Sunday, March 6, 2016

Dân bầu quốc hội cho đảng xơi

1
“Tính đến ngày bầu cử được công bố, công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đủ mười tám tuổi trở lên có quyền bầu cử và đủ hai mươi mốt tuổi trở lên có quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp theo quy định của Luật này. Người ứng cử đại biểu Quốc hội phải đáp ứng các tiêu chuẩn của đại biểu Quốc hội quy định tại Luật tổ chức Quốc hội.”
Luật số 85/2015/QH13 quy định về “Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân”, ban hành ngày 25 tháng 06 năm 2015 viết như thế, nhưng thủ tục phải vượt qua và điều kiện phải hội đủ của người ứng cử, tính tới tính lui lại không thoát được cái bẫy “đảng cử dân bầu” phản dân chủ như bấy lâu nay.
HÀNH TRÌNH VÀO RỌ
Cuộc bầu cử Quốc hội khoá XIV và Hội đồng Nhân dân nhiệm kỳ 2016 – 2021 sẽ diễn ra trên tòan quốc cùng ngày 22/05/2016, nhưng mọi con mắt chỉ tập trung vào bầu 500 Đại biểu Quốc hội.
Tại sao?
Vì rằng, Luật viết rất ngon lành, nghe lọt lỗ tai vì dân vì nước, nhưng khi thực hành thì Luật chung biến thành lệ riêng của đảng theo tiêu chí bảo sao làm vậy. Không ai được cãi hay làm trái, kể cả cử tri cũng không dám bỏ đi bầu, dù biết hay không người ứng cử ở đơn vị mình.
Theo Luật Tổ chức Quốc Hội (57/2014/QH13 ngày 20 tháng 11 năm 2014) thì ứng cử viên phải:
1. Trung thành với Tổ quốc, Nhân dân và Hiến pháp, phấn đấu thực hiện công cuộc đổi mới, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
2. Có phẩm chất đạo đức tốt, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, gương mẫu chấp hành pháp luật; có bản lĩnh, kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền và các hành vi vi phạm pháp luật khác.
3. Có trình độ văn hóa, chuyên môn, có đủ năng lực, sức khỏe, kinh nghiệm công tác và uy tín để thực hiện nhiệm vụ đại biểu Quốc hội.
4. Liên hệ chặt chẽ với Nhân dân, lắng nghe ý kiến của Nhân dân, được Nhân dân tín nhiệm.
5. Có điều kiện tham gia các hoạt động của Quốc hội.”
Khác với điều kiện vào Ban Chấp hành Trung ương đảng XII, các ứng viên Quốc hội không buộc phải tiên quyết “tuyệt đối trung thành với Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh”.
Việc này chả có nghĩa lý gì vì có tới 99.9% Đại biểu 500 người sẽ là đảng viên. Số còn lại 1% người ngòai đảng được cho vào Quốc hội cũng chỉ để trang trí cho nhà nước bớt hình ảnh độc tài mà thôi.
Và để cuộc bầu cử tăng phần nghiêm chỉnh, Tổng Bí thư đảng Nguyễn Phú Trọng còn thay mặt Bộ Chính trị bầy vẽ thêm điều kiện trong chỉ thị ngày 04/01/2016, theo đó sẽ: “Không đưa vào danh sách ứng cử người có biểu hiện cơ hội chính trị, tham vọng quyền lực; có tư tưởng cục bộ, bảo thủ; đang bị thanh tra, kiểm tra dấu hiệu vi phạm; đã bị các cơ quan có thẩm quyền kết luận không trung thực; người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị để xảy ra những vụ, việc tham nhũng, lãng phí, mất đoàn kết nghiêm trọng.”
Nhưng trong hồ sơ ứng cử, ngoài bản kê khai lý lịch có ghi trình độ học vấn, khả năng chuyên môn, ngọai ngữ, đảng viên hay không và bản khai tài sản, thu nhập không thấy người ứng cử phải nạp giấy chứng nhận không thuộc thành phần bị Bộ Chính trị nghiêm cấm, hay phải có giấy chứng xác nhận “Có phẩm chất đạo đức tốt, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư.”
Chuyện này cũng dễ hiểu vì đảng cầm quyền Cộng sản Việt Nam (CSVN) chưa có tiền lệ và khả năng thẩm định cán bộ, đảng viên ai đã giữ và làm được lời dậy của ông Hồ Chí Minh rằng “dân là chủ, Đảng là người lãnh đạo, người đày tớ thật trung thành của nhân dân”.
Bằng chứng sau 86 năm thành lập đảng (3/2/1930 – 3/2/2016) và sau 12 lần đại hội, chưa bao giờ người dân được quyền làm chủ đất nước của mình để quyết định vận mệnh Quốc gia. Bầu cử cũng chỉ là hình thức hợp thức hóa những người đảng muốn đóng vai “đại biểu”. Nhưng những người này có làm tròn bổn phận đại diện dân trong vai trò lập pháp và giám sát chính phủ hay chỉ biết làm “nghị gật” theo lệnh đảng?
Vì vậy tiêu chuẩn chọn người vào Quốc hội khóa 14 đang được đặc biệt quan tâm trong hàng ngũ đảng viên. Ông Đỗ Duy Thường, nguyên Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam được Đài Tiếng nói Việt Nam (Voice of Việt Nam, VOV) trích lời nói rằng: “Tiêu chuẩn đại biểu Quốc hội là rất quan trọng. “Phải cụ thể hóa tiêu chuẩn đại biểu Quốc hội nếu cứ tiêu chuẩn chung chung sẽ rất khó cho Mặt trận trong hiệp thương, giới thiệu nhân sự cho bầu cử. Cần có quy định cụ thể về phẩm chất đạo đức, tư tưởng chính trị để lựa chọn được những người có tâm.” (VOV, 31/12/2015)
Trong khóa Quốc hội khoá XIII sắp mãn nhiệm có tổng cộng 500 người được bầu thì một số rất đông không bao giờ phát biểu, chất vấn hay phản biện tại diễn đàn Quốc hội từ ngày đắc cử năm 2011. Khóa này cũng có 2 nữ Đại biểu Đặng Thị Hòang Yến (khai gian lý lịch), đơn vị 1 Tỉnh Long An và Châu Thị Thu Nga (sai phạm trong kinh doanh), đơn vị Hà Nội bị bãi nhiệm.
