một loại “vùng kinh tế mới” giữa thành phố.
Ở vấn đề đập phá các đền đài miếu mạo, có lẽ cuộc đập phá dữ dội nhất ở những năm đầu và giữa thập niên 1980 đã xóa sổ đi rất nhiều di chí văn hóa vật thể và xóa trắng các loại hình văn hóa phi vật thể của miền Nam. Trong đó, các lăng tẩm ở Huế bị biến thành nhà máy xay bột cám heo, cơ sở chăn nuôi, các nhà thờ bị trưng thu để biến thành trường học. Hiện tại, trường đại học Đà Lạt, đại học kinh tế Đà Nẵng và đại học luật Sài Gòn, khu Fartima Bình Triệu là những bằng chứng sống động về việc trưng thu, biến dạng này.
Và chuyện trùng tu, từ chỗ có đường nét, có lịch sử, mang hơi thở văn hóa của thời đại thành một loại quái thái văn hóa, có lẽ kể không xiết. Hiện tại, vụ trùng tu các lăng tẩm, đàn tế trời, khuê văn các… ở Huế và trùng tu Văn Miếu Quốc Tử Giám ở Hà Nội là những vụ nổi cộm. Một khuôn hình bằng gạch men có hoa cúc nổi bên trên, có lá, có cành được đắp cách điệu hết sức đẹp và tinh tế, qua các bàn tay trùng tu, nó thành cái bánh trung thu trọc lóc. Nhưng như vậy còn đỡ hơn nhiều khi người ta ngang nhiên xóa bỏ mọi chi tiết trên vật thể và đắp vào đó những cái hoàn toàn mới và xa lạ với chính nó. Bất kì thứ gì được trùng tu bởi bàn tay các nhà trùng tu xã hội chủ nghĩa đều trở thành những quái thai văn hóa một cách thê thảm nhất!
Và hiển nhiên, vấn đề xóa sổ một khu di tích tôn giáo nào đó vẫn chưa bao giờ ngừng. Hiện tại, sau vụ xóa sổ chùa Liên Trì, sắp tới đây, nhà cầm quyền Việt Nam lại tiếp tục xóa sổ nhà thờ Thủ Thiêm. Vì sao nhà cầm quyền phải làm như vậy?
Có hai lý do: Lý do kinh tế và lý do chính trị. Nhưng thực ra, lý do chính trị chi phối mạnh hơn cả, lý do kinh tế chỉ mang tính thứ yếu. Sau khi xóa sổ giáo xứ Cồn Dầu, Đà Nẵng và Giáo xứ Đông Yên, Hà Tĩnh, lăm le xóa sổ giáo xứ Thái Hà và hiện tại là quyết tâm xóa sổ giáo xứ Thủ Thiêm, Sài Gòn… Và sẽ còn nhiều giáo xứ, nhiều ngôi chùa khác đang được nhắm đến, không phải tự dưng người ta làm vậy.
Ở những giáo xứ và các ngôi chùa bị xóa sổ cũng đang nằm trên danh sách xóa sổ, đều có đặt điểm chung là có độ tuổi lịch sử khá cao, ít nhất cũng trên 100 năm. Và đây là những ATKT theo định nghĩa của nhà cầm quyền (nghĩa là An Toàn Khu Tôn Giáo). Những nơi này được các con chiên ngoan đạo phụng thờ, tôn tạo qua nhiều thế hệ. Và không có gì khác ngoài đức tin tôn giáo cũng như sự không chấp nhận độc tài, độc đoán, cái ác… Những những ATKT này. Một khi người ta không chấp nhận độc tài, thì đương nhiên, kẻ độc tài sẽ tìm mọi cách xóa bỏ những nhóm này. Và không có cách nào tốt hơn đối với kẻ độc tài là xóa bỏ các giáo xứ.
Hơn nữa, từ ngày xưa, các vị linh mục quản xứ tiền nhân đã chọn những vùng đất có địa thế rất đẹp và thuận lợi trong việc xây dựng nhà thờ và cộng đồng tôn giáo ở đó. Khi đập bỏ những ATKT này đi, nhà cầm quyền sẽ lấy được một quĩ đất quí giá để biến nó thành một khu dân cư mới với giá thành cao nhất có thể. Và với việc này, số lợi nhuận thu về cho nhà cầm quyền, cơ hội để chấm mút, hối lộ và tham nhũng của giới quan chức địa phương không phải là nhỏ.
