- Cách làm du lịch này đang diễn ra tại Khu du lịch Thác Dray Nur (xã Dray Sap, huyện Krông Ana, Đắk Lắk, do Công ty TNHH đầu tư du lịch Đặng Lê là đơn vị quản lý) khiến du khách đến đây đầu phải “bốc hỏa” bỏ... “chạy mất dép”.
Ngày 11/2, trang Facebook cá nhân Ngọc Hùng đăng tải đoạn clip dài 3 phút cảnh một đoàn khách du lịch bị bảo vệ Khu du lịch Thác Dray Nur không cho vào cổng, bắt phải mua phí dịch vụ khi mang bia, rau muống, bánh tét...từ ngoài vào.
Ngay sau khi được đăng tải khoảng một ngày, clip đã thu thu hút hàng nghìn lượt người vào xem, bình luận, chia sẻ.
Thác Dray Nur đẹp được nhiều du khách tìm đến tham quan, vui chơi
Nội dung đoạn clip ghi lại cảnh một đoàn khách bị bảo vệ chặn lại, kiên quyết không cho vào cổng khu du lịch. Bị chặn, thu phí vô lý, một người đàn ông lớn tuổi trong đoàn đã phẫn nộ, to tiếng với nhóm bảo vệ khu du lịch.
“Xe đậu ở đường cũng lấy tiền vé, người vào cũng lấy tiền vé, đồ ăn cũng lấy tiền vé. Con người mua (vé – PV) rồi, tới đồ ăn cũng phải mua. Có luật nào quy định vậy không?” – người đàn ông lớn tuổi chất vấn bảo vệ khu du lịch.
Trước phản ứng của đoàn khách du lịch, tiếng một người quản lý trong khu du lịch đáp trả: “Trả vé cho chú đi em”.
Liên hệ với chủ nhân Facebook Ngọc Hùng, anh Bùi Ngọc Hùng (28 tuổi, trú xã Cuôr Knia, huyện Buôn Đôn, Đắk Lắk) xác nhận là người quay clip đưa lên trang facebook cá nhân.
Anh Hùng chia sẻ, ngày 11/2 (nhằm ngày mùng 4 Tết), người chú họ hàng tên Trần Văn Hùng (cán bộ văn hóa, xã hội xã Cuôr Kia) tổ chức cho cả gia đình xuống Khu du lịch Thác Dray Nur chơi vì nơi đây có thác nước đẹp, rộng rãi. Đoàn đi tất cả có 20 người (16 người lớn, 4 trẻ em).
Cũng theo lời anh Hùng, không đồng tình với các khoản phí vô lý, ông Hùng đã đòi quản lý khu du lịch trả lại vé và mọi người bỏ về giữa chừng.“Khi đến khu du lịch, đoàn mua vé vào cổng hết 560 ngàn đồng (người lớn 30 ngàn đồng/vé, trẻ em 20 ngàn đồng/vé). Vào chơi được khoảng một tiếng, chúng em quay ra lấy đồ ăn để ngoài xe mang vào thì bị bảo vệ chặn lại ở cổng, bảo muốn mang đồ vào phải đóng thêm phí. Họ đòi thu phí, một thùng bia 40 ngàn đồng, mớ rau hết 50 ngàn đồng... Tổng tất cả hơn 300 ngàn đồng phí. Thấy vô lý, chú Hùng đã lớn tiếng cự cãi.” – anh Hùng kể lại.
Liên hệ với ông Trần Văn Hùng, ông này xác nhận mình là nhân vật cự cãi với nhóm bảo vệ Khu du lịch Thác Dray Nur trong clip trên mạng.
Theo ông Hùng, Khu du lịch Thác Dray Nur ngoài thu tiền vé vào cổng, xe ô tô cá nhân để ngoài đường không có bãi giữ, không có người trông coi cũng bị thu phí. Đồ ăn mang vào còn bị thu các khoản phí trên trời…
Bảng quy định mức phí khi mang đồ ăn, thức uống từ bên ngoài vào trong khu du lịch
“Một thùng bia chúng tôi mua ở bên ngoài giá 250 ngàn đồng, vậy mà mang vào cửa bị thu thêm 40 ngàn đồng, hỏi có quá vô lý không. Mớ rau muống mua ngoài chợ hết có 10 ngàn đồng, vào cửa họ thu phí 50 ngàn đồng nữa. Chẳng lẽ ăn một bó rau muống mà hết 60 ngàn đồng. Thà họ ra phụ giúp chúng tôi mang vác một tay, thu phí còn chấp nhận được, đằng này... Không hiểu họ kinh doanh kiểu gì” – ông Hùng bức xúc.
Cũng theo ông Hùng, thấy cách kinh doanh vô lý của khu du lịch, ông yêu cầu gặp người quản lý để được giải thích nhưng phía khu du lịch không hề giải quyết. Bức xúc, ông yêu cầu trả lại tiền vé rồi đánh xe chở con cháu ngược về TP. Buôn Ma Thuột để chơi mà trong lòng buồn bực.
Trao đổi với ông Trần Hữu Toản – Phụ trách kinh doanh Khu du lịch thác Dray Nur, ông cho biết: Theo quy định của công ty từ 1/12/2014 sẽ thu thêm phí dịch vụ của khách đi theo đoàn từ 7 - 8 người trở lên (áp dụng cho đoàn khách không tính cá nhân riêng lẻ) nếu mang theo thức ăn, đồ uống vào thác.
“Chúng tôi tính phí này cả ngày thường chứ không phải dịp lễ tết mới thu và có niêm yết bảng giá phí dịch vụ bên ngoài cổng. Trong khu du lịch thức ăn và thức uống giá cả không cao chỉ bằng giá ở ngoài thị trường nhưng du khách địa phương vẫn thường mang theo thức ăn.
Còn những du khách theo đoàn thường mang theo rất nhiều thức ăn và vui chơi xong thì không dọn dẹp nên chúng tôi thu phí này để thuê thêm nhân sự để dọn dẹp đảm bảo vệ sinh môi trường cho khu du lịch. Việc hạn chế mang đồ ăn vào khu du lịch cũng là để đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm cho du khách.”- ông Toản phân trần.
Dân tríVào khoảng 16h40 chiều nay (14/2), tại khu vực Tổ 11 và 13, khóm Mỹ Thọ, phường Mỹ Quý, TP Long Xuyên đã xảy ra một vụ cháy lớn tại điểm tập kết hàng nghìn lốp xe ôtô đã qua sử dụng của ông Huỳnh Văn Tùng và Huỳnh Văn Nhàn.
Ngay sau khi nhận được tin báo cháy của người dân, lãnh đạo Phòng Cảnh sát Phòng cháy chữa cháy và cứu nạn - cứu hộ Công an tỉnh đã điều động 4 xe chữa cháy chuyên dụng cùng cán bộ, chiến sĩ đến hiện trường phối hợp cùng lực lượng Công an thành phố Long Xuyên, lực lượng quân sự và quần chúng nhân dân tham gia chữa cháy.
Vì khu vực cháy là bãi vỏ ô tô cũ các loại rất dễ bắt lửa nên đám cháy nhanh chóng lan rộng và tạo thành cột khói đen rất lớn, bốc cao, ở xa trong phạm vi hơn 5km vẫn nhìn thấy. Tuy nhiên, với sự nỗ lực của các lực lượng, sau khoảng 1 giờ đồng hồ, đám cháy được dập tắt hoàn toàn không để cháy lan sang nhà máy đông lạnh thủy sản kế bên.