Số Đại biểu dám ăn dám nói tại diễn đàn Quốc hội trong các khóa, may ra được chừng 20 người là nhiều nhưng chưa bao giờ các Đại biểu biết làm luật trình ra Quốc hội là điều chỉ có trong hệ thống gọi là Lập pháp của nhà nước Việt Nam!
Như vậy, nếu Quốc hội có bị mang tiếng là cơ quan bù nhìn chỉ để “đóng dấu” chấp thuận các quyết định của đảng thì cũng chẳng oan gì.
CƠ CẤU VÀ CHIA GHẾ
Nhưng đảng CSVN lại không nghĩ đó là chuyện rất xấu hổ của một nhà nước tự cho mình có pháp quyền, và có dân chủ hơn nhiều nước trên thế giới.
Ngay đến chuyện gọi là “cơ cấu” người của các cơ quan, tổ chức, đơn vị ở Trung ương và địa phương vào mỗi kỳ bầu Quốc hội cũng là chuyện rất tự nhiên và hãnh diện của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH).
Ủy ban này đã phân bổ số người được vào Quốc hội khoá XIV sắp tới là 500 người, giống như Khóa XIII, gồm 302 người là Đại Biểu ở địa phương và 198 là Đại Biểu ở Trung ương.
Tổng số người sẽ được chọn cho ra ứng cử vào khỏang 896, lấy ra từ các cơ quan đảng, nhà nước, quân đội, công an và các ngành nghề trong xã hội, kể cả người dân tộc, thanh niên và phụ nữ.
Nhà nước khoe phân chia như thế là thể hiện tính đại diện đa dạng của dân trong Quốc hội, cơ quan quyền lực cao nhất của nhà nước. Như vậy, sẽ có 396 ứng viên bị đánh bại (896 trừ đi 500 đắc cử) để tránh tai tiếng từng có các đơn vị bầu cử trước đây chỉ có 1 ứng cử viên nên dân hết đường chọn.
Nhưng ai có quyền chọn người cho ra tranh cử Quốc hội? Luật Bầu cử Quốc Hội quy định dành quyền cho Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (MTTQ), tổ chức ngọai vi của đảng đứng ra “hiệp thương” để “lựa chọn, giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp.”
MTTQ cũng được “tham gia giám sát việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp.”
Như vậy, đảng vừa tổ chức bầu cử, chọn ứng cử viên cho dân bỏ phiếu lấy lệ rồi kiêm luôn nhiệm vụ giám sát bầu cử thì dân có phải là những hình nộm trong tiến trình “đảng cử dân bầu” không ?
Theo kế hoạch của Hội đồng bầu cử Quốc gia, do Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng làm Chủ tịch, thì công tác hiệp thương sẽ diển ra trong 3 giai đọan, bắt đầu từ tháng 03/2016. Lần thứ nhất họp để thỏa thuận về cơ cấu, thành phần và số lượng người của cơ quan, tổ chức, đơn vị giới thiệu ứng cử ĐBQH, theo kế họach của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Sau đó, theo báo chí Việt Nam, “các cơ quan đơn vị ở Trung ương tiến hành giới thiệu những người ứng cử đại biểu Quốc hội. Tiếp theo, Đoàn Chủ tịch UBTƯ MTTQ Việt Nam tổ chức hội nghị hiệp thương lần 2 (từ 16/3 đến 18/3) để thỏa thuận lập danh sách sơ bộ những người ứng cử đại biểu Quốc hội. Sau đó sẽ tổ chức lấy ý kiến nhận xét và tín nhiệm của cử tri nơi cư trú và nơi công tác hoặc nơi làm việc về người ứng cử đại biểu Quốc hội (từ 20/3 đến 12/4).
Lần hiệp thương lần thứ 3, theo MTTQ, “sẽ được tổ chức trong khoảng thời gian từ 13/4 đến 17/4/2016.”
Nhà nước đang tuyên truyền “Đại biểu Quốc hội phải là người nói được tiếng nói của quần chúng”, nhưng tiếng nói và nguyện vọng của dân đã có bao giờ được đảng tôn trọng đâu.
Thời gian hiệp thương chọn ứng cử viên vào Quốc hội của MTTQ là giai đọan có nhiều tranh cãi, và chạy chọt giữa các cá nhân và đơn vị để được đề cử. Công tác này dự kiến khó tránh khỏi những va chạm giữa những người tự ra ứng cử và quyết định chọn người của MTTQ, cũng như tại các cuộc họp lấy ý kiến của nhân dân nơi ứng cử viên cư trú.
Trong qúa khứ đã xẩy ra những cuộc đạo diễn của MTTQ phối hợp với địa phương để lọai bỏ những người muốn ra tranh cử, nhưng không vừa ý đảng bộ cơ sở, dù những người này có trình độ và khả năng vượt xa người của tổ chức.
Năm nay, 2016, đã có một số người hoạt động dân chủ tuyên bố sẽ ra tranh cử vào Quốc hội, tiêu biểu như Tiến sỹ Nguyễn Quang A, Ông Nguyễn Đình Hà, Ông Nguyễn Tường Thụy, Luật sư Lê Văn Luân, Bà Đặng Phương Bích, v.v… Nhưng liệu các ứng cử viên độc lập có vượt qua khỏi “hàng rào chính trị” của các tổ dân phố và ủy ban MTTQ địa phương hay không là một câu hỏi rất lớn trong tiến trình dân chủ ở Việt Nam.
Ông Lù Văn Que, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc Trung ương đã cảnh giác:”Mặt trận cần nêu cao vai trò, quyền dân chủ của dân để khắc phục tình trạng “đảng cử dân bầu”, hiệp thương chỉ để hợp pháp hóa.” (Theo Đài Tiếng nói Việt Nam, VOV, 31/12/2015)
Hãy chờ xem đảng CSVN có dám đồi diện với phong trào tự ứng cử vào Quốc hội của những nhà hoạt động dân chủ trong nước hay chỉ muốn dân làm cỗ sẵn cho đảng xơi như các kỳ bầu cử trước ? -/-
Phạm Trần
(03/016)
Theo VietNamDalily.News

