Tuesday, January 10, 2017

“Ai đó”


Bằng một giọng buồn rầu, nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu nói rằng “ai đó” đã đọc cuốn sách viết về Trương Vĩnh Ký (1837-1898) của ông chưa kỹ, nên ra lệnh ách lại. Tuy vậy, ông vẫn nuôi hy vọng rồi mọi thứ sẽ trở lại bình thường khi cuốn sách nhận được lệnh cần phải sửa đổi gì đó, và được tái phát hành.
Cuốn sách "Petrus Ký, nỗi oan thế kỷ" do nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu chủ biên, một công trình tập hợp các bài viết của nhiều tác giả và dù đã được Cục Xuất bản cấp giấy phép, cho phát hành khoảng hơn một tháng, đột nhiên bị lệnh miệng của “ai đó”, khiến mọi thứ ách tắc vào đầu tháng 1/2017. Chương trình ra mắt vào ngày 8/1 tại Sài Gòn bị gọi hủy một cách gấp rút.
Ông Nguyễn Đình Đầu nói về “ai đó”. Người mà ông cũng thật sự không biết là ai, nhưng có đủ quyền lực để rút lại quyền được lưu hành hợp pháp công trình nghiên cứu của các nhà trí thức.  “Ai đó” cũng là một lối nói ám chỉ khá phổ biến của người dân Việt Nam trong xã hội từ nhiều năm nay. Cách nói chừng như rất mập mờ, nhưng hầu như mọi người đều hiểu “ai đó” nghĩa là gì.  
Đây không phải là lần đầu những mệnh lệnh giấu mặt kỳ quặc như vậy, chen ngang vào đời sống Việt Nam. Giới nghệ sĩ âm nhạc, văn chương hay kịch nghệ, điện ảnh… từ Bắc chí Nam, hầu như đều đã có kinh nghiệm về các loại lệnh miệng của “ai đó”. Lối can thiệp bất thường, mà hầu hết lý do đưa ra đều ngớ ngẩn, nhưng lại luôn tỏ vẻ hết sức quan trọng để phục vụ cho các kiểu tư tưởng-chính trị.
Sự kiện của sách "Petrus Ký, nỗi oan thế kỷ" nhắc cho người ta nhớ lại vấn nạn quen thuộc trong xã hội Việt Nam từ nhiều năm nay, kể từ sau năm 1975. Trong một xã hội đói khát sự minh bạch, những chỉ thị thập thò từ bóng tối vẫn khiến xã hội nơm nớp và trở thành u ám hơn. “Ai đó” có nhiều loại, nhưng dễ tìm thấy là hạng người thích phô trương tư tưởng, quyền lực hoặc cả đời xuẩn động theo chủ nghĩa nô bộc trung thành. Cả hai loại đó thường hành động mà bất cần dân tộc hay tổ quốc.
Trong nhiều lời bàn về việc thu hồi sách "Petrus Ký, nỗi oan thế kỷ", hầu hết đều cho rằng do ông Trương Vĩnh Ký dính líu nhiều đến người Pháp, nhà Nguyễn, Phan Thanh Giản… Không biết từ khi nào, những người cầm quyền đã dựng nên nên các phiên tòa với các nhân vật lịch sử Việt Nam, không khác các cuộc đấu tố. Vua Gia Long (1762-1820) bị phủ nhận, thậm chí xóa luôn công lao thống nhất đất nước và mở mang bờ cõi của ông. Suốt trong nhiều năm, báo chí và và văn nô hằn học tấn công Phan Thanh Giản (1796–1867), bất chấp các nghiên cứu nhận định lại cuộc đời và sự nghiệp của ông. Và cũng như Phạm Quỳnh (1892-1945), Trương Vĩnh Ký… bị gọi tên là tay sai của thực dân, xóa bỏ các giá trị xây dựng ngôn ngữ Việt và đời sống xã hội mà các ông đã dựng nên.
Nhiều năm trước, khi cùng với nhà thơ Trần Tiến Dũng và họa sĩ Trịnh Cung về Bến Tre để tìm thăm mộ cụ Phan Thanh Giản, chúng tôi đã rất khó khăn mới đến nơi. Thậm chí khi tôi hỏi thăm, có một quan chức ở Sở văn hóa còn mang ra một tập photo và cắt từ báo, các bài tấn công, miệt thị ông Phan Thanh Giản, đồng thời hỏi rằng “Phan Thanh Giản là nhân vật có vấn đề, anh tới thăm làm gì?”.
Rồi chúng tôi cũng tìm đến được ngôi trường hiếm hoi mang tên Phan Thanh Giản, có bức tượng bán thân của ông. Nhưng khi hỏi các học sinh về tên của trường và ý nghĩa của bức tượng, không ít em đã lắc đầu. Nến văn minh cộng sản đã bao vây và tiêu diệt lịch sử Việt Nam như vậy đó. Thậm chí nền văn minh đó đã rượt đuổi và hăm dọa những ai quan tâm điều họ không muốn, như cách mà chúng tôi sau đó bị người bảo vệ của trường xông tới với dáng vẻ hung hăng khi ông Trịnh Cung đang chụp lại bức tượng, khiến cả nhóm phải lên xe chạy đi lập tức. 
“Ai đó” đã xóa từng phần lịch sử Việt Nam chống giặc phương Bắc ra khỏi trí nhớ các thế hệ một cách rất hệ thống, âm mưu bỏ phần giáo dục lịch sử của quê hương, ghép vào môn Công dân. Và “ai đó” cũng cổ vũ việc in sách ca ngợi các kẻ xâm lược khát máu Mao Trạch Đông, Đặng Tiểu Bình… cho các thế hệ mới. “Ai đó” cũng dựng nên các câu chuyện dối trá như Lê Văn Tám nhưng không quên trừng mắt chà đạp các nhân vật có thật như Phạm Quỳnh, Trương Vĩnh Ký. Lê Văn Duyệt, Bá Đa Lộc...
“Ai đó” nghe chừng rất nặc danh, nhưng có lẽ nhân dân nghe qua đều hiểu. Trong tác phẩm Sống và chết ở Thượng Hải của nữ sĩ Niệm Niệm, bà cũng có nói đến hiện trạng kiểu “ai đó” trong xã hội cộng sản tại Trung Quốc. Hiện trạng có tên là open secret, tức chuyện tưởng chừng vô cùng bí mật, nhưng thật ra nhân dân, ai cũng biết và ai cũng hiểu. Dân chúng trước mặt thì luôn vâng dạ, kính cẩn, nhưng khi quay lưng thì văng tục và nguyền rủa trong sự khinh bỉ về “ai đó”.
“Ai đó” đang kiểm duyệt, chận, bỏ, xóa và phán xét mọi thứ trên đất nước Việt Nam, dựa trên những tiêu chí không mang giá trị phụng sự thuần túy cho tổ quốc, dân tộc. Cũng như việc “ai đó” đã thu hồi, đình bản sách "Petrus Ký, nỗi oan thế kỷ"  để chận lại việc sách làm rõ câu chuyện lịch sử, con người lịch sử, để minh bạch và cân nhắc lại mọi phán xét.
Và hôm nay, đã đến lúc chúng ta cũng nên đặt lại vấn đề, minh định lại sự tồn tại của chính chúng ta bằng câu hỏi: Rằng những “ai đó”- các ông bà - có tư cách gì để thay đổi và phán xét tổ tiên và lịch sử người Việt của chúng tôi?