Những ATKT này chỉ có lý lẽ và niềm tin tôn giáo. Và trong một xã hội độc tài, man rợ, lấy lý lẽ và niềm tin tôn giáo để đấu với quyền lực công an, quân đội, với lòng tham và sự cố chấp thì vô cùng khó, bằng chứng là hầu hết các cuộc đấu tranh, những lý lẽ đã được đưa ra, thậm chí người ta kêu gào bằng lý lẽ, nhà nước vẫn cứ im lặng đập phá. Nếu một nhóm đập phá không được, người ta sẽ cho kéo đàn kéo đám từ công an tới quân đội cùng ra tay gắt máu để đập phá cho được.
Vì sao quĩ đất Việt Nam vẫn còn rất nhiều chỗ bỏ hoang hoặc nếu tính về giá trị kinh tế thì khi cho Trung Quốc thuê 50 năm, 70 năm, giá một mét vuông đất cho thời hạn dài gần thế kỉ cho thuê mua chưa được nửa ổ bánh mì thịt, người ta không nhắm đến để qui hoạch bán cho người Việt mà lại phải gây ra bất công, oan khiên và thậm chí đổ máu để lấy những khu đất đã được nhân dân xem là “đất thánh”? Chỉ cần làm một phép so sánh nhỏ này cũng đủ thấy sự mâu thuẫn và vô lý trong bài toán kinh tế về đất đai tại Việt Nam hiện nay.
Nhưng vấn đề không nằm ở yếu tố kinh tế mà lại nằm ở lĩnh vực chính trị. Nhà cầm quyền, ngoài yếu tố thù hận các tôn giáo bất tuân độc tài ra, họ còn sợ hãi. Bởi súng ống, quân đội, công an và bạo lực của nhà cầm quyền chưa bao giờ làm suy suyễn niềm tin tôn giáo, niềm tin vào cái thiện và lẽ phải của các Ki Tô hữu và các Phật tử không thuộc giáo hội nhà nước. Đây là mối bất an thường trực của Đảng, bởi hơn ai hết, các nhà độc tài thừa biết họ đã lợi dụng tôn giáo để hình thành và phát triển như thế nào và họ sẽ bị lật đổ như thế nào khi họ không còn lợi dụng tôn giáo được nữa.
Chính vì mối lo thường trực này mà nhà cầm quyền Cộng sản luôn tỏ ra ngông cuồng và tự mãn, luôn thấy họ đúng khi đập phá, xây dựng, đạp trên lý lẽ và nhân tâm. Bởi suy cho cùng, xét về tính chính danh cũng như yếu tố văn hóa nền tảng, người Cộng sản luôn ở mức zero. Chính vì vậy, một bông lúa lép trong tiến trình phát triển của nhân loại thì không bao giờ biết cúi đầu và cũng chẳng thể cúi đầu được. Và điều này còn đúng với câu nói của người Nhật, “Người ta sẽ đập bỏ mọi thứ khi nỗi sợ hãi không được giải quyết”.
Bởi hiếm có chế độ chính trị nào đã lợi dụng tôn giáo, đạp bỏ tôn giáo và ngông cuồng trong hành xử với tôn giáo hơn chế độ chính trị không có nền tảng về niềm tin, không có cái lõi văn hóa và không có ý thức dân tộc. Việc đập phá, xóa sổ mọi di chỉ văn hóa, tôn giáo sẽ mãi mãi là một phần hoạt động trong quá trình tồn tại của kẻ độc tài. Nhân dân yêu công lý sẽ không chấp nhận điều đó, nhưng không chấp nhận không có nghĩa là nhà nước chịu bó tay. Vấn đề là không chấp nhận bằng cách nào, bằng hành động nào mới quan trọng. Rất tiếc là hầu như các hoạt động tâm linh, niềm tin của người Việt vẫn còn ở dạng thô sơ, đơn lẻ, nếu không muốn nói là nó quá thô sơ và đơn lẻ bởi thiếu sự cộng hưởng và nương tựa.
Thử hỏi, nếu các giáo xứ biết nương tựa nhau để che chở nhau, các tôn giáo biết nương tựa nhau để che chở nhau thì nhà cầm quyền có dám làm những gì lâu nay họ đã làm?