Cương thi Tàu cộng hay cương thi Việt cộng

Nguyễn Thành Trí – Sài Gòn, Chủ Nhật 6/3/2016
1
Những người đã từng xem phim Tàu ma quái kinh dị đều rất thích xem phim cương thi, những xác chết thường thường là các quan triều đình Mãn Thanh đột ngột sống lại, hút máu người sống ở cổ làm cho người sống bị nó hút máu trở thành cương thi.  Có một đặc điểm của Cương Thi Tàu Cộng hiện đại là nó đã đang hút hết máu của nền kinh-tài Hoa Lục, và làm cho nền kinh-tài Hoa Lục trở thành cương thi.  Cương Thi Tàu Cộng đã không giết chết người chỉ huy của nó là Đảng và Nhà Nước Tàu Cộng, bởi vì đảng và nhà nước cộng sản loại này đã đang và sẽ còn tiếp tục duy trì, giữ gìn, nuôi dưỡng bọn cương thi; ngược lại, bọn cương thi đã đang biến đổi Đảng và Nhà Nước Tàu Cộng trở thành những cương thi cộng sản trên thực tế cũng giống như trong phim Tàu ma quái kinh dị. 
Tương tự như chuyện vừa kể trên, Cương Thi Tàu Cộng từ nhiều năm trước cũng đã truyền giống cương thi cộng sản chính cống Tàu Cộng sang Việt Nam và đã chắc chắn tạo ra hàng loạt Cương Thi Việt Cộng. Một cách có hệ thống Cương Thi Việt Cộng cũng đã và đang hút hết máu của nền kinh-tài Việt Nam khiến cho cả nước Việt Nam có những người bị nó hút máu và trở thành cương thi; tuy nhiên Cương Thi Việt Cộng cũng đã không giết chết Đảng và Nhà Nước Việt Cộng. Bởi vì Cương Thi Việt Cộng chỉ làm biến đổi Đảng và Nhà Nước Việt Cộng trở thành những cương thi cộng sản như những người chủ của nó ở mẫu quốc Hoa Lục, để cuối cùng tất cả vẫn có thể tiếp tục kéo dài cuộc sống cương thi cộng sản của cả bọn Cương Thi Tàu Cộng và Cương Thi Việt Cộng gọp chung lại.
Quả thật Cương Thi Tàu Cộng và Cương Thi Việt Cộng chính là những Tập Đoàn Kinh Tế Quốc Doanh/State-Owned Enterprises/SOEs của hai đảng Tàu Cộng-Việt Cộng đã từng giao hợp tạo ra bọn chúng khi thực hành việc làm kinh tế thị trường với vốn tư bản nhà nước định hướng xã-nghĩa một cách hàm hồ, lố bịch.  Lẽ tất nhiên dễ hiểu là cả hai Đảng và Nhà Nước Tàu Cộng-Việt Cộng phải giữ gìn, nuôi dưỡng, tận lực duy trì những Tập Đoàn Kinh Tế Quốc Doanh/SOEs này bằng mọi cách trong mọi hoàn cảnh kinh-tài trên thực tế ở Hoa Lục và Việt Nam. 
Càng ngày người ta nhận thấy càng rõ ràng hơn là cả hai Đảng và Nhà Nước Tàu Cộng-Việt Cộng đang cố ý kéo dài thêm hơn nữa thời gian cải cách kinh tế và cải tổ toàn bộ các SOEs của đảng và nhà nước. Tại sao? Các SOEs của đảng và nhà nước là những cơ chế tổ chức truyền thống tham nhũng an toàn của Đảng và Nhà Nước Tàu Cộng-Việt Cộng mà chính đảng và nhà nước không phải chịu trách nhiệm trước Nhân Dân Hoa Lục và Nhân Dân Việt Nam.
Người ta có thể kể trích đoạn sơ lược lịch sử của SOEs/Cương Thi Tàu Cộng-Việt Cộng như sau, vào năm 2008 trong lúc nền kinh tế thế giới suy thoái thì ở hai nước Hoa Lục và Việt Nam cả hai Đảng và Nhà Nước Tàu Cộng-Việt Cộng đã cùng in ra những khối lượng quá nhiều tiền Mao và tiền Hồ, và đã cùng có những chương trình kích cầu rất lớn để tránh tác động của tình trạng kinh tế thế giới suy thoái trầm trọng.  Kết quả ngay sau đó là số lượng nợ của Hoa Lục và Việt Nam bắt đầu tăng lên càng ngày càng nhiều kể từ năm 2008 cho tới nay. Cả hai Đảng và Nhà Nước Tàu Cộng-Việt Cộng đã có sự chấp thuận cho phép cứ việc cho vay tối đa để các địa phương có tiền xây dựng đường xá, cầu cống, nhà cửa, khu thương mại, tượng đài, v.v… những thứ có thể tạo ra một bộ mặt xã hội phát triển phồn vinh giả tạo, cũng để tuyên truyền cho các nhân tài chỉ huy kinh tế của cả hai Đảng và Nhà Nước Tàu Cộng-Việt Cộng, để tạo phép lạ của sự phát triển kinh tế thị trường vốn tư bản nhà nước ở Hoa Lục và Việt Nam, đồng thời cũng đã tạo ra, giữ gìn và nuôi dưỡng rất nhiều công ty cương thi doanh nghiệp nhà nước và nhiều Tập Đoàn Kinh Tế Quốc Doanh/State Owned Enterprises/ SOEs có qui mô lớn với một hệ thống tham nhũng càng ngày càng phức tạp, tinh vi hơn trước và ở ngay trong cơ thể của đảng bởi vì trong máu của đảng cũng có máu cương thi cộng sản!
Có những tình huống xấu nhất sẽ có thể xảy ra cho cả hai nền kinh-tài Hoa Lục-Việt Nam khi cả hai nhà nước cương thi cộng sản này không còn đủ thời gian để trình diễn tiếp vài màn xiếc-cải-cách nữa, vì sắp tới những màn “trình-diện-cải-tạo” của hai tập thể SOEs/Cương Thi Tàu Cộng và SOEs/Cương Thi Việt Cộng bằng vài màn trình diễn chống tham nhũng bắt giữ vài tên đầu sỏ thao túng kinh-tài quốc doanh để tuyên truyền phô trương tiêu biểu “tề gia đạo lạm quyền và trị quốc doanh tham nhũng” như chiến dịch “đả hổ đập ruồi” của Đảng Trưởng Xi đã đang được thực hiện ở Hoa Lục.  Còn ở Việt Nam thì Đảng và Nhà Nước Việt Cộng đã đang làm thế nào?  Tuy nhiên, rất rõ ràng Hoa Lục và Việt Nam đúng là hai nền kinh-tài quốc doanh có nhiều doanh nghiệp nhà nước giữ vai trò chủ đạo.  
Cả hai tập thể SOEs/Cương Thi Tàu Cộng và SOEs/ Cương Thi Việt Cộng là hai đứa con cưng luôn được giữ gìn chăm nom cẩn thận của hai đảng và nhà nước cộng sản, nên không thể nhanh chóng từ bỏ hoặc triệt để cải tạo chúng nó, bởi vì làm như vậy sẽ có nguy cơ sụp đổ cả hệ thống thể chế cộng sản, một trường hợp tương tự như đã xảy ra cho Liên Bang Sô Viết. Chính là bài học giá trị Liên Sô đã khiến cho cả hai Đảng và Nhà Nước Tàu Cộng-Việt Cộng phải vận dụng mọi cách để kéo dài sự tồn tại của cả hai tập thể SOEs/Cương Thi Tàu Cộng và SOEs/Cương Thi Việt Cộng thêm một thời gian lâu chừng nào tốt chừng ấy.
Rất rõ ràng là cả hai nhà nước cương thi cộng sản này vẫn cứ phải cung cấp thêm tiền cho cả hai tập thể SOEs/Cương Thi Tàu Cộng và SOEs/ Cương Thi Việt Cộng cũng giống như hình ảnh hai bầy đàn cương thi đang hút thêm máu của hai nền kinh-tài Hoa Lục-Việt Nam.  Quả thật cả hai tập thể SOEs/Cương Thi Tàu Cộng và SOEs/ Cương Thi Việt Nam đang càng ngày càng không làm gì ra tiền sanh lợi cho nền kinh-tài quốc doanh; ngược lại, càng ngày càng không thể trả hết nợ.  Căn cứ theo số liệu đáng tin cậy của tổ chức McKinsey Global Institute thì tổng số nợ của Hoa Lục Tàu Cộng là từ 6.6 ngàn tỉ đôla vào nửa năm 2007 đã tăng lên 31.9 ngàn tỉ đôla vào nửa năm 2015. Nó tương đương 290% phần trăm của GDP Hoa Lục, một tỉ lệ phần trăm quá cao một cách đáng sợ đối với một nền kinh-tài vẩn còn đang phát triển như Hoa Lục Tàu Cộng.  
Thế còn tổng số nợ của Việt Cộng thì sao?  Nợ là một vấn đề luôn bị Đảng và Nhà Nước Việt Cộng che giấu; đôi khi các số liệu chính thức đưa ra lại khác nhau. Chính Thủ Tướng Việt Cộng cũng nhận thấy “cách tính của các địa phương không giống ai, không xác thực, không đúng thực tế” làm rối thông tin.  Gần đây trong một báo cáo của Công Ty Chứng Khoán TPHCM (HSC) nêu ra tổng số nợ của Việt Nam đã vượt 93 tỉ đôla Mỹ. và nhận xét đây là mức đáng báo động vì đã vượt mức 65%  giới hạn an toàn.
Cũng có thêm một điều thú vị là trong lúc các khu vực xuất cảng hàng hoá giảm sút, du lịch càng ngày càng vắng khách, xí nghiệp gia công sản xuất phải đóng cửa, số người thất nghiệp càng tăng nhiều, v.v… đã như thế mà chỉ số GDP của Hoa Lục và Việt Nam lại tăng lên. Không còn ai dám tin những số liệu kinh tế của cả hai Đảng và Nhà Nước Tàu Cộng -Việt Cộng nữa rồi! Nếu số liệu thống kê kinh tế của nhà nước chính thức đưa ra được trung thực, đầy đủ, rõ ràng về cả hai nền kinh-tài cương thi cộng sản Hoa Lục-Việt Nam thì sự thật mức tăng trưởng của Hoa Lục và Việt Nam có lẽ ở khoản 2-3% thay vì 6-7% như cả hai Đảng và Nhà Nước Tàu Cộng-Việt Cộng đã công bố khoa trương.
Để kết luận ngắn gọn là có một chuyện cần ghi nhớ các loại “Bùa Phép Đô La” của IMF không thể ngăn chặn, vô hiệu hoá được bọn cương thi cộng sản; trái lại chỉ làm cho bọn cương thi cộng sản càng sống lâu hơn, càng ngất ngây, cuồng dại, ngoan cố, hung bạo hơn nữa.  Để đạt hiệu quả cao tiêu diệt cả bọn Cương Thi Tàu Cộng-Cương Thi Việt Cộng thì cần phải có rất nhiều thuốc súng nổ tung cả bọn tàn dư cương thi cộng sản./.
Theo VietNamDalily.News