Buôn người – tệ nạn chưa có hồi kết

Lan Hương, phóng viên RFA 2017-01-10  
17 cô gái Việt Nam là nạn nhân của nạn buôn người, đang ở tạm tại trung tâm phục hồi chức năng tỉnh Lào Cai hôm 18/4/2015.
 17 cô gái Việt Nam là nạn nhân của nạn buôn người, đang ở tạm tại trung tâm phục hồi chức năng tỉnh Lào Cai hôm 18/4/2015.  AFP photo
Nạn buôn người ở Việt Nam vẫn tiếp tục gia tăng và chưa có dấu hiệu suy giảm dù truyền thông đưa tin rất thường xuyên để cảnh báo người dân và Chính phủ đã đưa ra nhiều chính sách, biện pháp.
Đưa sang Trung Quốc
Ủy ban Quốc gia Việt Nam Phòng chống HIV/AIDS và Ma túy- Mại dâm đưa ra số liệu cho thấy trong năm 2016 vừa qua có 600 phụ nữ và trẻ em được giải cứu khỏi các đường dây buôn người. Tổng cộng từ năm 2013 đến giữa năm ngoái, cơ quan chức năng của Việt Nam phát hiện gần 1700 vụ, lừa bán 3.400 nạn nhân.
Theo đó nạn nhân của tình trạng buôn người chủ yếu là phụ nữ và trẻ em, và một trong những “thị trường tiêu thụ” chính là Trung Quốc, nơi mà sự mất cân bằng giới tính khiến chuyện “nhập khẩu vợ” gia tăng. Còn theo Linh mục Nguyễn Bá Thông, người lâu nay giúp đỡ cho các nạn nhân Việt Nam, thì số nạn nhân bị buôn bán với 3 mục đích gồm làm nô lệ lao động, nô lệ tình dục và lấy nội tạng. Mỗi một mục đích lại có nguyên nhân và các mánh khóe lừa đảo khác nhau:
Theo tôi thì nhìn nhận cả hai phía, phía quản lý của chính quyền Nhà nước và phía của người dân.
- Tiến sĩ Đinh Thị Dung
Đó là ba loại buôn người chính ở Việt Nam. Buôn người để làm tình dục thì tư tưởng như thế này: các em được hứa đồng tiền rất cao, giống như nô lệ lao động. Đi qua bên đó không phải làm gì cả, ví dụ như đi Mã Lai, không phải làm gì. Đi qua đó phục vụ bưng nước thôi, tháng được 15 triệu, nhưng thực sự chỉ là 5 triệu, 3 triệu, rồi tiền thiếu nó chồng chất lên. Lúc đó nó mới nói rằng nếu không muốn làm cái đó thì làm tình dục hay làm nô lệ khác với cái giá như vậy. Thì những người kia không có chọn lựa, bắt buộc phải làm thì mới có tiền trả nợ để đi về nước.
Cái thứ 2 là buôn người để buôn bán nội tạng thì mình đã biết lâu lắm rồi, từ chục năm trước khi mình lên miền Bắc Trung Quốc là Lào Cai, thì Chính phủ Việt Nam có nhiều biện pháp trên giấy tờ nhưng thực tế không có gì hết đó. Chẳng hạn có những trẻ hay người lớn bị bắt qua Trung Quốc, nhưng mà khi đưa lên thì chính công an của tỉnh đó lại nói là không có thật. Từ chối là chuyện có thật. Chẳng hạn ở Lào Cai, Bắc Giang thì Chính phủ, chính quyền địa phương lại nói là không có thật, tầm bậy.
Người dân thiếu thông tin
Tiến sĩ Đinh Thị Dung, giảng viên khoa lịch sử, văn hóa Trung Quốc cho rằng hai nguyên nhân chính dẫn đến tệ nạn này, đó là phía quản lý lỏng lẻo của Chính quyền và nhận thức, dân trí của người dân còn thấp:
Theo tôi thì nhìn nhận cả hai phía, phía quản lý của chính quyền Nhà nước và phía của người dân. Thứ nhất là cần phải có thông tin chi tiết, cụ thể hơn nữa để người ta hiểu, có nhiều người mù mờ, ngu ngơ về cái vấn đề này lắm thì người ta vẫn đi thôi. Thứ 2 là trình độ dân trí của những người bị lừa còn thấp.
Tiến sĩ Phạm Quang Minh, giảng viên Đại học Khoa học Xã hội và Nhân Văn cũng có nhận định tương tự và thêm một điểm đáng chú ý là thủ đoạn ngày càng tinh vi của các tay buôn người:
Tôi nghĩ là chắc chắn là do người dân thiếu thông tin về vấn đề đó. Họ sống ở những vùng sâu vùng xa, như vậy không có khả năng tiếp cận thông tin, hay là nhận được những thông tin sai lệch. Thứ hai, là tội phạm ngày càng tinh vi, có nhiều thủ đoạn, nhiều âm mưu, tìm mọi cách để lừa những người dân ít thông tin, kém hiểu biết như vậy.
043_NS_TA4B75F6-400.jpg
Thủ tướng Na Uy, bà Erna Solberg đến thăm các cô gái Việt Nam là nạn nhân buôn người trong một trại phục hồi chức năng ở Lào Cai hôm 18/4/2015. AFP photo
Phân tích nguyên nhân nạn buôn người ở Việt Nam không có dấu hiệu thuyên giảm, linh mục Nguyễn Văn Thông cho biết là do điều kiện cuộc sống nghèo khổ, thiếu thốn nên nhiều người ôm ấp giấc mơ đổi đời. Lý do khác nữa theo ông là sự thờ ơ, đa phần người dân Việt quan tâm đến những chương trình giải trí nhiều hơn là tin tức trên báo, đài.
Lý do tại sao nạn buôn người xảy ra nhiều là thứ nhất không có thực tế để chống, không ai nói gì hết. Có lên TV mà ở Việt Nam có ai coi tin đâu, người ta toàn coi show này show nọ, hay lên báo thì ai đọc báo đâu. Nhưng chính quyền địa phương họ không có công việc cụ thể để làm điều đó thì tệ nạn đó cứ tăng thôi. Và khi xã hội làm cho người ta càng nghèo, thì  người ta càng muốn thoát ra với một hi vọng là đổi đời, thì đó là lý do họ đưa vô đường đó nhiều.
Quản lý yếu kém
Chính phủ Việt Nam đã đưa ra rất nhiều biện pháp để phòng chống nạn buôn người. Ngày 10/5/2016, Thủ tướng ban hành Quyết định số 793/QĐ-TTg lấy ngày 30/7 hàng năm là “Ngày toàn dân phòng, chống mua bán người”. Luật phòng chống mua bán người đã được ban hành và có hiệu lực từ năm 2012. Cũng trong năm 2012, Chính phủ Việt Nam đã phê chuẩn Nghị định thư Palermo về Phòng ngừa, trấn áp và trừng trị buôn bán người, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em. Sau đó, năm 2015, Việt Nam ký Công ước ASEAN về Phòng chống buôn bán người, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em. Tuy nhiên như trình bày tệ nạn này vẫn ngày một gia tăng ở Việt Nam, mà theo ý kiến của Tiến sĩ Phạm Quang Minh lỗi một phần còn do sự quản lý của chính quyền chưa chặt chẽ:
Quản lý của các cấp chính quyền địa phương chưa được chặt chẽ, chưa được tốt. Khi có những tình trạng như vậy thì cần phải kiểm tra, thông tin cho người dân để người ta không mắc phải những sai lầm như thế.
Phép vua thì có đưa ra, nhưng lệ làng có ai nói đâu, người dân họ chỉ biết những gì xã, huyện, phường nói.
- Linh mục Nguyễn Văn Thông
Trong khi đó, linh mục Thông lại cho rằng Chính phủ Việt Nam đã đưa ra nhiều biện pháp để đẩy lui tệ nạn này, tuy nhiên việc thực thi ở cấp địa phương chưa được hiệu quả, dẫn đến tình trạng “phép vua thì mạnh mà lệ làng lại không có”:
Phép vua thì có đưa ra, nhưng lệ làng có ai nói đâu, người dân họ chỉ biết những gì xã, huyện, phường nói. Thành ra những vùng có người bị lừa đưa ra nước ngoài nhiều nhất, nhưng chính quyền địa phương không bao giờ tổ chức cho họ những buổi học để họ biết thế nào là thật, giả, những cạm bẫy sẽ đến với họ khi họ ra nước ngoài để làm vợ hay lao động. Tức là ở trên có nhưng ở dưới không có ai tổ chức để nói. Phép vua thì nhiều mà làng thì chẳng ai tổ chức để báo, giúp người ta chuẩn bị.
Buôn người là loại tội phạm xuyên biên giới, cơ quan chức năng Việt Nam cũng nhận ra đươc tình hình buôn người nghiêm trọng trong nước, và đã phối hợp với rất nhiều tổ chức như Tổ chức Hagar quốc tế tại Việt Nam, tiến hành các buổi hội thảo về nạn buôn người với Lào và Thái Lan.
Tuy vậy dường như vấn đề vẫn còn khó không chỉ đối với chính phủ Hà Nội mà còn nhiều quốc gia khác cũng như cả những tổ chức quốc tế tham gia công tác ngăn ngừa tệ nạn này.

Tại sao người Việt lại vượt biên, lại bị bắt...