Facebook dửng dưng về thông tư 38 của CSVN đòi chặn ‘thông tin xấu độc’

Facebook dửng dưng về thông tư 38 của CSVN đòi chặn ‘thông tin xấu độc’
Ảnh: UBrand Blog
Đại diện truyền thông của công ty Facebook ở Việt Nam từ chối bình luận về một thông tư mới do Bộ Thông Tin Và Truyền Thông CSVN đưa ra, hòng ép buộc các mạng xã hội và mạng chia sẻ video phải hợp tác với nhà cầm quyền sở tại, nhằm kiểm duyệt các nội dung.
Báo chí trong nước cách đây ít ngày dẫn lời ông Lê Quang Tự Do, phó cục trưởng Cục Phát Thanh Truyền Hình Và Thông Tin Điện Tử thuộc Bộ Thông Tin Cộng Sản Việt Nam, nêu rõ rằng chủ nhân các trang mạng và mạng xã hội nước ngoài như Facebook và Youtube “phải có nghĩa vụ hợp tác với bộ Thông Tin Và Truyền Thông để chặn thông tin xấu độc”.
BBC hôm 17/01 trích dẫn email của bà Đào Thùy Linh thuộc công ty T&A Ogilvy, đơn vị đại diện truyền thông cho Facebook tại Việt Nam, cho biết Facebook hiện không có bất cứ ý kiến nào để công bố vào lúc này.
BBC cũng dẫn lời một chuyên gia công nghệ thông tin từ Sài Gòn là ông Nguyễn Hồng Phúc, nhận định rằng Facebook hay Google, công ty sở hữu mạng Youtube, sẽ khó kiểm soát nội dung các quảng cáo mà người dùng nhìn thấy. Bởi vì các nội dung này được hiển thị một cách tự động dựa trên thị hiếu của mỗi người dùng. Ông Phúc cho rằng, lời tuyên bố đòi Facebook và Youtube chặn “thông tin xấu độc” theo chủ trương của đảng cộng sản chỉ là lời “phát biểu mạnh miệng” của “một quan chức truyền thông mới lên” của Bộ Thông Tin Và Truyền Thông CSVN.
Huy Lam / SBTN

Bị Trung Cộng sang lấn ngay tại sân nhà, ngành gỗ Việt Nam nguy cơ phá sản

Bị Trung Cộng sang lấn ngay tại sân nhà, ngành gỗ Việt Nam nguy cơ phá sản
Ảnh: vietnamnet.vn
Theo vietnamnet.vn, quyết định đóng cửa rừng khắp lãnh thổ Hoa Lục kể từ năm 2017 của nhà nước Trung Cộng đã làm các công ty sản xuất gỗ trang trí nội thất của họ đổ xô tìm kiếm nguồn nguyên liệu tại Việt Nam.
Nguồn tin này nói rằng khoảng 900 nhà đầu tư ngành gỗ của Hoa Lục và Đài Loan đang hoạt động tại Việt Nam. Riêng tỉnh Bình Dương có đến 29 trong số 100 nhà máy gỗ của Trung Cộng tính đến giữa năm 2016, với tổng số vốn đầu tư 82.4 triệu Mỹ kim.
Theo ông Nguyễn Tôn Quyền, tổng thư ký của Vifores, trong những năm gần đây, các công ty Trung Cộng đã âm thầm di chuyển đến Việt Nam bằng nhiều cách khác nhau. Theo ông Huỳnh Văn Hạnh, phó chủ tịch hội đồng quản trị công ty Hawa, nhiều người Trung Cộng mua lại các công ty Việt Nam lỗ lã hoặc bị phá sản và điều hành nhà máy dưới tên của người Việt Nam. Ông Hạnh cho rằng thực tế này cho thấy các công ty nội địa của người Việt Nam bị thiệt hại nặng nề.
Giám đốc công ty Mtrade tại tỉnh Bình Dương nói rằng, nhiều người Trung Quốc ghi danh đầu tư tại Bình Dương, nhưng không sản xuất tại tỉnh này. Họ đưa các sản phẩm đã sản xuất ở Hoa Lục sang Việt Nam để sơn, lắp ráp rồi xuất cảng sang Hoa Kỳ và Liên Âu để được hưởng mức thuế ưu đãi.
Hồi năm ngoái, các công ty Trung Cộng hoạt động tại Việt Nam xuất cảng các sản phẩm gỗ sang Hoa Kỳ trị giá tới 12 tỉ Mỹ kim, trong khi công ty Việt Nam chỉ thu được khoảng 2 tỉ Mỹ kim trị giá hàng gỗ xuất cảng.
Song Châu / SBTN

