Wednesday, August 31, 2016

Chuyện kể năm 2000 bị thu hồi và tiêu huỷ: âm mưu kim tiền của an ninh VN?

 
Lê Anh Hùng
Theo VOA-30.08.2016 
Bùi Ngọc Tấn (1934-2014) là một nhà văn bất đồng chính kiến nổi tiếng ở Việt Nam. Ông từng bị bắt trong vụ án “Xét lại chống đảng” rồi bị giam giữ dưới hình thức “tập trung cải tạo” từ 1968-1973. Ông đã để lại cho đời một di sản khá lớn, trong đó nổi tiếng nhất là Chuyện kể năm 2000, tác phẩm văn chương đương đại hiếm hoi của Việt Nam được dư luận quốc tế chú ý và đã được dịch sang tiếng Anh, tiếng Đức và tiếng Pháp.
Mặc dù đến nay đã có nhiều bài bình luận, đánh giá về tác giả và tác phẩmChuyện kể năm 2000, bản thân tác giả cũng đã cho công bố Hậu Chuyện kể năm 2000 thuật lại quá trình thai nghén và xuất bản cuốn sách, song dường như công chúng vẫn chưa biết hết sự thật đằng sau việc tác phẩm bị đình chỉ, thu hồi và tiêu huỷ, một thực tế không có gì là bất thường dưới “thời đại Hồ Chí Minh”. Mới đây, trong cuộc gặp và trò chuyện với ông Lê Hùng, cựu biên tập viên (BTV) NXB Thanh Niên, chúng tôi may mắn được biết thêm nhiều thông tin lý thú.
Trong tác phẩm Hậu Chuyện kể năm 2000 – Thời biến đổi gien, tác giả Bùi Ngọc Tấn đã viết về BTV Lê Hùng như sau:
“…Một BTV nữa không dính dáng đến tập bản thảo [Chuyện kể năm 2000] của tôi, nhưng đã để lại trong tôi một ấn tượng sâu sắc. Đã đem lại cho tôi biết bao sự động viên và lòng tin yêu cuộc đời. Gặp anh, những người bi quan nhất cũng dễ dàng nhận thấy cuộc đời dù khốn nạn đến đâu cũng vẫn còn những người tốt, những người trung thực, vẫn còn đáng để ta làm một cái gì cho nó. Lê Hùng!
Lê Hùng sôi nổi nhiệt tình! Lê Hùng sôi sục khao khát những tiến bộ, những điều tốt đẹp đến với đất nước với nhân dân, với nghệ thuật, một khát vọng dù đã cố kìm nén nhưng vẫn lộ ra qua từng ánh mắt, từng nét mặt…”[trang 173]
Ông Lê Hùng cho chúng tôi biết, ngày đó cũng như bây giờ, đám sỹ quan an ninh thuộc Cục An ninh Văn hoá Tư tưởng (A25) thỉnh thoảng lại mò đến NXB để dò la tin tức. Họ cứ sà vào uống nước, chuyện trò cà kê dê ngỗng, rồi lân la đến từng người, ra vẻ thân mật hỏi han, tỷ như “Bác khoẻ không? Dạo này bác đang biên tập cuốn gì vậy?” v.v.
Chuyện kể năm 2000 in vào cuối tháng 1, đầu tháng 2 năm 2000 thì đến ngày 16/3/2000, Bộ Văn hóa Thông tin đã ra quyết định số 395/QÐ-BVHTT, đình chỉ phát hành và thu hồi, tiêu hủy.
Trong Hậu Chuyện kể năm 2000, tác giả Bùi Ngọc Tấn cho biết: Chiều 2/2/2000 (tức 27 Tết), nhà thơ Đoàn Thị Lam Luyến đã đem 20 bộ sách đến phòng hành chính NXB Thanh Niên để nộp lưu chiểu. Vậy nhưng, không hiểu sao, đến mồng 6 Tết (10/2) nhà thơ hỏi lại thì số sách ấy vẫn còn nằm ở đấy và lúc bấy giờ người ta mới đem đi nộp. Theo quy định, sau thời gian nộp lưu chiểu 7 ngày, tức ngày 17/2, thì sách mới được chính thức phát hành. Tuy nhiên, đến ngày 14/2 thì một cuộc điện thoại từ Cục Xuất bản xuống NXB Thanh Niên đã truyền đạt chỉ thị tạm ngừng phát hành.
Từ cuộc điện thoại ngày 14/2 đó cho đến ngày Thứ trưởng Bộ VHTT Phan Khắc Hải ký quyết định số 395/QÐ-BVHTT kéo dài tới 31 ngày. Vậy trong khoảng thời gian một tháng đó đã diễn ra những gì liên quan đến số phận của một tuyệt tác văn chương Việt Nam hiện đại?
Nhà văn Bùi Ngọc Tấn thuật lại trong Hậu Chuyện kể năm 2000:
“…Cú điện thoại tạm ngừng phát hành là từ Cục Xuất bản. Trung ương Đoàn chưa có ý kiến gì. Bí thư Thứ nhất, Trưởng ban Tư tưởng Văn hoá Trung ương Đoàn còn đang đọc. Nhưng chiều hướng rất gay. A25 thì bực lắm. Rất cáu. Họ bảo bạn bè vẫn chơi với nhau mà phản thùng. Hằng Thanh còn nói rõ hơn: Có một ông trung tá – hay thượng tá gì đấy – ở A25 điên lên. Ông ấy vẫn chơi với bọn em. Thì cũng là lợi dụng lẫn nhau thôi. Ông ấy nắm tình hình bên này. Bên này nắm tình hình bên ấy. Ông ấy nói với em: ‘Anh theo dõi lão này hai mươi năm nay, tháng nào cũng về Hải Phòng nắm tình hình, nghe báo cáo. Thế mà để sểnh một cái lão ta in ra quyển này có điên không cơ chứ. Anh kỳ này mất lon vì lão ấy.’” [trang 240]
Vậy nhưng, có thực là lực lượng an ninh Việt Nam đã không hề hay biết gì về sự ra đời của tác phẩm đặc biệt “nhạy cảm” đó không?
Theo nhà văn Bùi Ngọc Tấn, ông đưa bản thảo Chuyện kể năm 2000 cho nhà thơ Đoàn Thị Lam Luyến vào tháng 6/1999. Từ đó cho đến khi cuốn sách được in ra là hơn 7 tháng. Trong khoảng thời gian ấy, tác giả thường xuyên đi đi về về giữa Hải Phòng và Hà Nội, thường xuyên gặp gỡ, liên lạc với đủ các thành phần trong giới văn nghệ sỹ mà cơ quan an ninh Việt Nam coi là “có vấn đề về tư tưởng” và dĩ nhiên là luôn theo dõi họ sát sao, ít nhất là điện thoại của họ, chưa kể nhà thơ Đoàn Thị Lam Luyến còn photo bản thảo thành nhiều bản, đưa cho nhiều người và khoe với khá đông bạn bè.
Hãy xem tiếp đoạn sau trong “Hậu Chuyện kể năm 2000”:
“…Cao Giang vui vẻ làm theo ý kiến tôi: - Tôi vẫn làm như anh bảo đấy. Cẩn thận lắm. Thế mà khi bản thảo mới gửi đến tôi được mấy ngày, Trần Đăng Khoa bên quân đội đã sang nằn nì đòi mượn đọc. Chúng tôi nhất định không cho. Không hiểu sao bên ấy đã biết.
Tôi hoảng thật sự. Nghĩ rằng thế này thì việc tôi gửi bản thảo lên chỉ là trò chơi ‘nhằm giải quyết khâu oai’ thôi chứ làm sao mà in được. Khoa biết nghĩa là nhiều người biết. Sáu năm trước, gửi lên dự thi chỗ chị Hoàng Ngọc Hà toàn những người kín mồm kín miệng thế, dặn dò cẩn thận thế mà cũng đến tai công an cơ mà…” [trang 176]
Nghĩa là, việc an ninh Việt Nam không hay biết gì về sự ra đời của tác phẩm “động trời” kia đơn giản là điều không thể xẩy ra, nhất là khi họ đã biết về sự tồn tại của bản thảo tác phẩm từ 6 năm trước. Bản thân tác giả cũng không giấu nổi “băn khoăn” trong Hậu Chuyện kể năm 2000:
“…Bây giờ nghĩ lại chuyện vẽ bìa, nhờ hết người này đến người khác ‘cái bìa cho một tập tiểu thuyết hai tập viết về nhà tù của Bùi Ngọc Tấn’ rất cởi mở hồn nhiên như vậy mà không đến tai công an văn hoá thì cũng là rất lạ. Trong khi ấy Đá Vàng của Dũng Hà khá êm ả thì lại bị ngừng in…” [trang 196]
Vậy sự thực thì thế nào?
Theo một nguồn tin thân cận với lãnh đạo NXB Thanh Niên giai đoạn ấy, sau cuộc điện thoại truyền đạt ý chỉ từ Cục Xuất bản, một tay trùm an ninh đã đến gặp lãnh đạo NXB và đặt vấn đề thẳng tưng: “Nếu các ông chồng đủ 3 tỷ VNĐ, chúng tôi sẽ làm lơ vụ này cho các ông.” Lãnh đạo NXB đã từ chối lời đề nghị đó. Họ không chỉ cảm thấy bị xúc phạm bởi cách ứng xử của những kẻ vẫn được cho là chịu trách nhiệm “bảo vệ” nền văn hoá Việt Nam khỏi bị “ô nhiễm”, mà với họ 3 tỷ VNĐ còn là khoản tiền quá lớn vào thời điểm ấy, nhất là đối với một cơ quan đoàn thể như NXB Thanh Niên.
Ông Lê Hùng là người có mặt trong buổi tiêu huỷ số sách bị thu hồi. Cả thảy hơn 826 bộ. Tất cả bị nghiền thành bột rồi đưa vào ngâm trong bể axít. Đại diện Cục Xuất bản, nhà xuất bản và nhà in lần lượt ký vào từng biên bản của từng công đoạn. Xong xuôi mọi khâu, tất cả những ai liên quan mới được ra về.
Song, thật đáng ngạc nhiên, sau khi Chuyện kể năm 2000 bị tiêu huỷ, những độc giả háo hức vẫn không khó khi săn tìm sách trên thị trường ngầm, dù với cái giá không rẻ chút nào. Hoá ra, “ai đó” đã tổ chức in lậu hàng loạt tập sách, rồi giao cho bọn trẻ bán sách hay đồ lưu niệm để chúng rao bán trên khắp phố phường Hà Nội. Đám này gần như công khai mời chào khách: “Ông/bà/cô/bác/anh/chị… có muốn mua Chuyện kể… không?” Thời gian đầu, giá sách qua kênh “phát hành” này có khi bị hét tới 500.000 VNĐ một bộ (2 tập), một mức giá cắt cổ nếu so với giá bìa là 77.000 VNĐ/bộ.
Một tác phẩm văn chương với nội dung “động trời”, bị đình chỉ xuất bản, bị thu hồi gắt gao, bị tiêu huỷ theo một quy trình hết sức nghiêm ngặt chặt chẽ như thế, vậy mà vẫn được một số đối tượng công khai rao bán giữa phố phường Hà Nội, với một số lượng ấn bản dường như không hạn chế. Ai có thể đứng sau vụ này nếu không phải là lực lượng an ninh, đặc biệt là các “chiến sỹ an ninh” trên “mặt trận văn hoá - tư tưởng” của Việt Nam?
Quả vậy, không khó để hình dung đây là một âm mưu sặc mùi kim tiền của lực lượng an ninh Việt Nam: Họ nắm rõ việc Chuyện kể năm 2000 của Bùi Ngọc Tấn đã được NXB Thanh Niên quyết định xuất bản và lên kế hoạch in ấn, phát hành. Tuy nhiên, họ cũng thừa hiểu rằng, nếu ngăn chặn kế hoạch xuất bản này từ trong trứng nước, giống như những gì họ đã làm vớiĐá Vàng của Thiếu tướng/nhà văn Dũng Hà, họ sẽ chẳng thể kiếm được chút xơ múi gì, trong khi họ lại hoàn toàn ý thức được mức độ lôi cuốn cũng như giá trị thương mại của tác phẩm. Vì thế, họ quyết định vờ như không biết gì, im lặng để cho NXB biên tập, lên kế hoạch xuất bản, in ấn, nộp lưu chiểu, quảng bá nội bộ… rồi bất thình lình ách lại ngay trước khi tác phẩm chính thức được phát hành. Lúc này, dù tác phẩm có bị thu hồi hay vẫn tiếp tục được phát hành họ cũng đều được lợi. Nếu NXB đồng ý với điều kiện của họ, chồng đủ 3 tỷ VNĐ cho họ theo phương châm “đôi bên cùng có lợi”, họ sẽ tha hồ chia chác món tiền khủng ấy. Ngược lại, nếu NXB từ chối đề nghị của họ, tác phẩm sẽ bị thu hồi và tiêu huỷ trong bối cảnh nó đã trở thành một cái tên “hot” hơn bao giờ hết, bởi chính họ đã “phong thánh” cho tác giả qua cách hành xử đó. Và với việc cho in lậu hàng loạt rồi “phát hành” qua thị trường chợ đen với mức giá cắt cổ, họ sẽ thu được khoản lợi nhuận kếch xù, thậm chí còn lớn hơn cả con số 3 tỷ VNĐ kia.
Cựu BTV Lê Hùng không giấu nổi xúc động khi kể với chúng tôi: “Chứng kiến cảnh tượng hàng đống sách vô tội, hiện thân của sự thật, của trí tuệ, mồ hôi và nước mắt của tác giả, cũng như công sức, tâm huyết của cả tập thể nhà xuất bản… bị nghiền nát rồi đưa vào bể axít, tôi không sao cầm được nước mắt.”
Thời khắc mà cựu BTV Lê Hùng, một người “sôi sục khao khát những tiến bộ, những điều tốt đẹp đến với đất nước, với nhân dân, với nghệ thuật”, cảm thấy chua xót và đau đớn nhất ấy cũng chính là thời khắc mà một số ông trùm an ninh Việt Nam lại cảm thấy vui sướng và hả hê nhất, bởi cái âm mưu sặc mùi kim tiền kia của họ coi như đã thành công.
Xem ra, với lực lượng mà các nhà lãnh đạo CSVN vẫn ví von là “thanh gươm của đảng” và “phong tặng” cho đủ thứ “danh hiệu” dài ngoằng, thứ lý tưởng và đạo đức thiêng liêng nhất của họ hoá ra lại vô cùng đơn giản: TIỀN. Vì tiền hay bất cứ thứ gì đẻ ra tiền, họ sẵn sàng dẫm đạp lên tất cả.
Chẳng biết là khi ngân khố quốc gia ngày càng rỗng tuếch còn những “con mồi” mang tên “nhân dân” thì ngày một còm cõi và xương xẩu, cái viễn cảnh tất yếu đang tới rất gần, họ có quay sang “làm thịt” những ông chủ mập ú đã đẩy họ vào vòng tội ác hầu “đoái công chuộc tội” và trở về với nhân dân hay không.
* Blog của nhà báo Lê Anh Hùng là blog cá nhân. Các bài viết trên blog được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ.

Nỗi lo trước dự án nhà máy thép Ninh Thuận

Nhóm phóng viên tường trình từ VN
Theo RFA- 2016-08-31  
biencana.JPG
Bãi biển Cà Ná  RFA photo
Dự án khu liên hợp nhà máy luyện cán thép khổng lồ với công suất trên 16 triệu tấn mỗi năm đang chuẩn bị xây dựng tại hai xã Phước Diêm và Cà Ná, huyện Thuận Nam, Ninh Thuận. Và có thể nói rằng đây là dự án khiến cho nhiều người mất ăn mất ngủ bởi câu chuyện xả độc của Formosa Hà Tĩnh đã làm cho vùng kinh tế Bắc miền Trung sa sút nghiêm trọng. Bây giờ, thêm một dự án thép ở phía Nam miền Trung nữa, xem như cả miền Trung phải gồng lưng chịu đựng chất thải nếu như câu chuyện Formosa tái diễn tại Ninh Thuận.
Bài học Formosa còn đó
Một cán bộ môi trường của tỉnh Ninh Thuận, yêu cầu giấu tên, chia sẻ: “Nếu mà nói về vấn đề nhà máy thép thì cần phải coi lại chuyện môi trường. Bài học Formosa vẫn còn đó. Cần phải trưng cầu dân ý, để cho người dân họ quyết. Đặc biệt, vấn đề địa chính trị là câu chuyện hết sức nguy hiểm. Và làm sao chúng ta quản lý được chuyện xả thải của họ 24/24 chứ? Vì họ có thể xả lén ra biển. Và vấn đề công nghệ, làm sao phải làm công nghệ khô chứ đừng làm công nghệ ướt nữa. Mà công nghệ khô thì rất tốn kém. Chính vì vậy rất khó. Hơn nữa cán bộ của Việt Nam cũng không đủ trình độ để quản lý, để phân biệt đâu là công nghệ khô, đâu là công nghệ ướt… Mọi việc đều rất nguy hiểm”.
Nếu mà nói về vấn đề nhà máy thép thì cần phải coi lại chuyện môi trường. Bài học Formosa vẫn còn đó. Cần phải trưng cầu dân ý, để cho người dân họ quyết.
- Một cán bộ tỉnh Ninh Thuận
Vị cán bộ này cho biết thêm rằng dự án lần này do tập đoàn Hoa Sen, một công ty tư nhân kinh doanh và sản xuất tôn thép trong nước bỏ tiền vào đầu tư xây dựng.
Chỉ riêng vấn đề sản xuất thép, đây là một dự án rất lớn với lượng vốn đầu tư lên tới 10 tỉ 600 triệu Mỹ Kim, dự tính công suất 16 triệu tấn mỗi năm. Nếu so sánh với Hà Tĩnh thì dự án này lớn hơn nhiều, bởi giai đoạn 1 của dự án thép Formosa tại Vũng Áng, Hà Tĩnh, công suất là hơn 10 triệu tấn mỗi năm.
Theo dự thảo thỏa thuận hợp tác chiến lược với ủy ban nhân dân tỉnh Ninh Thuận, công ty cổ phần tập đoàn Hoa Sen đầu tư dự án khu liên hợp luyện cán thép Hoa Sen Cà Ná – Ninh Thuận. Ngoài ra, tập đoàn Hoa Sen còn dự tính đầu tư thêm bốn dự án hạ tầng khu công nghiệp Hoa Sen Cà Ná – Ninh Thuận gồm: Nhà máy sản xuất xi măng; Nhà máy nhiệt điện – năng lượng tái tạo và một nhóm dự án khai thác khoáng sản, vận chuyển, kho bãi, khách sạn du lịch…
Vị này cho rằng với mức độ đầu tư cũng như quá nhiều hạng mục đầu tư, nguy cơ phá nát môi trường bởi quá trình thi công, gây ảnh hưởng đến địa tầng học và sau đó là vấn đề chiến lược quân sự bị phá vỡ, vùng biển nhạy cảm này dễ dàng bị quan sát bởi các đối tác nước ngoài đến đây hợp tác làm ăn, đặc biệt là các tàu nước ngoài đáp vào khu cảng có trọng tải lớn, có thể chịu được tàu quân sự mà dự án đã nêu là khó tránh khỏi.
Cũng theo vị cán bộ môi trường này, điều khiến ông lo ngại nhất hiện nay là mặc dù dự án sắp sửa thi công nhưng người dân hoàn toàn không có thông tin gì về nó. Chưa có cuộc họp báo hoặc trưng cầu dân ý nào cả. Trong khi đó, mọi rủi ro và tai họa về sau đều do người dân gánh chịu.
nhahangphucvunguoitqocana-400.jpg
Một nhà hàng phục vụ người Trung Quốc ờ Cà Ná. RFA photo
Ông Non, một cư dân sống ở Cà Ná, Ninh Thuận, chia sẻ: “Mình đâu có biết được gì đâu. Mình sợ là nó xả ra cho nước biển dơ dáy, hư hỏng hết môi trường. Tôi ở xa chỗ này, tôi không làm nghề cá nên cũng không ước lượng được mức nguy hiểm của nó. Bởi tôi làm nước mắm nên tôi chưa thể đưa ra ý kiến nào cụ thể… Bây giờ cũng đang rối!”.
Đó là những gì mà ông có thể biết được từ thông tin nhà nước. Còn theo tìm hiểu của ông thì dự án khu liên hợp luyện cán thép Hoa Sen Cà Ná – Ninh Thuận khi đi vào hoạt động, quy trình sản xuất sẽ được khép kín từ khâu nguyên liệu đầu vào từ quặng sắt, than, đá, đá vôi… cho đến việc sản xuất thép thành phẩm, bán thành phẩm như thép xây dựng, thép hình, thép chế tạo… và các sản phẩm phát sinh như xi măng, điện.
Không dừng ở đây, dự án còn xây cảng tổng hợp quốc tế Hoa Sen Cà Ná – Ninh Thuận với quy mô 25 bến tàu, lưu lượng vận tải hàng hóa 53 triệu tấn mỗi năm, cảng có thể tiếp nhận tàu có tải trọng đến 300,000 mã lực  trên tổng diện tích hơn 100 hecta, dùng để làm bến nhập than, xuất thép. Vốn đầu tư của dự án này cần thêm khoảng 804 triệu Mỹ kim.
Theo một giới chức Ninh Thuận cho biết thì dự án của của tập đoàn tôn Hoa Sen sẽ được triển khai trên diện tích đất 1,500 hecta. Hiện chủ đầu tư đang làm các thủ tục để xin cấp phép đầu tư, tiến hành các bước đánh giá tác động môi trường, khảo sát thực địa.
Cán bộ này tỏ ra lo lắng đặt nghi vấn, dự án sắt thép của tập đoàn HSG sẽ triển khai đầu năm 2017. Khi đó, những dự án khu nghỉ dưỡng, du lịch, nổi tiếng nhiều năm nay ở hai xã Phước Diêm và Cà Ná có tiếp tục trụ được nữa hay không? Hàng ngàn gia đình cư dân đang sống bình yên có bị bị lao đao giống như hàng ngàn gia đình người dân ở Vũng Áng, Hà Tĩnh và các tỉnh bờ biển Bắc miền Trung?
Sự bình yên bị đe dọa
Một chủ khách sạn tên Hà, ở Cà Ná, tỏ ra phân vân:“Người ta chưa có làm cái gì hết, em không biết nó có ảnh hưởng gì không. Người ta chưa có đền bù gì hết, cũng chẳng biết làm chỗ nào nữa, chỉ nghe nói là tôn Hoa Sen nó làm ở đây nhưng nó cũng chưa báo mình biết là nó lấy khu nào nữa. Nghe là lấy tới hai địa điểm, nhưng chưa có thông báo là chỗ nào. Nói chung hiện nay em đang rối mù về thông tin bao giờ họ làm!”.
Nghe là lấy tới hai địa điểm, nhưng chưa có thông báo là chỗ nào. Nói chung hiện nay em đang rối mù về thông tin bao giờ họ làm!.
- Bà Hà,  Cà Ná
Chị Hà tỏ ra lo lắng nhớ lại chuyện cũ, năm 2012 Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng đến dự lễ khởi công xây dựng dự án gang thép Formosa ở Vũng Áng, lúc đó báo tỉnh Hà Tĩnh viết rằng dự án được ứng dụng kỹ thuật và các thiết bị tiên tiến trên thế giới về luyện gang, luyện thép và cán thép, đồng thời áp dụng các giải pháp kỹ thuật về tiết kiệm năng lượng và bảo vệ môi trường tốt nhất… Thế nhưng họ chỉ mới súc đường ống thôi thì cả vùng biển Bắc miền Trung đã chết khô từ cá động vật đến thực vật, trải dài trên vủng bờ biển 200km, chim chóc cũng không sống sót nổi.
Chị Hà cho rằng trong bối cảnh hiện tại, ngành xây dựng đang khựng lại, thị trường nhà đất đóng băng, mọi ngành nghề đều trì trệ và lượng thép dư thừa trên thị trường đã chạm trần. Trong khi đó đời sống của người dân ngày càng trì trệ và tụt hậu.
Chỉ cần nhìn vào lượng khách đến trú ngụ ở khách sạn của mình chị Hà cũng có thể biết được đời sống đang xuống thấp cỡ nào. Giờ lại thêm một khu công nghiệp luyện thép nữa, chị Hà Lắc đầu ngao ngán và kết luận là miền Trung sẽ còn khổ dài dài và đến lúc nào đó không xa, chỉ khoảng một thời gian ngắn nữa thôi, ngư dân Cà Ná sẽ chuyển qua lặn thép thay vì đánh bắt cá ngoài biển.

Phản ứng trái chiều về siêu dự án thép Ninh Thuận

Nam Nguyên, phóng viên RFA 2016-08-31 
000_BM64X.jpg
Một người đàn ông vận chuyển các thanh thép tới một công trường xây dựng tại Hà Nội vào ngày 08 tháng 6 năm 2016.  AFP photo
Thảm họa môi trường do nhà máy thép Formosa gây ra cho 4 tỉnh ven biển Bắc Trung Bộ chưa khắc phục đuợc, nhưng vào ngày 25/8/2016 vừa qua Bộ Công thương lại bổ sung một dự án thép công suất 16 triệu tấn năm ở ven biển tỉnh Ninh Thuận vào quy hoạch phát triển hệ thống sản xuất và hệ thống phân phối thép giai đoạn 2020 -2025.
Xu hướng lỗi thời
Dự án mang tên “Khu liên hợp luyện cán thép Hoa Sen Cà Ná – Ninh Thuận” do Tập đoàn Hoa Sen của doanh nhân Việt Nam làm chủ đầu tư đang chờ giấy phép. Với tổng vốn đầu tư dự kiến hơn 10 tỷ USD  và sử dụng 1.500 héc-ta đất ven biển để sản xuất thép là một ý tưởng táo bạo, được cho là có phần không hợp thời vì bài học Formosa đã trả giá quá đắt.
TS Nguyễn Quang A, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển IDS từ Hà Nội cho rằng, phát triển công nghiệp nặng bằng con đường sản xuất thép là lỗi thời. Theo xu hướng thời đại, làm một dự án thép lớn như thế là thất sách. Thép là ngành sử dụng nhiều nước, nhiều năng lượng, tốn nhiều nước, nhiều năng lượng là hủy hoại môi trường. Ngoài ra dự án tiềm ẩn nhiều rủi ro, vốn đầu tư quá lớn chủ đầu tư sẽ phải sử dụng đòn bẩy để thu hút vốn… người ta bỏ ra một phần nhỏ nhưng xắn một miếng bánh rất lớn, cho nên mức độ mạo hiểm được khuyến khích rất cao, việc này tiềm ẩn rủi ro kinh tế rất cao. TS Nguyễn Quang A phân tích và nhấn mạnh:
Nếu một nhà quản lý đất nước có đầu óc thì phải dẹp và cấm ngay những dự án như thế chứ không phải khuyến khích thế này thế kia...  
- TS Nguyễn Quang A
“Từ ba phương diện như thế tôi nghĩ rằng, nếu một nhà quản lý đất nước có đầu óc thì phải dẹp và cấm ngay những dự án như thế chứ không phải khuyến khích thế này thế kia...”
Tập đoàn Hoa Sen dự kiến triển khai dự án theo 5 giai đoạn từ năm 2017 đến 2031. Theo đó, phân kỳ 1 thuộc giai đoạn 1 được thực hiện từ 2017 - 2018 dự kiến sử dụng 240 ha đất, công suất 1,5 triệu tấn thép mỗi năm và chính thức sản xuất từ năm 2019.  Cùng với khu liên hợp gang thép, Tập đoàn Hoa Sen đồng thời triển khai các dự án thành phần bao gồm: Dự án đầu tư hạ tầng Khu Công nghiệp Hoa Sen Cà Ná; Dự án đầu tư Cảng tổng hợp quốc tế Hoa Sen Cà Ná.
Giới chuyên gia ngành thép nhận diện như thế nào về Dự án Khu liên hợp luyện cán thép Hoa Sen Cà Ná – Ninh Thuận. Trả lời Nam Nguyên vào tối 30/8/2016, ông Phạm Chí Cường chủ tịch Hội khoa học kỹ thuật đúc - luyện kim Việt Nam, nguyên Chủ tịch Hiệp hội Thép Việt Nam từ Hà Nội nhận định:
Theo tôi trong giai đoạn hiện nay Nhà nước phải cân nhắc xem xét rất là kỹ, bởi vì xu thế ở trong nước thì đã thừa thép rồi. Xu thế chung của cả khu vực và thế giới thì thép cũng đang dư thừa và nhất là Việt Nam ở gần Trung Quốc là nước dư thừa thép rất lớn và họ đang tìm mọi cách để xuất khẩu lượng thép dư thừa của họ, làm cho toàn bộ việc cân đối mặt hàng thép ở Việt Nam bị ảnh hưởng rất lớn mà nhà nước đang phải bảo hộ. Cho nên tôi nghĩ là, khi nghiên cứu ý đồ của Hoa Sen thì nhà nước phải rất thận trọng...”
Cạnh tranh với ai?
000_Hkg380944.jpg-400.jpg
Thủ tướng Australia John Howard (phải) thăm nhà máy thép BlueScope Steel Australia đầu tư tại Khu công nghiệp Phú Mỹ 1, Bà Rịa-Vũng Tàu, hôm 20 tháng 11 năm 2006. AFP
Đáp câu hỏi về khả năng cạnh tranh của thép Việt Nam với sản phẩm rẻ nhất thế giới của Trung Quốc, đặc biệt khi Hoa Sen dự kiến mở dự án mới và cam kết xử lý nước thải đạt tiêu chuẩn bảo vệ môi trường, tức là chi phí cao cho vấn đề xử lý nước thải. Ông Phạm Chí Cường nhận định:
“Tôi hoàn toàn nghĩ là sự cạnh tranh của Việt Nam với thép dư thừa và giá rẻ của Trung Quốc là một thử thách rất là lớn. Bởi vì Việt Nam phát triển ngành thép trong điều kiện gọi là không có gì thuận lợi, do quặng không có cũng phải nhập, than mỡ để làm ra than cốc cung cấp cho lò cao cũng phải nhập. Cho nên không có ưu thế gì về mặt nguyên liệu để làm ngành thép. Nếu phải nhập tất cả mọi thứ như thế vào đầu tư ban đầu, trong khi Trung Quốc dư thừa công suất, họ đã có những liên hợp cực lớn rồi, đã sản xuất và khấu hao từ lâu rồi thì việc cạnh tranh của Việt Nam là điều hết sức khó khăn. Hiện tại nhà nước buộc phải ra những chính sách tự vệ và bảo hộ cho ngành thép trong nước, đánh thuế rất cao đối với những loại thép xây dựng, tôn mạ màu…Tôi cho rằng thể hiện sự cạnh tranh của mình là rất khó khăn.”
Giả dụ Dự án được thực hiện và Hoa Sen đạt tới công suất 16 triệu tấn thép mỗi năm, thì vấn đề giá thành cạnh tranh với thép Trung Quốc là khó khả thi, nhất là khi Hoa Sen bảo đảm không gây ô nhiễm môi trường, hay nói cách khác chi phí cao cho vấn đề xử lý nước thải, chất thải kể cả khói thải.
Tại Hội nghị xúc tiến đầu tư vào tỉnh Ninh Thuận sáng 27/8 với sự hiện diện của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, ông Lê Phước Vũ Chủ tịch    Tập đoàn Hoa Sen cam kết không để một giọt nước thải nào chưa qua xử lý chảy ra biển. Rất hùng hồn, ông Vũ cố gắng thuyết phục là sẵn sàng ký kết với đại diện chính phủ về việc đóng cửa nhà máy và bàn giao toàn bộ tài sản cho nhà nước nếu vi phạm qui định bảo vệ môi trường.
Tôi hoàn toàn nghĩ là sự cạnh tranh của Việt Nam với thép dư thừa và giá rẻ của Trung Quốc là một thử thách rất là lớn.
- Ông Phạm Chí Cường
Trong giai đoạn 1 năm 2017-2018, Dự án thép Hoa Sen Ninh Thuận mới chỉ triển khai trên diện tích 240 ha, nhưng theo dự án đầy đủ Hoa Sen xin thuê tới 1.500 ha đất ven biển. Có ý kiến cho rằng, vấn đề quyền sử dụng đất ven biển chính là lời giải đáp cho dự án quá khổ của một tập đoàn tư nhân Việt Nam, nhất là hiện nay sản xuất thép và xi măng là những mặt hàng khó đem lại lợi nhuận.
“Những doanh nghiệp mà phất lên ở Việt Nam đều là ăn vào chênh lệch của đất, tức là chiếm đất với một giá rất là rẻ, xong rồi đầu tư một chút, rồi biến nó thành đất công nghiệp, đất định cư và lúc ấy có thể là một vốn năm bảy chục lời…Tôi nghĩ là những dự án như thế chuyện tận dụng đất đai ở Việt Nam là hiển nhiên.”
Ninh Thuận là một tỉnh nghèo, cho nên chính quyền địa phương làm mọi cách để mời gọi đầu tư hầu cải thiện tăng trưởng kinh tế. Một dự án Khu liên hợp luyện cán thép Hoa Sen Cà Ná cùng cảng nước sâu trên diện tích 1.500 ha, khiến liên tưởng tới Khu liên hợp gang thép Formosa và cảng nước sâu Sơn Dương trên diện tích đất và mặt nước tổng cộng 3.300 ha.
TS Nguyễn Quang A nói rằng, chính quyền chỉ nghĩ đến tiền, nhà máy lọc dầu Dung Quất ở Quảng Ngãi và nhà máy thép Formosa Vũng Áng Hà Tĩnh đã thể hiện sự sai lầm vô cùng lớn. Nay lại đến Ninh Thuận cũng đang hồ hởi đi theo vết xe đổ, xúc tiến một dự án sai lầm không kém.

Cơ quan nào tham mưu cho Thủ tướng Phúc ‘dùng ngân sách xử lý nợ xấu’?

Lại là Ngân hàng nhà nước. Nhưng khôn ngoan hơn năm 2014, vào lần này giới quan chức lãnh đạo của Ngân hàng nhà nước còn lôi kéo hai bộ Tài chính và Kế hoạch và Đầu tư vào cuộc để cùng “chia lửa”.
Liệu thủ tướng Phúc hiện nay có đỡ tệ hơn ông Dũng? (Ảnh: bizlive.vn)
Theo báo Vneonomy, Dự thảo kế hoạch tái cơ cấu nền kinh tế giai đoạn 2016-2020 do Bộ Kế Hoạch Và Đầu Tư chủ trì xây dựng, vừa công bố, đã dự kiến trong năm 2017, Ngân hàng Nhà nước và Bộ Tài chính sẽ trình Quốc hội dự thảo nghị quyết “Đề án nghiên cứu khả năng bố trí nguồn lực ngân sách nhà nước để xử lý một phần nợ xấu”.
Với ý đồ đã được bộc lộ rõ như vậy, các ngành chức năng tham mưu cho chính phủ vẫn hoàn toàn chưa từ bỏ ý định rút rỉa ngân sách, mà thực chất là tiền đóng thuế của tuyệt đại đa số dân chúng, để giải quyết mới hỗn độn được gọi là “nợ xấu”. 
Việc tái hiện ý đồ trên cũng cho thấy sự thất bại hầu như rõ ràng của cơ chế Công Ty Quản Lý Các Tài Sản Tín Dụng (VAMC) trong việc mua và bán nợ xấu. Được thành lập cách đây 3 năm, nhưng cho tới giờ này VAMC mới chỉ mua được khoảng 10% nợ xấu từ các ngân hàng, không phải bằng tiền mặt mà bằng… giấy.
Tuy nhiên cho đến nay, bế tắc của VAMC là mua nợ rồi, nhưng không biết bán cho ai. Cũng cho tới nay, tuyệt đối không có tin tức nào về một đối tác thương mại và tài chính quốc tế nào chịu mua lại nợ của VAMC, cho dù trước đó VAMC và giới quan chức chính phủ còn dõng dạc: “Nước ngoài xếp hàng chờ mua nợ của Việt Nam”. 
Vào tháng 10/2014 - ba năm sau khi triển khai đề án xử lý nợ xấu, chính phủ của Nguyễn Tấn Dũng và Nguyễn Văn Bình đã đưa kiến nghị “xem xét dành một phần chi ngân sách Nhà nước để xử lý nợ xấu của các doanh nghiệp Nhà nước” ra Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Nhưng cũng bởi quá chủ quan, nên giới chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã vấp phải một làn sóng phản đối quyết liệt từ đủ mọi thành phần dân chúng, và cả trong giới quan chức. Cho tới lúc đó, đa số người dân đều đã nhận ra nợ xấu có nguồn gốc cơ bản từ những chiến dịch kinh doanh cực kỳ phiêu lưu của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước vào các lĩnh vực chứng khoán, bất động sản, bảo hiểm trong thời kỳ “đầu cơ vàng” những năm 2006-2007. Để sau đó, khi các thị trường đầu cơ lao dốc và gần như sụp đổ, thì phần lớn các nhà đầu tư đều rước họa vào thân.
Chỉ tính riêng những tập đoàn lớn của nhà nước có tham gia đầu cơ như thế đã mang về số lỗ kinh hoàng như Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam (Petrolimex) lỗ 10,000 tỷ đồng, Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) lỗ 30,000 tỷ đồng…
Trong lúc dư luận và công luận xã hội dồn dập phản ứng trước đề nghị dùng ngân sách để xử lý nợ xấu của chính phủ Nguyễn Tấn Dũng, một đại biểu quốc hội khu vực Hải Phòng là Trần Ngọc Vinh đã thẳng thừng: “Hiện ngân sách rất eo hẹp, thu chi chưa cân đối được mà còn chi cho ngân hàng nữa thì ngân sách hụt rất lớn. Không bao giờ cho phép lấy tiền ngân sách đắp vào khoản lỗ của các ngân hàng”.
Ít ngày sau đó, Phó thủ tướng Vũ Văn Ninh buộc phải yêu cầu Bộ Kế Hoạch Và Đầu Tư không đưa vào báo cáo trình quốc hội nội dung dùng ngân sách để xử lý nợ xấu.
Còn bây giờ là việc của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc. Nếu trước đây Thủ tướng Dũng đã mắc lỡm từ dàn tham mưu của Thống đốc Bình, liệu Thủ tướng Phúc hiện nay có đỡ tệ hơn ông Dũng? 
Lê Dung / SBTN

Du khách Trung Cộng sang Việt Nam tăng kỷ lục và gây nhiều phiền toái

Số lượng du khách Trng Cộng tăng mạnh trong thời gian qua tại thành phố Nha Trang đang thử thách sự hiếu khách của người Việt Nam đối với quốc gia láng giềng phương Bắc.

Khách du lịch Trung Cộng tăng kỷ lục tại Việt Nam. (Ảnh: baodansinh.vn)

Theo Latin American Herald Tribune, giới chức thẩm quyền Cộng sản Việt Nam tại nhiều thành phố đã áp dụng không ít biện pháp trừng phạt du khách Hoa Lục có thái độ thiếu tôn trọng lịch sử và văn hoá Việt Nam. Nhân viên tiếp tân của một khách sạn ở Nha Trang cho biết, một số du khách Hoa Lục rêu rao rằng thành phố Nha Trang sẽ thuộc về nước họ.
Chính quyền CSVN tại Nha Trang cũng vừa ra lệnh trục xuất 66 du khách quốc tịch Trung Quốc, phần lớn là các hướng dẫn viên du lịch hành nghề bất hợp pháp tại Việt Nam, vì đã quảng bá thông tin sai lạc về lịch sử Việt Nam.
Tại một khu vực bãi biển trước đây dành độc quyền cho du khách Nga và Tây phương, đã xảy ra một số vụ đụng độ giữa du khách Hoa Lục với người dân địa phương nhiều gấp 5 lần so với trước.
Một tài xế taxi, ông Phạm Đình Khánh than phiền rằng, du khách Hoa Lục có thái độ thô lỗ, gây ồn ào, và thường dùng nhân dân tệ để trả tiền cước phí, dẫn đến tranh cãi về hối suất.
Ông Phạm Thanh Trúc, phó giám đốc Sở Du lịch tỉnh Khánh Hoà cũng nói rằng phần lớn du khách Hoa Lục cư xử tồi và gây xáo trộn.
Giới chức thẩm quyền Trung Cộng thừa nhận tình trạng này, và đã đưa vào danh sách đen các du khách Trung Quốc bị cấm xuất ngoại để gọi là cải thiện hình ảnh của Trung Cộng ở ngoại quốc.
Hồi năm ngoái, khoảng 1 triệu 8 trăm ngàn người Trung Quốc du lịch Việt Nam, con số cao kỷ lục, tăng 47% so với năm trước đó. 
Song Châu / SBTN

Lấy lại 21 ha đất quân sự để mở rộng phi trường Tân Sơn Nhất

Đó là một nội dung đáng chú ý của phó thủ tướng CSVN Trịnh Đình Dũng, trong văn bản có tên “Thông báo số 260/TB-VPCP”, ký ngày 29-8-2016 và báo chí được biết trong ngày 31-8.
Khu vực Tân Sơn Nhất mà Bộ Quốc phòng CSVN dự kiến chuyển giao cho phía dân sự. (Ảnh: L. Nam)
Tại buổi làm việc mới đây, lãnh đạo Bộ Quốc phòng CSVN cho biết đã đồng ý phương án để Bộ Giao Thông Vận Tải đầu tư mở rộng, khai thác khu bãi đáp quân sự cho hoạt động hàng không dân dụng, tại khu đất 21.3 ha ở phía tây phi trường quốc tế Tân Sơn Nhất.
Khi khu đất này được quy hoạch làm sân bãi đáp của máy bay với 30 vị trí đậu, cùng việc mở rộng sân đậu ở phía bắc (khoảng 8 vị trí), phi trường Tân Sơn Nhất sẽ được khoảng 90- 100 vị trí đậu, nâng công suất phục vụ cho khoảng 40 triệu lượt hành khách/năm.
Các bộ phận liên quan của quân đội dự kiến chuyển đến sân bay quân sự Biên Hòa và Cam Ranh (Khánh Hòa).
Hiện nay, có người nói vui rằng nếu nhìn từ bản đồ không ảnh, phi trường Tân Sơn Nhất hệt như khám Chí Hòa, chỉ có đường vào, không có đường ra. Thực tế thì từ lâu, phi trường Tân Sơn Nhất đã kẹt cứng từ sân đậu, bầu trời, đến giao thông xung quanh.
Lạ kỳ là đất để giải thoát tạo “sinh lộ” cho sân bay không có, nhưng lại sẵn hàng trăm héc-ta đất để Bộ Quốc phòng CSVN mở sân golf, khách sạn, nhà hàng trong khuôn viên phi trường Tân Sơn Nhất.
Đáng chú ý, là số diện tích đất mà Bộ Quốc phòng CSVN chiếm giữ ở phi trường này lên tới 157 héc-ta. Có thể nói, mọi kỳ vọng về một giải pháp cho phi trường Tân Sơn Nhất đều phụ thuộc vào việc phía quân đội có chịu trả lại đất hay không, còn hứa giao thì họ đã hứa nhiều lần rồi.
Ông Lê Trọng Sành, cựu trưởng phòng Quản lý bay, phi trường Tân Sơn Nhất, nói rằng hiện nay, các chướng ngại vật của phi trường Tân Sơn Nhất đều nằm cách tâm sân bay từ 3 – 10 km (như nhà thờ Gia Định cao 32m nằm cách 6.5 km, nhà thờ Đức Bà cao 46m cách gần 5 km, nhà thờ Tân Định cao 51m cách 4.8 km, khách sạn Caravelle cao 100m cách 7 km…). Trong khi khu dịch vụ sân golf của Bộ Quốc phòng CSVN cao 50m lại nằm cách chưa đầy 1 km.
Chướng ngại vật không chỉ có thể ảnh hưởng đến an toàn bay, mà còn có thể hạn chế hoạt động của các đài, trạm thông tin, radar dẫn đường hàng không và các trận địa quản lý, bảo vệ vùng trời…
Sau khi thực hiện một cuộc khảo sát về tác động môi trường trong việc để tồn tại sân golf với phi trường Tân Sơn Nhất và khu vực lân cận, tiến sĩ sinh học Nguyễn Đăng Diệp, Phó Giám Đốc Trung Tâm Công Nghệ Sinh Học Nông Nghiệp, đã cảnh báo rằng: “Người dân sống xung quanh sân golf Tân Sơn Nhất phải hứng chịu gần 200 tấn chất độc hàng năm. Con số này khiến chúng tôi giật mình kinh hãi, không ngờ lượng thuốc trừ sâu đổ xuống sân golf Tân Sơn Nhất lại nhiều đến thế. Sức khỏe của người dân Sài Gòn đang bị đe dọa từng ngày từng giờ, trong khi sân golf vẫn trơ như đá, thách thức dư luận”.
Vũ Minh Ngọc / SBTN

"Mùa đóng góp hãi hùng" của người dân nghèo Thanh Hóa

Mỗi năm cứ đến "mùa đóng góp", dù không có cơm ăn áo mặc nhưng nhiều gia đình ở Thanh Hóa vẫn phải vẫn cố tìm cách để đủ để đóng quỹ, phí cho thôn, xã.
Chiếc giường của mẹ con chị Toàn từng bị cán bộ làng, xã cưỡng chế khuân đi. (Ảnh: Phụ Nữ Việt Nam)
Người dân dù không có tiền vẫn bị chính quyền địa phương dùng dùng đủ mọi chiêu thức để ép đóng. Ban đầu là vận động, sau thì dọa nạt, bắt chẹt, thậm chí còn… tịch thu cả tài sản.
Có trường hợp một hộ nghèo không có tiền đóng, đã bị chính quyền đem người xuống tháo dỡ chiếc giường, tài sản đáng giá duy nhất của gia đình và mang đi. 
Những câu chuyện về sự kiện mà báo chí gọi là "mùa đóng góp hãi hùng" đã làm phẫn nộ dư luận. Mới đây, Huyện Nông Cống (Thanh Hóa) vừa buộc xã Trường Sơn phải xin lỗi dân và hoàn trả một loạt khoản thu không đúng quy định. 
Theo tin từ văn phòng ủy ban nhân dân huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa, lãnh đạo huyện hôm Thứ Tư có kết luận về một số vấn đề liên quan đến cáo buộc xã Trường Sơn thu hàng loạt tiền quỹ và lệ phí không chính đáng.
Theo phản ảnh từ người dân, chính quyền địa phương cố tình không cung cấp chứng nhận gia đình nghèo, và thẻ bảo hiểm y tế cho những gia đình nào không có tiền để đóng các thứ quỹ và lệ phí vô tội vạ do xã tự đặt ra.
Huyện Nông Cống kết luận xã Trường Sơn "chưa đúng" trong các vi phạm vừa kể. Huyện xác định việc xã đòi cả trẻ em lẫn người cao niên phải đóng tiền tu sửa nghĩa trang Đá Bùa của hai thôn Phúc Thọ và Yên Minh, là "chưa phù hợp với quy định".
Ủy ban huyện Nông Cống đã ra lệnh cho các quan chức xã Trường Sơn phải tận tay cấp giấy chứng nhận gia đình nghèo và thẻ bảo hiểm y tế cho người dân, xin lỗi và hoàn trả lại quỹ thu phòng chống thiên tai đã thu của các gia đình nghèo, tổ chức họp dân, công khai xin lỗi và hoàn trả lại tiền cho trẻ em và người cao niên.
Cuộc điều tra của huyện cũng xác nhận sự việc nhà cầm quyền địa phương từng thu giữ chiếc giường của một gia đình nghèo ở thôn Thành Liên để trừ nợ, và cho hay chiếc giường đã được trả lại cho khổ chủ.
Huy Lam / SBT

Yên Bái: Giáo viên vượt lũ đến trường bằng... gầu máy xúc

Dân trí Một clip trên mạng ghi lại cảnh cô giáo ở Yên Bái vượt lũ đến trường đang khiến cộng đồng mạng xôn xao. Không chỉ các giáo viên mà cả xe máy cũng được treo lủng lẳng vào gầu máy xúc để vượt lũ.

Theo hình ảnh ghi lại qua clip, từng tốp giáo viên nữ đứng bám gầu máy xúc, sau đó được tài xế đưa sang bờ bên kia. Ngoài ra, xe máy cũng được người dân treo vào gầu máy “vượt lũ” cùng giáo viên.
Trao đổi với PV Dân trí vào sáng 31/8, ông Dương Xuân Trường - Hiệu trưởng Trường phổ thông dân tộc bán trú Nậm Mười cho biết, mấy ngày trước đó, do có một đơn vị đang xây dựng cầu tràn qua suối nên ngăn dòng, cộng với mưa to trong nhiều ngày khiến con suối bị lũ cuốn khá nguy hiểm.
Giáo viên bám vào gầu máy xúc để qua suối (ảnh từ clip)
Giáo viên bám vào gầu máy xúc để qua suối (ảnh từ clip)
Để đảm bảo giờ dạy, giáo viên đã phải vượt suối bằng gầu máy xúc. Ông Trường cho hay, đoạn đường này không có học sinh đi qua vì học sinh toàn bộ ở xã Nậm Mười. Còn giáo viên đến Nậm Mười dạy, chủ yếu gia đình ở thị xã Nghĩa Lộ và Tú Lệ của huyện Văn Chấn nên họ đều phải đi qua con suối này hàng ngày.
Những ngày bình thường, giáo viên có thể phóng xe máy qua đơn giản nhưng khi mưa lớn, chiếc cầu gỗ tạm cũng bị cuốn trôi nên đường đi lại khó khăn. Do giáo viên nữ chân yếu tay mềm nên đơn vị làm cầu ở khu vực này đã dùng máy xúc đưa giáo viên cùng phương tiện của họ sang bờ bên kia.
“Thông thường trước đây, nếu lũ cuốn trôi cầu, giáo viên phải thuê người dân cẩu xe máy qua với giá rẻ nhất là 50.000đ/chiếc/lần. Cả đi lẫn về, riêng tiền cẩu xe rẻ nhất cũng phải 100.000đ. Còn giáo viên nam thì cởi quần áo lội qua suối. Giáo viên nữ, bằng cách này hay cách khác cũng phải lội qua để vào lớp dạy”, ông Trường cho hay.
Không những người mà xe máy cũng được móc vào gầu máy để vượt lũ cùng (ảnh từ clip)
Không những người mà xe máy cũng được móc vào gầu máy để "vượt lũ" cùng (ảnh từ clip)
Cũng theo ông Trường, khu vực Nậm Mười có 3 trường, mầm non, tiểu học và THCS. Những người vượt lũ bằng gầu máy xúc đến được buổi dạy hôm đó, ngoài giáo viên của Trường tiểu học bán trú Nậm Mười, còn có giáo viên của hai trường lân cận.
Riêng Trường tiểu học bán trú Nậm Mười có tổng cộng 34 giáo viên/375 học sinh. Các em nhà xa đều được ở bán trú nên không nguy hiểm đến tính mạng.
Giáo viên tiếp đất bằng gầu máy (ảnh từ clip)
Giáo viên "tiếp đất" bằng gầu máy (ảnh từ clip)
Thông tin ông Trường cho biết, dự kiến khoảng cuối năm nay, chiếc cầu này sẽ được xây xong để việc đi lại của giáo viên, học sinh và bà con được thuận lợi hơn.
Thứ Tư, 31/08/2016 - 13:00
Mỹ Hà

Trung Quốc dọa cướp luôn cả quần đảo Trường Sa của Việt Nam

Bộ Trưởng Quốc Phòng CSVN Ngô Xuân Lịch (trái) bắt tay Bộ Trưởng Quốc Phòng Trung Quốc Thường Vạn Toàn khi ông Toàn đến Hà Nội hồi cuối tháng 6, 2016 vừa qua. (Hình: VN NEWS AGENCY/AFP/Getty Images)
Bộ Trưởng Quốc Phòng CSVN Ngô Xuân Lịch (trái) bắt tay Bộ Trưởng Quốc Phòng Trung Quốc Thường Vạn Toàn khi ông Toàn đến Hà Nội hồi cuối tháng 6, 2016 vừa qua. (Hình: VN NEWS AGENCY/AFP/Getty Images)
BẮC KINH (NV) – Ngay trong lúc tướng Ngô Xuân Lịch, bộ trưởng Quốc Phòng CSVN, công du tới Bắc Kinh, báo chí Trung Quốc bắn tiếng đe dọa cướp cả quần đảo Trường Sa nếu Việt Nam dùng phán quyết của Tòa Trọng Tài Quốc Tế làm áp lực tranh chấp chủ quyền biển đảo với Trung Quốc.
“Nếu Việt Nam cứ bám vào kết quả phán quyết của Tòa Trọng Tài Quốc Tế ở The Hague, Trung Quốc có thể lấy hết các đảo và bãi đá ngầm mà ‘Hà Nội chiếm bất hợp pháp,’ như vậy, trên hết, sẽ gây thiệt hại cho lợi ích của họ ở Biển Đông.”
Tờ Hoàn Cầu Thời báo (phó bảng của tờ Nhân Dân Nhật Báo ở Bắc Kinh) hôm Thứ Tư, 31 tháng 8 thuật lời Song Zhongping (Tống Trung Bình) một nhân vật mà báo này gọi là “chuyên gia quân sự ở Bắc Kinh” bắn tiếng đe dọa như thế.

Tống Trung Bình được tờ Hoàn Cầu Thời Báo phỏng vấn nhân dịp tướng Ngô Xuân Lịch lần đầu tiên đến Bắc Kinh trong vai trò bộ trưởng Quốc Phòng Việt Nam để họp với người đồng nhiệm của Trung Quốc, Tướng Thường Vạn Toàn về mối quan hệ an ninh quốc phòng giữa hai nước “đồng chí anh em,” “núi liền núi, sông liền sông.”
Theo lời Tống Trung Bình nhận xét được dẫn lại trên báo tuyên truyền bán chính thức này của Bắc Kinh thì: “Một trong những mục tiêu chính của chuyến thăm của bộ trưởng Quốc Phòng Việt Nam là ngăn cản không cho mối quan hệ Trung Quốc – Việt Nam xấu đi sau phán quyết của Tòa Trọng Tài Quốc Tế đưa ra hồi Tháng Bảy.”
Ông Ngô Xuân Lịch được tờ Hoàn Cầu Thời Báo thuật lại từ bản tin Tân Hoa Xã nói ông đã nhấn mạnh rằng hai nước nên tăng cường hợp tác quân sự và nỗ lực lấy quan hệ quân sự làm yếu tố cốt lõi trong mối quan hệ song phương hầu đem lợi ích cho nhân dân hai nước.
Sau cuộc họp với tướng Thường Vạn Toàn, phái đoàn ông Ngô Xuân Lịch đã đến chào xã giao với Li Yuanchao (Lý Nguyên Triều), phó chủ tịch nước và Tướng Fan Changlong (Phạm Trường Long), phó chủ tịch Quân Ủy Trung Ương Trung Quốc.
Hoàn Cầu Thời Báo kể răng ông Lịch nói Việt Nam sẽ tiếp tục theo đuổi tình hữu nghị, lòng tin cậy lẫn nhau và hợp tác toàn diện với Trung Quốc.
Trong khi đó Thông Tấn Xã Việt Nam (TTXVN) đưa ra bài phỏng vấn Trung Tướng Vũ Chiến Thắng, cục trưởng Cục Đối Ngoại, Bộ Quốc Phòng CSVN về chuyến đi Bắc Kinh của phái đoàn ông Ngộ Xuân Lịch, ca ngợi “Hai bên thống nhất trong thời gian tới tiếp tục căn cứ theo nội dung Nghị định thư đã ký, đưa hợp tác đi vào chiều sâu đạt kết quả thiết thực hơn nữa.”
Nhưng ông này cũng úp mở đưa ra một thực tế “hai bên đã nhìn nhận thẳng thắn những vấn đề tồn tại trong quan hệ hai nước, thẳng thắn cho rằng những tồn tại này là cản trở đối với quan hệ giữa hai nước hiện nay.”
Tuy TTXVN hô hoán “Việt Nam – Trung Quốc nhất trí đưa hợp tác quốc phòng vào chiều sâu” nhưng tờ Đất Việt ở Hà Nội thuật lại lời ông Ngô Xuân Lịch (từng được Hà Nội lập lại nhiều lần trước đây) kêu gọi “không có hành động làm phức tạp, mở rộng tranh chấp và nhất là không sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực để giải quyết tranh chấp; duy trì hòa bình, ổn định ở Biển Đông.”
Trong khi ông Ngô Xuân Lịch đến Bắc Kinh, Ngoại Trưởng Hoa Kỳ John Kerry khi công du đến Ấn Độ lại kêu gọi Bắc Kinh nên tôn trọng phán quyết của Tòa Trọng Tài Quốc Tế The Hague về Biển Đông. Đồng thời ông cả quyết Hoa Kỳ và các nước đồng minh tiếp tục bảo vệ quyền tự do hàng hải.
Ông Kerry đến Ấn Độ trước khi tiếp tục hành trình đến dự Hội Nghị Thượng Đỉnh các nước trong khối G20 tại Hàng Châu trong hai ngày 4 và 5 tháng 9, 2016. Dự trù nguyên thủ của các nước lớn về kinh tế như Mỹ, Nga, Nhật, Đức, Úc, Canada, Hàn Quốc,… sẽ có mặt.
Như tin tức gần đây, Bắc Kinh sẽ cô gắng ngăn cản diễn đàn này trở thành nơi đả kích chủ trương bá quyền bành trướng của Bắc Kinh trên Biển Đông. (TN)