Thiệt hại và nguyên nhân dẫn đến hỏa hoạn tại điểm tập kết lốp ô tô của ông Tùng và ông Nhàn (cùng trú tại thành phố Long Xuyên) đang được cơ quan chức năng phối hợp tổ chức khám nghiệm hiện trường điều tra làm rõ .
Cột khói tại đám cháy đen kịt tỏa lên bầu trời
Do đám cháy xảy ra tại kho chứa lốp ô tô nên việc chữa cháy gặp nhiều khó khăn
Từ sự nỗ lực chữa cháy của các chiến sĩ PCCC và nhân dân, sau 1 giờ đám cháy mới được dập tắt, không cháy lan nhà dân và một số công ty đông lạnh liền kề
Dân trí Xung quanh thông tin thêm một đại gia bán lẻ hàng đầu tại Việt tiếp tục bán mình cho đối tác ngoại, ông Trương Đình Tuyển, nguyên Bộ trưởng Bộ Công Thương, khẳng định: Mua bán, sáp nhập (M&A) là chuyện bình thường trong kinh doanh, nhưng đối với ngành bán lẻ lại khác, trông vậy thôi nhưng nguy hiểm lắm!
Chiếm phần ngon, quả ngọt
Năm 2015 thực sự là năm “dậy sóng” đúng nghĩa của thị trường bán buôn, bán lẻ Việt Nam, khi lần lượt nhiều đại gia bán lẻ lớn nhỏ từng có thời kỳ hưng thịnh tại Việt Nam rơi vào tay của các ông chủ nước ngoài từ Thái Lan, đến Hàn Quốc, Nhật Bản… Điển hình nhất là các cuộc M&A Metro, Nguyễn Kim của tỷ phú Thái, rồi đến thông tin Big C được rao bán để cơ cấu vốn hoặc đàm phán tìm đối tác chiến lược.
Năm 2015 thực sự là năm “dậy sóng” đúng nghĩa của thị trường bán buôn, bán lẻ Việt Nam
Trước đó, có nhiều hãng bán lẻ của DN Việt trong nước cũng ồ ạt mở ra, nhưng rồi cũng thui chột hoặc chịu cảnh bán rẻ cho nước ngoài. Như kênh bán lẻ G7 Mart của Trung Nguyên hay trước đó, Family Mart (một liên doanh bán lẻ hơn 200 cửa hàng giữa đối tác Việt - Nhật) cũng phải bán mình cho đại gia Thái Lan vì lâm cảnh thua lỗ.
Ông Trương Đình Tuyển, nguyên Bộ trưởng Bộ Công Thương, nguyên Trưởng đoàn đàm phán Việt Nam gia nhập WTO cho biết: "Không có cách hiểu ngây thơ là các DN Thái mua lại hệ thống siêu thị Việt để mong muốn tìm kiếm lợi nhuận từ bán lẻ. Cái họ tính đó là chiến lược xâm lấn hàng Thái sang Việt Nam. Từ các siêu thị lớn đã bị mua, các hàng hoa quả, bánh kẹo... của Thái nghiễm nhiên sang Việt Nam trong khi đó, các loại trái cây, bánh kẹo Việt bị đánh bật ra ngoài cửa hàng tạp hóa, vỉa hè, lòng lề đường. Đối với người tiêu dùng thì đây là lợi ích, nhưng đối với sản xuất trong nước, đây thực sự là thất bại bởi sân của mình không giữ được thì sao chúng ta có thể đi đá sân nước ngoài được”.
Theo đánh giá của các hãng tư vấn kinh tế, 2015 là năm bùng nổ của mua bán sáp nhập tại Việt Nam với số thương vụ hoàn thành có giá trị trên 4,3 tỷ USD, tăng 40% so với cùng kỳ năm trước. Đà tăng này được dự đoán sẽ được kế thừa trong năm 2016 khi các hiệp định thương mại được thực thi và các văn bản luật pháp mới có hiệu lực.
Đánh giá về thị trường bán lẻ Việt Nam, các chuyên gia kinh tế trong và ngoài nước đều có chung nhận định: Việt Nam đang là điểm nóng của doanh thu bán lẻ của Đông Nam Á và châu Á, với sức mua lớn, dân đô thị đông, đặc biệt quá trình đô thị hóa ngày một mạnh hơn. Hiện tiêu dùng siêu thị, trung tâm thương mại (tiêu dùng hiện đại) chỉ chiếm 25% tổng mức bán lẻ, nhưng con số này tăng trưởng hơn 7% trong thời kỳ 2005 -2010 và tăng 12% trong 2010 cho đến nay.
Năm 2020, quy mô thị trường bán lẻ được dự báo sẽ đạt và vượt mức 10 tỷ USD, trong đó bán lẻ hiện đại sẽ chiếm trên 45% (4,5 tỷ USD), con số hấp dẫn hàng đầu châu Á. Nếu xu hướng đổ bộ ồ ạt của đại gia ngoại tiếp tục, các doanh nghiệp bán lẻ Việt sẽ tiếp tục bất lợi trong cuộc chia lợi lộc thị trường.
Dồn ép, đánh bật DN Việt, hàng Việt
Ngoài xu hướng có nhiều đối tác ngoại đến từ Nhật, Hàn hay Philipines đổ tiền trực tiếp mở siêu thị, kênh phân phối tại Việt Nam thì hoạt động đầu tư gián tiếp qua mua bán sáp nhập cho thấy bán lẻ Việt đang và sẽ là điểm nóng của khu vực, thu hút dòng vốn hàng đầu trong thời gian tới.
Theo nguyên Bộ trưởng Trương Đình Tuyển: Khi tôi còn làm Bộ trưởng Thương mại, điều trăn trở nhất của tôi là làm sao mở được càng nhiều kênh bán lẻ, cửa hàng phân phối càng tốt. Tư duy làm kinh tế của người Việt Nam là tiểu canh, tự làm, tự bán và không tuân theo quy luật thị trường. Chính vì vậy từ xưa đến nay, các doanh nghiệp Việt vẫn yếu nhất là khâu phân phối, liên kết.
Đến khi kinh tế thị trường xuất hiện, họ chạy đua sản xuất theo phong trào khiến được mùa mất giá, được giá lại mất mùa. Người có tư duy chủ yếu xuất hàng ra nước ngoài, còn bỏ bê thị trường trong nước.
Trong nước, thị trường tiêu dùng của hơn 90 triệu dân để cho các DN ngoại mặc sức nghiên cứu đến sử dụng các chiêu thức thâu tóm, ban đầu là liên doanh, hợp doanh, hiểu hơn thì họ mua cổ phần và giờ đây người Việt mới chóng mặt với các chiêu thức bỏ nhiều tỷ đô để mua đứt các siêu thị, cửa hàng phân phối, bán lẻ. Tham vọng của các ông chủ tư bản nước ngoài là cực lớn mà các DN Việt Nam không hề hay biết.
Theo chuyên gia kinh tế Lê Đăng Doanh, hệ thống bán lẻ là cứ điểm kinh doanh của mọi doanh nghiệp. Chúng ta không thể thiếu được hệ thống này ở trong môi trường kinh doanh hiện đại. "Tôi thấy các DN Thái Lan mua Metro, Nguyễn Kim hay ý định đàm phán mua các hãng bán lẻ khác đều có ý đồ cả. Họ không đơn thuần là hãng bán lẻ mà là những tập đoàn kinh doanh đa ngành nghề, phân phối đủ mọi thứ nên việc chuyển hàng Thái sang Việt Nam là không khó, nhất là khi Việt Nam gia nhập thị trường tự do ASEAN.