Phản đối chính quyền Hải Phòng thu phí vô lý đối với hàng hóa xuất cảng

Phản đối chính quyền Hải Phòng thu phí vô lý đối với hàng hóa xuất cảng
Ảnh: Hàng xuất cảng ở Hải Phòng (ảnh tư liệu SGB)
Hàng loạt đại diện doanh nghiệp vừa có văn bản phản đối chính quyền thành phố Hải Phòng đã đưa ra mức thu phí hạ tầng cảng biển vô lý.
Chủ hàng hóa xuất nhập cảng nói rằng các khoản phí và phụ phí cho hãng tàu, kho bãi mà chính quyền Hải Phòng buộc doanh nghiệp phải đóng là trùng với các khoản phí về vận tải hàng hải.
Phúc trình của Hiệp hội Dệt may Việt Nam, cho biết các doanh nghiệp dệt may có lượng hàng rất lớn xuất, nhập qua cảng Hải Phòng. Chính quyền Hải Phòng đã thu các loại phí xuất nhập khẩu như phí vận chuyển, phí D/O, phí handling, phí vệ sinh container, phí THC, phí B/L, phí AMS, phí Telex RL, phí CY monitor,.. mà doanh nghiệp đã phải nộp thông qua các công ty vận chuyển, công ty kinh doanh cầu cảng, kho bãi có sử dụng cơ sở hạ tầng, công trình dịch vụ, tiện ích công cộng trong khu vực cảng biển.
Từ 1-1-2017, chính quyền Hải Phòng đặt ra thêm khoản thu gọi là “phí sử dụng công trình kết cấu hạ tầng, công trình dịch vụ, tiện ích công cộng trong khu vực cảng biển Hải Phòng”. Chính quyền đưa ra hạn mức phải thu về khoản phí này từ doanh nghiệp xuất nhập cảng tại Hải Phòng trong năm 2017 là 1,500 tỷ đồng.
“Quy định thu phí này của Hải Phòng là bất hợp lý, phí chồng phí và là gánh nặng cho doanh nghiệp hiện đang gặp rất nhiều khó khăn trong điều kiện cạnh tranh gay gắt về giá với các nước trong khu vực, nhất là hàng may mặc là hàng nhẹ cồng kềnh, số lượng container rất lớn không thể đánh đồng với các loại hàng như sắt thép, xi măng…”, ông Vũ Đức Giang, Chủ tịch Hiệp hội Dệt may Việt Nam, nói.
Phản ánh của một số doanh nghiệp bông sợi cho biết, trung bình một doanh nghiệp với lượng xuất nhập cảng từ 150 – 400 container (40feet)/tháng thì mỗi doanh nghiệp sẽ phải tốn thêm từ 900 triệu đến 2.4 tỷ đồng/năm cho chi phí này, chưa kể các chi phí đi lại và chờ đợi làm thủ tục.
Các hiệp hội ngành nghề còn cho rằng chính quyền Hải Phòng đã phân biệt đối xử giữa hàng hoá thông quan tại cửa khẩu cảng biển Hải Phòng với hàng hoá chuyển cảnh, quá cảnh, tạm nhập tái xuất, hàng gửi kho ngoại quan… Mức thu phí với hàng hoá xuất nhập cảng là 250,000 đồng/1 container 20 feet, 500,000 đồng/1 container 40 feet. Nhưng hàng tạm nhập tái xuất phải nộp 2.2 triệu đồng/container 20 feet, 4.4 triệu đồng/container 40 feet… Quy định này sẽ tạo thêm gánh nặng cho các doanh nghiệp vì phải nộp phí quá nhiều.
Có dấu hiệu chính quyền Hải Phòng tận thu, vi phạm cam kết của Việt Nam khi gia nhập WTO và nhiều FTA Việt Nam đã ký kết.
Vũ Minh Ngọc / SBTN