Thanh Trúc, phóng viên RFA 2017-01-10  
Ảnh chụp màn hình bài báo của thông tấn xã Đài Loan cho thấy cảnh 40 thuyến nhân Việt Nam đang bị lực lượng biên phòng Đài Loan cầm giữ tối 6/1/2017.
Ảnh chụp màn hình bài báo của thông tấn xã Đài Loan cho thấy cảnh 40 thuyến nhân Việt Nam đang bị lực lượng biên phòng Đài Loan cầm giữ tối 6/1/2017. Screenshot of CNA
Chiếc tàu cá Đài Loan chở 46 người, trong đó 40 là người Việt Nam, 6 người kia là chủ tàu và thủy thủ, bị tuần duyên bản xứ phát hiện và bắt giữ tối ngày 6 tháng một tại vùng biển Nghi Lan gần một cảng cá lớn của Đài Loan.
Qua Đài Loan để làm gì?
Nhà chức trách Đài Loan công bố tin tức và hình ảnh những người Việt  nhập cư Đài Loan trái phép bằng đường biển trong một cuộc họp báo. Thông tin được trình chiếu lại trên hệ thống truyền hình Đài Loan.
Một công nhân Việt Nam ở Đài Trung, yêu cầu được giấu tên, cho đài Á Châu Tự Do biết trong số những người Việt bị bắt có người nhà và người quen của cô:
Tại vì hôm đấy em xem video thì em nhận ra được chị của em với một anh bạn đi cùng với chị của em ở trong video đấy, em biết là chuyến tàu đã bị bắt. Người  ta nói là bắt ở Yilan, đi 40 người mà mỗi người hết 6.000 Đô, bây giờ mất hết mà người cũng không biết ở đâu. Em không biết làm thế nào mà em rất sợ, không biết chị em bây giờ đang ở đâu.
Bạn em bảo bây giờ nên gọi cho cha, cha tên là cha Hùng, thì may ra cha giúp chứ em ở đây cũng chẳng biết ai mà cũng chẳng nhờ được ai. Em chỉ mong chị em bình an và về lại quê thôi.
Những người này sẽ lên các vùng núi, làm việc trong các nông trại của người Đài Loan, đó là những gì mà tôi biết.
- Linh mục Nguyễn Văn Hùng
Người mà chị công nhân vừa nói tới, linh mục Nguyễn Văn Hùng, giám đốc văn phòng trợ giúp pháp lý cho công nhân và cô dâu Việt đến Đài Loan, nói rằng đây không phải lần đầu tiên chuyện người Việt vượt biển đến Đài Loan xảy ra, tuy nhiên đây là lần đầu tiên có một lúc 40 người bị bắt như vậy:
Đây là sự tiếp nối việc nhập cảnh lậu của người Việt Nam đến Đài Loan bằng thuyền. Chuyện như vậy thỉnh thoảng xảy ra nhưng không phải một lần 40 người như lần này. Tôi nghĩ lần này là lần người nhập cư bất hợp pháp bị bắt nhiều nhất.
Khoảng thời gian trước thì người Việt Nam, có người làm nghề đánh cá, một số không phài người đánh cá, họ mua tàu đến Đài Loan xong rồi bỏ tàu nhảy xuống biển và họ bơi vô. Nhưng lần này họ có thuyền của người Đài Loan  đưa từ Trung Quốc qua. Khi tàu này còn cách Yilan chừng 9 hải lý thì bị tuần duyên Đài Loan phát hiện, họ bí bắt và đưa ra cuộc họp báo. Tôi được biết một người từ Việt Nam đi theo dạng này phải trả khoảng 6.000 Đô Mỹ, Đi như vậy thì không được bảo đảm sẽ đi đến nơi hoặc trong trường hợp bị trả về thì được hoàn trả lại tiền.
Vẫn theo lời linh mục Nguyễn Văn Hùng, nếu nhập cảnh lậu mà không bị bắt đi nữa thì những người Việt này vẫn là những lao động bất hợp pháp rất vất vả ở Đài Loan:
Những người này sẽ lên các vùng núi, làm việc trong các nông trại của người Đài Loan, đó là những gì mà tôi biết.
Được hỏi nhà chức trách nước sở tại sẽ xử lý như thế nào đối với 40 người nhập cảnh lậu bị bắt tuần trước, linh mục Nguyễn Văn Hùng nói theo chỗ ông biết thì:
Thông thường bên cơ quan thi hành luật pháp họ chuyển cái án này lên tòa án. Trong thời gian điều tra thì không ai được tiếp xúc trừ khi những người này có luật sư vào thăm. Sau khi họ ra tòa một lần, xử án xong thì người ta đưa những người này đến các trại giam dành cho người nhập   cư bất hợp pháp. Trong khi ở các trại giam thì những người này phải tự lo kiếm tiền mua vé máy bay để về nước.
Trước kia văn phòng cũng có đi thăm viếng những trường hợp như thế này. Cho những người không có thân nhân ở Đài Loan thì văn phòng cũng giúp cho họ tiền máy bay để họ có thể trở về Việt Nam.
Những người bị bắt ở Nghi Lan đã khai như thế nào được chị công nhân giấu tên kể lại như sau:
Họ hỏi là tại sao đến Đài Loan, sang bên này hết bao nhiêu tiền thì người bạn của chị em nói là  đi từ Việt Nam sang Trung Quốc đóng 1.500, xong đi từ Trung Quốc sang Đài Loan là đóng 4.500, tất cả là 6.000 (Đô La).
Em cũng đã khuyên chị em là đừng có đi bởi vì sợ người ta lừa, nhưng chị nói là  những bạn của  chị ở quê vừa rồi cũng đi nhiều  lắm mà sang đến bên này cứ gọi điện cho chị nói là sang đi không sao đâu. Chị em ở Vĩnh Phúc còn anh kia thì ở Hà Tĩnh, hầu như chúng em tuyền ở vùng quê thôi, phần đa là người miền Bắc với miền Trung nhiều.
Vì sao họ phải ra đi?
000_EA72J-400.jpg
Lao động Việt tại Đài Loan biểu tình phản đối công ty Formosa hôm 10 tháng 8 năm 2016. AFP photo
Nghèo, không tiền, không việc làm là lý do những người ra đi viện tới để biện minh cho hành động vượt biên của họ:
Bởi vì ở quê bọn em làm ăn khó khăn lắm, kiếm được đồng tiền rất chi là cực khổ, làm ruộng chẳng được bao nhiêu, chẳng có đủ ăn nữa.
Thực ra sang đây cũng khổ lắm, tuyền đi theo người ta, đàn ông đi xây nhà, mình đi phụ vữa với lại dọn dẹp trong công trình người ta xây nhà. Cực khổ lắm nhưng một tháng người ta cũng trả cho được khoảng độ 1.000 Đô, suông sẻ thì làm cũng nhanh hơn ở quê, gởi về Việt Nam thì được nhiều hơn.
Vài năm trở lại đây có những người trong nước, không chỉ vượt biển qua Đài Loan mà còn đi xa hơn, tới tận Australia hay New Zealand. Điển hình là vụ vượt biên gồm 21 người đi  từ cảng Long Hải, tỉnh Bà Rịa, Vũng Tàu, hồi tháng Năm 2016, bị tàu hải quân Australia bắt trả về Việt Nam.
Bởi vì ở quê bọn em làm ăn khó khăn lắm, kiếm được đồng tiền rất chi là cực khổ, làm ruộng chẳng được bao nhiêu, chẳng có đủ ăn nữa.
- Một công nhân
Theo giới thẩm quyền Australia thì Việt Nam cam kết không trừng phạt và bỏ tù những người bị trả về mà sẽ tạo điều kiện công ăn việc làm đồng thời cho con cái họ đi học bình thường.
Thế nhưng hôm 13 tháng Mười Hai 2016,  tòa án Bà Rịa  Vũng Tàu mở phiên sơ thẩm xét xử  4 bị cáo can tội dùng thuyền đưa 21 người vượt biển đến New Zealand nhưng bị cơ quan chức năng Australia bắt trả về Việt Nam.
Kết quả người tên Nguyễn Giao Thông bị 3 năm 6 tháng tù giam, người thứ hai tên Nguyễn Tuấn Kiệt 30 tháng tù giam. Hai bị can còn lại mỗi người 18 tháng tù cho hưởng án treo.
Trước đó, tháng Năm 2016, tòa án La Ghi tỉnh Bình Thuận mở phiên xét xử vụ 46 người, trong đó có trẻ em mà cháu nhỏ nhất là 4 tuổi, dùng thuyền vượt biển đến Australia hồi tháng Bảy năm 2015. Tàu của họ bị hải quân Úc chận bắt và sau đó gởi trả về về Việt Nam. Khi đó Australia cũng được Việt Nam hứa sẽ không trả thù. Sau đó tòa Bình  Thuận tuyên phạt án tù đối với nhóm 4 người tổ chức vụ vượt biên này.
Luật sư Võ An Đôn, nhận bào chữa cho cả hai vụ án vừa kể, nói rằng những người vượt biên trình bày chỉ muốn một cuộc sống tốt hơn cho họ và con cái của họ.
Trở lại vụ 40 người Việt nhập cảnh lậu Đài Loan, đã bị bắt giữ hôm thứ Sáu ngày 6, chị công nhân giấu tên ở Đài Trung có người thân trong số những người bị bắt, bày tỏ:
Em khuyên mọi người đừng có bao giờ đi như vậy nữa, rất nguy hiểm. Ở quê chị em đã bị môi giới lừa mất bốn năm nghìn đô rồi, sang đây bây giờ lại năm sáu nghìn đô nữa.
Sang đây bất hợp pháp, ốm đau cũng chẳng được khám, rất nhiều người bõ mang bên này, sợ ơi là sợ.
Linh mục Nguyễn Văn Hùng cũng cho hay đang theo dõi trình  tự pháp lý của vụ việc để có thể giúp đỡ hỗ trợ phần nào cho nhóm 40 người bi bắt mới nhất này ở Đài Loan.

