Wednesday, April 22, 2015

Di sản của chủ nghĩa thực dân


Nguyễn Hưng Quốc
Theo VOA-23.04.2015
Chủ nghĩa thực dân, dưới hình thức cổ điển hay hiện đại, ở Tây phương hay ở Đông phương, bất kể những sự dị biệt về lịch sử và văn hoá, đều có một bản chất giống nhau: ăn cướp. Có hai hình thức ăn cướp chính: thứ nhất, ăn cướp chủ quyền, từ đó, ăn cướp tài nguyên và nhân lực của nước khác; thứ hai, ăn cướp tâm hồn của người dân thuộc địa. Biện pháp để thực hiện cuộc ăn cướp thứ nhất chủ yếu là quân sự; biện pháp để thực hiện cuộc ăn cướp thứ hai chủ yếu là tuyên truyền. Công việc tuyên truyền thường có hai nội dung chính: thứ nhất, văn minh chỉ xuất hiện ở các thuộc địa cùng lúc với sự xuất hiện của thực dân; và thứ hai, gắn liền với điều đó, lịch sử tiền-thực dân ở các quốc gia thuộc địa chỉ là lịch sử của sự mông muội.

Người Việt Nam thường nói chủ nghĩa thực dân theo kiểu cổ điển đã bị đánh bại ở Việt Nam vào năm 938, và sau đó, một lần nữa, vào năm 1428; chủ nghĩa thực dân theo kiểu hiện đại đã bị đánh bại ở Việt Nam vào năm 1945, hoặc trễ hơn một chút, vào năm 1954. Nhưng theo tôi, không phải. Ở bất cứ thời điểm nào kể trên, chủ nghĩa thực dân cũng chỉ bị đánh bại ở âm mưu thứ nhất mà thôi, âm mưu ăn cướp chủ quyền, tài nguyên và nhân lực. Còn âm mưu thứ hai thì cả Trung Hoa lẫn Pháp đều thành công trọn vẹn: sau các thành tích vang dội trên mặt trận quân sự, chúng ta thường chào mừng chiến thắng với rất nhiều thương tích và dị tật trong tâm hồn. Kẻ thù đã rút lui, nhưng cái bóng của họ vẫn tiếp tục ngả trùm lên cuộc đời của chúng ta, đè nặng lên tâm hồn chúng ta, và hằn sâu vào trang viết của chúng ta. Trong cả đời sống tình cảm lẫn đời sống trí tuệ, chúng ta chỉ quanh quẩn mãi với một trong hai phản ứng: tuân phục hay kháng cự lại cái bóng ấy. Làm như lúc nào kẻ thù cũng đang hiện diện sừng sững trước mặt. Khiến cho văn học Việt Nam, từ trước đến nay, theo tôi, thành thực mà nói, bao giờ cũng có cái vẻ gì như một nền văn học thuộc địa hoặc hậu thuộc địa.

Không đâu tính chất thuộc địa lại được thể hiện rõ rệt cho bằng văn học trung đại Việt Nam. Sau khi đánh bại quân Nam Hán vào năm 938, mặc dù vẫn phải triều cống Trung Hoa, nhưng trên nguyên tắc, Việt Nam đã là một quốc gia độc lập: chúng ta có triều đình riêng, có quân đội riêng, hoàn toàn làm chủ trên lãnh thổ của mình. Hơn nữa, chúng ta còn là những ông chủ cực kỳ mạnh mẽ, liên tục đánh bại nhiều âm mưu xâm lấn của ngoại bang, kể cả một đế quốc hung hãn, từng dẫm nát bản đồ châu Á và một phần châu Âu: Mông Cổ. Thế nhưng, mặt khác, ông chủ ấy lại cực kỳ khiêm tốn: chỉ dành và giữ độc lập về chính trị mà thôi, còn ở những lãnh vực khác thì vẫn tiếp tục thần phục Trung Hoa, lúc nào cũng rập khuôn Trung Hoa, nhất nhất đều bắt chước Trung Hoa, từ cách tổ chức chính quyền đến cách học hành và thi cử, từ văn tự đến các nguồn thư tịch, từ tôn giáo đến triết học, từ luật pháp đến nghi lễ, v.v...

Ở những lãnh vực này, trước và sau những chiến thắng vang dội về quân sự, dường như không có gì thay đổi cả. Cứ thế, kéo dài cả ngàn năm. Thảng hoặc, chúng ta nghe nói có ai đó hoài nghi kinh điển Nho giáo hay muốn dùng chữ Nôm như một văn tự chính thức. Nhưng chỉ thảng hoặc. Và bao giờ cũng dừng lại ở một giới hạn nào đó: ngay cả những người yêu chữ Nôm nhất cũng không dám nghĩ đến việc dùng chữ Nôm để thay thế hẳn cho chữ Hán; ngay cả những người có tinh thần độc lập nhất cũng không dám vượt qua những lời giảng dạy của các bậc thánh hiền Trung Hoa hầu tìm cho mình một chân trời tư tưởng riêng biệt; và ngay cả những người giàu tinh thần sáng tạo nhất cũng không dám vượt ra khỏi những hệ thẩm mỹ đã trở thành khuôn sáo từ xưa.

Tại sao có hiện tượng nghịch lý như vậy? Tại sao những con người rất mực kiên cường trong lãnh vực chính trị lại dễ dàng bị khuất phục về phương diện văn hoá như vậy?

Theo tôi, câu trả lời không đến nỗi quá phức tạp. Chúng ta hay nói đến sự kiện nền Bắc thuộc kéo dài đến hơn một ngàn năm và hay đề cao lòng quật cường của cha ông chúng ta, những kẻ không những không bị đồng hoá mà còn, cuối cùng, đã đứng dậy quật ngã được kẻ thù lớn và mạnh hơn mình gấp bội. Những sự kiện và những niềm tự hào ấy nhất định là đúng. Nhưng chúng ta lại hay quên những sự thực khác, chẳng hạn, cảnh nô lệ không phải là cái gì nhẹ nhàng để có thể tan biến dễ dàng và nhanh chóng ra khỏi ký ức của con người, nhất là cảnh nô lệ ấy lại quá lâu, lâu dằng dặc, đến hơn một ngàn năm, tức một nửa chiều dài của lịch sử dân tộc. Trong cảnh cùng khốn và có khi tuyệt vọng như vậy, lòng tự tin của cha ông chúng ta làm sao tránh khỏi bị sứt mẻ? Làm sao họ không sợ hãi và ít nhiều thần phục kẻ thù?

Đấu tranh để dành độc lập trong tình trạng tâm lý ấy, dù muốn hay không, một cách có thể là vô ý thức, người ta phải tự động thu hẹp nội hàm khái niệm độc lập đến mức tối đa, cho phù hợp với thực tế, như một cách hạ tầm hy vọng của mình, giảm bớt ước mơ của mình. Đến lúc nào đó, đối với người Việt Nam, độc lập chỉ có nghĩa là có chủ quyền riêng và phong tục riêng trên lãnh thổ của mình. Trong "Bình Ngô Đại Cáo" viết thay cho Lê Lợi, Nguyễn Trãi chỉ nhấn mạnh hai yếu tố ấy: "Núi sông bờ cõi đã riêng / Phong tục Bắc Nam cũng khác". Sau này, trong hịch đánh quân Thanh, Quang Trung cũng chỉ nhấn mạnh đến hai yếu tố ấy: "Đánh cho để dài tóc / Đánh cho để đen răng / Đánh cho nó chích luân bất phản / Đánh cho nó phiến giáp bất hoàn / Đánh cho sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ."

Có thể nói chính cách hiểu khái niệm độc lập một cách hạn chế và thực tế như vậy đã cắt nghĩa lý do tại sao cha ông chúng ta có thể là những con người anh hùng và những kẻ nô lệ cùng một lúc; tại sao cha ông chúng ta vừa mới đánh bại Trung Hoa lại vừa có thể thanh thản chấp nhận làm những đứa học trò nhỏ của Trung Hoa ngay tức khắc; tại sao họ có thể vừa căm thù Trung Hoa như một đế quốc đầy tham vọng và dã tâm vừa không ngớt ngưỡng mộ Trung Hoa như một trung tâm của văn minh nhân loại. Hậu quả là, nhìn từ một góc độ nào đó, trong suốt hơn hai ngàn năm, từ trước Công nguyên cho đến hết thế kỷ 19, chúng ta chưa bao giờ thoát được cảnh Bắc thuộc: nửa đầu Bắc thuộc về chính trị và văn hoá; nửa sau, về văn hoá.

Hơn nữa, chỉ cần nhớ lại những lời tuyên bố của ông Hồ Chí Minh, người lãnh đạo tối cao của cả Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Pháp và của miền Bắc trong giai đoạn gọi là xây dựng chủ nghĩa xã hội, những lời tuyên bố, đại khái: ông ta có thể sai lầm, nhưng Mao Trạch Đông thì không (1); hoặc, về mặt chính trị, ông ta "không còn gì để viết nữa vì ông Mao đã viết tất cả rồi" (2), chúng ta đủ thấy là dấu vết của tình trạng Bắc thuộc về văn hoá chưa phải đã chấm dứt hẳn.

***

Chú thích:

Trong một đoạn di bút in trong Hoài Thanh Toàn Tập (Từ Sơn sưu tập), tập 4, nxb Văn Học, Hà Nội, 1999, tr. 849, Hoài Thanh viết: "Lại có lần ở Việt Bắc, vào khoảng năm 1952, tôi được nghe Bác nói trong một lớp chỉnh huấn: 'Bác có thể sai, Trung Ương có thể sai. Nhưng đồng chí Mao Trạch Đông, đồng chí Xtalin thì không thể sai'."
Olivier Todd (1990), Ho Chi Minh, l'homme et son héritage, Duong Moi, Paris, tr. 180 (Dẫn theo Võ Nhân Trí, "'Tư tưởng Hồ Chí Minh' về chủ nghĩa xã hội có mâu thuẫn gì với chính sách 'đổi mới' không?" in trong cuốn Đảng Cộng sản trước thực trạng Việt Nam, Đường Mới biên tập và xuất bản tại Paris năm 1994, tr. 64.)
* Blog của Tiến sĩ Nguyễn Hưng Quốc là blog cá nhân. Các bài viết trên blog được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ.

TQ bênh vực hành động tấn công tàu cá Philippines ở Biển Đông

Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc Hồng Lỗi.
Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc Hồng Lỗi.
Theo VOA-22.04.2015
Bắc Kinh hôm thứ Tư lên tiếng bênh vực những hành động của các tàu Trung Quốc trong vùng biển tranh chấp ở Biển Đông, sau khi Manila tố cáo lực lượng tuần duyên Trung Quốc dùng vòi rồng tấn công các tàu đánh cá Philippines.

Hãng tin Reuters hôm nay tường thuật rằng phía Trung Quốc còn kêu gọi Manila hãy tăng cường công tác ‘giáo dục’ ngư dân Philippines về cuộc tranh chấp này.

Trước đó, các ngư dân Philippines tố cáo lực lượng tuần duyên Trung Quốc đã leo lên tàu của họ, vất xuống biển các thiết bị đánh cá và cả số lượng cá mà họ đã đánh bắt được. Vụ việc này xảy ra hôm thứ Hai tại một bãi cạn đang trong vòng tranh chấp giữa hai nước.

Reuters thuật lại lời một ngư dân 58 tuổi từ tỉnh Pangasinan của Philippines, ông Gilbert Baoya, nói rằng nhiều người đàn ông vũ trang thuộc đội tuần duyên Trung Quốc đã cắt giây thừng buộc thuyền đánh cá của ông neo tại bãi cạn này. Ông cho biết là ông và những người có mặt rất sợ hãi, và hoàn toàn bất lực trước hành động hung hăng này.

Phủ Tổng Thống Philippines nói hôm thứ Hai 20/4, tàu tuần duyên Trung Quốc đã phun vòi rồng để xua đuổi một nhóm ngư dân Philippines tại bãi cạn Scarborough,  làm hư hại một số thuyền gỗ của họ. Cách đây vài tháng, các tàu của Trung Quốc cũng đã đâm va một thuyền đánh cá ở khu vực này.

Người phát ngôn của Bộ Ngoại giao Trung Quốc không trực tiếp xác nhận liệu vòi rồng đã được sử dụng hay không. Ông Hồng Lỗi rằng các tàu của nhà nước Trung Quốc trong các vùng biển gần đảo Hoàng Nham- tên gọi của Trung Quốc cho bãi cạn Scarborough, đã làm nhiệm vụ của họ trong các vùng biển liên hệ, một cách hợp pháp.

Ông Hồng Lỗi nói rằng nhiều tàu đánh cá Philippines hồi gần đây đã không tuân lệnh của chính quyền Trung Quốc, tụ tập bất hợp pháp trong các vùng biển gần đảo Hoàng Nham, ‘vi phạm chủ quyền Trung Quốc và các quyền, cùng các lợi ích biển của Trung Quốc’. Rồi ông đòi hỏi Philippines phải tăng cường công tác giáo dục và kiểm soát ngư dân nước mình, phải ngưng tất cả những hành động vi phạm chủ quyền, và các lợi ích của Trung Quốc.

Bãi cạn Scarborough nằm cách căn cứ hải quân cũ của Mỹ khoảng 130 dặm ở phía tây bắc Manila. Năm 2012, Trung Quốc chiếm quyền kiểm soát bãi cạn này, và cấm các ngư dân Philippines đánh cá trong vùng biển giàu tài nguyên hải sản này.

Nguồn: Reuters, Bloomberg.

40 năm sau Chiến tranh Việt Nam: Ai vui, ai buồn?

Nhiều người tị nạn Việt Nam lúc đầu đã đặt chân tới một trại tị nạn dựng lên tại căn cứ thủy quân lục chiến Camp Pendleton ở miền nam California.
Nhiều người tị nạn Việt Nam lúc đầu đã đặt chân tới một trại tị nạn dựng lên tại căn cứ thủy quân lục chiến Camp Pendleton ở miền nam California.
VOA Tiếng Việt
21.04.2015
Sau khi phải hủy bỏ kế hoạch kỷ niệm ngày 30/4 tại một căn cứ thuỷ quân lục chiến ở Nam California, người Mỹ gốc Việt ở tiểu bang California giờ đã tìm được một địa điểm mới, nơi họ có thể treo cờ và hát quốc ca Việt Nam Cộng hòa.

Hàng nghìn người đã bỏ chạy khỏi tổ quốc để tới Mỹ, và nhiều người trong số đó ban đầu đã đặt chân tới một trại tị nạn dựng lên tại căn cứ thuỷ quân lục chiến gọi là Camp Pendleton ở miền nam California.

Ông Jason Johnston, phát ngôn viên của căn cứ này, cho biết các quan chức tai trụ sở của lực lượng thuỷ quân lục chiến Mỹ nói rằng lá cờ của miền nam Việt Nam trước đây không thể được treo lên tại các cơ quan liên bang vì chính phủ Mỹ chỉ công nhận chính quyền Việt Nam hiện thời.

"Trong chương trình buổi lễ tại địa điểm mới này quốc kỳ và quốc ca Việt Nam (Cộng hòa) sẽ được tôn trọng và tôn vinh với các nghi thức nghi lễ của chương trình. Mục đích chính nữa là muốn cho giới trẻ Việt Nam biết và hiểu rõ rằng từ đâu mà người Việt Nam có mặt ở Hoa Kỳ, và hiểu rõ hơn về những thành quả, những đóng góp của người Việt trong 40 năm."-Ông Nguyễn Khanh, phát ngôn viên ban tổ chức lễ kỷ niệm 30/4.

Nay thì buổi lễ sẽ được tiến hành tại một trường trung học ở thành phố Garden Grove vào ngày 25/4 tới đây.

Ông Nguyễn Khanh, phát ngôn viên của Ban tổ chức sự kiện này cho VOA Việt Ngữ biết thêm chi tiết:

“Ban tổ chức dời địa điểm về trường trung học Bolsa Grande ở thành phố Garden Grove. Đề tài của chương trình đã đổi từ “Hành trình đến tự do và vươn tới” thành “Ngày tưởng niệm quốc hận năm thứ 40”, năm thứ 40 sau chiến tranh Việt Nam, miền nam Việt Nam rơi vào tay cộng sản và hàng trăm người tị nạn Việt Nam đã rời Việt Nam để tìm đến bến bờ tự do. Chắn chắn trong chương trình buổi lễ đó tại địa điểm mới này quốc kỳ và quốc ca Việt Nam (Cộng hòa) sẽ được tôn trọng và tôn vinh với các nghi thức nghi lễ của chương trình. Mục đích chính nữa là muốn cho giới trẻ Việt Nam biết và hiểu rõ rằng từ đâu mà người Việt Nam có mặt ở Hoa Kỳ, và hiểu rõ hơn về những thành quả, những đóng góp của người Việt trong 40 năm.”

Ban tổ chức cho biết, dự trù sẽ có từ 5.000 tới 10.000 người tham gia lễ kỷ niệm đánh dấu sự kiện mà nhiều người ở Mỹ gốc Việt hiện gọi là “ngày quốc hận”.

Trong khi đó tại Việt Nam, chính quyền sẽ tổ chức diễu binh và diễu hành với sự tham gia của hàng nghìn người tại TP HCM để đánh dấu ngày được gọi là “thống nhất đất nước”.

Ngoài ra, kế hoạch kỷ niệm được đích thân Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng phê duyệt còn bao gồm các hoạt động văn hóa và bắn pháo hoa tại nhiều địa điểm ở nơi từng được gọi là ‘Hòn ngọc Viễn Đông”.

Bình luận về các hoạt động rầm rộ này, luật sư Lê Công Định viết trên trang Facebook cá nhân: “Chiến thắng đồng bào ruột thịt mà diễu binh lớn để làm gì, hoà giải dân tộc kiểu này ư? Nói và làm khác xa nhau bởi suy nghĩ không đúng như lời, nó thể hiện ở hành động”.

Nhà bất đồng chính kiến này viết tiếp: “Cứ gợi nhớ quá khứ đau thương bằng những buổi lễ hống hách như vậy, thì trách chi bên kia luôn nhắc đến ngày ấy như ngày quốc hận. Muốn người khác quên thù hận và gác lại quá khứ, thì chính mình phải vượt qua sự cao ngạo của kẻ chiến thắng”.

"Chủ nghĩa này, chủ nghĩa kia, đã chia người Việt ra làm hai phía, và vì vậy đã xảy ra cuộc chiến. Vì vậy, bây giờ là lúc các anh chị em nên ngồi lại với nhau để mà cùng khôi phục lại đất nước. Nhưng muốn có tự do dân chủ, và khôi phục đất nước thì phải đấu tranh để chấm dứt sự độc tài của chính quyền cộng sản. Lúc đó mới hy vọng được rằng chúng ta cùng nhau xây dựng đất nước được,"-Blogger Điếu Cày.

Trong khi đó, nhận định về tiến trình hòa giải dân tộc, blogger Điếu Cày nói với VOA Việt Ngữ từ Mỹ:

“Cái chủ nghĩa này, chủ nghĩa kia, đã chia người Việt ra làm hai phía, và vì vậy nó đã xảy ra cuộc chiến. Vì vậy, bây giờ là lúc các anh chị em nên ngồi lại với nhau để mà cùng khôi phục lại đất nước. Nhưng muốn có tự do dân chủ, và khôi phục đất nước thì phải đấu tranh để chấm dứt sự độc tài của chính quyền cộng sản. Lúc đó mới hy vọng được rằng chúng ta cùng nhau xây dựng đất nước được, bởi vì hiện nay họ vẫn cho rằng chỉ có họ mới có quyền lãnh đạo đất nước. Như ông Võ Văn Kiệt đã nói, nước Việt Nam là của tất cả người dân Việt Nam. Mỗi người dân Việt Nam đều có quyền đóng góp và tham gia điều hành đất nước. Nước Việt Nam không phải của riêng một cá nhân hay tổ chức chính trị nào.”

Trong chuyến thăm Hoa Kỳ năm ngoái, tại Tòa Bạch Ốc, Tổng thống Barack Obama và Chủ tịch Trương Tấn Sang đánh giá cao vai trò của Việt Kiều tại Mỹ trong mối quan hệ song phương.

Tổng thống Obama nói cộng đồng này là ‘một trong những nguồn sức mạnh lớn giữa hai nước’ và là ‘chất keo dính bền chặt cho quan hệ của bất kỳ hai quốc gia nào’.

Đáp lại, ông Sang cũng ngỏ lời cảm tạ chính phủ Hoa Kỳ về ‘sự chăm sóc hết sức chu đáo’ đối với người Mỹ gốc Việt hàng chục năm qua.

Trong khi hai nhà lãnh đạo phát biểu, bên ngoài Tòa Bạch Ốc, hàng trăm người gốc Việt hô to các khẩu hiệu phản đối tình trạng vi phạm nhân quyền ở trong nước - một vấn đề ông Sang thừa nhận rằng Hà Nội và Washington vẫn còn nhiều điểm khác biệt.

Trả lời VOA Việt Ngữ khi ấy, nhà lãnh đạo Việt Nam bày tỏ mong muốn rằng người Mỹ gốc Việt sẽ làm “cầu nối” nhằm thúc đẩy mối quan hệ Hà Nội - Washington.