Tàu đánh cá Việt Nam bị tố hoạt động bất hợp pháp khắp Thái Bình Dương

Tàu đánh cá Việt Nam bị tố hoạt động bất hợp pháp khắp Thái Bình Dương
Uỷ ban Ngư nghiệp Central Pacific nhóm họp tại Nadi, Fiji giữa tháng 12 vừa qua lên tiếng báo động về sự xâm nhập ngày càng nhiều của các đội tàu sơn màu xanh, xuất phát từ các ngôi làng chài nhỏ bé ở Việt Nam, dàn trải khắp vùng biển Thái Bình Dương.
Đội tàu của người Việt Nam không săn bắt cá ngừ, mà chỉ nhắm các loại hải sản hiếm tại các vùng biển ở ngoài khơi Palau, Federated States of Micronesia, Papua New Guinea, Úc, New Caledonia, cả Solomon Islands và Vanuatu. James Movick, tổng giám đốc điều hành Tổ chức Diễn đàn Ngư nghiệp nói rằng đoàn tàu Việt Nam bắt trộm các loài hải sản quanh các rặng san hô như hải sâm, sò, và nhiều loài sinh vật biển khác đang có nguy cơ diệt chủng.
Ông Vũ Duyên Hải, trưởng đoàn đại diện Việt Nam tại cuộc họp nói rằng Việt Nam hiện có xấp xỉ 105,000 chiếc tàu xanh. Cũng tại phiên họp này, đoàn đại diện Việt Nam đề nghị thiết lập một đường dây nóng giữa các quốc gia Đông Nam Á và các đảo để giải quyết vấn đề này trong tương lai thông qua đối thoại.
Theo Palau National Marine Sanctuary, các đội tàu xanh của Việt Nam và hoạt động của họ đã ảnh hưởng xấu đến đời sống sinh vật biển và nguồn tài nguyên biển của Palau, đe doạ an ninh lương thực và kỹ nghệ du lịch của đất nước họ.
Kể từ khi ngư dân Việt Nam bị Trung Cộng ngăn cấm đánh cá trên vùng biển truyền thống là Biển Đông, tình trạng ngư dân Việt Nam phải hoạt động bất hợp pháp sang vùng biển của các quốc gia khác ngày càng nhiều.
Song Châu / SBTN

Quảng Ngãi xin gạo cứu đói nhưng bỏ tiền tỷ trang hoàng đón Tết

QUẢNG NGÃI (NV) – Trong khi ngửa tay xin nhà cầm quyền trung ương cấp gạo cứu đói cho dân, nhà cầm quyền tỉnh Quảng Ngãi vẫn đổ ra nhiều tỷ đồng trang hoàng đón Tết Ðinh Dậu.
Theo tin tờ Dân Việt hôm 16 Tháng Giêng: “Nhiều người dân trong tỉnh không khỏi thắc mắc trước thông tin chính quyền thành phố Quảng Ngãi đã chi tiền tỷ mua hoa làm biểu tượng gà ‘khủng’ để đón Tết Ðinh Dậu 2017 sắp đến. Trong đó riêng phần trang trí của công viên Ba Tơ khoảng 3 tỷ đồng.”
Tờ báo dẫn lời ông K.T (52 tuổi) ở thành phố Quảng Ngãi lắc đầu nói: “Trong khi hàng ngàn hộ dân bị thiệt hại nặng nề do 3 đợt lũ vừa qua vẫn còn đang rất khó khăn, chính quyền tỉnh phải xin trung ương gạo để cấp hỗ trợ còn các cấp ngành Quảng Ngãi kêu gọi và vận động các tổ chức, cá nhân hảo tâm đóng góp để chia sẻ, thì việc thành phố Quảng Ngãi chi ngân sách tiền tỷ để mua hoa, làm biểu tượng gà to để đón Tết thật khó hiểu.”
Tờ Dân Việt dẫn lời một người dân khác bày tỏ: “Việc làm đẹp thành phố trong ngày Xuân là không sai. Thế nhưng trong điều kiện người dân Quảng Ngãi bị thiệt hại nặng nề do mưa lũ dồn dập như vừa qua, nhiều gia đình hiện vẫn còn khổ, theo tôi không nên tốn nhiều tiền như vậy.”
Nói chuyện với phóng viên của tờ Dân Việt, ông Hồ Tấn Hòa, trưởng phòng Kỹ Thuật, Công ty Cổ phần Môi trường Ðô thị Quảng Ngãi phân bua rằng phí tổn trang hoàng đón Tết không phải nhà cầm quyền địa phương đổ ra hết.
“Phần trang trí trên địa bàn thành phố Quảng Ngãi do chúng tôi đảm nhận có tổng kinh phí khoảng 3.7 tỷ đồng, trong đó ngân sách thành phố khoảng một nửa, còn lại do doanh nghiệp đóng góp. Riêng chi phí trang trí tại công viên Ba Tơ khoảng 3 tỷ đồng, gồm ngân sách 1.2 tỷ đồng và doanh nghiệp 1.8 tỷ đồng. Ðó là chưa tính tiền công và phương tiện đã huy động tham gia.”
Ðược biết sau khi nhà cầm quyền tỉnh gửi văn bản đề nghị, nhà cầm quyền trung ương đã xuất kho dự trữ cấp cho Quảng Ngãi gần 2,500 tấn gạo để hỗ trợ cứu đói cho dân, gồm: Hỗ trợ gạo cứu đói dịp Tết Nguyên Ðán là gần 1,718 tấn gạo; Hỗ trợ gạo cứu đói do mưa lũ năm 2016 là 333 tấn gạo.
Mấy ngày đầu năm dương lịch 2017, các báo ở Việt Nam loan tinh nhà cầm quyền trung ương đã xuất kho dự trữ cấp gạo cứu đói cho dân, đặc biệt là các tỉnh bị thiên tai lũ lụt và đói giáp hạt. Các tỉnh đó là Cao Bằng, Tuyên Quang, Yên Bái, Lào Cai, Hà Nam, Thanh Hóa, Nghệ An, Quảng Trị, Quảng Ngãi, Bình Ðịnh, Ninh Thuận, Ðăk Nông. Tổng số gạo cần hỗ trợ là hơn 14,700 tấn. (TN)