Tai họa Formosa, phân nửa sự thật và sự suy đồi

Kính Hòa, phóng viên RFA 2017-01-09  
Ban giám đốc tập đoàn Formosa cúi đầu xin lỗi người dân Việt Nam tại cuộc họp báo công bố lý do cá chết hàng loạt ở miền trung Việt Nam ngày 30 tháng 6 năm 2016 tại Hà Nội.
 Ban giám đốc tập đoàn Formosa cúi đầu xin lỗi người dân Việt Nam tại cuộc họp báo công bố lý do cá chết hàng loạt ở miền trung Việt Nam ngày 30 tháng 6 năm 2016 tại Hà Nội.  AFP photo
Môi trường và chính trị
Vụ nhiễm độc biển, làm cá chết hàng loạt, do chất thải của nhà máy luyện thép Formosa gây ra, bùng nổ vào đầu tháng tư năm 2016. Hàng ngàn tấn cá chết dạt vào bờ biển Hà Tĩnh, Quảng Bình, QuảngTrị, và Thừa Thiên Huế trong tháng tư và tháng năm. Tai họa môi trường này làm cho hàng chục ngàn ngư dân mất việc làm, kéo theo hàng loạt những cuộc biểu tình bảo vệ môi trường, đòi đền bù, trong đó có những cuộc biểu tình lên đến 10 ngàn người.
Thế nhưng vụ Formosa không được Bộ tài nguyên và môi trường xếp vào một trong 10 sự kiện nổi bật của ngành tài nguyên và môi trường trong năm 2016.
Trong 10 sự kiện nổi bật mà Bộ tài nguyên môi trường công bố, có phân nửa là các nghị quyết, hay chỉ thị của đảng cộng sản và nhà nước Việt Nam. Nhà báo độc lập Huỳnh Ngọc Chênh nhận xét về danh sách 10 sự kiện này:
“Tôi chỉ nhớ loáng thoáng tôi đọc cách đây vài ngày, không còn nhớ rõ, mà nó chả đáng là những sự kiện, trong đó có chuyện triển khai nghị quyết đảng chi đó, chỉ là những chuyện vớ vẩn chẳng phải là một sự kiện.”
Rất nhiều người được chúng tôi tiếp xúc đều nói rằng không thể chối cãi rằng thảm họa Formosa là một sự kiện cực kỳ lớn, thậm chí mang tầm vóc quốc tế, xuyên biên giới.
Tuy nhiên một nhà hoạt động môi trường nổi tiếng ở Việt Nam là kỹ sư Nguyễn Huỳnh Thuật cho rằng:
“Nó (vụ Formosa) không chỉ là vấn đề môi trường mà còn là một câu chuyện chính trị nữa, cho nên tôi cũng không rành lắm. Đâu phải vấn đề gì dân đồng ý mà họ đồng ý đâu.”
Không đếm xỉa gì đến nỗi bất hạnh của dân. Người ta chỉ coi trọng vai trò của nhà nước và sự lãnh đạo của đảng thôi. Họ coi đấy là số một. Và như thế hết sức là bi kịch.
-Ông Nguyễn Khắc Mai
Nhà báo Huỳnh Ngọc Chênh cho rằng vụ Formosa không chỉ đơn giản là một tai nạn do doanh nghiệp gây ra mà nó còn liên quan đến hàng loạt quan chức Việt Nam đã cấp giấy phép hoạt động cho công ty này, từ ông cựu Thủ tướng, cựu Bộ trưởng cho đến viên bí thư tỉnh ủy Hà Tĩnh. Vì thế theo ông Huỳnh Ngọc Chênh:
Qua những chuyện như vậy thì thấy rằng họ không đưa sự kiện Formosa vào trong 10 sự kiện là họ có ý đồ, muốn bưng bít không cho người dân nhớ đến chuyện này.”
Lên tiếng giải thích với công luận Việt Nam tại sao vụ Formosa không được đưa vào làm một trong những sự kiện quan trọng của ngành tài nguyên môi trường, một quan chức Việt Nam của Bộ Tài nguyên  và môi trường nói rằng chỉ ghi nhận những sự kiện mang tính tích cực mà thôi.
Một cựu viên chức từng phụ trách ngành dân vận của đảng cộng sản Việt Nam là ông Nguyễn Khắc Mai nói với chúng tôi rằng việc đưa tin tức theo kiểu chỉ loan báo những điều tốt đẹp vẫn còn trong não trạng quan chức Việt Nam.
“Đó là cái bệnh, cái tật bệnh của chủ nghĩa Mác Lê Nin, phải nói thẳng như vậy. Bởi vì thực chất người ta coi dân không ra gì. Không đếm xỉa gì đến nỗi bất hạnh của dân. Người ta chỉ coi trọng vai trò của nhà nước và sự lãnh đạo của đảng thôi. Họ coi đấy là số một. Và như thế hết sức là bi kịch.”
Ông Nguyễn Khắc Mai còn so sánh chế độ của đảng cộng sản ngày nay còn kém hơn các triều đại phong kiến trước kia, khi vua quan đứng ra nhận lỗi lầm hoặc tổ chức tưởng nhớ những người dân thiệt mạng khi những vụ thiên tai địch họa xảy ra.
Thông tin có lợi và thông tin có hại
000_CL918-400.jpg
Từ trái qua: Bộ trưởng Bộ nguồn tài nguyên và Môi trường Trần Hồng Hà, Bộ trưởng Bộ Thông tin và truyền thông Trương Minh Tuấn, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Mai Tiến Dũng tại cuộc họp báo công bố lý do cá chết hàng loạt ở miền trung Việt Nam. Ảnh chụp ngày 30/6/2016 tại Hà Nội. AFP photo
Nhận định về việc loan truyền tin tức về những vụ tiêu cực tại Việt Nam trong những năm vừa qua nhà báo Huỳnh Ngọc Chênh cho biết là do ảnh hưởng của mạng lưới thông tin điện tử nên những người cầm quyền tại Việt Nam cũng cho phép một sự thông tin tự do hơn:
“Càng ngày nhà nước cũng mạnh dạn công khai thông tin, kể cả những thông tin tiêu cực, không bưng bít một cách tuyệt đối như ngày xưa. Nhưng việc công khai nó ra cũng chưa đến đâu cả, vẫn tùy theo thông tin, có lợi hay không có lợi cho đảng, cho nhà cầm quyền.”
Liên quan đến tại họa môi trường Formosa, ông Nguyễn Huỳnh Thuật cho rằng có lẽ chính quyền sợ rằng nếu xếp vụ này vào một trong 10 sự kiện nổi bật nhất trong ngành môi trường trong năm 2016, nhà nước sợ rằng dân chúng sẽ vin vào đó tiếp tục đòi hỏi việc đền bù cho mình, hay là sẽ tiếp tục kéo theo những cuộc phản kháng.
Cách nhìn nhận vấn đề như vậy của nhà nước Việt Nam bị ông Nguyễn Khắc Mai cho là rất kém, lợi bất cập hại:
“Ngu xuẩn thì mới làm như vậy, chứ nếu mà khôn ra thì biết an ủi dân, để từ đó người ta có thể quên đi, người ta tha thứ cho. Còn làm như thế này tưởng để người ta quên đi, nhưng thật ra lại nhấn vào, khoét sâu vào nổi đau của dân tộc.”
Một nửa sự thật
Theo kỹ sư Nguyễn Huỳnh Thuật, người từng phản kháng thành công việc xây dựng hai nhà máy thủy điện có nguy cơ gây hại môi trường trên sông Đồng Nai, thì cái cách nhìn nhận vấn đề hiện nay của chính quyền là cái cách chỉ đưa ra được phân nửa sự thật. Ông nói tiếp:
“Vấn đề là sự thật cần được nhìn nhận, nhìn nhận được rồi thì mình sẽ có cách để chuyển hóa, để cho nó tốt hơn. Không dám nhìn nhận sự thật thì nó rất là khó. Mà trong bối cảnh này thì sự thật chưa được nhìn nhận, cũng như nhiều sự thật trước kia không được nhìn nhận.”
Kết thúc buổi nói chuyện với chúng tôi, nhà báo Huỳnh Ngọc Chênh, người từng tham gia các cuộc biểu tình vì môi trường sau vụ Formosa, một lần nữa nhấn mạnh tầm vóc thảm họa Vũng Áng Formosa:
Tập thể những nhà lãnh đạo phải can đảm nhìn vào sự thật.
-Ông Nguyễn Huỳnh Thuật
Đó là một sự kiện vô cùng lớn, từ Nghệ An vào đến Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, làm cho bao nhiêu ngư dân điêu đứng, làm cho cả một nền kinh tế biển và du lịch ở cả dãy đất miền Trung bị thiệt hại nặng nề. Mà cho đến bây giờ người dân vẫn chưa tìm ra lối ra để sinh sống. Cho nên đó là một sự kiện rất lớn.”
Ông Nguyễn Khắc Mai cho rằng ông lo rằng những diễn biến sau khi xảy ra thảm họa, cái cách nhà cầm quyền giải quyết sự việc là một điều nguy hiểm rất nghiêm trọng cho đất nước và dân tộc Việt Nam hiện nay:
Tôi sợ đây là một vấn đề mà tôi cho là sự suy đồi văn hóa, một văn hóa chính trị đang suy đồi, và đấy là nỗi bất hạnh của dân thôi.”
Ông Nguyễn Huỳnh Thuật, người đang thực hiện thành công khu du lịch sinh thái Rừng Gọi tại vùng Nam Cát Tiên, lại có cái nhìn lạc quan hơn, mặc dù ông vẫn cho rằng có nhiều câu chuyện về môi trường tại Việt Nam không kết thúc có hậu như chuyện ông và đồng nghiệp phản đối các dự án thủy điện trên sông Đồng Nai. Theo ông thì để giải quyết những vấn đề đó cần một sự can đảm của tập thể những nhà cầm quyền, dám nhìn thẳng vào sự thật.

