Wednesday, January 6, 2016

Nợ xấu ở Tây Nguyên: vì đâu nên nỗi?

Khắc Giang 

Gửi cho BBC từ Hà Nội 4 giờ trước 

Các cụ già người Ê-đê đi gùi củi kiếm sống
Image captionĐối với nhiều hộ gia đình người dân tộc thiểu số tại Tây Nguyên gánh nặng nợ nần vẫn rất trầm trọng.
Ông Ama Hwak, người Ê-đê, tự nhận mình là người chăm chỉ. Là trụ cột của gia đình có 5 người con, ông còn là buôn trưởng.
Nhưng lơ lửng trên đầu ông là khoản nợ 100 triệu đồng không biết bao giờ mới trả hết.
Từ khi trồng cây cà phê gần 30 năm trời, chưa lúc nào gia đình ông thoát khỏi cảnh nợ nần. Đến vụ mùa, gần như tất cả số cà phê ông làm ra đều được gán để trả nợ.
Phải nhắc lại, ông Ama Hwak là một người chăm chỉ, và nó cho thấy nợ xấu không chừa một ai.
Ở buôn Tinh 2, được coi là khá giả trong khu vực Buôn Hồ, tỉnh Dak Lak, không một gia đình nào là không mang nợ, ít thì vài chục, nhiều thì đến vài trăm triệu đồng.
Nghiên cứu mới đây của Viện Nghiên cứu Xã hội, Kinh tế và Môi trường (iSEE) còn cho rằng 90% hộ dân tộc thiểu số Tây Nguyên được hỏi cho biết gánh nặng nợ nần đang rất trầm trọng với họ.
Và Tây Nguyên cũng không phải là ngoại lệ. Theo một khảo sát khác thực hiện cách đây 2 năm, chỉ có hơn 13% số vốn vay ở nông thôn là qua hệ thống ngân hàng. Điều này có nghĩa nông dân phần lớn phải vay tiền sản xuất thông qua các kênh phi chính thức, hay còn gọi là “tín dụng đen”.
Như buôn Tinh 2, dù có nhiều hộ tiếp cận được nguồn vốn vay có lãi suất thấp từ Ngân hàng Chính sách Xã hội (VSBP) hay Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (Agribank), hai tổ chức thực hiện nhiệm vụ phân bổ nguồn vốn ưu đãi cho nông dân, nhưng những khoản vay đó là không đủ lớn để đáp ứng nhu cầu.
Thêm vào đó, những thủ tục ngân hàng nghiêm ngặt nhiều khi cũng làm họ ngần ngại, rồi tặc lưỡi bỏ qua. Để bù đắp cho khoản còn thiếu, bà con phải đi vay tiền của các đại lý thu mua cà phê, mà ông Ama Hwak gọi chung là “bà buôn”.
Với lãi suất trên trời, một gia đình chỉ có hơn 1 mẫu cà phê như ông gần như chắc chắn không bao giờ trả hết nợ. Một vụ mùa ông thu được 20 triệu thì 18 triệu đã phải dành để gán nợ. Chi tiêu của gia đình, tiền đầu tư cho vụ mới, hay cả tiền học cho con, ông phải đi vay với lãi suất lên đến 40 – 50%/năm. Cứ thế, năm này qua năm khác, quy trình này trở thành một vòng xoáy không lối thoát.

Vì sao mắc nợ?

Sẽ là không công bằng nếu đổ lỗi tình trạng “tín dụng đen” cho các ngân hàng, bởi họ có những tiêu chuẩn để đảm bảo hoạt động của hệ thống không chịu rủi ro quá lớn. Và cũng sẽ không công bằng nếu cho rằng các “bà buôn” gây ra tình trạng nợ xấu ở nông thôn, bởi theo nguyên tắc kinh tế thị trường, có cầu hẳn sẽ có cung. Không có “bà buôn” này sẽ lại sản sinh ra những “bà buôn” khác.
Nếu không có những khoản vay “đen”, người dân khó lòng tiếp tục quay vòng sản xuất, mất thu nhập, và rơi vào tình trạng, nói như những nhà kinh tế, là “phá sản”.
Vậy tại sao người nông dân mắc nợ?
Để trả lời cho câu hỏi này, có lẽ cần phải tìm thời điểm mà người nông dân chưa mắc nợ.
Những người dân ở buôn Tinh 2 cho biết, họ chỉ bắt đầu biết đến “nợ”, “lãi suất”, “bà buôn” từ khi trồng cây cà phê 30 năm trước theo phong trào của nhà nước. Cây cà phê đưa bao nhiêu người thành tỷ phú, thì cũng đẩy một bộ phận lớn người dân, chủ yếu là đồng bào dân tộc thiểu số, rơi vào cảnh nợ nần.
Vấn đề, tất nhiên, cũng không phải ở cây cà phê. Nhưng khi bắt đầu trồng cà phê, hay ca cao, hồ tiêu, phần lớn những người nông dân Tây Nguyên không biết đến kinh tế thị trường và nguyên tắc cung – cầu. Với sự trợ giúp từ nhà nước, quá trình chuyển đổi từ tự cung tự cấp sang kinh tế hàng hoá diễn ra mạnh mẽ trong những năm 1990 và 2000.
Tuy nhiên, để làm quen với kinh tế thị trường thì một vài năm là chưa đủ. Đến khi hỗ trợ từ chính quyền không còn, nhiều nông hộ gần như lạc lối trong một mô hình sinh kế hoàn toàn xa lạ với họ.
Với quy mô sản xuất nhỏ lẻ, không liên kết được với nhau, không có độ nhạy bén về thị trường, tình trạng nợ chồng nợ với họ là không thể tránh khỏi.
Chị H'Kinie cùng con trai lớp 4 bên cạnh những hạt cà phê lép mới đi mót về
Image captionVụ mùa thành bại còn phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố khách quan và chủ quan
Trong một nền kinh tế thị trường, sẽ rất khó để đòi hỏi nhà nước phải “ba đầu sáu tay” lo lắng cho tất cả những nhóm yếu thế như người dân Tây Nguyên.
Ở những quốc gia khác, từ những nước phát triển như Nhật Bản cho đến Bangladesh, khoảng trống hỗ trợ này được dành cho các tổ chức xã hội.
Các ngân hàng vi mô theo mô hình Grameen Bank của nhà kinh tế đoạt giải Nobel Muhammad Yunus cung cấp tín dụng quy mô nhỏ cho nông dân, trong khi các hiệp hội nghề độc lập sẽ hỗ trợ họ về kỹ thuật sản xuất, kỹ năng bán hàng, và cả mối liên kết trong sản xuất, như mô hình ở Nhật Bản.
Nhiệm vụ của nhà nước đơn giản là cung cấp khuôn khổ pháp lý để các tổ chức đó hoạt động hiệu quả.
Ở Việt Nam, đáng tiếc là những mô hình hỗ trợ độc lập kể trên chưa có điều kiện phát triển. Hệ thống tài chính vi mô đang ở giai đoạn sơ khai, còn các hiệp hội độc lập chưa được tạo hành lang pháp lý để hoạt động.
Dự thảo Luật về Hội, vốn đã được đề xuất xây dựng từ hơn chục năm trước, vẫn đang gây nhiều tranh cãi và chưa được Quốc hội thông qua.
Những yêu cầu về việc thành lập, tổ chức hoạt động, quy định về vay vốn ở trong và ngoài nước v.v. gây cản trở hoạt động của nhóm tín dụng vi mô, nhóm vốn rất hiệu quả trong việc hỗ trợ người nghèo.
Có vẻ như nhà nước vẫn chưa sẵn sàng phân quyền để xã hội giải quyết những tồn tại trong vấn đề xoá đói giảm nghèo. Nhưng trong khi chờ đợi bàn tay nâng đỡ của nhà nước, những người dân Tây Nguyên vẫn phải tiếp tục sống chung với nợ.

Sai lầm về đường hướng phát triển

Trong một cuộc tọa đàm, nhà văn Nguyên Ngọc, một người gắn bó và nghiên cứu về Tây Nguyên lâu năm, cho rằng các sai lầm về chiến lược phát triển vùng đã đẩy vùng đất trù phú bậc nhất Việt Nam gặp phải những khủng hoảng cả về kinh tế, xã hội, và môi trường.
Bà Aduôn Brai người Ê đê gùi phân kiếm sống
Image captionCuộc sống của người dân tộc thiểu số tại Tây Nguyên có những đặc tính riêng của mình.
Trước năm 1975, Tây Nguyên vẫn còn hoang sơ và hầu như không bị tàn phá đáng kể bởi chiến tranh. Những người dân tộc thiểu số sống hoà đồng với tự nhiên, và ngoài muối ra, họ không thiếu gì cả.
Nhưng sau khi Việt Nam thống nhất, chính quyền mới cho rằng lối sống của đồng bào là lạc hậu, và cần phải được cải tạo lại. Ngay sau đó, phong trào vận động người dân tộc thiểu số vào các nông trường ở Tây Nguyên bắt đầu. Như trong bài viết của ông Nguyễn Xuân Mẫn, một học giả nhà nước, viết trong bài “Việc đưa đồng bào dân tộc ít người tại chỗ vào nông trường” (Một số vấn đề kinh tế xã hội Tây Nguyên, Nxb KHXH, Hà Nội, 1986):
“Đưa đồng bào dân tộc thiểu số vào làm việc tại các nông lâm trường là một quá trình chuyển đổi những cộng đồng rất nghèo và lạc hậu thành công nhân xã hội chủ nghĩa, chuyển đổi cuộc sống kinh tế thiếu thốn và bấp bênh sang một cuộc sống ổn định và no đủ hơn. Khi họ trở thành công nhân, đời sống vật chất và tinh thần cũng như quan hệ xã hội trong làng sẽ thay đổi một cách nhanh chóng.
"Do lợi ích kinh tế và sự giúp đỡ từ các tập đoàn lớn mạnh, cùng với sự hướng dẫn nhiệt tình [của công nhân người Kinh], đồng bào các dân tộc thiểu số sẽ dần tự xoá bỏ các phong tục tập quán lạc hậu, mạnh dạn áp dụng các mô hình tiên tiến trong các khía cạnh sản xuất và văn hoá, từ đó nâng cao cuộc sống một cách hiệu quả”
Cách nhìn nhận đó, theo nhà văn Nguyên Ngọc, là sai lầm, gượng ép và dập khuôn, khi những người làm chính sách không hiểu gì về đặc điểm của Tây Nguyên cũng như những người bản địa sinh sống ở đó.
Sau khi thất bại với thử nghiệm kinh tế theo mô hình Stalin, Việt Nam chuyển hướng sang nền kinh tế thị trường và đạt được một số thành công nhất định.
Thế nhưng, khi định hình chiến lược phát triển cho Tây Nguyên, họ lại tiếp tục mắc phải sai lầm như trước: ép người Tây Nguyên vào một mô hình kinh tế hoàn toàn xa lạ, và cũng không phù hợp với những đặc tính của họ.
Hậu quả nhận là những khu rừng bị tàn phá, môi trường huỷ hoại, những triệu phú đô la và hàng triệu người dân tộc thiểu số chìm trong nợ.
Ông Ama Hwak trả lời như đinh đóng cột rằng sẽ đủ tiền để trả nợ trong vòng 2 năm tới, khi thu hoạch xong vụ cà phê. “Nợ nhưng mình không sợ đâu, ở buôn không ai sợ cả”, ông tự tin nói với tôi.
Nhưng với những nhịp điệu lên xuống thất thường của thị trường, rủi ro về đầu vào lẫn đầu ra, cộng với quy mô canh tác quá nhỏ bé, việc thoát nợ với ông Hwak không phải là dễ dàng.
Và như thế, những người Tây Nguyên làm quen với kinh tế thị trường ở khía cạnh đáng buồn nhất của nó.
Bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả Khắc Giang, cây viết và nghiên cứu viên, hiện đang làm việc ở Hà Nội.