Đài Loan 'vẫn chờ VN bồi thường'

Theo BBC-6 giờ trước
Biểu tình chống Trung Quốc tháng 5 năm 2014 ở Việt Nam biến thành bạo lực ở nhiều nơi
Người đại diện của Đài Loan tại Việt Nam than phiền doanh nghiệp Đài Loan vẫn chưa nhận được bồi thường đầy đủ, gần một năm sau vụ bạo động chống Trung Quốc.
Ông Hoàng Chí Bằng, Trưởng Đại diện Văn phòng Kinh tế và Văn hóa Đài Bắc tại Hà Nội, nói văn phòng của ông không khuyến khích người Đài Loan đầu tư tại Việt Nam để phản đối.
Theo Central News Agency (CNA), hãng tin của chính phủ Đài Loan, ông Hoàng bày tỏ hy vọng căng thẳng song phương sẽ giảm, sau ba vòng đàm phán về vấn đề bồi thường trong năm qua.
Bà Lưu Minh Đức, đại diện của Tổng hội Thương gia Đài Loan, nói doanh nghiệp Đài Loan rất không hài lòng về cách ứng xử của chính phủ Việt Nam.
Theo bà, chưa công ty nào nhận được bồi thường tiền mặt và các nhà đầu tư Đài Loan cho rằng việc này giờ đây là bất khả.
Bà nói thêm các nạn nhân bạo lực cũng không nhận được bồi thường đầy đủ từ các công ty bảo hiểm.
Bạo lực xảy ra ngày 13/5 năm ngoái, khi nhiều đám đông ở Việt Nam xuống đường và đập phá các cơ sở kinh tế nhân việc Trung Quốc kéo giàn khoan Hải Dương 981 vào vùng biển Việt Nam tuyên bố chủ quyền.

Chiến tranh, thống nhất và tương lai

Việt Nam là một trong 10 nước kiểm duyệt báo chí nhiều nhất thế giới

Việt Hà, phóng viên RFA
2015-04-21  
Việt Nam là một trong 10 nước có tên trong danh sách bị coi là kiểm duyệt nhiều nhất thế giới.
Việt Nam là một trong 10 nước có tên trong danh sách bị coi là kiểm duyệt nhiều nhất thế giới. CPJ.org

Ngày 21 tháng 4 năm nay, Ủy ban bảo vệ Ký giả (CPJ) có trụ sở tại Hòa Kỳ, công bố danh sách 10 nước bị coi là kiểm duyệt nhiều nhất thế giới. Việt Nam là một trong 10 nước có tên trong danh sách. Việt Hà phỏng vấn nhà báo Shawn Crispin, phóng viên cao cấp khu vực Đông Nam Á,  đại diện cho CPJ trong khu vực về báo cáo này. Trước hết nói về những tiêu chí mà CPJ sử dụng để quyết định đưa một nước vào danh sách những nước có kiểm duyệt nhiều nhất, nhà báo Shawn Crispin cho biết:

Shawn Crispin:  danh sách những nước kiểm duyệt nhiều nhất dựa trên một loạt các tiêu chí khác nhau bao gồm sự thiếu vắng của truyền thông độc lập, liệu chính phủ có chặn các trang web hay không, có các hạn chế đối với những ghi âm và phát tán thông tin điện tử hay không, liệu có những giấy phép cho phép hành nghề báo chí không, có những hạn chế trong việc đi lại của phóng viên không, giới chức có giám sát một số những phóng viên và blogger  nhất định ở Việt Nam  hay không, liệu giới chức có cấm các phóng viên nước ngoài vào đưa tin không.

Đó là những loại tiêu chí mà chúng tôi sử dụng để đánh giá những nước nằm trong danh sách, và trong trường hợp Việt Nam thì đã có một loạt những vi phạm đối với một loạt những tiêu chí này. Điều này đã xảy ra trong một thời gian. Khi chúng tôi làm công tác đánh giá, chúng tôi thấy theo luật truyền thông mới vào năm 1999, tất cả các cơ sở truyền thông của Việt Nam phải hoạt động như là những cơ quan phát ngôn của đảng. Trong khi đó, chính phủ cấm sự xuất hiện của những cơ sở truyền thông độc lập. Đó là những tiêu chí mà chúng tôi sử dụng để đánh giá và Việt Nam có thiếu sót trên một loạt các tiêu chí này. Điều này đã khiến Việt Nam bị đưa vào danh sách.

Việt Hà: Vấn đề đàn áp tự do thông tin báo chí tại Việt nam đã được đề cập từ nhiều năm nay. Vậy trong báo cáo lần này, CPJ thấy có những điểm gì đáng chú ý tại Việt Nam so với trước đó?

"Chúng tôi thấy theo luật truyền thông mới vào năm 1999, tất cả các cơ sở truyền thông của VN phải hoạt động như là những cơ quan phát ngôn của đảng. Trong khi đó, chính phủ cấm sự xuất hiện của những cơ sở truyền thông độc lập. Đó là những tiêu chí mà chúng tôi sử dụng để đánh giá và VN"-Shawn Crispin

...Chúng tôi thấy theo luật truyền thông mới vào năm 1999, tất cả các cơ sở truyền thông của Việt Nam phải hoạt động như là những cơ quan phát ngôn của đảng. Trong khi đó, chính phủ cấm sự xuất hiện của những cơ sở truyền thông độc lập. Đó là những tiêu chí mà chúng tôi sử dụng để đánh giá và Việt Nam

Shawn Crispin: điều mà chúng tôi đang có quan ngại gia tăng là việc chính phủ Việt Nam sử dụng điều 258 bộ luật hình sự cho phép việc bắt bỏ tù những phóng viên và blogger vì cáo buộc lạm dụng quyền tự do dân chủ. Chúng tôi để ý thấy đây là luật chống lại nhà nước và đã được sử dụng ngày càng nhiều đối với các nhà báo và blogger để bóp nghẹt và đe dọa họ với những án tù. Đã có những blogger bị bỏ tù theo điều luật này, với án tù lên đến 7 năm. Đây là một xu hướng đáng ngại đang gia tăng. Trước đó thì chính phủ hay sử dụng điều 79 bộ luật hình sự đối với nhà báo vì cáo buộc tuyên truyền chống phá nhà nước. Bây giờ họ sử dụng điều luât mới và nó cũng không rõ ràng, với mục đích để bóp nghẹt các nhà báo độc lập trong nước muốn chỉ trích. Nó được sử dụng ngày một nhiều đối với những blogger dũng cảm dám viết những bài mà truyền thông chính thống không viết. Đây là một xu hướng đáng lo ngại hơn theo như nghiên cứu của chúng tôi.


Trong một tuần lễ có đến hai blogger bị bắt giữ, mà hai người này lại là những người có ý kiến phản biện ôn hòa trên trang blog của họ.

Việt Hà: theo báo cáo mới của CPJ, Việt Nam là một trong những nước bỏ tù nhà báo tồi tệ nhất thế giới với ít nhất 16 nhà báo đang bị giam giữ. Theo ông những biện pháp đàn áp gay gắt với tự do báo chí và các nhà báo như vậy của chính phủ có ảnh hưởng thế nào tới việc tiếp cận thông tin của người dân Việt Nam hiện nay?

Shawn Crispin: bất chấp những đàn áp mạnh mẽ đối với các blogger độc lập và một số nhà báo làm cho truyền thông chính thống nhưng muốn lên tiếng vượt qua giới hạn, bất chấp con số cao những nhà báo bị bỏ tù, vẫn có những blogger dũng cảm muốn dấn thân. Chúng tôi để ý thấy sự xuất hiện của một số các blog như Dân Làm Báo chẳng hạn đưa các tin về chính trị, nhân quyền và các vấn đề khác mà truyền thông chính thống tránh. Mặc dù chính phủ chặn trang web này trong nước nhưng người dân vẫn tìm được cách truy cập. Nhiều trang blog bị hạn chế mà người dân vẫn vào được. Cho nên rõ ràng đây là một công việc đầy nguy hiểm nhưng dường như những trang blog này đang cung cấp các phân tích và chỉ trích về chính trị vẫn đang thu hút được ngày càng đông độc giả, bất chấp những ngăn chặn từ chính phủ.

"Điều mà chúng tôi đang có quan ngại gia tăng là việc chính phủ Việt Nam sử dụng điều 258 bộ luật hình sự cho phép việc bắt bỏ tù những phóng viên và blogger vì cáo buộc lạm dụng quyền tự do dân chủ. Chúng tôi để ý thấy đây là luật chống lại nhà nước và đã được sử dụng ngày càng nhiều"-Shawn Crispin

Việt Hà: với việc Việt Nam hội nhập với thế giới, gia nhập các diễn đàn, và chính Thủ tướng Việt Nam gần đây cũng đề cập đến quyền tiếp cận thông tin của người dân, đã có suy nghĩ cho rằng có thể đó là những dấu hiệu tích cực cho việc cởi mở hơn đối với vấn đề tự do thông tin và báo chí tại Việt Nam trong tương lai. Ông đánh giá thế nào về quan điểm này?

Shawn Crispin: đó đã là một mong muốn trong một thời gian. Việt nam đang dần dần hội nhập vào cộng đồng thương mại quốc tế trong 2 thập niên gần đây. Nhưng điều mà chúng tôi thấy là bất chấp sự mở cửa về kinh tế gia tăng, chính phủ do đảng cộng sản lãnh đạo vẫn duy trì sự kiểm soát chặt chẽ thông tin. Tự do dân chủ đã không đi đôi với tự do kinh tế. Tôi nghĩ nhiều người trước đó đã có hy vọng khi Việt Nam gia nhập tổ chức Thương Mại Thế giới (WTO), hòa nhập hơn vào thương mại toàn cầu thì sẽ dẫn đến sự tự do thông tin hơn trong nước nhưng nó đã không xảy ra. Dường như Việt Nam đang ngày càng theo chân Trung Quốc, tức là mở cửa kinh tế nhưng vẫn đàn áp thông tin. Việt nam đang theo chân Trung Quốc là nước cũng nằm trong danh sách 10 nước kiểm duyệt nhiều nhất thế giới và là nước bỏ tù nhiều phóng viên nhất trên thế giới vào năm ngoái.

Việt Hà: với việc đưa ra báo cáo lần này về Việt Nam, CPJ mong muốn đạt được điều gì trong việc giúp Việt Nam hướng tới con đường tự do báo chí và thông tin hơn?

Shawn Crispin: chúng tôi đã gióng lên tiếng chuông báo động về tình trạng đàn áp báo chí ở Việt Nam trong nhiều năm. Hy vọng của chúng tôi là bằng việc tiếp tục chiếu rọi ánh sáng vào sự đàn áp của chính quyền thì cuối cùng họ sẽ thay đổi. Chúng tôi nói chuyện với nhiều chính phủ phương tây, cố gắng cho họ thấy sự cần thiết  phải khiến Việt Nam phải có tiến bộ trong tự do báo chí. Đây là điều mà chúng tôi đã làm công khai và không công khai. Hy vọng là với việc tiếp tục cất tiếng nói về vấn đề đàn áp tự do báo chí, cuối cùng Việt Nam sẽ thay đổi. Nhưng rất tiếc cho đến lúc này những nỗ lực này đối với Việt Nam vẫn chỉ có những ảnh hưởng rất hạn chế.

Việt Hà: Xin cảm ơn ông đã dành cho chúng tôi buổi phỏng vấn.
http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/vn-most-censo-countr-in-wlrd-04212015111032.html/04212015-vn-most-censo-countr-in-wlrd.mp3

Chuyện tham nhũng

Nguyễn Vũ Bình, viết từ Hà Nội
Theo RFA-2015-04-21
1557232_1502691953341174_1939254962413129376_o-001.jpg
Ảnh minh họa-Courtesy of towardstransparency.vn

Trong thời gian gần đây, vấn đề tham nhũng, hối lộ lại được hâm nóng trở lại bởi một phát biểu của ông bộ trưởng bộ Công an Việt Nam. Trong phiên chất vấn của Đại biểu Quốc Hội ngày 14/3/2015, bộ trưởng công an đã khẳng định: “Trong môi trường công tác chịu rất nhiều áp lực, tuyệt đại đa số cảnh sát giao thông giữ được phẩm chất đạo đức của mình, hoàn thành nhiệm vụ, không nhận hối lộ, không tiêu cực”.

Không những vậy, trong các lập luận của những người yêu chế độ, muốn giảm thiểu mức độ trầm trọng của tình trạng tham nhũng ở Việt Nam thường cho rằng, nước nào cũng có tham nhũng, Việt Nam cũng tham nhũng như mọi nước khác trên thế giới mà thôi. Vậy thực hư của chuyện này là thế nào? có đúng là Việt Nam cũng như tất cả các nước đều có tham nhũng và tham nhũng đều giống nhau hay không?

Nhìn nhận một cách khách quan, ít nhất vế đầu của lập luận, nước nào cũng có tham nhũng và việt Nam cũng có tham nhũng là đúng! Sự khác nhau chỉ xuất hiện khi đi vào phân biệt sự khác nhau về tham nhũng ở các nước khác và sự tham nhũng ở Việt Nam. Có thể dùng hình ảnh về bệnh tật của con người để mô tả sự khác nhau về tham nhũng ở các nước và ở Việt nam. Ở các nước (những người nói Việt Nam giống các nước về tham nhũng rất hay so sánh với các nước như Mỹ, Đức, Nhật và châu Âu) thì tham nhũng của họ được ví như bệnh ghẻ lở, hắc lào tức là bệnh ngoài da. Còn tham nhũng ở Việt Nam, nhẹ thì so sánh với ung thư xương, ung thư máu còn chính xác thì so với Si đa giai đoạn cuối. Sự khác biệt là như vậy.

Ở các nước tư bản phát triển, nơi có sự công khai, minh bạch và thông tin trung thực, cùng với hệ thống tam quyền phân lập, đối trọng quyền lực và các định chế ngăn ngừa và phòng chống tham nhũng, thì việc tham nhũng là có, nhưng chỉ là số ít, các vụ việc đơn lẻ và mức độ không quá nghiêm trọng. Sự việc tham nhũng ở các nước này, nếu bị phát hiện thì tuyệt đại bộ phận đều bị truy tố, dù cấp bậc và chức vụ của người tham nhũng ở vị trí nào đi chăng nữa. Động cơ tham nhũng ở đây, thường là kẻ tham nhũng gặp khó khăn bất ngờ về tài chính, hoặc những phút bốc đồng nổi máu tham không kiềm chế được.

Phần lớn công chức, quan chức trong hệ thống công quyền đều nhận thức được cái giá phải trả vô cùng nặng nề so với công sức họ bỏ ra để học hành, thi cử và làm việc để có được vị trí họ đang nắm giữ. Chính vì vậy, trong suy nghĩ và hình thành động cơ đã có sự khác biệt rất lớn với Việt Nam trong vấn đề tham nhũng. Tóm lại, với các định chế hiện hành cùng với mức lương đủ sống, tham nhũng ở các nước này là những hiện tượng cá biệt, trong các điều kiện và hoàn cảnh cụ thể, không phải phổ biến và không thành hệ thống.

Tham nhũng ở Việt Nam là câu chuyện khác hẳn. Đầu tiên, mức lương của tất cả các chức danh, của quan chức hoàn toàn không đủ sống theo nhu cầu bình thường của họ. Do hệ thống chính trị độc tài, toàn trị ở Việt Nam đã duy trì hai hệ thống tổ chức song song, đó là hệ thống đảng và hệ thống chính quyền. Đồng thời, Việt Nam còn có các tổ chức ngoại vi là các hội, đoàn thể cùng với hệ thống an ninh, mật vụ, đặc tình để giám sát và kiểm soát dân chúng. Chính vì vậy, số lượng người thông thường hưởng lương ngân sách của một quốc gia tương ứng với 90 triệu dân là khoảng 3-4 triệu người thì ở Việt nam, con số này khoảng 20-25 triệu người.

Nếu tính cả số người nhận phụ cấp hàng tháng và khối doanh nghiệp nhà nước trong ngân sách chi quốc gia, thì số người hưởng phụ cấp từ 200.000 VNĐ trở lên, tới lương Tổng bí thư số lượng khoảng từ 30-40 triệu người. Một con số khủng khiếp. Với một số lượng lớn chi thường xuyên của ngân sách như vậy, thì mức lương của công chức và quan chức hoàn toàn không thể đủ sống. Chính vì vậy mà nguyên nhân đầu tiên dẫn tới động cơ tham nhũng ở Việt nam chính là do cơ chế, do mức lương không đủ sống mà tất cả mọi người bắt buộc phải tham nhũng, kiếm chác để duy trì cuộc sống.

Lý do thứ hai, quan trọng không kém là tình trạng mua quan, bán tước đút lót, hối lộ để vào làm công chức, viên chức, vào biên chế nở rộ hiện nay. Tất cả những ai, có lương tâm và hiểu biết ở Việt Nam đều phải thừa nhận, gần như tuyệt đối, các suất biên chế, các chức danh ở Việt nam đều phải có một cái giá nhất định nào đó. Trường hợp các suất biên chế, các chức danh không mất một đồng nào chỉ có con cháu của cán bộ cao cấp gửi gắm ở cấp dưới mà thôi. Với việc mua các suất biên chế, mua các chức danh như vậy, các công chức, quan chức bắt buộc phải tham nhũng để bù vào số tiền, số vốn đã bỏ ra để mua các chức danh đó.

Có một điều cần nhấn mạnh, về các văn bản, thủ tục và quy trình thực hiện việc tham nhũng ở Việt Nam cũng không hề dễ dàng. Tức là nếu ai muốn tham nhũng được, ví dụ ở một công trình xây dựng, thì phải có sự đồng lòng của toàn bộ hệ thống, những đầu mối để hoàn thành các thủ tục giải ngân. Chính vì vậy mà tham nhũng ở Việt nam là sự tham nhũng có hệ thống, chứ không hề đơn lẻ và cá biệt. Điều này giải thích các vụ việc tham nhũng rất khó bị phanh phui, như mấy vụ tham nhũng tiền ODA của Nhật bản trong giao thông, đều do phía Nhật Bản phát hiện  (vụ đại lộ Đông – Tây; vụ đường sắt trên cao). Và mức độ tham nhũng ở Việt Nam, theo luật ngầm tự hiểu trong hệ thống, đối với các công trình xây dựng, giao thông là 75%. Tức là số tiền thực được đưa vào các công trình là 25%, còn lại 75% là số tiền thất thoát, tham nhũng. Đây gọi là tỷ lệ vàng ở Việt Nam.

Như vậy, sự khác biệt về tham nhũng ở Việt Nam so với các nước khác, đó là tham nhũng do cơ chế. Người ta cần tham nhũng để có tiền để sống, để có tiền mua các chức danh, chức vụ và cùng với nó là cuộc sống sung sướng, hưởng thụ. Ngay từ năm 2000, đã có người tổng kết rằng: tham nhũng ở Việt Nam là phương thức tự tồn tại của tất cả những người có điều kiện tham nhũng do mức lương khốn khổ cộng với tình trạng mua quan bán tước nở rộ hiện nay. Như vậy, chúng ta đã có câu trả lời về tham nhũng và cách thức xóa bỏ tham nhũng ở Việt Nam.

Hà Nội, ngày 18/4/2015

*Nội dung bài viết không phản ảnh quan điểm của RFA.

Có nên để Thủ tướng nắm trở lại nhiệm vụ chống tham nhũng?

Anh Vũ, thông tín viên RFA
2015-04-21  
Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng (giữa) đi cùng đoàn đại biểu tham dự hội nghị thượng đỉnh ASEAN 24 ở Myanmar năm 2014.
Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng (giữa) đi cùng đoàn đại biểu tham dự hội nghị thượng đỉnh ASEAN 24 ở Myanmar năm 2014. AFP
Trong buổi thảo luận dự thảo luật Tổ chức Chính phủ, các ĐBQH thấy rằng cần ủng hộ và xem xét lại vai trò của Thủ tướng trong vấn đề chống tham nhũng.

Vậy có nên để Thủ tướng quay trở lại nắm nhiệm vụ chống tham nhũng một lần nữa hay không?

Tham nhũng ở VN là một vấn nạn rất trầm trọng, là một vấn đề nhức nhối của cả xã hội, có nguy cơ tăng cao và đang làm xói mòn lòng tin của dân chúng đối với nhà nước.

Tham nhũng càng ngày càng phát triển

Về mặt chủ trương chính sách, Đảng CSVN - đảng chính trị duy nhất cũng phần nào đã quan tâm đến việc phòng chống tham nhũng, họ cũng đã có nhiều biện pháp kế sách. Tuy vậy trên thực tế việc phòng chống tham nhũng đã không phát huy được kết quả.

Đánh giá về công tác phòng chống tham nhũng ở VN hiện nay, TS. Phạm Chí Dũng, Chủ tịch hội nhà báo Độc lập nhận định:

“Quá trình chuyển đổi Ban chỉ đạo phòng chống tham nhũng từ tay Thủ tướng sang tay Đảng đã diễn ra 2 năm 2 tháng và trong suốt quá trình đó người ta không thấy một cái gì mới cả. Và như tôi đã nêu là chỉ cần một vài bằng chứng nhỏ nhoi cũng đã cho thấy tình hình tham nhũng càng ngày càng phát triển, còn tình hình chống tham nhũng ngày càng tệ. Kết quả cho đến giờ có thể nói rằng tham nhũng ở VN là vô phương cứu chữa, bởi vì nó dột từ trên dột xuống và tham nhũng tràn lan từ cấp trung ương đến tận cấp Phường, Xã. Thực tâm tôi cũng chẳng hy vọng gì ông Dũng hay bên Đảng chống được tham nhũng.”

Dưới nhan đề "Vì sao không giao Thủ tướng nhiệm vụ chống tham nhũng?", báo Thanh niên cho biết trong buổi thảo luận dự thảo luật Tổ chức Chính phủ gần đây, các ĐBQH thấy rằng đấu tranh chống tham nhũng là nhiệm vụ quan trọng của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ. Song dự thảo luật chưa thể hiện được điều này, theo họ cần ủng hộ và xem xét lại vai trò của Thủ tướng trong vấn đề chống tham nhũng.

"Tình hình tham nhũng càng ngày càng phát triển, còn tình hình chống tham nhũng ngày càng tệ. Kết quả cho đến giờ có thể nói rằng tham nhũng ở VN là vô phương cứu chữa, bởi vì nó dột từ trên dột xuống và tham nhũng tràn lan từ cấp trung ương đến tận cấp Phường, Xã"-TS. Phạm Chí Dũng

Được biết từ đầu năm 2013 trở về trước, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã từng đảm trách chức vụ Trưởng Ban chỉ đạo Trung ương về phòng chống tham nhũng, một cơ quan phòng chống tham nhũng hàng đầu ở VN. Nhưng sau đó, Ban chỉ đạo phòng chống tham nhũng trở thành cơ quan trực thuộc Bộ Chính trị do Tổng BT Nguyễn Phú Trọng trực tiếp phụ trách.

Đánh giá gì về thành tích chống tham nhũng của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trong những năm trước đây, nhà báo Nguyễn Vũ Bình, một nhà bất đồng chính kiến, nguyên biên tập viên tạp chí Cộng sản cho biết suy nghĩ của ông, ông nói:


Báo Thanh Niên đưa tin vụ PMU 18 (năm 2010)

“Công tác phòng chống tham nhũng của ông Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trong thời kỳ ông nắm trọng trách này thì chúng ta thấy rằng,  cũng đã phát hiện ra một số các trường hợp hay vụ việc không phải điển hình và phần lớn do nước ngoài phát hiện ra. Ví dụ như các vụ Đại lộ Đông-Tây hay PMU18, đó là các vụ việc không phải do bên trong phát hiện ra mà là do bên ngoài. Nếu để bên Chính phủ, tức là Hành pháp điều hành theo tôi nghĩ hiệu quả sẽ không được cao.”

TS. Phạm Chí Dũng khẳng định:

“Thời kỳ ông Dũng nắm quyền (chống tham nhũng) là thời kỳ nhiều người đánh giá là tham nhũng nhiều nhất, nặng nề nhất, sâu xa nhất ở VN. Không những thế tiến từ tham nhũng nhỏ thành tham nhũng lớn, từ nhóm lợi ích nhỏ thành nhóm lợi ích lớn và chỉ đến năm 2011 thì người ta mới chịu thừa nhận khái niệm về các nhóm lợi ích ở VN. Bao gồm từ các nhóm kinh doanh đầu cơ cho đến các nhóm tham nhũng chính sách. Đặc biệt như chúng ta thấy đã xảy ra hàng loạt vụ việc như Vinaline, Vinashin… và điện lực, xăng dầu. Kể cả những nhóm đầu cơ kinh doanh vàng bạc, BĐS, chứng khoán vô cùng nhiều.”

Diệt tham nhũng phải diệt từ nóc

Cách đây hai năm, trước Hội nghị trung ương 4 khóa 11 diễn ra, trên YouTube loan tải một video clip cho thấy, nói chuyện trước 4.500 cán bộ tại thành phố Đà Nẵng, ông Nguyễn Bá Thanh đã nói về Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng như sau, ông nói:


Vụ Vinalines của Dương Chí Dũng - Dương Tự Trọng

“Ông tưởng ông ngon lắm. Ông tưởng họ kính nể họ chấp tay họ bái phục ông cho nên đừng có vội cứ nhìn cái mặt tốt của mình, chỉ thấy bên ngoài thôi chứ còn nhiều vấn đề lắm. Họ làm sai là từ chức chứ mình làm sai rồi cứ nhơn nhơn tỉnh queo coi như không có vấn đề gì. Cách chức thì ảnh chịu thôi chứ biểu ảnh từ chức thì ảnh không từ! Ảnh nói có bao nhiêu người phải từ đâu mà tôi từ? Có lòng tự trọng lắm đấy. Họ làm sai thì từ chức còn mình làm sai thì cùng lắm kiểm điểm rút kinh nghiệm. Cho nên không có cái dây nào nó dài hơn cái dây kinh nghiệm.Rút miết mà không bao giờ hết.”

Trả lời câu hỏi, có nên để Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trở lại nắm giữ công tác phòng chống tham nhũng hay không?

"Tham nhũng ở VN là kinh hoàng và vô phương cứu chữa. Còn hiện nay tình hình là vô phương, còn muốn làm một cái gì đó để giải quyết một phần nhỏ nhoi vấn nạn tham nhũng thì VN phải đả hổ trước khi diệt ruồi. Có nghĩa là phải diệt tham nhũng từ nóc"-TS. Phạm Chí Dũng

TS. Phạm Chí Dũng khẳng định:

“Vừa nên, vừa không nên. Nên vì hành pháp chống tham nhũng là hiệu quả nhất nhưng không nên cũng vì hành pháp nằm trong tay một Thủ tướng với 02 đời nhiệm kỳ gây ra tham nhũng nhiều nhất ở VN. Rất khó có thể chuyển đổi Ban chỉ đạo phòng chống tham nhũng về trong tay một Thủ tướng, tôi chỉ muốn nói rằng nếu ở cương vị một Thủ tướng khác thì có thể, một phần nào đó chống được tham nhũng. Chứ còn để trong tay ông Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng thì tôi không có một chút hy vọng nào cả. Vì tôi đã giải thích, trong suốt quá trình điều hành của ông Nguyễn Tấn Dũng thì VN đã trở thành một đất nước tham nhũng nhất thế giới và là một trong thời kỳ tham nhũng nhất trong lịch sử của VN. Đó chính là lý do vì sao tôi đã không tin tưởng nếu ông Nguyễn Tấn Dũng điều hành chống tham nhũng. ”

Bằng một thái độ thận trọng, Nhà báo Nguyễn Vũ Bình cho biết:

“Theo tôi là không nên, vì Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng là đại diện cho bên Hành pháp, như vậy các vấn đề về tham nhũng, tiêu cực phần lớn sẽ nằm bên điều hành của Chính phủ. Cần phải có một cơ quan phòng chống tham nhũng hoàn toàn độc lập là tốt nhất, song nếu như chưa có điều kiện có tổ chức chống tham nhũng độc lập thì ít nhất là bên Đảng. Dù rằng Đảng và Nhà nước là 1, song ít nhất là nó có một sự phân biệt, một bên là điều hành, một bên là chủ trương đường lối, ít nhiều nó cũng có sự cách biệt thì hiệu quả của công tác phòng chống tham nhũng sẽ cao hơn.”

Nói về các giải pháp gì để đẩy mạnh và làm cho công tác phòng chống tham nhũng ở  VN có hiệu quả. TS. Phạm Chí Dũng thấy rằng vấn đề cơ bản muốn diệt dược tham nhũng thì phải chống từ trên xuống. Ông nói:

“Tôi muốn nhắc lại theo đánh giá riêng của tôi là tham nhũng ở VN là kinh hoàng và vô phương cứu chữa. Còn hiện nay tình hình là vô phương, còn muốn làm một cái gì đó để giải quyết một phần nhỏ nhoi vấn nạn tham nhũng thì VN phải đả hổ trước khi diệt ruồi. Có nghĩa là phải diệt tham nhũng từ nóc – từ trung ương và hãy làm một chút gì đó man mác như Tập Cận Bình đã và đang làm ở TQ.”

Xin nhắc lại phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khi nói về tình trạng tham nhũng ở VN, đã cho rằng: "Hiện tượng hư hỏng, tham nhũng, tiêu cực đúng là lắm lúc nghĩ hết sức sốt ruột, nhìn vào đâu cũng thấy, sờ vào đâu cũng có...". Để thấy sự tồn vong của chế độ hiện nay đang đứng trước nguy cơ sống còn, đã đến lúc họ cần có các giải pháp cụ thể để chặn đứng vấn nạn này.
http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/should-pm-bck-to-fight-corrup-04212015052227.html/04212015-should-pm-bck-to-fight-corrup.mp3

Tam quyền phân lập - Giấc mơ xa vời

Hải Ninh, phóng viên RFA
2015-04-21   
Nạn nhân Nguyễn Thanh Chấn bị nhốt tù oan 10 năm, ảnh chụp hôm được trả về gia đình
Nạn nhân Nguyễn Thanh Chấn bị nhốt tù oan 10 năm, ảnh chụp hôm được trả về gia đình-Files photos

Một báo cáo mới đây của Uỷ ban Uỷ ban Tư pháp của Quốc hội cho biết, trong vòng ba năm qua, có tất cả 71 vụ oan sai ở Việt Nam. Đây được cho là hậu quả không tránh được của tình trạng thiếu vắng tam quyền phân lập: độc lập giữa tư pháp, hành pháp và lập pháp. Tại sao Việt Nam vẫn chưa thể thay đổi thể chế vốn được xem là tối ưu trên thế giới này và liệu có khả năng tam quyền phân lập có sớm đuợc thiết lập ở Việt Nam hay không, Hải Ninh tìm hiểu trong bài sau.

Chủ nhiệm Uỷ ban Tư pháp của Quốc hội, ông Nguyễn Văn Hiện, cho biết có nhiều vụ án oan để lại hệ quả đặc biệt nghiêm trọng, gây bức xúc trong dư luận như vụ 7 thanh niên ở Sóc Trăng bị bắt oan hay 5 công an ở Phú Yên dùng nhục hình dẫn đến chết người.

Luật sư Hà Huy Sơn, giám đốc công ty trách nhiệm hữu hạn luật Hà Sơn, cho rằng nguồn gốc của án oan là việc Việt Nam không có một nhà nước pháp quyền thực sự, trong đó ba cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp độc lập lẫn nhau. Ông dẫn một thông tư liên tịch 01/2010 trong đó quy định về sự phối hợp của các cơ quan là viện kiểm sát tối cao, toà án tối cao và cơ quan điều tra. Theo thông tư này, các cơ quan kể trên phải phối hợp nhịp nhàng trong tất cả các giai đoạn từ điều tra, truy tố và xét xử.

Luật sư Hà Huy Sơn nói:

Khi họ đã phối hợp lẫn nhau thì không còn có thể độc lập theo đúng nghĩa nữa. Đây là một bằng chứng cụ thể của việc khi mà chưa có một nhà nước pháp quyền thực sự. Một khi họ phối hợp với nhau thì cái sai sẽ là cái sai tập thể. Khi có sai phạm, chẳng hạn như án oan thì không phải nó xuất phát từ một cơ quan. Chức năng giám sát lẫn nhau, đối trọng nhau của ba cơ quan này là không còn nữa.

Trong thể chế này, lực lượng hành pháp dường như quá mạnh, dẫn tới hiện tượng lạm quyền. Nhà báo Đoan Trang, đang thực hiện nhiều nghiên cứu về luật, cho biết:

Cái lạm quyền ấy thể hiện từ vụ việc nhỏ, không nói đến những oan sai lớn như tử hình. Ví dụ gần đây nhất là việc cô người mẫu Trang Trần tát công an trong lúc say rượu, sau đó thì bị còng tay, lôi về đòn sau đó viết lệnh bắt khẩn cấp cô ấy. Toàn bộ quá trình từ lúc xảy ra sự kiện cho đến lúc mà cô ấy được thả thì chúng ta chỉ nghe được một phía nói thôi. Đó là công an, chỉ thấy công an nói cô ấy tát công an thế nào, cô ấy say rượu thế nào, cô ấy hành xử lỗ mãng ra sao, và cuối cùng là cô ấy ăn năn hối cải thế nào. Sau đó thì có thấy một cái clip về Trang Trần nhận lỗi, cũng là do truyền hình an ninh TV quay. Chúng ta không thấy vai trò của toà án, luật sư đâu cả.

Một báo cáo mới đây của Uỷ ban Uỷ ban Tư pháp của Quốc hội cho biết, trong vòng ba năm qua, có tất cả 71 vụ oan sai ở Việt Nam

Không có chuyện tam quyền phân lập ở Việt Nam

Chuyện kêu gọi xây dựng thể chế tam quyền phân lập ở Việt Nam đã có từ lâu. Ông Phạm Chí Dũng, một cựu đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, cho biết từ cách đây 20 năm, báo Tuổi Trẻ đã có những bài báo đặt vấn đề về tam quyền phân lập, tuy nhiên báo này đã bị kiểm điểm. Chỉ tới thời gian gần đây, khi Việt Nam hội nhập quốc tế hay tham gia vào Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc, chuyện tam quyền phân lập mới được đề cập nhiều hơn. Tuy nhiên, về khái niệm, theo ông Dũng người ta vẫn nói là cơ chế pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

Ông Dũng nói:

Người ta luôn xem Tam quyền phân lập là một cơ chế của tư bản chủ nghĩa và người ta rất sợ nếu áp dụng tam quyền phân lập sẽ dẫn tới chế độ đa đảng ở Việt Nam, đa nguyên, sau đó sẽ là đa đảng. Đó là nỗi lo sâu xa nhất của một chủ nghĩa độc đảng, họ đang rất lo sợ.

Nhà báo Đoan Trang cho biết sự tồn tại của một nền tư pháp độc lập sẽ thách thức tính chính danh của một nhà nước độc đảng. Nhà báo Đoan Trang nói:

Muốn đi đến cùng của tư pháp độc lập thì chắc chắn sẽ dẫn tới việc thách thức tính chính danh của một đảng cầm quyền, có nghĩa là chừng nào còn một đảng cầm quyền và cái ý thức hệ của đảng đó, đường lối chính sách của đảng ấy còn nhất quán xuyên suốt trên toàn quốc thì không thể nào mà tam quyền phân lập được.

Tuy nhiên, giới quan sát cho biết ngày càng nhiều người dân, thậm chí cơ quan nhà nước Việt Nam, nhận thấy rằng hệ thống pháp luật của Việt Nam cần thay đổi. Bằng chứng là người dân quan tâm hơn tới quyền lợi của họ, biểu tình phản đối những vụ án oan hoặc thay đổi đạo luật, chẳng hạn như luật nhận tiền bảo hiểm xã hội. Ông Jonathan London, giáo sư môn chính trị học tại đại học Hong Kong, một chuyên gia nghiên cứu về tình hình Việt Nam lâu năm, cho rằng thay đổi là cần thiết và nó phải xuất phát từ các bên. Ông nói:

Rõ ràng là hệ thống này cần thay đổi. Những nhà lãnh đạo đang nắm quyền cần phải được thuyết phục rằng họ cần đưa ra những sự thay đổi thực sự. Tuy vậy, những thay đổi trong hiến pháp và hệ thống không bao giờ diễn ra từ trên xuống, mà họ cần có áp lực từ mọi phía. Để mà có hy vọng thay đổi, ngày càng nhiều người Việt Nam phải nhận ra rằng, hệ thống hiện tại không hoạt động hiệu quả và rằng chúng ta cần tiếp tục hoạt động nhằm cổ vũ cho cải cách. Đồng thời, các nhà lãnh đạo chính trị cũng cần phải dũng cảm để nói rằng ta có thể làm tốt hơn nữa và thực hiện những bước đi đột phá.

Ông Jonathan London nhắc lại bài phát biểu nhân dịp năm mới của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng năm 2014, trong đó ông Dũng đề cập đến những thay đổi cần thiết cho Việt Nam. Tuy nhiên, ông nói gần đến giữa năm 2015 mà chưa hề có những thay đổi đáng kể nào diễn ra.

Và cũng như nhà báo Đoan Trang vừa cho biết, hiện điều 4 Hiến Pháp mới sửa đổi của Việt Nam cũng tiếp tục xác định vai trò lãnh đạo của đảng cộng sản Việt Nam. Làm thế nào để ba ngành lập pháp, hành pháp và tư pháp độc lập với nhau đuợc khi mà người ở ba ngành đó đều phải là đảng viên cộng sản và chịu sự chỉ đạo của đảng?

TP HCM: Cháy ở quận 3, kẹt xe nghiêm trọng

22/04/2015 20:20

(NLĐO) – Sau tiếng nổ lớn, căn nhà có gác ở quận 3, TP HCM bất ngờ phát hỏa khiến cả khu phố hoảng loạn.

Khoảng 17 giờ 20 phút ngày 22-4, người dân sống trong hẻm 195 đường Trần Văn Đang (phường 11, quận 3) bất ngờ nghe thấy tiếng nổ lớn. Ngay sau đó, họ thấy khói bốc lên ngùn ngụt từ căn nhà có gác số 195/96 nên vội vàng tri hô nhau chữa cháy. Thời điển này, bên trong căn nhà có cụ bà (khoảng 70 tuổi) hốt hoảng chạy ra ngoài thoát thân.
 TP HCM: Cháy ở quận 3, kẹt xe nghiêm trọng
 Lực lượng chữa cháy khống chế được hỏa hoạn sau 30 phút

Lực lượng chữa cháy khống chế được hỏa hoạn sau 30 phút

Ngọn lửa bén nhanh vào những vật dụng bên trong khiến công tác chữa cháy tại chỗ không hiệu quả. Nhiều người sau đó hốt hoảng di tản đồ đạc ra ngoài vì sợ lửa cháy lan.
Nhận tin báo, lực lượng PCCC quận 3 đã huy động hàng chục cán bộ, chiến sĩ cùng 5 xe cứu hỏa đến hiện trường dập lửa. Khoảng 30 phút sau, đám cháy được khống chế.
Vụ hỏa hoạn không gây thương vong về người nhưng đã thiêu rụi nhiều tài sản bên trong căn nhà và làm hệ thống điện tại khu vực này bị tạm ngắt.
 Giao thông qua khu vực ùn tắc nghiêm trọng

Giao thông qua khu vực ùn tắc nghiêm trọng
 Để phục vụ công tác chữa cháy, lực lượng chức năng đã phong tỏa xung quanh khu vực gây kẹt xe nghiêm trọng.
Ghi nhận đến 19 giờ tối cùng ngày, giao thông mới được ổn định trở lại.

Tin-ảnh: G.Minh

Xin quật mộ con để làm rõ uẩn khúc!

(CPN) - Chính quyền xã Suối Bạc, huyện Sơn Hòa, tỉnh Phú Yên cho phép tài xế tông chết người rồi chôn xác nạn nhân mà không thông báo cho gia đình biết.

Chiều 22-4, ông Nguyễn Văn Cư, Chủ tịch UBND huyện Sơn Hòa (Phú Yên), cho biết vừa nhận được đơn kêu cứu của ông Huỳnh Xuân Phương (67 tuổi, ngụ khu phố Bắc Lý, thị trấn Củng Sơn, huyện Sơn Hòa) yêu cầu làm rõ những uẩn khúc về cái chết của con là Huỳnh Xuân Điền (SN 1980, ngụ cùng khu phố). Điền bị tai nạn giao thông tử vong, chính quyền địa phương cho phép chôn cất mà không thông báo cho gia đình.

Trước đó, ngày 8-4, gia đình ông Phương đã yêu cầu lực lượng chức năng huyện này quật mộ anh Điền để ông đưa về mai táng theo nghi thức truyền thống.

Ông Huỳnh Xuân Phương chỉ nơi lực lượng chức năng cho phép gia đình tài xế chôn cất con ông khi gia đình không hay biết
Ông Huỳnh Xuân Phương chỉ nơi lực lượng chức năng cho phép gia đình tài xế chôn cất con ông khi gia đình không hay biết

Vụ tai nạn xảy ra khoảng 6 giờ 5 phút ngày 6-4 trên Quốc lộ 25, thuộc thôn Phú Hữu, xã Suối Bạc, huyện Sơn Hòa.

Vào thời điểm trên, xe tải chở mía BKS 78C-01016 do tài xế Trần Đình Nam (SN 1985, ngụ thôn Tân Bình, xã Sơn Phước, huyện Sơn Hòa) điều khiển theo hướng Tây – Đông.

Khi đến đoạn đường trên thì bất ngờ, một người đàn ông (sau này xác định là Huỳnh Xuân Điền) ở trần, mặc quần đùi lao ra đường, va vào đầu xe rồi bị hất văng ra đường.

Sau khi nạn nhân được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện huyện Sơn Hòa rồi chuyển viện đến Bệnh viện đa khoa Phú Yên cấp cứu thì đến 23 giờ cùng ngày, nạn nhân tử vong do chấn thương sọ não.

Đến chiều 7-4, Công an huyện Sơn Hòa cho phép gia đình tài xế đưa thi thể Điền về cùng với chính quyền địa phương mai táng tại nghĩa địa xã Suối Bạc nhưng không thông báo cho gia đình nạn nhân.

Gia đình đau buồn trước cái chết của anh Điền
Gia đình đau buồn trước cái chết của anh Điền

Ông Phương cho biết anh Điền đã có gia đình, ra riêng, nhà cũng ở thị trấn Củng Sơn. Thời gian này, vợ anh Điền về quê ở Quảng Ngãi để sinh con nên khi tai nạn xảy ra, không ai hay biết. Tối 7-4, một người tên Hòa cho ông biết con trai ông bị tai nạn giao thông chết, ông Phương mới tá hỏa. Ông lên Công an huyện Sơn Hòa hỏi thăm thì mới biết con mình đã được chôn cất xong xuôi.

Công an huyện Sơn Hòa thừa nhận có sai sót trong vụ việc này.

Tin-ảnh: H.Ánh

Cần gọi đúng tên cuộc chiến này

Phạm Đình Trọng (Danlambao) - Lần thứ 40 ngày 30 tháng tư của lịch sử đau thương mất mát, của vui nông nổi mà buồn thăm thẳm lại đến. 

Suốt 40 năm qua, hệ thống tuyên truyền khổng lồ của đảng CSVN (Cộng sản Việt Nam) cầm quyền đã ngốn quá nhiều tiền thuế của dân, tiền bán tài nguyên đất nước vào việc tự huyễn hoặc mình và lừa dối người dân về ngày 30 tháng tư năm 1975, ngày huy hoàng đại thắng, ngày vẻ vang thống nhất đất nước.

Cuộc chiến tranh mà hệ thống tuyên truyền của nhà nước Việt Nam cộng sản vẫn thần thánh hóa là cuộc chiến tranh “Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước”, “Cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước” thực chất chỉ là cuộc nội chiến tội lỗi, người Việt bắn giết người Việt, hệ quả tất yếu của hiệp định Genève cắt đôi đất nước Việt Nam thành hai tiền đồn, hai trận tuyến của hai ý thức hệ quyết liệt đối kháng, tiêu diệt nhau, chia đôi dân tộc Việt Nam thành hai thế lực thù địch không đội trời chung, hai tên lính xung kích của hai lực lượng đối kháng đó. Việc chia cắt độc đoán, phũ phàng, oan nghiệt đất nước Việt Nam, dân tộc Việt Nam hoàn toàn do những người cộng sản thực hiện, cộng sản Tàu mưu toan và áp đặt, cộng sản Việt cam tâm cúi đầu chấp nhận. 

Rắp tâm làm cuộc nội chiến, lực lượng cộng sản Việt Nam ở miền Nam phải chuyển ra miền Bắc theo qui định của hiệp định Genève nhưng họ đã bí mật ém lại lượng lớn súng đạn và khá đông đội ngũ lãnh đạo cộng sản chỉ biết có đấu tranh giai cấp bạo liệt, sắt máu, không biết đến đạo lí thương yêu đùm bọc giống nòi. Đầu năm 1959, đảng cộng sản Việt Nam ban hành nghị quyết 15 xác định rõ việc thâu tóm miền Nam bằng bạo lực cách mạng, tiến hành chiến tranh trong lòng dân tộc, quyết thực hiện nội chiến tương tàn. 

Có nghị quyết 15, những người cộng sản ở miền Bắc liền hối hả mở đường đưa súng đạn và lực lương chiến đấu vào miền Nam. Tháng năm, 1959, đường mòn từ miền Bắc xâm nhập miền Nam được mở dọc theo dãy Trường Sơn. Tháng bảy, 1959, mở tiếp đường mòn trên biển, mở luồng mở bến cho những con tàu không số chở súng, đạn, thuốc nổ từ Đồ Sơn, Hải Phòng vào Vũng Rô, Phú Yên, Trung Bộ, vào Gành Hào, Cà Mau, Nam Bộ. 

Có nghị quyết 15, cán bộ cộng sản ở lại miền Nam nằm vùng liền tổ chức, tập hợp lực lượng. Những hầm súng đạn được khui lên. Cuối năm 1959, tiếng súng nội chiến bùng nổ ở Trà Bồng, Quảng Ngãi. Ngày 17. 1. 1960, tiếng súng nội chiến rộ lên ở huyện Giồng Trôm và huyện Mỏ Cày, Bến Tre. Từ đó tiếng súng nội chiến lan ra khắp miền Nam. Khắp miền Nam, nơi nào cũng có lãnh đạo cộng sản nằm vùng, nơi nào cũng mịt mù lửa khói nội chiến, lênh láng máu người Việt giết người Việt. Từ đó, ngày 17. 1. 1960 được những người Cộng sản tự hào coi là ngày Đồng khởi vẻ vang của họ. Còn lịch sử Việt Nam phải đau buồn ghi nhận ngày 17. 1. 1960 là ngày khởi đầu cuộc nội chiến Nam Bắc.

Chiến tranh vũ trang thảm khốc và chiến tranh chính trị lừa dối do những người cộng sản phát động đã đẩy chính quyền Việt Nam Cộng Hòa ở miền Nam vào cuộc khủng hoảng nặng nề, triền miên không có điểm dừng. Trước nguy cơ sụp đổ của chính quyền Việt Nam Cộng Hòa, một chính quyền được tổ chức theo mô hình dân chủ văn minh, có tam quyền phân lập thực sự, nhờ thế người dân miền Nam bước đầu đã có tự do dân chủ thực sự, một chính quyền đang chiến đấu ngăn chặn sự tràn lan bạo lực cộng sản; Trước nguy cơ cả Đông Nam Á bị tràn ngập trong sắt máu bạo lực cộng sản, năm 1965, sáu năm sau nghị quyết 15 của đảng CSVN sử dụng bạo lực thâu tóm miền Nam, gần sáu năm sau tiếng súng nội chiến bùng nổ ở miền Nam, Mĩ mới đưa quân vào miền Nam Việt Nam cứu đồng minh Việt Nam Cộng Hòa trước nguy cơ sụp đổ và củng cố một tiền đồn ngăn chặn cơn thác lũ cách mạng bạo lực cộng sản đang ở đỉnh cao trào.

Năm 1965, quân đội Mĩ đổ vào Việt Nam cũng như năm 1944 quân đội Mĩ đổ bộ vào châu Âu trong chiến tranh thế giới thứ hai, cũng như năm 1950 quân đội Mĩ đổ bộ lên bán đảo Triều Tiên đều không có mục đích xâm lược, không đánh chiếm lãnh thổ mà chỉ để làm trách nhiệm của một đồng minh và làm trách nhiệm của một nước lớn bảo đảm một thế giới ổn định, công bằng, bảo vệ những giá trị tự do, dân chủ của con người, ngăn chặn thảm họa phát xít thời thế chiến hai và ngăn chặn thảm họa cộng sản đang như bệnh dịch nhấn chìm thế giới vào hận thù đấu tranh giai cấp, vào bạo lực chuyên chính vô sản và nô dịch con người.

Cần giấu biến cuộc nội xâm tội lỗi của ý thức hệ giai cấp, cuộc nội xâm mang hận thù giai cấp vay mượn, mang tư tưởng bạo lực chuyên chính vô sản ngoại lai, mang súng đạn của thế giới cộng sản về đánh phá dân tộc, nô dịch nhân dân, thống trị đất nước, ngay từ khi phát động cuộc nội chiến phi nghĩa núp bóng cuộc chiến tranh chính nghĩa “giải phóng miền Nam”, những người cộng sản đã vẽ ra con ngáo ộp “đế quốc Mĩ” hiếu chiến, tham tàn, man rợ hù dọa người dân, đã lôi “đế quốc Mĩ” vào tham chiến để biến cuộc nội chiến thành cuộc thánh chiến như lời bài hát của nhạc sĩ cộng sản Lưu Hữu Phước sáng tác năm 1960: “Giải phóng miền Nam chúng ta cùng quyết tiến bước/Diệt đế quốc Mĩ phá tan bè lũ bán nước”. Năm 1965, những đơn vị tinh nhuệ, hiện đại nức tiếng của quân đội Mĩ, những sư đoàn Kị Binh Bay Số 1, lữ đoàn Tia Chớp Nhiệt Đới... với xe tăng lổm ngổm bò kín đất Vạn Tường, Quảng Ngãi, máy bay lên thẳng vè vè rợp trời Bông Trang Nhà Đỏ, Bình Dương thì hệ thống tuyên truyền nhà nước Việt Nam cộng sản như bắt được vàng, như được trích một liều đô pinh mạnh, họ reo lên: “Có những ngày vui sao cả nước lên đường/Xao xuyến bờ tre từng hồi trống giục... Bộ đội dân công trùng trùng điệp điệp/Chào nhau không kịp nhớ mặt nhớ tên/Đội ngũ ta đi dài theo tiếng hát...” Đó là thơ của nhà thơ quân đội Nhân dân Việt Nam, Chính Hữu. Khi reo lên như vậy, năm 1966, nhà thơ Chính Hữu là thiếu tá ở cục Tuyên huấn, Tổng cục Chính trị. Lúc chết, năm 2007, ông là đại tá.

Đây không phải là niềm vui của người lính bị dồn ra trận. Đi vào chỗ chết, đi vào cuộc chiến người Việt bắn giết người Việt, làm sao vui được. Đây là niềm vui tuyên huấn, niềm vui cộng sản. Niềm vui của những người đã đánh tráo được tên gọi cuộc nội chiến tương tàn thành cuộc thánh chiến hào hùng “Chống Mĩ cứu nước”. Niềm vui đã đưa được cả nước vào cuộc nội chiến ngùn ngụt hận thù giai cấp, người Việt vô sản say mê bắn giết người Việt tư sản. Người Việt nghèo khổ cuồng dại bắn giết người Việt có của. Niềm vui khi thấy hai anh em ruột thịt cùng cha cùng mẹ ở hai chiến tuyến ý thức hệ xả súng vào ngực nhau, quăng lựu đạn vào đầu nhau!

Quân đội Mĩ vào tham chiến bên những người lính Việt Nam Cộng Hòa có làm cho cuộc nội chiến do những người cộng sản tiến hành chựng lại, tốc độ khuất phục, thâu tóm dải đất miền Nam của họ chậm lại nhưng không làm thay đổi bản chất cuộc nội chiến vì ý chí cộng sản dùng bạo lực khuất phục dải đất miền Nam không thay đổi. Không thay đổi ý chí cộng sản dùng máu người Việt để thống nhất trong tay họ đất nước Việt Nam mà chính họ đã chia cắt.

Nếu thực sự là cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước thì khi quân đội Mĩ giảm vai trò, giảm sự có mặt trong cuộc chiến, mức độ ác liệt của cuộc chiến phải giảm và khi quân đội Mĩ rút hết khỏi Việt Nam thì cuộc chiến phải kết thúc. Không! Từ năm 1970, Mĩ thực hiện Việt Nam hóa chiến tranh, quân đội Mĩ giao lại vai trò chủ thể chiến trường cho quân đội Việt Nam Cộng Hòa, quân đội Mĩ không trực tiếp tham chiến nữa, họ chỉ trợ chiến, yển trợ hỏa lực. Khi quân đội Việt Nam Cộng Hòa độc lập tác chiến trên các mặt trận, trực tiếp đối đầu với những người lính Việt Nam phía bên kia là lúc diễn ra những trận đánh đẫm máu nhất, những người lính Việt Nam ở cả hai phía, Việt Nam Cộng Hòa và Việt Nam Cộng sản chết trận nhiều nhất. Những điểm quyết chiến ở Snun, Mỏ Vẹt, biên giới Việt Nam – Campuchia, ở đường 13, ở đường 9 – Nam Lào, ở thành cổ Quảng Trị trở thành những cái cối xay thịt nghiền nát hết trung đoàn, lữ đoàn lính Việt Nam này đến trung đoàn, lữ đoàn lính Việt Nam khác của cả hai phía. 

Từ khi cuộc nội chiến bùng nổ, chưa bao giờ những người lính Việt Nam Cộng Hòa và những người lính Việt Nam Cộng sản chết nhiều như trong chiến dịch đường 9 – Nam Lào đầu năm 1971. 

Từ khi cuộc nội chiến nổ ra, chưa bao giờ những người lính Việt Nam Cộng Hòa và những người lính Việt Nam Cộng sản chết nhiều như trong trận hai bên giành giật nhau thành cổ Quảng Trị hè thu năm 1972, thời gian miền Trung bước vào mùa mưa xối xả. Mưa ở Quảng Trị năm 1972 trở thành những trận mưa máu. Máu nhào đất thành cổ Quảng Trị thành bùn nhão nhoét, đỏ lòm và tanh tưởi. Dòng sông Thạch Hãn ngàn đời trong xanh bỗng trở thành dòng sông máu, loang đỏ máu lính Việt Nam. Lính chết không kịp chôn. Quân số bổ xung liên tục mà không còn lính sống để chôn lính chết. Người lính Lê Bá Dương may mắn sống sót đã viết về những đồng đội không có người vớt lên chôn cất còn mãi mãi nằm lại với sông Thạch Hãn: Đò lên Thạch Hãn xin chèo nhẹ/Đáy sông còn đó bạn tôi nằm/Có tuổi hai mươi thành sóng nước/vỗ vô bờ mãi mãi ngàn năm.

Nước lênh láng ba phần tư diện tích trái đất được nhà thơ Xuân Diệu coi đó là nước mắt đau khổ của loài người: Trái đất ba phần tư nước mắt/Trôi đi như giọt lệ giữa không trung. Ba phần tư lịch sử Việt Nam cũng là lịch sử chiến tranh, là máu và nước mắt. Trong những cuộc chiến tranh liên miên đó chưa có cuộc chiến tranh nào mà người Việt lại quyết liệt, say mê giết người Việt như trong cuộc nội chiến do những người Cộng sản Việt Nam phát động giữa thế kỉ hai mươi.

Năm 1973, quân đội Mĩ rút khỏi Việt Nam thì những người Cộng sản càng đẩy mạnh cuộc nội chiến để chỉ hai năm sau họ thâu tóm hoàn toàn miền Nam vào ngày 30. 4. 1975.

Là cuộc nội chiến nên đích cuối cùng những người lính Việt Nam Cộng sản đến không phải là tổng hành dinh quân đội Mĩ mà là dinh Độc lập, nơi làm việc của Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa, người quản lí một nửa lãnh thổ Việt Nam, người lãnh đạo một nửa dân số Việt Nam. 

Là cuộc nội chiến nên lá cờ những người lính Việt Nam Cộng sản hạ xuống ở dinh Độc lập ngày 30. 4. 1975 không phải là lá cờ Mĩ mà là lá cờ Việt Nam Cộng Hòa, lá cờ quốc gia của một nửa lãnh thổ Việt Nam, lá cờ Tổ quốc của một nửa dân tộc Việt Nam.

Những người Cộng sản Việt Nam đã cắt đôi đất nước Việt Nam, chia đôi dân tộc Việt Nam rồi họ lại lấy máu của chính dân tộc Việt Nam để thống nhất đất nước, để họ nghiễm nhiên thống trị cả nước không cần lá phiếu bầu chọn của người dân! Những người Cộng sản Việt Nam coi đó là chiến thắng vĩ đại của họ. Còn với dân tộc Việt Nam đó là keo thua đau đớn tức tưởi! Với những người dân miền Nam đã được sống trong tự do dân chủ, nay mất cả quyền con người, quyền công dân, không được quyền bầu chọn người quản lí đất nước, người lãnh đạo dân chúng, còn cái thua nào đau hơn!

Điểm lại những sự kiện chính của cuộc chiến tranh do những người cộng sản Việt Nam phát động từ 1960 đến ngày kết thúc 30.4.1975 để thấy rõ cuộc chiến này dứt khoát không phải là cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc mà chỉ là cuộc nội chiến đẫm máu nhất, tội lỗi nhất trong lịch sử Việt Nam để đảng Cộng sản Việt Nam giành quyền thống trị cả nước, nô dịch cả dân tộc Việt Nam.

Bản chất cuộc nội chiến càng lộ rõ ngay cả khi cuộc chiến đã kết thúc. Nếu cuộc chiến tranh kết thúc ngày 30.4.1975 là “Giải phóng miền Nam thống nhất đất nước” thì cuộc chiến tranh đó trước hết phải giải phóng người dân miền Nam khỏi sự nô dịch của đế quốc Mĩ như hệ thống tuyên giáo cộng sản vẫn ra rả tuyên truyền, để người dân miền Nam trở về với dân tộc Việt Nam yêu thương. Đất nước thống nhất trước hết phải thống nhất trong tình cảm, ý chí người dân. 40 năm đã qua, sự thống nhất đó vẫn chưa hề có. Cuộc chiến tranh kết thúc ngày 30.4.1975 chỉ giải phóng đất đai miền Nam để người thắng cuộc thâu tóm, thống trị cả nước, còn người dân miền Nam vẫn bị người thắng cuộc coi là thù địch. Chỉ là cuộc nội chiến, người Việt Cộng sản làm chiến tranh để tiêu diệt người Việt Cộng hòa. Người Việt Cộng hòa có may mắn thoát chết trong cuộc nội chiến khốc liệt, tàn bạo đó cũng bị loại bỏ khỏi sinh hoạt xã hội, trở thành những người tù không án, bị giam cầm mút mùa không thời hạn trong những nhà tù hà khắc.

Trước 30.4.1975 một ngày, Đô đốc Elmo Zum Walt Jr., Tư lệnh hải quân Mĩ ở Việt Nam điều một máy bay vận tải C130 từ Philippines đến Tân Sơn Nhất đón cả gia đình Đô đốc Trần Văn Chơn của Hải quân Việt Nam Cộng Hòa sang Mĩ tị nạn. Đô đốc Trần Văn Chơn đã từ chối ra đi để được ở lại làm người dân Việt Nam sống cuộc đời bình yên với đất nước yêu thương đã hết chiến tranh. Nhưng những người Cộng sản thắng cuộc trong cuộc nội chiến vẫn coi những người như Đô đốc Trần Văn Chơn là đối tượng phải loại bỏ của cuộc nội chiến, họ nào có để cho ông được yên. Đô đốc Trần Văn Chơn ở tuổi ngoài sáu mươi bị tống vào nhà tù với tên gọi trại tập trung mỏi mòn mười ba năm trời. 

Những ngày ngục tù tăm tối, cực khổ, Đô đốc Trần Văn Chơn mới nhận ra rằng nhà nước Việt Nam Cộng sản chỉ là nhà nước của một giai cấp hão huyền nào đó chứ không phải nhà nước của dân tộc Việt Nam. Người Việt Nam chân chính dù yêu nước nhưng không Cộng sản cũng không thể sống bình yên trên đất nước thương yêu của mình. Ra tù dù đã gần tám mươi tuổi, chân đã yếu, mắt đã mờ, đã gần đất xa trời, dù muốn được gửi nắm xương tàn vào đất Mẹ Việt Nam bên ông bà, tổ tiên, Đô đốc Trần Văn Chơn cũng phải ngậm ngùi gạt nước mắt ra đi, tìm đến đất nước xa lạ nhưng mở lòng bao dung đón nhận ông. Vài triệu người Việt Nam đã phải bỏ nước ra đi trong nước mắt như Đô đốc Trần Văn Chơn là nỗi đau, nỗi uất hận khó nguôi ngoai của dân tộc Việt Nam. Suốt bốn ngàn năm lịch sử có khi nào dân tộc Việt Nam bị thua đau đến như vậy!

Ngày 30.4.1975 là ngày chiến thắng vĩ đại của những người cộng sản chỉ biết có giai cấp, không biết đến dân tộc nhưng là ngày thua đau của cả dân tộc Việt Nam. Dân tộc Việt Nam đã bị thua đau, bị chết mòn trong cuộc nội chiến núi xương sông máu nay lại bị đòn thù giai cấp đánh vào trái tim con người, đánh vào đạo lí xã hội, đánh vào lẽ sống còn của dân tộc làm cho dân tộc li tán tan tác và ngày 30.4.1975 là ngày khởi đầu của cuộc đại li tán dân tộc. 

Ngày 30.4.1975 sau thoáng vui nông nổi mau qua đi, người dân liền phải nhận ra một sự thật cay đắng. Sự thật của lịch sử trớ trêu: Cái hung tàn thắng cái văn minh. Sự thật trắng tay của người dân. Bao thế hệ người dân Việt Nam đổ máu trong cuộc chiến đấu cho đất nước độc lập, cho người dân được tự do. Cuộc chiến kết thúc, trở về xã hội dân sự mới lồ lộ ra một thực tế: Tự do của người dân không có mà độc lập của đất nước cũng không! Quyền yêu nước của người dân cũng bị tươc đoạt. Đất nước ngày càng phụ thuộc và mất dần vào tay kẻ thù truyền kiếp của lịch sử Việt Nam nhưng là đồng chí cùng lí tưởng, cùng ý thức hệ, là bạn vàng bốn tốt của đảng CSVN!


CSVN thừa nhận mang 16 tấn vàng VNCH cống nộp cho Liên Xô

Bảng Đỏ (Danlambao) - Ngày 10/4/2015, báo Tuổi Trẻ đăng tải bài viết“Thương vụ đặc biệt: bán vàng!”, qua đó chính thức xác nhận 16 tấn vàng của Việt Nam Cộng Hòa đã bị CSVN chở sang Liên Xô.

Như vậy, sau 40 năm, những lời vu cáo về việc cố tổng thống Việt Nam Cộng Hòa Nguyễn Văn Thiệu mang đi 16 tấn vàng đã lộ rõ thủ đoạn bịa đặt bởi hệ thống tuyên truyền cộng sản.

Trong suốt quãng đời lưu vong còn lại, ông Nguyễn Văn Thiệu đã phải mang nỗi oan này cho đến tận ngày nhắm mắt suôi tay. 

Trên thực tế, cho đến tận ngày 30/4/1975, 16 tấn vàng vẫn được lưu giữ trong Ngân hàng Quốc gia Việt Nam. Số vàng này sau đó bị đảng cộng sản Việt Nam ‘tiếp quản’.

Dù biết rõ điều này, nhưng trong sách ‘Đại thắng mùa xuân’ được xuất bản 1 năm sau đó, 1976, chính tổng tham mưu trưởng quân đội cộng sản Bắc Việt là đại đướng Văn Tiến Dũng vẫn lập lại lời vu cáo này:

"Cho đến ngày 26 tháng 4, khi Thiệu và gia đình hắn đem 16 tấn vàng bạc, đô la, của cải vội vã chạy sang Đài Loan...".

Rõ ràng, chóp bu cộng sản biết rõ sự thật về 16 tấn vàng của VNCH, nhưng vẫn cố tình bịa đặt để vu oan cho tổng thống Nguyễn Văn Thiệu.


Sau 40 năm, sự thật bắt đầu được sáng tỏ. Theo báo Tuổi Trẻ, trả lời câu hỏi 16 tấn vàng VNCH được sử dụng ra sao, cựu thống Ngân hàng nhà nước Lữu Minh Châu nói:

“Nó đã được bán ra quốc tế trong tổng số hơn 40 tấn vàng để giải quyết những vấn đề khó khăn cấp bách của quốc gia, trong đó có miếng ăn của người dân”.

Cụ thể, từ năm 1979, 40 tấn vàng đã được CSVN bí mật chở sang cống nộp cho Liên Xô, trong đó có 16 tấn vàng của VNCH. 24 tấn vàng còn lại là do cộng sản cướp được của nhân dân miền Nam qua các chiến dịch đánh tư sản. 

Đổi lại, CSVN được Liên Xô gửi lương thực cứu đói bằng bo bo – một một món ăn kinh hãi đối với người dân miền Nam sau ngày ‘giải phóng’. 

Cuối cùng, sự thật về câu chuyện 16 tấn vàng đã được trả lại, cố thổng thống Nguyễn Văn Thiệu cũng đã được minh oan. Câu chuyện này cũng là một lời nhắc nhở chúng ta phải luôn cảnh giác với sự tuyên truyền, lừa bịp của cộng sản.

Càng tìm hiểu kỹ lại lịch sử, chúng ta lại càng thấm thía câu nói của tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu: “Đừng nghe những gì Cộng sản nói, mà hãy nhìn kỹ những gì Cộng sản làm!”.