Nội dung hiện đại của một nền dân chủ chên chính

Nguyễn Cao Quyền-03-05-2016 
1
Sau khi được Đại Hội 12 giữ lại và cho tiếp tục ngồi ghế tổng bí thư, Nguyễn Phú Trọng đã qua mặt dân chọn đích danh ba chức vụ quan trọng nhất của nhà nước là : Trần Đại Quang làm chủ tịch nước, Nguyễn Xuân Phúc làm thủ tướng, Nguyễn thi Kim Ngân làm chủ tịch Quốc Hội.  Vậy thì thử hỏi dân bầu vào lúc nào mà y gọi là dân chủ, mà không những thế, lại còn cương lên là “dân chủ đến thế là cùng”.  
Những đoạn viết dưới đây nhằm chủ đích cho Nguyễn Phú Trọng học thêm, để từ nay hắn chấm dứt những sự phát ngôn bừa bãi nơi cộng cộng.
                                                                        *
                                                                   *       *
Con người từ thuở binh minh của nhân loại đã có nhu cầu kết xã.  Nhưng chính sự kết xã này đã gây ra cho con người rất nhiều phiền phức.  Cái phiền phức lớn nhất xuất phát từ tính ích kỷ tự nhiên : phần đông chỉ biết nghĩ đến mình và không đếm xỉa gì đến quyền lợi của người khác.  Chính tính ích kỷ không khắc phục và được thả lỏng này đã đưa đến nạn độc tài, tai họa lớn nhất của nhân loại kể từ thời thượng cổ.
Đó là lý do tại sao chúng ta cần dân chủ và tất cả mọi người phải đấu tranh cho dân chủ.  Dân chủ không bao hàm ý nghĩa của sự toàn thiện, toàn mỹ, nhưng nó là một hình thức cai trị độc nhất tôn trọng nhân phẩm và bảo vệ quyền sống của con người.  Vào thời điểm chúng ta đang sống, cao trào dân chủ là một sự vận động chính trị có tầm mức quan trọng chưa từng thấy trong lịch sử nhân loại.
Tuy nhiên, sự xuất hiện của một nền dân chủ đôi khi vẫn chưa là một bảo đảm chắc chắn cho cuộc sống dân chủ của con người trong xã hội, cho nên cần phải biết tới những bảo đảm cần thiết cho một nền “dân chủ chân chính” để bảo vệ, phát huy và củng cố.
Ba tiêu chuẩn căn bản của một nền dân chủ
Những tiêu chuẩn căn bản của một nền dân chủ là những điều mà mọi người sống trong những nước dân chủ văn minh đều đã biết, tuy nhiên vẫn cần nhắc lại để mở rộng tầm hiểu biết của một số người sống dưới chế độ cộng sản quá u tối trước một vấn đề có tầm mức quan trọng hàng đầu.
1/ Dân chủ là một hình thức chính quyền do dân bầu lên để cai trị đất nước.  Chính quyền này bao gồm hành pháp, lập pháp và tư pháp.  Tư pháp có thể được chỉ định vì tính cách chuyên môn cùa ngành này.  Nhưng hành pháp (người đứng đầu hành pháp) và lập pháp phải được dân bầu lên qua những cuộc bầu cử tự do và lương thiện.
Khi người dân đi bầu bằng lá phiếu của mình thì bất cứ ai được đa số phiếu là người đó thắng cử vì được nhân dân tín nhiệm nhiều hơn cả.  Cho nên trong thể chế dân chủ những người lãnh đạo luôn luôn phải ý thức rằng quyền hành của họ xuất phát từ sự ủy nhiệm của người dân, và như thế có nghĩa là họ có thể bị truất phế bất cứ lúc nào nếu người dân thấy rằng họ không còn đại diện hoặc không còn đấu tranh cho quyền lợi của người dân  nữa.
2/ Thể chế dân chủ nào cũng có một hiến pháp.  Hiến pháp là văn bản luật pháp cao nhất, một văn bản luật pháp đứng trên tất cả những văn bản luật pháp khác.  Hiến pháp phải được công bố cho mọi người dân được biết và phải được thi hành nghiêm chỉnh.  Hiến pháp có thể bị thay thế nhưng thủ tục thay thế rất chặt chẽ và đòi hỏi nhiều ý kiến mới lạ trong tranh luận hơn là khi bàn thảo về những đạo luật thường.
3/ Dân chủ đòi hỏi phải tôn trọng nhân quyền.  Nhân quyền là những quyền căn bản của con người mà một bản hiến pháp dân chủ bắt buộc phải tôn vinh và nhìn nhận.  Những quyền căn bản đó là : quyền được hưởng tự do, quyền được tùy nghi lựa chọn tín ngưỡng, quyền ngôn luận, quyền hội họp và quyền bình đẳng trước pháp luật. Trong một xã hội dân chủ, người dân không thể bị bắt và bị bỏ tù vì tín ngưỡng hay vì những hành vi chính trị bất bạo động của mình.
Những tiêu chuẩn căn bản trên cần được phổ biến rộng rãi đến mọi thành phần dân chúng trong nước bằng cách diễn tả rất đơn sơ và giản dị để cho ai cũng có thể hiểu được một cách dễ dàng.
Bốn đòi hỏi chính yếu của một nền dân chủ
Mặc dù đã hội đủ ba tiêu chuẩn căn bản nói trên, một nền dân chủ vẫn có thể không trường tồn vì thiếu một trong những đòi hỏi sau đây :
Đòi hỏi thứ nhất :  Một nền dân chủ cần nhất phải loại bỏ mọi hình thức bạo lực.  Đối với con người bạo lực là một điều rất tự nhiên, một bản tính dường như ai cũng có.  Chính vì vậy mà từ mấy ngàn năm nay bạo lực đã là công cụ chính yếu để con người đàn áp con người, để các quan đàn áp ngu dân, để kẻ thống trị đàn áp người bị trị, và để nước mạnh đô hộ nước yếu.  Cho tới ngày nay, vũ lực, tra tấn, giết chóc vẫn còn được khai dụng rộng rãi trong chính trị.  Do đó đòi hỏi thứ nhất của một nền dân chủ là con người phải thiết lập và duy trì những quan hệ thân hữu và tương kính giữa con người với nhau.  Vũ lực phải được thay thế bằng tranh luận và thuyết phục trong mọi quyết định chính trị vào thời đại ngày nay.
Thật ra trong thực tế, không thể nào loại bỏ hoàn toàn vũ lực vì dù là chính quyền nào đi nữa thì cũng vẫn còn cần tới vũ lực để khống chế vũ lực.  Nhưng một chính quyền dân chủ phải có khả năng kiểm soát vũ lực, nghĩa là kiểm soát cảnh sát và quân độị .  Không làm được việc này thì độc tài sẽ trỗi dậy.