Kinh tế thị trường không cần ai 'chủ đạo'

 Theo BBC-3 giờ trước 

Lãnh đạo Việt NamImage copyrightAFP
Image captionĐại hội lần thứ 12 của Đảng Cộng sản Việt Nam sắp diễn ra hạ tuần tháng này sẽ quyết định nhiều vấn đề nhân sự và đường lối quan trọng đối với Việt Nam.
Đã là kinh tế thị trường thì không cần tới bất cứ thành phần nào là chủ đạo, kể cả là 'nhà nước', đó là quan điểm của một chuyên gia kinh tế từ Việt Nam.
Mặt khác, kinh tế thị trường hiện nay ở Việt Nam nên chăng cần được xác định là theo định hướng 'phát triển hiện đại' hơn là 'theo định hướng xã hội chủ nghĩa' như lâu nay vẫn được quy định, vẫn theo ý kiến này.
Trao đổi với BBC hôm 06/01/2016, bà Phạm Chi Lan, nguyên thành viên Ban tư vấn của Thủ tướng Chính phủ Việt Nam thời các ông Võ Văn Kiệt và Phan Văn Khải, nói:
"Tôi nghĩ rằng khi phát triển kinh tế thị trường thì không nên đặt khu vực nào là chủ đạo cả, kể cả khu vực kinh tế nhà nước.
"Còn nhà nước có trách nhiệm của mình trong việc lãnh đạo đất nước, quản lý nền kinh tế, định hướng phát triển cho nền kinh tế thì điều đó là đương nhiên.
"Nước nào thì nhà nước hay chính phủ cũng có vai trò ấy cả, chứ không phải chỉ trong một nền kinh tế theo cách định hướng xã hội chủ nghĩa như Việt Nam," chuyên gia nói.

Kinh tế theo định hướng nào?


Về định hướng của 'kinh tế thị trường' ở Việt Nam hiện nay, bà Phạm Chi Lan nêu quan điểm:
"Bản thân tôi cũng tán thành hướng là nên định hướng cho kinh tế Việt Nam là 'kinh tế thị trường định hướng phát triển theo hướng hiện đại' hoặc là 'kinh tế thị trường định hướng phát triển...
"Định hướng xã hội chủ nghĩa thì như Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã có lần giải thích trong thông điệp đầu năm 2014 của ông ấy là phải hiểu chủ yếu là trên việc phân bổ các nguồn lực và phân phối lợi ích cho xã hội.
"Thì như vậy kinh tế thị trường trước hết phải có kinh tế thị trường đã, thế còn về định hướng đó thì định hướng làm sao cho nó theo tiêu chí công bằng và bao dung cho tất cả mọi người đều hưởng lợi."
Lưu ý về môi trường hội nhập ngày càng sâu của Việt Nam hiện nay và đường lối phát triển kinh tế của Đảng cộng sản ứng dụng cho Việt Nam, nguyên Phó Chủ tịch, kiêm Tổng thư ký Phòng Thương mại & Công nghiệp Việt Nam (VCCI), nói:
"Tôi nghĩ là hiện nay rất cần xem xét đến bối cảnh mới của hội nhập quốc tế mà Việt Nam đang tham gia, phải tính toán đầy đủ những nhân tố bên ngoài và những cam kết của Việt Nam với cộng đồng các nước mà Việt Nam có FTA (hiệp định thương mại tự do).
"Để làm sao cho định hướng của Việt Nam phải đúng với tất cả cam kết đó, tôi nghĩ những cam kết ví dụ như với TPP, hoặc FTA với EU có những cam kết rất cao, kể cả về thể chế kinh tế, cũng như những thay đổi cần thiết, thì có thể văn kiện Đại hội lần này, do chuẩn bị trước khi Việt Nam kết thúc tất cả những đàm phán đó chưa phản ánh được đầy đủ.
"Nhưng tôi mong rằng ra Đại hội thì tất cả các đại biểu xem xét đến những điều đó và đưa ra những điều chỉnh cần thiết trong văn kiện."

Tân quan, cựu chính sách?


Cũng hôm thứ Tư, một nhà quan sát thời sự Việt Nam, nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo, chia sẻ bình luận và kỳ vọng về kỳ Đại hội sắp diễn ra vào hạ tuần tháng này.
Về mối quan hệ giữa nhân sự và đường lối của Đảng và nhà nước, ông nói:
"Tân quan tân chính sách là người ta nói đúng, thế còn tân quan cựu chính sách thì cái đấy là một cái thật đáng buồn.
"Bởi vì người Việt nói là 'cờ đến tay ai người ấy phất', tôi mong những người trẻ hãy dũng cảm lên và hãy vì đất nước.
"Hãy phất một lá cờ làm sao đấy cho đất nước tiến bộ, đất nước giải phóng qua tất cả những khó khăn, giải phóng qua công nợ, giải phóng qua những (vấn đề) dân trí và đặc biệt phải đi song hành với một thế giới mới."
Nhân dịp này, nhà thơ, nhạc sỹ cũng nêu kỳ vọng về cuộc bầu cử Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp đang được đảng cộng sản Việt Nam chỉ đạo chuẩn bị mà theo dự kiến sẽ diễn ra vào tháng 5/2016.
Ông Nguyễn Trọng Tạo nói:
"Người ta có thể bàn thế này, hoặc là bàn thế kia, cái đấy là quyền của người ta, nhưng tôi - một nhà văn của đất nước này, thì tôi phải nhìn theo chiều sâu của một xã hội.
"Nhưng có một cái lạ là lúc nào tôi cũng có một tin tưởng là những người mới lên họ sẽ vì đất nước hơn," ông nói với BBC hôm 06/1/2016.
Mời quý vị tham gia đóng góp bài vở, ý kiến về Đại hội Đảng CSVN lần thứ 12 trên chuyên mục Diễn đàn của BBC, thể lệ cụ thể, xin mời quý vị theo dõi tại đây.

Gần 20 ‘người nhà’ chia nhau cùng làm ‘quan’ một xã

NGHỆ AN (NV) - Ngoài 3 vị trí chủ chốt là bí thư Đảng ủy xã, chủ tịch, phó chủ tịch xã thì hơn chục người trong bộ máy chính quyền xã Hạ Sơn, huyện Quỳ Hợp, đều là anh em, họ hàng.

Buổi bỏ phiếu bầu Ban Chấp Hành Đảng Bộ xã Hạ Sơn nhiệm kỳ 2015-2020. (Hình: Pháp Luật Sài Gòn)

Chiều 5 Tháng Giêng, ông Nguyễn Công Kích, trưởng ban tổ chức huyện ủy Quỳ Hợp xác nhận, thông tin có gần 20 người trong chính quyền xã Hạ Sơn, huyện Quỳ Hợp, sau đại hội Đảng bộ nhiệm kỳ 2015-2020, có quan hệ anh em ruột, họ hàng với nhau là đúng.

Cụ thể, sau đại hội đảng bộ xã Hạ Sơn nhiệm kỳ 2015-2020, ông Trương Văn An (50 tuổi) tái cử bí thư Đảng ủy xã; ông Lê Văn Thanh, em rể ông An làm chủ tịch xã và ông Đinh Văn Thụ (47 tuổi), anh em họ với ông Thanh làm phó chủ tịch xã.

Ngoài ra, có hơn chục người trong bộ máy chính quyền xã là anh em ruột, họ hàng với ba quan lớn trên như ông Trương Văn Trị (51 tuổi), anh ruột ông An, là Trưởng công an xã; bà Trương Thị Phòng (31 tuổi), cháu ruột ông Thanh làm chủ tịch Hội Phụ Nữ xã. Còn chủ tịch Hội Nông Dân là cháu ruột ông bí thư xã.

Trong khi đó, chủ tịch xã Hạ Sơn cũng có ba người cháu ruột đảm nhiệm các vị trí: Phó chủ tịch hội đồng xã, phó chủ tịch ủy ban xã, chủ tịch Hội Liên Hiệp Phụ Nữ xã. Ngoài ra, ông Lê Văn Đoài, phó chủ tịch hội đồng xã Hạ Sơn là chú ruột của chủ tịch xã. Ông Đoài có con trai làm xã đội phó và con rể làm cán bộ địa chính...

Trao đổi với báo chí, lý giải về sự bất cập trên, ông An cho rằng, cơ cấu cán bộ xã trong nhiệm kỳ 2015-2020 được thực hiện dân chủ, công khai, đúng quy trình và dựa trên năng lực cá nhân. “Việc nhiều người là anh em, họ hàng cùng làm cán bộ xã không có gì bất thường, chỉ đôi lúc tôi thấy khó trong việc lãnh đạo,” ông An nói.
Ông An cũng cho biết thêm, cha của ông từng làm bí thư đảng ủy xã và giữ chức vụ chủ tịch xã trong nhiều năm.

Mặc dù đang có dư luận không hay, nhưng ông Kích, chỉ cho biết: “Trước đại hội Đảng ủy xã Hạ Sơn cũng đã nhìn thấy vấn đề bất cập này nhưng công tác cán bộ đó rất khó khăn vì thiếu nguồn cán bộ tại chỗ.” (Tr.N)

01-05- 2016 2:08:34 PM 

Trung Quốc có thể sớm thiết lập ADIZ ở Biển Đông

Đó là nhận định của nhiều chuyên gia an ninh-quốc phòng sau khi Trung Quốc cho phi cơ thử hạ và cất cánh ở phi trường vừa xây dựng trên bãi đá Chữ Thập ở quần đảo Trường Sa.

Vị trí bãi đá Chữ Thập ở quần đảo Trường Sa và khoảng cách từ bãi đá này đến Trung Quốc, cũng như Việt Nam và một số quốc gia Đông Nam Á khác. (Hình: Defense News)

Ông Leszek Buszynski, một chuyên gia làm việc tại Trung Tâm Nghiên Cứu Quốc Phòng và Chiến Lược thuộc Đại Học Quốc Gia Úc, nhận định, sau chuyến bay thử nghiệm đầu tiên hôm 2 Tháng Giêng sẽ là các chuyến bay thử nghiệm. Kế đó, Trung Quốc sẽ đưa các phi cơ quân sự tới các đảo nhân tạo ở quần đảo Trường Sa. ADIZ (vùng nhận dạng phòng không) sẽ xuất hiện khi Trung Quốc hoàn tất việc củng cố không quân.