Trong khi chúng ta còn loay hoay với xây dựng hệ thống phân phối, liên kết trong nước thì nhiều DN nước ngoài đã đặt 1 tảng đá lớn ngay giữa yết hầu của chúng ta. Nếu cứ ngồi rung đùi với ý nghĩ, còn hơn 75% tiêu dùng ở khu vực nông thôn”, ông Doanh nhấn mạnh.
Nguyễn Thiện Nhân (VNTB) "138 hộ dân trong dự án xây nhà ở cao tầng Lô 13-14 tại phường 22, quận Bình Thạnh, Tp.HCM bị giải tỏa đền bù không thỏa đáng. Chênh lệch giữa giá trị thực tế so với giá đền bù là rất lớn. Hàng trăm tỷ chênh lệch đã chui vào túi quan chức và Công ty cổ phần đầu tư Vinh Phát - chủ đầu tư dự án kinh doanh béo bở này".
138 hộ dân trong dự án xây nhà ở cao tầng Lô 13-14 tại phường 22, quận Bình Thạnh, Tp.HCM bị giải tỏa đền bù không thỏa đáng. Chênh lệch giữa giá trị thực tế so với giá đền bù là rất lớn. Hàng trăm tỷ chênh lệch đã chui vào túi quan chức và Công ty cổ phần đầu tư Vinh Phát - chủ đầu tư dự án kinh doanh béo bở này.
Người dân bị đẩy ra đường khi chưa tái định cư
Khi chủ đầu tư thông đồng với quan chức, hàng trăm người dân bị đẩy ra đường oan ức. Giống như những dự án “cướp đất” khác, quan chức sẽ lại lí luận rằng “đa số người dân đã đồng ý nhận tiền đền bù, chỉ có một số ít chống”, với cái cớ này chính quyền đã tổ chức cưỡng chế những hộ không chịu di dời để giao đất cho chính quyền. Tại sao đa phần người dân lại chịu thua thiệt như vậy? Chính là vì quan chức đã dùng thủ đoạn gây áp lực để người dân sợ hãi, mệt mỏi, chán nản, nuốt cay đắng ký chấp nhận bởi họ cảm thấy rằng càng chống càng thua thiệt.
Chính quyền Quận Bình Thạnh đã lập ra cái gọi là “Ban vận động” đi từng nhà để thuyết phục các hộ dân nhận tiền đền bù. Cán bộ MTTQ, Hội phụ nữ, Hội cựu chiến binh, Chi bộ đảng, Công an lại đi tham gia “Ban vận động”, kéo dài năm này qua năm khác. Tâm lý tránh va chạm với chính quyền nên cho dù bị thiệt thòi, nhiều hộ dân vẫn cắn răng ký chấp nhận để khỏi phải lâm cảnh “kiến kiện củ khoai”, tiền mất tật mang. Cụ thể ở dãy B khu nhà liên kế (giáp cao ốc Sai Gon Pearl) đường Nguyễn Hữu Cảnh có 30 hộ, sau khi bị “Ban vận động” lên xuống làm việc kéo dài nhiều năm khiến nhiều hộ chán nản nghĩ rằng “không thể thắng được chính quyền”, nên đã có 18 hộ đồng ý di dời, còn 12 hộ trụ lại, đến gần ngày cưỡng chế, tiếp tục có 8 hộ nữa ngậm ngùi đồng ý di dời, chỉ còn 4 hộ bị chính quyền đem lực lượng hàng trăm người xuống cưỡng chế ngày 15/12/2015. Hiện tại, 30 căn nhà đã bị san bằng, chỉ còn bãi đất trống bị chính quyền rào lại.
Video lực lượng hàng trăm người kéo đến nhà dân cưỡng chế nhà đất ngày 15/12/2015
4 hộ dân bị cưỡng chế gồm: Lê Văn Chính, Nguyễn Văn Ân, Nguyễn Thị Cứng, Trần Công Hoàng
Ông Nguyễn Văn Ân và vợ ông (bà Huệ) đều là con của liệt sĩ, gia đình có công cách mạng. Xung quanh dãy nhà bị cưỡng chế trong đó có nhà đất của gia đình ông Ân là những cao ốc. Một căn hộ 50m2thuộc chung cư cao tầng Sai Gon Pearl kế cạnh nhà ông giá khoảng 2,5 tỷ đồng. Đất nhà ông có giá thị trường năm 2015 từ 80-100 triệu/m2 nhưng gia đình ông chỉ được đền bù 1,26 tỷ đồng cho toàn bộ 227,5m2, không đủ để tái định cư nên ông không chấp nhận.
Trả lời phỏng vấn phóng viên VNTB, ông cho biết: “Theo chỉ đạo từ Trung ương hay quốc hội nói rằng bồi thường đất cho dân phải bằng hoặc hơn chỗ ở hiện tại, bây gờ chúng tôi không được bằng cũng không được hơn. Với giá đền bù như vậy so với thị trường hiện tại, chúng tôi không thể nào tìm mua một miếng đất hay căn nhà để tái định cư được. Từ ngày 15/12/2015 đến nay, chúng tôi sống trong lo âu, sợ sệt, không ổn định tinh thần, đồ đạt thì hư hao mất mát, nay ở đây, mai ở kia. Chúng tôi bị chính quyền Bình Thạnh và Phường 22 vi phạm trắng trợn quyền công dân, khủng bố tinh thần chúng tôi, ăn không ngon ngủ không yên, chúng tôi không biết sống ra sao. Chúng tôi rất bức xúc, bây giờ không biết phải làm sao”.
Bản thân bà Nguyễn Thị Huệ bị Chi bộ đảng phường 22 gọi lên đòi kiểm điểm với lý do không chấp hành giao nhà đất cho chính quyền và đi kêu oan, khiếu kiện. Bà Huệ cho biết chính quyền làm sai, gia đình bà chưa có chỗ tái định cư, chưa nhận tiền đền bù vì không thỏa đáng nên không thể di dời.
Căn cứ pháp lý
Theo kế hoạch ban đầu, dự án xây nhà ở cao tầng Lô 13-14 có diện tích 13.070m2 là “giai đoạn 2” của qui hoạch tổng thể 42.897m2 đã được chính phủ phê duyệt.
Năm 2001, chính phủ ký quyết định 247/QĐ-TTg để thực hiện “giai đoạn 1”, thu hồi 29.827m2. Đến nay, giai đoạn 1 đã thực hiện một phần và UBND Tp.HCM đã có quyết định số 5710/QĐ-UBND ngày 06/11/2015 thu hồi dự án, chấm dứt thực hiện quyết định 247/QĐ-TTg.
Ngày 18/06/2003 UBND Tp.HCM ra quyết định số 2720/QĐ-UB giao 13.070m2 đất cho Công ty TNXP để thực hiện dự án xây dựng nhà ở cao tầng.
Sau gần 3 năm kể từ khi ban hành quyết định 2720/QĐ-UB, dự án vẫn chỉ nằm trên giấy, chưa triển khai thì ngày 02/04/2007, UBND Tp.HCM ra quyết định 1365/QĐ-UB điều chỉnh quyết định 2720/QĐ-UB, thay đổi chủ đầu tư, giao dự án xây dựng nhà ở cao tầng cho Công ty Vinh Phát làm chủ đầu tư.
