Sunday, January 3, 2016

TP.HCM: Cư dân chung cư lại bị tấn công đổ máu

H.TUYẾT - Chủ Nhật, ngày 3/1/2016 - 21:03
(PLO)- Sáng 3-1, hàng chục đối tượng lạ mặt đã tấn công gây thương tích một số cư dân chung cư The Era Town (phường Phú Mỹ, quận 7, TP.HCM).
Thông tin ban đầu, vụ việc diễn ra vào khoảng 9 giờ sáng 3-1, khoảng 100 người dân tại lô A và lô B của chung cư The Era Town mặc áo với nội dung “yêu cầu Công ty Đức Khải tổ chức hội nghị nhà chung cư”, cùng nhiều người dân khác tuần hành trong phạm vi khu vực sinh hoạt chung của cư dân tại chung cư. Những người dân nói trên đã họp bàn từ trước, tuần hành một cách ôn hòa và hô các khẩu hiệu mà họ cho là đòi hỏi chính đáng nhưng không được chủ đầu tư đáp ứng.
Vào thời điểm này, có hàng chục người lạ mặt xông vào giằng co, xô xát, tấn công làm cư dân chung cư bị thương tích.

Cư dân bị những người lạ mặt kẹp cổ khống chế. 
Thậm chí những đối tượng lạ mặt còn dùng vũ lực kẹp cổ, khống chế đưa một số người dân bị thương về trụ sở Công an phường Phú Mỹ. Trong đó có ông NHV và anh PĐS, hai cư dân ngụ lô B chung cư, bị thương nặng nhất được đưa đến BV 115 điều trị. Một cư dân khác bị thương nhẹ hơn là ông VHV, ngụ lô A chung cư. Nhiều người dân đã quay lại được hình ảnh các đối tượng tấn công cư dân dẫn đến đổ máu, thương tích như trên.

 Một cư dân bị tấn công gây thương tích.
Đại diện của cư dân chung cư The Era Town cho biết cư dân tại chung cư này đã có tranh chấp với chủ đầu tư là Công ty Đức Khải hơn một năm nay và đã gửi đơn đến các cơ quan chức năng TP.HCM và trung ương, khiếu nại, tố cáo nhiều sai phạm của chủ đầu tư.
Theo cư dân phản ánh, trước khi xảy ra xô xát, đã từng có người trong ban liên lạc cư dân chung cư bị đối tượng lạ mặt nhắn tin, gọi điện thoại dọa giết.
H.TUYẾT

Chọn Quinvaxem vì “chúng ta” nghèo?!

Hàng trăm người chen lấn, xô đẩy đến ngất xỉu để nhận phiếu tiêm vacxin 5 in 1 tại Hà Nội ngày 25/12/2015. Ảnh kênh 14
Mẹ Nấm (Danlambao) - Ở bài viết trước “Vaccine Quinvaxem và sự khủng hoảng niềm tin” nhiều người cho rằng tôi viết dựa trên cảm tính, không có dẫn chứng thuyết phục và từ đó đánh lận các nhận xét trên để kết luận rằng tôi kêu gọi tẩy chay Quinvaxem và làm các ông bố, bà mẹ khác hoang mang nên không đưa con đi tiêm phòng.

Như tôi đã nói, chúng ta - những bậc làm cha, làm mẹ có nhiều sự lựa chọn vì an toàn của con em mình. Trong thời đại này, thông tin khá đầy đủ nếu bạn chịu khó tìm kiếm và phân tích. Vì thế, hãy cẩn thận nghiên cứu để bảo vệ trẻ con.

Vaccine Quinvaxem không xấu, nhưng nó có vấn đề. 

Đây chính là điều mà tôi muốn nói, và vấn đề ấy chưa được giải quyết rốt ráo trong môi trường thông tin thiếu minh bạch và điều kiện dịch vụ y tế hạn chế trên diện rộng tại Việt Nam. 

Tôi vẫn còn nhớ, năm 2012, khi tôi sinh cháu trai đầu lòng, việc các trẻ em bị chết sau khi tiêm Quinvaxem trong năm 2010 - 2011 đã ảnh hưởng đến tâm lý của tôi trong một thời gian dài. Con số trẻ tử vong và tai biến sau khi tiêm được lý giải nằm trong “sai số cho phép”. Vậy câu hỏi đặt ra ai sẽ chấp nhận sinh mạng con em mình nằm trong chỉ số sai số kia?

Từ năm 2011 đến nay, các trẻ tử vong tại Việt Nam gần như đều xảy ra sau khi tiêm hai loại vaccine trong chương trình Tiêm chủng Quốc gia là vắc xin 5 trong 1 Quinvaxem và vaccine viêm gan B. 

Hai loại trên có cùng nguồn gốc do công ty Berna Biotech Korea Corporation (Hàn Quốc) sản xuất. 

Thực tế hiện nay các quan chức ngành y ở Việt Nam chưa thừa nhận chính thức các ca tử vong do vaccine. Nguyên nhân trẻ tử vong sau khi đi tiêm chủng Quinvaxem và viêm gan siêu vi B chủ yếu được kết luận là do các bệnh phối hợp, hoặc không rõ nguyên nhân.

Theo bác sĩ Hồ Thị Hồng Nhung (Viện Pasteur TpHCM) thì “chỉ cần thống kê các ca tử vong liên quan tới tiêm hai vaccine chỉ xảy ra ở Quinvaxem và viêm gan B mà không xảy ra ở các ca tiêm chích khác thì có thể đặt câu hỏi: Chẳng lẽ các em tiêm các vaccine khác không bao giờ bị bệnh gì sao? Việc thừa nhận có thể trẻ tử vong có liên quan đến tiêm vaccine trong một số ca trong hơn 2 năm qua từ khi tiêm Quinvaxem cho đến nay là có thể. Việc này dựa trên căn cứ trên thống kê dịch tễ học của các ca cụ thể ở Việt Nam, và các nước cũng tiêm và xảy ra tai biến như Việt Nam đã công bố.”

Quinvaxem 5 trong 1, vaccine của người nghèo?

Lý do Quinvaxem rẻ và phù hợp với mô hình Tiêm chủng Mở rộng luôn được nhiều người đưa ra để giải thích vì sao Việt Nam tiếp tục tiêm bất chấp các ca tử vong liên tiếp trong 5 tháng đầu năm 2013. 

Vấn đề tôi nghĩ không đơn giản như vậy, ai dám đem sinh mạng của con em người khác ra đảm bảo rằng đây là lựa chọn chung tốt nhất? 

Nhiều nhà khoa học có lương tri trên thế giới đã coi việc sử dụng các loại vaccines không được cấp phép lưu hành ở các nước giàu cho các nước nghèo qua hình thức viện trợ là thiếu tử tế.

Mạng sống của mọi trẻ em trên thế giới này đều đáng quý ngang nhau. 

Y tế, dược phẩm đặc biệt là vaccines là sân chơi dễ bị chi phối bởi những xung đột kinh tế dẫn tới tình trạng doanh thu kiếm được từ túi người nghèo sẽ làm lợi cho người giàu hàng ngàn tỉ USD.

Trả lời cho các thắc mắc của tôi vì sao Cơ quan Quản lý Thực phẩm & Thuốc Hoa Kỳ (FDA) chưa phê chuẩn vaccine Quinvaxem 5 trong 1, bác sĩ Sao Hồng cung cấp thêm như sau: Quinvaxem không được FDA cấp phép lưu hành là do báo cáo lâm sàng thử nghiệm (cả 3 phase) có tỷ lệ phản ứng bất lợi sau tiêm quá cao (báo cáo 2007).

Hơn nữa Quinvaxem có chất bảo quản là nhân thủy ngân (Thiomersal). Ở Hoa Kỳ (FDA, CDC, Hiệp hội Bác sỹ Nhi khoa, Hiệp hội BS gia đình) đã có thỏa thuận (chính sách) loại bỏ Thiomersal ra khỏi vaccines từ cuối 1990s. Không riêng gì Quinvaxem, bất cứ vaccines nào còn "Non-free Thiomersal" đều không được cấp phép lưu hành ở Mỹ từ năm 2000.

Tại Việt Nam, chưa có thống kê con số trẻ tử vong sau khi tiêm vaccine 6 trong 1, hay Pentaxim để so sánh với các ca tai biến Quivaxem, vì vậy tâm lý chọn tiêm ngừa dịch vụ để đảm bảo an toàn cho con em dẫn tới tình trạng hỗn loạn là thực tế đáng buồn phải thừa nhận.

Nếu bạn là ông bố, bà mẹ có trách nhiệm, tôi cho rằng hãy nghiêm túc tìm hiểu kỹ thông tin, nghiên cứu các điểm tiêm chủng và tuân thủ nghiêm ngặt quy trình tiêm ngừa để đảm bảo an toàn cho con em mình. 

Không nhất thiết phải là Quinvaxem hay Pentaxim, chúng ta còn một lựa chọn khác là chích các mũi tiêm đơn lẻ (như trước khi Quinvaxem được đưa ra sử dụng rộng rãi hồi tháng 6/2010). 
Tại sao chúng ta cãi nhau dựa trên số liệu thống kê từ Ấn Độ hay từ WHO mà không nhìn nhận sự thật là ở Việt Nam, trẻ em chết sau khi đi tiêm vaccine về?

Nếu vaccine Quinvaxem thực sự tốt, thì có phải xem lại quy trình bảo quản, vận chuyển và kể cả cách tiêm ngừa ở các điểm tiêm chủng hay không?

Trẻ con chết, ai chịu trách nhiệm hay chỉ đổ lỗi tại số? tại cơ địa đứa trẻ ấy?

Vấn đề quan trọng hơn ở đây tôi muốn nói với các bậc làm cha mẹ chính là nếu tất cả cùng quan tâm, cùng lên tiếng thì chính sách y tế an sinh mới có thể được đầu tư, thay đổi đúng nghĩa với mong muốn của chúng ta.

3/1/2016


Sự thật sẽ giải phóng chúng ta khỏi mọi thứ gông cùm

The truth shall liberate us from all the shackles. 

Thủy-Triều (Danlambao) - Những Công Dân Liên Mạng Việt Nam ở trong nước cũng như ở hải ngoại hãy trở thành những ký giả nghiệp dư chân chính để nói lên Sự Thật của các sự việc xảy ra trong xã hội Việt Nam. Công Dân Liên Mạng Việt Nam sẽ là Giới Truyền Thông Việt Nam Mới để chắc chắn là đại chúng Việt Nam được thông báo đầy đủ về những vụ lạm quyền kia phải được ngăn chặn, những kẻ phạm pháp phải được đưa ra tòa án xét xử, và những nạn nhân có thể khiếu kiện đòi hỏi bồi thường thỏa đáng. Những người Việt Cộng cầm quyền không thể bịt-miệng-bịt-mắt-bóp-bao-tử của Công Dân Liên Mạng Việt Nam bởi vì họ không nhận một chút tiền thù lao nào của Việt Cộng để đưa những thông tin tuyên truyền theo yêu cầu của Việt Cộng. Công Dân Liên Mạng Việt Nam khi trở thành những ký giả nghiệp dư chân chính, họ sẽ nói lên tiếng nói của lương tri và đạo đức của nhân dân Việt Nam. 

*

Danh từ Công Dân Liên Mạng - Netizen là một từ kết hợp của hai danh từ Liên Mạng - Internet và Công Dân - Citizen mô tả một người sử dụng máy điện toán ở nhà, ở nơi làm việc, ở thư viện, ở trường học, hoặc ở bất cứ một nơi nào có máy điện toán, còn gọi là máy vi tính, sẵn sàng hữu dụng để tìm kiếm tin tức hay tài liệu, phát tán hoặc thu nhận những thông tin, và đồng thời có thể xây dựng các mối quan hệ để trao đổi đủ loại quan điểm cá nhân với những người cùng sử dụng máy điện toán-máy vi tính ở các nơi khác; vì vậy họ còn được gọi là những Công Dân Liên Mạng - Netizens.

Những Công Dân Liên Mạng-Netizens này có thể hiện đang cư trú ở các quốc gia khác nhau trên thế giới và họ có thể liên lạc với nhau qua nhiều ngôn ngữ phổ quát của nhiều chủng tộc. Những Công Dân Liên Mạng - Netizens này sử dụng Liên Mạng Toàn Cầu -worldwideweb-www- như là một nguồn tài nguyên phong phú của kiến thức và mọi khía cạnh sinh hoạt xã hội. Họ có khuynh hướng "đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu" tự mình quyết định chọn lựa để gia nhập vào những Cộng Đồng Công Dân Liên Mạng Trực Tuyến - Netizen's Online Communities. Hội Viên của một Cộng Đồng Công Dân Liên Mạng Trực Tuyến có thể cư trú trong cùng một thành phố, hay ở khắp nơi trong một nước, hoặc ở tại nhiều nước trên thế giới, nhưng do phương tiện kỹ thuật vô tuyến viễn thông hiện đại họ có thể được kết nối liên lạc trực tuyến với nhau trong giây phút. 

Căn cứ vào tính cách "tự mình quyết định lựa chọn" ắt có và đủ tự khẳng định quyền Tự Do Cá Nhân và quyền Tự Do Lựa Chọn của một Công Dân Liên Mạng - Netizens. Những Công Dân Liên Mạng - Netizens có ý thức về quyền tự do cá nhân và quyền tự do lựa chọn luôn luôn sử dụng và phát triển liên mạng như là một phương tiện truyền thông hiện đại hữu ích cho mọi người. Họ cũng luôn luôn có ý thức tự trách nhiệm trong các hành động của mình ở các Cộng Đồng Công Dân Liên Mạng Trực Tuyến khi thực hiện và cổ vũ cho quyền Tự Do Ngôn Luận của chính mình và của mọi người. 

Bởi vì những Công Dân Liên Mạng - Netizens có ý thức tự trách nhiệm khi thực hiện và cổ vũ cho quyền Tự Do Ngôn Luận của chính mình và của mọi người, họ ngẫu nhiên trực tiếp đề cao một nguyên tắc căn bản của Luật Nhân Quyền Quốc Tế. Đó là Tự Do Báo Chí - Freedom of the Press. Nói một cách khác, Tự Do Báo Chí là một nguyên tắc căn bản của Luật Nhân Quyền Quốc Tế. 

Ở những quốc gia không có quyền Tự Do Báo Chí cũng được hiểu là những người cầm quyền ở những nơi đó không tôn trọng Luật Nhân Quyền Quốc Tế. Giới truyền thông ở những quốc gia đó không thể thực hiện vai trò quan trọng của mình trong việc phát hiện và phơi bày những vụ lạm dụng quyền hạn chức vụ để tham ô tham nhũng, những vụ vi phạm nhân quyền do người cầm quyền trấn áp thường dân, những hành động phi pháp của các tập đoàn lãnh đạo kinh tế thương mại, và những khủng hoảng môi trường sinh sống cùng với những khủng hoảng y tế công cộng có ảnh hưởng tai hại đến đời sống của mọi người dân.

Trường hợp thí dụ điển hình như ở nước CHXHCNVN, giới truyền thông Việt Nam ở trong nước từ trước tới nay vẫn phải chấp hành mệnh lệnh và sự kiểm soát chặt chẽ của các cơ quan nhà nước quản lý báo chí về nội dung các thông tin được đem ra phổ biến trong đại chúng. Khi nhiều tờ báo và nhiều ký giả Việt Nam muốn làm đúng chức năng của giới truyền thông trung thực trong việc phát hiện và công khai các vụ tham ô tham nhũng, các vụ vi phạm nhân quyền trong xã hội, thì đều bị kiểm duyệt và bị kiểm điểm kỷ luật cho nghỉ việc. Cơ quan nhà nước quản lý báo chí kết tội họ phạm luật báo chí của nước CHXHCNVN, trong khi các tờ báo đó và các ký giả đó cho rằng họ chỉ làm đúng chức năng và làm tròn bổn phận của mình.

Ở một xã hội mà sự thông tin trong đại chúng bị giới hạn một chiều, quyền tự do ngôn luận của người thường dân bị ngăn cấm, giới truyền thông chuyên nghiệp chính quy bị chỉ huy kèm kẹp nên không làm hết bổn phận và chức năng; tất cả những điều đó đã khiến cho SỰ THẬT bị che giấu, bị sửa đổi, bị đưa ra cho đại chúng biết chỉ có phân nửa sự thật. 

Tuy nhiên, “Phân Nửa Sự Thật Vẫn Không Phải Là Sự Thật”, cho nên ở trong một hoàn cảnh xã hội bị khống chế như vậy những Công Dân Liên Mạng Việt Nam ngẫu nhiên trở thành những Ký Giả Nghiệp Dư rất hữu ích cho đại chúng ở trong nước và ở hải ngoại khi họ ghi nhận lại những hình ảnh trung thực, những chi tiết chính xác của các sự việc xảy ra, cùng với những cảm xúc chân thành của những con người còn có lương tri, còn giữ được đạo đức của nhân dân Việt Nam. 

Sự thật sẽ giải phóng chúng ta khỏi mọi thứ gông cùm. The truth shall liberate us from all the shackles. 

Những Công Dân Liên Mạng Việt Nam ở trong nước cũng như ở hải ngoại hãy trở thành những ký giả nghiệp dư chân chính để nói lên Sự Thật của các sự việc xảy ra trong xã hội Việt Nam. Công Dân Liên Mạng Việt Nam sẽ là Giới Truyền Thông Việt Nam Mới để chắc chắn là đại chúng Việt Nam được thông báo đầy đủ về những vụ lạm quyền kia phải được ngăn chặn, những kẻ phạm pháp phải được đưa ra tòa án xét xử, và những nạn nhân có thể khiếu kiện đòi hỏi bồi thường thỏa đáng.

Những người Việt Cộng cầm quyền không thể bịt-miệng-bịt-mắt-bóp-bao-tử của Công Dân Liên Mạng Việt Nam bởi vì họ không nhận một chút tiền thù lao nào của Việt Cộng để đưa những thông tin tuyên truyền theo yêu cầu của Việt Cộng. Công Dân Liên Mạng Việt Nam khi trở thành những ký giả nghiệp dư chân chính, họ sẽ nói lên tiếng nói của lương tri và đạo đức của nhân dân Việt Nam.

Một cách chân thành họ sẽ nói cho đại chúng Việt Nam biết SỰ THẬT. Những Sự Thật mà toàn thể giới truyền thông chuyên nghiệp chính quy của một chế độ Việt Cộng độc tài toàn trị không được phép phổ biến trong đại chúng Việt Nam, hoặc có đề cập tới cũng đã phải dùng chữ nghĩa khéo léo để làm giảm bớt độ-nóng-của-sự-thật, hoặc phải sơn-son-thếp-vàng những sự-thật-trần-truồng của một chế độ chính trị quá đỗi độc ác tham tàn.

Lịch sử báo chí đã cho thấy rõ ràng các giới truyền thông chuyên nghiệp chính quy của những chế độ độc tài toàn trị đều đã phải tô-son-đánh-phấn trang điểm cho những sự-không-thật làm thành những sự-thật-giả-tạo phải theo đúng yêu cầu tuyên truyền gian xảo của giới cầm quyền. Một thí dụ điển hình là tờ báo SỰ THẬT-PRAVDA của Liên Sô ngày xưa, có tên gọi rất cao đẹp là SỰ THẬT nhưng đã không bao giờ dám nói tới sự thật, bởi vì tờ báo này chỉ phục vụ nhu cầu tuyên truyền gian xảo của Liên Sô nên đã tô điểm cho những sự-không-thật làm thành những sự-thật-giả-tạo. 

Cho tới ngày Liên Sô tan rã, toàn thể nhân dân Liên Sô mới thấy được những SỰ-THẬT-TRẦN-TRUỒNG của thiên đàng cộng sản. Như vậy Sự-Thật-Trần-Truồng, hiển nhiên không phải là tờ báo Sự Thật - Pravda của chế độ độc tài toàn trị, đã thực sự giải phóng toàn thể nhân dân Liên Sô khỏi mọi gông cùm của cộng sản. 

Một cách rõ ràng là giới cầm quyền của một chế độ độc tài toàn trị luôn luôn không tôn trọng phẩm chất và giá trị con người, và họ thường hay chà đạp những nhân quyền căn bản của người dân trong nước đang bị họ trấn áp cai trị. Một trong những nhân quyền căn bản đó là quyền tự do có ý kiến và quyền tự do được phát biểu ý kiến của mình cùng với quyền tự do tiếp nhận những ý kiến của người khác và các loại tin tức xuyên qua bất cứ một phương tiện truyền thông đại chúng phi biên giới quốc gia.

Hơn nữa, giới cầm quyền của một chế độ độc tài toàn trị luôn luôn sợ hãi phải đối diện với SỰ THẬT bởi vì Sự Thật sẽ đập tan mọi thứ gông cùm xiềng xích mà họ đã đang áp đặt lên người dân đang bị họ trấn áp cai trị. Một cách chắc chắn là họ rất khiếp sợ khi phải đối diện với những SƯ-THẬT-TRẦN-TRUỒNG trong một xã hội đã đang bị họ làm cho tha-hóa-băng-hoại tới mức toàn dân không thể chịu đựng được nữa.

Do tình huống của giới truyền thông chuyên nghiệp chính quy đã không thể làm hết chức năng và làm đúng bổn phận của mình, những Công Dân Liên Mạng Việt Nam (Blogger) càng quyết tâm trở thành những ký giả nghiệp dư chân chính đem Sự Thật của các sự việc xảy ra trong xã hội đến với đại chúng Việt Nam.

Sự thật sẽ giải phóng chúng ta khỏi mọi thứ gông cùm. The truth shall liberate us from all the shackles.

Để khiến cho cường quyền Hà-Hội phải khiếp sợ, mỗi một công dân liên mạng Việt Nam-Vietnamese Netizen (blogger) hãy là một ký giả nghiệp dư chân chính còn có lương tri và giữ đạo đức của nhân dân Việt Nam để đem sự thật đến với đại chúng Việt Nam. 





Mao và chiến dịch tiến chiếm Hoàng Sa 1974

Trần Trung Đạo (Danlambao) - Luồng gió ngoại giao đã đổi chiều khi Tổng Thống Mỹ Richard Nixon bắt tay với Mao ngày 21 tháng Hai 1972. Chuyến viếng thăm Trung Cộng của Nixon nhắm vào 3 mục đích: (1) hướng tới một giải pháp hòa bình tại Đài Loan, (2) tìm một giải pháp hòa bình cho chiến tranh Việt Nam qua đàm phán và (3) giảm ảnh hưởng của Liên Xô. Như lịch sử đã chứng minh, ít nhất hai trong số ba mục đích của TT Richard Nixon đều không đạt được. Chỉ riêng vấn đề Việt Nam, chiến tranh không chấm dứt bằng giải pháp hòa bình mà bằng máu cho đến ngày 30-4-1975.

Sự gần gũi giữa Mỹ và Trung Cộng đã đẩy Việt Nam nghiêng xa hơn về phía Liên Xô. Bắc Việt cho rằng Trung Cộng đã phản bội đảng CSVN khi đặt mối quan hệ giữa Trung Cộng và Mỹ lên trên quyền lợi của Bắc Việt. Xuân Thủy, trưởng phái đoàn đàm phán của Bắc Việt, tố cáo Mỹ “âm mưu chia rẽ khối xã hội chủ nghĩa”. Khoảng cách giữa Bắc Việt và Trung Cộng xa cách dần mặc dù Trung Cộng tuyên bố vẫn tiếp tục “ủng hộ cuộc chiến chống Mỹ đến mục đích cuối cùng”. 

Chủ trương chiếm Hoàng Sa trước khi chiến tranh chấm dứt

Sau khi hiệp định Paris được ký kết, quan hệ giữa CS Bắc Việt và Trung Cộng trở nên tệ hại hơn. Học bài học tranh chấp biên giới với Liên Xô phía Bắc và phát xuất từ mối lo sợ bị bao vây ở phía Nam, Mao nghĩ đến việc phải tiến chiếm các đảo ngoài Biển Đông trước khi CS Bắc Việt chiếm toàn bộ Việt Nam và rơi hoàn toàn vào quỹ đạo của Liên Xô, lúc đó là kẻ thù số một của Trung Cộng. Mao càng lo lắng hơn khi thấy chính sách của Mỹ ngày càng trở lại với chủ trương tự cô lập (American Isolationism) trước đây trong lúc Liên Xô ngày càng mở rộng và có khả năng lấn chiếm sang Châu Á. 

Ngoài lý do lãnh thổ, việc tiến chiếm Hoàng Sa là một bước thay đổi quan trọng trong chính sách đối ngoại của Mao, chuyển từ giai đoạn đấu tranh cách mạng dựa trên quan điểm Marx-Lenin-Mao sang thực tế quốc tế. Để thực thi các chính sách này, Mao cần một lãnh đạo có đầu óc thực dụng, và người đó không ai khác hơn là Đặng Tiểu Bình. Ngày 22 tháng 12, 1973, Mao phục hồi họ Đặng. 

Mặc dù già nua, bệnh hoạn, chủ trương “phục hồi các lãnh thổ Trung Quốc bị mất” là chủ trương của Mao. 

Đặng Tiểu Bình đóng vai trò tích cực nhưng y chỉ mới được phục hồi chưa đầy một tháng sau sáu năm bị hạ bệ. Chu Ân Lai chủ tọa nhiều phiên họp của Bộ Chính Trị nhưng trong thời gian đó họ Chu đang bị kết án hữu khuynh. Diệp Kiếm Anh được giao trách nhiệm chủ tịch của ủy ban nhưng họ Diệp đã 77 tuổi và thuộc thành phần tướng lãnh thời Vạn Lý Trường Chinh. 

Tháng Giêng 1974, Mao quyết định tiến chiếm Hoàng Sa trước. Kế hoạch chiếm Hoàng Sa được nghiên cứu rất kỹ lưỡng và chi tiết, không chỉ về mặt quân sự mà cả chuẩn bị dư luận quốc tế để biện hộ cho hành động xâm lược Việt Nam. 

Về mặt đối ngoại. Để có lý do tấn công Hoàng Sa của Việt Nam Cộng Hòa, bộ máy tuyên truyền Trung Cộng tố cáo Việt Nam Cộng Hòa vào tháng 11, 1973 đã bắt giữ tàu đánh cá Trung Cộng và hành động đó được xem như vi phạm chủ quyền Trung Cộng, buộc Trung Cộng phải “phản công tự vệ”. Ngày 11 tháng Giêng 1974, Bộ Ngoại Giao Trung Cộng ra thông báo xác định chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa và vùng biển chung quanh quần đảo này: “Các quần đảo Nam Sa, Tây Sa, Trung Sa đều là một phần của lãnh thổ Trung Quốc. Nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa có chủ quyền không thể tranh cãi đối với những hòn đảo này”.

Về mặt tổ chức. Một ủy ban đặc nhiệm của các lãnh đạo cao cấp nhất trong đảng và nhà nước Trung Cộng được thành lập để phát thảo kế hoạch tiến chiếm Hoàng Sa được thành lập trong phiên họp của Bộ Chính Trị do Chu Ân Lai chủ tọa. Năm Ủy viên Bộ Chính Trị trong ủy ban gồm Thống Chế Diệp Kiếm Anh (Ye Jianying), Phó Chủ Tịch Trung Ương Đảng Vương Hồng Văn (Wang Hongwen), Ủy Viên Thường Trực Bộ Chính Trị phụ trách tuyên truyền Trương Xuân Kiều (Zhang Chunqiao), Phó Thủ Tướng Đặng Tiểu Bình (Deng Xiaoping) và Đại Tướng Tư Lệnh Quân Khu Bắc Kinh Trần Tích Liên (Chen Xilian). Chu Ân Lai giao cho Diệp Kiếm Anh trách nhiệm điều hành ủy ban.

Mao phê chuẩn thành phần ủy ban. 

Một phiên họp mở rộng sau đó, ngoài Chu Ân Lai và năm thành viên còn có sự tham dự của Đô Đốc Tô Chấn Hoa (Su Zhenhua), Chính Ủy Thứ Nhất của Hải Quân Trung Cộng. Tô Chấn Hoa là một trong những tướng hải quân có quan hệ mật thiết với Đặng Tiểu Bình và cũng là người chủ trương bành trướng Biển Đông. 

Với một thành phần lãnh đạo chiến dịch cao cấp và đầy đủ ban bộ như vậy chứng tỏ việc tiến chiếm Hoàng Sa không chỉ là một tranh chấp biển đảo bình thường mà còn mang một ý nghĩa chiến lược hàng đầu và phải chiếm Hoàng Sa bằng mọi giá. 

Về mặt quân sự. Đây là lần đầu tiên hải quân Trung Cộng thực hiện một cuộc viễn chinh hải quân chống lại nước ngoài và lực lượng tham chiến được chọn lựa kết sức cẩn thận. Bốn ngày sau khi Trung Cộng tuyên bố chủ quyền, 11 chiến hạm của hải quân Trung Cộng và 600 lính được lệnh tiến vào vị trí. Các phi đoàn chiến đấu cơ đặt trên đảo Hải Nam được lệnh sẵn sàng tham chiến. Đặng Tiểu Bình trong thời gian này vừa được giao phó chức vụ Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc và thay mặt ủy ban điều hợp các hoạt động của Quân Ủy Trung Ương cũng như các vấn đề quân sự khẩn cấp. Bộ Tư lệnh Hạm Đội Nam Hải dưới quyền Tư lệnh Zhang Yuanpei trực tiếp chịu trách nhiệm tiến chiếm Hoàng Sa. 

Kế hoạch được đệ trình lên Mao và Mao chấp thuận. 

Ngày 19 tháng Giêng 1974, Hải Quân Trung Cộng tiến chiếm Hoàng Sa. Sau trận hải chiến khoảng một giờ, Trung Cộng chiếm Hoàng Sa. Phía Trung Cộng công bố họ chỉ có 18 binh sĩ thiệt mạng và không có tàu nào chìm mặc dù báo chí Tây Phương cho rằng ít nhất một chiến hạm của hải quân Trung Cộng đã bị bắn chìm. Người viết không trình bày chi tiết ở đây vì diễn biến của hải chiến Hoàng Sa đã được rất nhiều tài liệu và nghiên cứu Việt Nam cũng như quốc tế công bố. Rất nhiều thông tin quý giá đang được lưu trữ tại website hqvnch.org.

Thái độ bàng quan của Mỹ

Chính phủ Mỹ ra lệnh Đệ Thất Hạm Đội không được can thiệp vì đã đồng ý ngầm với Trung Cộng sẽ giữ thái độ bàng quan trong tranh chấp Hoàng Sa, và các chiến hạm và phi cơ của Mỹ sẽ không xâm phạm giới hạn 12 hải lý của quần đảo Hoàng Sa. Cam kết này của Mỹ đã được Ngoại Trưởng Trung Cộng Hoàng Hoa nhắc lại trong diễn văn đọc trước Liên Hiệp Quốc ngày 12 tháng Tư 1972 với sự hiện diện của Ngoại Trưởng Hoa Kỳ Henry Kissinger. 

Bản tin của báo Time ngày 4 tháng Hai 1974 cũng xác định chính sách của Mỹ trong hải chiến Hoàng Sa là “tuyệt đối khoanh tay”. 

Ngoài ra, trước đó vào mùa xuân 1972, Trung Cộng đã thử ý định Mỹ bằng cách gởi công hàm phản đối khi một tàu chiến Mỹ vi phạm khu vực 12 hải lý của quần đảo Hoàng Sa. Mỹ đáp ứng bằng việc chỉ thị hải quân Mỹ sẽ không hải hành trong khu vực 12 hải lý do Trung Cộng quy định. Thái độ đó của Mỹ là dấu hiệu cho Trung Cộng biết Mỹ sẽ không can dự vào tranh chấp Hoàng Sa.

Tại sao Trung Cộng chọn ngày 19 tháng Giêng 1974? 

Ngày 19 tháng Giêng 1974 là ngày kỷ niệm 24 năm Trung Cộng công nhận nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Đây không phải là sự kiện trùng hợp ngẫu nhiên mà là một cái tát chính trị vào mặt đảng CSVN. 

Tối ngày 20 tháng Giêng, Chu Ân Lai triệu tập phiên họp để tổng kết thành quả chiến dịch, và ngay sau phiên họp y đã trình chiến thắng lên Mao. Quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam bị sáp nhập vào địa phận tỉnh Quảng Đông. Các báo đảng và nhà nước Trung Cộng sau đó đã tung hô “chiến thắng vĩ đại của Mao Chủ tịch trên biển”.

Về phía CSVN, ngoài tuyên bố ba điểm chung chung giống như người ngoài cuộc của cái gọi là “Chính phủ Lâm thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam” ngày 26 tháng Tư 1974, các lãnh đạo CS Bắc Việt không có một lời phản đối nào trước hành động xâm lăng của Trung Cộng. Khi đất nước bị xâm lăng, những kẻ chọn thái độ im lặng cũng chẳng khác gì chọn đứng về phía xâm lăng.

Bài học lịch sử từ hải chiến Hoàng Sa

- Đừng trông cậy vào ngoại viện: Trong tổng kết mới nhất The U.S. China Military Scorecard 1996-2017 của RAND Corporation, tuy Trung Cộng đạt nhiều tiến bộ trong hơn 30 năm hiện đại hóa, kỹ thuật chiến tranh của Mỹ vẫn còn dẫn trước rất xa. Ngay cả trong vũ khí nguyên tử, tỉ lệ giữa Mỹ so với Trung Cộng là 13 trên 1. Nghĩa là, dù bắn trước, Trung Cộng vẫn sẽ phải bị Mỹ đánh trả bằng bom nguyên tử nhiều lần. 

Tuy nhiên, sự vượt trội kỹ thuật chiến tranh không có nghĩa Mỹ sẽ can thiệp vào xung đột Biển Đông nếu Việt Nam bị Trung Cộng tấn công lần nữa. Vì các lý do kinh tế, Mỹ có thể làm ngơ như họ đã từng làm ngơ vì lý do chính trị trong hải chiến Hoàng Sa 1974. Bài học của hai cuộc thế chiến cho thấy Mỹ chỉ tham chiến khi quyền lợi của họ bị va chạm trực tiếp và phải có lợi về đường dài. Không nên trách ai cả. Một con người hay một quốc gia cũng thế, phải tự đứng lên bằng đôi chân của chính mình trước khi trông cậy vào sự giúp đỡ của người khác. 

- Dân chủ hóa hay mất nước: Tham vọng bành trướng trên Biển Đông của Trung Cộng quá rõ ràng và lộ liễu. Mặc dù có các áp lực quốc tế, không có dấu hiệu gì cho thấy Trung Cộng sẽ từ bỏ tham vọng chiếm đoạt Biển Đông. Chủ trương gặm nhấm Biển Đông của Trung Cộng đang được tiến hành từng bước và chúng hy vọng đến mức độ nào đó sẽ đặt Mỹ và cả thế giới vào thế đã rồi. Trung Cộng đã nuốt vô thì chỉ có cách mổ bụng chúng mới lấy ra được. 

Để tránh đại họa mất nước, chọn lựa duy nhất của Việt Nam hiện nay là dân chủ hóa và phải dân chủ hóa gấp. Dân chủ là điều kiện tiền đề trong chính sách đối ngoại nhằm tạo sự tin cậy nơi các nước dân chủ Tây Phương, nhưng quan trọng nhất là nền tảng của đoàn kết dân tộc và thăng tiến đất nước. Một dân tộc chia rẽ không thắng được Trung Cộng. Dân chủ là đôi cánh giúp đất nước có thể cất cao lên cùng thời đại. Đó không phải là lý thuyết mà là thực tế chính trị đang được hầu hết các quốc gia áp dụng. Mục tiêu đầu tiên và quan trọng nhất trong tiến trình dân chủ hóa là tháo gỡ cho được cơ chế chính trị xã hội độc tài CS hiện nay.

- Chủ động chiến lược hóa vị trí quốc gia để khỏi bị “Phần Lan Hóa” (Finlandization): Trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh, Liên Xô cho phép Phần Lan được duy trì cơ chế dân chủ trong khi khống chế mọi chính sách đối nội và đối ngoại đi ngược với quyền lợi của Liên Xô. Phần Lan không có chọn lựa nào khác vì không nằm trong vị trí chiến lược. 

Khác với trường hợp Phần Lan, một Việt Nam dân chủ có khả năng thoát ra khỏi khả năng bị “Phần Lan Hóa”, đưa đất nước vào vị trí chiến lược quốc tế và chủ động làm cho quốc tế quan tâm. 

Chủ trương hiện nay của lãnh đạo CSVN “không tham gia các liên minh quân sự, không là đồng minh quân sự của bất kỳ nước nào, không cho bất cứ nước nào đặt căn cứ quân sự ở Việt Nam và không dựa vào nước này để chống nước kia” là chủ trương tự sát, không đúng về lý thuyết lẫn thực tế chính trị. Chủ trương này là bản sao chính sách đối ngoại của Trung Cộng nhưng khác ở điểm Trung Cộng chỉ tuyên bố để tuyên truyền chứ không bao giờ áp dụng. 

Kết luận

Robert D. Kaplan, nhà nghiên cứu chính trị quốc tế nổi tiếng và đã được tạp chí The Policy hai lần xếp vào danh sách 100 nhà tư duy hàng đầu của thế giới (“Top 100 Global Thinkers”), cho rằng Trung Cộng có khả năng cao sẽ “Phần Lan Hóa” Việt Nam. 

“Phần Lan Hóa” là một loại chủ nghĩa thực dân trong thời đại toàn cầu. Chủ trương này ít tốn kém vì các quốc gia bị “Phần Lan Hóa” được phép duy trì độc lập trên danh nghĩa nhưng chính sách đối ngoại sẽ được soạn thảo tại Bắc Kinh. Trung Quốc làm như vậy để vừa thúc đẩy nền kinh tế đang tiến rất chậm và đồng thời cũng để giảm áp lực chống đối từ trong nước qua việc đề cao chủ nghĩa dân tộc. Công thức mà Trung Cộng đang sử dụng không có gì mới và mô hình phát triển hiện nay của Trung Cộng cũng không phải là một loại mô hình ngoại lệ (Chinese exceptionism) như một số lý thuyết gia của đảng CSTQ đang dùng để kết luận Trung Cộng sẽ không sụp đổ. 

Một thành phần có ảnh hưởng trực tiếp vào sự thay đổi cơ chế chính trị nhưng Robert D. Kaplan không đưa vào phân tích của ông, đó là nhân dân, tức là thành phần những người dân của một quốc gia có ý thức cao về quyền hạn và trách nhiệm phải thực thi đối với đất nước. Trong thực tế cách mạng dân chủ, đóng góp của nhân dân là yếu tố âm thầm nhưng quyết định, tiềm tàng nhưng vô cùng mạnh mẽ như đã chứng tỏ tại nhiều quốc gia Đông Âu, Phi Châu, và tại Liên Xô cũ. Tại Việt Nam, yếu tố nhân dân còn giới hạn, chưa tập trung, thiếu tổ chức nhưng đã có và đang trên đà phát triển. Những hạt giống đã được gieo xuống. Mỗi người Việt, mỗi tổ chức, đoàn thể trong điều kiện và phương tiện sẵn có của mình nên tập trung chăm bón. 

03.01.2016


_____________________________________

Tham khảo:

- Yang Kuisong (2002). Changes in Mao Zedong’s Attitude toward the Indochina War, 1949-1973. Woodrow Wilson International Center for Scholars.

- Bruce A. Elleman and S.C.M. Paine (2011). Naval Power and Expeditionary Warfare: Peripheral Campaigns and New Theatres of Navy Warfare. Taylor and Francis Group.

- Qiang Zhai (2002). China & The Vietnam Wars, 1950-1975. University of North Carolina Press.

- Dr. Stein Tonnesson (2001, July). The Paracels: The “other” South China Sea Dispute, Paper presented at the South China Sea Panel, International Studies Association, Hong Kong Convention.

- Eric Heginbotham (2015). The U.S. China Military Scorecard 1996-2017, RAND Corporation.

- Paracel (Xisha) Islands – 1974, globalsecurity.org.

- David Brown (2014, May 22). Vietnam Faces “Finlandization” from China. Asia Sentinel.

- Larry M. Wortzel, Robin D. S. Higham (1999). Dictionary of Contemporary Chinese Military History. Greenwood Press.

- The World: Storm in the China Sea. Time, Feb. 04, 1974.

- Robert D. Kaplan. The South China Sea is to China what the Greater Caribbean was to the United States, The Globe and Mail, June 19, 2015.

- John W. Garver. Chinas Quest: The History of the Foreign Relations of the Peoples Republic. pp. 324-325. Oxford University Press.

- Lai To Lee (1999). China and the South China Sea Dialogues, pp13-14. Praeger, London.

- Bill Hayton (2014). The South China Sea: The Struggle for Power in Asia, Yale University Press.

- hqvnch.org (Trang sưu tầm tài liệu lịch sử Hải Quân VNCH).

Đại hội 12 - cuộc tranh giành quyền lực quyết liệt, bất ngờ

Trần Hoàng Lan (Danlambao) - Ở Việt Nam ngày nay các câu "phi thương bất phú”, “nhất bản vạn lợi” (không buôn bán thì chẳng thể giàu và buôn bán là nghề sinh lợi nhiều nhất) đã lỗi thời vì có một nghề làm giàu nhanh hơn nghề đi buôn, đó là nghề “làm cán bộ". Ai còn hồ nghi xin mời hãy vào mạng để chiêm ngưỡng phòng khách của cựu tống bí thư Lê Khả Phiêu, Nông Đức Mạnh, nhà thờ họ của đương kim thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, biệt thự của cựu tổng thanh tra Trần Văn Truyền. Hình ảnh cặp ngà voi, chiếc trống đồng, vườn rau sạch, bức tượng đồng bán thân đắt tiền, bộ bàn ghế dát vàng... do các báo nhà nước chụp quyết không thể là ngụy tạo được.

Cảm thấy chưa thuyết phục bạn có thể tới các dinh thự của lãnh đạo các tỉnh hoặc tương đương. Dù có chó dữ phải đứng ngoài nhìn từ xa, bạn vẫn thấy được vẻ bề thế, khang trang của nó. Nếu vẫn chưa thỏa mãn bạn cứ tìm cơ ngơi của lãnh đạo một huyện hoặc thành phố bất kỳ, hoặc của một cán bộ cỡ vừa vừa nào đó để kiểm chứng. Công dân bình thường muốn làm giàu một cách thực sự phải là người tài, giỏi làm ăn, mạo hiểm và phải chọn được cách làm giàu phù hợp cộng với một chút may mắn. Còn với cán bộ nhất là cán bộ càng to thì việc làm giàu đối với họ càng dễ, thậm chí chẳng cần phải “làm”mà vẫn cứ “giàu”. Chẳng hạn: Ký một quyết định chuyển đổi mục đích sử dụng biến đất nông nghiệp thành đất phân lô để bán ở đô thị bao giờ cũng được những người đề xuất “lại quả” vài mảnh giá trị bạc tỉ. Cất nhắc, đề bạt thậm chí kỷ luật cán bộ luôn là những cơ hội để cấp trên nhận những khoản chạy chức, chạy tội không nhỏ từ đương sự. Muốn làm những công trình, dự án béo bở mà không phải là gia đình, người thân, phe cánh của quan chức thì chỉ còn cách "lì xì" cho cán bộ có quyền phân phối. Tổ chức cưới xin, ma chay cho thân nhân của sếp luôn là dịp để cấp dưới hối lộ hợp pháp bằng cách mừng hoặc phúng những phong bì “dày bất thường”. Vì "một người làm quan cả họ được nhờ" nên nghề "làm cán bộ" còn tạo cơ hội làm giàu cho cả người thân trong gia đình, họ hàng thân cận cùng phe nhóm nữa. 

Ngoài làm giàu nhanh nghề này còn có một "nhân thân tốt" nên khi lỡ “bị lộ”, “lâm nạn”, hoặc buộc phải làm "dê tế thần", đóng vai “Lê Lai” cứu cấp trên cũng dễ dàng thoát tội hoặc chuyển từ nặng thành nhẹ. Còn nếu chẳng may bị tù cũng nhanh chóng được ân xá. Vụ án mua dâm nữ học sinh ở Hà Giang những kẻ có tội là hàng loạt quan chức tỉnh có "thân nhân tốt" nên phiên sơ thẩm được “miễn nêu tên”. Lương Quốc Dũng, Mai Văn Dâu, Trần Mai Hạnh, Phạm Sĩ Chiến... là những cán bộ cấp cao lỡ bị tù nhưng đều được nhanh chóng ra trước thời hạn. Các vụ in tiền Pôlime, PCI, PMU18, Vinashin, Vinaline vì có dính líu tới các nhân vật trong BCT nên đã được ỉm đi, khoanh lại không làm tới cùng. 

Chỉ cần kể sơ sơ như vậy cũng đủ thấy sự "hấp dẫn", sức “cuốn hút” của nghề “làm cán bộ”. Cộng với tâm lý thích làm quan vốn ăn sâu bén rễ từ hàng ngàn đời nay nên thiên hạ đua nhau: chưa được làm cán bộ thì phấn đấu, được rồi thì muốn làm to hơn, to rồi thì muốn làm to nữa, bằng đủ mọi cách. Nhưng điều 4 hiến pháp quy định đảng cộng sản lãnh đạo đất nước nên có một tiêu chuẩn bất thành văn: lãnh đạo đơn vị phải là đảng viên và phải có chân trong cấp ủy của đảng bộ cùng cấp. Chẳng han: Lãnh đạo tỉnh hoặc giám đốc một sở quan trọng nhất thiết phải là tỉnh ủy viên. Bí thư các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, bộ trưởng các bộ, thủ trưởng các cơ quan ngang bộ đều phải có chân trong BCH trung ương. Tổng bí thư, thủ tướng, chủ tịch nước, chủ tịch quốc hội, bộ trưởng bộ quốc phòng, công an đương nhiên không ai ngoài các ủy viên bộ chính trị. Bởi vậy cuộc chạy đua giành các vị trí lãnh đạo chủ chốt chính là cuộc đua giành ghế cấp ủy trong các đại hội đảng bộ. Cuộc đua giữa các đồng chí (cùng phải thực hiện nghị quyết, chủ trương, đường lối của đảng) nên không có gì ngoài tranh giành, đấu đá, hạ bệ lẫn nhau. Lãnh đạo cấp càng cao càng có nhiều “béo bở” do đó mức độ quyết liệt của các cuộc tranh giành nói trên tăng theo cấp của đại hội đảng bộ. Tất nhiên căng thẳng, quyết liệt hơn cả là tranh giành các ghế UVTW, UVBCT, "tứ trụ", TBT. 

Cuộc tranh giành của những kẻ có quyền, tiền vào bậc nhất, câu kết thành phe phái, đứng sau là các nhóm lợi ích khổng lồ, không loại trừ khả năng được ngoại bang hỗ trợ lại diễn ra trong bối cảnh: 5 năm trong nhiệm kỳ của đại hội 11 kinh tế đất nước bết bát, tham nhũng, lãng phí trầm trọng trong các ngân hàng, công ty, cơ quan nhà nước gây thất thoát tới hàng trăm tỷ đô làm gánh nợ công khổng lồ ngày càng chồng chất, hàng loạt các công ty doanh nghiệp trong nước phá sản, làm ra không đủ trả nên thường xuyên phải đi vay để đáo nợ. Ngoài biển, Trung Quốc cộng không ngừng gia tăng sức ép đe dọa chủ quyền nhằm chiếm trọn biển Đông qua các hành động bắt bớ ngư dân, đưa giàn khoan vào thềm lục địa, bồi đắp trái phép các đảo chiếm được của Việt Nam ở Trường Sa. Đáp lại, nhà nước cộng sản Việt Nam dù tuyên bố kiên trì đường lối ngoại giao độc lập, đa phương hóa không liên minh liên kết, nhưng tỏ ra hèn đớn, ngày càng lệ thuộc mọi mặt vào Tàu cộng, đồng thời tích cực" đu dây" giữa Mỹ và Trung Quốc để giảm sức ép từ phía phần lớn người dân muốn thoát Trung. Với các động thái: Viếng thăm và ký kết hợp tác với hàng loạt quốc gia trong đó đáng kể là chuyến viếng thăm của TBT Nguyễn Phú Trọng tới Mỹ. Gia tăng đàn áp những người yêu nước chống đối Trung Quốc. Nhượng bộ để vào TPP bằng được. Các lãnh đạo cao cấp có những hành động, tuyên bố, thái độ không đồng nhất trong mối quan hệ với Trung Quốc. Làm cuộc giành quyền lực trước và trong đại hội 12 quyết liệt, bất ngờ hơn hẳn so với các đại hội trước. Cuộc tranh giành mà hầu như các diễn biến của nó đều liên quan tới số phận chính trị của thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. 

Sau nhiệm kỳ "xuôi chèo mát mái" tích lũy được khá nhiều quyền và tiền ông Dũng đã gặp phải "sóng gió" ngay trong những năm đầu nhiệm kỳ của đại hội 11. Mở đầu là sự đổ bể của Vinashin tiếp theo là hàng loạt các tập đoàn kinh tế nhà nước khác - những" quả đấm thép trong mơ "của ông - xảy ra tham nhũng, lãng phí gây thất thoát hàng chục tỷ USD. Mặc dù không bị kỷ luật nhưng đây là cơ hội để các đối thủ vốn "ghen ăn tức ở" tận dụng nhằm hạ uy tín khởi động "cuộc chiến Ba-Tư" tiến tới hạ bệ ông. Trang blog "quan làm báo" ra đời đăng tải nhiều bài viết tấn công trực diện vào cá nhân, gia đình, thân cận của ông. Nó không hề bị chặn, phá hoại như những trang mạng "lề dân" khác chứng tỏ đã có một thế lực không hề nhỏ đứng đằng sau o bế. Đáp trả, ông Dũng đã có những tuyên bố khá cứng rắn về chủ quyền biển đảo trên các diễn đàn trong nước và quốc tế. Điều mà các lãnh đạo cao cấp khác không làm được. Hành động trên giúp ông đánh bóng tên tuổi và làm lu mờ đi phần nào hình ảnh một thủ tướng tham nhũng bất tài. Mặc dù nó được dư luận tán thưởng nhưng lại gây ngứa tai, ngứa mắt một số người, trong số đó có ông TBT Nguyễn Phú Trọng một nhân vật bảo thủ, thân Tàu khét tiếng. 

TBT đã nhập cuộc và được dư luận "phong" thành người đứng đầu phe bảo thủ, giáo điều thân Trung Quốc. Dĩ nhiên phe còn lại của ông Dũng phải được coi là cải cách, thực dụng, thân Mỹ. Lợi dụng cương vị TBT ông Trọng đã cho ra đời nghị quyết 4 về chống tham nhũng nhằm hạ bệ ông Dũng và dự kiến hội nghị TƯ 6 sẽ là thời điểm "knock out" đối thủ. Một tập tài liệu dày hàng trăm trang A4 kể tội, cùng hình ảnh nhà thờ họ hoành tráng của ông Dũng đã được phát tận tay cho các đại biểu trước hội nghị. 

Nhưng ông Dũng đã thoát hiểm một cách ngoạn mục vì đa phần các UVTƯ không tán thành với BCT kỷ luật ông. Sau thất bại này của đối thủ, giấc mơ trở thành TBT sau đại hội 12 của ông Dũng đã nhen nhóm. Vừa củng cố, thâu tóm thế lực bằng cách cất nhắc vây cánh vào các chức vụ quan trọng vừa triệt hạ đối thủ. Cái chết của trưởng ban nội chính Nguyễn Bá Thanh bị nghi ngờ là đòn trừng phạt tới những kẻ đâm ngáng đường ông. Trang "chân dung quyền lực" tố cáo một loạt các lãnh đạo cấp cao tham nhũng, tung tin "bộ trưởng quốc phòng Phùng Quang Thanh bị ám sát" có thể nằm trong lộ trình thâu tóm quân đội. Tiếp tục có các phát biểu về chủ quyền biển đảo, về dân chủ nhân quyền nên ông Dũng liên tục được dư luận tung hô, kỳ vọng là một Thein Sein của Việt Nam. Và gần đây khi được Tập Cận Bình ngỏ lời mời tới thăm Trung Quốc vào năm tới thì hy vọng trở thành TBT của ông càng tràn trề. 

Sau thất bại ở hội nghị TƯ 6 tưởng như đã phải "yên bề chịu trận" qua những lời thủ thỉ với cử tri "đánh chuột sợ vỡ bình", "sang đất Phật còn phải hối lộ..." Thì bất ngờ từ hội nghị TƯ 10 nhân danh TBT, ông Trọng đã đưa ra hàng loạt tiêu chí để loại ông Dũng.

Tới thời điểm này, khi khai mạc đại hội đảng toàn quốc lần thứ 12 chỉ còn tính từng ngày, đã có liên tiếp 3 hội nghị bàn về nhân sự nhưng vẫn còn phải cần tới một hội nghị TƯ 14 nữa để hoàn tất danh sách bầu 4 vị trí cao nhất và TBT. Các thư tố cáo, ý kiến góp ý về chọn nhân sự dồn dập đăng tải trên các trang mạng không chính thống. Đã liên tiếp xảy ra các vụ đánh đập, bắt bớ người hoạt động trong công đoàn độc lập và luật sư nhân quyền khi TPP còn chưa ráo mực. Phải chăng đã có những kẻ cố tình phá hỏng TPP để kiếm điểm của "thiên triều" nhằm giành quyền lực? Rất có thể, vì với họ TPP chẳng có ý nghĩa gì nếu không còn chức còn quyền. Chuyến thăm Trung Quốc vào thời điểm "năm cùng tháng tận", cận kề đại hội 12 của chủ tịch quốc hội Nguyễn Sinh Hùng càng tăng thêm yếu tố bất ngờ về vấn đề nhân sự. "Gió" đã đổi chiều hay thổi theo hướng khác? Hội nghị TƯ 14 có phải là "phút bù giờ" cuối cùng? Cuộc tranh giành quyền lực chóp bu trở nên hết sức căng thẳng, quyết liệt và đầy dẫy bất ngờ. 

Như thông lệ, kịch bản của đại hội đảng các cấp cũng như trung ương là: các đại biểu nghe báo cáo chính trị về tổng kết, đánh giá nhiệm kỳ trước, đề xuất phương hướng cho nhiệm kỳ tiếp theo hoặc lâu dài hơn, đại biểu phát biểu dưới dạng tham luận, biểu quyết nghị quyết đề ra, cuối cùng là bầu ban chấp hành khóa mới và bầu đại biểu đi dự hội nghị cấp cao hơn (nếu là đại hội cấp địa phương). Nhưng báo cáo chính trị, phương hướng, nghị quyết, tham luận vốn là món "rượu cũ" đã "hết men" từ hàng chục năm nay. Dù có được "hâm nóng" lại cũng chẳng còn hấp dẫn được ai. Thành thử, mối quan tâm nhất của các đại biểu trong đại hội là phần bầu bán vì nó cho biết cá nhân, phe cánh nào còn "ghế", còn "phần" trong nhiệm kỳ 5 năm tới. Đại hội 12 thực chất là cuộc tranh giành quyền lực. Cuộc tranh giành dễ làm người ta liên tưởng tới trích đoạn "mẹ Đốp" của vở chèo cổ "Quan âm Thị Kính", tả cảnh các chức sắc tranh ăn giữa đình, trong một làng phong kiến thuở xưa. 


1/2016 

Nguyễn Sinh Hùng ‘kính cẩn nghiêng mình’ trước kẻ ra lệnh đánh chiếm Hoàng Sa


Bạn đọc Danlambao - Trong chuyến viếng thăm tỉnh Hồ Nam hôm 25/12/2015 vừa qua, chủ tịch quốc hội CSVN Nguyễn Sinh Hùng cùng đoàn cán bộ cấp cao đã đến dâng hoa và viếng tượng đài chủ tịch Trung Cộng Mao Trạch Đông.

Thông tấn xã Việt Nam mô tả: “Kính cẩn nghiêng mình trước tượng Chủ tịch Mao Trạch Đông, Chủ tịch QH Nguyễn Sinh Hùng thành kính tưởng nhớ vị lãnh tụ vĩ đại đã khai sinh ra nước CHND Trung Hoa”.

Video do kênh truyền hình Quốc Hội TV cũng quay cận cảnh ông Hùng cúi đầu trước tượng Mao Trạch Đông – kẻ đã ra lệnh dùng vũ lực đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam Cộng Hoà năm 1974.

Thông tin này đã được Tân Hoa Xã – cơ quan tuyên truyền của Trung Cộng công bố hồi tháng 8 năm 2012. 

Hình ảnh Nguyễn Sinh Hùng cúi đầu trước tượng đài Mao Trạch Đông là một sự ô nhục cho chế độ CSVN, bở lẽ chỉ những kẻ bán nước mới đi bái lạy kẻ cướp nước.

Tàu lạ xông biển-đảo đầu năm 2016

Từ "ngư phủ" của Miền Nam thuở trước
Giờ không dùng mà phải gọi ngư dân
Cho hợp vận với buôn dân bán nước
Lũ Ba Đình bầy ngạ quỷ lanh mưu

Đầu năm mới lại vừa nghe tin dữ
Tưởng như chừng sét đánh ngang tai
Lại tàu lạ... đâm sầm vào tàu cá
Động mã bác Hồ nên tránh gọi china

Nếu kể cả thời thực dân phong kiến
Chưa thời nào chó đẻ giống hôm nay
Ẵm tàu lặn, máy bay về cân ký
Qui "Thành... Đô" biển lận lũ Ba Đình

Đảng bám ghế còn ngư dân bám biển
Bám cái này thì khỏi bám cái kia
Sao lại bảo đảng đem con bỏ chợ
Đảng mừng Tàu xông biển-đảo đầu năm!?


“Nhập siêu 3,2 tỷ USD không đáng lo ngại”

CẨM TÚ-14:35 03/01/2016
Đại diện Tổng cục Thống kê lạc quan về con số này bởi có tới 91,3% giá trị nhập siêu của Việt Nam là tư liệu sản xuất và máy móc thiết bị.
“Nhập siêu 3,2 tỷ USD không đáng lo ngại”
91,3% giá trị nhập siêu của Việt Nam trong năm 2015 là tư liệu sản xuất và máy móc thiết bị. (Ảnh minh họa: Internet).
Sau 3 năm liên tiếp xuất siêu, năm 2015 cả nước nhập siêu 3,2 tỷ USD. Năm 2016, với hàng loạt Hiệp định thương mại tự do có hiệu lực, nhiều khả năng nhập siêu tiếp tục gia tăng. Tuy nhiên theo Tổng cục Thống kê, nhập siêu không đáng lo ngại.
Số liệu của Tổng cục Thống kê cho thấy, năm 2015, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa ước đạt 162,4 tỷ USD, tăng 8,1% so với năm trước, thấp hơn mục tiêu đã đề ra là tăng khoảng 10% (nếu loại trừ yếu tố giá là tăng 12,4%).
Kim ngạch một số mặt hàng chủ lực thuộc nhóm gia công, lắp ráp tăng cao so với cùng kỳ như: Điện thoại các loại và linh kiện, điện tử máy tính và linh kiện; hàng dệt may; giày dép. Ngược lại, các mặt hàng thuộc nhóm nông sản và khoáng sản giảm khá mạnh cả về lượng và giá trị như: cà phê; chè; dầu thô; than đá; thủy sản. Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch ước đạt 33,5 tỷ USD, tiếp theo là thị trường EU; ASEAN; Trung Quốc; Hàn Quốc.
Xuất khẩu năm 2015 đạt thấp hơn năm trước và thấp hơn kế hoạch đề ra (tăng 10%) chủ yếu do chỉ số giá xuất khẩu nhiều mặt hàng chủ lực giảm mạnh so với năm trước, bình quân chung giảm 3,8%; trong đó, lượng xuất khẩu nhiều mặt hàng nông sản giảm mạnh như: cà phê; hạt tiêu; chè.
Trong khi đó, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa năm 2015 ước đạt 165,6 tỷ USD, tăng 12% so với năm trước. Một số mặt hàng có kim ngạch nhập khẩu lớn tăng so với năm trước như: điện tử, máy tính và linh kiện; điện thoại các loại và linh kiện; ô tô. Trung Quốc vẫn là thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam trong năm 2015 với kim ngạch ước đạt 49,3 tỷ đôla Mỹ, tăng 12,9 % so với năm trước; tiếp theo là Hàn Quốc, ASEAN, Nhật Bản, Liên minh châu Âu, Hoa Kỳ.
Như vậy, cán cân thương mại hàng hóa năm 2015 thâm hụt khoảng 3,2 tỷ USD sau 3 năm liên tiếp thặng dư. Trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 20,3 tỷ USD, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài xuất siêu 17,1 tỷ USD.
Theo ông Nguyễn Bích Lâm, Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê, con số nhập siêu này chưa đáng lo ngại.
“Hiện cơ cấu nhập siêu của Việt Nam cơ bản vẫn là nhập siêu tư liệu sản xuất cho sản xuất hàng trong nước và hàng xuất khẩu. Trong 100% giá trị thì có tới 91,3% nhập siêu là tư liệu sản xuất và máy móc thiết bị. Chỉ còn khoảng hơn 8% là nhập siêu tiêu dùng. Thứ hai, trong thực hiện một loạt cam kết về các hiệp định thương mại mới thì Việt Nam đã có lộ trình. Đây cũng là một thách thức đối với toàn bộ nền kinh tế, đối với cộng đồng doanh nghiệp, nhưng Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương và cộng đồng doanh nghiệp đã có những giải pháp để giảm thiểu các ảnh hưởng của hội nhập và tận dụng được những cơ hội của hội nhập”, ông Lâm phân tích.
Theo VOV