Ông Ian Storey, làm việc tại Viện Nghiên Cứu Chiến Lược Châu Á của Singapore, cho rằng, dù chưa tuyên bố thiết lập ADIZ, chắc chắn Trung Quốc sẽ thực hiện nhiều động tác nhằm bảo vệ các công trình hạ tầng trên chuỗi đảo nhân tạo. Cảnh báo đối với các phi cơ cả quân sự lẫn dân sự bay qua khu vực Biển Đông sẽ được phát thường xuyên hơn. Chúng sẽ là tiền đề để Trung Quốc tuyên bố thiết lập ADIZ, hoặc tạo ra một ADIZ có tính mặc định.

Theo nhiều chuyên gia an ninh-quốc phòng, chuỗi hành động của Trung Quốc tại Biển Đông cho thấy, Trung Quốc đã tuần tự tiến hành kế hoạch kiểm soát toàn bộ Biển Đông và chắc chắn sẽ đưa các phi cơ quân sự đến những đảo nhân tạo mà Trung Quốc đã bồi đắp và xây dựng xong. Các căn cứ quân sự mà Trung Quốc thiết lập tại Biển Đông sẽ là nơi trú đóng cho các phương tiện quân sự, hậu thuẫn cho tuyên bố thiết lập ADIZ và cuối cùng là hỗ trợ cho yêu sách của Trung Quốc về chủ quyền tại Biển Đông.

Cần lưu ý rằng, tại quần đảo Trường Sa, ngoài phi đạo dài 3,000 mét trên bãi đá Chữ Thập, Trung Quốc còn hai phi đạo trên hai đảo nhân tạo khác. Các phi đạo này đủ cho chiến đấu cơ, oanh tạc cơ, vận tải cơ quân sự cất và hạ cánh. Điều đó sẽ giúp quân đội Trung Quốc hiện diện cả trên biển lẫn trên không.

Mới đây, các viên chức Hoa Kỳ cho biết thêm rằng, bất chấp phản ứng của cộng đồng quốc tế, vào lúc này, Trung Quốc vẫn đang tiếp tục xây dựng các cảng, hệ thống kho, khu vực đồn trú trên các đảo nhân tạo. Sắp tới, chắc chắn Trung Quốc sẽ lắp đặt hệ thống radar và hệ thống liên lạc quân sự.

Đó cũng là lý do sau khi Việt Nam lên tiếng phản đối Trung Quốc cho phi cơ thử hạ và cất cánh ở phi trường trên bãi đá Chữ Thập, phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao Philippines tuyên bố, hành động của Trung Quốc đã khiến tình hình Biển Đông căng thẳng hơn. Ngoại trưởng Nhật thì nhấn mạnh, Nhật “không thể chấp nhận” việc Trung Quốc hành động như thế, đặc biệt là khi cộng đồng quốc tế đã khuyến cáo Trung Quốc không nên đơn phương thay đổi hiện trạng Biển Đông, đặt cộng đồng quốc tế trước những chuyện đã rồi như: Bồi đắp các bãi đá ở quần đảo Trường Sa thành những đảo nhân tạo và biến chuỗi đảo nhân tạo này thành căn cứ quân sự.

Đáp lại phản đối của Việt Nam, Trung Quốc tiếp tục tuyên bố, việc họ đã làm là tất nhiên và chính đáng bởi Trung Quốc có chủ quyền không thể tranh cãi tại quần đảo Trường Sa và các vùng biển quanh đó.

Thái độ của Trung Quốc khiến nhiều người nổi giận, trong đó có ông John McCain, chủ tịch Ủy Ban Quân Vụ Thượng Viện Hoa Kỳ. Ông chỉ trích kịch liệt việc chính phủ Hoa Kỳ trì hoãn thực hiện thêm các cuộc tuần tra nhằm bảo vệ quyền tự do lưu thông bên trong phạm vi 12 hải lý quanh các đảo nhân tạo mà Trung Quốc đã bồi đắp ở Biển Đông. Ông McCain xem đây là điều “đáng thất vọng” mà nguyên nhân có thể là vì chính phủ Hoa Kỳ không đủ sức kiểm soát những phức tạp trong việc ra quyết định hoặc vì quá lo âu về những rủi ro nên đã không làm những việc cần làm để bảo vệ trật tự tại khu vực Châu Á- Thái Bình Dương. (G.Đ.)
01-05- 2016 5:35:56 PM 

Vấn đề Biển Đông và chính sách đối ngoại-quốc phòng Mỹ

Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Ashton Carter (phải) thăm hàng không mẫu hạm USS Theodore Roosevelt ở Biển Đông. (Ảnh ngày 5/11/2015).
Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Ashton Carter (phải) thăm hàng không mẫu hạm USS Theodore Roosevelt ở Biển Đông. (Ảnh ngày 5/11/2015).
VOA-06.01.2016
Vấn đề Biển Đông đã được đề cập đến trong cuộc họp báo thường lệ của Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ hôm 5/1, một ngày sau khi Chủ tịch Ủy ban Quân vụ Thượng viện Mỹ chỉ trích chính quyền Tổng thống Barack Obama là đã trì hoãn hoạt động tuần tra trên Biển Đông, nêu bật tầm quan trọng cao hơn của cuộc tranh chấp chủ quyền Biển Đông trên chính trường Mỹ.
Trong cuộc họp báo thường lệ chiều hôm 5/1, Người phát ngôn của Bộ Quốc phòng Mỹ Peter Cook tái khẳng định chính sách của Washington, nói rằng các cuộc tranh chấp Biển Đông phải được giải quyết qua đường lối ngoại giao, và ‘bất cứ hành động nào thách thức điều đó, làm leo thang căng thẳng trong Biển Đông, đều không có ích gì’. Ông Peter Cook nhấn mạnh đó là một khu vực quan trọng của thế giới, một khu vực quan trọng đối với nền kinh tế Mỹ, và cho nước Mỹ nói chung.
Trả lời câu hỏi về liệu Bộ Quốc phòng Mỹ có một vai trò trong việc đảm bảo Biển Đông vẫn là một vùng lãnh hải quốc tế? Ông Peter Cook nói rằng “Như Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ đã nói, Hoa Kỳ sẽ tiếp tục đóng một vai trò thiết yêu tại khu vực đó của thế giới để bảo đảm ổn định khu vực Á Châu-Thái Bình Dương, và chính sách xoay trục sang Châu Á thể hiện lập trường đó”.
Người phát ngôn của Bộ Quốc phòng Mỹ lưu ý rằng quân đội Mỹ đã duy trì sự ổn định và an ninh trong khu vực từ lâu, và vai trò đó cũng đó là lý do quân đội Mỹ bấy lâu nay hiện diện trong khu vực và xa hơn thế nữa.
Trong một diễn biến khác liên quan tới Biển Đông, Thượng nghị sĩ John McCain, hôm 4/1 đã lên tiếng chỉ trích chính phủ của Tổng thống Obama là đã trì hoãn, không tiếp tục các hoạt động tuần tra trong khu vực 12 hải lý quanh các đảo nhân tạo mà Trung Quốc xây ở Biển Đông, để khẳng định quyền tự do hàng hải và đi lại trên vùng biển quốc tế này.
Thượng Nghị sĩ đảng Cộng hòa John McCain chỉ trích chính phủ của Tổng thống Obama là đã trì hoãn, không tiếp tục các hoạt động tuần tra trong khu vực 12 hải lý quanh các đảo nhân tạo mà Trung Quốc xây ở Biển Đông.
Thượng Nghị sĩ đảng Cộng hòa John McCain chỉ trích chính phủ của Tổng thống Obama là đã trì hoãn, không tiếp tục các hoạt động tuần tra trong khu vực 12 hải lý quanh các đảo nhân tạo mà Trung Quốc xây ở Biển Đông.
Ông McCain, nhà lập pháp rất có thế lực trong vai trò Chủ tịch Ủy ban Quân vụ Thượng viện Mỹ, cho rằng việc Hoa Kỳ có thái độ do dự, không quyết đoán đã cho phép Trung Quốc tiếp tục các hành động hung hăng hơn để áp đặt chủ quyền ở Biển Đông. Hành động mới nhất, theo ông McCain, là Bắc Kinh vẫn tiếp tục quân sự hoá các đảo tân tạo và hôm 2/1 đã cho đáp thử máy bay trên các phi đạo mới xây trên đảo Đá Chữ Thập thuộc quần đảo Trường Sa mà Việt Nam cho là thuộc chủ quyền của mình.

Thượng nghị sĩ McCain nói việc chính phủ Mỹ không thực hiện các chuyến tuần tra vào cuối năm 2015 như dự định trước đó là một điều "đáng thất vọng" nhưng không làm ông ngạc nhiên.
Từng là đối thủ tranh giành chức Tổng Thống với ông Obama, Thượng nghị sĩ John McCain chỉ trích chính phủ do ông Obama lãnh đạo là "hoặc không có khả năng giải quyết những sự phức tạp trong quan hệ hợp tác liên cơ quan trong tiến trình làm quyết định về vấn đề an ninh quốc gia, hoặc là có thái độ quá e dè, sợ rủi ro nên đã không thực hiện những hành động cần thiết để bảo vệ trật tự ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương dựa trên luật pháp quốc tế”.
Hôm thứ Hai, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Mỹ John Kirby nói rằng việc Trung Quốc lần đầu tiên đáp máy bay trên một hòn đảo trong khu vực tranh chấp ở Biển Đông làm ‘tăng căng thẳng và đe doạ sự ổn định khu vực.’
Các nhà phân tích nói rằng sự hiện diện quân sự ngày càng được củng cố của Trung Quốc trong vùng rốt cuộc sẽ dẫn tới quyết định của Bắc Kinh thiết lập một khu nhận dạng phòng không (ADIZ) trên Biển Đông.  
Trung Quốc đang hoàn tất một loạt các cảng biển cùng các kiến trúc trên các đảo nhân tạo và trong tương lai sẽ đặt những trạm radar cảnh báo sớm và trạm thông tin liên lạc quân sự tại các đảo mới xây ở quần đảo Trường Sa.
Giáo sư Ian Storey, một chuyên gia khu vực nói rằng một khi các cơ sở này đi vào hoạt động, máy bay quân sự và dân sự của các nước khác sẽ bị cảnh cáo thường xuyên hơn, và đó là “tiền thân của một vùng nhận dạng phòng không trên thực tế, nếu không phải là một vùng nhận dạng phòng không chính thức. Nếu xảy ra thì căng thẳng sẽ leo thang hơn nữa tại Biển Đông”.
Theo DOD, Reuters.