Sân bay Tân Sơn Nhất quá tải do sự tham lam của cộng sản

Chim Biển (Danlambao) - “Sân bay Tân Sơn Nhất thất thủ”, đó là cụm từ mà nhiều người sử dụng mạng xã hội dùng để nói về tình trạng quá tải đang diễn ra tại phi trường lớn nhất của Việt Nam trong những qua. Hình ảnh “biển người” chật kín tại phi trường, nhất là các ga quốc nội, các cửa kiểm tra an ninh là hình ảnh quen thuộc trong mỗi dịp tết.

Rất nhiều chuyến bay phải thay đổi giờ bay vì thiếu đường băng khiến hành khách hết sức vất vả. Tình trạng ở ga quốc tế cũng chẳng khá hơn là mấy. Bà con Việt kiều ở hải ngoại về ăn tết hay người ngoại quốc đến Việt Nam cũng vất vả chờ đợi để làm thủ tục nhập cảnh trong sự uể oải, mệt mỏi. 

Sân bay Tân Sơn Nhất từ một cảng hàng không đứng trong top đầu khu vực về diện tích cũng như chất lượng phục vụ. Sau khi cưỡng chiếm Miền Nam, nhà cầm quyền đã biến Tân Sơn Nhất trở thành một sân bay của những điều tồi tệ. Hàng trăm vụ mất cắp hành lý xảy ra liên tục trong những năm qua. Và đương nhiên, muốn việc xuất-nhập cảnh được thuận lợi, không thể thiếu thủ tục “tiền đâu”.

Trả lời giới truyền thông “lề đảng” Đinh La Thăng, Bí thư thành ủy TP Hồ Chí Minh cho rằng nguyên nhân quá tải là do người dân đi đưa, đón người thân quá nhiều. Ông này cho rằng cứ một người đi, về mà 5,7 người đưa, đón thì làm sao không quá tải. Chuyện người dân đón đưa nhau bao nhiêu người là quyền và điều đó thể hiện tình cảm của họ. Nguyên nhân quá tải tại sân bay bắt nguồn từ sự quản lý yếu kém và thói tham lam của quan chức cộng sản.  Ông Bí thư Việt cộng này cố tình không hiểu tình cảm của những người đưa, đón dành cho người thân, hay ông  cố tình nói thế để bao che cho sự phá hoại của hệ thống cộng sản từ khi cướp miền nam Việt Nam sau biến cố 1975. 