2016: Vì sao tiền ‘kiều bào ta’ gửi về Việt Nam giảm?

Phạm Chí Dũng 
Người Việt-08-01-2016

Chủ nghĩa lạc quan kiều hối của giới quan chức kim tiền Việt Nam đã bị giáng một đòn đau điếng khi lượng kiều hối thực về Việt Nam năm 2016 lao dốc hiếm thấy.
Âm 25%!
Sài Gòn – nơi vẫn được “trung ương” xem là “điểm sáng” về kiều vận đồng bạc xanh chủ yếu từ khối “kiều bào” ở Mỹ – chỉ nhận được $4.3 tỷ tính đến hết Tháng Mười Một, 2016, thấp hơn dự kiến đến 10%.
Với cái tên cũ là Sài Gòn và là địa chỉ đã được ước tính có đến vài triệu người có thân nhân ở nước ngoài, thành phố này thường tập trung đến 50% lượng kiều hối chuyển về Việt Nam. Nếu lượng kiều hối về Sài Gòn giảm thì kiều hối chảy vào Viẹt Nam tất yếu giảm theo. Theo đó, lượng kiều hối “tất cả cho chủ nghĩa xã hội” chỉ vào khoảng $9 tỷ trong năm 2016, thấp hơn tới 25% so với dự báo là khoảng $12 tỷ.
Cú lao dốc hiếm thấy trên sẽ càng có ý nghĩa nếu đối chiếu trong hơn 23 năm qua, dòng kiều hối về Việt Nam đã tăng khoảng gần 100 lần, từ mức $140 triệu năm 1993 lên $10 tỷ năm 2012; $11 tỷ năm 2013; $12 tỷ năm 2014, và hơn $13.2 tỷ năm 2015, đưa Việt Nam đứng thứ ba tại Châu Á và đứng thứ 11 trên thế giới về thu hút kiều hối. Những con số thống kê đầy lạc quan của chính quyền cho biết trong giai đoạn 2002-2015, kiều hối chiếm khoảng 6% GDP, trong khi vốn FDI và ODA vào Việt Nam lần lượt là 7.7% và 3% GDP. Mức tăng trung bình liên tục của lượng kiều hối những năm gần đây là 10 đến 15%/năm.
Nhưng sau hơn hai chục năm duy trì xu hướng tăng liên tục, hiện tượng rất đáng chú ý là vào năm 2016, lần đầu tiên dòng kiều hối bị khựng lại, suy giảm rất mạnh và báo hiệu về dòng kiều hối này có thể đảo chiều trong những năm tới.
Câu hỏi đặt ra là cú sụt giảm của lượng kiều hối sẽ gây ảnh hưởng thế nào đến nền kinh tế Việt Nam?
Kiều hối bước vào chu kỳ giảm?
Nếu vào thời hoàng kim của kinh tế Việt Nam vào những năm 2006-2007, kiều hối có giảm cũng khó có tác động tiêu cực đến nền kinh tế này. Nhưng khi kinh tế Việt Nam đã trải qua tám năm suy thoái liên tiếp tính từ năm 2008, bất cứ một sự giảm sút nào về luồng tài chính ngoại vận cũng khiến nền kinh tế phải chịu thêm áp lực khủng hoảng.
Với $3 tỷ bị sụt giảm từ lượng kiều hối, GDP danh nghĩa của Việt Nam sẽ bị giảm khoảng 1.5% trong năm 2016. Đây cũng là bối cảnh mà $3 tỷ sụt giảm từ kiều hối năm 2016 lại đúng bằng con số $3 tỷ mà vào cuối năm 2015, chính phủ của Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng hào hứng thông báo trước công luận về kế hoạch phát hành “trái phiếu quốc tế.” Tuy nhiên, cho đến giữa năm 2016, toàn bộ kế hoạch phát hành này đã coi như bị phá sản, với lý do đơn giản là& không có người mua.
Trong khi đó, từ Tháng Bảy, 2017 trở đi, Việt Nam sẽ phải vay ODA với lãi suất không còn ưu đãi như vài chục năm trước, mà ngang giá với thị trường quốc tế, cùng thời gian vay không còn ân hạn như trước đây.
Thậm chí, cho tới nay, tiến độ giải ngân các dự án đã ký kết vay ODA vẫn “chậm như rùa,” trong đó có một nguyên nhân chính là ngân sách Việt Nam không đủ tiền để cung ứng vốn đối ứng – thường chiếm khảng 15-20% tổng vốn vay – theo điều kiện của hợp đồng vay vốn ODA.
Việc kiều hối năm 2016 bị “đảo chiều” còn có thể báo hiệu trước một thời kỳ suy giảm liên tiếp kiều hối chảy về Việt Nam, càng khiến nền kinh tế nước này thiếu hẳn sức sống.
Vì sao giảm?
Một nguyên nhân chính làm giảm kiều hối được các cơ quan Việt Nam nêu ra là động thái tăng lãi suất của Cục Dự Trữ Liên Bang Mỹ (FED) trong Tháng Mười Hai, 2016 và việc bỏ ngỏ khả năng sẽ tăng liên tiếp lãi suất USD ba lần tới trong năm 2017 đã, đang và sẽ tạo động lực giữ chân đồng đô la kiều hối từ Mỹ chuyển về Việt Nam.
Nguồn cung kiều hối từ thị trường Mỹ lại chiếm khoảng 60% tổng kiều hối từ hơn 4 triệu người Việt Nam sinh sống và làm việc tại 187 quốc gia trên thế giới, khi kiều hối từ thị trường này giảm sẽ ảnh hưởng rất lớn đến tổng lượng kiều hối về Việt Nam.
Nhưng có phải động thái tăng lãi suất của FED mới là nguyên nhân chính yếu khiến giảm kiều hối về Việt Nam? Nếu đây là nguyên nhân chính thì tại sao vào cuối năm 2015, FED cũng đã tăng lãi suất thêm .25% nhưng lượng kiều hối về Việt Nam vẫn đạt mức kỷ lục hơn $13 tỷ? Hoặc nếu đây là nguyên nhân chính thì tại sao kiều hối đã giảm từ đầu năm 2016, trong khi FED chỉ thực hiện tăng lãi suất vào cuối năm 2016?
Trong khi đó, trước và sau hành động tăng lãi suất của FED, khá nhiều chuyên gia nhà nước đã công khai trấn an rằng động thái này chẳng mấy ảnh hưởng đến cơ chế ổn định tỷ giá và tình hình kinh tế Việt Nam. Theo cách nói đó, lý do đổ cho kiều hối giảm do FED tăng lãi suất là thuyết phục.
Vấn đề còn lại chỉ là mục đích kiều hối.
Những năm gần đây, thống kê của Ngân Hàng Nhà Nước và một số bộ ngành cho biết tỷ lệ kiều hối chảy vào sản xuất, kinh doanh chiếm 70.6% tổng kiều hối chuyển về Việt Nam; tỷ lệ kiều hối chuyển vào bất động sản chiếm khoảng 20.7%.
Trước đó, vào năm 2011, bất động sản chính là lĩnh vực “hút” kiều hối nhiều nhất với $4.7 tỷ, chiếm 52% tổng doanh số kiều hối năm đó.
Một trong những lý do giải thích lượng kiều hối năm 2015 tăng mạnh là do tác động tích cực từ chính sách cho phép người nước ngoài được sở hữu nhà ở tại Việt Nam kể từ ngày 1 Tháng Bảy, 2015 theo Luật Nhà Ở.
Tuy nhiên, đến năm 2016, chính sách này dường như đã bão hòa. Thông tin từ những tờ báo chuyên viết về thị trường địa ốc cho biết nhu cầu và thực tế người nước ngoài mua nhà ở Việt Nam không tăng đáng kể.
Khác hẳn giai đoạn 2006 – 2007 là thời hoàng kim của hai thị trường chứng khoán và bất động sản, cũng khác với các dự báo liên tục qua những năm gần đây của giới chuyên gia nhà nước và công ty nhà đất về “thị trường bất động sản đang ấm lên,” trên toàn quốc vẫn còn tồn ít nhất 30,000 căn hộ cao cấp quá khó bán và sẽ phải chịu “xả lũ” bởi một nguồn cung với con số tương đương như thế trong vài năm tới. Trong lúc đó, tâm lý chung của người dân có tiền nhàn rỗi vẫn là mua đất. Thị trường bất động sản cũng bởi thế chưa cải thiện được bao nhiêu.
Gần như chấm dứt mọi hy vọng sau chuỗi năm bê bết, hầu hết các thị trường đầu cơ ở Việt Nam như chứng khoán, vàng, ngoại tệ đều chìm nghỉm hoặc có tỷ suất sinh lời quá thấp.
Năm 2016 cũng là bối cảnh u ám của nhiều ngành sản xuất, từ dệt may, đến thủy sản và cả nông nghiệp. Số doanh nghiệp phá sản tiếp tục “nâng lên một tầm cao mới” so với năm 2015. Tỷ lệ thất nghiệp tăng vọt, trong lúc thị trường xuất cảng chính của Việt Nam vào Mỹ dần bị co hẹp.
Ngay cả ngân hàng – ngành có tỷ suất lợi nhuận cao cách đây năm năm – giờ đây đang rơi vào cơn suy trầm. Một nửa số ngân hàng thương mại có thể phải bị “tái cơ cấu” và do dó sẽ không còn tồn tại. Ngày càng nhiều vụ lãnh đạo ngân hàng bị bắt giam vì gây thất thoát và tham nhũng. Lượng cho vay từ ngân hàng ra thị trường sản xuất và kinh doanh vẫn giậm chân tại chỗ. Trong khung cảnh lãi suất cho vay vẫn treo cao nhưng lại quá thiếu thốn đầu ra, nhiều doanh nghiệp vẫn cố thủ trong tâm thế bế tắc “Vay ngân hàng để mà tự sát à!”
Sẽ không ngạc nhiên nếu từ năm 2016 trở đi, bắt đầu một chu kỳ suy giảm đáng kể của dòng kiều hối của “kiều bào ta” về miền đất đã chìm trong cơn suy thoái kinh tế năm thứ chín liên tiếp, tràn ngập bất ổn xã hội và bất ổn chính trị, và nhiều nguy cơ sắp rơi vào cuộc khủng hoảng không lối thoát.

Phố núi Pleiku, đất thiêng đang khô cằn trơ trọi

Trần Tiến Dũng/Người Việt
Lư hương lớn nơi từng có tượng Bồ Tát Quán Thế Âm ở Biển Hồ trước biến cố 1975. (Hình: Trần Tiến Dũng/Người Việt)
GIA LAI (NV) – Ðiều chúng tôi để ý đầu tiên khi đến phố núi Pleiku là không thấy cảnh giới xe ôm bám theo níu kéo mời mọc khách. Ở bến xe Ðức Long Pleiku, chỉ có một, hai bác tài xe ôm hành nghề với thái độ lịch sự.
Ngày nay, hầu hết các chuyến xe đò giường nằm được tự đồn là xe “chất lượng cao wifi miễn phí.” Tuyến đường nối phố núi Pleiku và Sài Gòn hầu hết các chuyến xe đò đều chạy vào ban đêm. Việc xe đò chuyên đưa khách đi, về vào ban đêm là để an toàn hơn chăng? Hẳn nhiên là chưa chắc, con số thống kê rợn người vừa được nhà cầm quyền đưa ra trong năm 2016 có hơn 28,000 người Việt Nam bị tử nạn giao thông trên mọi ngả đường ngày và đêm.
Phố núi Pleiku, đất thiêng đang khô cằn trơ trọi
Cảnh lấy nước công cộng của đồng bào Gia Rai. (Hình: Trần Tiến Dũng/Người Việt)
*Phố núi với Biển Hồ và phở khô
Thành phố Pleiku ngày nay thuộc tỉnh Gia Lai. Không như ở các đô thị khác, nhiều người luôn miệng khoe về các tư sản đỏ đang làm ông trùm, bà trùm, ở Plieku ngoại trừ các bảng hiệu lòe loẹt treo trên ít tòa nhà lố bịch đề chữ Hoàng Anh Gia Lai, thì đa phần các dân cư địa phương đều không muốn nhắc tên tập đoàn tư sản đỏ này.
Anh M., người gốc Bình Ðịnh, sanh ra và lớn lên ở Pleiku nói: “Ðể tôi đưa các anh đi một vòng, nhất là đi về hướng núi Hàm Rồng để thấy cảnh núi đồi trơ trụi mới hiểu vì sao những ai là dân bản địa ở đây không muốn nhắc đến bọn cầm đầu nạn phá rừng làm giàu từ sau 1975 đến nay.”
Phố núi Pleiku, đất thiêng đang khô cằn trơ trọi
Biển Hồ ở Pleiku và các cánh rừng thông bảo vệ nguồn nước ngày càng trơ trụi. (Hình: Trần Tiến Dũng/Người Việt)
Pleiku là một thành phố có lẽ duy nhất không có nhiều các kiểu kiến trúc to lớn phá nát không gian đô thị. Ðường phố nhỏ, nhiều dốc ngắn, dốc dài, nhà phố dân tỉnh lẻ dù kiểu mới hay dáng xưa cũng hài hòa, không đến mức đánh lộn gây sự với nhau như tỉnh thành “nhân danh phát triển” khác dưới thời cộng sản thị trường. Thật thú vị khi đi bộ lang thang quanh quanh các con phố trong không gian đô thị này để nhớ và hát thầm, “Em Pleiku má đỏ môi hồng, ở đây buổi chiều quanh năm mùa đông…”
Pleiku có độ cao từ 300-500m trên mực nước biển. Sau Ðà Lạt đây là thành phố Tây Nguyên thứ hai có miệng núi lửa đã tắt biến thành hồ nước thiên nhiên giữa lòng đô thị. Khi đến Biển Hồ, nếu ai là người có tuổi trung niên đều sẽ mang theo những giai thoại huyền bí về địa danh nổi tiếng này. Nhưng ngày nay, giới trẻ chỉ biết Biển Hồ có một con quái vật không sống bí ẩn mà lồ lộ hàng ngày trước mắt thiên hạ đó là nạn phá rừng đầu nguồn Biển Hồ, biến các ngọn núi từng phủ đầy rừng thông bạt ngàn thành những đỉnh cao nham nhở sỏi đá.
Ở một doi đất chồm ra mặt Biển Hồ, người bạn địa phương nói với chúng tôi. Nơi đây trước 1975 có dựng một bức tượng Bồ Tát Quan Thế Âm lớn, sau năm 1975 không còn nữa. Anh nói: “Mấy anh cứ coi cái lư hương còn sót lại lớn cỡ đó thì đủ biết bức tượng Phật Quan Âm ngày xưa lớn cỡ nào. Bây giờ nghe đâu họ định xây lại để làm nơi du lịch tâm linh. Cái gì thu được tiền mấy ông Việt Cộng đời nay làm liền.”
Phố núi Pleiku, đất thiêng đang khô cằn trơ trọi
Phế tích nhà thờ ở chân núi Chư Ðăng Ya, một trong các ngôi nhà thờ đầu tiên ở Tây Nguyên còm mang trên mình đầy vết đạn. (Hình: Trần Tiến Dũng/Người Việt)
Ðứng trên phế tích của bức tượng xưa, nhìn cảnh người dân nghèo ôm bình điện đi chích cá ven bờ Biển Hồ, không cần phải là nhà tiên tri cũng đoán được rồi một ngày không xa, các nguồn tài nguyên nơi đây bị các tham quan đỏ khai thác đến cạn kiệt gấp triệu lần hơn chuyện dân nghèo chích điện bắt cá kiếm từng bữa ăn.
Thành phố Pleiku được dân “du lịch phượt” rêu rao thông tin về món phở khô và coi như đó là một “kỳ quan” mới và nổi tiếng cũng tương đương Biển Hồ. Phở khô lừng danh là phở Hồng chỉ bán buổi sáng nên ai muốn ăn phở khô buổi tối đành phải vô ăn các tiệm ít nổi tiếng hơn.
Gọi là phở nhưng sợi của phở khô không giống các món phở Bắc mà thiên về sợi mì hủ tiếu. Ðiều đặc biệt là sợi phở săn và dai hơn. Phở khô với hai nguyên liệu chính là thịt gà và thịt bò. Bên cạnh đó, món ăn sẽ không trọn vẹn nếu thiếu hành khô, rau sống và lạc. Khi ăn, bánh phở và các nguyên liệu sẽ được trộn đều lên với tương đen, xì dầu, tương ớt tùy thuộc vào khẩu vị của thực khách. Tương đen là gia vị không thể bỏ qua khi ăn phở khô, tuy có chút ngọt nhưng vẫn giữ được vị mặn của nước tương. Mùi thơm của tương, vị cay của tương ớt hòa trong những hương vị riêng biệt của xà lách, ngò gai, giá đỗ tươi, húng quế tạo nên một bát phở khô kích thích cả vị giác, khứu giác và thị giác người ăn. Có lúc món phở khô này cũng được đem vô Sài Gòn quảng cáo ì xèo nhưng cuối cùng vẫn không trụ được bởi cái lưỡi của dân đồng bằng không thấy khoái khẩu mà cũng không nói rõ lý do.
Phố núi Pleiku, đất thiêng đang khô cằn trơ trọi
Món phở khô trứ danh ở Pleiku. (Hình: Trần Tiến Dũng/Người Việt)
*Núi Chư Ðăng Ya mùa hoa cúc quỳ tàn tạ
Hẹn được một ca sĩ ngoài luồng chính thống người dân tộc Gia Rai ở một quán cà phê Vương Cát. Anh nói: “Không còn buôn làng như ngày xưa để đốt lửa uống rượu cần mà hát cho nghe đâu. Mà mùa này hoa cúc quỳ trên núi Chư Ðăng Ya cũng tàn rồi, thôi thì đưa chú vô núi đó để coi cái nhà thờ Tây xưa nhất ở đây, núi Chư Ðăng Ya mà dân phượt thích.”
Có một chút hối tiếc khi đi ngang qua các cụm đất hoang ven đường mà chỉ thấy các đóa hoa cúc quỳ héo úa. “Anh M người Pleiku đi cùng nói: “Hoa cúc quỳ là loài hoa dại thích mọc gần con người, có chút đất trống nào quanh nhà, ven đường là nở rực rỡ. Nhưng mấy năm nay mưa kéo dài, thiếu nắng nên hoa cũng không đủ sức mà nở nồng nàn như trước kia.”
Ði theo lối mòn bụi đất quanh co vào chân dãy núi Chư Ðăng Ya, đến nhà thờ cổ, tương truyền là một trong những ngôi nhà thờ đầu tiên của cả Tây Nguyên. Giờ đây, cả ngôi nhà thờ chỉ còn tấm vách loang lổ vết đạn pháo nằm khuất trong rừng cây mới trồng. Anh ca sĩ người Gia Rai nói: “Sợ nhà nước lấy đất nhà thờ nên các giáo dân người dân tộc trồng để giúp nhà thờ giữ đất. Nhà nước không đụng được như trước đây đâu.”
Có lẽ hình ảnh các cụm rừng do giáo dân mới trồng để giữ đất nhà thờ là hình ảnh ấn tượng nhất trong mấy ngày ở Pleiku của chúng tôi. Ấn tượng bởi một lẽ đơn giản cả thung lũng rộng lớn của một đô thị được rừng phủ xanh bạt ngàn, từng là đất Hoàng Triều Cương Thổ và từng là đô thị thủ phủ của cả vùng Tây Nguyên, chỉ còn lưa thưa vài vạch rừng như các manh chiếu phủ trên nấm mồ của đất thiêng đang khô cằn trơ trọi.

Lại cháy tàu chở du khách ở vịnh Hạ Long, 14 người thoát nạn

Chiếc tàu bốc cháy sáng sớm ngày 10 tháng 1. (Hình: báo Tuổi Trẻ)
QUẢNG NINH (NV) – Sau khi để xảy ra việc cháy tàu ở Vịnh Hạ Long, khiến 21 người, trong đó có 14 du khách ngoại quốc suýt chết, chính quyền Quảng Ninh lại ban hành lệnh cấm hoạt động.
Báo Tuổi Trẻ dẫn lời ông Vũ Văn Diện, phó chủ tịch tỉnh Quảng Ninh cho biết, đã có văn bản chỉ đạo, yêu cầu tạm dừng lập tức toàn bộ đội tàu 6 chiếc của công ty Du lịch Ánh Dương, đơn vị có tàu nghỉ đêm cháy rạng sáng cùng ngày “để phục vụ công tác kiểm tra.”
“Doanh nghiệp chỉ được cho tàu hoạt động trở lại sau khi đoàn công tác phúc trình kết quả kiểm tra để tỉnh xem xét, quyết định có đủ điều kiện hoạt động phục vụ khách du lịch trên vịnh hay không,” ông Diện nói.
Báo Tuổi Trẻ loan tin, khoảng 6 giờ 30 sáng cùng ngày, khi tàu Ánh Dương QN-3598 đang trên đường về Tuần Châu sau hành trình nghỉ đêm thì bất ngờ bốc cháy dữ dội ở khu vực gần đảo Titốp, vịnh Hạ Long.
Lúc này trên tàu có 21 người, trong đó có 14 du khách ngoại quốc đến từ nhiều nước như Mỹ, Úc, Canada, Anh… được cứu kịp lúc nên may mắn thoát nạn, song tài sản mất sạch, tinh thần đang rất hoảng loạn.
Theo các giới chức tỉnh này, các tàu du lịch vỏ gỗ trên vịnh Hạ Long “còn tiềm ẩn nhiều nguy cơ mất an toàn, đặc biệt nguy cơ hỏa hoạn đến từ hệ thống điện xuống cấp trong thân, vỏ tàu.”
Trước đó trong năm 2016 đã có hàng loạt vụ cháy tàu tương tự. Ðiển hình là vụ ngày 6 tháng 5 năm 2016, tàu Aphrodite vừa neo đậu tại cảng du lịch quốc tế Tuần Châu sau hành trình đi trên vịnh Hạ Long, bất ngờ bốc cháy dữ dội khiến trong hơn 40 người trên tàu, có 37 khách ngoại quốc đến từ Ðài Loan, Pháp, Thụy Sỹ, Anh, New Zealand, Hàn Quốc, Ấn Ðộ hoảng loạn nhảy xuống nước thoát thân. Sau vụ cháy, nhà cầm quyển cũng ra lệnh cấm hoạt động “để kiểm tra.” (Tr.N)

Tân Sơn Nhất ‘kẹt’ cả dưới đất lẫn trên trời

Dòng xe nối đuôi nhau “nằm chết” trên đường Trường Sơn, quận Tân Bình, Sài Gòn, trưa 9 tháng 1. (Hình: Báo Người Lao Ðộng)
HÀ NỘI (NV) – “Phi trường Tân Sơn Nhất, Sài Gòn đang ‘kẹt đường’ cả trên không, dưới mặt đất và đường thoát ra bên ngoài, đe dọa an toàn, an ninh hàng không.”
Truyền thông tại Việt Nam dẫn lời ông Trịnh Ðình Dũng, phó thủ tướng CSVN, thừa nhận điều này tại “Hội nghị tổng kết công tác năm 2016 và triển khai nhiệm vụ kế hoạch năm 2017,”do Bộ Giao Thông tổ chức tại Hà Nội, sáng 10 tháng 1.
Theo ông Dũng, “Hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông Việt Nam được tập trung xây dựng chiến lược, quy hoạch thực hiện đầu tư nhưng còn bất cập. Quy hoạch cảng hàng không so với kinh tế lạc hậu, dự báo không chính xác dẫn đến quá tải và phải điều chỉnh quy hoạch.’
Tân Sơn Nhất 'kẹt' cả dưới đất lẫn trên trời
Khu vực ga quốc tế phi trường Tân Sơn Nhất kẹt cứng vì hàng ngàn người chen lấn. (Hình: Báo Người Lao Ðộng)
Ông Dũng yêu cầu là “phải làm thêm 1 đường lăn, 2 nhà ga và sắp xếp lại, cũng như tăng hệ thống bến đỗ, đầu tư hệ thống giao thông kết nối bên ngoài ‘chủ yếu dùng vốn xã hội,’ để năm 2018 đưa vào khai thác. Cùng đó, Bộ Giao Thông cần đẩy nhanh tiến độ lập báo cáo khả thi phi trường quốc tế Long Thành để sau năm 2020 đầu tư và năm 2025 đưa vào sử dụng.”
Nói với báo Người Lao Ðộng, đại diện phi trường Tân Sơn Nhất thông báo, do trong dịp Tết Nguyên Ðán sắp tới tần suất bay tăng, ngày cao điểm đạt 807 chuyến/ngày, so với 700 chuyến/ngày thường nên “đề nghị hành khách đi sớm 3 tiếng để tránh kẹt xe và làm thủ tục. Ðồng thời, để tránh sự quá tải và ùn tắc tại các khu vực sảnh công cộng, phía phi trường đề nghị hạn chế tối đa số người đi đưa đón.” (Tr.N)

Sếp ban nội chính tham ô, bị cảnh cáo còn khiếu nại

Ông Nguyễn Sỹ Kỷ thời kỳ còn làm chủ tịch huyện Krông Pắk. (Hình: Báo Pháp Luật Sài Gòn)
ÐẮK LẮK (NV) – Trong thời gian làm chủ tịch huyện Krông Pắk , ông phó trưởng Ban Nội Chính Tỉnh Ủy Ðắk Lắk đã lạm quyền, tham ô, nhiều sai phạm nên bị kỷ luật “cảnh cáo,” song cho rằng bị nặng nên khiếu nại.
Báo Pháp Luật Sài Gòn, ngày 10 tháng 1, dẫn tin từ ông Bạch Văn Mạnh, chánh Văn phòng Tỉnh ủy Ðắk Lắk, cho biết: Ủy Ban Kiểm Tra Tỉnh Ủy đã ra quyết định kỷ luật cảnh cáo ông Nguyễn Sỹ Kỷ, phó trưởng Ban Nội Chính Tỉnh Ủy Ðắk Lắk.
“Ông Kỷ bị kỷ luật vì trong thời gian từ năm 2011-2015 khi làm chủ tịch huyện Krông Pắk, có nhiều sai phạm về công tác bổ nhiệm cán bộ, tuyển dụng giáo viên, đầu tư xây dựng công… Ngoài ra, ông Kỷ cũng không trung thực, gương mẫu trong việc kiểm điểm cán bộ, đảng viên,” ông Mạnh nói.
Theo ông Mạnh, sai phạm của ông Kỷ được phát hiện khi ông này thôi giữ chức chủ tịch huyện Krông Pắk và được điều chuyển công tác lên Ban Nội Chính Tỉnh Ủy.
Thế nhưng, chiều cùng ngày, nói với phóng viên báo Pháp Luật Sài Gòn, ông Kỷ cho biết: Hình thức kỷ luật cảnh cáo là quá nặng, không đúng với mức độ sai phạm. “Tôi đã làm đơn khiếu nại quyết định này và Ban Thường Vụ Tỉnh Ủy Ðắk Lắk đã tiếp nhận đơn,” ông Kỷ nói. Hiện Tỉnh Ủy Ðắk Lắk đã lập tổ công tác giải quyết đơn khiếu nại này. (Tr.N)

Dân Việt phẫn nộ trước ‘đề xuất’ mỗi năm phải hiến máu một lần

Những người tham gia một đợt vận động hiến máu ở Hà Nội. (Hình: Getty Images)
HÀ NỘI (NV) – Theo “đề xuất” của Bộ Y Tế CSVN trong dự án luật về máu gửi Bộ Tư Pháp của chế độ thẩm định tính cách pháp lý trong đó có “nghĩa vụ bắt buộc của công dân phải thực hiện 1 năm/lần.”
Tin này khi vừa loan tải đã khiến dư luận trong nước phẫn nộ vì họ không ngờ lại có một thứ “đề xuất” bất bình thường như thế. Khoảng 67% người được tờ VNExpress thăm dò dư luận chống lại cái đề xuất cưỡng bách người ta phải hiến máu mỗi năm một lần.
Theo tin tức của tờ Dân Trí, “Bộ Y tế CSVN ‘đề xuất’ 2 giải pháp về nghĩa vụ của công dân liên quan đến hiến máu. Giải pháp 1, quy định việc hiến máu là nghĩa vụ bắt buộc của công dân phải thực hiện 1 năm/lần nhưng có loại trừ một số trường hợp không thể hiến máu; Giải pháp 2, quy định việc hiến máu là tự nguyện kết hợp với tăng chi cho hoạt động vận động hiến máu.”
Theo đề xuất vừa kể, “Việc hiến máu được thực hiện trên cơ sở cân nặng của người hiến máu: Người có cân nặng từ 42 kg đến dưới 45 kg được phép hiến không quá 250 ml máu toàn phần mỗi lần; người có cân nặng 45 kg trở lên được phép hiến máu toàn phần không quá 09 ml/kg cân nặng và không quá 500 ml mỗi lần.”
Tính ra, với dân số cả nước khoảng khoảng 90 triệu người, nếu áp dụng chính sách thứ nhất thì một năm sẽ có khoảng 46 triệu người phải tham gia hiến máu (trừ 30.3 triệu công dân dưới 18 tuổi và khoảng 14.2 triệu người mắc các bệnh không thể hiến máu).
Còn nếu coi việc hiến máu là tự nguyện và “trong điều kiện lý tưởng” là có 18.2 triệu người hiến máu tình nguyện trong một năm thì hằng năm sẽ tiêu tốn khoảng 2,000 tỷ đồng. Trong đó, “quỹ bảo hiểm y tế sẽ phải tăng chi thêm khoảng 524 tỷ/năm, chủ sử dụng lao động sẽ phải bỏ ra khoảng 1,250 tỷ để chi trả tiền lương cho khoảng thời gian mà người lao động sử dụng để đi hiến máu và bản thân người lao động sẽ phải bỏ ra trên 217 tỷ đồng cho việc đi lại phục vụ cho việc hiến máu.”
Trên thế giới, không có quốc gia nào ra luật hiến máu là nghĩa vụ bắt buộc của công dân, kể cả Trung Quốc, mà chỉ có những lời kêu gọi sự tự nguyện trong cách chiến dịch vận động.
Dân Việt phẫn nộ trước 'đề xuất' mỗi năm phải hiến máu một lần
Những tấm thẻ “hiến máu” lấy tiền của một phụ nữ giữ lại làm kỷ niệm. (Hình: PLO)
Trước sự phẫn nộ của dư luận trên các mạng xã hội và ngay cả trên một số báo chính thống, ông Nguyễn Huy Quang, vụ trưởng Pháp Chế, Bộ Y Tế Hà Nội “khẳng định trong dự thảo luật về máu và tế bào gốc, Bộ Y Tế chưa đề cập gì đến đề xuất công dân bắt buộc hiến máu năm một lần mà vẫn trên cơ sở hiến máu tình nguyện,” theo tường thuật của VNExpress hôm 9 tháng 1, 2017.
Ông này nói thêm rằng, “Nếu bắt buộc hiến máu là liên quan đến quyền con người, không dễ gì bắt buộc được. Tham khảo luật pháp quốc tế thì cũng không có nước nào quy định hiến máu bắt buộc.”
Theo bản tin của VNExpress, “Việc hiến máu tình nguyện trong 2-3 năm gần đây đáp ứng tốt nhu cầu điều trị của người bệnh. Năm 2016 cả nước tiếp nhận gần 1.4 triệu đơn vị máu, 1.52% dân số hiến máu. Khi tỷ lệ 2% dân số hiến máu thì phong trào hiến máu đạt ngưỡng thỏa mãn nhu cầu điều trị của người dân.”
Nhiều năm trước, các bệnh viện tại Việt Nam thiếu máu trầm trọng cho các trường hợp cấp cứu và giải phẫu. Lượng máu có được phần lớn tùy thuộc vào một đội quân “bán máu” chuyên nghiệp. Những người nghèo, cùng khốn trong xã hội cần tiền để mua gạo đã đến các cơ sở hiến máu để bán. Người ta từng thấy có những ký sự về những “làng bán máu” ở dưới chân cầu Hồng Phú, phường Quang Trung, thị xã Phủ Lý (miền Bắc), hoặc xã Hòa Lợi, huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh ở miền Nam.
Những năm trước đây, các bệnh viện truyền máu huyết học ở Sài Gòn, Hà Nội và một số tỉnh thường trực có một đoàn người túc trực để bán máu. Vì bị giới hạn số lần bán máu, họ đã phải di chuyển vòng quanh từ nơi này sang nơi khác và xuất hiện một nhóm người gọi là “cò máu.”
Bộ Y Tế CSVN từng đưa ra nhiều quy định được cho là quái đản, bị dư luận chỉ trích dữ dội buộc phải bỏ. Năm 2014, bộ này ra một nghị định cấm người “ngực lép” chạy xe hai bánh. Có người phản ứng trên mặt báo rằng “ngực lép thì tội tình gì mà bị cấm.”
Năm 2013 thì cấm người có bàn tay 6 ngón không được thi bằng lái xe dù điều này không hề ảnh hưởng đến khả năng điều khiển xe của người lái xe. (TN)