Năm 2016: Đầy những bất an

Hình ảnh từ video đăng tải ngày 3 tháng 1 năm 2016 cho thấy Nhà nước Hồi giáo hành quyết năm người đàn ông bị cáo buộc làm gián điệp cho Anh ở Syria.
Hình ảnh từ video đăng tải ngày 3 tháng 1 năm 2016 cho thấy Nhà nước Hồi giáo hành quyết năm người đàn ông bị cáo buộc làm gián điệp cho Anh ở Syria.
Năm mới thường gắn liền với những hy vọng mới. Tuy nhiên, trong những ngày cuối năm 2015, khi nhìn vào năm mới 2016, hầu hết các nhà bình luận trên thế giới đều khá bi quan: Nó đầy những bất an.
Bất an lớn nhất đến từ các phần từ Hồi giáo cực đoan, trong đó, đáng kể nhất là tổ chức Nhà nước Hồi giáo (IS). Chưa bao giờ có một lực lượng khủng bố nào có ngân sách dồi dào, được tổ chức một cách chặt chẽ và có sức mạnh đáng sợ như Nhà nước Hồi giáo. Tổ chức này đã chiếm một số vùng ở Iraq và Syria. Mặc dù Mỹ và các quốc gia đồng minh cũng như, gần đây, Nga, sử dụng không lực để ngăn chận đà tiến của Nhà nước Hồi giáo ở hai quốc gia này, nhưng hiệu quả rất chậm chạp. Ít có ai tin là trong năm 2016 này, tổ chức Nhà nước Hồi giáo sẽ bị đánh tan hẳn.
Hơn nữa, ngoài Iraq và Syria, Nhà nước Hồi giáo còn có mạng lưới nhân sự cũng như cảm tình viên rải rác ở nhiều quốc gia khác nhau trên thế giới. Với mạng lưới ấy, Nhà nước Hồi giáo có thể tổ chức những cuộc tấn công khủng bố ngay tại các quốc gia Tây phương. Trong năm 2015 vừa qua, chúng đã gài bom làm nổ tung một chiếc máy bay dân sự của Nga giết chết 224 người và tấn công vào một số tụ điểm ở Paris giết chết 130 người. Cuộc tàn sát 14 người tại San Bernadino, Mỹ cũng do những người Hồi giáo cực đoan thực hiện.
Điều nguy hiểm nhất của các tổ chức Hồi giáo cực đoan là ở chỗ nó gắn liền với Hồi giáo. Đã đành, trong Hồi giáo, có rất nhiều người có tư tưởng và thái độ ôn hoà, chủ trương chung sống hoà bình với các tôn giáo khác. Tuy nhiên, khi chống lại các nhóm Hồi giáo cực đoan, nhiều chính khách không tự kiềm chế, biến việc chống lại các nhóm Hồi giáo cực đoan thành việc chống lại Hồi giáo nói chung. Điều này dễ làm các tín đồ Hồi giáo bất mãn, từ đó, trở thành cực đoan, và cuối cùng, tham gia vào các lực lượng khủng bố. Bởi vậy, cuộc chiến chống lại Hồi giáo cực đoan không phải chỉ ở các mặt trận tại Iraq, Syria cũng như Afghanistan mà còn ở khắp nơi, đặc biệt là ở Tây phương. Hầu hết giới bình luận chính trị quốc tế đều cho việc các tín đồ Hồi giáo cực đoan tấn công Tây phương gần như là chắc chắn, chỉ có vấn đề là ở đâu và khi nào mà thôi.
Điểm bất an thứ hai là ở Trung Đông, chủ yếu tập trung ở ba quốc gia chính: Syria, Iraq và Afghanistan. Tình hình ở cả ba nước đều rối bời. Với cả ba, chính sách của Mỹ không nhất quán. Một mặt, họ không muốn can thiệp sâu để có thể bị sa lầy, nhưng mặt khác, họ lại không thể khoanh tay đứng nhìn. Kế hoạch rút quân khỏi Afghanistan gặp khá nhiều khó khăn và không ai có thể biết được sau khi Mỹ rút quân hẳn, đất nước này sẽ ra sao. Đáng sợ nhất là Taliban sẽ quay trở lại và như thế, tình hình tại nước này sẽ không khác gì trước năm 2001, lúc Mỹ bắt đầu tham chiến. Với cuộc chiến tại Iraq và Syria hiện nay, Mỹ chỉ tham dự với các cuộc oanh kích. Nhưng kinh nghiệm cho thấy, với không quân, người ta không thể kết thúc được chiến tranh. Điều đó có nghĩa là các xung đột tại hai quốc gia này sẽ nhùng nhằng kéo dài. Nó càng kéo dài, Mỹ càng bị bó chân ở đó, khó có thể giải quyết các mâu thuẫn ở những nơi khác.
Điểm bất an thứ ba là những thách thức đến từ Nga. Sau khi chế độ cộng sản tại Nga và Đông Âu sụp đổ, mọi người cho thời kỳ chiến tranh lạnh giữa Nga và Tây phương đã chấm dứt. Tuy nhiên, kể từ khi Vladimir Putin lên nắm quyền, đặc biệt lần thứ hai, từ năm 2012, nhất là kể từ khi Nga lấn chiếm Crimea của Ukraine, quan hệ giữa Nga và Tây phương càng ngày càng căng thẳng. Sự căng thẳng ấy càng gia tăng khi mới đây, Nga quyết định tham gia vào cuộc chiến tranh tại Syria. Hiện nay, Nga xem Mỹ và Tây phương như những thế lực đe doạ đến nền an ninh nước họ. Mỹ và các nước Tây phương cũng nhìn Nga với cặp mắt đầy cảnh giác. Không khí thời chiến tranh lạnh dường như sống lại. Mâu thuẫn có thể bùng nổ bất cứ lúc nào, ít nhất ở phạm vi khu vực. Nhưng như thế củng đủ tạo nên bất ổn trên bàn cờ chính trị thế giới.
Điểm thứ tư là những thách thức đến từ Trung Quốc. Để tương xứng với nền kinh tế lớn thứ hai trên thế giới, Trung Quốc càng ngày càng muốn tăng cường ảnh hưởng trên các nước láng giềng. Hai điểm nóng thu hút sự chú ý của mọi người nhất là ở Biển Hoa Đông, nơi Trung Quốc có tranh chấp với Nhật Bản, và Biển Đông, nơi Trung Quốc có tranh chấp với Việt Nam, Malaysia và Philippines. Giữa hai nơi, có lẽ Trung Quốc sẽ tập trung hơn ở Biển Đông. Lý do là ở đó các đối thủ của Trung Quốc đều nhỏ và yếu thế hơn hẳn.
Hầu hết các bất an ở trên đều ảnh hưởng sâu sắc đến Việt Nam. Bị vướng chân ở Trung Đông, phải đối đầu với Nga và khủng bố, trong năm 2016 này, có lẽ Mỹ sẽ không thể tập trung vào việc chuyển hướng chiến lược sang châu Á như họ hoạch định từ mấy năm trước. Hơn nữa, nên chú ý là năm 2016 cũng là năm bầu cử Tổng thống Mỹ. Bất cứ người nào, thuộc đảng Dân chủ hay đảng Cộng hoà, chiến thắng cũng đều phải đối diện với vô số khó khăn kể trên. Ngoài ra, mới lên cầm quyền, mối bận tâm đầu tiên của các nhà lãnh đạo mới bao giờ cũng nhằm giải quyết những thử thách ngay trong nước họ. Chuyện quốc tế bao giờ cũng bị đặt vào ưu tiên sau cùng.
Đó là một cơ hội tốt cho Trung Quốc. Chắc chắn Trung Quốc sẽ khai thác cơ hội quý hiếm ấy. Tôi cho trong năm 2016 này, Trung Quốc sẽ đẩy mạnh hơn tiến trình xâm lấn trên Biển Đông. Có mấy khả năng sẽ xảy ra. Một là họ sẽ tiếp tục đẩy mạnh việc quân sự hoá trên mấy bãi đá họ đã bồi đắp thành đảo nhân tạo tại Trường Sa. Hai là họ có thể sẽ mang giàn khoan HD-981 trở lại thềm lục địa của Việt Nam để hiện thực hoá chính sách tằm ăn dâu của họ. Ba là họ có thể sẽ tuyên bố vùng nhận diện hàng không trên con đường lưỡi bò mà họ cho là thuộc chủ quyền của họ.
Bất cứ khả năng nào ở trên cũng đều là những thử thách nghiêm trọng đối với nhà cầm quyền Việt Nam. Bởi vậy, sự bất an của thế giới sẽ trở thành sự bất an của Việt Nam.
* Blog của Tiến sĩ Nguyễn Hưng Quốc là blog cá nhân. Các bài viết trên blog được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ.

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng 'giả chết bắt quạ'

Trong cổ tích Việt Nam có chuyện “Giả chết bắt quạ”.
Xưa có một thằng đi ở có tính cờ bạc, thành ra mắc nợ nhiều lắm. Một buổi sớm mai, nó đem trâu ra cày, bị các chủ nợ bắt mất trâu. Không dám về nhà vì sợ chủ đánh, buồn bã nó lên bờ ruộng nằm giả chết. Một chốc có con quạ bay qua, ngỡ là xác người chết, sà xuống định móc mắt ăn. Nó giơ tay ra, vớ ngay được con quạ, mắng rằng: “Mày tưởng tao chết, định móc mắt tao. Nay tao bắt được mày, tao giết mày chết”.

Trước thềm Đại hội 12 Đảng cộng sản Việt Nam tích cũ này lại tái xuất với Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng.

Vừa qua trên Ba Sàm, một trang mạng bất đồng chính kiến với chính quyền Việt Nam, xuất hiện một thư đề ngày 10/12/2015 của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng gửi Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng, các Ủy Viên Bộ Chính Trị, Ban Bí thư, Ban Chấp hành Trung ương và Ủy ban Kiểm tra Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam. Nội dung của thư này là giải trình về 12 tố cáo nhằm vào Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng mà Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã tập hợp lại.
"Chữ ký trên văn bản còn có thể gây nghi ngờ về tính xác thực của văn bản vì cùng một người không có chữ ký nào là giống tuyệt đối chữ ký nào nên không dễ nói đó là chữ ký của đương sự. Ngược lại, con dấu thì không thể gây nghi ngờ vì không thể có hai con dấu cho cùng một cơ quan hay chức danh. Do đó, việc Chính phủ Việt Nam đã không hề phủ nhận dưới bất cứ hình thức nào con dấu “Thủ tướng Chính phủ” ở thư mà người gửi có tên Nguyễn Tấn Dũng cho thấy đây là “hàng thật”."
Do tầm quan trọng của tác giả bức thư nên không ít người hoài nghi về tính xác thực của nó. Về phần mình, tôi khẳng định thư này đích thị là của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng.

Trước hết, chữ ký trên văn bản còn có thể gây nghi ngờ về tính xác thực của văn bản vì cùng một người không có chữ ký nào là giống tuyệt đối chữ ký nào nên không dễ nói đó là chữ ký của đương sự. Ngược lại, con dấu thì không thể gây nghi ngờ vì không thể có hai con dấu cho cùng một cơ quan hay chức danh. Do đó, việc Chính phủ Việt Nam đã không hề phủ nhận dưới bất cứ hình thức nào con dấu “Thủ tướng Chính phủ” ở thư mà người gửi có tên Nguyễn Tấn Dũng cho thấy đây là “hàng thật”.