Năm 1920 chính quyền Pháp thời ấy cho xây dựng sân bay trên nền đất của làng Tân Sơn Nhứt, vì thế tên chính thức của sân bay là Tân Sơn Nhứt. Ban đầu sân bay chỉ phục vụ những chuyến bay quân sự nên chỉ có duy nhất một đường băng trên nền đất đỏ. Sau khi người Mỹ hiện diện ở miền nam Việt Nam, họ đã mở rộng và xây dựng những đường băng bằng bê tông dài hơn 3000m. Trước năm 1975, sân bay có diện tích rộng hơn 3600 ha được quân đội Mỹ và chính quyền Sài Gòn sử dụng chung với mục đích thương mại cũng như quân sự. Vậy mà hiện tại sân bay Tân Sơn Nhất chỉ còn khoảng 1500 ha, trong khi đó chỉ có 850 ha được sử dụng đúng mục đích. Phần còn lại do Bộ Quốc phòng quản lý và sử dụng để xây sân gold hay những công trình dịch vụ phục vụ cho mục đích làm giàu cho các nhà tư bản đỏ.

Rõ ràng, nhà cầm quyền đã và đang phá hoại sân bay Tân Sơn Nhất một cách không thương tiếc. Từ 3600 ha trước năm 1975, nay Việt cộng đã cắt xén 2100 ha để bán, buôn, cấp, trao cho quan chức trong quân đội của cộng sản. Chưa dừng lại ở đó, Bộ Quốc phòng cộng sản còn chiếm thêm 650 ha làm sân golg và làm của để dành.

Sài Gòn từ ngày được thành lập đến nay luôn là đô thị phát triển về kinh tế cùng nhiều hoạt động khác, nên đã thu hút được nhiều người đến làm ăn và sinh sống. Vì lẽ đó thành phố này luôn tấp nập giao thương, vận tải hàng không đã trở thành phương tiện di chuyển của rất nhiều người từ khắp mọi miền. Đó là lợi thế để phát triển một đô thị. Đồng thời, là cơ hội để giới cầm quyền làm tiền trên mảnh đất một thời vàng son này.
Gần như tất cả các quan chức của quân đội cộng sản đều được cấp đất và xây dựng công trình riêng trên phần đất của sân bay. Đoạn đường từ Lăng Cha Cả (quận Tân Bình) nằm trên trục đường Cộng Hòa (ngày nay) cho đến đường Phạm Văn Bạch (quận Gò Vấp) là một trong những phần đất thuộc sân bay đã bị quân đội Việt cộng chia chác bằng nhiều hình thức. Từ lý do quốc phòng cho đến cấp nhà cho cán bộ quân đội ở khu K300, rồi đến việc xây cao ốc, căn hộ để bán và cho thuê. Nay quân đội thậm chí còn xây nhà hát, nhà hàng, khách sạn để kinh doanh nhằm đạt được lợi ích nhóm. Còn việc cốt yếu của quân đội là bảo vệ tổ quốc thì “nhường” hẳn cho người dân. 

Có thể thấy, nếu như sân bay Tân Sơn Nhất không bị cắt xén vì lợi ích của quan chức cộng sản thì ngày nay tình trạng quá tải mỗi dịp cuối năm tại sân bay sẽ không diễn ra. Dẫu cho sự phát triển đô thị và dân số của thành phố có tăng cũng không ảnh hưởng, bởi khi xây dựng sân bay, người Pháp và cả người Mỹ cũng đã tính tới chuyện này. Chính vì thế nên họ mới để phần diện tích đất trống rất lớn. Ngoài mục đích tạo vành đai an toàn cho sân bay, nó còn nhằm dùng để phát triền và mở rộng sân bay một khi tốc độ tăng trưởng diễn ra. Nhưng đó là tư duy và chiến lược của người Tây phương. Nó không phù hợp với “đỉnh cao trí tuệ” của cộng sản  nên.Tại sao người dân Việt Nam cứ mãi tự biến mình thành những đàn cừu để mặc cho lũ sói cộng sản chăn dắt? Cần lắm một nhận thức về quyền và cần hơn một sự thay đổi để người dân Việt được sống một cuộc sống thật sự đáng sống.

Chim Biển
danlambaovn.blogspot.com