Wednesday, June 10, 2015

Tầm nhìn chung Việt - Mỹ?

Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam Phùng Quang Thanh trong buổi lễ đón tiếp Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Ashton Carter tại Hà Nội, ngày 1/6/2015.
Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam Phùng Quang Thanh trong buổi lễ đón tiếp Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Ashton Carter tại Hà Nội, ngày 1/6/2015.
Vũ Đức Khanh, Lê Anh Hùng
Theo VOA-09.06.2015

Bản Tuyên bố Tầm nhìn chung về quan hệ quốc phòng được ký kết giữa Hoa Kỳ và Việt Nam hôm 1/6 vừa qua còn nhiều điều phải bàn trong bối cảnh thiếu vắng một tầm nhìn toàn diện

Sau khi tham dự diễn đàn Đối thoại Shangri-La tại Singapore, với bài phát biểu quan trọng ở đây ngày 30/5, Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ Ashton Carter đã có mặt tại Hà Nội để ký kết bản Tuyên bố Tầm nhìn chung giữa hai Bộ Quốc phòng Việt Nam - Hoa Kỳ vào ngày 1/6. Chủ đề bao trùm của cả hai sự kiện là cam kết của Hoa Kỳ với khu vực Châu Á - Thái Bình Dương.

Tại Singapore, cùng với sự tham gia của một phái đoàn Thượng nghị sỹ, Bộ trưởng Quốc phòng  Carter tái khẳng định tầm quan trọng của khu vực Châu Á - Thái Bình Dương đối với Hoa Kỳ và cộng đồng quốc tế nói chung. Ông cũng tỏ ra mạnh mẽ khi đề cập đến vấn đề mà chắc chắn là ai nấy đều chờ đợi: hoạt động bồi đắp các đảo đá của Trung Quốc trên Biển Đông.

Bộ trưởng Carter không ngần ngại nêu đích danh Trung Quốc như một quốc gia hiếu chiến và vi phạm luật pháp quốc tế. Phản bác yêu sách của Trung Quốc rằng các đảo nhân tạo cũng chịu sự điều chỉnh của luật pháp quốc tế như lãnh thổ chủ quyền, ông tái khẳng định Hoa Kỳ sẽ “tiếp tục bảo vệ tự do hàng hải và hàng không”. Nói cách khác, người ta có thể chờ đợi tàu thuyền và máy bay Hoa Kỳ di chuyển gần, xung quanh và qua các đảo mà Trung Quốc đang vi phạm.

Lập trường cứng rắn này có thể giúp trấn an một số nước láng giềng của Trung Quốc, đồng thời nó cũng buộc Hoa Kỳ phải giữ vững lời hứa mình là đối đầu quân sự với Trung Quốc khi cần thiết. Bất chấp những lời lẽ tử tế về tiến triển trong hợp tác Mỹ - Trung, ít ai nghi ngờ việc Mỹ đã nỗ lực để nhắc nhở các thành viên tham dự diễn đàn đối thoại rằng Trung Quốc là một mối nguy cho an ninh khu vực.

Hoa Kỳ sẽ tăng cường các mối quan hệ đồng minh và đối tác như một phần trong chiến lược tái cân bằng sang khu vực Châu Á - Thái Bình Dương.

Ở Việt Nam ngoài Bộ trưởng Quốc phòng Phùng Quang Thanh, ông Carter còn gặp TBT Nguyễn Phú Trọng và Chủ tịch nước Trương Tấn Sang.

Với việc ký Tuyên bố Tầm nhìn chung Việt-Mỹ về quan hệ quốc phòng, ông Carter và Tướng Thanh đã tái khẳng định công cuộc hợp tác quân sự giữa hai nước, chủ yếu dựa trên Bản Ghi nhớ về Thúc đẩy Hợp tác quốc phòng song phương Việt Nam - Hoa Kỳ năm 2011 và tuyên bố về Quan hệ Đối tác Toàn diện Việt Nam - Hoa Kỳ 2013.

Cơ hội cho Việt Nam

Một trong những lý do chủ yếu mà các nhà lãnh đạo bảo thủ ở Việt Nam vẫn vin vào để từ chối đi theo quỹ đạo của Hoa Kỳ là nỗi e sợ rằng nếu điều đó xẩy ra, Bắc Kinh có thể phát động một cuộc tấn công nhằm vào Trường Sa để thôn tính hoàn toàn quần đảo này.

Tuy nhiên, việc Mỹ cùng phương Tây và các nước trong khu vực lên án hành động của Trung Quốc trên Biển Đông một cách mạnh mẽ, cũng như quyết tâm xoay trục sang khu vực Châu Á - Thái Bình Dương của chính quyền Obama, đã cho Trung Quốc hiểu rằng không phải họ muốn làm gì thì làm.

Dù vậy, bất chấp sự lên án gay gắt của cộng đồng quốc tế và những hành động cương quyết của Mỹ gần đây, Trung Quốc vẫn chưa hề tỏ dấu hiệu nào cho thấy là họ sẵn sàng lùi bước, nhượng bộ. Hơn thế, với bản chất cố hữu của người Hán, ngay cả khi Trung Quốc có một động thái xoa dịu dư luận nào đó thì cũng không có nghĩa là họ sẽ chấm dứt hoạt động bồi đắp, tôn tạo các đảo đá ở Trường Sa và biến chúng thành chuỗi căn cứ quân sự liên hoàn hòng khống chế và kiểm soát hoàn toàn Trường Sa trên thực tế.

Vì thế, những lời nói và hành động gần đây của Mỹ nhằm vào Trung Quốc cũng như chiến lược tái cân bằng sang Châu Á của Washington chính là cơ hội lớn cho Việt Nam, để Việt Nam không chỉ giữ được Trường Sa mà còn đứng trước thời cơ ngàn năm có một: thoát Trung và hoà mình vào dòng chảy tự do - dân chủ của nhân loại tiến bộ.

Một tầm nhìn phiến diện

Mặc dù bản tuyên bố mới đây không ràng buộc về mặt pháp lý và được ký kết giữa 2 Bộ Quốc phòng của hai nước, song đây vẫn là một bước tiến nữa trong quan hệ Việt-Mỹ.

Một văn bản không ràng buộc trước hết phải được hiểu như là một cam kết chính trị của một chính phủ với một chính phủ khác. Đó là một dàn xếp phi nghĩa vụ. Vì thế, Hoa Kỳ không buộc phải hoàn thành bất kỳ điều gì trong bản Tuyên bố Tầm nhìn chung. Nếu, vì bất kỳ lý do gì, Hoa Kỳ không muốn giúp huấn luyện binh sĩ Việt Nam cho các hoạt động gìn giữ hoà bình của Liên Hợp Quốc hay tăng cường khả năng đảm bảo an ninh hàng hải cho Việt Nam, họ có thể đơn giản là phớt lờ.

Một dàn xếp như thế thoạt tiên có vẻ vô nghĩa nếu xét sự thiếu vắng luật pháp quốc tế và trách nhiệm của mỗi bên. Dù vậy, một văn bản không ràng buộc vẫn là một công cụ ngoại giao giá trị. Đối với người Mỹ, Tuyên bố Tầm nhìn chung là một cơ hội để họ thể hiện bằng giấy trắng mực đen thái độ nghiêm túc trong sự can dự của mình với Việt Nam mà không phải ràng buộc bản thân với những điều kém thú vị hơn của chính phủ Việt Nam.

Nhân quyền vẫn tiếp tục là một trở ngại giữa hai chính phủ. Không có gì đáng ngạc nhiên khi bản tuyên bố không hề đề cập đến chủ đề nhân quyền. Thay vì thế, bản tuyên bố chủ yếu quan tâm đến những vấn đề dễ tiêu hoá, chẳng hạn như việc Mỹ ủng hộ Việt Nam trong hoạt động hỗ trợ nhân đạo và cứu trợ thiên tai, khắc phục hậu quả chiến tranh, và ngăn ngừa sự phổ biến vũ khí huỷ diệt hàng loạt.

Tuy nhiên, những gì trên đây chủ yếu là lợi ích chung trong quan hệ quốc phòng giữa hai nước, chứ chưa phải là một tầm nhìn bao quát toàn diện. Một tầm nhìn chung toàn diện phải bao hàm cả những giá trị chung mà mỗi bên hướng tới, điều mà bản Tuyên bố Tầm nhìn chung về quan hệ quốc phòng Việt - Mỹ đã không đạt được.

Những việc cần làm

Nếu người Mỹ dự định đóng một vai trò lãnh đạo trong khu vực, họ phải dẫn đầu không chỉ trong màn phô diễn diễn sức mạnh mà cả uy tín. Thái độ quyết đoán của Trung Quốc đã xua đuổi một số quốc gia láng giềng của họ, người Mỹ cần nỗ lực để cho thấy mình là một sự thay thế không chỉ là ít tệ hại hơn.

Nếu Hoa Kỳ dự định mở rộng mạng lưới đồng minh và đối tác của mình trong khu vực, trước hết họ phải thiết lập nền móng cho sự phát triển của mạng lưới đó. Một nền móng như thế tốt hơn hết là được xây dựng dựa trên những giá trị chung như tự do, dân chủ và nhân quyền - những giá trị hiện vẫn vắng bóng ở Việt Nam.

Có thể thái độ hung hăng của Trung Quốc đem lại cho Hoa Kỳ một cơ hội để khai thác sự lạnh nhạt tương đối giữa Hà Nội và Bắc Kinh, nhưng nếu thái độ lạnh nhạt đó lại được sử dụng như một món tín chấp khác ở Đông Nam Á thì người Mỹ có thể nhanh chóng nhận ra quan hệ đối tác của họ với Việt Nam bị chết yểu. Điều gì sẽ xẩy ra khi Hà Nội không còn hục hặc với Bắc Kinh nữa? Lúc đó, sự ủng hộ mà Hoa Kỳ dành cho Việt Nam sẽ dẫn đến điều gì?

Hoa Kỳ đã bắt đầu dỡ bỏ lệnh cấm vận vũ khí sát thương cho Việt Nam. 90% vũ khí Việt Nam mua của nước ngoài đến từ Nga. Hoa Kỳ chắc chắn là muốn giảm dần tỷ lệ đó, dù chỉ là để giảm một nguồn thu nhập của Moscow.

Tuy nhiên, nếu Hoa Kỳ thay thế Nga như là nhà cung cấp vũ khí hàng đầu cho Việt Nam, liệu những thứ vũ khí này có được lực lượng an ninh sử dụng nhằm vào dân chúng Việt Nam hay không? Liệu chúng có tìm đường đến tay các kỹ sư của Trung Quốc hay không? Hành động của Trung Quốc có thể khơi mào cho một cuộc chạy đua vũ trang với các quốc gia láng giềng, song người Mỹ, khi đáp ứng nhu cầu, cũng không nên và không thể bỏ qua khả năng người mua lạm dụng chúng.

Đây chính là quan ngại mà Uỷ ban Quân vụ Thượng viện phải giải quyết. Uỷ ban này sẽ trình đạo luật cần thiết để nới lỏng lệnh cấm vận trong tuần này. Trên thực tế, Hoa Kỳ đã cung cấp vũ khí cho những nước như Saudi Arabia -- một quốc gia thậm chí còn vi phạm nhân quyền tệ hơn Việt Nam, hay Iraq -- nơi các thiết bị do Hoa Kỳ sản xuất  đã rơi vào tay ISIS.

Bản Tuyên bố Tầm nhìn chung nhằm mục đích tái khẳng định cam kết giữa Việt Nam và Hoa Kỳ, song người ta có thể làm được nhiều hơn thế và cần làm nhiều hơn thế. Nếu người Mỹ mong muốn một mối quan hệ bền vững với Việt Nam, họ đòi hỏi một đối tác mà họ có thể tin tưởng. Nếu Hà Nội và Washington không tin tưởng lẫn nhau thì bản tuyên bố chung này, thẳng thắn mà nói, chỉ tổ phí giấy mực.

Việt Nam và Hoa Kỳ đã đi bước đầu tiên thông qua bản Tuyên bố Tầm nhìn chung về hợp tác quốc phòng mà hai bên vừa ký kết. Bước tiếp theo mà Hà Nội và Washington cần thực hiện là thông đạt một tầm nhìn toàn diện cho cả hai quốc gia.

Tầm nhìn chung đó chứa đựng không chỉ lợi ích chung của hai nước, mà cả những giá trị vốn là cội nguồn của sức mạnh Mỹ từ hàng trăm năm qua và là khát vọng cháy bỏng của 90 triệu dân Việt Nam hiện nay – đó chính là Tự Do, Dân Chủ và Nhân Quyền.

Các bài viết được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ.

40 năm nhìn lại: VC cần cúi mặt sám hối, Việt quốc cần cúi mặt ân hận

Cựu chiến binh Việt Nam tại lễ diễu hành kỷ niệm 40 năm kết thúc chiến tranh ở TP HCM, ngày 30/4/2015.
Cựu chiến binh Việt Nam tại lễ diễu hành kỷ niệm 40 năm kết thúc chiến tranh ở TP HCM, ngày 30/4/2015.
Thiện Ý
Theo VOA-10.06.2015
Đúng ra và có lợi hơn cho đất nước và dân tộc Việt nếu, không phải đợi 40 năm sau cuộc chiến tranh Quốc - Cộng chấm dứt, mà phải sớm hơn, rất sớm, Việt cộng cũng như Việt quốc phải nhận ra được thực chất của cuộc chiến tranh Quốc-Cộng tại Việt Nam kéo dài 21 năm và đã chấm dứt nhanh gọn, gây bất ngờ cho cả hai phe tham chiến bản xứ là gì. Để rồi từ đó Việt cộng phải “phản tỉnh”, cúi mặt sám hối thay vì ăn mừng như một chiến thắng và Việt quốc cũng phải “thức tỉnh” và cần cúi mặt ân hận thay vì nuôi dưỡng hận thù. Vì sao?

Trước khi trả lời câu hỏi vừa nếu, chúng tôi cần xác định nội dung thuật ngữ chính trị Việt cộng và Việt quốc được sử dụng trong bài viết này.

- Việt cộng bao gồm, về mặt pháp nhân là đảng Cộng sản Việt Nam (CSVN), các chính quyền CSVN (dân sự cũng như quân sự); về thể nhân là các đảng viên CSVN và những người Việt Nam có ý thức và hành động tin theo chủ nghĩa cộng sản (CNCS) hay chế độ cộng sản độc tài toàn trị.

- Việt quốc bao gồm, về mặt pháp nhân là các Chính đảng Quốc gia, các chính quyền quốc gia và những người Việt Nam có ý thức và hành động tin theo chủ nghĩa quốc gia hay ý thức hệ tự do dân chủ.

I/- VÌ SAO VIỆT CỘNG CẦN CÚI MẶT SÁM HỐI, THAY VÌ ĂN MỪNG CHIẾN THẮNG?

Theo tự điển Hán - Việt của học giả Đào Duy Anh, từ ngữ “Sám hối” có nghĩa là “Biết tội của mình mà muốn sửa đổi”.

Việt cộng cần phải biết cái tội của mình là đã du nhập, thực hiện chủ nghĩa cộng sản tại Việt Nam bằng sự áp đặt trái với ý muốn của nhân dân Việt Nam, trong nhiều thập niên qua (1954-1975 tại Miền Bắc và 1975-2015 trên cả nước) nhưng đã không thành đạt được mục tiêu lý tưởng chủ quan của mình (xây dựng xã hội “xã hội chủ nghĩa” ngàn lần tốt đẹp hơn xã hội tư bản chủ nghĩa); trái lại đã gây hậu quả nghiêm trọng, toàn diện về đối nội cũng như đối ngoại, di hại lâu dài cho đất nước và dân tộc Việt Nam .

Hậu quả nghiêm trọng và di hại lâu dài một cách tổng quát vừa nêu không cần nói ra thì mọi người Việt Nam ai cũng có thể kiếm chứng được qua thực tế 21 năm Việt cộng xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Miền Bắc thành hậu phương lớn để tiến hành cuộc chiến tranh “Giải phóng Miền Nam, thống nhất đất nước”, và 40 năm “tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội” như thế nào.

Thực tế là Việt cộng đã gây ra cuộc nội chiến cốt nhục tương tàn kéo dài 21 năm (1954-1975), đã “giải phóng được Miền Nam, thống nhất đất nước” với cái giá núi xương, sông máu của quân dân Miền Bắc cũng như Miền Nam, đất nước trên cả hai miền Bắc - Nam đã bị bom đạn ngoại bang tàn phá tan hoang, dân tộc bị phân hóa, hận thù kéo dài…

Thực tế là đã 40 năm thống nhất đất nước, Việt cộng đã có cơ hội và điều kiện thử nghiệm mô hình CNXH bất thành, xã hội “xã hội chủ nghĩa ngàn lần tốt đẹp hơn” chẳng thấy đâu, mà chỉ thấy một “xã hội ngàn lần tệ hại hơn” so với các hình thái xã hội trước dây ở Việt Nam, nhiều mặt còn thua cả xã hội dưới thời nô lệ thực dân Pháp, trong đó có mặt tôn trọng tự do, dân chủ và nhân quyền…

Vì vậy, tuy trễ nhưng chưa muộn, Việt cộng cần sám hối, nghĩa là biết tội của mình mà sửa đổi, thay vì tiếp tục ăn mừng chiến thắng như hành động mới đây nhất của họ nhân kỷ niệm 40 năm biến cố 30-4-1975. Một việc làm vô ý thức, vô trách nhiệm, vô liêm sỉ, chỉ có hại cho chiều hướng hòa giải, đoàn kết dân tộc, thống nhất toàn lực quốc gia để xây dựng đất nước và cứu nước trước họa ngoại xâm. Đồng thời cho thấy Việt cộng đến nay vẫn chưa tỉnh ngộ, nhìn ra (hay đã nhìn ra mà không dám công khai nhìn nhận) sự thật là cuộc chiến Việt Nam kết thúc như thế, chẳng phải là thắng lợi của phe này (Việt cộng) đối với phe kia (Việt quốc) mà chỉ là vì sự thay đổi thế chiến lược quốc tế của các cường quốc mà thôi.

Vậy thì, Việt cộng giờ đây không có sự chọn lựa nào khác, ngoài việc cần cúi mặt sám hối về những lỗi lầm trong quá khứ mà sửa đổi theo đúng ý nguyện của nhân dân vì chỉ có đứng trên lập trường dân tộc, dưới ánh sánh chủ nghĩa yêu nước, chúng ta mới có thể tìm ra được con đường đúng nhất, có lợi nhất cho dân tộc Việt Nam, phù hợp với ý nguyện của tuyệt đại đa số nhân dân Việt Nam, chứ không phải tham vọng của những người cầm quyền.

II/- VÌ SAO VIỆT QUỐC CẦN CÚI MẶT ÂN HẬN THAY VÌ NUÔI DƯỠNG HẬN THÙ?

60,000 nơ vàng vinh danh những người hy sinh trong chiến tranh Việt Nam được cột trên hàng rào xung quanh hàng không mẫu hạm USS Midway ở San Diego, ngày 26/4/2015.
60,000 nơ vàng vinh danh những người hy sinh trong chiến tranh Việt Nam được cột trên hàng rào xung quanh hàng không mẫu hạm USS Midway ở San Diego, ngày 26/4/2015.

Theo tự điển Hán-Việt của học giả Đào Duy Anh, từ ngữ “ân hận” có nghĩa là “tiếc, giận”.

Theo ý nghĩa này, đúng ra Việt quốc phải lấy làm tiếc là trong quá khứ, trước 30-4-1975, đã mắc nhiều sai lầm, đã không làm những việc phải làm, cần làm có hiệu quả đập tan được cuộc chiến tranh xâm lăng cùa Việt cộng, bảo vệ được phần đất tự do Miền Nam Việt Nam và chế độ dân chủ pháp trị Việt Nam Cộng Hòa (VNCH), ít nhất như Nam Triều Tiên, để khẳng định được “sự tất thắng của chính nghĩa quốc gia, dân tộc, dân chủ” đối với “ngụy nghĩa cộng sản, phi dân tộc, phản dân chủ”.

Từ vị thế các chính đảng Quốc gia, tầng lớp đảng viên lãnh đạo cũng như đảng viên thường phải tiếc rằng, đã không củng cố được sự đoàn kết vững mạnh về tổ chức nội bộ mỗi chính đảng, không tạo được sự liên kết giữa các chính đảng để có một sách lược chống cộng chung hữu hiệu, tạo thế đối trọng với đảng CSVN và chính quyền độc tài đảng trị Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (VNDCCH) của Việt cộng ở Miền Bắc.
 Sau ngày 30-4-1975, thực trạng đáng tiếc trên vẫn tồn tại ở hải ngoại cũng như trong nước. Các chính đảng quốc gia vẫn tiếp tục phân hóa về tổ chức, không liên kết được với nhau.Vì vậy, 40 năm qua, các chính đảng quốc gia đã không đóng được vai trò lực lượng chính trị lãnh đạo toàn cuộc chống cộng vì mục tiêu dân chủ hóa đất nước.

Từ vị thế chính quyền VNCH trước 30-4-1975, tầng lớp lãnh đạo cũng như thừa hành trong guồng máy chính quyền , đã không xây dựng và củng cố được các chính quyền vững mạnh về cơ cấu tổ chức, nhân sự lãnh đạo điều hành. Trong suốt cuộc chiến 21 năm (1954-1975) với hai chính quyền (Đệ nhất và Đệ nhị VNCH) đều là chính quyền độc tài cá nhân và độc tài quân phiệt. Trên thực tế, chính quyền Đệ nhất VNCH dù có ý hướng và nỗ lực thực hiện một sách lược chống cộng độc lập tự chủ, song không phù hợp với sách lược chống cộng của đồng minh Hoa Kỳ, lại “độc tài gia đình trị” nên đã bị sụp đổ. Chính quyền Đệ nhị VNCH thì hoàn toàn lệ thuộc, mà chúng tôi gọi là “một chế độ cai thầu chống cộng”. Tập đoàn tướng lãnh QLVNCH đã trúng thầu, chỉ biết nhận viện trợ của Hoa Kỳ để thực hiện sách lược chống cộng của Hoa Kỳ; Có sự chia sẻ lợi ích với các chính đảng quốc gia để vô hiệu hóa sự quấy phá. Vì vậy hoạt động chống cộng trong bối cảnh này của các đảng phái quốc gia và tập đoàn quân phiệt chỉ là chiêu bài để tranh giành quyền lực nắm chính quyền để chia chác quyền lợi. Và vì vậy, sự sụp đổ chế độ VNCH đã như một tất yếu, phản ánh đúng thực trạng vào giờ Thứ 25 chấm dứt cuộc nội chiến Quốc-Cộng tại Việt Nam.

Sau 30-4-1975, tầng lớp lãnh đạo các chính quyền VNCH cũng như các chính đảng Quốc gia kịp di tản ra hải ngoại hay còn ở trong nước lần hồi củng cố lại lực lượng tiếp tục chống cộng vì mục tiêu dân chủ hóa đất nước. Thế nhưng 40 năm qua Việt quốc vẫn không làm thay đổi được tương quan lực lượng, ưu thế vẫn nghiêng về phía Việt cộng. Vì vậy, Việt cộng dù biết rằng mình sai vẫn không chịu sửa sai và công khai nhìn nhận. thực tế Việt cộng vẫn ngoan cố bám lấy quyền thống trị độc tôn trong một chế độ độc tài đảng trị hay toàn trị, để tiếp tục bảo vệ các ưu quyền đặc lợi cho giai cấp cầm quyền là các cán bộ đảng viên cộng sản; mặc dầu cái gọi là “Đảng Cộng sản Việt Nam” và “Chế độ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” trên thực tế cũng như thực chất chỉ là những bảng hiệu giả tạo được khoa trương theo kiểu gian thương “Treo đầu dê bán thịt chó”.

III/- KẾT LUẬN:

Biểu ngữ kỷ niệm 40 năm kết thúc chiến tranh Việt Nam trước Dinh Thống Nhất ở TP HCM, ngày 28/4/2015.
Biểu ngữ kỷ niệm 40 năm kết thúc chiến tranh Việt Nam trước Dinh Thống Nhất ở TP HCM, ngày 28/4/2015.

Việt cộng với 21 năm (1954-1975) xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Miền Bắc và phát động cuộc chiến tranh nồi da sáo thịt để “giải phóng Miền Nam”, đã “Thống nhất đất nước”để tiếp tục 40 năm xây dựng chủ nghĩa xã hội đều đã thất bại, gây hậu quả nghiêm trọng, toàn diện cho đất nước và di hại lâu dài cho dân tộc. Nay tuy có trễ nhưng chưa muộn, Việt cộng đừng ăn mừng chiến thắng nữa (vì chỉ là chiến thắng giả tạo) mà cần cúi mặt sám hối và hành động theo đúng ý nghĩa của từ ngữ này là“Biết tội của mình mà muốn sửa đổi” để đoái công chuộc tội trước lịch sử, Tổ quốc, Dân tộc. Nhưng “muốn sửa đổi” cần được thể hiện cụ thể bằng hành động thực tế là hãy biến “Đại hội toàn quốc Đảng CSVN lần thứ 12” sẽ diễn ra năm tới 2016 tới đây, thành “Đại hội chuyển đổi từ chế độ độc tài đảng trị sang chế độ dân chủ pháp trị” theo đúng ý nguyện của nhân dân, vì lợi ích tối thượng của Tổ quốc và Dân tộc Việt Nam, trong hiện tại cũng như tương lai lâu dài.

Việt quốc với 21 năm (1954-1975) vừa xây dựng, bảo vệ chế độ dân chủ pháp trị Việt Nam Cộng Hòa vừa đương đầu với cuộc chiến tranh xâm chiếm Miền Nam của cộng sản Bắc Việt đều đã thất bại. Sau đó Việt Quốc tiếp tục công cuộc chống cộng 40 năm qua vẫn chưa thành đạt được mục tiêu dân chủ hóa đất nước. Nay đã đến lúc cũng cần “cúi mặt ân hận” và có hành động theo đúng ý nghĩa của từ ngữ này là “ tiếc, giận”. Tiếc và tự giận mình là trong quá khứ từ 21 năm (1954-1975) của cuộc nội chiến Quốc- Cộng, đến 40 năm (1975-2015) đấu tranh cho mục tiêu dân chủ hóa Quê Mẹ Việt Nam, trong cương vị pháp nhân hay thể nhân, Việt quốc đã không làm những điều cần làm và phải làm khác hơn có hiệu quả ngăn chặn được Việt cộng, để nhân dân cả nước phải sống trong “Bể khổ trần gian” suốt 40 năm qua.

Việt cộng cần “sám hối” (Biết tội của mình mà muốn sửa đổi) thay vì ăn mừng ngày 30-4-1975 kết thúc cuộc chiến Việt Nam như một chiến thắng (Vì thực tế cũng như thực chất không phải là chiến thắng). Việt quốc cũng cần “ân hận”(tiếc và tự giận mình vì đã không ngăn chặn được Việt cộng gây tác hại nghiêm trọng, toàn diện và di hại lâu sai cho Đất nước) thay vì nuôi dưỡng hận thù (Vì hận thù chỉ là cảm tính, hoàn toàn bất lợi cho cho tương lai Đất nước và Dân tộc Việt về mặt lý tính).

Dẫu sao tất cả đều thuộc về quá khứ, điều quan trọng bây giờ là cả Việt cộng lẫn Việt quốc, dù quá khứ đúng sai thế nào, tất cả đều phải trở về với nguồn gốc chung (dân tộc),hướng đến tương lai, để cùng xây dựng một nền “Dân chủ Nhất nguyên Dân tộc”.Vì chỉ trong khung cảnh chế độ xây dựng trên nền tảng “Nhất nguyên Dân Tộc” mới thống nhất được toàn lực quốc gia, để phát triển toàn diện Đất nước đến phú cường và văn minh tiến bộ theo kịp đà tiến hóa chung của nhân loại.

Các bài viết được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ.

‘Người Việt muốn phương Tây giải quyết vấn đề biển Đông’

Người biểu tình chống Trung Quốc ở bên ngoài Đại sự quán Trung Quốc ở Hà Nội tháng Năm năm ngoái.
Người biểu tình chống Trung Quốc ở bên ngoài Đại sự quán Trung Quốc ở Hà Nội tháng Năm năm ngoái.
VOA Tiếng Việt
10.06.2015

Đó là kết quả của cuộc khảo sát do Viện Gallup và Hội đồng Quản trị Truyền thanh và Truyền hình Hoa Kỳ thực hiện trong 3 tháng đầu năm 2015.

Theo cuộc thăm dò ý kiến tại 54 trong số 64 tỉnh thành ở Việt Nam, một trong các quan ngại lớn nhất của người Việt ở trong nước hiện nay là vấn đề biển Đông, và tiếp theo là vấn đề tội phạm và môi trường.

Vấn đề giáo dục và thất nghiệp cùng nạn tham nhũng đứng ở các vị trí tiếp theo trong mối quan tâm hiện nay của người Việt.

Bà Betsy Henderson, Giám đốc Nghiên cứu, Đào tạo và Đánh giá của Đài châu Á Tự do, trực tiếp tham gia cuộc khảo sát tại thực địa ở Việt Nam.

Bà nói tại cuộc họp công bố kết quả khảo sát hôm 10/6: “Chúng tôi có hỏi ý kiến của những người tham gia rằng các quốc gia phương Tây có nên tham gia giúp xử lý vấn đề tranh chấp lãnh hải ở biển Đông thì cả những người dưới và trên 25 tuổi có cùng quan điểm là nên. Hơn 60% cho biết rất đồng tình với ý tưởng này”.

Cuộc khảo sát được  thực hiện trong bối cảnh Trung Quốc cấp tập xây các đảo nhân tạo tại các vùng lãnh hải tranh chấp ở biển Đông, khiến nhiều quốc gia lên tiếng phản đối, trong đó có Mỹ.

Hoa Kỳ luôn tuyên bố không đứng về phía nào trong cuộc tranh chấp ở biển Đông, nhưng khẳng định quyền lợi quốc gia đối với tuyến hàng hải nhộn nhịp bậc nhất thế giới tại vùng biển này.

Những tuần gần đây, quan chức Hoa Kỳ đã nhiều lần mạnh mẽ bày tỏ lo ngại về các hoạt động của Bắc Kinh ở biển Đông, khiến nhiều người Việt lên tiếng trên diễn đàn của VOA Việt Ngữ rằng Hà Nội nên ngả về Hoa Kỳ để chống lại những hành động không kiêng nể của quốc gia láng giềng phương Bắc.

'Thúc đẩy quyền lợi quốc gia'

Cũng theo cuộc nghiên cứu này, hầu hết những người được hỏi cho rằng các cơ quan truyền thông nên “thúc đẩy các quyền lợi quốc gia”.

Trong cuộc điều tra quy mô lớn đối với 3 nghìn người từ 15 tuổi trở lên, khối người chiếm tỷ lệ hơn 58% trong số hơn 90 triệu người, hơn 92% số người được hỏi cho rằng báo chí Việt Nam nên đưa tin một cách “tích cực” về đất nước và con người Việt Nam, và hơn 2/3 số người được hỏi nói rằng họ “không tin là truyền thông ở hải ngoại đưa tin một cách chân thực về các vấn đề Việt Nam”.

Về các trang mạng xã hội, các ứng dụng của Google Plus và Facebook nằm trong số được ưa chuộng nhất tại Việt Nam, và trang web của Mark Zuckerberg dường như không còn bị chặn ở nước này.

Theo cuộc thăm dò, mạng lưới truyền hình nhà nước hiện chiếm ưu thế gần như tuyệt đối trong thị trường báo chí Việt Nam.

Phần đông người Việt (58.2%) tin rằng các blog cá nhân đáng tin cậy hơn tin tức chính thống, dù chuyện viết blog ở Việt Nam, như chúng ta đều biết, rất rủi ro. Giới trẻ đang là lực lượng thúc đẩy truyền thông kỹ thuật số, không chỉ bằng việc sở hữu các thiết bị hiện đại mà còn thông qua việc họ đọc tin tức trên các vật dụng đó, chứ không phải chỉ có chơi game.
Bà Betsy Henderson nói.
Tuy nhiên, ngày càng có  nhiều người, nhất là giới trẻ và những người có học thức, đang dần hướng tới Internet để thu nạp tin tức mỗi ngày, và điều đó cho thấy sự thay đổi theo xu hướng của thế giới ở Việt Nam.

Bà Betsy Henderson nói thêm: “Phần đông người Việt (58.2%) tin rằng các blog cá nhân đáng tin cậy hơn tin tức chính thống, dù chuyện viết blog ở Việt Nam, như chúng ta đều biết, rất rủi ro. Giới trẻ đang là lực lượng thúc đẩy truyền thông kỹ thuật số, không chỉ bằng việc sở hữu các thiết bị hiện đại mà còn thông qua việc họ đọc tin tức trên các vật dụng đó, chứ không phải chỉ có chơi game”.

Cuộc thăm dò ý kiến nhận thấy rằng dù tỷ lệ người sử dụng mạng tăng nhanh ở Việt Nam, nhà nước vẫn tìm mọi cách để ngăn chặn dòng chảy thông tin trên Internet.

Hà Nội thường viện dẫn số người dùng Internet lớn để biện minh cho quyền tự do sử dụng mạng của người Việt. Tuy nhiên, các tổ chức thúc đẩy tự do báo chí như Ký giả không biên giới cho rằng Việt Nam vẫn là “kẻ thù của Internet”.

Việt Nam: Kỷ luật ngân sách quá yếu


Trần Vinh Dự
Theo VOA-09.06.2015

Chủ đề kinh tế vĩ mô nóng nhất hiện nay được Quốc hội và công luận mổ xẻ là vấn đề kỷ luật tài chính quốc gia. Lý do là trong nhiều năm gần đây, thâm hụt ngân sách liên tục tăng về con số tuyệt đối, và vượt xa ngưỡng mà Quốc hội phê chuẩn. Câu chuyện thường xảy ra là Chính phủ trình kế hoạch ngân sách hằng năm, Quốc hội phê chuẩn, sau đó Chính phủ xin tăng thêm thâm hụt, Quốc hội lại phê chuẩn, thế nhưng đến khi quyết toán ngân sách, thì con số thâm hụt thật thậm chí còn vượt xa những con số được phê chuẩn này. Vì thế, Quốc hội dường như luôn bị đặt vào trạng thái đã rồi, không có cách kiểm soát và cũng như không có chế tài để xử lý.

Năm nào cũng ‘lỡ kế hoạch’

Nhìn lại, năm 2012, ngân sách Chính phủ xin và được Quốc hội duyệt có mức bội chi được ấn định ở con số 140.200 tỷ đồng. Tuy nhiên, khi quyết toán ngân sách nhà nước năm 2012 (vào tháng 4/2014), con số quyết toán số bội chi lại là 154.126 tỷ đồng, vượt con số Quốc hội cho phép là 13.926 tỷ đồng.

Đáng nói hơn, một số ý kiến tại Ủy ban Tài chính - Ngân sách của Quốc hội cho rằng, số bội chi như báo cáo của Chính phủ chưa phản ánh hết tình hình bội chi. Cụ thể là chưa tính đủ số hoàn thuế giá trị gia tăng phát sinh trong năm, nợ đọng xây dựng cơ bản, tạm ứng vốn lớn chưa thu hồi. Ngoài ra trong thực tế thu chi cũng diễn ra nhiều sai phạm, tuy nhiên, cuối cùng thì Quốc hội cũng bỏ phiếu nhất trí thông qua.

Câu chuyện của năm 2013 thậm chí còn tệ hại hơn câu chuyện của năm 2012. Tại Nghị quyết số 32/2012/QH13, Quốc hội quyết định mức bội chi ngân sách nhà nước là 162.000 tỷ đồng, bằng 4,8% GDP. Con số này sau đó được Quốc hội điều chỉnh tăng lên mức 195.500 tỷ đồng, bằng 5,3% GDP vào năm 2013 theo Nghị quyết 54/2013/QH13 (ra ngày 12/11/2013).

Đến tháng 5/2015, khi có quyết toán ngân sách nhà nước năm 2013, thì con số bội chi được quyết toán là là 236.769 tỷ đồng, vượt 41.269 tỷ đồng so với mức Quốc hội đã điều chỉnh, bằng 6,6% GDP thực tế. Tức là nếu so với con số xin và được duyệt ban đầu thì thâm hụt ngân sách nhà nước bị “lỡ kế hoạch” đến hơn 25%.

Nguyên nhân thường được các cơ quan có thẩm quyền dẫn ra là do tình hình kinh tế xã hội trong nước hoặc bối cảnh quốc tế không thuận lợi, thu ngân sách gặp nhiều khó khăn do gian lận của doanh nghiệp và cán bộ thuế, tăng vay ODA, và nhiều lý do khác. Dù là nguyên nhân gì đi nữa thì tình trạng này chỉ ra một thực tế hiển nhiên là kỷ luật ngân sách của Việt Nam quá lỏng lẻo.

Kỷ luật ngân sách

Trong một nền kinh tế có kỷ luật ngân sách chặt chẽ, Quốc hội là cơ quan quyết định ngân sách chi tiêu của quốc gia. Có nghĩa là thu bao nhiêu và chi bao nhiêu phải do Quốc hội duyệt. Chính phủ có trách nhiệm làm kế hoạch ngân sách chi tiết, không chỉ cho 1 năm mà cho nhiều năm tới. Quốc hội trên cơ sở kế hoạch ngân sách chi tiết của Chính phủ sẽ xây dựng kế hoạch ngân sách tổng quát và bỏ phiếu thông qua, sau đó giám sát chặt chẽ việc Chính phủ thực thi kế hoạch ngân sách của mình. Chính phủ không được vi phạm kế hoạch ngân sách này.

Trong trường hợp có những tình huống bất thường, thí dụ như khủng hoảng kinh tế, khiến cho kế hoạch được thông qua ban đầu có khả năng bị phá sản, Chính phủ phải trình lại với Quốc hội. Tại nước Mỹ trước năm 1917, mọi khoản vay của Chính phủ phải được Quốc hội thông qua. Có nghĩa là nếu Chính phủ muốn chi vượt kế hoạch ngân sách được thông qua thì cũng không được, vì không lấy đâu ra nguồn, trừ khi Quốc hội cho phép phát hành các giấy nợ ra thị trường để vay tiền về tiêu.

Sau năm 1917, nước Mỹ thay đổi luật, cho phép Chính phủ tự quyết trong việc phát hành giấy nợ ra thị trường để vay tiền, tuy nhiên, mức trần nợ công (con số tuyệt đối tính bằng USD) là do Quốc hội quyết định. Thí dụ vào tháng 9/2013, mức trần nợ công là 16.699 tỷ USD. Muốn vay vượt con số này Chính phủ phải xin phép Quốc hội. Tại thời điểm này, Chính quyền của Tổng thống Obama xin nhưng không được Quốc hội chấp thuận, dẫn đến chuyện bộ máy chính quyền bị đóng cửa trong một thời gian vì hết tiền.

Đó là câu chuyện của một nền kinh tế có kỷ luật ngân sách nghiêm ngặt. Ở cực phía bên kia, trong các nền kinh tế không có kỷ luật tài chính, Quốc hội không có quyền lực gì, và mọi việc đều do Chính phủ quyết định, thiếu tiền có thể tùy ý phát hành công cụ nợ hoặc in tiền để chi tiêu. Con số chi tiêu hàng năm như thế nào, chi những gì, thu từ đâu, cũng không được công khai, vì thế hoàn toàn không có giám sát và không có minh bạch. Những nền kinh tế này thường là những nền kinh tế ốm yếu, què quặt.

Việt Nam có kỷ luật tài chính, và Quốc hội có quyền thông qua cũng như quyền giám sát việc thu chi ngân sách nhà nước. Thế nhưng trong việc thực thi trên thực tế, hầu như các quyền này bị bỏ qua hoặc bị vô hiệu hóa. Điều này được nhiều đại biểu nói đến. Thí dụ ông Ksor Phước nhận xét hồi năm 2014 rằng “kiểm toán nêu ra một loạt sai phạm, nhưng khi biểu quyết lại nhất trí, năm nào cũng thế”. Còn hồi tháng 5 vừa qua ông Trần Du Lịch, phó trưởng đoàn Đại biểu QH của Tp Hồ Chí Minh phát biểu rằng “đành phải ủng hộ vì thực sự không ủng hộ cũng không biết làm thế nào”. Ông Nguyễn Đức Kiên, phó chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc Hội cũng chỉ nói vuốt đuôi rằng “đằng nào thì cũng chi rồi, nhưng phải rút kinh nghiệm cho các năm sau”.

Tự bắn vào chân?

Thực thi kỷ luật ngân sách kém không khác gì việc tự bắn vào chân. Tại Việt Nam, việc này đã dẫn tới tình hình nợ công của quốc gia rơi vào tình trạng nguy hiểm, với hàng loạt chỉ tiêu về kỷ luật tài khóa đang hoặc sắp bị phá vỡ.

Thí dụ theo ông Phạm Thế Anh nợ công/GDP dự kiến vào khoảng 64%, tiến sát ngưỡng trần 65% theo quy định của Quốc hội. Thâm hụt ngân sách theo quy định là 4,8% GDP mỗi năm nhưng thực tế đã lên tới 5,4% GDP vào năm 2012, 6,6% GDP vào năm 2013, và ước tính 5,3% GDP vào năm 2014 (dự tính lên tới 6,9% theo cách tính mới). Nghĩa vụ trả nợ/tổng thu ngân sách nhà nước là 22,6% trong năm 2013 và ước khoảng 26,7% vào năm 2014, chính thức vượt ngưỡng 25% theo quy định. Thâm hụt ngân sách nhà nước năm 2014 đã chính thức vượt chi đầu tư, phản ánh Chính phủ Việt Nam đã phải đi vay một phần để tài trợ cho tiêu dùng, vi phạm Luật Ngân sách nhà nước hiện hành.

Tình trạng này không chỉ khiến môi trường vĩ mô của Việt Nam đứng trước nguy cơ mất ổn định nghiêm trọng. Sâu xa hơn, nó làm mất niềm tin của công chúng và của các nhà đầu tư, các định chế tài chính quốc tế, và các chính phủ nước ngoài cho Việt Nam vay. Nó cũng đưa Việt Nam đến chỗ nếu không quản lý khéo khiến câu chuyện này tiếp tục rơi vào vòng xoáy đi xuống, Việt Nam có thể đứng trước nguy cơ vỡ nợ.

Giải quyết thế nào?

Ở đây có hai vấn đề lớn được đặt ra. Thứ nhất, Quốc hội có thực quyền trong việc kiểm soát ngân sách hay không. Thứ hai, giả dụ có thực quyền, thì Quốc hội có nuông chiều Chính phủ quá hay không, bằng cách mỗi lần Chính phủ xin nâng trần nợ đều được thông qua một cách dễ dàng.

Liên quan đến vấn đề thứ nhất, tình trạng thâm hụt ngân sách vượt con số Quốc hội cho phép đến hơn 41 nghìn tỷ Đồng (khoảng 2 tỷ USD) khiến nhiều người chỉ nhìn dưới góc độ Quốc hội bị đặt vào tình thế đã rồi. Một góc độ khác mà dư luận bỏ quên là, làm thế nào mà Chính phủ có được số tiền tương đương 2 tỷ USD để tiêu trong năm 2013? Chính phủ không thể tiêu nếu không vay thêm tiền. Vì thế, quay lại câu hỏi là thực sự Quốc hội có thực quyền trong việc quy định các mức nợ công hay không?

Luật Việt Nam không quy định Chính phủ phải xin phép Quốc hội mỗi khi phát hành công cụ nợ ra thị trường (trong và ngoài nước) hoặc đi vay các Chính phủ nước ngoài. Luật cũng không quy định con số trần nợ công tuyệt đối giống như Hoa Kỳ (thí dụ 16,699 tỷ tại thời điểm tháng 9/2013). Luật chỉ quy định Quốc hội quyết định con số tương đối (tỷ lệ phần trăm). Thí dụ theo Nghị quyết số 10/2011/QH13 quy định trần nợ công đến năm 2015 không quá 65% GDP.

Hơn nữa, dù có quy định các con số này, cũng không có chế tài để buộc Chính phủ phải thực hiện đúng, thực hiện nghiêm. Chính phủ vẫn có đầy đủ các công cụ trong tay để “xoay tiền” tiêu trước (và xoay ra rất nhiều tiền), sau đó thì báo cáo sau, như tình trạng trong năm 2013. Chưa bao giờ ở Việt Nam có trường hợp Chính phủ phải đóng cửa, phải giảm biên chế, phải cắt ngân sách hàng loạt và đồng đều giữa các ngành các lĩnh vực để kiểm soát chi tiêu và thâm hụt trong ngưỡng mà Quốc hội cho phép. Cũng chưa bao giờ có chuyện xử lý trách nhiệm cá nhân vì “vượt rào”.

Điều này khiến nhiều người cho rằng để lập lại kỷ cương ngân sách thì cần phải quy trách nhiệm cá nhân. Góp ý vào dự luật Ngân sách Nhà nước sửa đổi của Ủy ban Thường vụ hồi tháng 4 vừa rồi, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng nói: “Ông nào quyết (chi) sai thì thế nào? Lãng phí, tham nhũng, tiêu cực trong quản lý ngân sách là chưa quy được trách nhiệm. Cần làm rõ quyền hạn, trách nhiệm của những người có quyền hạn (chi) ngân sách”.

Chưa biết vấn đề quy trách nhiệm cá nhân có được thể hiện trong Luật ngân sách sửa đổi hay không. Khả năng cao là không. Nhưng ngay cả có đưa vào, thì việc áp dụng nó xem ra khó khả thi. Việt Nam chưa bao giờ (và trong tương lai gần cũng sẽ khó) có trường hợp bị buộc thôi việc, thậm chí đi tù như ở nước ngoài vì thực hiện sai kỷ luật ngân sách, cho đến nay.

Liên quan đến vấn đề thứ hai, Quốc hội có nuông chiều Chính phủ quá hay không. Rõ ràng là Quốc hội chưa bao giờ từ chối mỗi khi Chính phủ “xin” cả. Lý do dẫn tới tình trạng này được ông Võ Chí Hảo, Đại học Kinh tế Tp HCM, nói không thể rõ ràng hơn. Đó là “vì Việt Nam xây dựng Quốc hội theo mô hình nghiệp dư, gần 70% đại biểu Quốc hội là kiêm nhiệm; còn họ (các nước phát triển) xây dựng mô hình nghị viện chuyên nghiệp, không có hoặc tỷ lệ rất thấp các nghị sĩ kiêm nhiệm”. Theo ông Hảo, vì ở Việt Nam đa số đại biểu là kiêm nhiệm, và chính họ là những người góp phần làm nên bội chi ngân sách với tư cách là quan chức hành pháp, thì khi ra Quốc hội, họ thường có khuynh hướng bấm nút thông qua hành vi bội chi ngân sách của chính mình.

*Blog của Tiến sĩ Trần Vinh Dự là blog cá nhân. Các bài viết trên blog được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ.

Dự án thờ Khổng Tử gây ‘bão’ dư luận Việt Nam

Tượng Khổng Tử gần Quảng trường Thiên An Môn ở Bắc Kinh. Tượng này hiện đã được dẹp bỏ khỏi quảng trường. Theo Nhân dân Nhật Báo của Trung Quốc, hiện có khoảng hơn 400 Viện Khổng Tử do Trung Quốc tài trợ đặt tại các trường đại học trên toàn thế giới, trong đó có cả Mỹ và nhiều nước Châu Phi.
Tượng Khổng Tử gần Quảng trường Thiên An Môn ở Bắc Kinh. Tượng này hiện đã được dẹp bỏ khỏi quảng trường. Theo Nhân dân Nhật Báo của Trung Quốc, hiện có khoảng hơn 400 Viện Khổng Tử do Trung Quốc tài trợ đặt tại các trường đại học trên toàn thế giới, trong đó có cả Mỹ và nhiều nước Châu Phi.
VOA Tiếng Việt
09.06.2015

Một dự án xây Văn Miếu và thờ Khổng tử trị giá hàng trăm tỷ đồng tại một tỉnh ở Việt Nam đang vấp phải nhiều chỉ trích không những từ công chúng mà còn cả báo chí.

Truyền thông trong nước đưa tin, công trình Văn Miếu được UBND tỉnh Vĩnh Phúc phê duyệt đầu tư xây dựng từ năm 2011 và dự kiến hoàn thành trong năm 2016.

Trong tờ trình đề nghị phê duyệt dự án, Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Vĩnh Phúc cho rằng nên thờ Khổng Tử tại Văn Miếu này.

"Kèm theo cảm xúc bàng hoàng là một sự xót xa vì một văn miếu do cấp tỉnh xây dựng với mức đầu tư kinh phí từ ngân sách của nhà nước, tức là tiền thuế của dân là 314 tỷ. Thật là một con số khủng khiếp, trong bối cảnh kinh tế của Việt Nam đang sa sút như thế này..."-Tiến sỹ Nguyễn Xuân Diện.

Tiến sỹ Nguyễn Xuân Diện, nhà nghiên cứu về văn hóa dân gian của Việt Nam và Trung Quốc, cho biết ông cảm thấy “bàng hoàng” khi đọc tin về dự án tiêu tốn hàng trăm tỷ đồng này.

“Kèm theo cảm xúc bàng hoàng là một sự xót xa vì một văn miếu do cấp tỉnh xây dựng với mức đầu tư kinh phí từ ngân sách của nhà nước, tức là tiền thuế của dân là 314 tỷ. Thật là một con số khủng khiếp, trong bối cảnh kinh tế của Việt Nam đang sa sút như thế này. Việc tỉnh Vĩnh Phúc xây dựng Văn Miếu như thế đang gây ra những dư luận trái chiều, và căng thẳng trong dư luận xã hội. Giới chức của địa phương đã lên tiếng để bao biện cho việc làm của mình.”

Truyền thông đã có nhiều bài viết với những hàng tít như: “Vĩnh Phúc chi 300 tỷ xây Văn Miếu là có lỗi với mai sau…”, “Không thể tin nổi” hay “Bỏ hàng trăm tỷ xây Văn Miếu thờ Khổng Tử là không thực tế”.

Báo chí trong nước dẫn lời ông Trần Mạnh Định - Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Vĩnh Phúc, cho biết rằng trong quá trình xây dựng đã có một số tranh cãi về việc thiết kế, bài trí thờ tự bài vị Khổng Tử.

Một số thậm chí còn đề nghị không đưa bài vị của Khổng Tử vào thờ tại Văn Miếu. Tiến sỹ Nguyễn Xuân Diện ủng hộ quan điểm này. Ông nói:

“Trong bối cảnh của thế kỳ 21, khi khoa cử, nho học đã chấm dứt, cái việc Văn Miếu của tỉnh Vĩnh Phúc thờ trong chính điện một vị là Khổng tử thì đã vấp phải sự phản đối của dư luận. Ngay cả quan chức lãnh đạo ngành văn hóa và lãnh đạo tỉnh Vĩnh Phúc họ cũng đang bối rối và lúng túng. Việc thờ Khổng Tử trong một khổng miếu vừa xây dựng mới hoàn toàn, không dựa trên những tài liệu cổ, thì là một điều chúng ta không nên làm.”

VOA Việt Ngữ không thể liên lạc được với lãnh đạo Sở Văn Hóa – Thông tin tỉnh Vĩnh Phúc để phỏng vấn.

"Trong bối cảnh của thế kỳ 21, khi khoa cử, nho học đã chấm dứt, cái việc Văn Miếu của tỉnh Vĩnh Phúc thờ trong chính điện một vị là Khổng tử thì đã vấp phải sự phản đối của dư luận. Ngay cả quan chức lãnh đạo ngành văn hóa và lãnh đạo tỉnh Vĩnh Phúc họ cũng đang bối rối và lúng túng."-Tiến sỹ Nguyễn Xuân Diện nói.

Tới tối ngày 9/6, không rõ lý do vì sao một số bài báo về dự án của tỉnh Vĩnh Phúc trên nhiều tờ báo đã bị gỡ khỏi mạng Internet.

Một dự án liên quan tới Khổng Tử khánh thành năm ngoái ở Việt Nam cũng đã vấp phải phản ứng mạnh của dư luận trong bối cảnh căng thẳng Việt – Trung dâng cao vì các tranh chấp ở biển Đông.

Cuối năm ngoái, Việt Nam đã chính thức khánh thành Học viện Khổng Tử và đích thân ông Du Chính Thanh, nhân vật đứng hàng thứ tư trong Đảng Cộng sản Trung Quốc, đã dự lễ gắn biển tại Đại học Hà Nội.

Báo điện tử của Chính phủ Việt Nam gọi Học viện này là “cầu nối góp phần làm sinh động quan hệ” giữa hai nước.

Trong khi đó, nhiều học giả ở trong nước, trong đó có tiến sỹ Nguyễn Xuân Diện, cho rằng Viện Khổng tử là “một trong những ý đồ của Bắc Kinh muốn sử dụng ảnh hưởng về văn hóa để thể hiện quyền lực mềm đối với Việt Nam”.

20 tỷ đôla hàng hóa Trung Quốc ‘bốc hơi’ ở Việt Nam?

Xe chở hàng đi qua cửa khẩu Tân Thanh với Trung Quốc ở tỉnh Lạng Sơn, Việt Nam.
Xe chở hàng đi qua cửa khẩu Tân Thanh với Trung Quốc ở tỉnh Lạng Sơn, Việt Nam.
VOA Tiếng Việt
09.06.2015
Một đại biểu quốc hội hôm qua, 8/6, đã làm nóng nghị trường với bài phát biểu về quan hệ thương mại Việt - Trung, trong đó có nêu ra việc 20 tỷ đôla hàng hóa Trung Quốc vào Việt Nam đã bị “bốc hơi”.

Ông Mai Hữu Tín cho rằng số liệu thống kê hai nước từ trước tới nay luôn chênh lệch theo hướng ngày càng bất lợi cho Việt Nam.

Nếu theo số liệu của cơ quan thống kê Trung Quốc, năm 2014 Việt Nam đã nhập siêu từ Trung Quốc hơn 63 tỷ đôla, chứ không phải 43 tỷ đôla như Tổng cục Thống kê Việt Nam công bố.

Đại biểu tới từ tỉnh Bình Dương nói:

"Một con số khổng lồ. Nói rõ hơn, chỉ riêng năm 2014, hơn 20 tỷ USD hàng hóa Trung Quốc lọt vào lãnh thổ Việt Nam không qua ghi nhận của các cơ quan chức năng Việt Nam, tức không hề chịu thuế, không phải qua các hàng rào quản lý kỹ thuật của Việt Nam và tha hồ tung hoành, cạnh tranh không công bằng với hàng hóa từ các nguồn khác, nhất là hàng hóa của các doanh nghiệp sản xuất tại Việt Nam".

"Hàng hóa Trung Quốc tràn ngập thị trường Việt Nam, và người dân Việt Nam đang mua hàng hóa của Trung Quốc và trả lương nuôi công nhân Trung Quốc trong khi đó công nhân Việt Nam rất khó khăn, và rất khó có thể vượt qua những thử thách trong thời gian tới đây..."Tiến sỹ Lê Đăng Doanh.

Trong khi đó, dù thừa nhận con số nhập siêu 20 tỷ đôla của Việt Nam từ Trung Quốc mà “không ai biết” như ông Trí nêu ra, nhưng Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Bùi Quang Vinh nói rằng sự chênh lệch này là do cách thống kê dữ liệu xuất-nhập giữa các nước khác nhau và do ngành hải quan quản lý chưa tốt việc gian lận thương mại.

Nhận định về thông tin mà một số tờ báo trong nước cho rằng đã làm “chấn động” dư luận, tiến sỹ Lê Đăng Doanh cho VOA Việt Ngữ biết rằng thông tin mà đại biểu quốc hội Mai Hữu Tín đưa ra “không phải mới”.

“Phía Trung Quốc đã công bố và so sánh với số liệu của Việt Nam. Tiến sỹ Vũ Quang Việt cũng đã đối chiếu số liệu của Trung Quốc với Việt Nam và đã phát hiện từ năm 2012 rằng hai bên đã có khoản chênh lệch. Điều ông Mai Hữu Tín làm rất rõ và nêu bật lên là tại sao lại có khoản chênh lệch đó, và khoản chênh lệch đó đặc biệt đối với nhập khẩu. Như vậy là Việt Nam đã nhập siêu khoảng 20 tỷ đôla, và khoản đó nhân lên với số tỷ giá thì đó là một khoản tiền khổng lồ. Vì vậy cho nên là phát biểu của ông Mai Hữu Tín là phát biểu rất là tích cực, đã gây một tiếng vang lớn và tôi rất hoanh nghênh phát biểu đó”.

Số liệu của Tổng cục Thống kê Việt Nam trong các năm gần đây cho thấy, thâm hụt thương mại của Việt Nam với Trung Quốc ngày càng tăng, từ 12,4 tỷ đôla năm 2010 lên 16,3 tỷ đôla năm 2012 và lên đến 29 tỷ đôla trong năm 2014.

"Chỉ riêng năm 2014, hơn 20 tỷ USD hàng hóa Trung Quốc lọt vào lãnh thổ Việt Nam không qua ghi nhận của các cơ quan chức năng Việt Nam, tức không hề chịu thuế, không phải qua các hàng rào quản lý kỹ thuật của Việt Nam và tha hồ tung hoành, cạnh tranh không công bằng với hàng hóa từ các nguồn khác, nhất là hàng hóa của các doanh nghiệp sản xuất tại Việt Nam."-Đại biểu Mai Hữu Tín cho biết.

Còn theo đại biểu Mai Hữu Tín năm 2014, thâm hụt thương mại của Việt Nam với Trung Quốc là 43,8 tỷ đôla, cao hơn so với con số 29 tỷ đôla mà Việt Nam công bố,  có nghĩa là nhập khẩu từ Trung Quốc chiếm gần 38% tổng kim ngạch nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam, không chỉ là 30% theo con số công bố của phía Việt Nam.

Tiến sỹ Doanh nhận định rằng sự mất cân đối trong giao dịch thương mại Việt-Trung là một việc “rất nghiêm trọng” đối với Việt Nam. Ông nói tiếp:

“Hàng hóa Trung Quốc tràn ngập thị trường Việt Nam, và người dân Việt Nam đang mua hàng hóa của Trung Quốc và trả lương nuôi công nhân Trung Quốc trong khi đó công nhân Việt Nam rất khó khăn, và rất khó có thể vượt qua những thử thách trong thời gian tới đây. Vì vậy, việc hàng Trung Quốc chiếm tỷ lệ quá lớn như vậy và có thể xâm nhập thị trường Việt Nam một cách quá dễ dàng như vậy thì đã đến lúc, theo như phát biểu của Đại biểu Mai Hữu Tín, cần phải có một sự trấn chỉnh và xem xét lại rất nghiêm túc tình hình này”.

Về khoản chênh lệnh khổng lồ trên, ông Trí được báo chí trong nước trích lời nhận định rằng chiếc áo giáp bảo vệ thị trường Việt Nam “đang rách trong giao dịch thương mại với Trung Quốc”.

Việc Bộ Kế hoạch Đầu tư Việt Nam thừa nhận có chênh lệch trong thống kê dữ liệu xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và Trung Quốc đã khiến giới quan sát nhận định rằng nền kinh tế Việt Nam “bị chi phối ngầm” vì chính phủ "không nắm được thực trạng phát triển kinh tế".

Tự do báo chí bị hạn chế như thế nào mới là điều cần nói rõ

Quang Dương (Danlambao) - Mục Bình luận Phê phán báo trong mạng Nhân Dân ngày 08/06/2015 có đăng bài viết của TS Trương Minh Tuấn, Thứ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông bàn về quyền Tự do Báo chí với tựa đề: Tự Do Báo Chí Không Phải Là Vô Hạn. Đọc tựa đề không thôi cũng biết mục đích của bài viết muốn nói điều gì. Tác giả đã dẫn chứng rằng quyền tự do báo chí tại các quốc gia khác trên thế giới đều bị luật pháp của các quốc gia đó hạn chế để biện minh cho việc cần giới hạn quyền này trong khuôn khổ pháp luật tại VN.

Chuyện quyền tự do báo chí hay bất cứ quyền gì của người dân trong một quốc gia cũng đều phải chịu những sự hạn chế là chuyện đúng thôi. Không ai đòi hỏi phải được tự do tuyệt đối như kiểu một đứa bé lên ba chẳng biết sai quấy, chạy nhẩy la hét om xòm làm phiền mọi người trong nhà. Điều cần thiết hơn là phải nói cho rõ Tự do Báo chí đã bị hạn chế như thế nào. Nếu chỉ căn cứ vào lời diễn giải, ngôn từ biểu hiện bên ngoài, người ta có thể lầm tưởng rằng luật pháp VN cũng văn minh tiến bộ lắm và cũng lấy dân làm gốc, lo cho dân là chính, những hạn chế trong quyền tự do báo chí cũng là hợp tình hợp lý mà thôi.

Thử xem vài trích đoạn từ bài viết của ông Thứ trưởng TMT như sau: 

…“Trở lại vấn đề tự do báo chí, có thể khẳng định Việt Nam là quốc gia tự do báo chí. Tất cả các cơ quan, đoàn thể ở Trung ương và các địa phương đều có báo hoặc tạp chí, có địa phương có gần 30 cơ quan báo chí; báo chí còn được phân theo giới tính, lứa tuổi: từ nhi đồng, thiếu niên, thanh niên, người cao tuổi đều có báo và tạp chí của mình. Thậm chí hội của những người chơi cây cảnh, cá cảnh, chơi ten-nít đều có tạp chí. Hiện nay, cả nước có 845 cơ quan báo chí in với 1.118 ấn phẩm, một hãng thông tấn quốc gia, 67 đài phát thanh - truyền hình, số lượng các kênh chương trình phát thanh - truyền trình quảng bá là 179 kênh, số lượng đơn vị cung cấp truyền hình cáp là 33 đơn vị, 98 cơ quan báo chí điện tử và 1.525 trang thông tin điện tử tổng hợp; 420 mạng xã hội được phép hoạt động với lượng truy cập rất cao, ảnh hưởng ngày càng lớn về thông.”…

…“Trước sự phát triển của in-tơ-nét, các mạng xã hội và nhiều ứng dụng khác, cho đến nay các cơ quan quản lý nhà nước của Việt Nam không ngăn chặn và can thiệp, bảo đảm quyền tự do thông tin của mọi công dân.” … 

…“Các cơ quan ngôn luận của Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị, tổ chức xã hội, nghề nghiệp trở thành diễn đàn bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mọi tầng lớp nhân dân.”…

Trước hết cần xác định ngay là làm gì có tự do báo chí theo nghĩa đích thực tại VN hiện nay. Tự do báo chí theo như ông TS TMT nói là thứ tự do một chiều, tự do theo kiểu XHCN. Tất cả các tạp chí, sách, báo, ấn phẩm, đài truyền thanh, truyền hình, cơ quan thông tấn, trang mạng xã hội, đến cả lời ăn tiếng nói, giao tiếp hàng ngày trong quần chúng đều phải nằm dưới sự chỉ đạo và kiểm soát của đảng, phải tuân theo mệnh lệnh của đảng cho phép nói cái gì, viết cái gì, khi nào được nói được viết và khi nào phải im lặng. Khi đảng CS đã tự cho mình còn cao hơn cả đất nước, cao hơn cả dân tộc thì những thứ "quyền" mà đảng ban phát ra cho người dân chỉ là những loại “quyền ảo”, là những lớp sơn vôi che đậy cho bản chất độc tài chuyên chính của chế độ, xa hơn nữa là công cụ để phục vụ cho riêng đảng mà thôi. Thử hỏi có ai đã từng dám vượt ra ngoài vòng cương tỏa ngôn từ của đảng, dám thực thi quyền tự do báo chí đúng nghĩa, đúng với đạo đức và lương tri của một nhà báo chân chính, tranh đấu cho quyền lợi của người dân nghèo bị bóc lột, tố giác các thành phần sâu dân mọt nước tham nhũng, móc ngoặc, ăn cắp, ăn hối lộ, thẳng thắn phê bình đường lối chính sách hèn với giặc ác với dân của đảng mà được yên thân?

Rồi:

“Luật Báo chí năm 1989 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Báo chí (ngày 12-6-1999) đã thể hiện rõ quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí của công dân: Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi để công dân thực hiện quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí và để báo chí phát huy đúng vai trò của mình. Báo chí, nhà báo hoạt động trong khuôn khổ pháp luật và được Nhà nước bảo hộ; không một tổ chức, cá nhân nào được hạn chế, cản trở báo chí, nhà báo hoạt động... Báo chí không bị kiểm duyệt trước khi in, phát sóng.”

Ông Tuấn trích dẫn Luật Báo Chí 1989 và Luật sửa đổi, bổ sung 1999 như thế chỉ để làm dáng cho cái “Nhà Nước” của ông. Đúng là “nhà nước tạo điều kiện thuận lợi…, không một tổ chức, cá nhân nào được hạn chế, cản trở…, báo chí không bị kiểm duyệt…” toàn là những từ nghe rất bùi tai và dân cầm bút thấy rất hồ hởi phấn khởi. Nhưng lại thòng thêm một câu là: “…trong khuôn khổ pháp luật và được Nhà nước bảo hộ” . Nói khác hơn, các công dân VN được tự do làm báo, viết bài, đăng tin, điều tra, phóng sự, phản ánh, phản biện, bàn chuyện trên trời dưới đất lung tung nhưng liệu hồn đừng chê bai hoặc tìm cách vượt ra khỏi “cái lồng chim” XHCN mà đảng đã vất vả đan cho mà ở trong đó.

Và đây nữa:

“Tuy nhiên, tự do báo chí không phải là vô hạn. Quyền tự do đó phải được đặt trong khuôn khổ của pháp luật, phục vụ lợi ích của quốc gia, dân tộc; không xâm phạm đến quyền, lợi ích của tổ chức, cá nhân. Điều 2, Luật Báo chí năm 1989 nêu rõ: Không ai được lạm dụng quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, tập thể và công dân. Như vậy, đối với nhà báo, ngoài trách nhiệm thông tin đúng sự thật, vai trò công dân của nhà báo phải được đặt lên hàng đầu với sứ mệnh đặc biệt đối với lợi ích quốc gia, dân tộc.”

Ai mà chẳng biết không có quyền nào là tuyệt đối, là vô hạn - Nếu có thì chắc chỉ có quyền của đảng CSVN tự đặt ra là quyền ngồi xổm lên Hiến pháp, lên đầu lên cổ nhân dân, là quyền “Thà mất nước không mất đảng” mà thôi - Nhưng trong một thể chế tự do dân chủ, đa đảng, tam quyền phân lập như ở các nước văn minh tiên tiến, các hạn chế trong quyền tự do báo chí hay tự do ngôn luận của công dân chỉ nhằm cấm sử dụng quyền đó để cổ võ, xúi giục cho chuyện lật đổ chính quyền bằng vũ lực, bạo loạn (ông Tuấn cũng đã đưa ra điều này). Những hạn chế đó không cấm người dân viết báo, phát biểu hay bày tỏ những ý kiến phản đối chế độ hiện hành một cách bất bạo động. Người dân trong các nước đó còn tha hồ chỉ trích phê bình, thậm chí nói xấu những nhà lãnh đạo, các giới chức trong chính quyền, những chính khách tên tuổi mà chẳng phải lo bị công an mật vụ bắt bớ, khép tội là phản động hay chống phá chế độ gì cả. Khi trao cho người dân những quyền rộng rãi như thế, những chính trị gia, lý thuyết gia trong chế độ tự do dân chủ đã nhận thấy đó là cách thức hiệu quả nhất và nhanh nhất cho một quốc gia với guồng máy tam quyền phân lập rõ ràng luôn biết tự điều chỉnh kịp thời để hướng đến sự tiến bộ và hoàn thiện.

Ông Thứ trưởng của Bộ Thông tin và Truyền thông thì phải viết để bênh cái đảng và nhà nước của ông thế thôi. “Ăn cây nào rào cây nấy” mà. Với người dân thì chẳng ai còn lạ gì chuyện đảng và nhà nước CSVN chỉ muốn độc quyền cai trị, lại nặng tính bảo thủ, kênh kiệu, lúc nào cũng che đậy dấu giếm nên chẳng thích ai phê bình, vạch ra những khuyết điểm sai lầm của mình. Mà cũng đúng thôi vì đảng và nhà nước đâu có lấy lợi ích của quốc gia và dân tộc làm điều tối thượng. Đảng cũng như nhà nước chỉ coi trọng lợi ích cốt lõi của riêng mình. Bởi vậy, báo chí tuyệt đối không được xâm phạm tới lợi ích của đảng và nhà nước bất kể đảng và nhà nước có làm bậy tới đâu. Báo chí thực chất chỉ là những công cụ để tuyên truyền những cái gì tốt cho đảng và nhà nước. Đó mới thực là những điều hạn chế rất tệ hại của cái quyền tự do báo chí trong nước hiện nay.

10/06/2015


Khai Dân Trí đã khó, khai Quan Trí còn khó hơn

Le Nguyen (Danlambao) - Thế kỷ trước ở Việt Nam tính trên nền tảng dân số, nạn mù chữ có tỷ lệ khá cao và thông tin, giao tiếp với nếp sống văn minh của thế giới chung quanh đối với người dân có những giới hạn nhất định. Nhìn vào sinh hoạt đời sống của người dân thời đó, cụ Phan Chu Trinh nhà cách mạnh không cộng sản, lãnh đạo phong trào Duy Tân đúc kết, thu gọn hình ảnh dân trí trong bài Tỉnh Quốc Hồn Ca và được cụ Phan cụ thể hóa, đơn giản hóa tư tưởng xuống thành khẩu hiệu “khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh” nhằm cổ động trí thức yêu nước cùng nhau góp một bàn tay vào việc nâng cao dân trí để đấu tranh giành lấy nền độc lập, tự do về cho dân tộc.

Từ ngày cụ Phan phát động phong trào “khai dân trí, chấn dân khí, hậu nhân sinh” đến nay đã gần một thế kỷ và đất nước sau 40 năm chấm dứt chiến tranh được gọi là “thống nhất đất nước” dưới sự độc quyền lãnh đạo của đảng cộng sản Việt Nam và hiện nay theo tài liệu, loa đài của đảng, nhà nước công bố thì Việt Nam đã đạt được “thành quả” đáng khích lệ. Thành quả đó được cụ thể qua số liệu thống kê chính thức công bố trên hệ thống thông tin, truyền thông của nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong lần điều tra dân số năm 2009 như sau: 

“Gần 94% người dân biết đọc, biết viết; Khoảng 1/4 người Việt xong trung học hay cao hơn; Ở người trên 15 tuổi, 4.2% có bằng cử nhân và 0.2% có bằng sau đại học; Việt Nam có hơn 100 ngàn thạc sĩ, 24 ngàn tiến sĩ, 10 ngàn giáo sư và phó giáo sư, và theo thống kê niên học 2011-2012, Việt Nam có 215 trường cao đẳng, 204 trường đại học, với 756 ngàn học sinh cao đẳng và 1.4 triệu sinh viên đại học.”

Những ai tiếp cận bản thống kê, rà soát chi tiết sẽ thấy trong số dân có trình độ học vấn, bằng cấp được cơ quan chuyên trách liệt kê ra, có nhiều tướng lãnh công an, quân đội, đại biểu quốc hội, các ủy viên bộ chính trị, ủy viên trung ương đảng, các bộ trưởng thủ trưởng, các cơ quan ban ngành của chính phủ có bằng phó giáo sư, giáo sư, thạc sĩ, tiến sĩ “bèo” lắm cũng có bằng cử nhân và gần như hầu hết các quan chức lãnh đạo đảng, nhà nước đều có lận lưng bằng cao cấp lý luận chính trị của Học Viện Chính Trị Quốc Gia Hồ Chí Minh?

Nhìn vào bản “kê khai lý lịch trích ngang” thấy trình độ học vấn, bằng cấp của quan chức lãnh đạo đảng, nhà nước thật dễ nể vì mặt bằng bằng cấp, trình độ văn hóa của lãnh đạo Việt Nam đứng tốp đầu ở Đông Nam Á và tính ra cũng thuộc vào hạng nhất nhì so với các nước văn minh, giàu mạnh trên thế giới. 

Tuy nhiên đấy chỉ là chuyện đẳng cấp, trình độ cao của lãnh đạo cộng sản Việt Nam, nằm trên bản báo cáo thành tích mang tính trình diễn hơn là thực chất. Nếu các ông bà lãnh đạo này chịu khó câm mồm mặc cho dân “lé mắt” nhìn thì sẽ có khối người “nước ngoài” tin họ có trình độ văn hóa cao, là thật. Rất tiếc là các ông bà lãnh đạo “đảng ta” mắc chứng “điếc hay ngóng, ngọng hay nói” dại miệng mở mồm phọt ra những cặn bã bốc mùi tanh tưởi chợ búa làm xấu hổ hai tiếng Việt Nam trong quan hệ, giao lưu quốc tế ở thời thông tin mở với những câu nói đại loại như:

“...Biểu tình là ô danh... Việt Nam chưa phải là siêu cường kinh tế để có thể chi tiền cho sự ô danh...” (Thạc sĩ kinh doanh quốc tế, cử nhân anh văn, đại biểu quốc hội Hoàng Hữu Phước)

...Đĩa rau muống xào ở Thượng Hải tới 200 ngàn, ở Việt Nam ta có mấy chục nghìn... cần xem lại đánh giá chỉ tiêu lạm phát này có đúng không, theo tôi không phải là cao nhất...”(Tiến sĩ luật, đại biểu quốc hội Đỗ Văn Đương)

...Mức dư lượng hóa chất độc hại trong rau quả nhiều nhất là hơn gấp hai ba lần mức quy định... mức này là cực kỳ an toàn và người tiêu dùng đã sử dụng số hoa quả nhiễm độc vẫn còn rất an toàn...”(Cục trưởng, cục bảo vệ thực vật, Nguyễn Xuân Hồng)

“...Tham nhũng 3 năm qua không tụt không tăng, có nghĩa là có tính ổn định...”(Cử nhân, tổng thanh tra chính phủ Huỳnh Phong Tranh)

...Bác hồ dạy rồi, ông cha ta dạy rồi, đánh chuột đừng để vỡ bình... làm sao diệt được chuột mà giữ được bình hoa...”(Tiến sĩ ngành xây dựng đảng, tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng.)

“...Dân chủ của ta có hạn, dân trí còn thấp, số người dân trí cao là thiểu số... dân trí thấp không thể tùy tiện trưng cầu dân ý...”(Đại học nghề nghiệp, phó chủ tịch hội nhà báo, đại biểu quốc hội Hà Minh Huệ)

“...Những người nghèo cũng khao khát xem bắn pháo hoa, những lúc thưởng thức bắn pháo hoa giúp họ quên đi cái nghèo cái khổ...”(Luận án tiến sĩ, chuyên ngành văn hóa học, phó ban tuyên giáo Hà Nội Phan Đăng Long.)

“...Quyền im lặng rất vô lý, không thể chấp nhận được... trình độ dân trí và điều kiện của ta như hiện nay là không phù hợp, gây khó khăn cho các cơ quan đấu tranh bảo vệ luật pháp...”(Tiến sĩ, thiếu tướng giám đốc công an Thanh Hóa, đại biểu quốc hội Trịnh Xuyên.)

Đọc một số trích đoạn phát ngôn của ông tổng bí thư Nguyễn Phú trọng và các quan chức lãnh đạo các cơ quan, ban ngành ông nào, ông nấy học hàm, học vị, chức tước đầy mình nhưng mở mồm ra thối không ngửi được, dốt không chịu nổi. Phải chi các ông đừng mở mồm, các ông mở mồm chỉ khiến cho dân bức xúc buột miệng chửi đổng, vì những phát ngôn ngu ngơ, không não làm xấu hổ đất nước Việt Nam. 

Đó là phần các quan chức “phát ngôn” mở mồm phọt ra đã khiến người dân Việt Nam xấu mặt lây và việc các ông lãnh đạo ra tay “hành động” làm nhiệm vụ xây dựng cơ sở hạ tầng phát triển kinh tế, xã hội ở trên giao hoặc do chính các ông tự quy hoạch, trực tiếp chỉ đạo thực hiện. Thực tiễn chỉ ra các ông bà lãnh đạo này cũng chẳng làm cho hai tiếng Việt Nam có vị thế trên trường quốc tế mà còn làm cho thế giới khinh thường Việt Nam qua các hình ảnh, hậu quả cụ thể do trí năng có vấn đề về tư duy như: 

Một là đường dây điện của công ty EVN của nhà nước, độc quyền giăng mắc giống các tổ nhện ngày càng phình to trong các thành phố lớn của Việt Nam mà ông tỷ phú Bill Gate, ông chủ công ty Microsoft ngứa mắt thu vào ống kính bỏ lên trang Facebook cá nhân của ông.

Hai là cơ sở hạ tầng đường xá, cầu cống, cao tốc có giá thành đắc nhất nhì thế giới nhưng sụt lún, hư đổ, xuống cấp nhanh nhất, thuộc vào nhanh chiếm kỷ lục thế giới cùng với trạm thu phí nhiều nhất thế giới, thuế phí giao thông không đối thủ cạnh tranh và hệ thống cung cấp nước sạch, cống thoát nước, thoát chất thải tiêu tiểu phục vụ nhu cầu dân sinh giống chuyện em bé bán đồ chơi là chuyện dài không hồi kết.

Ba là các nhà khoa học Việt Nam có bằng cấp tiến sĩ tính theo tỷ lệ đầu người không thua các cường quốc kinh tế thế giới nhưng bằng sáng chế, công trình nghiên cứu khoa học nằm gần chót bét thua cả Miên và có nguy cơ thua cả Lào trong tương lai nhưng tiêu tốn ngân sách nhà nước thuộc hạng tốp đầu của thế giới.

Bốn là Việt Nam là một cường quốc “luật pháp” mỗi năm có hàng vạn điều luật, văn bản dưới luật vi phạm quy phạm pháp luật do các quan to quan bé làm ra, phát tán và đó là chưa kể những tên cắc ké, chạy hiệu cầm cờ nhân danh đảng, nhà nước tự làm “luật rừng” với dân, là câu chuyện dài xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Năm là quốc hội của đảng với hơn 90% là đảng viên chưa kể các tên công an tôn giáo khoát áo cà sa, áo chùng đen, mang danh đại biểu nhân dân nhí nha nhí nhô, không hồn không vía như người mắc bệnh tâm thần làm xấu mặt Việt Nam trên diễn đàn quốc hội, là cơ quan quyền lực cao nhất nước. 

Sáu là hệ thống giáo dục nhồi nhét chính trị, văn sử méo mó bịa đặt, phi nhân tính mang tính hệ thống nhằm sản sinh ra thế hệ người vô tư cách, vô nhân cách được gọi là con người mới xã hội chủ nghĩa. Đó cũng chính là nhân lực nguồn hình thành đội ngũ cán bộ lãnh đạo lưu manh có thừa, ngu dốt có hạng và nguồn nhân lực này ngày càng già đi nhưng trình độ kiến thức như em bé mắc bệnh tự kỷ không lớn nổi như đã thấy.

Vài ba việc vừa kể ra đều nằm dưới sự chỉ đạo, lãnh đạo độc quyền của đảng, nhà nước và có tới 99% lãnh đạo các công trình kiến thiết, xây dựng, phát triển đất nước là do đảng viên đảm nhiệm nhưng khi gây ra hậu quả nghiêm trọng thì phủi tay không chịu trách nhiệm chi cả!

Thường thì các quan chức lãnh đảng, nhà nước cộng sản Việt Nam phát ngôn, hành động không đi đôi với nhau hay nói cách khác, bình dân hơn là lãnh đạo cộng sản có thói quen nói một đường làm một nẻo. Tuy nhiên theo như các “phát ngôn” được trích dẫn trong bài viết này thì các ông bà lãnh đạo đảng ta thể hiện bản năng ngớ ngẩn, ngu dốt có tính nhất quán và “hành động” trong công tác xây dựng, phát triển đất nước thì mang tính phá hoại, sửa sai sai sửa triền miên là đồng nhất, khó lẩn vào đâu được.

Lược sơ qua một số phát ngôn, hành động của đội ngũ quan chức lãnh đạo đảng, nhà nước có học hàm, học vị, cấp bậc, chức vụ khá cao nhưng mở mồm đề cập đến vấn đề đơn giản hay phức tạp đều lộ ra sự hiểu biết dưới mức trung bình và mó tay vào làm việc gì dù to hay nhỏ cũng đều để lại hậu quả nghiêm trọng khó khắc phục đến không thể khắc phục được, là rất bình thường.

Đặc biệt là các phát ngôn, hành động của các lãnh đạo đăng tải trên các hệ thống truyền thông của đảng, nhà nước đã có các lời bình phẩm, phản biện của bạn đọc thuộc nhiều tầng lớp xã hội khá thông minh, không kém phần sâu sắc, thấu tình đạt lý trong khuôn khổ luật pháp quốc gia, quốc tế ở trình độ cao so với các lãnh đạo có bằng cấp, chức tước cao trong bộ máy đảng, nhà nước. 

Qua những điều cụ thể nêu trên cho chúng ta có cơ sở để kết luận rằng, dân trí của người dân Việt Nam hiện nay không hề thấp so với quan trí trong nhà nước pháp quyền cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, dù rằng đa phần người dân không có bằng cấp, trình độ học vấn dựa trên “lý lịch trích ngang” hoành tráng như các lãnh đạo đảng, nhà nước cộng sản Việt Nam. 

Với thực trạng quan trí đáng báo động như thế, những người Việt Nam có ưu tư, có lòng với tương lai đất nước không khỏi băn khoăn, canh cánh bên lòng một nỗi lo. Có lẽ nỗi lo này còn đáng lo ngại hơn cả thời kỳ cụ Phan Chu Trinh phát động phong trào “khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh” bởi giờ đây không biết làm sao để “khai quan trí” trong thời thông tin mở. Thời mà ai cũng có thể tiếp cận thông tin, nâng cao kiến thức, mở rộng tầm nhìn như một bộ phận không nhỏ người dân đã chủ động phản bác những tư duy nhận thức thiếu chất xám của lãnh đạo đảng nhà nước trên các trang báo lề dân lẫn lề đảng trong mấy năm gần đây mà quan trí các quan nhà ta vẫn “trơ như đá vững như đồng.”

Điều đáng lo ngại hơn cả là quan trí của các quan thấp nhưng quan không biết, lại còn tỏ ra nguy hiểm, hể mở mồm ra là đổ cho dân trí thấp để gạt bỏ những cải cách thiết thực cho mục tiêu phục vụ các tiến bộ xã hội, đất nước. Thế cho nên những người yêu nước có lòng với nước lo lắng là phải bởi thực tế ai cũng thấy, nói theo ngôn ngữ của bà phó chủ tịch nước Nguyễn thị Doan là: “khai dân trí đã khó mà khai quan trí còn khó vạn lần hơn!” Thế thì sao tránh khỏi được lo lắng vì đảng, chế độ chết rồi nằm phơi ra đó mà có một bộ phận không nhỏ các quan lãnh đạo vẫn mê tín không chịu chôn nó đi, cứ nhắm mắt bái lạy cầu xin phép lạ hoàn thiện xã hội chủ nghĩa?

10/06/2015



Xâm lăng, quốc gia, mất nước, và ngày quốc hận

Cao-Đắc Tuấn (Danlambao) - Tóm Lược: Trong phần thứ nhì của bài có hai phần, tác giả Cù Huy Hà Vũ lý luận rằng đảng cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) phải giải thể để cứu nước. Tuy câu kết luận này có thể có chút giá trị, nhiều lý luận và kết luận của ông trong phần thứ nhất lại sai lầm hoàn toàn. Đại khái, các khẳng định của ông, kể cả câu không có xâm lăng và Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) không phải là một quốc gia, là các khẳng định sai lầm. Quan trọng hơn, lý luận rằng không có việc mất nước và ngày 30 tháng 4 không nên là ngày quốc hận cho thấy ông kém hiểu biết về người Việt hải ngoại (NVHN) và dân Việt Nam chống cộng, nhất là người miền Nam, đang sống ở Việt Nam. Trên thực tế, cảm xúc mất nước của họ lúc nào cũng có thật vì quả thật VNCH bị phe cộng sản Việt Nam chiếm đóng. Ngày quốc hận được kỷ niệm không phải chỉ thương tiếc sự mất niềm tự do và dân chủ, mà còn đánh dấu sự khởi đầu của giai đoạn đen tối nhất trong lịch sử Việt Nam.

*

Cù Huy Hà Vũ (2015), người Việt Nam bất đồng chính kiến và học giả tại trường Đại Học George Washington, gần đây viết một bài đăng trên trang mạng của Voice of America, ban tiếng Việt. Đại khái, bài của ông có thể được chia ra thành hai phần. Trong phần thứ nhất, ông lý luận rằng ngày 30 tháng 4 không nên là ngày quốc hận trong các cộng đồng NVHN. Trong phần thứ nhì, ông lý luận rằng tuy không nên có ngày quốc hận, chính quyền cộng sản Việt Nam là thủ phạm đã gây ra hận thù vì bản chất họ. Do đó, giải thể ĐCSVN là cách duy nhất để cứu đất nước Việt Nam và xóa bỏ mọi hận thù trong người dân Việt.

Tuy phần kết luận của bài luận có thể có chút giá trị, có nhiều vấn đề trong phần đầu.

A. Bài của ông Vũ thiếu mạch lạc vì hai phần không có liên kết luận lý

Ta có thể nhận ra ngay một sự bất bình thường trong bài ông Vũ: phần thứ nhất và phần thứ nhì chẳng có liên hệ gì với nhau cả. Mỗi phần có thể đứng một mình có luận lý, nhưng mỗi phần không cần phải cung cấp tiền đề cho, hoặc dùng kết luận từ, phần kia. Ông Vũ cố móc nối hai phần bằng một kết nối nghĩa ngữ; nghĩa là chữ "hận." Tuy nhiên, chữ "hận" không liên kết hai phần với nhau theo luận lý.

Một bài luận văn trình bày có các phần không liên hệ nhau được gọi là thiếu mạch lạc hoặc không chặt chẽ. Không có gì nghiêm trọng về một bài luận trình bày thiếu mạch lạc. Cùng lắm người ta có thể nói tác giả bài luận là người viết dở. Tuy nhiên, khi bài luận chính trị có một chuỗi lý luận trong đó kết luận của một lý luận là tiền đề của lý luận kế tiếp, dẫn đến kết luận cuối cùng, có một sự nguy hiểm về việc thiếu mạch lạc. Sự nguy hiểm đó là độc giả thiếu cẩn thận có thể quá hứng chí với câu kết luận cuối cùng của bài luận mà tưởng mọi chuyện trong bài luận đều đúng hết. Khi một bài có hai phần như bài của ông Vũ, các kết luận sai lầm của phần thứ nhất có thể bị che khuất, hoặc diễn giải là đúng do bởi cái kết luận có vẻ đúng trong phần thứ nhì.

Cái kết luận rằng việc giải thể ĐCSVN là cách duy nhất để cứu nước Việt Nam và xóa bỏ mọi hận thù trong dân Việt quá hấp dẫn và nhử nhiều người Việt đến độ họ có thể tưởng, đôi khi trong tiềm thức, rằng các lý luận và kết luận ở phần đầu là đúng, nhất là kết luận rằng không nên có ngày quốc hận trong cộng đồng NVHN. 

Do đó, rất quan trọng mà vạch ra các lập luận và kết luận sai lạc trong phần đầu của bài ông Vũ để tránh hiểu lầm hoặc lẫn lộn và để "giữ mọi việc chính xác." Trong bài này, tôi sẽ không thảo luận về phần thứ nhì trong bài ông Vũ mà chỉ chú trọng vào phần thứ nhất.

B. Phần thứ nhất trong bài ông Vũ đầy rẫy sai lầm và không chính xác, dẫn đến những kết luận không đúng.

Trong phần thứ nhất, ông Vũ dựa lập luận ông trên hai tiền đề: (1) hành động xâm lăng chỉ có thể được thực hiện bởi một nước hay quốc gia với một nước hay quốc gia khác, (2) Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) ở miền Nam và Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (VNDCCH) ở miền Bắc chỉ là hai vùng lãnh thổ của quốc gia Việt Nam và không phải là quốc gia hoặc nước, dựa vào quan điểm chính thống của VNCH. Tiền đề (2) là kết luận của lý luận có hai tiền đề: (3) Không câu nào trong hai Hiến pháp của VNCH khẳng định rằng "quốc gia hoặc nước" chỉ gồm có miền Nam Việt Nam, và (4) Nam Việt Nam có dự tính thống nhất đất nước.

Dựa vào (1) và (2), ông Vũ kết luận rằng miền Bắc không xâm lăng miền Nam vì hành động xâm lăng chỉ có thể được thực hiện bởi một quốc gia hoặc nước với một quốc gia hoặc nước khác, và cả miền Bắc lẫn miền Nam đều không phải là quốc gia hay nước. Ông Vũ sau đó cho rằng vì không có xâm lăng và không có quốc gia hay nước, nên không có mất nước. Từ đó, ông Vũ kết luận là ngày 30 tháng 4 không nên gọi là "Ngày Quốc Hận" ("The National Day of Hatred") ("Cũng như vậy, không thể gọi ngày 30 tháng 4 là 'Ngày Quốc hận' vì đã không có chuyện 'mất nước' vào ngày đó.") Ông Vũ hỗ trợ kết luận này bằng lý luận rằng sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, quốc gia hoặc nước Việt Nam vẫn hiện hữu trên bản đồ thế giới, là một thành viên của Liên Hiệp Quốc, và có quan hệ ngoại giao với nhiều quốc gia khác, kể cả Hoa Kỳ ("Thực vậy, cho đến nay Việt Nam vẫn có tên trên bản đồ thế giới, là thành viên Liên Hiệp Quốc, có quan hệ ngoại giao với nhiều nước trong đó có Hoa Kỳ, cho dù lãnh thổ đã bị Trung Quốc chiếm nhiều nơi, nhất là ở biển Đông.")

Các lý luận của ông Vũ sai lầm trên ít nhất bốn khía cạnh: định nghĩa của xâm lăng, tính chất quốc gia của miền Nam Việt Nam hoặc VNCH, việc mất nước, và ý nghĩa của ngày quốc hận. Bất cứ một trong những lý luận hoặc kết luận của ông có thể làm toàn thể chuỗi lý luận ông vô giá trị. Tuy nhiên, tôi không chỉ muốn cho thấy một lập luận hoặc kết luận nào đó sai lầm Tôi muốn cho thấy toàn thể khái niệm của ông Vũ về quốc gia hoặc nước, sự mất nước, và Ngày Quốc Hận là sai lầm.

1. Xâm lăng là một chiến dịch quân sự dính líu thực thể địa chính, không nhất thiết chỉ dính líu quốc gia có chủ quyền hoặc nước.

Tiền đề của ông Vũ rằng hành động xâm lăng chỉ có thể được thực hiện bởi một quốc gia hoặc nước với một quốc gia hoặc nước khác là một tiền đề sai lầm.

Theo định nghĩa, xâm lăng "là một cuộc tấn công quân sự trong đó một số lớn chiến sĩ của một thực thể địa chính hung hăng tiến vào lãnh thổ kiểm soát bởi một thực thể khác, thường với mục tiêu chinh phục, giải thoát hoặc tái thiết lập kiểm soát hoặc quyền hành trên một lãnh thổ, ép buộc chia đất nước, thay đổi chính quyền có sẵn, hoặc đạt được nhượng bộ từ chính quyền đó, hoặc một kết hợp mọi việc trên" (Wikipedia 2015a).

Xâm lăng, do đó, không nhất thiết dính líu đến một hay nhiều quốc gia/ nước. Bất cứ một chiến dịch quân sự rộng lớn nào bởi một thực thể với ý định chiếm đóng một lãnh thổ đang được chiếm đóng bởi một thực thể khác đều được gọi là "xâm lăng." Những chiến dịch quân sự tiến hành bởi quân Bắc Việt chống lại miền Nam trong chiến tranh Việt Nam và dẫn đến sự chiếm đóng miền Nam tạo nên một cuộc xâm lăng, cho dù miền Bắc Việt Nam hoặc miền Nam Việt Nam là quốc gia/ nước hay không.

Cho dù miền Bắc và miền Nam Việt Nam là hai phe trong một cuộc nội chiến, một luận đề mà ông Vũ muốn đưa ra, những chiến dịch quân sự của Bắc Việt vẫn được gọi là "xâm lăng" vì "lực lượng vũ trang của họ tiến vào phần qui định rõ rệt của [miền Nam Việt Nam] mà, vào lúc chiến dịch, hoàn toàn dưới sự kiểm soát của lực lượng vũ trang của [miền Nam Việt Nam]" (Wikipedia 2015a). Thí dụ cho các cuộc xâm lăng như vậy là các chiến dịch quân sự tiến hành trong Chiến Tranh Cách Mạng Mỹ và Cuộc Nội Chiến Mỹ (sđd.).

Trên thực tế, như mọi tài liệu lịch sử sho thấy, Hồ Chí Minh và các đồng chí, kể cả Lê Duẩn và Võ Nguyên Giáp, thực hiện một kế hoạch hệ thống để xâm lăng Nam Việt Nam qua nhiều năm trong suốt cuộc chiến. Trong suốt những năm này và sau cuộc chiến, sử gia thế giới và người miền Nam, dân sự hay quân sự, đều gọi những chiến dịch quân sự hoặc tấn công của cộng sản Bắc Việt là hành động xâm lăng. Xem, thí dụ như, "Viên chức Nam Việt Nam tuyên bố hai đại đội quân Bắc Việt xâm lăng Nam Việt Nam" (History), "Cuộc xâm lăng thông thường này... là một sự khác biệt căn bản với các cuộc tấn công của quân Bắc Việt trước đó" (Wikipedia 2015f), "Phần đầu của đoạn kết đến vào đầu tháng ba năm 1975 khi lực lượng xâm lăng lên đến hai mươi sư đoàn được tung ra cho cuộc tấn công cuối cùng của chiến tranh" (Sorley 1999, 376).

Định nghĩa sai lầm của ông Vũ về "xâm lăng" thực ra không quan trọng vì cho dù xâm lăng dính líu đến một quốc gia hay một thực thể địa chính, Nam Việt Nam là một quốc gia có chủ quyền đầy đủ trước ngày 30 tháng 4 năm 1975 như được thảo luận sau đây.

2. Trong cuộc chiến, miền Nam Việt Nam là một quốc gia có chủ quyền hay một nước

Khó mà có định nghĩa rõ rệt về nước, quốc gia có chủ quyền, hoặc dân tộc một cách tổng quát. Tôi sẽ thảo luận vấn đề này trong một bài kế tiếp. Tuy nhiên, thật dễ dàng chứng minh rằng miền Nam Việt Nam, hoặc VNCH, là một quốc gia có chủ quyền hoặc một nước trước ngày 30 tháng 4 năm 1975.

Trước hết, ông Vũ lý luận rằng nhóm chữ "Việt Nam Cộng Hòa" chỉ nói đến danh xưng của thể chế chính trị, và không phải là tên của quốc gia hoặc nước Nam Việt Nam, như được cho biết trong hiến pháp VNCH. Tuy việc này không quan trọng trong việc phân tích, tôi duy trì rằng "miền Nam Việt Nam" và "Việt Nam Cộng Hòa" thiết yếu nói về cùng một quốc gia có chủ quyề̀n hay nước bởi vì trước ngày 30 tháng 4 năm 1975, chế độ của VNCH giữ y nguyên tại miền Nam và do đó hai tên này đồng nghĩa. 

Trong phần lý luận chính, ông Vũ nhấn mạnh rằng không câu nào trong cả hai [1956 và 1967] Hiến pháp của VNCH khẳng định rằng "quốc gia hoặc nước" chỉ gồm có miền Nam Việt Nam ("...không có câu nào của cả hai Hiến pháp trên quy định 'quốc gia' chỉ gồm miền Nam Việt Nam.")

Bằng cách dùng hai hiến pháp của VNCH và các dự tính khác (thí dụ như nỗ lực thống nhất), ông Vũ khẳng định rằng "theo quan điểm chính thống của Việt Nam Cộng hòa thì ở Việt Nam chỉ có một quốc gia, miền Nam và miền Bắc chỉ là hai phần lãnh thổ của quốc gia Viêt Nam." Trên căn bản này, ông Vũ kết luận rằng không có xâm lăng vì cả miền Bắc và miền Nam đều không là quốc gia hoặc nước; do đó, không có việc mất nước và ngày 30 tháng 4 không thể là ngày quốc hận.

Các lý luận của ông Vũ, cho rằng VNCH không phải là một quốc gia hoặc nước, là các lý luận không có giá trị hoặc sai lầm trên ít nhất ba lý do: (1) tự mâu thuẫn, (2) ngụy biện (sai lầm luận lý), và (3) tiêu chuẩn khách quan về tính chất quốc gia. Bất kỳ một trong ba lý do này đều đủ để làm cho lý luận ông Vũ vô giá trị.

a. Ông Vũ mâu thuẫn với chính mình khi ông gọi Nam Hàn là quốc gia hoặc nước mặc dù Nam Hàn và Nam Việt Nam có cùng căn bản hiến pháp mà ông dùng để chối bỏ tính chất quốc gia của Nam Việt Nam.

Khi chứng minh Nam Việt Nam không phải là một quốc gia hoặc nước, ông Vũ dùng đường lối chủ quan, nghĩa là ông dùng quan điểm dùng bởi Nam Việt Nam. (Ta sẽ thấy sự diễn giải của ông về quan điểm của Nam Việt Nam là sai lầm.) Dựa vào hai hiến pháp của Nam Việt Nam và các dự tính thống nhất đất nước như cho thấy qua các câu in trên tem hoặc phát biểu bởi các cấp lãnh đạo Nam Việt Nam, ông Vũ kết luận là Nam Việt Nam không bao giờ tự coi mình là quốc gia hoặc nước và chỉ coi toàn thể Việt Nam là quốc gia có chủ quyền. Do đó, cả Bắc lẫn Nam Việt Nam chỉ là hai phần lãnh thổ của đất nước.

Dùng y hệt các tiêu chuẩn do ông Vũ đặt ra, ta có thể kết luận dễ dàng là Nam Hàn hiện nay không phải là một quốc gia và cũng không phải là một quốc gia hay nước trong cuộc chiến tranh với Bắc Hàn trong 1950-1953.

Hiến pháp của Nam Hàn được viết lần ̣đầu vào năm 1948 và được chỉnh sửa nhiều lần. Điều 3 của Hiến pháp tuyên bố, "Lãnh thổ của Cộng Hòa Đại Hàn gồm có bán đảo Đại Hàn và các đảo lân cận" (Constitute 2015). Điều 4 tuyên bố thêm, "Cộng Hòa Đại Hàn theo đuổi thống nhất đất nước và thiết lập và thực hành chính sách thống nhất ôn hòa dựa vào các nguyên tắc về tự do và dân chủ" (sđd.) Nói cách khác, Hiến pháp của Nam Hàn còn dùng lời lẽ mạnh bạo và rõ rệt hơn cả ngôn từ trong hai hiến pháp VNCH qua định nghĩa không lầm lẫn lãnh thổ là cả bán đảo Đại Hàn và các đảo lân cận, chứ không phải chỉ có phần miền Nam. Ngoài ra, Hiến pháp Nam Hàn tuyên bố rõ rệt nỗ lực thống nhất. Nỗ lực thống nhất của Nam Hàn, do đó, được phát biểu rõ rệt trong Hiến pháp, chứ không phải chỉ được ám chỉ qua các câu in trên tem hoặc tuyên bố bởi cấp lãnh đạo.

Vì vậy, dựa vào chính các tiêu chuẩn của ông Vũ, Nam Hàn không phải là một quốc gia hoặc một nước.

Tuy nhiên, trong bài, ông Vũ khẳng định rằng Bắc Hàn và Nam Hàn là hai quốc gia hoặc nước trong cuộc chiến tranh từ 1950 tới 1953. Ông viết, "Nói cách khác, chiến tranh Nam - Bắc Việt Nam giai đoạn từ 1955 đến 30/4/1975 là một cuộc nội chiến và vì vậy không phải là chiến tranh giữa hai quốc gia, giữa hai 'nước', tương tự như những gì đã diễn ra giữa miền Nam và miền Bắc bán đảo Triều Tiên từ 1950 đến 1953."

Qua việc khẳng định Nam Hàn là một quốc gia hoặc nước trong khi Nam Việt Nam không có cùng tính chất mặc dù cả hai "lãnh thổ" có cùng căn bản hiến pháp theo các tiêu chuẩn định nghĩa của chính mình, ông Vũ tự mâu thuẫn. Nói cách khác, ông Vũ bác bỏ lý luận của chính mình.

b. Lý luận của ông Vũ dựa vào hai hiến pháp VNCH và dự tính thống nhất có một sai lầm luận lý (ngụy biện):

Lý luận của ông Vũ dựa vào hai hiến pháp VNCH là một lý luận sai lầm và chẳng qua là một sai lầm luận lý hoặc ngụy biện. Thực ra có nhiều sai lầm luận lý trong lý luận ông Vũ, kể cả sai lầm qui thức (formal fallacies) và các sai lầm không qui thức (informal fallacies) như lý luận do thiếu hiểu biết (argument from ignorance), so sánh khập khiễng (false analogy), so sánh nối dài (extended analogy), tiêu chuẩn khác biệt (different standards), và không dẫn/đưa đến (non-sequitur). Vì giới hạn, tôi sẽ chỉ chú trọng đến "không dẫn đến" và đề cập ngắn gọn về các sai lầm khác.

Ngụy biện "không dẫn đến" thường được mô tả là "cái mà không suy ra." Nói cách khác, cái được đưa ra là bằng chứng hoặc lý do chẳng dính líu đến hoặc hỗ trợ rất ít cho kết luận (Bo Bennett). Thí dụ: Hôm nay trời mưa; vì vậy, hai đường song song.

Dựa vào "không có câu nào của cả hai Hiến pháp trên quy định 'quốc gia' chỉ gồm miền Nam Việt Nam" và các nỗ lực thống nhất của VNCH, ông Vũ khẳng định "theo quan điểm chính thống của Việt Nam Cộng hòa thì ở Việt Nam chỉ có một quốc gia, miền Nam và miền Bắc chỉ là hai phần lãnh thổ của quốc gia Viêt Nam."

Đặt A = "Hai hiến pháp VNCH," B = "quan điểm chính thống của VNCH," X = "chỉ miền Nam Việt Nam được qui định quốc gia," Y = "toàn thể Việt Nam được qui định quốc gia," và Z = "dự tính thống nhất của VNCH."

Cái mà ông Vũ lý luận là: Vì: (a) A không cho thấy X, và (b) Z hiện hữu, nên B là Y.

Ta thấy ngay không có liên kết gì giữa cái đưa ra làm bằng chứng và câu kết luận.

A và B chẳng có liên hệ gì với nhau. Cái mà hiến pháp mô tả không nhất thiết là quan điểm chính thống của dân về tính chất quốc gia của nước họ (hoặc, theo ông Vũ, cộng đồng hoặc vùng họ). Theo định nghỉa, "hiến pháp là một số những nguyên tắc căn bản hoặc tiền lệ đã được thiết lập theo đó một quốc gia hoặc tổ chức khác được quản trị" (Wikipedia 2015b). Bản hiến pháp xác định các luật lệ tối cao và/hoặc cơ cấu của quốc gia hoặc tổ chức. Điều đó không có nghĩa là bản hiến pháp không thể định nghĩa điều kiện hay tính chất của quốc gia hoặc tổ chức, nhưng nếu không có định nghĩa đó, ta không thể kết luận gì về điều kiện hay tính chất của tổ chức.

X và Y cũng chẳng có liên hệ gì với nhau. Cùng lắm, X là tập hợp con (subset) của Y, nhưng ta không thể kết luận rằng nếu không có bằng chứng của X (hoặc cho dù cho cái mà ông Vũ muốn, "có bằng chứng cho việc không có X"), thì phải có Y. Ngay cả khi ta cho ông Vũ A = B (nghĩa là cái hiến pháp VNCH mô tả là quan điểm chính thống của VNCH), ta vẫn không thể suy ra Y từ X hoặc không phải X. Nói cách khác, ta không thể nói, "Nếu quan điểm chính thống của VNCH không nói rằng chỉ có Nam Việt Nam là quốc gia/ nước, thì quan điểm chính thống của VNCH phải là toàn thể VNCH là quốc gia/ nước." Đó là vì có nhiều kết luận khác ta có thể có giả sử không phải chỉ có Nam Việt Nam là quốc gia. Thí dụ, cả Bắc và Nam Việt Nam đều là quốc gia, hoặc toàn thể Việt Nam cũng không phải là quốc gia, hoặc chỉ có Bắc Việt Nam là quốc gia.

Ngay cả nếu ta bao gồm Z = "dự tính thống nhất của VNCH," vẫn có thiếu móc nối cho thấy "không phải X + Z = Y." Nói cách khác, giả sử hai hiến pháp VNCH không cho thấy chỉ có miền Nam Việt Nam được qui định là quốc gia và có dự tính thống nhất, ta không thể kết luận rằng quan điểm chính thống của VNCH là toàn thể Việt Nam được qui định là quốc gia. Đó là vì tính chất quốc gia độc lập với gia tăng lãnh thổ hoặc thống nhất. Một quốc gia có thể là một quốc gia và sau này kết hợp hoặc thống nhất với một quốc gia khác hoặc một vùng để trở thành một quốc gia rộng lớn hơn. Ngoài ra, một vùng của một quốc gia có thể bị chiếm đóng bởi một phe nhóm khiến cho lãnh thổ của nó bị giảm thiểu thành một phần nhỏ hơn, và phần nhỏ hơn này do đó là một quốc gia.

Lý luận của ông Vũ dường như dựa vào sự kiện rằng Nam Việt Nam là quốc gia và toàn thể Việt Nam là quốc gia là hai sự kiện loại trừ lẫn nhau. Cái sai lầm của quan điểm này là tính chất quốc gia của Nam Việt Nam và Việt Nam không cần phải xảy ra cùng lúc. Nói cách khác, có hai diễn giải cho việc Nam Việt Nam và toàn thể Việt Nam có thể là quốc gia, nhưng không cùng lúc:

(1) Nam Việt Nam là quốc gia và toàn thể Việt Nam sẽ trở thành quốc gia khi Nam Việt Nam xóa bỏ phe cộng sản chiếm đóng Bắc Việt Nam.

(2) Toàn thể Việt Nam đã là quốc gia, nhưng lãnh thổ bị phe cộng sản chiếm đóng ở miền Bắc. Do đó, lãnh thổ Việt Nam bây giờ bị giảm thiểu thành Nam Việt Nam. Nam Việt Nam là quốc gia vì thừa kế tính chất quốc gia từ Việt Nam.

Ta thấy, một trong hai, hoặc cả hai, diễn giải trên đều là kết luận thích đáng dựa vào lịch sử.

Tóm lại, giả sử A không đề cập X và Z hiện hữu, cái kết luận rằng B là Y là một bước nhảy luận lý khổng lồ. Cái kết luận này không suy ra từ A, X, và Z. Lý luận của ông Vũ, do đó, là ngụy biện "không dẫn đến."

Lý luận của ông Vũ còn có các ngụy biện hoặc sai lầm luận lý khác. Tôi có thể vắn tắt đề cập vài cái.

Một sai lầm luận lý qui thức là dùng sai phần bù của tập hợp con: vì Nam Việt Nam là một tập hợp con của toàn thể Việt Nam, phần bù của việc Nam Việt Nam là quốc gia khác với việc toàn thể Việt Nam là quốc gia.

Một sai lầm khác là so sánh khập khiễng. Ông Vũ đồng hóa "đề cập" với "khẳng định." Hai hiến pháp VNCH không đề cập rằng chỉ có Nam Việt Nam là quốc gia, nhưng "không đề cập" không giống như "không khẳng định." Một người có thể không đề cập ông ta giàu có, nhưng việc đó không giống như việc ông ta không khẳng định rằng ông ta giàu có.

Một sai lầm khác là dùng các tiêu chuẩn khác nhau. Dưới tiêu chuẩn thứ nhất, ông Vũ dùng hai hiến pháp VNCH là bằng chứng rằng VNCH không khẳng định là chỉ có VNCH là quốc gia. Tuy nhiên, trong tiêu chuẩn thứ hai, ông dùng hai hiến pháp VNCH cộng với dự tính thống nhất là bằng chứng cho việc VNCH coi toàn thể Việt Nam là quốc gia. Nếu ông ta dùng cùng tiêu chuẩn thứ nhất, rõ ràng là hai hiến pháp VNCH cũng không khẳng định chỉ có toàn thể Việt Nam là quốc gia, và cộng với bằng chứng rõ ràng là miền Bắc Việt Nam bị phe cộng sản chiếm đóng, ta phải kết luận rằng Nam Việt Nam là quốc gia. Dự tính thống nhất lại càng tăng thêm ý này cho việc lấy lại đất bị cộng sản chiếm đóng.

c. Dưới tiêu chuẩn khách quan, Nam Việt Nam được coi là quốc gia có chủ quyền dựa vào là thành viên của nhiều tổ chức quốc tế và liên hệ ngoại giao với nhiều quộc gia.

Đường lối chủ quan của ông Vũ trong việc xét đoán tính chất quốc gia của VNCH thì không thích hợp. Tính chất quốc gia của một dân tộc được xác định bằng một tiêu chuẩn khách quan, nghĩa là tính chất quốc gia như được thấy bởi các quốc gia khác. Nếu không, mọi dân tộc đều có thể là quốc gia có chủ quyền bằng cách chỉ cần tuyên bố như vậy. Bill Gates không thể chối bỏ sự giàu có của mình chỉ bằng cách tuyên bố, "Tôi nghèo." Dưới tiêu chuẩn khách quan, một điều kiện quan trọng để là quốc gia có chủ quyền hoặc nước là khả năng có quyền lực tối cao để đối phó với các nước hoặc quốc gia có chủ quyền khác. Việc này gồm có sự công nhận từ các nước khác và sự tham gia vào các công việc quốc tế.

Mặc dù không phải là thành viên của Liên Hiệp Quốc (LHQ), cả Bắc Việt và Nam Việt Nam đều được các quốc gia khác coi là quốc gia có chủ quyền (Xem, thí dụ như, Wikipedia 2015c. Ngoài ra, LHQ coi Nam Việt Nam, hoặc VNCH, là quốc gia có chủ quyền khi tổ chức này bầu để đề nghị Nam Việt Nam được nhận là thành viên. Vào ngày 28 tháng 2 năm 1957, Đại Hội đồng (General Assembly) LHQ " bầu với số phiếu 40 thuận và 8 chống hoặc phiếu trắng, đề nghị Hội đồng Bảo an rằng VNCH và Nam Hàn được nhận là thành viên (Olsen 2006, 75). Ngoài ra, Liên Xô luôn luôn coi Nam và Bắc Việt Nam là hai quốc gia độc lập (sđd.) Nam Việt Nam cũng là thành viên của nhiều cơ quan quốc tế kể cả World Bank, International Monetary Fund, Interpol, UNESCO, v.v. (Wikipedia 2015d). Nam Việt Nam có liên hệ ngoại giao với nhiều nước kể cả Hoa Kỳ, Pháp, Tây Đức, Úc, Tân Tây Lan, Nam Hàn, và các nước khác,

Con số lớn về thành viên quốc tế và liên hệ ngoại giao của Nam Việt Nam với các quốc gia khác rõ ràng cho thấy Nam Việt Nam quả thực là một nước hoặc một quốc gia có chủ quyền.

Tóm lại, lý luận của ông Vũ về tính chất quốc gia của Nam Việt Nam hoàn toàn vô giá trị vì tự mâu thuẫn và là sai lầm luận lý. Theo các tiêu chuẩn khách quan được mọi nơi chấp nhận, VNCH là một quốc gia có chủ quyền hoặc nước trước ngày 30 tháng 4 năm 1975.

3. Quả thật có việc mất nước dựa vào căn bản gắn bó tình cảm và hiện hữu vật chất khi mìền Nam Việt Nam rơi vào tay cộng sản.

Sau khi cố chứng tỏ Nam Việt Nam không phải là nước hoặc quốc gia và phe cộng sản Việt Nam không xâm lăng miền Nam Việt Nam, ông Vũ kết luận là không có việc mất nước vì không có nước để mà mất. Một cách đáng kể, trong khi ông cố hết sức để cho thấy dự tính thống nhất của VNCH, ông Vũ chỉ kết luận đơn giản là không có việc mất nước như thể đó là chuyện hiển nhiên. Điều này cho thấy sự kém hiểu biết của ông Vũ về khái niệm của mất mát, ngay cả cho ý nghĩa thông thường.

Theo định nghĩa, mất mát là kết quả của việc không thể giữ hoặc không thể tiếp tục có cái gì hoặc trải qua việc có cái gì bị lấy đi hoặc bị tiêu hủy. Đối với đa số người miền Nam, nước Nam Việt Nam bị mất khi phe cộng sản miền Bắc xâm lăng và chiếm đóng miền Nam Việt Nam vào ngày 30 tháng 4 năm 1975. Cho dù Nam Việt Nam không phải là quốc gia và chỉ có toàn thể Việt Nam là quốc gia, như ông Vũ khẳng định, người dân miền Nam Việt Nam vẫn có thể có cảm tưởng mất mát khi toàn thể quốc gia Việt Nam rơi vào tay cộng sản.

Cảm tưởng mất mát được dựa vào: sự gắn bó tình cảm và sự hiện hữu vật chất.

a. Mất nước hàm ý sự hư hại đến gắn bó tình cảm với đất nước bây giờ đang ở dưới chế độ không xứng đáng, và không nhất thiết dính líu đến sự thiếu vắng hoặc biến mất của một hiện hữu vật chất. 

Mất mát thường được liên kết với sở hữu, thu thập, cảm giác thuộc về, hoặc thương yêu. Bạn mất tiền, xe hơi, xe gắn máy, nhà, việc, bình tĩnh, người thương yêu, v.v. Cái hoặc người bạn mất có thể hoặc không ngừng hiện hữu. Nếu nhà bạn bị tiêu hủy hoàn toàn vì hỏa hoạn, bạn mất nhà và căn nhà bạn không còn nữa. Tuy nhiên, giả sử bạn không còn tiền để trả tiền nợ nhà, nhà băng tịch thu lại và bán cho người khác. Bạn mất nhà nhưng căn nhà đó vẫn hiện hữu; chỉ có điều là nó thuộc về chủ mới.

Khi ta nói về mất mát cái gì hoặc người nào, ta có thể nói đến cái đó hoặc người đó như là một thực thể vật chất, nhưng sự mất mát có thể hàm ý sự hư hại cho một niềm gắn bó tinh thần hay tình cảm. Sự gắn bó tình cảm vẫn có thể còn, nhưng đối tượng cho sự gắn bó đó có thể không còn trong tầm với, kiểm soát, cảm tưởng thuộc về, hoặc sở hữu. Ta, do đó, có cảm tưởng mất mát và thương tiếc những kỷ niệm liên quan đến cái đó hoặc người đó. Khi bạn mất nhà vì bạn không có đủ tiền trả tiền nợ nhà, bạn vẫn thương yêu căn nhà bạn và vẫn có thể thấy nó mỗi khi bạn đi ngang qua, nhưng bạn không thể sống trong căn nhà đó. Bạn có cảm tưởng mất mát và thương yêu những kỷ niệm sống trong căn nhà. Cảm tưởng mất mát lại còn gia tăng hơn nếu chủ nhà mới phá hủy những gì bạn coi là thiêng liêng hoặc quý báu. Bạn đau lòng khi chủ mới bán vườn sau nhà cho người hàng xóm, bê trễ tưới nước cho vườn hoa từng đẹp đẽ và cây cối, hoặc không màng đến chăm sóc thảm cỏ trước nhà.

Tương tự, mất nước không hàm ý nước đã bị tiêu hủy, ngừng hiện hữu, hoặc bị xóa bỏ trên bản đồ thế giới. Khi người miền Nam Việt Nam, hải ngoại hay trong nước, nói họ mất nước, cái họ có ý nói là nước Nam Việt Nam không còn trong tầm với, kiểm soát, hoặc cảm giác thuộc về bởi vì nó đã bị chiếm đóng, kiểm soát, và cai trị bởi những người không xứng đáng và không có cùng các lý tưởng và giá trị như họ. Lòng yêu thương nước họ vẫn còn, nhưng họ có cảm tưởng mất mát vì nhóm người cầm quyền ngược đãi và lạm dụng dân và lãnh thổ, và hủy hoại những giá trị quí trọng với họ, như nhân quyền, tự do, và dân chủ.

Khái niệm trên về mất nước là khái niệm căn bản. Hầu như ai cũng biết. Kỳ lạ thay, ông Vũ dường như không biết, hoặc ông biết nhưng bỏ qua. Thay vào đó, khi lý luận rằng nước không bị mất, ông viết, "Thực vậy, cho đến nay Việt Nam vẫn có tên trên bản đồ thế giới, là thành viên Liên Hiệp Quốc, có quan hệ ngoại giao với nhiều nước trong đó có Hoa Kỳ, cho dù lãnh thổ đã bị Trung Quốc chiếm nhiều nơi, nhất là ở biển Đông."

Quái lạ là ông Vũ dựa vào các yếu tố như tên trên bản đồ thế giới và liên hệ ngoại giao với các nước khác là bằng chứng cho sự hiện hữu của một nước hay quốc gia, nhưng lại chối bỏ Nam Việt Nam là một nước hay quốc gia mặc dù trước ngày 30 tháng 4 năm 1975 Nam Việt Nam rõ ràng có tên trên bản đồ thế giới và có liên hệ ngoại giao với nhiều nước kể cả Hoa Kỷ, như đã thảo luận ở trên. Cái yếu tố duy nhất mà Nam Việt Nam (và cả Bắc Việt Nam) không có là thành viên trong LHQ. Nhưng nếu đó là ý ông Vũ, nghĩa là thành viên trong LHQ là điề̀u kiện duy nhất, hoặc quan trọng nhất, cho việc là quốc gia, thì theo như ông, Thụy Sĩ không là một quốc gia cho tới năm 2002 khi Thụy Sĩ trở thành thành viên LHQ. Đó rõ ràng là một kết luận không thích đáng. Quan trọng hơn, như thảo luận trên, ông Vũ mâu thuẫn với chính ông khi ông khẳng định Bắc Hàn và Nam Hàn là hai quốc gia hoặc nước trong chiến tranh từ 1950 tới 1953, mặc dù cả Bắc Hàn lẫn Nam Hàn đều không là thành viên LHQ cho tới năm 1991.

b. Mất nước cũng hàm ý không có hiện hữu vật chất khi nước Nam Việt Nam bị phe cộng sản miền Bắc chiếm đóng

Trong khi đa số người miền Nam Việt Nam nói đến mất nước với ý nghĩa tinh thần và tình cảm, cũng có người nói đến nó là sự thiếu thốn hiện hữu vật chất. Nhưng sự hiện hữu vật chất này không liên hệ đến đất đai, núi non, sông ngòi, biển cả, đảo, v.v. Thay vì vậy, nó liên hệ đến các khái niệm cụ thể về chủ quyền tài sản, quyền lợi, và các giá trị có biểu hiện cụ thể (thí dụ như quốc kỳ VNCH và quốc ca). Chữ "nước" trong "mất nước" hàm ý quốc gia có chủ quyển Nam Việt Nam, hoặc VNCH. Như thảo luận trên, VNCH là một nước hay quốc gia có chủ quyền, không những chỉ với người nước ngoài, mà còn hơn thế nữa với những công dân trước đây của Nam Việt Nam. 

Sự hiện hữu vật chất gồm có thẩm quyền cụ thể or quyền lực kiểm soát dân và lãnh thổ, sở hữu tài sản, và nhiều nữa. Cộng sản Việt Nam tấn công và chiếm đóng Nam Việt Nam bằng lực, lấy đi thẩm quyền và quyền lực, đặt sở hữu trên tài sản, tư và công. Đối với nhiều người Nam Việt Nam, mất nhà, đất đai, tài sản, tự do, khả năng bầu người đại diện trong việc quản trị nước, và các giá trị khác giống y như mất nước.

Tóm lại, quả thật có việc mất nước đối với người miền Nam Việt Nam, cho dù cảm tưởng mất mát này là tinh thần hay vật chất.

4. Ngày 30 tháng 4 là và lúc nào cũng sẽ là ngày quốc hận ngay cả sau khi chế độ cộng sản bị sụp đổ

Ta hãy trước hết giải quyết vài vấn đề về định nghĩa và dịch. Ý nghĩa của từ ngữ "quốc hận" quan trọng vì nó phản ảnh tâm trạng của người miền Nam, hải ngoại hay trong nước, về sự mất mát của quốc gia có chủ quyền VNCH. Ngoài ra, nó cũng phản ảnh thích đáng sự tưởng niệm ngày cuối cùng của quốc gia có chủ quyền VNCH và khởi đầu của giai đoạn đen tối nhất trong lịch sử Việt Nam. Tôi muốn nhấn mạnh là quốc gia có chủ quyền VNCH sụp đổ vào ngày 30 tháng 4 năm 1975, nhưng VNCH vẫn còn sống và phát huy mạnh mẽ là một nước, tuy bị chiếm đóng, và là một dân tộc, và sẽ trở thành quốc gia có chủ quyền lần nữa với toàn thể Việt Nam là lãnh thổ khi chế độ cộng sản sụp đổ trong tương lai rất gần.

a. Từ ngữ "ngày quốc hận" nên được dịch là "national day of hatred" vì nó mô tả chính xác nỗi căm hờn sâu đậm đối với cộng sản Việt Nam cho những gì chúng làm với Việt Nam.

Từ ngữ tiếng Anh "National Day of Hatred" là từ ngữ dịch sát nghĩa cho tiếng Việt "Ngày Quốc Hận." Nên để ý là "National Day of Hatred" theo đúng tiếng Anh hơn "National Hatred Day." Các từ ngữ dịch khác gồm có "National Shame Day" (hoặc "National Day of Shame") (Nguyen and Haines 1996, 320), "National Anger Day" (hoặc "National Day of Anger"), "National Day of Anger" (Trần Văn Tích), "Day of National Resentment," và "Day of Commemoration" (DiMaggio and Fernandez-Kelly 2010, 213). 

Trong tiếng Việt, chữ "quốc" có nghĩa "country" hay "nation." (Tôi sẽ thảo luận chi tiết hơn về định nghĩa của các chữ này trong bài kế tiếp.) Dùng là tính từ, "quốc" có nghĩa "national." Chữ "hận" hơi phức tạp hơn. Khi dùng một mình, nghĩa đen của nó gồm có "hatred," "resentment," "acrimony," "hostility," hoặc "animosity." Chữ "hận" cũng có thể được dùng là chữ phụ cho từ ngữ "ân hận" có nghĩa "regret," "repentance," hoặc "remorse." Tuy nhiên, từ ngữ "ân hận" ít khi được dùng với dạng thu ngắn thành một chữ "hận." Do đó, ta có thể dẹp ý nghĩa này sang một bên.

Chữ "hận" cũng có thể được dùng với chữ "thù" để thành chữ kép "thù hận" hay "hận thù." Tuy chúng có thể được dùng trong chữ kép, "hận" và "thù" có thể được dùng riêng rẽ với ý nghĩa tương tự. Cả "hận" lẫn "thù" đều hàm ý một sự thù ghét, căm hờn sâu đậm, nhưng chúng có chút khác biệt tinh tế. Sự khác biệt tinh tế này khó giải thích, ngay cả với người Việt. Vài thí dụ có thể giải thích việc này. "Thù," khi được dùng với một chữ chỉ người ("kẻ"), một nhóm người như lính ("quân"), một phe đảng ("phe"), có nghĩa "enemy." Thí dụ, "kẻ thù," "quân thù," "phe thù." Trong nội dung này, "thù" thường được dùng với chữ "nghịch" hay "địch" có nghĩa "adversary" hay "opponent" (đối phương, đối thủ, đối nghịch). Do đó, "thù" hàm ý một sự căm hờn sâu đậm rõ rệt, cụ thể, minh bạch cho một hành động được sẵn sàng công nhận là gây ra giận dữ, đau buồn, và thống khổ cho một người. Mặt khác, "hận" không bao giờ được dùng với "kẻ," "quân," hoặc "phe" để chỉ enemy. "hận" hàm ý một cái gì tiểm tàng hơn, trừu tượng hơn, nhưng vẫn có nỗi căm hờn sâu đậm. Một phụ nữ có thể "hận" người tình vì hắn bỏ cô đi theo một cô trẻ hoặc đẹp hơn. John có thể "hận" Steve vì không những Steve lấy cả mọi tài sản giàu có của John mà còn lấy luôn cả tình thương yêu của con cái John. Linda có thể "hận" David vì không những David giết cha mẹ cô, mà còn đào mồ mả tổ tiên Linda. Do đó, "hận" hàm ý một nỗi căm hờn, thù ghét sâu đậm, sắc bén, và hạn hẹp cho một hành động không những tạo ra giận dữ, đau thương, và cay đắng cho một người mà còn đụng chạm đến tình thương yêu cá biệt hoặc kho tàng thiêng liêng của người đó.

Trong bối cảnh những gì đám cộng sản Việt Nam đã làm với người Nam Việt Nam nói riêng, và người dân Việt nói chung, và trong ý nghĩa rộng rãi hơn, với tổ quốc Việt Nam, chữ "hận" là chữ thích hợp nhất.

Ta nên ghi chú là một chữ khác có thể dùng với chữ "thù" là "ghét." Hai chữ này có thể được dùng chung ̣để thành chữ ghép "thù ghét" (nhưng không bao giờ "ghét thù"). Động từ "ghét" có nghĩa "hate" hoặc "dislike." Cường độ của nó kém hơn "hận" hoặc "thù" rất nhiều và do đó không nên được dùng trong bối cảnh căm hờn hoặc thù sâu đậm.

Vì những ý nghĩa trên, "hận" không nên được dịch sang tiếng Anh là "anger" (giận dữ) hoặc "shame" (nhục nhã) mặc dù "anger" hoặc "shame" có thể chỉ những khía cạnh khác của "hận." Chữ đơn độc tiếng Anh hay nhất cho "hận" là "hatred" vì chữ đó ngắn gọn và dễ hiểu.

b. Qua việc coi ngang "quốc hận" với "mất nước," ông Vũ tầm thường hóa nỗi căm hờn sâu đậm và hận thù của dân Việt Nam đối với chế độ cộng sản.

Ông Vũ khai triển các lý luận về vấn đề Nam Việt Nam không phải là một nước hoặc quốc gia qua chính các hiến pháp và dự tính thống nhất. Đây có vẻ là trọng tâm của lý luận ông vì ông kết luận không có việc mất nước và không có Ngày Quốc Hận chỉ trên căn bản này thôi. Ông viết, "Cũng như vậy, không thể gọi ngày 30 tháng 4 là 'Ngày Quốc hận' vì đã không có chuyện 'mất nước' vào ngày đó." Thật đáng kể là ông Vũ quá đơn giản hóa vấn đề qua việc coi ngang ý nghĩa của "quốc hận" với "mất nước."

Qua việc nói rằng vì không có việc mất nước, nên không nên có quốc hận, ông Vũ hàm ý mất nước là lý do duy nhất cho nỗi quốc hận của người miền Nam Việt Nam. Tuy nhiên, ngay sau câu khẳng định này, ông Vũ viết, "Mặc dầu vậy, không thể phủ nhận oán hận của những người Việt từng phục vụ chính thể Việt Nam Cộng hòa và gia đình họ đối với chính quyền cộng sản Việt Nam là vô cùng lớn. Vậy đâu là nguyên nhân?" Nói cách khác, ông Vũ thừa nhận quả thật có sự oán ghét của người miền Nam với chế độ cộng sản hiện tại, nhưng ông không coi sự oán ghét này liên hệ tới ngày 30 tháng 4 năm 1975. Như được phân tích ở phần đầu bài này, câu này mở đầu cho phần thứ nhì bài luận ông Vũ. Ông Vũ rõ ràng tách rời hai phần qua việc tách "quốc hận" trong "ngày quốc hận" ra khỏi "nỗi oán hận của người Nam Việt Nam đối với chế độ cộ́ng sản hiện tại."

Ta có thể bác bỏ kết luận của ông Vũ rằng không có ngày quốc hận bằng cách chứng minh Nam Việt Nam quả thực là nước hay quốc gia và quả thật có việc mất nước khi cộng sản Việt Nam chiếm đóng Nam Việt Nam, như tôi đã làm ở trên. Tuy nhiên, có việc hay hơn là chỉ bác bỏ lý luận của ông Vũ. Bác bỏ kết luận của ông Vũ trên căn bản sự sai trái của nó thì hữu ích hơn.

Ông Vũ đồng ý việc dân miền Nam Việt Nam oán hận chế độ cộng sản, nhưng ông lại chối bỏ việc oán hận này liên hệ đến ngày 30 tháng 4. Ông Vũ dường như nói rằng không có liên hệ hai việc này vì ngày quốc hận kỷ niệm một ngày đặc biệt, đánh dấu sự sụp đổ của chế độ VNCH, trong khi nỗi oán hận của người miền Nam Việt Nam đối với chế độ cộng sản hiện nay là kết quả của nhiều năm hận thù đối với cách đối xử của chính quyền cộng sản xảy ta nhiều năm sau ngày 30 tháng 4 năm 1975. Quan điểm này sai lầm. Hai sự kiện này thực ra có liên hệ chặt chẽ qua ngày 30 tháng 4. Nếu quốc gia có chủ quyền VNCH không sụp đổ, thì sẽ không có việc cộng sản Việt Nam lộ nguyên hình là những kẻ tội phạm, phản bội Tổ quốc, áp bức hung bạo, và gian xảo.

Như tôi đã thảo luận trong bài trước về ý nghĩa lá cờ vàng của VNCH (Cao-Đắc 2014), tuyên truyền cộng sản luôn luôn nói rằng người miền Nam Việt Nam chống cộng, nhất là những cựu chiến sĩ VNCH, oán hận cộng sản Việt Nam vì họ (người miền Nam Việt Nam) thua trong cuộc chiến. Bằng cách mô tả những cựu chiến binh VNCH là những người thua trận cay cú, cộng sản Việt Nam cố tầm thường hóa nỗi căm hờn và oán hận mạnh mẽ đối với chế độ cộng sản.

Thua cuộc chiến không bao giờ là lý do cho nỗi oán hận của người Việt đối với phe thắng trong lịch sử Việt Nam và lại còn hơn thế nữa với người miền Nam Việt Nam sau tháng tư năm 1975. Lịch sử Việt Nam cho thấy mặc dù có nhiều cuộc nội chiến hàng nhiều thế kỷ, từ chiến tranh mười hai sứ quân vào thế kỷ thứ 10 tới cuộc chiến nhà Trịnh và nhà Nguyễn vào thế kỷ 17 và 18, và nhà Tây Sơn và nhà Nguyễn vào cuối thế kỷ 18 và đầu thế kỷ 19, dân Việt luôn luôn sống hòa thuận với nhau sau đó. Ngoài ra, số cựu chiến binh VNCH chỉ là số ít lúc ban đầu và đã suy giảm rất nhiều sau 40 năm. Những người bây giờ còn sống đang ở tuổi sáu mươi, bảy mươi, và tám mươi. Đa số muốn sống cuộc sống thanh bình. Nhiều người Việt chống cộng là hậu duệ của thế hệ thứ nhất của người miền Nam Việt Nam và họ không có trí nhớ hoặc kinh nghiệm về chiến tranh Việt Nam.

Người miền Nam chống cộng oán hận chế độ cộng sản không phải vì miền Nam Việt Nam thua trong cuộc chiến, nhưng vì cộng sản đối xử người Việt, Bắc hay Nam, với sự tàn nhẫn, tàn bạo, và áp bức. Quan trọng hơn, chế độ cộng sản cướp người dân, dung dưỡng tham nhũng, phá hại luân lý trong xã hội, phá hủy nền văn hóa, làm hư hại đất đai, phản bội tổ quốc, âm mưu bán nước cho Tàu cộng, tiêu hủy trí óc tuổi trẻ, lừa gạt dân với dối trá và giấu giếm, và phạm nhiều tội ác với nhân dân.

Ngày Quốc Hận không có tên đó ngay sau ngày 30 tháng 4 năm 1975. Phải qua nhiều năm trước khi các cộng đồng NVHN quanh thế giới trở nên ổn định trong xứ sở mới của họ. Sự tưởng niệm ngày 30 tháng 4 là Ngày Quốc Hận đã trở thành ngày càng kỹ lưỡng và hoàn chỉnh và có ý nghĩa khi càng có nhiều bằng chứng tội ác của ĐCSVN được biết vạch trần. Vào ngày đó, có diễn hành cho thấy các hoạt động và niềm hãnh diện của NVHN, hội họp tố cáo tội ác ĐCSVN với diễn văn và hình ảnh, các lễ tưởng niệm và cầu nguyện cho nạn nhân cộng sản và những người hy sinh cho tự do dân chủ, và các chương trình văn hóa khác.

Bằng cách nói rằng vì không có việc mất nước, không nên có ngày quốc hận, ông Vũ dường như nghĩ rằng các cộng đồng NVHN kỷ niệm ngày 30 tháng 4 là Ngày Quốc Hận vì ngày đó đánh dấu ngày cuối cùng của VNCH. Tuy ngày 30 tháng 4 quả là ngày quốc gia có chủ quyền VNCH sụp đổ, ngày 30 tháng 4 được gọi là Ngày Quốc Hận không phải chỉ vì biến cố này. Nó được gọi vậy chính yếu là vì nó đánh dấu khởi đầu của giai đoạn đen tối nhất trong lịch sử Việt Nam. Ngoài ra, tuy quốc gia có chủ quyền VNCH sụp đổ vào ngày 30 tháng 4 năm 1975, nước và dân tộc VNCH không bị hủy diệt. Trái lại, như tôi sẽ thảo luận trong một bài kế tiếp, VNCH vẫn sống và phát huy mạnh mẽ là một nước, tuy bị chiếm đóng, và một dân tộc.

Nếu sau sự sụp đổ của quốc gia có chủ quyền VNCH, ĐCSVN mang nước Việt Nam tới thịnh vượng, đối xử người dân với lòng kính trọng và nhân phẩm, tôn trọng nhân quyền và dân quyền, tôn trọng tự do và dân chủ thực sự, làm giảm tham nhũng, và hành xử với lòng can đảm đối với Tàu cộng, thì ngày 30 tháng 4 không bao giờ được gọi là Ngày Quốc Hận. Thực ra, dưới cảnh đó, chắc là nhiều NVHN sẽ nhiệt tình trở về Việt Nam để tham gia trong việc tái dựng quốc gia.

Mọi quốc gia trên thế giới đều hiểu rõ khái niệm của ngày quốc hận là ngày tưởng niệm sự khởi đầu của một giai đoạn nhục nhã, giận dữ, hoặc đen tối. Từ ngữ "Ngày Quốc Hận" cũng đã từng được dùng để kỷ niệm "những hành động tàn bạo của chế độ Khmer Đỏ cai trị nước trong 1975-1979"(Wikipedia 2015e). Từ ngữ "quốc hận" cũng đã được dùng để mô tả một biến cố lịch sử nào đó như nỗi thù hận của Tàu cộng đối với Nhật trong chiến tranh Tàu - Nhật, nhất là biến cố năm 1937 được biết đến là Cuộc Thảm Sát Vĩ Đại Nam Kinh (Chen 2010, 583; Yim 2013).

Sau 40 năm, ĐCSVN đã phá hủy đất nước và người dân Việt Nam. Ngày 30 tháng 4 quả thật là ngày đánh dấu giai đoạn đen tối nhất trong lịch sử Việt Nam. Do đó, ngày 30 tháng 4 được thích đáng gọi là Ngày Quốc Hận, cho dù sau này đất nước dẹp ĐCSVN và trở thành trù phú.

C. Kết Luận

Bài này bác bỏ phần đầu bài luận của Cù Huy Hà Vũ. Phần này đầy rẫy những sai lầm về đủ mọi khía cạnh, từ tiền đề, lý luận, và kết luận. Cái tiền đề về xâm lăng chỉ dính líu đến quốc gia là tiền đề sai lầm. Ngoài ra, lý luận của ông rằng Nam Việt Nam không phải là một nước hay quốc gia tự mâu thuẫn, là một ngụy biện, và sai lầm dưới tiêu chuẩn khách quan. Quan trọng hơn, kết luận của ông Vũ rằng không có việc mất nước và ngày 30 tháng 4 không nên là ngày quốc hận cho thấy sự kém hiểu biết của ông về cảm xúc mất mát và nỗi oán hận đối với chế độ cộng sản hiện nay của NVHN và dân Việt sống tại Việt Nam.

Ông Vũ lẽ ra có thể viết được một bài mạnh mẽ và có sức thuyết phục hơn nếu ông sửa đổi phần đầu và liên kết nó với phần sau theo luận lý. Ông lẽ ra có thể lý luận rằng cuộc xâm lăng của cộng sản Việt Nam vào miền Nam Việt Nam quả thật lấy đi tinh thần tự do và dân chủ của VNCH và gây ra cảm xúc mất nước to tát cho người miền Nam Việt Nam. Do đó, ngày 30 tháng 4 phải là Ngày Quốc Hận vì không những ngày đó đánh dấu thích đáng sự sụp đổ của quốc gia có chủ quyền VNCH mà còn là sự khởi đầu của giai đoạn đen tối nhất trong lịch sử Việt Nam như được cho thấy qua bằng chứng của sự tàn ác do cộng sản đặt lên người miền Nam Việt Nam ngay sau cuộc chiến và sự áp bức của toàn thể dân Việt từ ngày đó. Do đó, việc giải thể ĐCSVN là giải pháp hữu hiệu nhất để mang thịnh vượng tới Việt Nam và để làm mạnh mẽ thêm lòng yêu thương trong người dân Việt, từ Nam ra Bắc, mặc cho các nỗ lực chính quyền chia rẽ người dân và xuyên tạc lịch sử.


Cao-Đắc Tuấn
danlambaovn.blogspot.com

____________________________________

Tài liệu tham khảo:

Bennett, Bo. Không rõ ngày. Logically Fallcious. Không rõ ngày.
http://www.logicallyfallacious.com/index.php/logical-fallacies (truy cập 1-6-2015).

Cao-Đắc, Tuấn. 2014. Ý nghĩa lá cờ vàng của người Việt hải ngoại. 23-12-2014.
http://danlambaovn.blogspot.com/2014/12/y-nghia-la-co-vang-cua-nguoi-viet-hai_23.html (truy cập 31-5-2015).

Chen, Kuan-Hsing. 2010. Paik Nak-chung’s theory of overcoming ‘division system’: rethinking the China–Taiwan relation with reference to the two Koreas. Inter-Asia Cultural Studies, Volume 11, Number 4, 566-590.
http://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/14649373.2010.506779 (truy cập 31-5-2015).

Constitute. 2015. Korea (Republic of)'s Constitution of 1948 with Amendments through 1987. 11-3-2015.https://www.constituteproject.org/constitution/Republic_of_Korea_1987.pdf (truy cập 30-5-2015).

Cù Huy Hà Vũ. 2015. Tự do sẽ chấm dứt hận thù dân tộc. 14-5-2015.
http://www.voatiengviet.com/content/chhv-tu-do-se-cham-dut-han-thu-dan-toc/2767507.html (truy cập 26-5-2015).

DiMaggio, Paul and Fernandez-Kelly, Patricia. 2010. Art in the Lives of Immigrant Communities in the United State. Rutgers University Press, Piscataway, NJ. U.S.A.

History. Không rõ ngày. Sept 18, 1964. North Vietnamese Army begins infiltration. Không rõ ngày. http://www.history.com/this-day-in-history/north-vietnamese-army-begins-infiltration (truy cập 8-6-2015).

Nguyen, Hung Manh and Haines, David W. 1996. Vietnamese. Chapter 14 in“Refugees in America in the 1990s: A Reference Handbook,” by David W. Haines (Ed.). Greenwood Press, Westport, Connecticut, U.S.A.

Olsen, Mari. 2006. Soviet-Vietnam Relations and the Role of China, 1949-64: Changing Alliances. Routledge, New York, NY, U.S.A.

Sorley, Lewis. 1999. A Better War. Hartcourt, Inc. Orlando, Florida. U.S.A.

Trần Nhật Kim. 2015. 30 tháng 4 Là Ngày Quốc Hận của Dân Tộc. 4-2015.http://hon-viet.co.uk/TranNhatKim_30thangTuLaNgayQuocHanCuaDanToc.htm(truy cập 31-5-2015).

Trần Văn Tích. Không rõ ngày. Ngày Quốc Hận "in English". Không rõ ngày. Diễn Đàn Cựu Sinh Viên Quân Y. http://svqy.org/2013/5-2013/ngayquochan.html (truy cập 31-5-2015).

Wikipedia. 2015a. Invasion. 18-5-2015. http://en.wikipedia.org/wiki/Invasion (truy cập 28-5-2015).

_________. 2015b. Constitution. 5-6-2015.http://en.wikipedia.org/wiki/Constitution (truy cập 6-6-2015).

_________. 2015c. List of former sovereign states. 28-5-2015.
http://en.wikipedia.org/wiki/List_of_former_sovereign_states#Southeast_Asia(truy cập 29-5-2015).

_________. 2015d. South Vietnam. 27-5-2015.http://en.wikipedia.org/wiki/South_Vietnam (truy cập 31-5-2015).

_________. 2015e. Day of Remembrance (Cambodia). 20-5-2015.
http://en.wikipedia.org/wiki/Day_of_Remembrance_%28Cambodia%29 (truy cập 31-5-2015).

_________. 2015f. Easter Offensive. 8-6-2015.http://en.wikipedia.org/wiki/Easter_Offensive (truy cập 8-6-2015).

Yim, Tsz Kwan. 2013. China’s Reinterpretation of Nanjing Massacre1937. 2-12-2013.
https://ccpc.asian.lsa.umich.edu/chinas-reinterpretation-of-nanjing-massacre/ (truy cập 31-5-2015).

© 2015 Cao-Đắc Tuấn