Mặc dầu vậy, vẫn có ý kiến cho rằng đó không phải là thư của Nguyễn Tấn Dũng vì con dấu “Thủ tướng Chính phủ” được đóng ở ngay trang đầu, nơi có tên ông ta mà lẽ ra phải được đóng vào chữ ký của ông ta ở trang cuối. Thực ra không phải vậy: chỉ khi nào Nguyễn Tấn Dũng với thẩm quyền Thủ tướng ký các văn bản pháp quy như Quyết định, Nghị định thì con dấu “Thủ tướng Chính phủ” mới được đóng vào chữ ký ở trang cuối. Còn đây chỉ là một báo cáo hay giải trình của Nguyễn Tấn Dũng với Ban lãnh đạo Đảng, không phải là văn bản pháp quy, nên dấu không thể được đóng vào chữ ký ở trang cuối. Mặc dầu vậy, để xác định người ký văn bản thuộc cơ quan nào thì con dấu vẫn được sử dụng nhưng được đóng trên trang đầu, có tên nơi gửi, gọi là “dấu treo”.

Ngoài ra, giải trình này của Nguyễn Tấn Dũng là “đúng quy trình”, nghĩa là không bất thường. Để được đề cử vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa mới, ủy viên trung ương đương nhiệm buộc phải giải trình về những tố cáo nhằm vào họ. Như đã thấy, thư này được gửi 2 ngày trước khi diễn ra Hội nghị Trung ương 13 của Đảng, nơi sẽ chốt danh sách đề cử vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa 12 diễn ra vào cuối tháng 1 tới cũng như sẽ bàn các “trường hợp đặc biệt” là Ủy viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa 11 quá 65 tuổi, tái cử để đảm nhiệm các chức danh lãnh đạo chủ chốt của Đảng và Nhà nước, nôm na là “tứ trụ” gồm Tổng Bí thư Đảng, Chủ tịch Nước, Thủ tướng, Chủ tịch Quốc hội. Vả lại, nội dung những tố cáo nhằm vào Nguyễn Tấn Dũng đã được mọi người từ trong nước và ngoài nước biết từ lâu, như: tham nhũng nghiêm trọng trong vụ Vinashine, Vinalines; dùng quyền lực để làm giàu cho con gái Nguyễn Thanh Phượng hiện có quốc tịch Mỹ và con rể Nguyễn Bảo Hoàng, công dân Mỹ, con Nguyễn Bá Bang, cựu quan chức Việt Nam Cộng hòa; hình thành “nhóm lợi ích”; âm mưu giành chức Tổng Bí thư Đảng để xóa đảng cộng sản, đổi chế độ nhằm làm Tổng thống; có nhiều biệt thự, đất đai trên toàn quốc…

Cuối cùng, không phải ngẫu nhiên mà tại hội nghị trực tuyến của Chính phủ với 63 tỉnh thành ngày 28/12/2015, tức chỉ 10 ngày sau khi bức thư này được đăng trên Ba Sàm, Bộ trưởng Công an Trần Đại Quang thừa nhận: “Tình hình lộ, lọt bí mật nhà nước xảy ra rất nghiêm trọng”.
"Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, đại diện cho một bộ phận những kẻ có tài sản kếch xù gom trên xương máu của người dân và quốc gia, bao gồm cả bán lãnh thổ Việt Nam trực tiếp hoặc gián tiếp cho Trung Quốc, âm mưu giải tán đảng cộng sản để để thiết lập độc tài cá nhân dưới hình thức “Tổng thống chế” nhằm “một công đôi việc”: tránh né trừng phạt nghiêm khắc mang tính định mệnh của nhân dân và nhất là để tiếp tục duy trì địa vị thống trị của bản thân đặng tiếp tục cướp bóc tài sản của dân, của nước"
Như đã nói, Nguyễn Tấn Dũng trong thư đã giải trình về 12 tố cáo trong đó giải trình về tố cáo số 8 chắc chắn làm mọi người quan tâm nhất. Nguyên văn như sau: “Về ý kiến “…Thủ tướng nay đã hình thành “nhóm lợi ích” trên phạm vi cả nước, cả người đương chức lẫn cán bộ cao cấp nghỉ hưu… vận động với các thủ đoạn nhằm giành cho được chức Tổng Bí thư tiến tới làm Tổng thống và thay đổi chế độ, thay đổi Đảng”. Tôi khẳng định ý kiến này là vu khống, bịa đặt. Tôi đã ghi rõ nguyện vọng gửi đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng là: TÔI XIN KHÔNG TÁI CỬ. Cha tôi, Chú ruột tôi, hai Cậu ruột tôi và Cha vợ tôi đã hy sinh, đều là Liệt sĩ trong kháng chiến chống Mỹ; bản thân tôi đã 4 lần bị thương trong chiến đấu, là Thương binh loại 2/4, trong người còn mang hơn 10 mảnh đạn của Mỹ. Tôi không thể nào phản bội lại mục tiêu, con đường mình đã chọn, đã gắn bó với nó bằng cả máu xương và đã hết lòng, hết sức thực hiện gần cả cuộc đời”.
Quả thực là từ 2 năm trở lại đây từ giới thân cận với Nguyễn Tấn Dũng lan tin “Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng sẽ giải tán Đảng cộng sản để làm Tổng thống” với một lộ trình gồm 3 bước. Trước hết giành chức Tổng Bí thư tại Đại hội Đảng XII; tiếp theo là giành chức Chủ tịch Nước để chính danh nguyên thủ quốc gia đồng nhất với Tổng tư lệnh các lực lượng vũ trang; và cuối cùng, giải tán Đảng và tự cử làm Tổng thống thông qua một Quốc hội đã hoàn toàn bị tê liệt.

Dĩ nhiên “không có lửa làm sao có khói”. Vậy cơ sở nào cho lời đồn “chết Đảng” trên?

Sau khi Liên Xô, “thành trì của chủ nghĩa cộng sản thế giới” và khối cộng sản Đông Âu sụp đổ một cách ngoạn mục cách đây một phần tư thế kỷ thì ai cũng biết rằng sự cáo chung của các nước cộng sản còn lại gồm Trung Quốc, Bắc Triều Tiên, Việt Nam, Lào ở bán cầu Đông và Cuba ở bán cầu Tây chỉ còn là vấn đề thời gian.
"Vậy câu “TÔI XIN KHÔNG TÁI CỬ” viết hoa chỉ có thể là chước “giả chết bắt quạ” của Nguyễn Tấn Dũng, nhằm làm liên minh chống Nguyễn Tấn Dũng trong Bộ chính trị cũng như trong Ban chấp hành trung ương Đảng lơi lỏng cảnh giác để Dũng thừa cơ tập hợp lực lượng, lật ngược thế cờ như trước đó Dũng đã thực hiện thành công tại Hội nghị trung ương 6 và Hội nghị trung ương 10 với số phiếu tín nhiệm cao nhất."
Điều đáng chú ý là không chỉ những người tranh đấu cho Dân chủ hầu mang lại tự do, quyền con người đầy đủ và hạnh phúc cho người dân cũng như để bảo vệ thành công chủ quyền và lãnh thổ Việt Nam, đặc biệt ở biển Đông, trước sự xâm lăng ngày càng gia tăng từ phía Trung Quốc, mới nỗ lực để cái kết cục đó diễn ra sớm nhất có thể. Thực vậy, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, đại diện cho một bộ phận những kẻ có tài sản kếch xù gom trên xương máu của người dân và quốc gia, bao gồm cả bán lãnh thổ Việt Nam trực tiếp hoặc gián tiếp cho Trung Quốc, âm mưu giải tán đảng cộng sản để để thiết lập độc tài cá nhân dưới hình thức “Tổng thống chế” nhằm “một công đôi việc”: tránh né trừng phạt nghiêm khắc mang tính định mệnh của nhân dân và nhất là để tiếp tục duy trì địa vị thống trị của bản thân đặng tiếp tục cướp bóc tài sản của dân, của nước.
Kế hoạch “đảo chính Đảng” để thiết lập độc tài cá nhân của Nguyễn Tấn Dũng đương nhiên vấp phải sự chống đối quyết liệt trong ban lãnh đạo Đảng, không chỉ từ những thành phần được coi là “giáo điều” mà còn từ những thành phần chống tham nhũng và có tinh thần dân tộc, chống Trung Quốc và cả từ những kẻ cũng tham nhũng nghiêm trọng nhưng có lợi ích “chồng lấn” lợi ích của Nguyễn Tấn Dũng. Nói cách khác, Nguyễn Tấn Dũng và phe ủng hộ Dũng trong Bộ Chính trị lâm vào thế yếu trong khi đây lại là cuộc đấu “một mất một còn”. Vì vậy, khi đọc câu “TÔI XIN KHÔNG TÁI CỬ” viết chữ hoa trong giải trình của Nguyễn Tấn Dũng, đã có người nghĩ là Nguyễn Tấn Dũng “bỏ của chạy lấy người”!

Thế nhưng tôi khẳng định không đời nào có chuyện một con người tham tàn đến cùng cực như Nguyễn Tấn Dũng lại từ bỏ “giấc mộng Tổng thống” mà vài dẫn chứng sau đây về sự lì lợm của con người này trong giữ quyền lực cũng đã thừa chứng minh.
“Tôi kiên quyết và quyết liệt chống tham nhũng. Nếu tôi không chống được tham nhũng, tôi xin từ chức ngay.” Đó là nguyên văn lời phát biểu của Nguyễn Tấn Dũng khi nhậm chức Thủ tướng Chính phủ Việt Nam vào ngày 27 tháng 6 năm 2006. Thế nhưng khi tham nhũng đã trở thành “quốc nạn” sau 2 nhiệm kỳ Thủ tướng của Nguyễn Tấn Dũng, quan tham đã thành “bầy sâu” làm chết cái đất nước này” như nhận diện của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, đến mức Hội nghị Trung ương 5 họp tháng 5/2015 đã phải tước của Nguyễn Tấn Dũng chức Trưởng Ban chỉ đạo trung ương về phòng chống tham nhũng để giao lại cho Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng, Nguyễn Tấn Dũng vẫn “bình chân như vại”!