Đòi hỏi thứ hai : Một nền dân chủ phải bảo đảm được tự do và bình đẳng cho mọi người trong nước.  Chính quyền không phải được đặt ra để quản lý mọi thứ trong đời sống của người dân.  Những vị đại biểu được dân bầu lên phải ý thức rằng cái cốt lõi của thể chế dân chủ là tự do cho tất cả mọi người, và sở dĩ họ được bầu là để nuôi dưỡng và bảo vệ sự tự do đó chứ không phải để duy trì những chế độ độc tài.  Chính vì lý do này mà nhà nước phải hạn chế quyền hạn của mình nhiều chừng nào tốt chừng ấy.  Tôn trọng tự do của người dân là bổn phận của nhà nước chứ không phải là ban phước cho dân.
Đòi hỏi thứ ba : Một nền dân chủ phải được điều hành theo luật pháp.  Luật pháp là phương tiện để thực hiện công lý.  Luật pháp và dân chủ phải như hình với bóng.  Nếu người dân biết luật, biết những gì họ có thể làm và những gì họ không được phép làm thì họ sẽ giữ mình để không phạm pháp và xã hội sẽ phát triển trong hòa bình và ổn định.
Các xã hội xưa không có luật.  Cuộc Cách Mạng Dân Chủ 1789 tại Pháp đã lấy quyền làm luật từ tay vua để chuyển sang tay quốc hội.  Đây là một bước tiến lớn của nhân loại theo chiều hướng dân chủ như ta thấy hiện nay.
Đòi hỏi thứ tư :  Một nền dân chủ phải được xây dựng trên lẽ phải. Kiến thức cho một cá nhân rất cần thiết cho nền dân chủ.  Tai sao ?  Bới vì kiến thức giúp ta nhận biết và phân biệt được những điều phải quấy để cư xử như những người công dân lương thiện.  Nếu trong một nước mà thành phần dân chúng gồm toàn những công dân lương thiện thì  chế độ chính trị tại nước đó sẽ là một chế độ dân chủ tốt đẹp và trường tồn.
Cuộc đại cách mạng dân chủ toàn cầu và những biến thái của các nền dân chủ phôi thai.
Cuộc cách mạng dân chủ toàn cầu khởi phát vào lúc 12  giờ 25 đêm 25/4/1974 tại thủ đô Lisbon xứ Bồ Đào Nha.  Đêm hôm ấy, sau khi đài phát thanh Lisbon phát xong bản hát Grandola Vila Morena thì một cuộc đảo chánh chống độc tài do các sĩ quan trẻ thuộc tổ chứcMovimento Das Forcas Armanda đã nổ ra và nhanh chóng thành  công.
Chỉ trong hai tiếng đồng hồ phe đao chánh đã làm chủ được tình hình khắp mọi nơi trong thủ đô.  Khi trời sáng dân chúng đổ xô ra đường hoan hô những người lính trẻ và cắm hoa cẩm chướng lên nòng súng của họ.  Đến trưa nhà độc tài Marcello Caetano đầu hàng và Bồ Đào Nha trở thành một quốc gia dân chủ sau mấy chục năm quằn quại dưới bàn tay sắt của Antonio Salazar.  Cuộc cách mạng Bồ Đào Nha năm 1974 được gọi là Cuộc Cách Mạng Cẩm Chướng(Revoluion Of Carnations).
Cuộc cách mạng này tuy được nhiều người ca tụng nhưng thật ra chỉ là một bộ phận nhỏ của phong trào “dân chủ hoá toàn cầu” bắt đầu vào cùng một thời điểm.  Tại Brazil, dưới áp lực của quần chúng, năm 1974 tướng Ernesto Geisel cũng đã phải nhượng bộ và thi hành chính sách mở cửa.  Ở Tây Ban Nha trong khi chờ đơi nhà độc tàiFranco qua đời, thủ tướng Carlos Arias đã ban hành nhiều biện pháp dân chủ.  Ở Hy Lạp, tình hình chính trị căng thẳng liên tục vì những đòi hỏi dân chủ của người dân và các đòi hỏi này đã dẫn đến sự sụp đổ chế độ của các vị đại tá, cũng vào giữa năm  1974.
Cao trào dân chủ hóa toàn cầu cứ mỗi ngày một lan rộng không ngừng nghỉ và cao điểm mà nó đạt tới là các năm 1989-1991 khi nhân loại chứng kiến sự tan rã bất ngờ của các chế độ cộng sàn Đông Âu và của quê hương cách mạng vô sàn Liên Sô.  Kể từ thời điểm này người ta đã đi đến một sự đồng thuận rộng rãi về những tiêu chuẫn mà một chế độ chính trị cần có để đước gọi là dân chủ như đã được trình bầy trong hai đoạn viết ở trên.
                                                                        *
Thế giới hiện đang có 193 quốc gia và trong số này có 118 quốc gia tự nhận là dân chủ.  Phải có sự nhấn mạnh đối với cái nhãn hiệu “tự nhân là dân chủ” vì phần đông các quốc gia đó không phải là những quốc gia dân chủ theo đúng nghĩa của các nền dân chủ Tây Phương, nghĩa là theo đúng các tiêu chuẩn của nền dân chủ tự do (libral democracy).
Có thể nói là một nửa các quốc gia đang đi vào tiến trình dân chủ hóa hiện nay chỉ là những nền dân chủ thiếu tự do. Và điều đáng lo ngại là các nền dân chủ này không chuyển biến thành những nền dân chủ tự do như mọi người mong đợi mà trái lại đã biến thành những thể chế trong đó tự do càng ngày càng bị bóp nghẹt.
Khám phá sau cùng đối với các quốc gia dân chủ là muốn phát triển nhanh chóng về phương diện kinh tế thì chính quyền các nước đó phải thực hiện cho bằng được hai điều kiện tất yếu sau đây :  thứ nhất, tôn trọng các quyền của con người trong đó có quyền sở hữu và quyền tự do kết ước; thứ hai, áp dụng đường lối pháp trị và tinh thần thượng tôn luật pháp trong mọi sinh hoạt của xã hội, nhất là trong lãnh vực hành chánh.
                                                                      *
Chúng ta hiện đang sống trong kỷ nguyên dân chủ.  Trong dĩ vãng, những nỗi khổ hạnh của con người đều phát xuất từ sự chuyên chế của các nền quân chủ, tử các giáo điều khắt khe của giáo hội, từ phong trào khủng bố của các chế độ độc tài và từ bàn tay sắt của các chế độ toàn tài.  Ngày nay một vài chế độ dân chủ thiếu tự do vẫn còn sót lại trên thế giới nhưng rõ rệt là những chế độ đó đã trở thành những con chiên ghẻ của cộng đồng nhân loại.
Hiện giờ chưa có một mẫu hình chính trị nào có thể thay thế đượcmẫu hình dân chủ, cho nên thế kỷ 21 sẽ là thế kỷ của nền dân chủ toàn cầu.  Những chế độ độc tài lạc hậu rồi sẽ biến dần vì cộng đồng nhân loại sẽ không để cho các chế độ đó kéo dài. Lý do là nó sẽ làm xấu hình ảnh của các chế độ dân chủ tự do chân chính và gieo rắc nghi ngờ đối với trào lưu dân chủ của thế giới ./.
Theo VietNamDalily.News

“Thẩm phán có cảm giác mình chỉ là tay sai của lãnh đạo”

Thảo Vy-0

(VNTB) - Luật sư Phạm Công Út (Đoàn Luật sư TP.HCM) từng là một thẩm phán, ông nói rằng biết rõ cảm giác ấm ức của các thẩm phán khi phải tuân thủ quy chế báo cáo án trước khi xét xử. “Thẩm phán có cảm giác mình chỉ là tay sai của lãnh đạo, trong khi bản thân họ mang sứ mệnh cao cả như một vị thần công lý”. Ls Phạm Công Út chua chát nhận xét.
Thế nhưng, việc chỉ đạo án trước khi xử không hề bằng văn bản mà chỉ bằng mồm, đường lối xét xử do lãnh đạo chỉ đạo thì thẩm phán tự ghi vào sổ tay bằng bút tích của chính mình chứ không hề có một dấu vết nào của sự chỉ đạo của lãnh đạo. Gần đây, mỗi lần báo cáo án và nhận chỉ đạo của lãnh đạo, một số thẩm phán đã phải... lén lút ghi âm lời chỉ đạo của lãnh đạo để làm chứng cứ khi bản án chỉ đạo đó sau này được xác định là án oan. “Những hoạt động bí mật đó không phải là phi pháp và lén lút thì đó là cái gì?”. Cựu thẩm phán Phạm Công Út đặt câu hỏi.

Thâu tóm quyền lực?
Ông Nguyễn Đức Bình, Trợ lý Bí thư Trung ương Đảng, kiêm Giám đốc Học viện Tòa án, lúc còn ngồi ghế Chánh án Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã nổi đình nổi đám chốn pháp đình khi ông ký quyết định số 13/QĐ-CA ngày 23/1/2013 ban hành quy định báo cáo nghiệp vụ xét xử, giải quyết các vụ án hình sự, vụ việc dân sự và các khiếu kiện hành chính… Gọi nôm na là “báo cáo án”.
Tại Điều 3 của quyết định số 13 liệt kê nhiều nội dung phải báo cáo với Chánh án TAND TP Hà Nội gồm: Các vụ án thuộc diện quản lý theo Chỉ thị 15-CT/TU ngày 7/7/2007 của Bộ Chính trị; Các vụ án đã quá thời hạn chuẩn bị xét xử mà chưa đưa ra xét xử hoặc có quyết định đưa vụ án ra xét xử nhưng bị kéo dài thời gian mở phiên tòa. Các vụ án thuộc các tính chất: Hình sự sơ thẩm dự kiến xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt, chuyển sang loại hình phạt khác nhẹ hơn hoặc cho bị cáo được hưởng án treo; Các vụ án dân sự về thừa kế có kỷ phần được hưởng bằng giá trị; Các vụ án liên quan đến hoạt động nghiệp vụ báo chí theo quy định của pháp luật; Các vụ án mà thời hạn tiến hành tố tụng bị kéo dài, dư luận quan tâm, đã bị Tòa án nhân dân tối cao xử hủy theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm mà thẩm phán được phân công làm chủ tọa phiên tòa xét xử lại vụ án còn băn khoăn về hướng giải quyết; Các vụ án mà đường lối xét xử lại không giống với đường lối của quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm;…
Đặc biệt, tại quyết định này còn thòng thêm một câu yêu cầu báo cáo nghiệp vụ, đó là: “Các vụ án khác mà Chánh án TAND TP Hà Nội thấy cần thiết”.
Quyết định này của ông Nguyễn Đức Bình không chỉ gây bất bình trong giới thẩm phán, mà giới luật sư cũng nản lòng, cảm thấy buồn vì trong nhiều vụ việc người dân vẫn bảo có luật sư tham gia phiên tòa nhìn cho đẹp đội hình vậy thôi chứ chẳng có tác dụng gì. “Họ nói không sai nếu vẫn còn tồn tại lệ “báo án”, “thỉnh thị án”, vì tòa cấp dưới đã xin chỉ đạo của tòa cấp trên rồi thì kết quả tranh tụng tại tòa không còn ý nghĩa gì”. Luật sư Trần Thành cười buồn.

“Án bỏ túi” là có thật
Luật gia Phạm Thái Quý nói rằng trước đây, việc Nhà nước quản lý xã hội chủ yếu bằng kế hoạch, hệ thống pháp luật còn quá đơn giản, việc xét xử chủ yếu theo chủ trương, đường lối cần đến việc bàn bạc tập thể nên đã hình thành cơ chế báo cáo án, duyệt án và tồn tại đến nay.
“Hiện nay vẫn còn nhiều thẩm phán muốn duy trì cơ chế này vì trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và năng lực của họ còn hạn chế nên chưa đủ tự tin để độc lập phán quyết. Họ muốn tranh thủ kiến thức về chuyên môn, nghiệp vụ của các đồng nghiệp, sau nữa là một khi việc xét xử đúng pháp luật thì thành tích sẽ thuộc về họ nhưng khi có sai sót lại đổ lỗi cho tập thể” - Luật gia Quý biện giải và nhìn nhận phía lãnh đạo tòa án cũng muốn điều này, vì với việc báo cáo án, duyệt án sẽ làm tăng thêm quyền lực và việc can thiệp, áp đặt ý chí của họ đối với thẩm phán được hợp thức bằng một cơ chế, chứ không phải bằng những mệnh lệnh cụ thể, đơn lẻ.
Với đường lối giải quyết đã được bàn bạc thống nhất từ trước nên thẩm phán (thậm chí là giao cho thư ký tòa án) cứ thế mà viết hoàn chỉnh bản án trước, dẫn đến tình trạng “án bỏ túi”, phiên tòa sau đó chỉ mang tính hình thức. Hậu quả sau cùng là sẽ làm ảnh hưởng đến nguyên tắc độc lập xét xử của thẩm phán và hội thẩm nhân dân. Tạo ra tâm lý ỷ lại của các thẩm phán, không chịu học hỏi, nghiên cứu để nâng cao trình độ.
Đó là chưa kể khi thẩm phán muốn chạy án cho một bên nào đó. Một khi đã cố tình trục lợi thì khi báo cáo án thẩm phán chỉ trình bày một phía, chỉ nêu những vấn đề có lợi cho người mà họ cố tình bảo vệ. Và như vậy hướng xét xử vụ án mà tập thể thống nhất, lãnh đạo duyệt đôi khi trở thành “lá bùa hộ mệnh” để thẩm phán an tâm xử trái pháp luật.

Cần chấm dứt “chỉ đạo án”
Cựu thẩm phán Phạm Công Út nhìn nhận cái đau nhất với một luật sư từng có 20 năm ngồi ghế thẩm phán như ông, là cho đến nay hoạt động tư pháp vẫn như thời kỳ cách mạng “Cải cách ruộng đất”. Đó là việc lãnh đạo ba cơ quan Công an, Viện kiểm sát và Tòa án thường có sự phối hợp liên ngành để họp bàn đưa ra các vụ án điểm, nhất là việc phải bàn bạc thống nhất về các vụ án cần phải “xét xử lưu động” hay xét xử tại trụ sở tòa án.

Trong đó, từ hồ sơ của những vụ án trọng tâm tại địa phương được đưa ra để thống nhất về tội danh, khung hình phạt. Nhưng dù các cơ quan này có thống nhất gì đi nữa thì không thể tránh được việc xử oan đối với những vụ án mang tính trọng điểm đó. Do đó, “cá nhân tôi mong muốn, tương lai sau này hoạt động xét xử ở nước ta sẽ không còn những cuộc họp liên ngành, chỉ đạo án”. Luật sư Phạm Công Út chia sẻ.

‘Dân Biểu Ba Không’: Làm thế nào để Quốc hội được thay máu?

Quang Nguyên-0

(VNTB) - "Tôi lưu ý Quốc Hội, sự giả đò không chăm sóc, sự giả đò quên các quyền căn bản của con người, là nguyên nhân gây ra đau khổ cho Tổ Quốc, cho nhân dân, là nguyên nhân gây ra sự đồi bại của những kẻ làm ông nhà nước"

‘Dân Biểu Ba Không’

Không biết bây giờ còn mấy người nhớ đến chị Lê Thị Thêu vị đại biểu quốc hội khóa VI của nước Việt Nam thống nhất sau năm 1975. Riêng tôi, tôi nhớ chị, người phu quét đường làm ở sở vệ sinh Sài gòn đường Hiền Vương, Q1.

Nếu không có tờ Sài Gòn Giải Phóng được bà tổ trưởng cho không, vứt vào nhà mỗi buổi sáng, chúng tôi không biết về chị.

Quen với cách thức bầu cử quốc hội VNCH trước kia, tổ dân phố chúng tôi bỡ ngỡ và lấy làm kỳ cục  cái kiểu "đảng cử dân bầu", và cách bỏ phiếu: Sáng tinh mơ ngày Chúa Nhật bầu cử, bà tổ trưởng  đã đến gom tất cả phiếu bầu của mọi người trong tổ để đi bầu giùm họ. Không biết quý ngài cán bộ cao cấp từ Hà Nội mới vào đang sống trong các căn biệt thự kín cổng cao tường tịch thu được của bọn mới "tháo chạy tán loạn" có bị bà đi bầu dùm không và nếu có thì không biết họ phản ứng thế nào, bọn dân còn lại trong tổ chúng tôi chẳng ai buồn vì mình bị tước quyền công dân (hạng hai) một cách dễ chịu như thế, vừa  tức cười, vừa thoải mái vì không mất thì giờ và nhất là khỏi lo hôm nào công an đến nhà hỏi mình tại sao có lá phiếu bị gạch tất cả tên.

Để có đủ thành phần dân chúng trong quốc hội như người ta thường tuyên truyền, họ đưa chị Lê Thị Thêu vào làm đại biểu Quốc hội, cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân Việt Nam và là cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.

Thế là trong khóa quốc hội VI đó, người dân Sài Gòn nói riêng, dân cả nước nói chung,  có được một vị đại biểu là Công nhân Sở vệ sinh thành phố Hồ Chí Minh để làm các công việc quốc gia đại sự:

    -Lập hiến, Lập pháp
    -Quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước
    -Giám sát tối cao hoạt động của Nhà nước.

Có lẽ rất ít người biết chị là người hốt rác nếu báo Sài Gòn Giải Phóng không chạy tít hoành tráng vừa ca ngợi đảng, ca ngợi dân chủ, ca ngợi sự sáng suốt của cử tri khi cầm lá phiếu bỏ cho chị, vừa ca ngợi chị như tiêu biểu sự vùng lên của thành phần bị chế độ cũ áp bức, bóc lột vv và vv . Tiểu sử của chị chỉ vỏn vẹn có tên Lê Thị Thêu, ngày sinh 1/1/1937,  nghề nghiệp công nhân sở vệ sinh. Người Sài Gòn từ trước vẫn kiêu hãnh có các vị đại diện dân cử sừng sỏ trong hội đồng thành phố, quốc hội, cả Thượng Viện lẫn Hạ Viện, từng làm bốc lửa quốc hội, điên đảo chính phủ, đến nay, dù không mong đợi có những người dám nói, dám làm , dám hy sinh như vậy, cử tri cũng rất bất ngờ, chưng hửng. Cử tri không xấu hổ vì người đại biểu cho họ thất học, lam lũ hốt rác, nhưng họ bực bội vì bị xỏ mũi. Họ ngỡ ngàng nghe lời tuyên truyền lạ tai về dân chủ gấp triệu lần cái gì gì đó của đảng, của nhà nước và của quốc hội VN CHXHCN và thương xót cho chị Thêu .

Mỗi người có giá trị, nhân phẩm riêng của họ. Không ai phủ nhận giá trị và năng lực chị Thêu khi chi cặm cụi quét đường, không ai dám coi thường chị, không ai không thầm cảm ơn công việc chị dãi dầu đêm khuya, mưa nắng giữ cho khu chị lo được sạch sẽ, nhưng từ khu vệ sinh chị trách nhiệm, đến bắt chị ngồi trong phòng máy lạnh, ghế nệm, "chuyên trách" chuyện quốc gia đại sự thì  thật lạ lùng và  quá sức cho chị, chúng tôi tin lương lâm chị không yên. Có thể chị  bị người khác thương hại cho hoàn cảnh chị, một tình cảm chị không cần khi cầm chổi quét đường, trong hoàn cảnh này tình cảm đó có thể làm chị cảm thấy bị xúc phạm. Chúng tôi tin những điều đó vì chúng tôi tin chị là người lương thiện. Đáng trách là những người đã đánh tráo con người thật của chị, biến chị thành một con rối, một con bù nhìn.

Thay máu Quốc hội 

Theo ý của đảng, Đại biểu trong QH của nước CHXNCN VN, phải có nhiều thành phần đại diện, như đại diện tôn giáo, sắc tộc, công nhân , nông dân vân vân. Tôi nhận ra trong đó có ba thành phần nổi: Một thành phần kém nhân cách, một thành phần vô nhân cách và một thành phần bị đánh tráo nhân cách; tôi dẫn chứng hai thành phần trên qua bài: “Dân biểu bây giờ thiếu nhất là... bản lĩnh!” của ông Lê Văn Cuông -nguyên Phó trưởng đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Thanh Hóa (*), và của đại biểu Đỗ Văn Vẻ - phó chủ tịch Hiệp hội doanh nghiệp tỉnh Thái Bình.  (**)

Ông Lê Văn Cuông kể ra những  loại dân biểu: Đó là loại chỉ lo "lợi ích bản thân, lợi ích cục bộ, không muốn đụng chạm gì để dễ xin xỏ", đó là loại “vận động để được ghế trong Quốc hội. Nhưng sau khi thực hiện được mục đích thì bắt đầu nghĩ đến chuyện toan tính lợi ích, đánh bóng bản thân, tranh thủ các mối quan hệ để kiếm lợi." hay loại coi quốc hội là một cái chợ buôn quan bán tước "[ ] sẽ được nhiều hơn là mất. Do đó, họ có thể bỏ ra một đồng để thu về đồng rưỡi hoặc nhiều hơn thế." Tôi liệt họ vào loại dân biểu vô nhân cách.

Đại biểu đáng liệt vào loại kém nhân cách như lời đại biểu Đỗ Văn Vẻ: "...có những Đại biểu bán chuyên trách, chuyên trách, rất ít phát biểu, hoặc không phát biểu, không tham gia thảo luận, đi họp cũng không đầy đủ, thiếu tinh thần trách nhiệm." hay "Cũng có trường hợp người ta hoạt động ở lĩnh vực chuyên môn thì rất tốt. Tuy nhiên, khi được cử tri bầu vào ghế Đại biểu Quốc hội thì không phát huy được năng lực của mình vì muốn “an toàn” cho bản thân." (Lê Văn Cuông)

Và loại thứ ba là những người bị đánh tráo nhân cách, những người bị điền vào chỗ trống cho hợp nghĩa, những người bị coi như gia vị cho nồi lẩu mắm quốc hội như chị Lê thị Thêu tôi kể trên.

Ông Lê Văn Cuông và ông Đỗ Văn Vẻ đã nói khá nhiều lý do khiến các dân  biểu bây giờ thiếu bản lãnh. Thực ra không phải dân biểu quốc hội nước VN CHXHCN bây giờ mới thiếu bản lãnh, mà phải nói từ trước đến bây giờ họ thiếu nhất là bản lãnh, nhưng hai ông không nêu lên nguyên nhân sâu xa, căn bản khiến họ thiếu bản lãnh, dẫn đến QH có những loại người vừa kể trên, đó là vì chính sách tréo nghoe, phản dân chủ :"Đảng cử dân bầu".

Ai cũng biết, đảng đã cử thì đảng phải cử người có lợi cho đảng, cho “sự đoàn kết của đảng” , cho người trong đảng,  người của mình, cánh hẩu với mình, loại dễ bảo, dễ dậy, dễ ngậm miệng, nhắm mắt,bịt tai giơ tay thông qua tất cả điều đảng muốn. Nếu không được đảng cử những người kể trên chắc chắn không dám ra ứng cử và nếu có một cuộc tuyển cử tử tế với nhiều ứng viên tử tế, và người dân có tự do lưa chọn, chắc chắn cử tri  sẽ không bỏ phiếu cho đám người sống bám vào tiền thuế của dân như vậy.

Muốn có một quốc hội có sinh khí, năng động, một quốc hội sáng tạo, có IQ cao, bốc lửa, một quốc hội biết mưu cầu dân chủ, tự do hạnh phúc cho dân, biết ngăn chận tham nhũng, sai lầm, lạm quyền của đảng qua cánh tay của họ là  chính phủ, biết quyết định sáng suốt các vấn đề liên quan đến quốc gia,  đến sự phát triển chung của đất nước, quốc hội cần thay máu. Quốc hội cần phải có mặt những người như  Tiến sỹ Nguyễn Quang A, luật sư Lê Văn Luân, nhà báo độc lập Nguyễn Tường Thụy, nhà thơ Bùi Minh Quốc các nhà hoạt động như Đặng Phương Bích, Nguyễn Thúy Hạnh v.v...

Đối với các vị đại biểu này thì:"[ ] cương vị đại biểu Quốc hội không phải là tước vị để hưởng bổng lộc và hư vinh mà là vị trí chiến đấu của người chiến sĩ cách mạng tiền phong gương mẫu gắn bó máu thịt với Nhân Dân, chiến đấu vì Tổ Quốc và Quyền Dân."(Ứng cử viên Bùi Minh Quốc), là người "thật sự vì dân vì nước, muốn có thêm cơ hội để cống hiến cho Đất nước, cho Dân tộc, hết lòng trung thành với lợi ích của Nhân dân Việt Nam, Tổ quốc Việt Nam"(UCV Nguyễn Tường Thụy), "thoát khỏi nỗi sợ hãi của bản thân.. khiến xã hội này thay đổi” (UCV Đặng Phương Bích).

Để kết thúc bài này, tôi xin phép viết lại câu nói của cụ Nguyễn Văn Trấn, trong Thư Gửi Mẹ và Quốc Hội: "Tôi lưu ý Quốc Hội, sự giả đò không chăm sóc, sự giả đò quên các quyền căn bản của con người, là nguyên nhân gây ra đau khổ cho Tổ Quốc, cho nhân dân, là nguyên nhân gây ra sự đồi bại của những kẻ làm ông nhà nước".

Tham khảo: