Friday, June 3, 2016

Tồn Tại: ước nguyện muôn đời

Nguyệt Quỳnh-4-6-2016
(VNTB) - Biển chết, muối nhiễm độc, đất ngập mặn… tổ quốc đang lâm nguy từng ngày. Số phận Việt Nam nằm trong tay của người dân Việt Nam. Hãy chọn lựa chỗ đứng của chính mình. Cùng lúc, lãnh đạo CS cũng muốn tồn tại. Họ muốn trở thành Theinsein hay ra đi như Gaddafi là chọn lựa của họ. Chúng ta muốn duy trì Việt Nam hay trở thành Tây Tạng thứ nhì là chọn lựa của chính chúng ta.
“Xin lỗi mẹ, con đã dấu vệt máu bầm trên vai
Chẳng biết từ dùi cui hay nắm đấm
Nhưng mẹ ơi! khi bị kéo lê trên đất
Là lúc con nhìn thấy được cả bầu trời xanh
Là lúc con cảm nhận nỗi tủi nhục của dân mình
Nếu hôm nay con không có mặt” (Hương Giang)
Những câu thơ trên nhắc tôi nhớ đến lời chào tạm biệt vào cuối cuộc phỏng vấn của một nhà hoạt động: “chúc mọi người sáng suốt, vững vàng để chúng ta cùng tồn tại.”Cùng tồn tại là điều mà nhiều nhà hoạt động hôm nay đang vô cùng lo lắng, nhất là khi mỗi ngày phải nhìn thấy hình ảnh xác cá chết trắng dọc theo bờ biển từ Hà Tĩnh đến Huế. Xác cá hay xác của dân mình trên một mảnh đất đã khô kiệt từ tài nguyên đến linh hồn con người! Nhìn quanh, đâu đâu cũng toàn nỗi hoang mang; những câu hỏi cứ treo lơ lửng không tìm thấy câu trả lời. Liệu dân tộc mình còn tồn tại được bao lâu giữa một rừng hóa chất độc hại trong thức ăn, trong nước uống hàng ngày? Liệu dân mình có nhìn thấy hiểm họa trước mắt? Làm thế nào để đánh thức nhau, để vượt qua sợ hãi khi đất nước đang ngắc ngoải từng ngày trong tay những tên thái thú và gã hàng xóm hung bạo?
***
Đất không còn lành nên chim không đậu cho dù đó là mảnh đất của ông cha mình. Mốc điểm của những ngày tháng này làm người ta nhớ đến lớp người đã âm thầm rời bỏ đất nước hơn 40 năm trước. Nếu xưa ta đau đớn biết bao thì nay hoàn toàn ngược lại; người Việt đang ước ao, khao khát tìm mọi cách để thoát khỏi Việt Nam. Không ai có thể sống bình yên khi nhìn Cửu Long giang khô hạn, chín con rồng không còn ôm những cánh đồng lúa chín mênh mông; xã hội bất ổn dẫy đầy bất công; chính phủ nhũng lạm, gian dối; người dân đói nghèo sẵn sàng thuốc chết nhau bằng thực phẩm độc hại; lãnh đạo khiếp nhược tiếp tục dập đầu trước mẹ ghẻ Bắc Kinh …
Nhiều lúc chúng ta vẫn tự thầm hỏi có hay không những tấm lòng, có hay không những giọt lệ nhỏ xuống trước những tai ương nối tiếp tai ương? Các thế hệ tương lai, con cháu chúng ta sẽ sống ra sao? Ai đã làm gì đất nước này? Chúng ta đã làm gì đất nước này? Đâu phải ai ai cũng có điều kiện dễ dàng để rời bỏ Việt Nam ngoại trừ thiểu số giàu có, hay các quan chức CS và con cháu của họ. Để tồn tại, để sống còn là chuyện của tất cả chúng ta, của tuyệt đại đa số người dân Việt Nam.
Các cuộc biểu tình vào những ngày cuối tuần của tháng Năm đã cho thấy khá rõ suy tư của nhiều người dân thầm lặng. Với sự kiên cường lạ lùng trước các trấn áp tàn bạo của đội ngũ công an, dân phòng,… đã lần đầu tiên cho thấy khát vọng tồn tại của dân ta. Có rất nhiều những khuôn mặt trẻ, rất nhiều những khuôn mặt lạ lần đầu tiên xuất hiện. Đã có đánh đập, đã có đổ máu nhưng hình ảnh người mẹ trẻ với khuôn mặt sưng húp ôm chặt lấy con chị trong vòng tay đã nói lên thật nhiều điều. Nếu nhìn về mặt tích cực, thái độ hung hãn – bất chấp người dân, đánh cho sợ – của lãnh đạo đảng đã thực sự giúp cho nhiều người thức tỉnh. Im lặng không còn là an toàn. Im lặng là chấp nhận cho chính mình và các thế hệ tương lai chết dần trước những tai hoạ do sự tham lam của lãnh đạo CS đem lại.
Điều đáng kể là đã có nhiều bậc cha mẹ đem theo con nhỏ trong các cuộc biểu tình này. Một số người bị bắt ném lên xe buýt đã run rẩy lo sợ khi các con nhỏ của họ bị bỏ lại trên đường phố. Bài học đầu đời cho các bé không êm ái như những trẻ em của các quốc gia khác. Người mẹ trẻ Ubee đã trao cho con gái chị bài học về quê hương có cả dùi cui và nước mắt. Tôi chắc bé Saphie sẽ nhớ mãi ngày hôm ấy.