Trong phiên chất vấn tại Quốc Hội được truyền hình trực tiếp ngày 14/11/2012, đáp lại kêu gọi từ chức Thủ tướng do mắc nhiều sai phạm nghiêm trọng từ Đại biểu Quốc Hội Dương Trung Quốc, Nguyễn Tấn Dũng tỉnh bơ: “Đảng ta cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước, đã phân công tôi tiếp tục làm nhiệm vụ Thủ tướng. Quốc hội cũng đã bỏ phiếu bầu tôi là Thủ tướng. Tôi sẵn sàng chấp hành nghiêm túc mọi quyết định của Đảng”. Nghĩa là chỉ khi nào Đảng kỷ luật Dũng thì Dũng mới rời ghế Thủ tướng!
"Bất luận thế nào, cho dù với chiêu “giả chết bắt quạ” mà Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng rốt cuộc giành được vị trí đứng đầu Đảng cộng sản Việt Nam để tiếp đó lạnh lùng kết liễu đảng này nhằm trọn vẹn hóa độc tài của cá nhân ông ta thì Dân chủ hóa Việt Nam vẫn sẽ vững bước tới thành công cho dù máu có đổ, vì không có bạo chúa nào trên trái đất này chịu từ bỏ cai trị của bản thân một cách hòa bình."
Thế nhưng khi bị Bộ Chính trị kỷ luật do tham nhũng nghiêm trọng, gây thiệt hại lớn cho kinh tế quốc gia… thì Nguyễn Tấn Dũng lại vận động Hội nghị Trung ương 6 họp tháng 10/2012 bỏ phiếu bác kỷ luật này và Dũng đã “lội ngược dòng” thành công đến mức Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng phải bật khóc trước bàn dân thiên hạ!
Vậy câu “TÔI XIN KHÔNG TÁI CỬ” viết hoa chỉ có thể là chước “giả chết bắt quạ” của Nguyễn Tấn Dũng, nhằm làm liên minh chống Nguyễn Tấn Dũng trong Bộ chính trị cũng như trong Ban Chấp hành Trung ương Đảng lơi lỏng cảnh giác để Dũng thừa cơ tập hợp lực lượng, lật ngược thế cờ như trước đó Dũng đã thực hiện thành công tại Hội nghị Trung ương 6 và Hội nghị Trung ương 10 với số phiếu tín nhiệm cao nhất.
Cụ thể là Nguyễn Tấn Dũng hiểu rất rõ 1510 đại biểu dự Đại hội XII Đảng Cộng sản Việt Nam sẽ là nhân tố quyết định “kẻ thắng cuộc” trong ván bài chót của Đảng này nên Dũng ráo riết mua chuộc họ bằng cả “củ cà rốt – tiền bạc” lẫn “cây gậy – đe phanh phui bê bối cá nhân” thông qua hai công cụ ruột của Dũng là Bộ Công an và Tổng cục Tình báo quốc phòng (Tổng cục 2 – Bộ Quốc Phòng) nhằm đảm bảo phe ủng hộ Dũng chiếm đa số trong Ban Chấp hành Trung ương mới. Để rồi “bổn cũ lập lại”, Nguyễn Tấn Dũng sẽ lại tuyên bố ráo hoảnh “Tôi sẵn sàng chấp hành nghiêm túc mọi quyết định của Đảng” trong trường hợp Ban Chấp hành Trung ương mới đề cử và bầu Dũng vào chức Tổng Bí thư Đảng.

Bất luận thế nào, cho dù với chiêu “giả chết bắt quạ” mà Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng rốt cuộc giành được vị trí đứng đầu Đảng Cộng sản Việt Nam để tiếp đó lạnh lùng kết liễu đảng này nhằm trọn vẹn hóa độc tài của cá nhân ông ta thì Dân chủ hóa Việt Nam vẫn sẽ vững bước tới thành công cho dù máu có đổ, vì không có bạo chúa nào trên trái đất này chịu từ bỏ cai trị của bản thân một cách hòa bình.
*Các bài viết được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ.

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ‘chống Trung Quốc’ quyết liệt như thế nào?

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng hội kiến Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình hôm 5/11/2015.
Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng hội kiến Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình hôm 5/11/2015.
Càng gần đến ngày khai mạc Đại hội XII Đảng CSVN, bầu không khí chính trị ở Việt Nam càng nóng lên trông thấy. Và trong mớ âm thanh hỗn độn mà các “đấu sỹ” trên đấu trường chính trị cùng bầu đoàn và “fan hâm mộ” của họ không ngừng phát ra, người ta không khó nhận ra sự lấn át của màn tụng ca dành cho đương kim thủ tướng như là “nhà cải cách” sáng láng nhất và đặc biệt là nhân vật “chống Tàu” số 1, niềm hy vọng duy nhất trong đám quan chức chóp bu hôm nay cho một Việt Nam dân chủ, thoát khỏi vòng kim cô Trung Quốc ngày mai.
Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi sẽ cố gắng lột tả chân dung của một Nguyễn Tấn Dũng “nhà cải cách” và một Nguyễn Tấn Dũng “chống Trung Quốc” bằng những gì diễn ra trong thực tế.
‘Nhà cải cách’ Nguyễn Tấn Dũng
Mặc dù gây nhiều tranh cãi nhất trên chính trường Việt Nam nhiều năm gần đây nhưng người ta lại dễ thống nhất ở một điểm về Nguyễn Tấn Dũng: ông ta là nhân vật quyền lực nhất Việt Nam trong nhiều năm qua. Hành pháp là nhánh quyền lực nắm nhiều quyền hành nhất trong bất cứ thể chế chính trị nào. Trong hệ thống cộng sản, sự chế ước và giám sát của cơ quan lập pháp và bộ máy tư pháp đối với hành pháp hầu như không đáng kể. Đó là những lý do phần nào giải thích cho vị thế quyền lực của Nguyễn Tấn Dũng.
Cơ chế kiểm soát quyền lực hữu hiệu nhất dưới chế độ cộng sản là tình trạng cạnh tranh, giám sát và đối trọng giữa các phe phái trong đảng – Bộ Chính trị ở trung ương và thường vụ cấp uỷ ở địa phương. Nhưng ngay cả cơ chế này cũng không ảnh hưởng nhiều đến vị thế quyền lực của Nguyễn Tấn Dũng, bởi trên thực tế, với sự ủng hộ của phần lớn Ban Chấp hành Trung ương (BCHTƯ), ông ta chẳng coi Bộ Chính trị ra gì. Thất bại của Bộ Chính trị trong việc kỷ luật ông ta tại Hội nghị Trung ương 6 tháng 10/2012 là một ví dụ.
Có hai lý do chính giải thích vì sao phần lớn BCHTƯ lại ủng hộ Nguyễn Tấn Dũng. Thứ nhất, trên cương vị đứng đầu bộ máy hành pháp, ông ta có điều kiện ban phát quyền lợi và bổng lộc cho đàn em nhiều hơn bất cứ đối thủ nào. Thứ hai, ông ta được Bộ Chính trị giao phụ trách Đảng uỷ Công an Trung ương từ năm 2006 và đứng đầu Ban Chỉ đạo Trung ương về Phòng chống tham nhũng trong phần lớn thời gian làm Thủ tướng – đây là những thứ “vũ khí” cực kỳ lợi hại, giúp ông ta nắm được “thóp” nhiều cấp dưới và chi phối họ.
Với vị thế quyền lực như thế, ông Nguyễn Tấn Dũng đã làm được gì để được coi là “nhà cải cách”? Xin thưa, tất cả chỉ là con số không. “Thành tựu cải cách” đáng kể nhất của ông ta có lẽ là ý tưởng xây dựng các tập đoàn, tổng công ty nhà nước thành những “quả đấm thép”. Nắm trong tay phần lớn nguồn lực quốc gia nhưng “chưởng lực” của những “quả đấm thép” đó đã và đang nhằm vào đâu thì có lẽ ai cũng trả lời được. Những Vinashin hay Vinalines chỉ là những ví dụ điển hình, hoàn toàn không phải là cá biệt.
Trên cương vị thủ tướng cũng như trong cả sự nghiệp chính trị hàng chục năm của mình, ông Nguyễn Tấn Dũng chưa hề có bất kỳ thành tựu mang tính đột phá nào lớn đến mức báo chí phải nhắc tới, công chúng phải ghi nhận.
Một trong những hành động đầu tiên của ông Nguyễn Tấn Dũng sau khi tiếp quản chiếc ghế thủ tướng từ người tiền nhiệm Phan Văn Khải là ra quyết định giải thể Ban Nghiên cứu và Tổ Nghiên cứu về kinh tế đối ngoại của Thủ tướng, hai cơ quan tham mưu ra đời từ thời Thủ tướng Võ Văn Kiệt. Theo trang từ điển bách khoa Wikipedia:
Thời ông Phan Văn Khải, trước khi chính phủ ban hành bất cứ văn bản nào, thủ tướng cũng đều chuyển cho Ban Nghiên cứu xem trước. Các văn bản hay bị Ban Nghiên cứu có ý kiến lại thường được đưa lên từ Văn phòng Phó Thủ tướng Thường trực Nguyễn Tấn Dũng.
Trong bức Công điện ngày 15 tháng 12, 2009 gửi Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ, đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam Michael Michalak nhận định: “Some restrictive decisions, such as Decision 97, originated not from Rua but from PM Dung, who is often mistakenly identified as a political reformer.” Tạm dịch: “Một số quyết định cấm đoán, chẳng hạn như Quyết định 97, không phải đến từ Tô Huy Rứa mà từ Thủ tướng Dũng, nhân vật mà người ta vẫn thường lầm tưởng là một nhà cải cách chính trị.”
Nguyễn Tấn Dũng ‘chống Trung Quốc’ như thế nào?
Cố Tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu có câu nói để đời: “Đừng nghe những gì cộng sản nói, mà hãy nhìn những gì cộng sản làm.” Nguyễn Tấn Dũng cũng không phải là ngoại lệ. Sau đây là những “thành tích” nổi bật nhất trong sự nghiệp “chống Trung Quốc” của ông ta.
(1) Đặt một người Hán khai man lý lịch vào chiếc ghế quan trọng thứ hai trong chính phủ –  Phó Thủ tướng phụ trách kinh tế:
Ngày 7/5/2007, một số cán bộ, đảng viên đã và đang công tác tại Ban Tổ chức Trung ương, Ủy ban Kiểm tra Trung ương, Ban Bảo vệ Chính trị Nội bộ Trung ương đã gửi Tâm Huyết Thư cho Bộ Chính trị, Ban Bí thư và các uỷ viên BCHTƯ để tố cáo ông Hoàng Trung Hải, Bộ trưởng Công nghiệp lúc bấy giờ, là một người Hán khai man lý lịch. Việc họ phải gửi Tâm Huyết Thư như vậy là vì như họ khẳng định “Thủ tướng Chính phủ đã quyết đưa ông Hải lên Phó Thủ tướng Chính phủ”. Đại diện cho nhóm người soạn thảo bức Tâm Huyết Thư này là ông Nguyễn Bình Giang, uỷ viên BCH Trung ương Đảng các khóa 6, 7, 8, nguyên Phó Trưởng ban Thường trực Ban Bảo vệ Chính trị Nội bộ Trung ương. Vì thế họ biết rõ ai là người đã đưa Hoàng Trung Hải lên chiếc ghế quan trọng thứ hai trong chính phủ.
PTT Hoàng Trung Hải được Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng giao phụ trách kinh tế ngành, trực tiếp chỉ đạo các bộ: Công Thương, Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn, Xây dựng, Giao thông - Vận tải, và Tài nguyên - Môi trường, những bộ quan trọng nhất của nền kinh tế. Ngoài ra, ông ta còn được Thủ tướng tin tưởng giao đảm nhiệm một loạt chức vụ trọng yếu, cho phép ông ta chỉ đạo cả lực lượng công an và quân đội: Chủ tịch Hội đồng quốc gia về tài nguyên nước; Trưởng Ban Chỉ đạo Nhà nước các Dự án trọng điểm về dầu khí; Trưởng Ban Chỉ đạo Tổ chức điều phối phát triển các Vùng kinh tế trọng điểm; Trưởng Ban Chỉ đạo Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu; Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về chính sách nhà ở và thị trường bất động sản; Trưởng ban Ban Chỉ đạo Quy hoạch và Đầu tư Xây dựng Vùng Thủ đô Hà Nội; Trưởng Ban Chỉ đạo Nhà nước các công trình, dự án trọng điểm ngành Giao thông vận tải; Trưởng Ban Chỉ đạo Nhà nước Dự án Điện hạt nhân Ninh Thuận; Trưởng ban Ban chỉ đạo Nhà nước Dự án Thuỷ điện Sơn La; Trưởng ban Ban Chỉ đạo Nhà nước Xây dựng Bảo tàng Lịch sử Quốc gia; Trưởng ban Ban Chỉ đạo Xây dựng Nhà Quốc hội; Trưởng ban Ban Chỉ đạo Nhà nước về điều tra cơ bản tài nguyên - môi trường biển; Trưởng ban Ban Chỉ đạo Nhà nước về Quy hoạch điện VI, Trưởng ban Chỉ đạo Nhà nước về Quy hoạch Phát triển Điện lực Quốc gia; Trưởng ban Chỉ đạo Quốc gia về ODA và vốn vay ưu đãi; Trưởng ban Chỉ đạo Nhà nước về Kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng; Chủ tịch Uỷ ban An ninh Hàng không Dân dụng Quốc gia; Chủ tịch Uỷ ban Quốc gia Tìm kiếm Cứu nạn, v.v.
Lịch sử Việt Nam chưa từng ghi nhận một người Hán nào, đặc biệt lại che dấu lý lịch với mưu đồ đen tối, leo lên đến vị trí nắm trong tay gần như cả nền kinh tế và gây ra không biết bao nhiêu tai hoạ cho Việt Nam nhưng đặc biệt có lợi cho Trung Quốc suốt từ năm 2007 đến nay.
Ngày 12/7/2014, trong bối cảnh Trung Quốc ngang ngược hạ đặt giàn khoan HD-981 bên trong lãnh hải Việt Nam, Bauxite Việt Nam, diễn đàn phản biện của giới trí thức Việt Nam yêu nước, đã lên tiếng “yêu cầu đảng và nhà nước Việt Nam phải rà soát và chịu trách nhiệm trước nhân dân về vấn đề nhân sự” Hoàng Trung Hải.
(2) Đưa nền kinh tế Việt Nam ngày càng lệ thuộc nặng nề vào Trung Quốc:
Năm 2005, tức trước khi ông Nguyễn Tấn Dũng ngồi lên chiếc ghế thủ tướng, tỷ trọng nhập khẩu từ Trung Quốc trong tổng kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam mới chỉ chiếm 15,9%, với giá trị nhập siêu là 2,67 tỷ USD. Mười năm dưới quyền lãnh đạo của ông ta, tỷ trọng nhập khẩu từ Trung Quốc trong tổng kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam cứ tăng dần đều và đến năm 2015 thì lên tới 29,8%, với giá trị nhập siêu là 32,3 tỷ USD. Tức là, cộng với giá trị nhập khẩu tiểu ngạch trá hình và hoạt động buôn lậu tràn lan từ Trung Quốc, ước chừng cứ 2 sản phẩm Việt Nam nhập khẩu từ bên ngoài thì có 1 sản phẩm “made in China”, và tỷ lệ đó vẫn tăng lên qua từng năm.
(3) Giao 90% các dự án hạ tầng trọng điểm quốc gia cho nhà thầu Trung Quốc, với vô số hệ luỵ về an ninh quốc phòng và những thiệt hại không thể đong đếm về kinh tế (chậm tiến độ hàng năm; chất lượng thấp; phụ thuộc vào Trung Quốc về phụ tùng và linh kiện thay thế, v.v.).
(4) Để cho các doanh nghiệp của Hồng Kông và Đài Loan - Trung Quốc thuê dài hạn (50 - 70 năm) trên 264 ngàn ha đất rừng đầu nguồn tại một loạt tỉnh như Lạng Sơn, Quảng Ninh, Cao Bằng, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Nam, Bình Định, Kon Tum và Bình Dương...  để trồng rừng nguyên liệu; 87% con số này nằm ở những vị trí xung yếu hay giáp biên giới. Không những vậy, ông ta còn giao cho PTT gốc Tàu Hoàng Trung Hải làm Trưởng ban Chỉ đạo Nhà nước về Kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng.
(5) “Dâng” Vũng Áng và cảng nước sâu Sơn Dương ở Hà Tĩnh cho Trung Quốc:
Vũng Áng nằm ngay dưới chân Đèo Ngang, nơi có địa hình vừa hiểm trở vừa gần như hẹp nhất Việt Nam và chỉ cần một lực lượng quân sự nhỏ là đủ sức chia cắt đất nước thành hai phần. Đặc biệt, cảng nước sâu Sơn Dương được coi là một trong 4 yếu huyệt của Việt Nam trên Biển Đông, cùng với Cam Ranh, Nam Du và Côn Đảo. Sơn Dương nằm cách căn cứ quân sự Tam Á trên đảo Hải Nam không xa, nên khi có biến, Việt Nam rất dễ bị chia cắt cả về đường bộ lẫn đường biển tại vị trí yết hầu này.
Hai văn bản đưa đến sự ra đời “tiểu quốc” rộng bằng 1,2 lần diện tích Macao của Đại Hán này đều do Phó Thủ tướng gốc Tàu Hoàng Trung Hải ký. Tuy nhiên, Hoàng Trung Hải là Phó Thủ tướng; ông ta chỉ ký thay báo cáo Thủ tướng theo đúng nguyên tắc. Do đó, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng mới là người phải chịu trách nhiệm chính trong việc Vũng Áng – Sơn Dương rơi vào tay Trung Quốc.
Chưa hết, sau khi Thanh tra Chính phủ chỉ ra việc UBND tỉnh Hà Tĩnh vi phạm pháp luật khi cho Trung Quốc thuê đất trong thời hạn 70 năm thay vì 50 năm theo quy định của Luật Đất đai, ông ta vẫn bảo lưu thời hạn phi pháp 70 năm đó.