Như vậy, theo pháp luật, việc thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư dự án xây dựng nhà ở cao tầng Lô 13-14 được thực hiện theo Nghị định 197/2004/NĐ-CP của chính phủ (qui định tại Khoản 2 Điều 50 của Nghị định 197/2004/NĐ-CP), nghị định này căn cứ Luật đất đai 2003.
Tất cả 60 hộ dân ở 60 gian nhà (2 dãy) được Công ty Xáng Trục Vớt (Bộ GTVT) cấp từ năm 1978-1987 (có giấy cấp cho mỗi hộ). Mỗi hộ được cấp gồm căn nhà và phần đất phía sau, nguồn tiền xây dựng 60 gian nhà này từ quỹ phúc lợi của Công ty Xáng Trục Vớt. Vào năm 1999 các hộ đã thực hiện đăng ký nhà đất và được UBND Phường xác nhận.
Căn cứ Khoản 6 Điều 8, Nghị định 197/2004/NĐ-CP, 60 hộ dân này thuộc trường hợp được bồi thường đất khi bị thu hồi.
Khoản 6 Điều 8 Nghị định 197/2004/NĐ-CP qui định về trường hợp được bồi thường đất: “Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không có các loại giấy tờ quy định tại khoản 1, 2, 3 Điều này, nhưng đất đã được sử dụng ổn định từ trước ngày 15 tháng 10 năm 1993, nay được ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là đất đó không có tranh chấp”.
Giá đất để tính bồi thường theo Khoản 1 Điều 9 Nghị định 197/2004/NĐ-CP: “Giá đất để tính bồi thường là giá đất theo mục đích đang sử dụng tại thời điểm có quyết định thu hồi đất do ủy ban nhân dân cấp tỉnh công bố theo quy định của Chính phủ; không bồi thường theo giá đất sẽ được chuyển mục đích sử dụng”.
Chính quyền vi phạm pháp luật, ức hiếp dân
UBND Quận Bình Thạnh đã không thực hiện bồi thường, tái định cư đúng theo qui định của pháp luật, cụ thể như sau:
+ Theo kế hoạch, dự án xây dựng khu nhà ở cao tầng Lô 13-14 là “giai đoạn 2” có diện tích 13.070m2, thuộc một dự án lớn do chính phủ phê duyệt có tổng diện tích 42.897m2. Lẽ ra “giai đoạn 2” chỉ được thực hiện khi hoàn tất “giai đoạn 1” để đảm bảo có đất “tái định cư” cho các hộ dân di dời ở cả 2 giai đoạn. Nhưng chính quyền Tp.HCM lại cho thực hiện “giai đoạn 2” khi chưa xong “giai đoạn 1”, đáng chú ý là khu tái định cư ở “giai đoạn 1” chưa thực hiện, chưa có hộ nào nhận đất tái định cư thì đã bị thu hồi dự án, không thực hiện nữa!
Vì thế dự án xây dựng khu nhà ở cao tầng Lô 13-14 về bản chất không phải là “giai đoạn 2” của dự án 42.897m2 do chính phủ phê duyệt. Thực chất, dự án xây dựng khu nhà ở cao tầng Lô 13-14 chỉ là một dự án kinh doanh bất động sản thông thường do UBND Tp.HCM phê duyệt mà thôi. Do đó, lẽ ra UBND Tp.HCM không được đứng ra thu hồi đất và áp đặt giá bồi thường mà phải để chủ đầu tư (Công ty Vinh Phát) thỏa thuận với dân mức giá bồi thường. Tuy nhiên, chủ đầu tư chưa bao giờ xuất hiện để thương lượng với dân.
Quan chức đã cố tình tạo ra sự nhập nhèm để bắt tay chủ đầu tư đẩy hàng trăm hộ dân ra đường. Một hình thức “cướp đất” đã và đang diễn ra. Chủ đầu tư dự án béo bở này trở thành kẻ đứng sau quan chức thực hiện hành vi cướp. Dân từ thua đến thua. Tài sản của dân chảy vào túi quan tham và đại gia kinh doanh bất động sản. MTTQ, hội phụ nữ, hội cựu chiến binh, chi bộ đảng phường 22 và hàng trăm công an đã trở thành công cụ cho quan chức thực hiện hành vi cướp vô nhân đạo.
+ Chính quyền chỉ đền bù 60% phần diện tích đất nhà ở, không đền bù phần đất nông nghiệp, vi phạm Khoản 6 Điều 8, Nghị định 197/2004/NĐ-CP. Phần diện tích đất nông nghiệp được cấp trước 15/10/1993, theo qui định phải được bồi thường, nhưng dân bị mất trắng phần đất này, nó bị tịch thu giao cho chủ đầu tư kinh doanh siêu lợi nhuận, tất nhiên quan chức sẽ được chia phần.
Giá bồi thường đất nông nghiệp trong thành phố được qui định tại khoản 1 và 2 Điều 10 Nghị định 197/2004/NĐ-CP như sau:
Điều 10. Bồi thường, hỗ trợ đối với đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân
1. Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất nông nghiệp khi Nhà nước thu hồi được bồi thường bằng đất có cùng mục đích sử dụng; nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng tiền tính theo giá đất cùng mục đích sử dụng quy định tại khoản 1 Điều 9 của Nghị định này.
2. Đất nông nghiệp xen kẽ trong khu dân cư, đất vườn ao liền kề với đất ở trong khu dân cư, ngoài việc được bồi thường theo giá đất nông nghiệp cùng mục đích sử dụng còn được hỗ trợ bằng tiền; giá tính hỗ trợ từ 20% đến 50% giá đất ở liền kề; mức hỗ trợ cụ thể do ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định cho phù hợp với thực tế tại địa phương
Nhà đất ông Ân có tổng diện tích 227,5m2, được cấp từ năm 1979 nhưng chỉ được bồi thường 53m2(60% x 53m2 x 31.000.000đ/m2), phần đất nông nghiệp phía sau nhà vẫn không được bồi thường. Ông Ân bức xúc: “Phương án bồi thường không phù hợp với Luật đất đai vì nhà chúng tôi ở từ năm 1979 được xác nhận của địa phương, khi bồi thường thì Ban bồi thường áp đặt cái giá chỉ có 60% trên 31 triệu đồng một mét vuông, tổng diện tích bị thu hồi là 227,5m2, bồi thường chỉ 53m2, phần còn lại chỉ hỗ trợ. Bồi thường toàn bộ chỉ được 1,2 tỷ đồng, giá thị trường hiện là 100 triệu đồng/m2, giá thị trường gấp hơn mười lần giá bồi thường”.
Video phỏng vấn ông Nguyễn Văn Ân
Trong ““phiếu chiết tính chi phí bồi thường, hỗ trợ và tái định cư” ngày 14/06/2011 mà Ban bồi thường gửi cho hộ ông Ân có nội dung truy thu tiền thuê nhà 11.361.610 đồng. Ông Ân cho rằng không hợp lý vì nhà của ông là nhà được giao chứ không phải thuê, trong giấy đăng ký nhà đất 1999 có ghi: “nhà cấp xong thuộc quyền sở hữu của người được cấp”. Mặt khác, nhà được xây từ quỹ phúc lợi của công ty và cấp cho nhân viên thì tại sao công ty không thu tiền mà chính quyền lại truy thu? Trong văn bản công ty gửi cho Quận Bình Thạnh, công ty đã từ chối tham gia quá trình và yêu cầu Quận Bình Thạnh “không nên dùng kiểu mệnh lệnh hành chính”, điều này cho thấy chính quyền làm việc ách trắc, gây phiền hà cho dân.
+ Năm 2011 thông báo chiết tính chi phí bồi thường dựa trên giá đất trong phương án phê duyệt năm 2009 là không hợp lý, vi phạm Khoản 2a Điều 9 Nghị định 197/2004/NĐ-CP, qui định trường hợp thực hiện bồi thường chậm: ”Bồi thường chậm do cơ quan, tổ chức có trách nhiệm bồi thường gây ra mà giá đất tại thời điểm bồi thường do ủy ban nhân dân cấp tỉnh công bố cao hơn giá đất tại thời điểm có quyết định thu hồi thì bồi thường theo giá đất tại thời điểm trả tiền bồi thường; nếu giá đất tại thời điểm bồi thường thấp hơn giá đất tại thời điểm có quyết định thu hồi thì bồi thường theo giá đất tại thời điểm có quyết định thu hồi”.
Ông Ân cho biết giá bồi thường căn cứ vào quyết định số 2588/QĐ-UBND ngày 15/4/2009, thực tế quyết định này dựa trên giá thẩm định 2007. Mãi đến năm 2011, Ban bồi thường mới gửi “chiết tính chi phí bồi thường, hỗ trợ…” cho ông. Như vậy việc chậm trễ là do chính quyền. Giá đất năm 2011 cao hơn giá năm 2009, và cao hơn nhiều giá 2007. Vì vậy giá bồi thường phải được tính vào thời điểm công bố. Năm 2011, Ban bồi thường áp giá theo phương án được duyệt năm 2009 cho dân là sai qui định của chính phủ.
Giá bồi thường cho ông Ân đất thổ cư là 60% x 31 triệu đồng/m2 = 18,6 triệu đồng/m2 trong khi giá 2011 cao hơn rất nhiều, giá thị trường cuối 2015 đã lên đến 80-100 trđ/m2. Hiện ông Ân chưa nhận tiền bồi thường, ông yêu cầu phải tính lại giá bồi thường cho ông theo giá thực tế tại thời điểm hiện tại.
+ Không bố trí tái định cư cho người bị thu hồi đất.
Theo qui định tại Khoản 1a Điều 37, Nghị định 197/2004/NĐ-CP thì “người bị thu hồi đất phải di chuyển chỗ ở” có quyền “đăng ký đến ở nơi tái định cư bằng văn bản”. Nhưng UBND Quận Bình Thạnh đã tước của dân quyền này. Hàng trăm người sẽ không có chỗ ở, số tiền bồi thường không đủ cho họ mua đất cất nhà nơi khác trên địa bàn phường. UBND Quận Bình Thạnh thực hiện cái gọi là “tái định cư” cho dân bằng cách giới thiệu cho dân mua nền đất theo giá thị trường ở các dự án khác, quan chức làm chỉ để đối phó qui định của pháp luật, quyền lợi của dân thực tế bị tước đoạt một cách tinh vi.
Khoản 1 Điều 13 Nghị định 197/2004/NĐ-CP qui định: “Người sử dụng đất ở khi Nhà nước thu hồi đất mà phải di chuyển chỗ ở được bồi thường bằng giao đất ở mới, nhà ở tại khu tái định cư hoặc bồi thường bằng tiền theo đề nghị của người có đất bị thu hồi và phù hợp với thực tế ở địa phương”. Tuy nhiên, chính quyền Quận Bình Thạnh không giao đất ở mới, cũng không “bồi thường bằng tiền theo đề nghị của người có đất bị thu hồi” như pháp luật đã qui định.
Kết luận: Người dân bị thu hồi đất ở dự án xây dựng nhà ở cao tầng Lô 13-14 bị thiệt thòi, mất quyền lợi do sự sai trái của quan chức chính quyền, dẫn đến bức xúc và khiếu kiện, mất niềm tin. Những công dân của thành phố bỗng dưng biến thành dân oan mất đất, đang kêu cứu, yêu cầu chính quyền xem xét, giải quyết lại theo đúng pháp luật. Hãy trả lại công bằng cho dân, giải quyết cho dân có chỗ ở để dân an tâm sinh sống.
AFR Dân Nguyễn (VNTB) Trung tướng Nguyễn Quốc Thước, nguyên UVTW đảng, nguyên đại biểu QH, vừa có bài “Đổi mới nhưng dứt khoát không đổi màu”, trên báo Giáo dục Việt Nam (GDVN).
Chỉ với tiêu đề bài viết, ông tướng Thước đã có thể truyền đi khá rõ nét cái thông điệp muốn căn dặn các nhà lãnh đạo đảng của ông đổi mới gì thì đổi, đổi được đến đâu thì đổi, chứ dứt khoát chế độ không được thay đổi…
“Đổi mới nhưng dứt khoát không được đổi màu”-lời căn dặn của tướng Thước lại khiến người ta liên tưởng ngay tới một phát ngôn từ cuối thế kỷ trước :” Hòa nhập chứ không hòa tan!”…
Không biết ai là tác giả phát ngôn “để đời” này, nhưng chắc hẳn phải là một nhà Mác xít cao cấp, một người “giỏi lý luận”, hay “biết lý luận”(!)…
Đứng trước sự sụp đổ tan tành của Liên bang Xô Viết- thành trì của cách mạng thế giới- quê hương của Lê nin vĩ đại, kéo theo sự sụp đổ không gì cứu vãn của “hệ thống xã hội chủ nghĩa anh em” trên khắp Âu châu; đứng trước xu thế hội nhập không thể cưỡng lại của toàn thế giới, đảng cộng sản VN nhận thức được rằng, hội nhập là bánh xe lịch sử mà họ không thể quay ngược lại được…nên họ chấp nhận xu thế này. Đó là “Hòa nhập”. Trong khi chủ trương tham gia mọi tổ chức QT về kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật, thậm chí tham gia cả các tổ chức về chính trị, xã hội, như tổ chức nhân quyền…nhưng đảng cộng sản VN vẫn “kiên trì” đường lối đảng cs lãnh đạo toàn diện, vẫn “Kiên trì định hướng XHCN”. Đó là “…không hòa tan”.
Tròn 25 năm, một phần tư thế kỷ, kể từ khi chủ nghĩa cộng sản trên phạm vi toàn thế giới đã sụp đổ và không có bất cứ một biểu hiện của khả năng ngóc đầu dậy. Tướng Thước là người trong cuộc, chứng kiến trọn vẹn “sự kiên lịch sử” trọng đại này. Ông biết nước Nga của Lê nin vĩ đại đoạn tuyệt thẳng thừng và dứt khoát với những di sản do Lê nin để lại. Nhân dân Nga đã và đang vật vã trong sự thoát thai khỏi những di hại do chủ nghĩa cộng sản gieo rắc. Ông cũng biết trên quê hương của Mác, ông tổ của chủ nghĩa cộng sản thế giới, cái “màu đỏ” chết tiệt của Mác, cũng đã được đổi sang “màu xanh”của hòa bình, ấm no, hạnh phúc và thịnh vượng được một phần thư thế kỷ rồi. Khối các nước Đông Âu cũng đã “đổi màu”, từ “màu” cộng sản đói nghèo, không có tự do, sang “màu” dân chủ, nhân quyền. Tướng Thước có biết điều đó chăng? Nhân dân nhiều nước trong khối cộng sản đông Âu cũ còn chưa thoát khỏi nghèo đói cũng bởi hệ quả mà chủ nghĩa cộng sản để lại là vô cùng nặng nề. Người dân trên quê hương Mác may mắn hơn, vì sau cuộc chuyển đổi về chung một “màu” với nửa Tây Đức, nhân dân Đông Đức cộng sản theo chủ nghĩa Mác được san sẻ, giúp đỡ bởi những người đồng bào của mình, mà họ có ngay bánh mỳ patê, áo măng tô và xe cộ…Người dân Đông Đức phải rùng mình ớn lạnh mỗi khi nghĩ về “thời xa vắng”- cái thời họ phải sống trong “Bức tường Bec-lin”, sống trong “bức màn sắt” của chủ nghĩa cộng sản….,tướng Thước hẳn không thể không biết những điều kể trên.
“Đổi mới nhưng dứt khoát không đổi màu”
Cái “màu” mà ông Thước đòi giữ cho bằng được ấy là “màu” gì, mà khiến ông quý hóa nó, muốn lưu giữ nó mãi thế?
Một cái nhà không cùng “gam” màu với cả dãy phố mới, nó đỏ loe đỏ loét khiến nó trở nên kệch cỡm, thiết tưởng cũng đã nên phải “đổi màu” cho phù hợp, hài hòa với phố phường…,huống hồ nó đã bạc phếch, nham nhở đầy những vết nấm mốc, tróc lở, thì có nên “đổi màu” hay không???
Đấy mới chỉ là chuyện “màu” của một ngôi nhà trên phố.
Còn cái “màu” mà ông tướng Thước hô hào “kiên quyết không đổi” ở đây, ai cũng hiểu là cái “màu” đỏ nhức mắt, màu máu bầm gan tím ruột trong đói nghèo và tranh chiến của chủ nghĩa cộng sản; là (Chế độ XHCN “ưu việt”).
Ai cũng biết chủ nghĩa cộng sản là cái bánh vẽ, là thiên đường trong mơ.
Ai cũng biết chủ nghĩa cộng sản không đem lại gì khả dĩ cho nhân loại ngoài đói nghèo, bất công, ác độc, xảo trá…
Chủ nghĩa cộng sản là thế. Nó không thể khác được.
Làm sao có thể khác được khi cơ chế thiết chế nên chủ nghĩa cộng sản đã chứa đựng toàn những nhân tố mâu thuẫn đối kháng, duy lý, cực kỳ khiên cưỡng, không tôn trọng quy luật tự nhiên cũng như quy luật xã hội?
Kêu gọi “đổi mới mạnh mẽ”, trong khi lại hô hào “kiên quyết không đổi màu”, tức không thay đổi thể chế, khiến người ta không biết “đổi mới” mà ông Thước nói tới ở đây là đổi mới cái gì.
Kêu gọi cán bộ phải biết tôn trọng dân, lấy dân làm gốc bằng “phê và tự phê, trong khi “bài” phê và tự phê cũng như chiến dịch “học tập và làm theo tấm gương đạo đức HCM” vẫn đã và đang được đảng CSVN áp dụng nhiều năm nay, kết quả ra sao, thiên hạ rõ cả rồi...
Ông Thước đã thuộc vào lớp người “xưa nay hiếm”.
Những trăn trở, mong mỏi của ông cho một đất nước tốt đẹp, thật đáng trân trọng.
Tiếc là nguyện vọng đó lại được ông gói ghém trong một tư duy mâu thuẫn và lẩm cẩm: ( “Kiên quyết không đổi màu”) giống như những điều người ta từng được nghe, vẫn được nghe, như: “Ổn định chính trị”. “Kiên trì định hướng XHCN”. “Lấy chủ nghĩa Mác làm nền tảng tư tưởng ”…
Thiết nghĩ, với một người vừa được tái đắc cử cương vị đứng đầu đảng CSVN như ông Nguyễn Phú Trọng, tướng Thước còn gì phải lo lắng về chuyện đổi mới với chả đổi màu…
Quang Nguyên (VNTB) Theo dõi người bị tình nghi chống nhà nước thì ở đâu cũng có, từ cổ chí kim, từ đông sang tây, chính quyền bá đạo hay vương đạo đều vậy. Ngăn chăn sự di chuyển của người dân thì chỉ có nhà nước thuộc dạng không phải vì dân, do dân và của dân. Nhà nước Việt Nam đang ngăn chặn tư do di chuyển của nhiều người.
Tôi điện thoại hỏi thăm, chúc tết một người bạn, anh bảo đang trên đường thăm bạn bè, và đang bị công an chìm theo sau. Một chị bạn tôi đến thăm bạn của chị trong một chung cư, có vài cái xe gắn máy làm đuôi đeo lẵng nhẵng, chị đậu xe trong khu nhà xe, lúc ra về, xe bị đâm thủng cả bốn bánh. Lần trước đó, chị đi xe đạp, đến thăm một người bạn khác, gửi xe trong khu trông, giữ xe, lúc ra cũng bị rạch bánh xe. Cụ Nguyễn Văn Lực, học trò của Nguyễn Thái Học, sau khi ra khỏi tù Chí Hòa, năm 1985,đạp xe đi thăm bạn, trên quãng đường vắng, bị một tay du đãng tông xe gãy chân, y chỉ mặt, chửi cụ: "ĐM thằng già, còn đi lạng quạng nữa thôi?" Về nhà, chân bó bột, vài tháng chịu đau đớn cả tinh thần lẫn thể xác không nổi, cụ mất. Tại Hà Nội, có trường hợp một người bị theo đến hơn chục năm vì thường đến ăn ở một tiệm phở đang bị theo dõi. Người ta âm thầm một cách "tối mật" để tìm ra "ổ gián điệp" trong lòng thủ đô xã hội chủ nghĩa.
Giữa những năm 1980 về trước, miền Bắc, rồi tiếp theo miền Nam Giải Phóng lâm vào cảnh ngăn sông cấm chợ. Di chuyển từ tỉnh này sang tỉnh nọ phải xin phép, phải qua hàng chục trạm kiểm soát, vài cân gạo, cá mang theo cho người thân, gia đình cũng bị cấm, bị tịch thu. Cả nước là nhà tù lớn. Người dân được khuyến khích, gián tiếp có, trực tiếp có, người này theo dõi người khác, tổ trưởng dân phố theo dõi người trong tổ, công an khu vực theo dõi người trong khu vực, học trò, sinh viên theo dõi cô, thày. Sau năm 1975, dân miền Nam vô cùng ngạc nhiên và dị ứng với cách công an phường, công an khu vực cứ đến nhà dân là xồng xộc vào, đi thẳng xuống tới nhà bếp, ngó ngang ngó ngửa, không bỏ qua ngóc ngách nào, mà miệng thì xoen xoét hỏi thăm ngọt như mật. Công an cố tìm đâu đó một bằng chứng cỏn con dần dẫn đến kết luận ai đó chống chính quyền, phản động. Có người trong ngành Công An nói với tôi: “Muốn sống yên trong xã hội này hãy nằm xuống. Nằm xuống rồi thì không ai muốn vật mình ngã cả". Người ta muốn mọi người trong xã hội này thành những con giun đất. Người ta cũng cố tạo ra một hình ảnh về quyền lực và sự đe dọa của đảng và nhà nước bao trùm lên mọi ngóc ngách của xã hội. Hiếm có chế độ nào muốn tỏ ra sự đe dọa của họ với người dân như thế.
Công an Việt Nam thuộc loại "giỏi nhất thế giới"(sic), nghiệp vụ của họ không thua gì của các nước, nhưng khắc biệt về bản chất. Trong khi ở các nước tự do, các cơ-quan an-ninh công an, cảnh-sát bị ràng buộc bởi định chế pháp-lý, bị kiểm soát bởi quốc hội thì trong các nước độc tài, đảng trị, cộng-sản các cơ quan này được phép ngồi trên tất cả và được dành cho các ưu tiên về ngân sách, quyền lực để duy trì chế độ. Các cơ quan an ninh VN vẫn theo các bài học cũ được dậy từ Liên Bang Sô Viết, Rumania, Trung Cộng, CHDCND Đức, chú trọng khủng bố, bắt cóc, thủ tiêu. Không có con số chính xác, nhưng người ta ước lượng số lượng số mật báo viên, công an chìm VN khoảng 500.000 người. Nếu gồm cả những người không chính thức trong biên chế, như điềm chỉ, cộng tác viên, v...v số này có thể lên đến hàng triệu. Trung bình từ 50 đến 100 người dân bị 1 - 2 người giám sát, theo dõi và sẵn sàng bị báo cáo về bất cứ hành vi, lời nói của họ. Tưởng cũng nên nói thêm về những người tình báo, chỉ điểm, nhân dân tự phát này. Một phần các mật báo viên, điềm chỉ viên, nhân dân tự phát bị o ép phải làm việc với công an. CA nắm được một điểm yếu nào đó của họ, như nghiện ngập, đĩ điếm, buôn lậu, mua, bán ma túy, dân du đãng, cho vay nặng lãi v..v. Từ bị o ép, đám này sau trở thành trợ thủ rất đắc lực cho CA để được yên thân. Một số người khác tình nguyện tham gia, và phần lớn còn lại là những kẻ lợi dụng, cơ hội mong có được thêm chức vụ trong nơi làm việc hay được dành cho thêm một chút dễ dãi trong xã hội, trong nghề nghiệp. Mạng lưới chỉ điểm, mật báo viên này có mặt từ hạ từng cơ sở, nơi có bọn cặn bã của xã hội cho đến thượng từng kiến trúc, nơi có các vị gọi là tinh hoa của đất nước.
Khi một, hay nhiều đối tượng trong cùng một nhóm, bị theo dõi, công an thường áp dụng các biện pháp thu thập thông tin một cách kín đáo. Khi có đủ chứng cứ, họ bắt. Không đủ chứng cứ, họ ngụy tạo chứng cứ để bắt. Khi không thể ngụy tạo chứng cứ, hoặc vì một lý do gì không hay chưa thể bắt được, họ ra mặt khủng bố.
Khủng bố của CA có 1001 cách. Đây chỉ sơ lược, không thể lường hết trong những bộ óc đặc sệt suy nghĩ cách thức đàn áp người dân. Từ bắt đầu lộ diện một hai cái đuôi, làm vẻ như vô tình, nhưng là cố ý cho đối tương biết là mình bị theo dõi( đừng nghĩ là mình may mắn hay giỏi nên phát hiện ra bị theo dõi), người bị theo dõi sẽ có thể hoảng sợ, trốn chạy,và sa lưới. nếu thấy không có gì phải trốn chạy thì tinh thần cũng bất an, có thể không còn muốn ra khỏi nhà, không muốn liên lạc thư từ, gọi phôn... Chiến thuật khủng bố "cách ly đối tượng với cộng đồng", "bắt cá ra khỏi nước" của CA bắt đầu có hiệu quả, bắt đầu chôn chân được đối tượng, bắt đầu ngăn cấm được sự tự do di chuyển của người bị tình nghi. Nhưng nếu đối tượng thuộc loại cứng cựa, sẽ có vài tên " mặt không ưa được, mặt như c.a." đến rình mò, cắm trụ trước nhà, làm đuôi, thậm chí công khai ngăn chận không cho ra khỏi nhà trong những trường hợp đặc biệt. Không chỉ chính đối tượng mới bị phiền phức rắc rối, người nhà của họ cũng bị cố tình làm phiền, quấy nhiễu. CA cố tình làm cho sinh hoạt, tình cảm trong gia đình bị xáo trộn, đôi khi đến đổ vỡ.
Nếu vẫn chưa lung lạc được tinh thần đối tượng, chưa phá vỡ được hạnh phúc gia đình, họ rỉ tai, xúi bẩy mọi người chung quanh, hàng xóm, láng giềng, họ hàng, bạn đồng nghiệp, thậm chí cả bạn hàng ngoài chợ tỏ thái độ ghét bỏ, tố khổ, chửi bới, bất hợp tác bằng đủ mọi cách khiến đối tượng và có khi cả gia đình không dám ra khỏi cửa đi đến đâu, con còn nhỏ không dám đến trường. Chính đối tượng hay người nhà có thể bị mất việc làm hạ bậc lương hay bị thuyên chuyển đi nơi khác. Một bà tham gia biểu tình chống Trung Quốc xâm lược, nhà ở cuối một con hẻm, mỗi ngày ra, vào đều chịu hàng trăm lời rủa xả, chửi bới, xiên xỏ của người quen, lẫn không quen, trong hẻm, có khi nhận cả thùng nước rửa chén, bát hắt vào người. Trước đó vài năm, bà này cũng được thì thầm bảo làm như thế với một người có mặt trong vụ Nhà Thờ Lớn Hà Nội. Bà đã không nghe theo và bị để ý từ đó.
Để duy trì được tổ chức của họ, nhà nước VN đang làm tất cả những việc mờ ám nhất, tự chế diễu lời nói cuối cùng trong tuyên ngôn cộng sản của họ: "Người cộng sản coi là điều đáng khinh bỉ nếu giấu giếm những quan điểm và ý định của mình.” Phải chăng lời nói cuối cùng trong bản tuyên ngôn này cũng tự chế diễu nó ?
Khó khăn cho các người đang tranh đấu cho một nước VN dân chủ, tự do càng ngày càng nặng nề. Nhìn vào hàng ngũ công an trong bộ máy lãnh đạo đảng và nhà nước, người ta chờ đón những cuộc khủng bố, cầm tù lớn nhất sẽ xảy ra.
Tưởng pho tượng làm bằng đá quý, người dân bẻ vật cầm tay trước khi bị tịch thu. Hai vật này sau đó bị xã giữ gần 40 năm và nhất quyết không bàn giao cho bảo tàng.
Bảo tàng Chăm Đà Nẵng đang trưng bày pho tượng Bồ tát Tara ở vị trí trang trọng. Do là hiện vật độc bản, có giá trị nghệ thuật đỉnh cao, tượng đã được Thủ tướng công nhận bảo vật quốc gia. Xung quanh bảo vật này có nhiều câu chuyện bi hài.
Mối liên hệ giữa tượng quý và vương quốc Chămpa
Trung tuần tháng 8/1978, một người dân thôn Đồng Dương (xã Bình Định Bắc, Thăng Bình, Quảng Nam) trong lúc nhặt gạch Chăm từ Phật viện Đồng Dương về làm nhà vô tình phát hiện pho tượng quý. Pho tượng Bồ tát bị vùi lấp sâu 3 m dưới chân tháp Sáng, ngọn tháp duy nhất sót lại ở nơi từng là Phật viện lớn nhất Đông Nam Á vào thế kỷ 9.
Pho tượng cao 114 cm làm bằng đồng, mang hình dáng Bồ tát Laksmindra Lokesvara hay còn gọi là Bồ tát Tara vẫn còn nguyên vẹn sau khi ngủ yên dưới lòng đất hơn nghìn năm. Tượng được khảm thêm đá quý ở mắt, trán. Nét mặt của tượng vừa nghiêm trang, thánh thiện nhưng cũng hoang sơ, trần tục. Tay phải tượng xòe ra đỡ bông sen búp, tay trái đỡ bông sen đã nở. Trái với phần trên của tượng được để trần, phần dưới được che kín bởi 2 lớp váy, ôm sát hông đùi đến tận mắt cá… Đây được đánh giá là tượng độc bản, có giá trị nghệ thuật đỉnh cao.
Pho tượng Bồ tát Tara đang được bảo quản tại Bảo tàng Chăm Đà Nẵng. Ảnh: Tiến Hùng.
Theo nhiều tài liệu về lịch sử Vương quốc Chămpa, năm 875, vua Indravarman II cho xây dựng một tu viện Phật giáo và đền thờ vị Bồ tát bảo hộ cho vương triều có tên Tara, một biến thân của Quan thế âm Bồ Tát. Tương truyền trong Phật giáo, nữ thánh Tara có tấm lòng cứu độ đại từ bi đầy quyền lực. Xúc động trước nỗi khổ cực của trần thế, có một lần Quan thế âm Bồ Tát rỏ những giọt lệ và hòa quyện thành một biến thân mới có tên là Tara.
Tên của kinh đô mới là Indrapura, hay còn gọi là kinh thành sấm sét được xây dựng trên mảnh đất của làng Đồng Dương ngày nay. Đây cũng là giai đoạn duy nhất trong lịch sử Chămpa, Phật giáo hưng thịnh và được coi trọng hơn những tôn giáo khác. Pho tượng Tara được phát hiện trong tư thế nằm ngửa, xung quanh được sắp đặt các lớp gạch bảo vệ ngay ngắn. Chính vì vậy, có giả thuyết cho rằng pho tượng quý này được cất giấu tại đây khi Chămpa bị xâm lược vào cuối thế kỷ 10. Lúc này kinh thành Indrapura bị phá hủy.
Pho tượng không còn nguyên vẹn khi người dân bẻ hai vật cầm tay trước khi bàn giao cho chính quyền. Hai vật này bị xã thu giữ gần 40 năm qua. Ảnh: Tiến Hùng.
7 đời chủ tịch xã cất giấu một phần bức tượng quý
Theo ông Trà Tấn Túc, Chủ tịch UBND xã Bình Định Bắc, sau khi phát hiện, bức tượng được người làng Đồng Dương đem về cất giấu rất kỹ và xem đó như báu vật chung của cả làng. Tuy nhiên, ngày hôm sau chính quyền tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng (cũ) hay tin và cho người xuống thu hồi. “Lúc đó người dân nhất quyết không giao tượng, tỉnh phải huy động rất nhiều công an xuống. Vì chưa có luật tìm thấy cổ vật phải bàn giao cho chính quyền nên người dân không chịu đưa cũng có lý”, ông Túc nói. Cũng giống phần lớn dân thôn Đồng Dương, ông Túc là hậu duệ của những người Chăm từng làm chủ ở vùng đất này.
Sau nhiều cuộc tranh cãi giữa chính quyền và người dân, cuối cùng bức tượng được đưa về Bảo tàng Điêu khắc Chămpa TP Đà Nẵng. Tuy nhiên, khi tiếp nhận về bảo tảng, pho tượng đã không còn nguyên vẹn. “Do khi đào bức tượng lên bị gỉ đồng màu xanh nên trông giống như làm bằng đá quý. Vì vậy trước khi bàn giao, người dân đã bẻ hai vật cầm tay trên pho tượng”, ông Túc nói. Sau một thời gian vận động, hai vật này được chính quyền xã Bình Định Bắc thu giữ.
Chính quyền xã bảo quản và xem vật bị bẻ như báu vật, chỉ có chủ tịch xã mới có quyền cầm chìa khóa và biết chỗ cất giữ. Mọi thông tin về chúng được các lãnh đạo xã giữ tuyệt đối bí mật. Từ đó đến nay, đã 7 đời chủ tịch xã Bình Định Bắc thay nhau giữ và chưa hẹn ngày trả lại cho bảo tàng để pho tượng được hoàn thiện. “Mới có một giáo sư lặn lội từ Hà Nội vào thì tôi mới mở ra cho xem. Tuy nhiên, khi ông ta đề nghị được đúc bản sao, tôi từ chối”, ông Túc nói.
Nhiều lần bảo tàng đề nghị xã trao trả hai vật này nhưng bị chủ tịch xã cương quyết từ chối. “Không thể được, bảo tàng muốn nhận hai vật này thì phải bỏ tiền, hoặc phải đầu tư cho xã cái gì đó. Chứ không thể nói trao trả là trao trả”, vị chủ tịch xã khẳng định.
Do chính quyền xã nhất quyết không cho ai xem nên có nhiều nhận định khác nhau về hai hiện vật. Nhiều chuyên gia cho hay, hai vật trên hai tay pho tượng đồng là 2 quả lựu. Cũng có tài liệu nghiên cứu lại cho rằng tay trái pho tượng cầm một con ốc, tay còn lại cầm một đóa hoa 5 cánh. Trong hồ sơ đề nghị xã Bình Định Bắc trao trả hai hiện vật năm 1978, Ty Văn hóa, Thông tin Quảng Nam - Đà Nẵng (cũ) ghi hai hiện vật này là quả đào và búp sen. Trong khi đó, ông Trà Tấn Túc khẳng định, hai vật này là đóa hoa sen và quả cau.
Một bức ảnh hiếm hoi chụp hai vật cầm tay. Do xã không cho ai tiếp cận nên các chuyên gia vẫn chưa khẳng định được hai vật này là gì.
Cụ Trà Diếu (88 tuổi, thôn Đồng Dương) cho hay khi đào tượng lên, nhóm người khiêng về rồi báo cho làng biết, hàng trăm người dân hiếu kỳ kéo nhau đến xem. “Hai hiện vật trên tay là hai đóa sen, trong đó tay phải tượng cầm sen búp, tay trái cầm sen nở. Một trong những người đào được đã bẻ mất 2 đóa sen này”, cụ Diếu nói.
Sau này, khi pho tượng đã được bảo quản trong bảo tàng nhưng người dân Đồng Dương vẫn không tin tưởng, nhiều lần đề nghị được thấy tận mắt tượng. Chính quyền tỉnh sau đó đã phải bố trí xe đưa gần 100 người dân ra Đà Nẵng để xem.
Ông Hồ Xuân Tịnh, Phó giám đốc Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch Quảng Nam, cho hay Sở đã nhiều lần đòi hai hiện vật này nhưng chính quyền xã yêu cầu phải có tiền mới trao trả. “Sở thì làm gì có tiền. Nếu chiếu theo luật là xã Bình Định Bắc vi phạm, luật không cho phép giữ bảo vật quốc gia. Sau này, khi đã khai quật xong Phật viện Đồng Dương, chúng tôi sẽ làm nhà trưng bày, lúc đó phải đòi bằng được”, ông Tịnh nói.