Cách đây không lâu, tôi được xem một đoạn phim ngắn (video clip) của một bé gái Nhật Bản. Em chỉ độ bảy tám tuổi thôi, nhưng hành động của em chắc đã khiến nhiều người phải suy ngẫm về những giá trị cốt lõi của công dân tí hon này. Em bé mặc một bộ đồng phục áo trắng, váy xanh, đeo ba lô bình thường như bao cô bé tiểu học khác. Em đang trên đường đến trường. Đến một đoạn băng qua đường thì có một chiếc xe đậu lấn vào làn ranh dành cho người đi bộ. Với thái độ rất tự nhiên, bé gái dừng lại trước đầu xe, em chỉ cao hơn mũi xe một cái đầu. Em dơ hai ngón tay ra hiệu cho ngưới tài xế phải lùi lại, khi xe đã lùi một quãng, em lại bước thêm vài bước nữa để buộc xe lùi đúng lằn qui định. Lúc ấy đèn xanh bật lên, nhiều xe khác đã chạy qua nhưng chiếc xe nọ vẫn phải dừng vì em còn đứng đó. Chờ cho đến khi xe đậu vào đúng vị trí cho phép, em từ từ quay lại lằn ranh dành cho người đi bộ rồi lon ton chạy qua đường.
Chỉ với sự nhắc nhở của một bé gái, tôi đoan chắc là từ giây phút ấy trở về sau, người tài xế kia sẽ không bao giờ đậu xe lấn vào lằn ranh dành cho người đi bộ. Ý thức của một công dân đã được các bậc cha mẹ phả vào tâm hồn của bé gái ấy ngay khi còn thơ bé. Ý thức và nền tảng ấy quan trọng vô cùng, khi chỉ ra cái sai trái của người tài xế, bé gái ấy đã chứng tỏ sự hiện hữu của mình.
Chúng ta có hơn 90 triệu dân nhưng chúng ta đã khước từ sự hiện hữu đó. Khi mất Ải Nam Quan, đa số dân ta không dám lên tiếng. Khi lãnh đạo dâng nhượng lãnh thổ và lãnh hải cho Trung Quốc, ta im lặng. Ta cam chịu ngay cả khi Trung Quốc bắn chết 9 ngư dân ở Thanh Hóa lần đầu tiên. Để rồi kể từ ấy đến nay, trong tay lãnh đạo CS, đất nước phải gánh chịu hết thảm họa này đến thảm họa khác. Kịp đến khi ta nhận ra thì Cửu Long đã khô hạn, cá chết, muối nhiễm độc… kẻ thù và sự diệt vong đã đứng hẳn trong nhà.
***
Một điều mà xưa nay dân tộc ta luôn ghi nhớ: để được tồn tại đến ngày hôm nay, bên cạnh một đất nước bá quyền từng chinh phạt và muốn nuốt chửng cả thế giới – chưa hề là một phép lạ. Không phải chỉ ngày hôm nay mà hàng nghìn năm trước, rất nhiều lần Trung Quốc đã mong muốn nô lệ hóa và bóp chết dân tộc ta. Nhưng sự hung hãn của quân xâm lược phương Bắc ngày trước cũng chính là thước đo lòng ái quốc của quân dân Đại Việt. Cũng như vậy, sự đàn áp hung bạo của lãnh đạo cộng sản những ngày qua đang là thước đo sức mạnh trỗi dậy của người dân hôm nay.
Chỉ từ hơn một tháng qua, chúng ta mới dám hi vọng về sự tồn tại của dân tộc mình trước sự xuất hiện của Lòng Dân qua những khuôn mặt rất trẻ, rất vững vàng trong đoàn biểu tình. Nhưng muốn tồn tại, chúng ta cần phải có Số Đông một dạ một lòng. Số Đông của những bậc cha mẹ thương yêu con cái và biết cách âu lo cho tương lai của chúng; của thanh niên thiếu nữ biết quên nỗi sợ áo cơm mà nhớ đến nỗi sợ diệt vong; của kẻ sĩ tỉnh thức thấy rõ cái danh hão là nhục, cái khôn lỏi là hèn. Và sau cùng, của tầng lớp công an hung ác đang tiếp sức cho hệ thống bạo lực; sớm biết dừng lại vì hiểu rõ hiểm nguy của chính mình trong tình trạng đất nước chạng vạng sắp tới bình minh.
Để thể hiện sức mạnh hiện hữu thực sự, Số Đông ấy cần học cách đứng sát cạnh nhau để bù đắp những khiếm khuyết và bảo vệ nhau trong lúc nguy nan. Hãy sáng suốt và bao dung cất giữ vào quá khứ tất cả những lỗi lầm của nhau hôm qua, để kẻ thù không thể tiếp tục tung hoả mù khiến chúng ta hao tổn sức lực đánh nhầm vào anh em. Số Đông ấy lúc đó mới thực sự là con dân của 4000 năm, của Lý Thường Kiệt, của Trần Hưng Đạo, của Quang Trung Nguyễn Huệ,… tự tin, vững vàng, bước tới giành lại sự tồn tại mà ông cha ta đã gìn giữ suốt bao đời.
Những cuộc biểu tình vừa qua đã cho thấy rõ khát vọng tồn tại của dân ta. Nhưng đó chỉ mới là những đốm lửa nhỏ, chúng ta cần kiên trì tiếp lửa cho nhau để tạo thành số đông, đủ sức giải quyết bằng được  những vấn nạn của đất nước. Biển chết, muối nhiễm độc, đất ngập mặn… tổ quốc đang lâm nguy từng ngày. Số phận Việt Nam nằm trong tay của người dân Việt Nam. Hãy chọn lựa chỗ đứng của chính mình. Cùng lúc, lãnh đạo CS cũng muốn tồn tại. Họ muốn trở thành Theinsein hay ra đi như Gaddafi là chọn lựa của họ. Chúng ta muốn duy trì Việt Nam hay trở thành Tây Tạng thứ nhì là chọn lựa của chính chúng ta.

Từ thành phố này ông sẽ ra đi…

Trần Hồng Tâm-03-06-2016

(VNTB) - Miệng ông Thăng ca la thăng nhưng tay ông chơi la giáng. Ông giáng dùi cui, roi điện, đấm đá, túi bụi lên đầu người Sài Gòn đang tố cáo tội ác Formosa, đang khóc cho Vũng Áng, đang gởi niềm thương nhớ về khúc ruột miền Trung.

 
Tên ông là La Thăng. Tay ông chơi đàn guitar, miệng ca vang bài hát viết cho giọng la thăng. Khi ông được Bộ Chính trị bổ nhiệm trở thành Bí thư Thành ủy Sài Gòn, người ta mong ông mang lại những giai điệu la thăng đầy ngẫu hứng thành phố này.

Ông Thăng sinh ra ở miền quê Nam Định. Người Sài Gòn mong ông mang chút hơi hướng của những hạt phù sa vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng kết nối với chất hào sảng, phóng khoáng của người Nam bộ. Ông sẽ vượt ra khỏi thói đố kỵ, bảo thủ, hẹp hòi, mang lại sinh lực, lành mạnh cho một thành phố mười triệu dân. 

Vật lộn với đói nghèo và chiến tranh ở miền đất Sơn Nam Hạ, tuổi thơ của ông cũng thấm đượm chút nhân ái của thi ca trong những làn điệu hát văn, hát ru, hát giai, hát xẩm. Tâm hồn ông cũng chan chứa nỗi cô đơn, khắc khoải, nặng trĩu tâm tư của những thi sỹ lừng danh quê hương ông như cụ Tú Xương, Nguyễn Bính, Nguyên Hồng, Trần Dần hay Trần Mạnh Hảo.

Hoặc giả, ông cũng mang dáng dấp của những đồng hương tiên phong như Trường Chinh - Kiến trúc sư của Đổi Mới; Trần Xuân Bách, Nguyễn Cơ Thạch dám hy sinh sự nghiệp chính trị để bảo vệ chứng kiến của mình, hay Nguyễn Văn An - dám công khai những “lỗi hệ thống” cần dẹp bỏ.

Người ta mong ông kết liễu nạn cát cứ, lãnh chúa, lãnh địa, rừng nào cọp đó, trên bảo dưới không nghe, bè phái ở Sài Gòn kéo dài nhiều năm.

Nhưng mới nửa năm từ ngày ông nhậm chức những xiêm y rủng rỉnh cầu kỳ mà ngành truyền thông quốc doanh khoác lên người ông đã bị lột bỏ.

Tính nhân văn của ông Thăng không bằng Võ Văn Thưởng. Khi biểu tình nổ ra tại Quảng Ngãi, ông Thưởng không dùng dùi cui, hơi cay, côn đồ hay cảnh sát. Ông Thưởng giản dị  gặp dân, lắng nghe những lời khao khát. 

Nguyễn Bá Thanh của Đà Nẵng gần dân hơn. Ông Thanh vụt hiện lên như một thủ lãnh miền Trung, một thuyền trưởng dám đứng mũi chịu sào, nhậu với dân xe ôm, đá banh với đám thanh niên đường phố, hùng biện hàng giờ đồng hồ bằng ngôn ngữ xứ Quảng không cần nhìn vào những bản nghị quyết khô cứng, vô hồn, sáo rỗng của những con mọt sách Bắc kỳ.

Tầm nhìn và cách làm việc của ông Thăng không bằng Võ Văn Kiệt. Ông Kiệt hành động theo sự mách bảo của lương tri. Ông Kiệt cả gan xé rào để hồi sinh thành phố. Ông Kiệt vượt ra khỏi tầm nhìn hẹp hòi, định kiến, chủ nghĩa lý lịch. Ông Kiệt tin dùng công chức của Việt Nam Cộng Hòa.

 ***

Ngoài chuyện ông Thăng tự xưng là “Tư lệnh” toàn quyền quyết định trên chiến trường, và những màn “trảm tướng”, thì người ta chưa thấy ông La Thăng ca lên giai điệu la thăng nào đáng kể.

Sự kiện dân Sài Gòn biểu tình những ngày nửa đầu tháng Năm này là do lòng căm phẫn về tội ác của Formosa, là sự tức giận về thái độ bao che cho tội ác, là cơn thịnh nộ trút lên những kẻ vô trách nhiệm với đất nước.

Nhất định không phải hành động lật đổ chính quyền của Việt Tân. Đổ lỗi cho Việt Tân là một mánh khóe, một thủ đoạn. Tiếc thay, ông Thăng đã ngả theo đám thủ dâm chính trị.

Dưới ánh sáng mặt trời phương Nam, Sài Gòn nhìn thi thể ông Thăng rõ ràng hơn. Hình như Sài Gòn đã thất vọng. Những cây sao trăm tuổi ủ rũ, lặng câm ngơ ngẩn dưới chiều mưa như kẻ thất tình đang nhấm nháp lại lời cay đắng vang vọng một thời: “Giết người đi! Giết người đi! Giết người trong mộng đã bội thề... Giết người như loài bướm đong đưa…”

Miệng ông Thăng ca la thăng nhưng tay ông chơi la giáng. Ông giáng dùi cui, roi điện, đấm đá, túi bụi lên đầu người Sài Gòn đang tố cáo tội ác Formosa, đang khóc cho Vũng Áng, đang gởi niềm thương nhớ về khúc ruột miền Trung.

Bên cạnh hình ảnh đầy cảm xúc về một La Thăng “Miệng ca tay gẩy khúc đàn tương tư”, giờ đây lại có một La Thăng khác đang phùng mang, trợn mắt giáng những cú đấm cú đá vào mặt những em bé và phụ nữ tài sắc vẹn toàn của Hòn ngọc Viễn đông.

Giờ đây thì ông Thăng có thể rất tự hào ôm đàn, cất cao tiếng hát “Từ thành phố này Người đã ra đi. Bao năm ước mơ, đón Bác trở về…”.

Nhưng cũng từ thành phố này còn có hàng triệu người gạt nước mắt ra đi, không mong ngày trở lại.

Một duyên hai nợ ba tình
Chữ duyên chi vướng, mối tình ai mang.

Ông Thăng tới Sài Gòn bởi nhân duyên của Đảng, nhưng còn nợ, còn tình?


Nhưng chẳng lẽ ông ra đi mà không để lại đây những dấu ấn của tình yêu thương và của khát vọng Sài Gòn.?

Đặc khu kinh tế TP. HCM: Khoảng cách xa vời giữa ước mơ và hiện thực

Quốc Vĩnh-03-06-2016
BizLIVE-Cuối tháng 5/2016, trong buổi làm việc với Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ về phát triển kinh tế TP. HCM, Bí thư Thành ủy Đinh La Thăng đã có những câu phát biểu khá ấn tượng: “TP.HCM là đầu tàu mà đang thực hiện cơ chế của toa tàu”, “với cơ chế hiện nay, TP. HCM không ”đột phá” mà chỉ có “đột tử”…

Đặc khu kinh tế TP. HCM: Khoảng cách xa vời giữa ước mơ và hiện thực
    Tâm huyết muốn TP. HCM được xây dựng thành “ đặc khu kinh tế”, “một thành phố đáng sống’ của Bí thư Thăng cũng là mong ước của lãnh đạo TP. HCM qua các thời kỳ, là kỳ vọng của người dân nhưng không thưc hiện được vì có quá nhiều “rào cản” và nếu không dở bỏ những rào cản đó thì đặc khu kinh tế TP. HCM vẫn chỉ là "một câu chuyện xa vời".
    Trung ương và địa phương đều loay hoay, lúng túng
    Chúng ta còn nhớ là Việt Nam đã từng có đặc khu kinh tế. Đó là đặc khu kinh tế Vũng Tàu – Côn Đảo được thành lập năm 1979, cùng thời với đặc khu Thâm Quyến của Trung Quốc, nhằm phát huy thế mạnh của địa phương này trong việc khai thác dầu mỏ, khí đốt, đánh cá, du lịch...
    Nhưng về mặt thực chất, đặc khu này không có đặc quyền gì mà chỉ là đơn vị hành chính tương đương cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Đến năm 1991, đặc khu này bị “xoá sổ” và trở thành tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu như hiện nay.
    Đầu năm 1998, khi TP.HCM đang chuẩn bị dự án kiến nghị Trung ương phát triển thành phố thành đặc khu kinh tế thì Trung ương lại chọn Chu Lai (Quảng Nam) để thành lập khu kinh tế mở.
    Năm 1999, Bộ Chính trị đồng ý cho Quảng Nam triển khai khu kinh tế mở Chu Lai với một số ưu đãi về đầu tư hạ tầng, về thuế... Năm năm sau (2004), các nhà đầu tư mới thật sự bỏ vốn lập cơ sở sản xuất tại khu kinh tế mở này.
    Với lợi thế có cảng Kỳ Hà nước sâu, có đường băng của sân bay Chu Lai do quân đội Mỹ để lại thuộc loại tốt nhất Việt Nam, có quốc lộ 1A băng ngang, những người soạn thảo dự án khu kinh tế mở Chu Lai đã vẽ ra một viễn cảnh nhộn nhịp các nhà đầu tư nước ngoài, trong nước sẽ đổ bộ vào đây với một cơ sở hạ tầng hoành tráng của khu phi thuế quan (cảng tự do), khu công nghiệp, khu đô thị, khu du lịch...
    Diện tích khu kinh tế mở này rộng đến 32.400 ha, dự kiến lúc đó đến 2010 còn tính mở rộng thêm 10.000 ha thuộc huyện Thanh Bình và huyện Di Xuyên.
    12 năm qua, khu kinh tế mở Chu Lai “thu hoạch” được gì? Nói thất bại hoàn toàn thì cũng không đúng, nhưng những gì mang lại được quá thấp so với kỳ vọng ban đầu.
    Cho đến nay, khu kinh tế mở Chu Lai thu hút được số vốn đầu tư đã đươc giải ngân trên 900 triệu USD của các nhà đầu tư xây dựng cơ sở sản xuất, quá thấp so với các khu công nghiệp sinh sau đẻ muộn sau này.
    Trong đó, riêng ô tô Trường Hải đã đầu tư tới 400 triệu USD, chiếm gần một nửa tổng vốn đầu tư đã giải ngân tại Chu Lai. Nhiều dự án chưa được triển khai còn dở dang.
    Giả định nếu ô tô Trường Hải rút khỏi Chu Lai, ngân sách của Quảng Nam sẽ nguy to, vì số tiền thuế của Trường Hải nộp hàng năm chiếm hơn 50% tổng số thuế mà Quảng Nam thu được.
    Điều đáng nói là sau khi khu kinh tế mở Chu Lai được cấp phép, hàng loạt các tỉnh duyên hải “nhao nhao” đòi phải có khu kinh tế mở, Trung ương cũng đã đồng thuận và cấp phép cho 14 tỉnh làm khu kinh tế mở.
    “Phong trào” kinh tế mở nhạt nhoà, không mang lại hiệu quả rõ rệt. Tiến sĩ Lê Đăng Doanh nhận định khu kinh tế mở kiểu như Chu Lai thực chất chỉ là một khu công nghiệp không hơn, không kém, không tạo ra bứt phá nào.
    Lắng đi một thời gian, đến năm 2013-2014, một loạt tỉnh muốn trở thành đặc khu kinh tế đã lập dự án và gửi ra Trung ương. Đó là tỉnh Kiên Giang với đặc khu Phú Quốc, tỉnh Quảng Ninh với đặc khu Vân Đồn, tỉnh Khánh Hoà với đặc khu Vân Phong. Một số tỉnh cũng rục rịch xin có đặc khu như tỉnh Quảng Ngãi (đặc khu Dung Quất, tỉnh Bình Định ...
    Ngay cả một doanh nghiệp đầu tư nước ngoài như Formosa ở Hà Tĩnh cũng đòi làm đặc khu sản xuất thép.
    Ở TP. HCM, Uỷ ban Nhân dân thành phố cũng đã thông qua dự án đặc khu do Viện Nghiên cứu và Phát triển TP. HCM dự thảo. Theo đó, đặc khu này sẽ hướng ra biển, bao gồm một phần quận 7, một phần huyện Bình Chánh, hai huyện Nhà Bè, Cần Giờ với tổng dân số gồm 700.000 dân.
    Theo dự án, tiền cho thuê đất sẽ kéo dài tới 99 năm chứ không phải 50 năm như quy định hiện nay.
    Đặc khu TP. HCM sẽ mất một thời gian từ năm 2016 đến 2025 sẽ khảo sát, hoàn thiện khung thể chế, định hình bộ máy, từ 2025 đến 2035 mới bắt đầu đầu tư chiều sâu.Vốn dự kiến là 5 tỷ USD để xây dựng hạ tầng.
    Trước tình hình quá nhiều địa phương muốn làm đặc khu kinh tế, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã giao cho Bộ Tư pháp làm dự thảo về luật đặc khu kinh tế.
    Đầu tháng 8/2014, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trong cuộc họp với các địa phương về đặc khu kinh tế đã yêu cầu Bộ Tài chính hoãn việc công bố dự thảo luật về đặc khu kinh tế vì” chưa được nghiên cứu toàn diện, chưa được kiểm nghiệm trong thực tế, nhiều quy định vượt khung (thuế, đầu tư hạ tầng hạ tầng, thẩm quyền đặc biệt của chính quyền đặc khu)”.
    Dự thảo luật này coi như...phá sản! Khi thông tin về sự kiện này, một tờ báo giật một cái tựa rất kêu “ Tan vỡ mộng làm đặc khu”!
    Thực tế cho tới nay, cả Trung ương và địa phương đều loay hoay, lúng túng, chưa hình thành được một khuôn khổ pháp lý nào cho đặc khu kinh tế và đây cũng là lý do mà một số dự án đặc khu kinh tế Phú Quốc, Vân Đồn. dự án “chính quyền đô thị” của TP. HCM... vẫn còn nằm ở Văn phòng Chính phủ, chưa đưa được ra trình Quốc hội.
    Mặc áo mới như thế nào?
    Ai cũng thấy chiếc áo mà TP. HCM mặc đã quá cũ kỹ, cần phải thay áo mới nghĩa là phải có thể chế, chính sách để thúc đẩy thành phố, trong đó, có thể phát triển theo loại hình đặc khu kinh tế.
    Chữ “đặc” trong đặc khu kinh tế nghĩa là cơ chế, chính sách đặc biệt. Theo đó, đặc khu kinh tế là một vùng lãnh thổ đặc biệt của quốc gia, có ranh giới địa lý xác định, có dân cư sinh sống. Ở đó áp dụng những chính sách thích hợp cho việc phát triển kinh tế tự do theo cơ chế thị trường và mang tính chất mở cho các nhà đầu tư nước ngoài.
    Tại đặc khu kinh tế, có tất cả các loại hình khác nhau của khu kinh tế tự do như khu thương mại tự do, cảng tự do, khu công nghiệp, khu chế xuất, kho chứa hàng miễn thuế...
    Với cách thức tổ chức như vậy, sự liên kết hoàn chỉnh giữa các loại hình này, giữa các ngành nghề đã tạo nên một bức tranh tổng thể thống nhất, tạo nên một ưu thế vượt trội so với loại hình khu chế xuất, khu công nghiệp.
    Năm 1979, khi Thâm Quyến, đặc khu kinh tế đầu tiên của Trung Quốc được hình thành, chính quyền địa phương căn cứ vào nghị quyết Trung ương về việc thành lập đặc khu và ra những văn bản pháo luật điều hành riêng cho đặc khu Thâm Quyến.
    Chính nhờ quyền lực bao trùm của ông Đặng Tiểu Bình lúc đó, Thâm Quyến mới có những đặc ân như vậy.
    Nó là một “quốc gia trong một quốc gia” như tiến sĩ Trần Du Lịch nhận định.
    Việt Nam chưa giải quyết được vấn đề này nên rất dễ hiểu là dự thảo về luật đặc khu kinh tế đã bị hoãn vô thời hạn vì những quy định để thành lập đặc khu đã vượt khung tất cả những luật hiện hành như luật về ngân sách, luật về thuế, về xuất nhập khẩu luật về tổ chức chính quyền địa phương. .
    Ông bà ta thường nói “Có thực mới vực được đạo”, nếu không có ngân sách để xây dựng đặc khu kinh tế thì cũng không tạo ra được hình hài.
    Từ một làng chài vô danh, Thâm Quyến đã được Trung ương cấp cho “vốn mồi ” 100 triệu nhân dân tệ lúc khởi đầu để xây dựng cơ sở hạ tầng, mời gọi các nhà đầu tư.
    Nhiều năm qua, TP. HCM đã kiến nghị nhiều lần tăng ngân sách được giữ lại để tái đầu tư nhưng không được Trung ương chấp nhận.
    Hơn hai thập kỷ qua, từ khi được Tổng Bí thư Lê Duẩn giao nhiệm vụ “Vì cả nước, cùng cả nước”, TP. HCM hàng năm chiếm 20% GDP của cả nước và chiếm gần 30% ngân sách của các tỉnh thành trong cả nước nộp cho Trung ương nhưng chỉ đươc giữ lại 25% nguồn thu.
    Trong lúc đó, các đô thị khác được giữ lại từ 40 đến 100% nguồn thu rồi còn nhận thêm ngân sách của Trung ương. Riêng Hà Nội được giữ lại hơn 40% ngân sách.
    Bước sang năm 2016, tình hình ngân sách cả nước căng một sợi dây đàn, trong đó, gần 40% để trả nợ và hơn 60% để chi thường xuyên.
    Giả định rằng TP. HCM được Trung ương cho xây dựng đặc khu kinh tế thì tái đầu tư từ nguồn ngân sách nào? Và nếu Trung ương cho thành phố giữ lại 100% ngân sách để tái đầu tư như Đại biểu Quốc hội Trần Du Lịch đề nghị và đã đươc đăng trên các báo thì chắc chắn sẽ mất cân đối ngân sách của toàn bộ cả nước.
    Nếu không có cơ chế đặc thù cho TP. HCM với sự đồng thuận và quyết định cho thi hành của Bộ Chính trị, Chính phủ, Quốc hội, thì việc xây dựng đặc khu kinh tế TP. HCM chỉ dừng lại ở… những ý tưởng và mộng ước mà thôi!

    An ninh Việt Nam - các chuyên gia vẽ dự án

    Đoan Trang-03-06-2016
    Cảnh tượng thường thấy trước cổng nhà TS. Nguyễn Quang A.
    Sáng nay (2/6/2016), TS. Nguyễn Quang A bị công an bắt lên xe ô-tô đưa lên tận Lạng Sơn, trong khi ông đang đi tập thể dục, cởi trần mặc quần soóc. Lý do bắt ông, như thường lệ, là do an ninh muốn làm việc, trên cơ sở “có nguồn tin” rằng ông kết hợp với Mỹ và EU để chống phá đất nước.

    Nhiều người có thể thắc mắc là tại sao an ninh Việt Nam vu vạ trắng trợn như vậy trong khi biết thừa là ông Quang A không bao giờ chống phá đất nước và càng không bao giờ dựa vào Mỹ hay EU. Ai quen biết ông đều hiểu ông A chủ trương "độc lập với bên ngoài" và "trong nước quyết định" đến như thế nào. Bản thân TS. Nguyễn Quang A cũng rất phẫn nộ khi bị vu vạ; ông khẳng định "thông tin" mà an ninh nhận được là thông tin rởm, bố láo.

    Tuy thế, an ninh vẫn nhất định vu ông Nguyễn Quang A như vậy.

    Tương tự, an ninh Việt Nam ra rả vu khống những người đi biểu tình là “nhận tiền phản động”, “ăn tiền Việt Tân” để “gây rối”, “chống phá”, trong khi biết thừa là không phải như thế.

    Tại sao vậy? Tại sao biết mười mươi là không phải nhưng vẫn phải cố công vu vạ?

    Câu trả lời rất đơn giản: Một lần nữa, vấn đề nằm ở chữ “tiền”.

    Có lẽ rất ít người dân thường hình dung được rằng, những gì lực lượng an ninh lâu nay vẫn làm đối với phong trào đối lập thật ra chẳng phải vì lý tưởng bảo vệ CNXH, bảo vệ chế độ hay cái gì đó tương tự, mà đơn giản là để kiếm ăn. Trong Bộ Công an, kinh phí cho các hoạt động như chống buôn lậu, chống hàng giả, điều tra hình sự, v.v. có thể cao thấp thế nào tùy bộ phận, chứ riêng kinh phí cho công tác “đấu tranh chống phản động” thì luôn hết sức dồi dào.

    Đồng chí an ninh nào có năng lực, quan hệ tốt, thông tin nhiều, thì ngoài chuyện giải ngân các dự án “trên” giao, thậm chí còn vẽ được dự án để kiếm chác thêm.

    Điều làm chúng ta đau khổ, là những nhà hoạt động nhân quyền-dân chủ như TS. Nguyễn Quang A, với an ninh, thật ra chẳng là gì đâu - không phải gián điệp cho nước ngoài mà cũng chẳng phải là tội phạm nguy hiểm đe dọa an ninh quốc gia. Họ chỉ đơn giản là những dự án trong mắt lực lượng an ninh mà thôi, riêng ông Quang A là một dự án rất béo bở. "Đừng cãi mất công", trước những bộ mặt lì lì trơ tráo của Cơ quan An ninh Điều tra Bộ Công an, ông Nguyễn Quang A nhất định phải là kẻ "phản quốc, vọng ngoại, chống phá đất nước", vì an ninh muốn thế.

    Mỗi cá nhân/tổ chức “phản động” là một dự án. Tất cả chỉ có vậy.

    Nên đừng ngạc nhiên vì sao bạn biết rõ bạn đi biểu tình vì yêu nước, mà an ninh cứ nhất định bảo họ “có nguồn tin cho rằng” bạn nhận tiền của Việt Tân để đi gây rối. Đừng ngạc nhiên vì sao họ dựng ra tới 200 tổ chức phản động trên toàn Việt Nam. Đừng ngạc nhiên vì sao hồ sơ về nhiều nhà hoạt động cứ dày cộp, mà thực ra chính bạn cũng phải nhận xét là những người đó "có làm gì đâu".

    Chẳng có nguồn tin nào cả, an ninh bịa ra đấy thôi. Không có phản động, họ lấy gì mà báo cáo, lấy cớ gì mà giải ngân!

    (Blog Đoan Trang)

    Ngân hàng “xiết nợ” ngư dân – Chó cắn áo rách

    GNsP (03.06.2016) – Đời sống của bà con ngư dân ở các tỉnh Miền Trung rơi vào bế tắc sau vụ thảm họa ô nhiễm môi trường biển do nhân tai gây ra. Cơ nghiệp của bà con ngư dân bị mất sạch, không chuyển đổi được nghề nghiệp khi nghề truyền thống của gia đình là ngư nghiệp. Rơi vào ngõ cụt, không hướng giải quyết, còn nhà chức trách vô cảm và phủi trách nhiệm.
    Nhiều con thuyền phơi nắng dọc các bờ biển, nằm chết một chỗ. Trong những ánh mắt của người già, người cha, người mẹ là nỗi lo lắng cho tương lai của những đứa con khi gia đình mất “nghiệp”. Miếng ăn không đủ no, mặc không đủ ấm, nơi sống bị ô nhiễm, không nghề không nghiệp thì việc cho con cái đi học là một chuyện ngoài tầm tay của nhiều bậc cha mẹ, và họ đã chua xót khi nghĩ đến chuyện cho con nghỉ học để tìm kế sinh nhai.
    Đã nghèo nhưng lại khổ hơn khi nhiều gia đình ngư dân rơi vào tình trạng bị ngân hàng xiết nợ do họ vay mượn vốn đóng tàu thuyền ra khơi.
    Đó là thực trạng của các ngư dân thuộc giáo xứ Cồn Sẻ, xã Quảng Lộc, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình.
    Mất “nghiệp”
    Đa phần bà con giáo dân giáo xứ Cồn Sẻ sống chủ yếu là ngư nghiệp lâu đời. Giáo xứ Cồn Sẻ nằm ở giữa đất bồi ở hạ lưu Sông Gianh. Hằng năm, cứ vào tháng 10, họ gánh chịu những cơn bão, mưa giông đổ về làm ngập lụt cả giáo xứ và các vùng lân cận. Đã khốn khổ nay lại phải cam chịu lãnh tất cả các hậu quả ô nhiễm môi trường biển do nhân tai gây ra.
    Quản xứ giáo xứ Cồn Sẻ là Lm Phêrô Maria Hoàng Anh Ngợi. Ngài là một trong những vị linh mục thao thức về người nghèo, dấn thân hết mình vì người nghèo và mạnh mẽ đấu tranh các quyền tối thiểu của người dân trong thời gian vừa qua.
    06.-Gao-gup-Gx.-Con-Se-5.2016-768x576
    Giáo xứ Cồn Sẻ kêu cứu khi ngư nghiệp mất do thảm họa ô nhiễm môi trường biển.
    13245358_1068111306569904_6445317339838836490_n
    Những bao gạo từ tấm lòng hảo tâm của mọi người trong và ngoài nước được Lm Phêrô Maria Hoàng Anh Ngợi, Quản xứ Cồn Sẻ chia sẻ cho bà con ngư dân lương cũng như người Công giáo.
    Lm Phêrô Maria Hoàng Anh Ngợi là một trong những vị linh mục thao thức về người nghèo, dấn thân hết mình vì người nghèo và mạnh mẽ đấu tranh các quyền tối thiểu của người dân trong thời gian vừa qua.
    Lm Phêrô Maria Hoàng Anh Ngợi là một trong những vị linh mục thao thức về người nghèo, dấn thân hết mình vì người nghèo và mạnh mẽ đấu tranh các quyền tối thiểu của người dân trong thời gian vừa qua.
    Căn nhà tềnh toàng của ngư dân.
    Căn nhà tềnh toàng của ngư dân.
    Trong chuyến từ thiện chia sẻ gạo vào cuối tháng 05.2016 với mục đích thăm hỏi các gia đình ngư dân tại giáo xứ Cồn Sẻ của Nhóm Fiat do Lm Giuse Lê Quang Uy, DCCT thành lập, Nhóm đã có dịp trò chuyện và gặp gỡ nhiều ngư dân. Qua sự quan sát, Lm Giuse chia sẻ về đời sống của bà con ngư dân hiện tại:
    “Ý chí của bà con rất mạnh nhưng gần như họ đang bị trói tay trói chân bởi vì biển bị nhiễm độc và cá đã chết, thậm chí bà con ngư dân đánh lưới xuống biển thì vớt lên chỉ còn có xương cá thôi. Nhiều bà con ở đây không phải là những ngư dân đi đánh bắt xa bờ nên không có những phương tiện hiện đại, họ chỉ có thuyền nhỏ và ghe. Đánh bắt gần bờ thì không còn cá, do đó họ phải liều lĩnh bằng những chiếc tàu nhỏ, những chiếc ghe để đi đánh bắt xa bờ nên họ sẽ gặp nguy hiểm rất nhiều nếu như gặp sóng lớn, hoặc gặp tàu Trung Cộng. Và, ngư dân ở đây cũng cho biết, khi đánh bắt xa bờ thì cá cũng không còn nhiều. Trong khi đó chi phí đánh bắt xa bờ rất cao mà lượng cá đánh bắt được ít quá thì sẽ lỗ, nhưng bản năng của người đánh cá họ không thể ngồi yên được, họ vẫn có niềm hy vọng nên họ muốn đi đánh bắt để được tí nào hay tí đó.”
    Tuy rơi vào hoàn cảnh thiếu thốn đủ mọi bề sau vụ thảm họa, tiền thiếu trước hụt sau nhưng nhiều ngư dân ở đây kiên quyết từ chối những lời dụ ngon dụ ngọt của các thương lái khi họ đến hỏi mua số cá chết về để tiêu thụ. Lm Giuse nói:
    “Nhiều thương lái đã dụ dỗ bà con bán lại cá ở đây kể cả cá đã chết và đang ngáp ngáp với giá rẻ, để về chế biến và bán như là cá tươi cho người ta làm nước nắm hoặc cá khô. Những người dân ở đây họ có lương tâm nên họ không tiếp tay với các thương lái này. Nếu nhà nước mà không mạnh tay thì các sản phẩm này sẽ trôi nổi và không chừng chúng ta sẽ ăn nhằm các loại sản phẩm này.”
    Ngân hàng xiết nợ
    Khi “nghiệp” đánh bắt thủy hải sản chết chân tại chỗ thì tất cả các dịch vụ vệ tinh khác xoay quanh nghề biển đều dừng lại và đứng yên như vá lưới, làm phao… Trong tình cảnh khốn đốn của các ngư dân không biết xoay sở công việc làm ăn thế nào, thì cơ hội mong manh duy nhất của họ là chỉ còn biết bám víu vào nhà chức trách với hy vọng có phương án hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp, để cuộc sống gia đình được ổn định hơn, nhưng niềm hy vọng ấy bị nhà cầm quyền chà đạp một cách nhẫn tâm khi họ dùng hệ thống ngân hàng xiết nợ các ngư dân. Linh mục Giuse cho hay:
    “Cha xứ [giáo xứ Cồn Sẻ] chia sẻ rằng, UBND Huyện trong lúc này không cứu trợ cho bà con ngư dân mà lại dùng ngân hàng để xiết nợ. Đáng lẽ ra [họ] phải giảm nợ hoặc xóa nợ cho bà con ngư dân. Đời sống của bà con rất éo le, họ vay nợ ngân hàng rất nhiều nhưng số tiền đó không đủ để đóng một cái ghe, nhiều người hùn lại vẫn không đủ. Do đó, họ vay thêm tiền của nhà nước để xây nhà, sau đó thế chấp căn nhà để vay thêm một khoản khác thì mới có đủ vốn để đóng một con tàu, nhưng bây giờ con tàu nằm một chỗ, không làm ra tiền thì nhà nước đến siết nợ và chồng chất thêm những nỗi thống khổ cho  ngư dân nơi đây.”
    Trẻ em có nguy cơ thất học
    Sự bế tắc ấy không có hướng giải quyết bởi vấn đề quá lớn, quá tầm tay của bà con ngư dân và trách nhiệm này thuộc về nhà cầm quyền buộc họ phải can đảm, mạnh mẽ dõng dạc công khai nguyên nhân dẫn đến biển bị ô nhiễm trầm trọng như hiện nay. Nếu nhà cầm quyền làm được điều đó thì bà con ngư dân sẽ chung tay góp sức giải quyết vấn đề, nếu không, sẽ là “án tử” cho đời sống bà con ngư dân và là một “tương lai chết” của cả dân tộc VN. Linh mục Giuse bật khóc và chia sẻ:
    “Người dân họ chia sẻ với chúng tôi rằng, những đứa con của họ đang đi học sẽ bỏ học, một em học sinh lớp 4 một năm học phải đóng học phí 1,4 triệu. Bây giờ không có tiền ăn thì lấy tiền đâu đóng học phí cho con, thì chắc chắn cháu bé này nghỉ học sẽ tham gia vào lực lượng những đám trẻ không được học hành và có thể đi bán vé số, bưng bê, bán hàng… Những người trẻ [ở đây] đã nghĩ đến chuyện họ sẽ phải dời đi. Đây là một thảm họa cho những ngư dân đang gắn bó với biển, họ đang sống an lành… bây giờ bị đánh bật ra khỏi mảnh đất của họ, họ đi sang nơi khác thì dù là đồng bào có cưu mang, có che chở, có nâng đỡ thì họ vẫn là những người tha phương và nỗi đau không thể hàn gắn được các vết thương ấy về lâu về dài.”
    Nhà nước hỗ trợ gạo xấu và ẩm
    Sau khi xảy ra thảm họa ô nhiễm môi trường biển, nhà chức trách hứa hẹn hỗ trợ 15kg gạo cho một người, nhưng cho đến thời điểm hiện tại, họ chỉ hỗ trợ 10kg gạo xấu và ẩm cho một hộ gia đình, mỗi hộ có ít nhất 5 nhân khẩu nhiều nhất là 15 nhân khẩu.  Linh mục Giuse cho hay:
    “Nhà nước tuyên truyền, vận động và hứa hẹn có gạo cho dân. Theo như lời cha Sở kể, họ nói sẽ hỗ trợ 15 ký gạo cho một người, nhưng bây giờ họ chỉ hỗ trợ 10 ký gạo cho một hộ gia đình mà đây là gạo xấu và ẩm, họ không thể ăn được. Nhiều người dân Cồn Sẻ đang ở trong tình trạng rất khốn đốn, không biết nên đổi nghề gì đây, có lẽ họ phải bỏ quê đi tha phương cầu thực vào các thành phố lớn để làm ăn.”
    Giải thoát nào cho ngư dân?
    Lm Giuse cũng cho hay, từ lời kêu cứu “hết đường sống” của của Lm Phêrô Maria khi tàu về neo đậu kín cả sông và cho đến nay không được một lời giải thích nguyên nhân dẫn đến cá chết hàng loạt vào tháng 4.2016 từ phía nhà cầm quyền, thì Lm Giuse đã cấp tốc đưa ra lời kêu gọi cứu trợ cho bà con nơi đây.
    Chỉ trong khoảng thời gian ngắn ngủi vài ngày, Lm Giuse đã nhận được hơn 1 tỷ rưỡi của các tấm lòng hảo tâm trong và ngoài nước gửi về, đặc biệt trong số đó Hội Bác Ái Phanxicô đã chung sức đóng góp 20.000 USA (gần 500.000.000 VNĐ). Số tiền này, Lm Giuse đã chuyển hết cho Lm Phêrô Maria để mua gạo, phân phối cho bà con ngư dân đang thiếu thốn.
    Lm Giuse mong muốn: “Khi trở về cùng lúc được biết Caritas của HĐGMVN đã bắt đầu nhập cuộc thì chắc chắn họ sẽ làm mạnh hơn, nhanh hơn nên tôi muốn mời gọi các Đức cha, Dòng tu, các giáo xứ và anh chị em giáo dân hướng lòng mình về Miền Trung, để hiểu được nỗi khổ của họ và giúp được họ cái nào hay cái đó. Chúng ta phải liên đới với nhau thì mới tạo được một sức mạnh và làm cho phía nhà nước phải rục rịch, phải thay đổi và phải làm một cái gì đó cho bà con ngư dân.”
    Tuy nhiên, phương án cứu trợ gạo hoặc các nhu yếu phẩm không phải là kế hoạch dài lâu bởi người nghèo có lòng tự trọng, họ muốn tự lực cáng sinh và phát triển bằng ý chí, sức mạnh của họ. Lm Giuse băn khoăn:
    “Chúng tôi băn khoăn một điều là chả lẽ chúng ta cứ tiếp tục quyên góp, chả lẽ chúng ta cứ tiếp tục giúp cho họ bát cơm bát gạo trong khi đó vấn đề là giải quyết là cái nghề của họ, họ có sức, có ý chí và có tay nghề nhưng tất cả đã sụp đổ hết thì bây giờ họ sẽ sống làm sao đây. Họ có lòng tự trọng để không tiếp tục ngửa tay xin chúng ta cứu trợ. Họ chờ đợi trước hết là nhà nước có phương án chuyển đổi nghề nghiệp cho họ. Đa số [ngư dân ở đây] là những người Công giáo và họ mong muốn Giáo hội Công giáo thay họ là tiếng nói đủ mạnh để nói chuyện với các cấp lãnh đạo cao hơn về nỗi thống khổ của họ.”
    Nếu cứ cứu trợ mãi thì đất nước không thể phát triển. Đất nước chỉ hồi sinh khi người dân đứng trên đôi chân của họ làm chủ đất nước.
    Nếu nhà cầm quyền xác định Fomosa có lỗi xả thải, họ sẽ phải bồi thường cho ngư dân. Đây là bài học của Vedan khi bị xác đinh xả thải gây ô nhiễm và phải bồi thường, phải chăng đây cũng là “động cơ” khiến nhà cầm quyền chưa thể “minh bạch” nguyên nhân cá chết?
    Huyền Trang, GNsP