Không chỉ chịu trách nhiệm chính về hiểm hoạ Formosa Hà Tĩnh, ông Nguyễn Tấn Dũng còn thường xuyên bày tỏ sự ủng hộ quyết liệt, trước sau như một của mình đối với dự án này. Ngày 17/9 vừa qua, trong chuyến thăm Formosa Hà Tĩnh và dự lễ khánh thành một tổ máy đốt than của Nhà máy Nhiệt điện Formosa, hiện thân cho tinh thần “độc lập - tự chủ” của “tiểu quốc” này, ông ta đã “khẳng định sự ủng hộ của Chính phủ đối với việc Tập đoàn này xây dựng một nhà máy lọc hóa dầu có công suất tới 16 triệu tấn, với vốn đầu tư trên 12 tỷ USD tại Khu kinh tế Vũng Áng, cũng như tiếp tục tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất để Khu liên hợp gang thép và cảng Sơn Dương Formosa thành công”.
Nếu xét những quan ngại của giới chuyên gia về tình trạng “bội thực” các nhà máy lọc dầu ở Việt Nam cũng như nguy cơ ô nhiễm môi trường và hiệu quả kinh tế thấp của chúng thì ý nghĩa lớn nhất của việc Formosa xây dựng một nhà máy lọc dầu khổng lồ ở Vũng Áng chính là tạo điều kiện cho Trung Quốc có lý do chính đáng để bố trí ở đây một đội quân hùng hậu trong ít nhất 70 năm tới và tăng tốc “Hán hoá” khu vực xung yếu này.
Ngày 4/1 vừa qua, blog Xuân Diện Hán Nôm đăng bài “TIN NÓNG: Hà Tĩnh đã sẵn sàng làm nội ứng cho giặc Tàu”, với lời bình:
Tháp "Tinh Thần bão lũy" ư? Nó chính là cái đài phong thủy cắt đứt long mạch miền Trung. Nó còn là cái đài quan sát toàn bộ miền Trung – nút thắt của Việt Nam. Khi tín hiệu bật lên, thì Đại Việt bị cắt làm đôi và miền Trung bị khống chế hoàn toàn, hiện thực hóa Hiệp ước Thành Đô 1990, bắt đầu thời kỳ Bắc thuộc mới. Nếu trung ương không ngăn chặn việc này thì chính họ là một bè lũ bán nước, từ trên xuống dưới. Quá rõ!
“Trung ương” nào ở đây? Nếu Nguyễn Tấn Dũng và Hoàng Trung Hải không chỉ đạo thì lãnh đạo Hà Tĩnh có “3 đầu 6 tay” cũng không dám cho Trung Quốc thuê đất 70 năm, vượt quá 20 năm so với luật định. Và vụ việc này cũng y như vậy.
(6) “Dâng” Trung tâm Nhiệt điện Vĩnh Tân (Tuy Phong, Bình Thuận), một vị trí xung yếu về an ninh quốc phòng ở Nam Trung Bộ cho Trung Quốc. “Chiến tích” này thuộc về PTT Hoàng Trung Hải, nhưng tất cả các văn bản đưa đến sự ra đời của trung tâm nhiệt điện ở địa điểm này ông ta đều ký thay Thủ tướng Chính phủ và báo cáo Thủ tướng theo đúng quy định. Vì thế, ông Nguyễn Tấn Dũng là người phải chịu trách nhiệm chính.
Ngày 20/4/2015, VOA đăng bài “Trung tâm Nhiệt điện Vĩnh Tân và hiểm hoạ mất nước” để cảnh báo hiểm hoạ Trung Quốc ở Vĩnh Tân. Bài viết sau đó đã được gửi cho một loạt cơ quan chức năng ở Việt Nam. Thế nhưng ngày 18/7/2015, lễ khởi công Nhà máy Nhiệt điện Vĩnh Tân 1 (do liên danh hai nhà đầu tư Trung Quốc là Công ty TNHH Lưới điện Phương Nam và Công ty TNHH Điện lực quốc tế Trung Quốc góp 95% vốn xây dựng theo hình thức BOT) vẫn cứ diễn ra. (Xem thêm bài “Người Trung Quốc cắm chốt ở Bình Thuận: Ai đã rước giặc vào nhà?” trên Bauxite Việt Nam.)
(7) Là người phụ trách Đảng uỷ Công an Trung ương kể từ năm 2006, ông Nguyễn Tấn Dũng đóng vai trò quyết định trong chiến dịch đàn áp ngày càng khốc liệt nhằm vào phong trào chống Trung Quốc xâm lược ở Việt Nam nhiều năm qua. Những tiếng nói phản kháng Trung Quốc mạnh mẽ nhất như TS Cù Huy Hà Vũ, blogger Điếu Cày, nhà văn/blogger Phạm Viết Đào, blogger Anh Ba Sàm… đều lần lượt “được” ông ta cho vào “an dưỡng” trong tù.
Mới đây, nhà văn/blogger yêu nước Phạm Viết Đào đã chỉ đích danh Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng là người đã chỉ đạo lực an ninh dưới quyền bắt bỏ tù ông cũng như nhiều blogger khác. Blogger Phạm Viết Đào là người có một blog chuyên đăng bài về cuộc chiến tranh chống Trung Quốc xâm lược 1979 – 1990. Ông bị bắt ngày 13/6/2013, chỉ vài ngày trước chuyến thăm Trung Quốc của ông Trương Tấn Sang.
Ông Nguyễn Tấn Dũng “chống Tàu” bằng cách chỉ đạo tay chân bắt một nhà văn chuyên đăng bài về cuộc chiến tranh biên giới Việt -Trung ngay trước thềm chuyến thăm Trung Quốc của Chủ tịch Việt Nam ư?
(8) Tác giả của bản Thông báo Cấm biểu tình chống Trung Quốc do UBND Tp Hà Nội ban hành ngày 18/11/2011. Đây là giai đoạn mà Bộ Chính trị chia năm xẻ bảy về vấn đề biểu tình Trung Quốc trong bối cảnh Trung Quốc tăng cường gây hấn với Việt Nam trên Biển Đông. Và ông Nguyễn Tấn Dũng đã thể hiện tinh thần “chống Tàu” của mình bằng cách sai Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng đưa bản thông báo cấm biểu tình chống Trung Quốc xuống cho UBND Tp Hà Nội ban hành. (Việc Bộ Chính trị chia rẽ về vấn đề này còn thể hiện ở chỗ không quan chức nào của Hà Nội chịu ký vào bản thông báo.)
(9) Là người đứng đầu bộ máy hành pháp và phải chịu trách nhiệm chính trước tình trạng người Trung Quốc đã và đang nhắm tới những khu vực xung yếu về an ninh quốc phòng trên khắp lãnh thổ Việt Nam như ở Vũng Áng (Hà Tĩnh), ở Cửa Việt (Quảng Trị), ở Lăng Cô (Thừa Thiên - Huế), ở Hải Vân, ởĐà Nẵng, ở Nhơn Hội (Bình Định), hay ở Vĩnh Tân (Bình Thuận), v.v. nhưng Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng chưa bao giờ lên tiếng chỉ đạo các cơ quan chức năng giải quyết vấn nạn Trung Quốc ở đó, bất chấp những bức xúc và lo lắng của công luận.
“Điểm nóng” Vũng Áng thì như phần trên đã trình bày. Cuối năm 2014, trong khi dư luận cả nước sôi sục trước thông tin UBND tỉnh Thừa Thiên - Huế cấp phép xây dựng khu nghỉ dưỡng quốc tế World Shine cho Cty World Shine Hồng Kông thì động thái trấn an dư luận duy nhất của ông Nguyễn Tấn Dũng là nói mồm với ông Chủ tịch HĐND Tp Đà Nẵng là “sẽ cho kiểm tra, xem xét lại dự án và sớm có kết luận cuối cùng về vụ việc”. Và hơn một năm đã trôi qua kể từ thời điểm đó, người ta vẫn chưa hề thấy cái gọi là “kết luận cuối cùng” đó. (Việc Thủ tướng Chính phủ kết luận về vụ việc là cần thiết, không chỉ để chính thức chấm dứt một dự án đầy mờ ám, mà còn để làm gương cho các địa phương khác, trong bối cảnh Trung Quốc vẫn đang lăm le chiếm lĩnh những vị trí xung yếu về an ninh quốc phòng trên khắp Việt Nam.)
Ngày 14/9/2015, trang mạng của Đài Tiếng nói Hoa Kỳ (VOA) đăng bài điều tra “Ai đã ‘rước’ một công ty TQ trá hình vào cắm chốt những vị trí hiểm yếu ở Đà Nẵng?”. Trong bài viết, tác giả đã đưa ra bằng chứng xác thực cho thấy chủ đầu tư thực sự của khu nghỉ dưỡng Silver Shores (rộng hàng chục ha và chạy dài ngót 1km dọc bờ biển Sơn Trà – Điện Ngọc) là một công ty Trung Quốc trá hình, chứ không phải là công ty Mỹ như trong giấy phép đầu tư. Tác giả bài viết đã báo động tình trạng hai bên con đường mang tên Võ Nguyên Giáp, ngay trước mặt sân bay Nước Mặn, đang dần trở thành một “đặc khu Trung Quốc”. Nhiều cơ quan truyền thông nhà nước sau đó đã vào cuộc và phát hiện ra việc người Trung Quốc đã thâu tóm hàng trăm lô đất ngay trước mặt sân bay Nước Mặn, một sân bay quân sự chỉ cách khu nghỉ dưỡng Silver Shores vài trăm mét.
Mặc cho dư luận cứ sôi sục suốt về vụ việc trên mấy tháng nay, người đứng đầu bộ máy hành chính quốc gia vẫn im lặng, như thể đó là chuyện riêng của Tp Đà Nẵng vậy, cho dù đây là dự án do chính phủ cấp phép và Đà Nẵng là thành phố quan trọng bậc nhất trong chiến lược phòng thủ quốc gia.
Ngài Thủ tướng khả kính liệu có biết gì về dự án Silver Shores không? Xin thưa, ông ta biết quá rõ: Ngày 14/4/2014, trong buổi làm việc với lãnh đạo Đà Nẵng, chính ông ta đã “chỉ đạo các cơ quan liên quan xem xét để Đà Nẵng mở rộng thêm bàn chia bài ở khu du lịch quốc tế Silver Shores”. 
Tóm lại, Nguyễn Tấn Dũng chỉ “chém gió” một cách vô hại về Trung Quốc, bởi ông ta không hề hành động gì. (Luật Biển – vốn hoàn toàn không phải là “sản phẩm” của ông ta – đã ra đời gần 4 năm nay mà ông ta cũng chưa ban hành nghị định hướng dẫn thi hành.) Còn với những vấn nạn Trung Quốc ở trong nước thì ông ta hoặc là thủ phạm trực tiếp, hoặc ra sức tiếp tay, hoặc im lặng đồng loã.
Vì sao Bắc Kinh và Nguyễn Tấn Dũng ‘lên án’ nhau?
Tác giả bài viết này là người vẫn đang theo đuổi vụ tố cáo đối với các nhân vật Hoàng Trung Hải - Nguyễn Tấn Dũng - Nông Đức Mạnh suốt từ năm 2008: Hoàng Trung Hải nắm bằng chứng phạm tội của Nguyễn Tấn Dũng và Nông Đức Mạnh rồi buộc hai ông này đặt ông ta vào ghế Phó Thủ tướng từ năm 2007 và ra sức thực hiện mưu đồ thôn tính Việt Nam của Bắc Kinh kể từ bấy đến nay.
Những gì mà tác giả trình bày trên đây là bằng chứng thực tế về một Nguyễn Tấn Dũng đã bị Hoàng Trung Hải và Bắc Kinh khống chế, thao túng và trở thành tay sai cho giặc.
Một vụ tố cáo vô cùng nghiêm trọng như vậy nhưng suốt 8 năm qua nhà chức trách Việt Nam vẫn chưa giải quyết đúng pháp luật, dù thông tin về vụ việc đã tràn lan trên mạng, truyền thông quốc tế đã đưa tin. Ngày 4/11 vừa qua, trangBauxite Việt Nam, diễn đàn phản biện của giới trí thức trong nước, đã đăng bản Yêu cầu giải quyết đơn thư tố cáo lãnh đạo Đảng và Nhà nước của Lê Anh Hùng. Và một lần nữa, vụ việc lại rơi vào sự im lặng khó hiểu của nhà cầm quyền Việt Nam.
Chưa hết, ngày 1/7/2015, người viết bài này còn công bố “Tài liệu tố cáo Nguyễn Phú Trọng và Trương Tấn Sang bán nước”. Tài liệu cho thấy không chỉ Nguyễn Tấn Dũng và Nông Đức Mạnh mà cả ban lãnh đạo chóp bu hiện hành đã bị Hoàng Trung Hải và Bắc Kinh khống chế, thao túng. Điều này giải thích tại sao Việt Nam dần dần rơi vào vòng kiềm toả của Trung Quốc cả về chính trị, kinh tế lẫn an ninh - quốc phòng. Trung Quốc ngang ngược đưa giàn khoan HD-981 vào sâu trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam mà Bộ Chính trị vẫn không dám kiện họ ra toà án quốc tế. Trung Quốc ngày đêm cải tạo, bồi đắp các đảo đá và biến chúng thành các căn cứ quân sự liên hoàn, bị cộng đồng quốc tế lên án gay gắt, mà Quốc hội Việt Nam vẫn không ra nổi một nghị quyết để thể hiện lập trường của cái gọi là “cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất”.
Trong bối cảnh cả bộ máy chóp bu bị Trung Nam Hải khống chế và thao túng, việc Bắc Kinh “bật đèn xanh” cho con rối Nguyễn Tấn Dũng thoả sức “chém gió” về Trung Quốc rồi “lên án” ông ta không chỉ “đánh bóng” cho ông ta, giúp ông ta che đậy hành động bán nước và tiếp tục làm tay sai cho giặc, mà còn có tác dụng ru ngủ dân chúng Việt Nam, khiến họ tin rằng trong bộ máy chóp bu vẫn tồn tại phe “chống Tàu, thân Mỹ” do một nhân vật quyền lực nhất Việt Nam nhiều năm qua dẫn dắt.
Hỡi các nhân sĩ, trí thức chân chính của Việt Nam! Thay vì tung hê Nguyễn Tấn Dũng, hãy lên tiếng về hiểm hoạ Hoàng Trung Hải[i] trước khi quá muộn, trước khi những gọng kìm của Đại Hán như Formosa Hà TĩnhCửa ViệtLăng CôSilver Shores Đà NẵngNhiệt điện Vĩnh Tân, Bauxite Tây Nguyên, Nhơn Hộibiên giới phía Bắc, rừng đầu nguồn… bóp nghẹt dải đất thân thương hình chữ S của chúng ta.
_________
Chú thích:
[i] Việc một người Hán khai man lý lịch chễm chệ trên chiếc ghế quan trọng thứ 2 trong chính phủ – Phó Thủ tướng phụ trách kinh tế – mặc dù bị tố cáo đã phạm những tội ác khủng khiếp suốt bao năm nay và gây ra không biết bao nhiêu thảm hoạ cho Việt Nam là bằng chứng không thể chối cãi rằng bộ máy lãnh đạo chóp bu ở Việt Nam, đặc biệt là Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, đã bị Hoàng Trung Hải và Bắc Kinh khống chế và thao túng. (Thiết tưởng không cần phải nhắc lại là Quyết định số 1275/2007/QĐ-BCA ngày 26/10/2007 của Bộ trưởng Công an thậm chí còn cấm cán bộ, chiến sỹ công an kết hôn với người Hoa.)
*Bài liên quan:
*Các bài viết được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ.