Tuesday, February 10, 2015

Vỡ cống, hơn 500 nhà dân ngập trong nước

SÀI GÒN (NV) - Cống vỡ lại không được tu sửa, khiến hơn 500 hộ dân ở xã Ða Phước, huyện Bình Chánh “bó tay,” phải sống trong cảnh ngập nước hơn nửa tháng nay, trong khi Tết đã cận kề.

Theo tờ Tuổi Trẻ, từ ngày 21 tháng 1 đến nay, hơn 500 hộ dân ở ấp 1 và một phần ấp 2, xã Ða Phước phải sống trong cảnh ngập nước do cống Hai Dẩu bị vỡ. Hàng ngày, nước dâng lên vào buổi sáng từ khoảng 6 giờ sáng đến 10 giờ đêm nước mới rút hết mà không biết làm sao để khắc phục.

Nước ngập đường, người dân phải cõng các cháu nhỏ lội nước về nhà. (Hình: Tuổi Trẻ)

Mỗi lần nước lên, nhà cửa, ruộng vườn của người dân nơi đây đều ngập trong biển nước, nhiều lúc bị ngập sâu đến nửa mét. Trong nhà, nhiều người phải dùng gạch, đá để kê cao đồ đạc song nhiều lần nước ngập cao khiến đồ dùng bằng gỗ, đồ điện tử... hư hỏng. Ngay cả lúa dự trữ trong nhà cũng bị ngấm nước đã mọc mầm, còn ruộng lúa, vườn cây cũng bị ảnh hưởng, hư hại.

Chưa hết, các con đường dẫn vào nhà dân ngập sâu khiến xe máy không vào được, buộc họ phải gởi xe từ xa để đi bộ lội nước về nhà. Trẻ con đi học té dúi dụi vì đường vốn nhỏ, hai bên là ruộng trồng lúa. Nhiều lúc nước ngập sâu quá, dân phải chèo xuồng để ra quốc lộ 50.

“Hơn nửa tháng nay, cuộc sống của chúng tôi gần như bị đảo lộn, việc đi lại rất khó khăn, vất vả. Ngoài sự khổ cực, chúng tôi còn nỗi lo về môi trường sống. Vị trí ấp 1 gần bãi rác và nghĩa trang Ða Phước, sống trong cảnh ngập nước như thế này liệu chúng tôi có bị ảnh hưởng đến sức khỏe? Chúng tôi đã phản ảnh chuyện cống vỡ đến xã Ða Phước, nhưng đến nay tình trạng này vẫn chưa được giải quyết, trong khi Tết Nguyên Ðán đang đến gần,” ông Trương Văn Nhàn, ở ấp 1, xã Ða Phước bất bình.

Trả lời báo Tuổi Trẻ, ông Ðỗ Văn Kề, phó chủ tịch xã Ða Phước, cho biết, trước đây, cống Hai Dẩu nằm tại vị trí ấp 1 thuộc bờ bao khu B, do xã quản lý. Tuy nhiên, hiện nay khu vực này thuộc dự án nghĩa trang thành phố, khu xử lý rác, bùn do Sở Tài Nguyên-Môi Trường thành phố Sài Gòn trực tiếp quản lý.

Hiện nay cống Hai Dẩu bị bể một đoạn khoảng 15m, nước tràn vào gây úng toàn bộ khu vực ấp 1 và một phần ấp 2 của xã. Ngày 2 tháng 2, những người dân ở đây đã đến xã yêu cầu khắc phục tình trạng này. Xã đã hai lần gởi đơn lên Sở Tài Nguyên-Môi Trường và huyện Bình Chánh xin khắc phục để người dân an tâm đón Tết.

Thế nhưng, ngày 7 tháng 2, ông Nguyễn Văn Tươi, chủ tịch huyện Bình Chánh, lại cho biết huyện đã nhận được phản ảnh của người dân, nhưng phải chờ kiểm tra và trong tuần sau mới có kết quả? (Tr.N)
02-10-2015 3:22:03 PM

Tám dự án ODA tại Việt Nam bị WB đưa vào danh sách đen

HÀ NỘI (NV) - Ngân Hàng Thế Giới (World Bank) vừa công bố danh sách đen (black list) - liệt kê các dự án ODA tại Việt Nam đã vay tiền của World Bank để thực hiện nhưng không đạt yêu cầu của tổ chức này.

Trong danh sách vừa kể của World Bank (WB) có tám dự án đã được đưa vào danh sách đen nhiều năm song vẫn chưa hoàn tất, tỷ lệ giải ngân thấp.


Dự án giao thông đô thị Hà Nội đứng đầu danh sách đen của WB. (Hình: TBKTSG)

Dẫn đầu là dự án giao thông đô thị thành phố Hà Nội: Nằm trong danh sách đen đã 60 tháng, thời gian thực hiện dự án đã 7 năm nhưng tỷ lệ giải ngân chỉ mới 30%. Kế đó là các dự án: Hiện đại hóa quản lý thuế; Phát triển năng lượng tái tạo; Hệ thống hiện đại hóa khu vực tài chính và quản lý thông tin; Ðại học Việt Ðức; Hỗ trợ quản lý rác thải; Quản lý rác thải công nghiệp; Hỗ trợ kỹ thuật chuẩn bị dự án.

Theo tờ Thời Báo Kinh Tế Sài Gòn, tại một cuộc họp của chi nhánh WB ở Việt Nam, ông Keiko Sato - người phụ trách bộ phận quản lý danh mục đầu tư và thực hiện dự án của WB, cảnh báo, số lượng dự án trong danh sách đen đang tăng và các dự án đó càng ngày càng chậm có chuyển biến tích cực.

Ông Sato nhận định, các dự án ODA (tài trợ để hỗ trợ phát triển) trong danh sách đen của WB có nhiều nhược điểm giống nhau, chẳng hạn khởi động khi báo cáo khả thi chưa xong, việc thu hồi đất chưa sẵn sàng, thiếu sự đồng bộ về thiết kế và dự kiến kết quả, vốn đối ứng (vốn do Việt Nam bỏ ra) thiếu hoặc chậm trễ, thiếu rõ ràng về thẩm quyền nên việc ra các quyết định cần thiết khi dự án có vấn đề trở thành chậm chạp.

Theo ông Sato, sau Trung Quốc, Ấn Ðộ và Châu Phi, Việt Nam là khách hàng lớn thứ tư của WB. Tính đến năm nay, WB đang cho vay để thực hiện 52 dự án ODA tại Việt Nam, với tổng vốn cam kết cho vay khoảng 9.7 tỉ Mỹ kim. Tuy nhiên tỉ lệ giải ngân chỉ chừng 18.6%.

Ngoài tám dự án trong danh sách đen, trong 52 dự án ODA tại Việt Nam được WB tài trợ có tới 15.3% thuộc loại rủi ro cao.

Hồi trung tuần tháng trước, ở hội nghị “Tăng cường quản trị thúc đẩy phát triển tại Việt Nam,” WB từng công bố, Việt Nam xếp thứ hai về các khiếu nại tham nhũng. Trong 20 quốc gia có nhiều khiếu nại về tham nhũng nhất, Việt Nam chỉ thua Ấn Ðộ. Theo WB, đa số khiếu nại về tham nhũng tại Việt Nam mà họ nhận được liên quan đến các dự án giao thông và cấp nước, kế đó là các dự án nông nghiệp và năng lượng.

Lúc đó, ông Anders Hjorth Agerskov, đại diện của WB, cho biết thêm, khu vực Ðông Á-Thái Bình Dương là nơi có tỷ lệ dự án bị khiếu nại về gian lận, tham nhũng cao thứ hai trên toàn cầu (dẫn đầu là Châu Phi) và Việt Nam được coi là “điểm nóng” tại khu vực Ðông Á-Thái Bình Dương. Ðáng lưu ý là ông Agerskov nhấn mạnh, có thể những con số mà WB công bố vẫn chưa phản ánh toàn bộ thực tế.

Các chuyên gia cho rằng, điểm yếu nhất khiến tham nhũng tại Việt Nam trở thành nghiêm trọng và nan giải là lề lối quản lý những dự án sử dụng vốn ODA.

Trong ba thập niên vừa qua, Việt Nam nhận được các cam kết tài trợ trị giá khoảng 80 tỷ Mỹ kim. Phần lớn nguồn tiền khổng lồ này được phân bổ cho các dự án phát triển hạ tầng kinh tế như: phi trường, cảng biển, đường sá... Trên thực tế, những biểu hiện gian lận, tham nhũng tại các dự án đó đang khiến giới tài trợ lo ngại.

Tại hội nghị vừa kể, ông Trần Ðức Lượng, phó tổng thanh tra chính phủ Việt Nam, thú nhận, việc phát hiện, xử lý hối lộ-tham nhũng chưa tương xứng vì các dự án sử dụng vốn ODA thường có quy mô lớn, phức tạp về kỹ thuật và được thực hiện trong một thời gian dài với sự tham gia của nhiều bên.

Một nguyên nhân quan trọng khác khiến các dự án sử dụng vốn ODA thường phát sinh gian lận, hối lộ-tham nhũng là việc xem các khoản vay ODA như viện trợ không hoàn lại hoặc “đời mình chưa phải lo trả,” nên không chú trọng tới yêu cầu phải sử dụng khoản vốn đó sao cho có hiệu quả.

Viên phó tổng thanh tra chính phủ Việt Nam còn đề cập tới một nguyên nhân nữa là những nhân vật đứng đầu các bộ, ngành, địa phương lo ngại việc công bố, xử lý các sai phạm sẽ ảnh hưởng tiêu cực tới quan hệ ngoại giao và chính sách hợp tác phát triển với giới tài trợ, thành ra chuyện chống gian lận, hối lộ-tham nhũng ở các dự án sử dụng vốn ODA không đến đâu. (G.Ð)
02-10-2015 3:18:08 PM

Trận đói Tháng Ba năm Ất Dậu 1945

Theo Người Việt-02-09-2015 1:38:25 PM
Phạm Cao Dương


Một trong những cảnh chết đống trong nạn đói 1945- Ảnh Internet

Ðây là trận đói thê thảm nhất và khủng khiếp chưa từng xảy ra trong lịch sử Việt Nam với hàng triệu người đã bị bỏ mạng, đồng thời cũng là một trong những nguyên nhân chính đã đưa tới biến cố 19 tháng 8 năm 1945, Việt Minh cướp chính quyền, và tình trạng hiện thời của một nước Việt Nam lẽ ra ra đã có tự do, dân chủ và tiến bộ từ bảy mươi năm trước.

Ðây cũng là một trang sử mà bất cứ người Việt Nam nào cũng nên đọc, tìm hiểu và ghi nhớ. Không đọc, không hiểu và không ghi nhớ trang sử này người ta sẽ không hiểu được bản chất của Cách Mạng Tháng Tám và biến cố Việt Minh cướp chính quyền sau đó. Những câu hỏi cần được đặt ra là do đâu có nạn đói này? Nạn đói đã diễn ra như thế nào và được người Việt đương thời kể lại ra sao? và Cộng Sản Việt Minh đã thực sự làm gì trước tình cảnh thê thảm của đồng bào ta thời đó?

Do đâu có trận đói này?

Xảy ra dưới thời Vua Bảo Ðại và chính phủ Trần Trọng Kim nhưng thực sự trận đói này đã có nguồn gốc từ lâu trước đó còn chính phủ Trần Trọng Kim, một cách oan khuất, đã phải lãnh chịu tất cả mọi hậu quả, nhất là bị trách cứ là tay sai của Nhật, là bất lực. Trong khi đó thì Việt Minh dưới sự lãnh đạo của Ðảng Cộng Sản đã lợi dụng cơ hội tuyên truyền, sách động quần chúng, cướp chính quyền khi Nhật Bản đầu hàng.

Nói rằng trận đói này có nguồn gốc từ lâu là vì đồng bằng Bắc Kỳ và ba tỉnh Thanh Nghệ Tĩnh dân số vốn dĩ đã đông, lại tăng thêm nhiều trong những năm cuối thập niên 1930 đầu thập niên 1940 trong khi diện tích canh tác lúa gạo hầu như không thay đổi, kỹ thuật sản xuất cho tới thời điểm này vẫn còn lạc hậu, sản lượng lúa gạo trong những năm bình thường chỉ vừa đủ cho người dân sống dưới khẩu phần trung bình cần thiết cho mỗi cá nhân. Ngô, khoai, sắn, đậu... phải được dùng để ăn độn thêm; nhiều khi những thứ này không còn đủ, họ phải ăn cám. Tại sao lại phải ăn độn thêm? Ta có thể giải thích dựa theo những con số do Y. Henry và De Visme cung cấp. Theo hai ông này, nếu khẩu phần trung bình cần thiết cho một người trong một năm là 337 kg thóc, tương xứng với 223 kg gạo thì người nông dân Việt Nam trong suốt thời kỳ Pháp thuộc không bao giờ có được khẩu phần này. Ngay từ năm 1900 con số đã giảm xuống còn 262 kg, năm 1913 còn 226 kg, và đến năm 1937 còn 182 kg. Ðây chỉ là những con số tính chung cho toàn cõi Ðông Pháp. Ở những nơi đông dân như Bắc Kỳ và miền Bắc Trung Kỳ, tình trạng thiếu ăn này còn trầm trọng hơn nhiều. Khoảng năm 1937, khẩu phần trung bình ở Bắc Kỳ chỉ có 217 kg thóc, tương đương với 143.5 kg gạo và ở Trung Kỳ là 223 kg thóc hay 154 kg gạo một năm. (1) Về phía người Việt Nam, Nghiêm Xuân Yêm, một chuyên gia nông nghiệp tốt nghiệp trường Cao Ðẳng Nông Lâm đương thời, sau này là bộ trưởng Canh Nông trong chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa trong các thập niên 1950, 1960, trong một bài viết đăng trên tờ Thanh Nghị, số 107, ra ngày 5 Tháng Năm 1945, nhan đề “Nạn Dân Ðói, Một Vài Nhận Xét và Thiển Kiến Về Vấn đề Thóc Gạo” cũng đưa ra nhận xét tương tự. Ông viết:

“Toàn xứ chỉ có ba tỉnh dưới đây là đại khái có thóc gạo vừa vặn đủ ăn không thừa để bán sang địa hạt tỉnh khác và cũng không phải đong thêm ở các tỉnh lân cận nào:

1) Bắc Ninh sản xuất: 800,000 tạ thóc, dân số: 480,000 người, mỗi miệng ăn cả năm được 192 kg thóc.

2) Phú Thọ sản xuất: 494,000 tạ thóc, dân số: 203,000 người, mỗi miệng ăn cả năm được 187 kg thóc.

3) Sơn Tây sản xuất 528,000 tạ thóc, dân số: 270,000 người, mỗi miệng ăn cả năm được 195 kg thóc.

“Trung bình, cả 3 tỉnh, mỗi người dân 191 kg thóc một năm, vào khoảng 840grs gạo một ngày.

“Sở dĩ dân 3 tỉnh ấy đủ no với số gạo 840 grs một ngày là vì 3 tỉnh ấy trồng trọt được nhiều hoa mầu ngô, khoai, sắn... Còn các tỉnh khác đều kém ruộng trồng mầu cả. Vậy nếu ta căn cứ vào 3 tỉnh đủ ăn ấy, ta nhận thấy rằng: dù kể cả ngô khoai, sắn ăn lẫn với gạo thì theo sức sản xuất của mọi trồng trọt, mỗi người dân xứ ta vẫn còn cần phải được ít ra 191 kg thóc. Nghĩa là nếu ở toàn xứ, mọi sự trồng trọt hoa mầu dầu được tương tự bằng ở 3 tỉnh Bắc Ninh, Phú Thọ, Sơn Tây để có thể có đủ thức ăn độn thì dân cũng cần phải có tới 17,000,000 tạ thóc để ăn. Tóm lại đổ đồng hàng năm ta vẫn còn thiếu mất: 17,000,000 - 14,500,000 = 2,500,000 tạ thóc. Nhưng sự thực dân ta vẫn còn bị thiếu hơn vì các tỉnh khác có trồng được ngô khoai tương tự bằng 3 tỉnh kể trên đâu. Vậy ta có thể quả quyết nói rằng mỗi năm xứ Bắc này thiếu mất 3,000,000 tạ thóc là ít.

“Tôi xin nhắc lại rằng vì trong quá nửa nồi cơm của dân quê ta có trộn ngô khoai nên trên đây chúng ta mới tính thấy dân chỉ thiếu có ngần ấy thóc, chứ tôi chắc ai ai cũng biết rằng ăn độn ngô, khoai là một việc bất đắc dĩ. Vì ở các nước ngoài, những thứ kể trên thường chỉ dành riêng cho ngựa, bò hay lợn ăn thôi và gượng gạo dân quê ta thực trạng vẫn sống không bằng đàn gia súc của người ngoài.

“Bởi vì bình thường dân ta cũng đã thiếu ăn như thế nên hễ rủi gặp trận bão lụt... ắt nạn đói bùng lên nhất là từ hồi người Pháp mượn cớ chiến tranh lập ra chính sách thu thóc một cách tàn ác thái quá thì ròng rã mấy năm nay nông dân mỗi ngày một lâm vào cảnh cơ cực cùng quẫn và đến nỗi ở khắp đồng nội, thành thị ngày nay mới thấy những thảm trạng thây chết nằm ngổn ngang và người sống vất vưởng nheo nhóc như những hồn ma xuất hiện.

“Hàng triệu sinh linh ngày nay tranh ăn hết phần của súc vật. Cám, bã đậu phụ, rau chuối, củ chuối... là những thức ăn của lợn. Bây giờ dân ăn cơm độn với cám, ăn bánh đúc cám và cháo cám. Củ chuối ở Trung châu bị đào, ngoáy lên chừng sắp hết nên có người đã buôn củ chuối từ Trung du về xuôi với cái giá $150 một tạ. Vì người ta tranh ăn hết phần của chúng, nên lợn, chó, gà, vịt đều phải chết, và thịt thà trở nên một ngày một khan.”

Riêng chuyện ăn cám đã được nhà văn Lãng Nhân ghi trong một bài viết đăng trong Ðông Dương Tạp Chí, ngày 13 tháng 11 năm 1937, nhan đề “Lời Người Bán Cám” nguyên văn như sau:

“Trong mấy năm nay, từ khi xảy ra nạn kinh tế đến giờ, chúng tôi buôn cám thật chạy tay. Những người đến mua không phải là mua về cho lợn, họ mua về để ăn. Gạo đắt quá, ngô khoai cũng đắt, nhiều người nhà quê phải đành ăn cám. Miễn là đầy bụng thì thôi. Mà ông lại nên biết rằng ăn cám cũng chia làm ba hạng người: Một hạng kiếm được dăm ba xu một ngày, mua cám về nấu lên với rau mà ăn, như lối ăn của lợn nhà giàu. Hạng nữa kiếm được hai ba xu một ngày chỉ trộn cám với nước lã rồi ăn như lối ăn của lợn nhà nghèo. Còn hạng thứ ba là gồm có những người như ông vừa thấy đó, nghĩa là những người không kiếm được xu nào cả, ngày hai buổi đi ngang qua dãy hàng cám, dừng lại mỗi nhà một lúc, mặc cả một đôi câu rồi vốc lấy ít cám bỏ mồm làm như để nếm. Cứ thế vừa đi hết dãy là no.

“Ở thành Nam là nơi không lụt lội mà còn bao nhiêu người ăn cám, không biết ở nơi bèo trôi sóng vỗ người ta được ăn những gì?

“Xét ra người nhà quê phần nhiều phải ăn cám cũng là lẽ tất nhiên. Ði gặt hái một ngày chỉ kiếm được ba xu, khi không phải mùa gặt hái thì đi đánh giậm, một buổi khéo lắm được mười xóc cua, đem bán ba xu. Ba xu mà nuôi cha già, con dại, ba xu mà vợ đẻ con sài, ba xu mà đóng góp với làng, thật là ăn cám cũng không xong. Nào có được đâu một ‘số lương ít nhất’ như thợ thuyền. Nào có được như thợ thuyền làm có giờ, chơi có buổi! Lại cũng không họp được đoàn thể mà yêu cầu, không đình công được mà phản kháng. Quan bắt đi đê thì phải bỏ hết mà ra đê, có ‘cụ’ nào về kinh lý thì lại phải đẵn tre, vác cờ đi hàng chục cây số để bày hương án, kết cổng chào, tỏ lòng khuất phục! Bấy nhiêu việc đều là không công.” (2)

Tình trạng bấp bênh, trên bờ vực của đói kém này dễ trở thành trầm trọng hơn khi có những đại nạn bất ngờ xảy ra như hạn hán, lụt lội, bão táp, (3) côn trùng... phá hại mùa màng hay giặc giã cướp phá trong đó có sự cướp phá các kho thóc của Việt Minh, làm mất an ninh. Tất cả những tác tố này đã xảy ra từ những năm trước năm 1945 và đã trở thành trầm trọng hơn với sự bùng nổ của Thế Chiến Thứ Hai và sự hiện diện của quân đội Nhật. Nhu cầu tiêu thụ của quân đội Nhật, sự cưỡng bách người dân nộp và tích trữ gạo của cả người Nhật lẫn người Pháp, việc người Nhật ép buộc người dân phải bỏ ruộng trồng lúa để trồng đay, trồng thầu dầu hay đậu phọng và sản xuất thêm rượu do nhu cầu của chiến tranh, nạn máy nay Mỹ oanh tạc đường biển và đường xe lửa Bắc-Nam hàng ngày khiến gạo từ miền Nam không chở ra để tiếp tế cho miền Bắc như trong những năm bình thường (4), nạn lũng đoạn của gian thương, nhất là gian thương người Tàu là những nguyên nhân chính yếu đã được ghi nhận, đặc biệt là từ sau năm 1943.

Diễn tiến và thảm cảnh của trận đói

Bắt đầu từ mùa Ðông năm 1944 nạn đói đã lan rộng và trở nên mỗi ngày một trầm trọng hơn. Từ miền quê nạn khan hiếm gạo đã lan đến các thành thị và luôn cả thủ đô Hà Nội. Ðoàn Thêm, một công chức trẻ của Phủ Toàn Quyền đương thời, một trong số rất nhiều nhân chứng sống đã ghi lại hiện tượng này ở ngay Hà Nội như sau:

“Từ Tháng Chạp (1944) không thấy bóng chị hàng sáo quen vẫn quảy gạo trắng từ ngoại-ô vào Hà-nội bán cho gia đình tôi; nghe nói thôn-quê không còn dư để cung cấp cho thành-phố nữa. Nên người nhà tôi phải đi đong gạo tiếp-tế vừa đỏ vừa rắn, lại phải mang thẻ phân phối đứng nối đuôi dài trước tiệm buôn lẻ và chầu chực hàng giờ; có khi đợi lâu quá, đành trả một vài hào (cắc) cho người đến trước để được nhường chỗ. Chỗ đứng cũng bị đầu-cơ do những kẻ chuyên đi choán sớm để buộc người nóng ruột bỏ tiền ra mua quyền ưu-tiên.” (5)

Nhưng đó chỉ là buổi đầu, sau đó là dân quê rủ nhau tới các thành phố để kiếm ăn, vì tưởng ở đây thừa gạo dự trữ để cứu trợ, cũng theo lời kể của Ðoàn Thêm.

“Các hội thiện phải lập những trại tạm-trú ở quanh thành phố, như tại xã Giáp-nhất, Giáp-nhì, Giáp-bát, bãi cát Phúc-xá bên sông Nhị-hà: hàng ngàn người cầu thực được chứa tại đó, và cấp cháo nấu bằng gạo lạc-quyên. Nhưng số người cứ tăng mãi, cứu tế làm sao cho đủ? Bao hành khất hốc-hác như bộ xương ma, được đồng tiền không lấy, chỉ xin cơm. Một ông già đã quá đuối sức vừa nhận nắm xôi chưa kịp bỏ vào mồm, đã lăn ra tắt thở. Nhiều thây gục chết ở đầu hè, góc chợ, được chở ra nhà xác thủ-đô.

“Ở nhiều vùng dân chết cả nhà, cả xóm, hay gần cả làng. Hết gạo, hết khoai, hết chó mèo, hết chim, hết chuột, hết củ chuối, người ta làm thịt... con nít. Sự thảm khốc này dĩ nhiên là khó tin. Nhưng tới năm 1947, nhân dịp chạy tản cư về hạt Xuân-trường tỉnh Nam Ðịnh, tôi đã có lần bước vào một ngôi nhà trống. Hỏi vì sao nơi đây hoang vắng, thì được mách rằng không ai dám đến ở, vì cả gia đình khổ-chủ đã chết từ năm 1945 sau khi nấu một đứa con nhỏ làm món nhựa mận ăn cho đỡ đói.” (6)

Chưa hết, bên cạnh cái đói là cái rét. Chưa bao giờ miền Bắc lại rét như vậy. Ngày Tết Nguyên Ðán năm Ất Dậu (13 tháng 2, 1945) nhiệt độ được ghi nhận là 4 độ ở Hà Nội. (7) Ngay cả Văn Cao, tác giả của bài Tiến Quân Ca, nhạc phẩm sau này trở thành quốc ca của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa và tiếp theo là của Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Ông cũng là tác giả của rất nhiều bài hát trữ tình nổi tiếng nhất Việt Nam đương thời và sau này, cũng đã là nạn nhân của cả hai nạn đói và rét này. Người nhạc sĩ được nhiều người kính trọng và yêu mến đã kể lại hoàn cảnh của chính ông như sau:

“Năm ấy rét hơn mọi năm. Tôi ngủ mặc nguyên quần áo. Có đêm phải đốt dần bản thảo và ký họa để sưởi. Ðêm năm ấy cũng dài hơn mọi năm. Những ngày đói của tôi bắt đầu...” (8) với những gì ông nhìn thấy ở Hà Nội, chung quanh ông:

“Bên một gốc cây bóng những người đói khổ trần truồng loang trên mặt hồ lạnh. Họ đang đun một thứ gì trong một cái vỏ sữa bò. Ngọn lửa tím sẫm bập bùng trong những hốc mặt. Có một đứa bé gái. Nó khoảng lên ba. Tôi ngờ ngợ như gặp lại cháu tôi. Ðôi mắt nó giống như mắt con mèo con. Cháu bé không mảnh giẻ che thân. Nó ngồi ở xa nhìn mấy người lớn sưởi lửa. Cháu tôi. Nó đã chết thật rồi. Có thể nó đã nằm trong số người chết dọc đường Nam Ðịnh-Hải Phòng. Tôi bỗng trào nước mắt và quay đi.”

“Tin từ Nam Ðịnh lên cho biết mẹ tôi và các em đã về quê và đang đói. Họ đang phải tìm mọi cách để sống qua ngày như mọi người đang chờ một cái chết thật chậm, tự ăn mình như ngọn nến.” (9)

Chính trong hoàn cảnh bi đát này, Vũ Quí, một cán bộ Cộng Sản, vốn đã theo dõi hoạt động của Văn Cao từ lâu, đã xuất hiện, đưa Văn Cao vào một tiệm ăn và người nhạc sĩ này đã nhận thoát ly, gia nhập Việt Minh, sáng tác bài Tiến Quân Ca và tham gia Ðội Danh Dự, ám sát Ðỗ Ðức Phin... như sẽ được trình bày trong một bài sau.

Cũng trong năm 1945 này, nhà văn Nguyễn Huy Tưởng, ngày 8 tháng 4, đã ghi trong nhật ký của ông khi ông lên thăm Tô Hoài và Nam Cao như sau:

“Dọc đường toàn những cảnh đói. Tiếng khóc như đám ma. Những bà cụ mếu máo, những trẻ trần truồng rúc đầu góc tường, hay nằm trong chiếu, những đôi bố con cũng trần truồng nằm vệ đường, những thây chết cong queo, những cái thai trong bụng mẹ, giơ tay một cách dọa nạt. Muốn chụp ảnh,” (10) rồi non một tháng sau, ngày 12 tháng 5, Nguyễn Huy Tưởng ghi thêm:

“Nhiều cảnh ăn thịt người. Cảm thấy như mang lỗi khi làm tiểu thuyết giữa lúc số phận đất nước đang nguy ngập chưa biết định đoạt ra sao” (11)

Vũ Ðình Hòe, một trong năm người sáng lập và chủ trương tờ Thanh Nghị đã nói ở trên cũng cho biết:

“Các báo hàng ngày luôn luôn phản ảnh bức tranh vô cùng ảm đạm của cảnh chết đói đầy đường ở nông thôn các tỉnh đồng bằng Bắc Kỳ và Bắc Trung Kỳ. Từng bọn người rách rưới, thân hình khô đét, đen thủi; vợ chồng con cái dắt díu đi ăn xin ở đường phố Hà Nội, hoặc lê la vào các chợ nhặt lá bánh từ các đống rác đầy ruồi nhặng. Xe bò của các hội từ thiện mỗi buổi sáng đi nhặt xác chết, sau khi đã phân phát hết những nắm cơn nhão, những bát cháo loãng chở trên xe cho những người còn lết đi được hoặc còn thoi thóp.” (12)

Ðói từ đó đã trở thành đề tài cho văn chương, thi ca và âm nhạc của Việt Nam đương thời và sau này, điển hình là nhạc sĩ Ngọc Bích với bài hát Con Ðò Ðưa Xác, Bàng Bá Lân với bài thơ Ðói...

Con số nạn nhân được hầu hết mọi người nói tới là hai triệu. Hai triệu trong số non 10 triệu người bị coi là một con số khủng khiếp vì nó tương đương với 20% dân số của miền Bắc và của hai tỉnh Thanh-Nghệ đương thời. Con số này, tuy nhiên bị nhiều người trong đó có sử gia Mỹ David G. Marr và sử gia Na Uy Stein Tonnesson cho là phóng đại bởi những nhà tuyên truyền Việt Minh. Ngay Hồ Chí Minh trong bản Tuyên Ngôn Ðộc lập của ông cũng đưa ra không những con số hai triệu mà còn “hơn” hai triệu. Thực sự người ta không biết con số nạn nhân là bao nhiêu vì thống kê chính xác và đầy đủ cho tới nay vẫn chưa tìm ra được nếu không nói là không có. Các quan lại cai trị địa phương do hoàn cảnh vô cùng nhiễu nhương, giao thông trở ngại, khó mà làm chủ được tình hình. Những con số người ta có được chỉ là vụn vặt của một số phủ, huyện, tỉnh gửi về Phủ Khâm Sai Bắc Bộ chứ không phải của toàn thể các tỉnh miền Bắc, chưa kể Thanh Hóa và Nghệ An. David G. Marr cho rằng con số đáng tin cậy hơn là một triệu, con số theo ông đã khủng khiếp lắm rồi vì nó tương đương với mười phần trăm dân số trong vùng cho một thời gian ngắn ngủi, vỏn vẹn có năm tháng. Sử gia này cũng viện dẫn những con số trích trong tài liệu dùng cho các viên chức của chính phủ Hồ Chí Minh thời đó như một triệu người ở miền Bắc và ba trăm ngàn ở miền Trung. Còn Stein Tonesson thì ước lượng thấp hơn, từ nửa triệu đến một triệu. (13) Các sử gia khác như Philippe Devillers thì con số là gần một triệu, (14) Joseph Buttinger là từ một triệu đến 2 triệu, còn dẫn theo Toàn Quyền Jean Decoux, là một triệu. (15) Sau này Fredrik Logeval, dẫn theo tài liệu của nhà cầm quyền đương thời, có lẽ là thời chính phủ Trần trọng Kim, vào tháng 5 năm 1945, (16) vào lúc nạn đói đã giảm bớt là 380,969 cho miền đồng bằng Bắc Kỳ, và sau một năm với các dữ liệu đầy đủ hơn là một triệu người cho miền Bắc và khoảng 300,000 cho miền Bắc Trung Kỳ. Trong những năm sau nữa con số leo lên tới hai triệu người cho khoảng thời gian là năm tháng của năm 1945. Trước đó sử gia Alexander B. Woodside đã đưa ra một biên độ lớn hơn là từ 400,000 đến 2 triệu cho hai năm 1944-1945. (17) Có điều con số hai triệu hay hơn hai triệu đã trở thành chính thức được công bố và được ghi trong sử sách của chính quyền Việt Minh thời đó, coi như tội ác gây ra bởi Thực Dân Pháp và Phát Xít Nhật, một mục tiêu tuyên truyền nhằm thúc đẩy quần chúng nổi lên chống lại không chỉ hai thế lực thống trị Việt Nam thời đó mà luôn cả chính quyền Bảo Ðại-Trần Trọng Kim sau này, một chính quyền bị Việt Minh tuyên truyền là bù nhìn, là Việt gian, tay sai của cả Pháp lẫn Nhật, tuyên truyền để dân chúng nổi lên giúp họ cướp chính quyền ngày 19 tháng 8 sau đó. (18) Thuật vận động của tổ chức này là “bám vào nạn đói kém, chính sách thu thóc, thu hạt dầu mà gây lòng phẫn uất của nhân dân, làm cho họ giác ngộ Nhật không giải phóng cho ta đâu, do đó đưa nhân dân ra đường tranh đấu...” (19) Tất cả là nhằm vào mục tiêu chính yếu là cướp chính quyền như họ sẽ thực hiện về sau này, kể cả sau khi Nhật Bản đã đầu hàng và chính quyền Bảo Ðại-Trần trọng Kim đã đương nhiên trở thành hoàn toàn độc lập.

Chính phủ Trần Trọng Kim và công tác cứu trợ

Cứu đói và luôn cả cứu rét do đó là hai công tác vô cùng khẩn cấp mà chính phủ Trần Trọng Kim phải làm và được mọi người trông đợi phải làm ngay từ khi mới được thành lập vì, như đã nói ở trên, nạn đói đã lên đến cực điểm vào tháng 3 năm đó đúng như tên nó được gọi: Trận Ðói Tháng Ba Năm Ất Dậu và vì “Tháng Ba bà già chết rét.” Hành động đầu tiên của chính phủ này là yêu cầu người Nhật bãi bỏ sự cưỡng bách bán gạo của họ ở miền Trung và miễn bán cho những ai có dưới 3 mẫu ruộng ở miền Bắc. Lý do là vì sự cưỡng bách này đã làm cho gạo trở thành khan hiếm có tiền cũng không mua được, kể cả trường hợp của các tổ chức cứu trợ. Mặt khác, một Ủy Ban Trung Ương Tiếp Trợ Nạn Nhân Miền Bắc do Từ Cung Hoàng Thái Hậu, thân mẫu của Hoàng Ðế Bảo Ðại làm chủ tịch danh dự, Bộ Trưởng Bộ Kinh Tế Hồ Tá Khanh, làm phó chủ tịch, trụ sở đặt ở số 43 đường Paul Bet, Hà Nội. (20) Tiếp theo, ngày 7 tháng 6, Khâm Sai Bắc Bộ Phan Kế Toại ra nghị định bãi lệ nộp thóc cho chánh quyền, đồng thời cấm tích trữ quá 2 tấn thóc hoặc 1 tấn gạo, cho hàng sáo chuyên chở và bán gạo tự do, giá thóc cũng được ấn định từ $100 đến $130 mỗi tạ, giá gạo từ $150 đến $225 mỗi tạ, so với giá gạo chợ đen ở Hà Nội hồi tháng 5 trước đó là $600 một tạ gạo xấu, $800 một tạ gạo tốt. (21) Mặt khác, ngày 14 tháng 6, Bộ Trưởng Bộ Tiếp Tế Nguyễn Hữu Thí được đặc phái vào Saigon thu xếp việc vận chuyển gạo từ Nam ra Bắc và việc di cư một triệu dân từ Bắc bộ và Trung Bộ vô Nam. (22) Ðây không phải là một việc làm dễ dàng vì cả ba đường xe lửa, đường bộ và đường biển đều bị không quân Mỹ thường xuyên oanh tạc. Người ta đã phải dùng các hải cảng nhỏ khác thay vì Saigon và các thuyền mành của tư nhân để chuyên chở thóc gạo ra Bắc.

Việt Minh và các cuộc cướp phá các kho thóc gạo

Nỗ lực đem gạo từ Nam ra Bắc tuy nhiên đã không mang lại được những kết quả mong muốn vì nó nằm ngoài tầm tay của người Việt chưa kể sự phá hoại của chính Việt Minh mà sử gia Mỹ David G. Marr đã ghi trong tác phẩm của ông căn cứ vào tài liệu của huyện Sơn Tịnh thuộc tỉnh Quảng Ngãi, theo đó Việt Minh đã chặn bắt nhiều thuyền chở gạo từ Nam ra Bắc, lấy hết gạo, đem giấu đi hay chở lên núi cho du kích của họ. (23) Ðiều này phù hợp với những gì hai tác giả Trần Hữu Ðính và Lê Trung Dũng viết trong Cách Mạng Tháng Tám 1945, Những sự kiện lịch sử như sau:

“Ở các tỉnh miền núi Bắc Bộ như Cao Bằng, Sơn la, Thái Nguyên, Yên Bái, trong khi các lực lượng vũ trang cùng quần chúng nhân dân khởi nghĩa đánh đồn, chiếm huyện thì đều tiến hành phá các kho thóc, muối chia cho dân, hoặc tích trữ cho bộ đội, du kích.” (24)

Mục tiêu sau, mục tiêu “tích trữ cho bộ đội du kích” hầu như ít khi được các tác giả viết về hiện tượng Việt Minh xúi dân phá các kho thóc, gạo nhắc đến mặc dầu ai cũng biết nhu cầu tích trữ thóc gạo để dùng trong các chiến khu của Việt Minh để nuôi cán bộ và du kích ngay từ những ngày đầu là một mục tiêu tối cần thiết bên cạnh các mục tiêu kinh tài khác mà Nguyễn Lương Bằng, từ năm 1943, được Trường Chinh trao cho trách nhiệm kinh tài. Sư kiện này đã được người sau này sẽ là chủ tịch nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa kể lại và được tác giả Thép Mới ghi như sau:

“Tôi từ làng Thượng Cát chỉ huy các mối buôn, thôi thì buôn đủ thứ, buôn gạo, buôn khô dầu, buôn dầu ve, dầu trẩu, buôn bè, buôn mật Mai Lĩnh bán vào Hà Nội, buôn gỗ trai làm lược bán về dưới chợ Bằng.” (25)

Nên để ý là Việt Minh ở các chiến khu hồi này rất cần tiền để duy trì và phát triển các sinh hoạt của họ vì, cũng theo Nguyễn Lương Bằng qua hồi ký kể trên, vào khoảng cuối năm 1943, đầu năm 1944, khi được Trường Chinh và Hoàng Quốc Việt phân công “phụ trách dân vận một bộ phận an toàn khu, phụ trách binh vận và phục trách về tài chính,” ông có hỏi “quỹ của Ðảng ta còn bao nhiêu tiền” thì được Trường Chinh trả lời “Tất cả còn hai mươi bốn đồng.” (26)

Câu hỏi được đặt ra ở đây là những hoạt động kinh tài này có ảnh hưởng gì tới sự gia tăng của giá bán và nạn khan hiếm lúa gạo hay không và lượng gạo do những tổ chức của Nguyễn Lương Bằng bán ra có phải là gạo cướp từ các kho chứa của nhà nước đương thời hay không? Câu trả lời phần nhiều là có.

Tác giả Vũ Ngự Chiêu cũng nhắc tới sự cản trở của Việt Minh khi ông nói về việc họ cung cấp tin tình báo cho các oanh tạc cơ Mỹ vào lúc lực lượng này gia tăng hoạt động nhắm vào các đường giao thông khiến cho chính phủ Trần Trọng Kim phải dùng xe đạp để chuyển tin tức. Sử gia này cũng nhắc tới sự kiện Bộ Trưởng Xã Hội Vũ Ngọc Anh bị máy bay Mỹ bắn chết ngày 23 tháng 7 và việc Việt Minh xúi giục nông dân phá các kho thóc ở các địa phương. (27) Sự thực thì hành động xúi bẩy dân chúng phá các kho thóc ở các địa phương này nằm trong chủ trương của Việt Minh. Bằng chứng là trong Lời Kêu Gọi của Việt Nam Ðộc Lập Ðồng Minh Chống Nạn Cứu Ðói với nguyên văn “...ai là người đương đói khổ, phải rủ nhau kéo đến phủ huyện, tỉnh trưởng, đốc lý đòi phát gạo; chẹn các xe lương và phá những kho thóc của giặc Nhật mà ăn...” hay “Ðói! Ðói! Phải giữ lấy thóc gạo. Phải phá những kho thóc gạo của giặc” hay “Ðói! Ðói! Phải đánh đuổi Nhật Pháp mới khỏi đói.” (28) Hiện tượng phá các kho thóc gạo từ tháng 3 đến tháng 7 năm 1945 do Việt Minh xúi bẩy và được Mặt Trận ghi nhận như những thành tích lớn lao của họ đã xảy ra ở rất nhiều nơi và được đăng trên các báo Cứu Quốc và Cờ Giải Phóng. Một vài trường hợp điển hình người ta có thể kể là ở huyện Hiệp Hòa, tỉnh Ðề Thám (tức Bắc Giang) ngày 13 tháng 3, phủ Thuận Thành, tỉnh Ngô Gia Tự (tức Bắc Ninh) ngày 15 tháng 3, tỉnh Tán Thuật (tức Hưng Yên) liên tiếp các ngày 9, 10, 12, 14 tháng 5 và 8 tháng 6, tỉnh Vĩnh Phúc ngày 16 tháng 5, tỉnh Nguyễn Thái Học (tức Vĩnh Yên) ngày 13 tháng 6... (29) Ðiều không kém đáng chú ý là qua những hình ảnh trong các phim tuyên truyền sau này được phổ biến, những người cướp phá các kho thóc gạo có thân hình mập mạp, khỏe mạnh thay vì ốm đói như đương thời được chụp hay tả lại.

Hành động thúc đẩy dân chúng hay tự mình phá kho thóc, kèm theo với sự xúi bẩy dân chúng không nộp thuế, đòi phát gạo... này đã được Việt Minh “kết hợp với phong trào đấu tranh vũ trang trong toàn quốc.” Thay vì gây khó khăn cho người Nhật hay người Pháp, họ đã gây ra rất nhiều khó khăn và nguy hiểm cho các nhà cầm quyền địa phương đương thời, đặc biệt là các tổng lý và các tri phủ, tri huyện là những người trực tiếp lo việc coi giữ các kho thóc gạo trong địa phương của họ, từ đó cho chính phủ Trần trọng Kim. Lý do là vì các kho thóc gạo ở các địa phương không phải là chỉ là của người Nhật mà còn là kho dự trữ để điều hòa giá cả trên thị trường trong tổ chức chính quyền của các vua nhà Nguyễn. Nhiều người đã bị bao vây, đánh đập hay bị giết vì đằng sau những người dân thuần túy là những đội danh dự, những cán bộ và những du kích võ trang Việt Minh. Mặt khác, khi xúi người dân đi cướp các kho thóc này, Việt Minh đã biến những người dân thật thà, vô tội này thành những kẻ phạm tội và bị truy tố. Không còn cách nào để trốn tránh pháp luật, những con người khốn khổ và ngây thơ này đã phải bỏ lên chiến khu cùng với những gì họ cướp được. Trường hợp của “chú Thấu” trong hồi ký của nhà văn Vũ Thụy Hoàng là một trường hợp điển hình. (30)

Cuối cùng thì bằng cách cướp phá các kho thóc gạo, ngoài mục tiêu tâm lý, Việt Minh còn vừa được gạo, vừa được người. Cũng cần phải để ý là các tỉnh có các kho thóc bị cướp kể trên không phải là những tỉnh ở đồng bằng Bắc Bộ như Nam Ðịnh, Thái Bình, Hà Ðông..., nơi nạn đói hoành hành mà là các tỉnh ở miền Trung du không xa các cứ địa của Việt Minh là mấy. Người dân ở các tỉnh đồng bằng này, vì bị đói nhiều ngày, lê không nổi, nằm chết dọc đường khi kéo nhau lên các tỉnh hay phủ huyện lỵ ở miền xuôi chưa nổi, sức đâu mà kéo lên các tỉnh ở tít trên các miền Trung du này để cướp phá các kho thóc như được kể. Họ cũng không thể lên đó để lãnh thóc hay gạo hay cơm, cháo từ tay các cán bộ. Việt Minh cũng khó có thể đem thóc hay gạo xuống các tỉnh miền xuôi để phát cho họ. Trường Chinh sau này khi viết về hiện tượng cướp các kho thóc gạo cũng đã đưa ra những con số và hình ảnh mà người đọc không thể không nghĩ là ông đã phóng đại: “Hàng nghìn kho thóc của Nhật ở Bắc-bộ và Bắc Trung-bộ bị quần chúng chiếm chia cho dân nghèo. Nạn đói được giải quyết bằng phương pháp cách mạng. Nông dân Bắc-giang, Thái-nguyên, Bắc-cạn, v.v... nổi dậy chiếm đồn điền của Pháp, Nhật và tiến hành chia đất.” (31) Câu hỏi được đặt ra là những thóc gạo cướp được đã được chở đi đâu nếu không phải là lên chiến khu như trường hợp xảy ra ở Quảng Ngãi cho thóc gạo chở từ Nam ra Bắc để cứu đói hồi còn chiến tranh và luôn cả sau này, sau biến cố 19 tháng 8.

Cuối cùng cướp phá các kho thóc gạo cũng là một cái cớ được Việt Minh triệt để nhắm vào để lên án sự bất lực của chính phủ Trần Trọng Kim nhằm sách động quần chúng nông thôn nổi lên cướp chính quyền khi Thế Chiến Thứ Hai chấm dứt và cơ hội đến với họ. Sự thực thì nạn đói đã không kéo dài. Ngay từ tháng 5 nhờ vụ lúa chiêm được mùa và với nhu cầu lương thực không còn nhiều như trước do con số người chết quá cao, nạn đói giảm dần để sang đến tháng 6 thì gần như không còn nữa. (32) Tất cả đã xảy ra trước khi Việt Minh cướp chính quyền hay nói cách khác, Việt Minh không những không đóng góp được gì tính cực vào nỗ lực cứu đói trong thời gian này mà còn cản trở những hoạt động của chính phủ Trần Trọng Kim cũng như của các nhà cai trị địa phương thời đó.

Thay cho lời kết

Ngày Tết là ngày gia đình sum họp. Sum họp không phải chỉ trong gia đình nhỏ gồm có vợ chồng con cái mà là sum họp cả đại gia đình nội ngoại và luôn cả tổ tiên, cả người còn sống lẫn người đã chết. Bữa cơm cúng chiều ba mươi Tết là để mời các cụ về và ngày mùng bốn hóa vàng là để tiễn các cụ đi.

Cho tới nay, vì thiếu những thống kê chính xác, ta không biết chính xác con số các nạn nhân của Trận Ðói Tháng Ba Năm Ất Dậu 1945 là bao nhiêu. Một triệu, hai triệu, hơn nữa hay ít hơn. Tất cả đều có thể. Cũng vậy, với các con số nạn nhân của những biến cố bi thảm sau đó như cuộc thanh toán các đảng phái quốc gia sau ngày Việt Minh cướp chính quyền 19 tháng 8, cuộc Cải Cách Ruộng Ðất, hai cuộc chiến tranh “Chống Pháp,” “Chống Mỹ,” Phong Trào Vượt Biên, Vượt Biển sau năm 1975... Ba triệu, bốn triệu, năm triệu hay hơn nữa. Tất cả cũng đều có thể. Nhưng có một điều đúng nếu không nói là rất đúng là không một gia đình Việt Nam nào, nhất là ở Miền Bắc, là không mất mát. Ðau thương tràn ngập mọi nhà, chết chóc đầy ngập các hang cùng ngõ hẻm, từ rừng sâu, núi thẳm đến biển cả, đại dương.

Câu hỏi được đặt ra là hồn oan của những nạn nhân kể trên, khởi đầu là hai triệu nạn nhân, nói theo Hồ Chí Minh, của Nạn Ðói Tháng Ba Năm Ất Dậu 1945, sau 70 năm đã được giải thoát hay chưa? Ðã có ai hàng năm lập đàn tràng để giải oan cho họ chưa? Nếu chưa, xin quý vị hãy vui lòng dành một phút sau khi đọc bài này để suy ngẫm và tưởng nhớ tới họ coi như một cách giải oan cho họ cũng như giải oan cho hàng triệu người khác đã bị lợi dụng và bị hy sinh sau đó. Cầu mong lịch sử sẽ không còn tái diễn dù dưới hình thức nào đi chăng nữa!

Ðể kết thúc bài này, người viết xin gửi tới quý độc giả những câu đầu và câu cuối của bài Con Ðò Ðưa Xác của hai tác giả Ngọc Bích và Nguyễn Văn Ðức sau đây mà quý độc giả có thể mở nghe dễ dàng trên các trang mạng, để thấy những cảm giác thê thảm đến độ ghê rợn của người đương thời:

Gió thổi thì thầm, mưa bay lâm râm.
Ai chở con đò bên dòng sông vắng?
Ai khóc tỉ tê trên dòng trường giang?
Ðò sang ngang, dưới ánh trăng vàng.
Gió thu hiu hắt nức lên từng cơn.
Nặng nề một chiếc thuyền con,
Âm thầm chở mấy vong hồn qua sông.
Trăng lên, mây tan!
Sao trăng đẹp thế này!
Mà trên sông vắng,
Con đò cay đắng đưa xác người về đâu?
Ô hô! Ô hô! Con ới mười mấy tuổi đầu,
Vì chưng đói rét ngậm sầu thác oan!
.....
Trôi về đâu? Con đò xác!
Lấp vào đâu? Nỗi niềm thương!
Mang mang trong mây tan!
Phiêu linh có một bóng ông già
Tay chèo tay lái,
Lòng buồn tê tái,
Lòng buồn tê tái đem chôn đàn con!
Trôi về đâu? Con đò xác!
Lấp về đâu? Nỗi niềm thương!

Chuyện Việt Minh, dưới sự lãnh đạo của Ðảng Cộng Sản, lợi dụng nạn đói tháng 3 năm Ất Dậu, xúi giục các nông dân vô tội nổi loạn cướp phá các kho thóc gạo rồi sau đó theo đảng này cướp chính quyền với những hứa hẹn chia ruộng đất và không còn phải đóng thuế nữa là một điều dễ hiểu. Ðiều đáng tiếc là người chết không còn sống lại để thấy hiện trạng của đất nước Việt Nam 70 năm sau đó như thế nào.

Phạm Cao Dương

(Tuần lễ tiễn Ông Táo lên chầu Trời, Tết Ất Mùi 2015)

Chú thích:

(1) Henry, Yves and de Visme, Documents de démographie et riziculture en Indochine. Hanoi: Publication du Bulletin Économique de l1Indochine, 1928, tr. 332 và kế tiếp. Xem thêm cùng tác giả, Économie agricole de l1In dochine. Hanoi: IDEO, 1932; Nguyễn Thế Anh, Into the Maelstrom: Vietnam During the Fateful 1940s. Westminster, CA: Viện Việt Học, 2005, tr. 45, và Phạm Cao Dương, Vietnamese Peasants under French Domination, 1961-1945, Monograph Series No. 24. Lanham, MD: University Press of America, 1985, 125 và Thực Trạng Của Giới Nông Dân Việt Nam Dưới Thời Pháp Thuộc. Saigon: Nhà Sách Khai Trí, 1967, tr.185-186.
(2) Lãng Nhân, “Lời Người Bán Cám,” trong Ðông Dương Tạp Chí, No. 27, Samedi 13 Novembre 1937, Mục “Chuyện Vô Lý,” tr. 10; Phạm Cao Dương, Thực Trạng của Giới Nông Dân..., tr. 186-187.
(3) Nguyễn Thế Anh, như trên, tr. 45.
(4) Như trên, tr. 46.
(5) Ðoàn Thêm, Những Ngày Chưa Quên Saigon: Nam Chi Tùng Thư? Ðại Nam tái bản tại Hoa Kỳ, tr. 28
(6) - như trên, tr. 29.
(7) Ðoàn Thêm,1945-1954, Việc Từng Ngày, Hai mươi Năm Qua. Saigon,?, Los Alamitos, California: Xuân Thu tái bản tại Hoa Kỳ, không đề năm, tr. 3.
(8) Văn Cao, “Tôi Viết Tiến Quân Ca,” trong Một Chặng Ðường Văn Hóa, Tập Hồi Ức Và Tư Liệu Về Ðề Cương Văn Hóa Của Ðảng Và Ðời Sống Tư Tưởng Văn Nghệ, 1943-1948. Hà Nội: Nhà Xuất Bản Tác Phẩm Mới, 1985, tr. 109.
(9) Văn Cao, “Tôi Viết Tiến Quân Ca,” tr.110-111.
(10) Nguyễn Huy Tưởng. “Nhật Ký Nguyễn Huy Tưởng,” trong Một Chặng Ðường Văn Hóa..., như trên, tr. 125.
(11) Như trên, tr. 129.
(12) Vũ đình Hòe, “Những Ngày Tháng 8 ở Hà Nội,” trong Nguyễn Văn Khoan (Chủ Biên). Tổng Khởi Nghĩa Tháng 8-1945 Tại Hà Nội, Việt Minh Hoàng Diệu. Thành Phố Hồ Chí Minh: Nhà Xuất Bản Thành Phố Hồ Chí Minh, 2001, tr. 255.
(13) Marr, David G, Vienam 1945..., đã dẫn, tr. 104; Tonnesson, Stein. The Vietnamese Revolution of 1945..., đã dẫn, tr. 293.
(14) Devillers, Philippe, Histoire du Vietnam de 1940 à 1952. Paris: Editions du Seuil, 1952, tr. 131
(15) Buttinger, Joseph, Vietnam: A Dragon Embattled. Vol. 1, New York: Praeger, 1967, tr. 240.
(16) Logevall, Fredrik, Embers of War: The Fall of an Empire and the Making of America's Vietnam. New York: Random House, 2012, tr 81.
(17) Woodside, Alexander B. Community and Revolution in Modern Vietnam. Boston: Houghton Mifflin, 1976, tr. 159.
(18) Marr, đã dẫn, tr. 104.
(19) Nguyễn Văn Khoan, Tổng Khởi Nghĩa Tháng 6-1945..., đã dẫn, tr. 37.
(20) Chính Ðạo, Việt Nam Niên Biểu, 1939-1975 (Tập A: 1939-1946, tr. 221.
(21) Ðoàn Thêm, 1945-1954, Việc Từng Ngày... đã dẫn, tr. 6 - 7.
(22) Chính Ðạo, Việt Nam Niên Biểu, đã dẫn, tr. 277. Marr, Vietnam 1945..., đã dẫn, tr. 102. Nguyễn Thế Anh, Into the Maelstrom, đã dẫn, tr. 49.
(23) Marr, Vietnam 1945..., đã dẫn, tr. 102-103.
(24) Trần Hữu Ðính và Lê Trung Dũng, Cách Mạng Tháng Tám 1945, Những Sự Kiện Lịch Sử. Hà Nội: Nhà Xuất Bản Khoa Học Xã Hội, Trung Tâm Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn Quốc Gia, Viện Sử Học, 2000, tr. 206.
(25) Nhà Xuất Bản Hội Nhà Văn, Hồi Ký Cách Mạng. Hà Nội: Nhà Xuất Bản Hội Nhà Văn, 1995, tr. 125.
(26) - như trên, tr. 123.
(27) Vũ Ngự Chiêu, “The Other Side of the Vietnamese Revolution,” đã dẫn, tr. 308.
(28) Trần Huy Liệu và Văn Tạo, Cao Trào Ðấu Tranh Tiền Khởi Nghĩa,” Tài Liệu Tham Khảo Lịch Sử Cách Mạng Cận Ðại Việt Nam, Tập XI. Hà Nội:Nhà Xuất Bản Văn Sử Ðịa, 1957, trang 97 và kế tiếp
(29) - như trên, tr. 103 và kế tiếp.
(30) Vũ Thụy Hoàng, “Ðêm Hà Nội Nổ Súng, Chiến Tranh Việt Pháp bùng nổ 50 năm trước,” Hồi Ký, trong Thế Kỷ 21, Năm Thứ Tám, số 92, December 1996, tr. 35.
(31) Trường Chinh, Cách Mạng Dân Tộc Dân Chủ Nhân Dân Việt-Nam, Tác Phẩm Chọn Lọc, Tập I. Hà Nội: Nhà Xuất Bản Sự Thật, 1975, tr. 346.
(32) Vũ Ngự Chiêu, “The Other Side of the Vietnamese Revolution,” đã dẫn, tr. 308.

Audi của Hà Hồ biến dạng sau khi đâm chục người ở Tân Sơn Nhất

HIẾC AUDI CỦA NỮ CA SĨ BỊ NÁT ĐẦU SAU KHI HẠ GỤC HAI BIỂN QUẢNG CÁO, HÚC VĂNG HƠN 10 NGƯỜI VÀ ĐÂM HAI ÔTÔ Ở NHÀ GA QUỐC TẾ TÂN SƠN NHẤT.

19h30 ngày 10/2, chiếc Audi do tài xế Nguyễn Duy Tân, 25 tuổi, lái đến nhà ga quốc tế Tân Sơn Nhất được cho là đón nữ ca sĩ Hồ Ngọc Hà đã phóng lên sảnh chờ, đâm hai biển quảng cáo và hàng loạt hành khách và người đứng đón thân nhân.
19h30 ngày 10/2, chiếc Audi do tài xế Nguyễn Duy Tân, 25 tuổi, lái đến nhà ga quốc tế Tân Sơn Nhất được cho là đón nữ ca sĩ Hồ Ngọc Hà. Tuy nhiên, nó đã lao lên sảnh chờ, đâm hai biển quảng cáo, hàng loạt hành khách và người đứng đón thân nhân.
Xe Audi tiếp tục phón, bẻ lái đi trở lại mặt đường va chạm vào hai ôtô đang đậu chờ khách.
Xe Audi tiếp tục phóng, bẻ lái trở lại mặt đường va chạm vào hai ôtô đang đậu chờ khách.
Cú va chạm khiến hai ôtô bị bể kính, móp, hư hỏng.
Cú va chạm khiến hai ôtô bị bể kính, móp, hư hỏng.
Chiếc Audi chạy đoạn từ điểm phóng đi khoảng 50 m thì dừng lại, sau khi va vào trụ bêtông đường trên cao của nhà ga.
Chiếc Audi dừng lại ở vị trí cách nơi nam đầu khoảng 50 m, sau khi va vào trụ bêtông đường trên cao của nhà ga.
Vụ tai nạn khiến hơn 10 người bị thương, nằm la liệt, đầm đìa máu. Một ca sĩ nỗi tiêng đang rinh hàng lý chuẩn bị bỏ vào cốp xe phía sau. Bất ngờ chiếc xe lao lên thềm, tông ngã trụ quảng váo và hất văng hàng loạt người. Xe Audi bay lên bậc thầm rồi phóng đi rất nhanh. Nhiều người bị hất văng nằm la liệt, đám đông bỏ chạy dạt vào phía trong, hoảng loạn.
Vụ tai nạn khiến hơn 10 người bị thương, nằm la liệt, đầm đìa máu. "Ca sĩ đang rinh hành lý chuẩn bị bỏ vào cốp xe phía sau thì bất ngờ xe Audi lao lên thềm. Nhiều người bị hất văng nằm la liệt, đám đông bỏ chạy dạt vào phía trong, hoảng loạn”", một người đàn ông đứng đón người cháu từ Mỹ về kể lại giọng thảng thốt.
Đầu xe Audi bị nát sau khi tông hàng loạt người và xe.
Đầu xe Audi bị nát sau khi tông hàng loạt người và xe. Theo chị Phạm Thị Trang, 25 tuổi, chị cùng hai người trong gia đình từ An Giang lên TP HCM đón chị gái Phạm Thị Phụng (32 tuổi) từ Đài Loan về quê ăn Tết. Sau một giờ đứng đợi ở ga quốc tế, ai cũng hớn hở khi thấy chị Phụng bước ra. Mọi người vừa khiêng hành lý ra đứng trước khu vực nhà chờ xe để về. Tại đây có cả trăm hành khách và người đón chờ thân nhân.
Bên hông cũng bị trầy xước nặng.
"Tôi vừa nhận điện thoại của xe trung chuyển, nói 15 phút nữa sẽ tới đón, thì chiếc ôtô màu đen từ dưới đường phóng lên thềm đâm thẳng vào gia đình cùng đám đông. Tôi bị hất văng 2-3 m, má và chị gái nằm dưới gầm một chiếc xe taxi cách đó khá xa. Các nạn nhân bị thương nằm la liệt, một số la hét, cầu cứu, máu vương vãi khắp nơi, hành lý văng tứ tung", chị Trang kể.
Đến 22h30, sau khi cơ quan chức năng khám xét xong, chiếc Audi được kéo khỏi hiện trường. Hiện, tài xế chiếc Audi Nguyễn Duy Tân (25 tuổi) đã bị tạm giữ. Bước đầu, nam thanh niên này khai, khi dừng đón nữ ca sĩ đã quên cài thắng tay trong khi xe vẫn nổ máy. Sau khi mở cốp cho ca sĩ để một ít hành lý vào, anh ta quay về vị trí lái thì đạp nhầm chân ga làm chiếc Audi chồm lên tông hàng loạt người. Cảnh sát tình nghi Tân vượt quá nồng độ cồn trong máu khi gây tai nạn.
Đến 22h30, sau khi cơ quan chức năng khám xét xong, chiếc Audi được kéo khỏi hiện trường. Hiện, tài xế chiếc Audi Nguyễn Duy Tân (25 tuổi) đã bị tạm giữ. Bước đầu, nam thanh niên này khai, khi dừng đón nữ ca sĩ đã quên cài thắng tay trong khi xe vẫn nổ máy. Sau khi mở cốp cho ca sĩ để một ít hành lý vào, anh ta quay về vị trí lái thì đạp nhầm chân ga làm chiếc Audi chồm lên tông hàng loạt người. Cảnh sát tình nghi Tân vượt quá nồng độ cồn trong máu khi gây tai nạn.
Đoạn đường lao đi của chiếc Audi hơn 50m. Sau khi cảnh sát khám nghiệm, nhân viên nhà ga nhanh chóng thu dọn, rửa sạch vết máu tại hiện trường
Đoạn đường lao đi của chiếc Audi hơn 50m. Sau khi cảnh sát khám nghiệm, nhân viên nhà ga nhanh chóng thu dọn, rửa sạch vết máu tại hiện trường.
Hơn 10 nạn nhân được chuyển đến các bệnh viện tại TP HCM. Bác sĩ Hoàng Văn Bảo, Trưởng tua trực cấp cứu Bệnh viện Nhân dân 115 cho biết, từ 20h đến 22h ngày 10/2, khoa cấp cứu tiếp nhận 5 nạn nhân trong vụ tai nạn. Nặng nhất là ông Ngô Văn Ngạch (60 tuổi, ngụ Cần Thơ), bị đa chấn thương, xuất huyết não, gãy đùi, xương chày phải& "Sau khi làm các xét nghiệm, băng bó vết thương, ông Ngạch đã được chuyển lên khoa hồi sức. Nạn nhân không đến nỗi nguy kịch", bác sĩ Bảo nói.
Hơn 10 nạn nhân được chuyển đến các bệnh viện tại TP HCM. Bác sĩ Hoàng Văn Bảo, Trưởng tua trực cấp cứu Bệnh viện Nhân dân 115 cho biết, từ 20h đến 22h ngày 10/2, khoa cấp cứu tiếp nhận 5 nạn nhân trong vụ tai nạn. Nặng nhất là ông Ngô Văn Ngạch (60 tuổi, ngụ Cần Thơ), bị đa chấn thương, xuất huyết não, gãy đùi, xương chày phải… "Sau khi làm các xét nghiệm, băng bó vết thương, ông Ngạch đã được chuyển lên khoa hồi sức. Các nạn nhân không đến nỗi nguy kịch", bác sĩ Bảo nói. 

Châu Thành

(Ngôi Sao)

"Trung Quốc không thể tự do tung hoành ở biển Đông"

Theo tờ Wantchinatimes, những vụ gây hấn của Trung Quốc ở biển Đông sẽ ngày càng phức tạp khi các nước trong khu vực tiếp tục đồng loạt triển khai hạm đội tàu ngầm, theo tường thuật của hệ thống Quân đội Sina trụ sở Bắc Kinh.

Các báo cáo gần đây cho thấy những quốc gia ở khu vực biển Đông, bao gồm Việt Nam, Indonesia và Malaysia đã đều trang bị các tàu ngầm mới, tuy nhiên quy mô của hạm đội tàu ngầm của Trung Quốc vẫn lớn hơn tất cả số tàu ngầm của các nước này cộng lại.
Trung Quốc, một quốc gia đã phát triển tàu ngầm từ những năm 1950s, hiện đang có hơn 60 chiếc tàu ngầm- đứng thứ ba trên thế giới– bao gồm 4 loại tàu ngầm hạt nhân và 7 loại tàu ngầm thông thường.
Tàu ngầm tấn công Type 094 của Hải quân Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc
Tàu ngầm tấn công Type 094 của Hải quân Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc

Trung Quốc là quốc gia duy nhất ở vùng biển Đông triển khai tàu ngầm hạt nhân. Tất cả những tàu ngầm hạt nhân của Trung Quốc đều được trang bị tên lửa đạn đạo xuyên lục địa JL-2, tầm bắn 8.000 mét và có thể lắp khớp với đầu đạn hạt nhân.
 
Các loại tàu ngầm thông thường khác cũng đều được gắn tên lửa và ngư lôi. Tuy nhiên, điều này cũng không làm thoái chí các quốc gia láng giềng của Trung Quốc trong khu vực biển Đông khi các quốc gia này cũng đều triển khai các hạm đội tàu ngầm cho mình.

Nguyên nhân, theo nhận định của Quân đội Sina, là bởi tàu ngầm không dễ bị phát hiện và có tính sát thương cao vì tàu ngầm có thể ẩn mình dưới nước và có khả năng liên tục nâng cấp vũ khí mới nhất.

Thêm vào đó, các đảo tranh chấp ở biển Đông có địa thế “dễ phòng thủ nhưng khó tấn công”, vì thế việc sử dụng tàu ngầm trở nên rất hiệu quả, ngay cả khi với số lượng nhỏ. Cho nên đây là loại vũ khí được “ưa chuộng” ở các quốc gia biển Đông và được cân nhắc là một sự đầu tư tương đối “rẻ”.

Vì vậy, mặc dù chiếm ưu thế về số lượng tàu ngầm sở hữu, Trung Quốc cũng không thể tự do “tung hoành” ở biển Đông. Hơn nữa, Hải quân Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc lại rất hạn chế về khả năng chống tàu ngầm vì lực lượng này chỉ tập trung đảm bảo sự an toàn của hành lang tàu thuyền quân đội, điều này giải thích vì sao Hải quân Trung Quốc lại được trang bị với hơn 10 máy bay chống tàu ngầm.

Tuy nhiên, máy bay chống tàu ngầm lại hạn chế trong phạm vi hoạt động, rất khó khăn cho lực lượng Hải quân Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc mở rộng vùng kiểm soát trong khoảng thời gian ngắn.

Với sự đồng loạt triển khai trang bị hạm đội tàu ngầm của các nước láng giềng, sẽ chỉ khó khăn thêm cho Trung Quốc khi quốc gia này áp đặt ý muốn trong các sự kiện tranh chấp lãnh hải trên biển Đông đang diễn ra, Quân đội Sina kết luận.
 Thứ Ba, 10/02/2015 - 17:00
Theo Thanh DiệpPháp luật TPHCM

Rùng mình với cơ sở “phù phép” vịt thành vàng óng ở Hà Nội

Dân trí Một cơ sở có hành vi bơm hơi vào vịt rồi nhuộm phẩm màu thành vàng óng vừa bị cơ quan chức năng phát hiện.


Khoảng 7h sáng nay (10/2), Phòng 6, Cảnh sát phòng, chống tội phạm về môi trường (Bộ Công an) phối hợp với Đội quản lý thị trường số 12 (Chi cục Quản lý thị trường Hà Nội), Chi cục Thú y Hà Nội, Công an quận Thanh Xuân tổ chức kiểm tra một cơ sở chế biến thực phẩm ở số 49 ngõ 109 đường Trường Chinh (Thanh Xuân).
Tại thời điểm kiểm tra, lực lượng chức năng phát hiện hơn 300 con vịt đã được giết mổ và vịt quay thành phẩm, nhưng không có giấy tờ kiểm dịch.
Vịt được nhuộm phẩm màu thành vàng óng
Vịt được nhuộm phẩm màu thành vàng óng
Ngoài ra, lực lượng chức năng còn phát hiện công nhân tại cơ sở này bơm hơi vào vịt đã được giết mổ để làm thân vịt căng tròn trông bắt mắt hơn. Đối với vịt quay, trước khi vào lò quay, công nhân tại cơ sở nhúng vịt vào một thùng nước có chứa phẩm màu. Chỉ với thao tác này, con vịt từ màu trắng bỗng chốc biến thành... vàng óng.
Hàng trăm con vịt bị thu giữ tại thời điểm kiểm tra đều chưa qua kiểm dịch
Hàng trăm con vịt bị thu giữ tại thời điểm kiểm tra đều chưa qua kiểm dịch
Theo nam công nhân trực tiếp chế biến vịt quay, loại phẩm màu anh này sử dụng để nhúng vịt có tên là “hoa hiên”. Kiểm tra chiếc hộp đựng phẩm màu nam công nhân sử dụng, lực lượng chức năng phát hiện loại phẩm màu này có tên sản phẩm là màu vàng cam nhập khẩu từ Trung Quốc.
Ông Kiều Đình Cảnh - Phó đội trưởng Đội quản lý thị trường số 12 cho biết: Cơ sở này chưa đủ điều kiện để giết mổ gia cầm, toàn bộ hàng hóa đều chưa qua kiểm dịch.
Thứ Ba, 10/02/2015 - 16:12
Lê Tú

Lãnh đạo Đảng CSVN đều như thế

Le Nguyen (Danlambao) - Mạng lưới thông tin truyền thông lề đảng, rầm rộ tuyên truyền về ngày sinh 85 năm của đảng cộng sản Việt Nam. Quan sát khách quan sự kiện lễ kỷ niệm ngày thành lập đảng CSVN và xét đến ngôn ngữ nội dung tuyên truyền có phần nhẹ, ít hằn học hơn khi cộng sản lên án kẻ thù giai cấp, thực dân đế quốc, phát xít... nhưng về phần ca ngợi thành tích, kể lể công lao lãnh đạo tài tình, sáng suốt lại dài hơn, vì đảng phải thêm vào công lao “nếu không có đảng thì không có đổi mới” như ông nguyên tổng bí thư ĐM vui mồm bố láo!

Có lẽ nói đảng CSVN kể lể thành tích, khoe khoang công lao khơi khơi vô bằng, vô chứng như thói quen tuyên giáo, dư luận viên dóc láo, rất dễ bị còm sĩ lề dân lật mặt, thấy mới tin thì thật xấu hổ, chẳng biết dấu mặt vào đâu cho tiện... bởi vì các ngòi bút tự do lề dân, trong đó có kẻ viết bài này, có lẽ không ai có “đạo đức tầm cỡ ” như bác hồ nên không được trùng trùng điệp điệp nhà văn, nhà báo, nhà thơ lề đảng... thổi bong bóng hoặc nâng bi, bảo vệ tư tưởng, đạo đức học tập làm theo và vẽ vời lãnh đạo tài tình sáng suốt như đảng ta.

Để thấy mới tin như các còm sĩ lề dân đòi hỏi dư luận viên trưng dẫn chứng cứ và để thấy mới tin, chúng ta cùng nhau đọc trích đoạn ngẫu nhiên, không chọn lọc từ bài diễn văn của người lãnh đạo giỏi nhất có bằng cấp, địa vị trong đám lộn xộn ít học của đảng CSVN, là ông giáo sư, tiến sĩ ngành xây dựng đảng, tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng. Soi diễn văn của ông bí trọng để xem ông ta nói thế nào về đảng trong cái ngày kỷ niệm 85 năm thành lập đảng CSVN: 

...85 năm qua, dù con đường đi lên có lúc quanh co, phức tạp, dù Đảng ta có lúc phạm khuyết điểm, sai lầm, nhưng do có bản lĩnh vững vàng, thực sự khiêm tốn, cầu thị, đảng ta nghiêm túc tự phê bình, sửa chữa khuyết điểm, được nhân dân tin yêu, ủng hộ, cho nên đảng đã lãnh đạo cách mạng Việt Nam vượt qua mọi khó khăn, thử thách, đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, không một thế lực nào ngăn cản nổi...”(*)

Thú thật, không biết ai khác nghĩ sao nhưng với kẻ viết bài này khi đọc thấy ông Trọng bảo “đảng ta” khiêm tốn, cầu thị... được nhân dân tin yêu, ủng hộ... thì hơi thấy tức cười lẫn buồn cười. 

Xin hỏi ông tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng chỗ nào chỉ ra “đảng ta” khiêm tốn, cầu thị... khi các ông luôn mồm lếu láo, khoe đảng lãnh đạo “cách mạng” đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác và dựa trên cơ sở khoa học nào, các ông cứ lải nhải rằng, được nhân dân tin yêu ủng hộ. Thế thì ông cùng các ông lãnh đạo đảng CSVN đương quyền, có dám tạo diễn đàn tự do trên báo lề đảng, để cho người dân thảo luận, tranh luận về “đảng lãnh đạo cách mạng đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác” và các ông có dám làm cuộc trưng cầu dân ý có quốc tế giám sát để xác định lòng dân “tin yêu, ủng hộ” đối với đảng của các ông không? 

Ở một đoạn khác của diễn văn ông Trọng nói tiếp rằng:

...Thành quả vĩ đại đó, Đảng ta và nhân dân ta đã phải đổ bao xương máu, gánh chịu biết bao hy sinh. Chỉ riêng cuộc “khủng bố trắng” của thực dân Pháp trong những năm 1931 - 1932, đã có hàng vạn cán bộ, đảng viên và những người yêu nước bị giam cầm, tù đày, giết hại; nhiều đồng chí lãnh đạo xuất sắc của Đảng như: Trần Phú, Ngô Gia Tự, Nguyễn Đức Cảnh, Lê Hồng Phong, Hà Huy Tập, Nguyễn Văn Cừ, Nguyễn Thị Minh Khai...bị sát hại. Trong các nhà tù khét tiếng của địch như Côn Đảo, Sơn La, Hỏa Lò, Lao Bảo, Phú Quốc,... giam cầm, tra tấn hết sức dã man những người cộng sản; riêng ở nhà tù Côn Đảo có 793 đồng chí hy sinh; ở Kon Tum có 339 đồng chí bị thủ tiêu. 

Trong những năm 1954 - 1959, ở miền Nam có 466.000 đảng viên và những người yêu nước bị bắt giam, 400.000 người bị đưa đi đày và 68.000 người bị giết. Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ đã có gần 160.000 đảng viên hy sinh...”(*)

Đến thời đại thông tin bùng nổ thì cái mà ông Nguyễn Phú Trọng gọi là thành quả vĩ đại, là công lao của đảng cộng sản mà không thấy nó đích thực là tội trọng đối với quốc gia, dân tộc Việt Nam do các nguyên nhân sau, quả là dễ chết cười:

Một là con số đảng viên bị kẻ thù thực dân sát hại không thấm vào đâu so với con số đảng phái, tổ chức kháng chiến quốc gia, những dân lành vô tội bị đảng cộng sản tàn sát trước, trong, sau cuộc kháng chiến chống Pháp. Tiếp theo sau là theo lệnh quốc tế cộng sản đệ tam, đảng CSVN đẩy thanh niên Việt Nam vào chảo lửa của cái gọi là “chống Mỹ cứu nước”. Sự thật lịch sử đã chỉ ra CSVN không cần khởi động chiến tranh, Việt Nam vẫn giành được độc lập vì Việt Nam đã được phát xít Nhật, thực dân Pháp trao trả độc lập trong thực tế và sự thật chống Mỹ cứu nước, chính là hành động đảng CSVN đánh thuê cho Trung Quốc – Liên Xô. 

Hai là con số thống kê chính thức của đảng, nhà nước xác nhận là có 160. 000 đảng viên hy sinh trong cuộc chiến tranh đánh Pháp, đuổi Nhật, chống Mỹ nhưng chiến tranh đã cướp đi nhiều triệu mạng người dân Việt Nam, là tội ác không thể chối cãi của đảng CSVN đối với dân tộc Việt Nam. Cũng như Việt Nam hoàn toàn có thể tránh được tổn thất đó, nếu không có Hồ Chí Minh và đảng CSVN cam tâm làm tay sai cho cộng sản quốc tế. Con số 160. 000 trong tổng số nhiều triệu sinh mạng Việt Nam hy sinh trong các cuộc chiến tranh có thể tránh được, quả đúng như lời ai đó đã nói “đảng gắn liền với máu thịt nhân dân Việt Nam” là chính xác cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng!

Ba là sự thật lịch sử khách quan cũng đã chỉ ra rằng: "...Từ năm 1947 các Hội Đồng Chính Phủ và Chính Đảng Pháp đã quyết định không tái lập chế độ thuộc địa tại Á Châu và tán thành nguyện vọng độc lập của nhân dân Việt Nam. Trước đó, năm 1946, Pháp đã trả độc lập cho Syrie và Liban theo chủ trương của Hiến Chương Đại Tây Dương 1941 và Hiến Chương Liên Hiệp Quốc 1945.. Và trong năm 1947, như đã trình bày, Pháp đã đăng ký Việt Nam là một quốc gia độc lập tại Liên Hiệp Quốc. Tháng 3, 1949, bằng Hiệp Định Elysée, Tổng Thống và Quốc Hội Pháp đã chính thức thừa nhận chủ quyền độc lập và thống nhất của Quốc Gia Việt Nam..."(**)

Bên cạnh kể lể thành tích, công lao đánh đuổi thực dân, đế quốc, phát xít... ông Trọng không quên kể lể công lao đổi mới và ông cũng không lú lẫn để quên đổ thừa cho sự phồn thịnh của nền kinh tế thị trường làm hư hỏng cán bộ, đảng viên CSVN với luận điệu thiếu trí tuệ lẫn không đàng hoàng như sau: 

...Trong điều kiện đảng ta là đảng cầm quyền, hoạt động trong môi trường phát triển kinh tế thị trường, mở cửa hội nhập; cán bộ, đảng viên giữ nhiều trọng trách, hằng ngày, hằng giờ tiếp xúc với hàng và tiền, gắn liền với lợi ích cá nhân, đối mặt với bao cám dỗ, với mặt trái của cơ chế thị trường, chúng ta càng phải chăm lo giữ vững bản chất cách mạng và tính tiên phong của Đảng. 

Nếu không nhận thức sâu sắc điều này, nếu cán bộ, đảng viên không tích cực và kiên trì rèn luyện thì rất dễ bị thoái hóa, biến chất. Vấn đề giữ vững bản chất của Đảng - là một Đảng Cộng sản, đảng cách mạng chân chính, hoạt động vì sự nghiệp của giai cấp công nhân, của dân tộc, vì lợi ích của nhân dân, là vấn đề hết sức cơ bản và quan trọng...”(*)

Hiện thực kinh tế thị trường trong các nhà nước dân chủ đa đảng cũng chỉ ra rằng “cán bộ đảng viên, quan chức nhà nước” không chỉ tiếp xúc với hàng, với tiền hàng ngày, hàng giờ mà họ còn sống thở trong môi trường kinh tế thị trường nhưng đội ngũ công nhân viên chức của các nước dân chủ, cũng chẳng cần học tập làm theo đạo đức bác hồ hay kiên trì rèn luyện để tránh suy thoái biến chất mà đội ngũ quan chức cán bộ đảng viên của đảng, nhà nước của các nước dân chủ tiên tiến, quả là đáng ngưỡng mộ bởi họ không mấy ai bi suy thoái biến chất như cán bộ đảng viên CSVN.

Cũng như các đảng phái chính trị hoạt động trong các nhà nước dân chủ, không đảng nào tự xưng là đảng chân chính nhưng mặc nhiên các đảng phái chính đều phải hoạt động vì lợi ích của quốc gia, của nhân dân và nếu đảng phái chính trị nào đi ngược với lợi ích của tổ quốc, nhân dân sẽ bị đuổi cổ khỏi quyền lực của dân trao phó, là điều có thật không ai có thể nói xấu hay bao che!

Ngoài ra trong bài diễn văn kỷ niệm ngày thành lập đảng CSVN, ông Nguyễn Phú Trọng còn kể lể, lập lại những chuyện nhân danh, bịa đặt cũ rích về chủ nghĩa marx – Lenin, về chủ nghĩa xã hội, về tư tưởng Hồ Chí Minh, về truyền thống trung thành với giai cấp... thiếu điều ai cũng thuộc nằm lòng và hầu hết ai cũng biết rõ những điều ông Trọng nói là có vấn đề thiếu thành thật. Nếu không nói là ông Trọng nói láo, vì chính ông cũng biết là đến hết thế kỷ này đã có xã hội chủ nghĩa hoàn chỉnh ở Việt Nam chưa? Thế không biết động lực nào xui khiến ông nói tràng giang đại hải những điều ông tin, ông biết là không đúng với suy nghĩ của ông như đoạn dưới đây:

“...Đó là truyền thống trung thành vô hạn với lợi ích của dân tộc và giai cấp, kiên định mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội trên cơ sở chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Chỉ có đi theo con đường cách mạng mà Đảng ta và Bác Hồ đã lựa chọn thì cách mạng Việt Nam mới giành được thắng lợi trọn vẹn, đất nước ta mới thật sự được độc lập; dân tộc ta mới thật sự được tự do; nhân dân ta mới có cuộc sống ngày càng ấm no, hạnh phúc...”(*)

Trong buổi lễ trọng đại kỷ niệm ngày thành lập đảng CSVN – ông tổng bí thư Trọng, người đứng đầu đảng được xem là người giỏi nhất trong đám lãnh đạo, có học hàm, học vị giáo sư, tiến sĩ mà phạm phải lỗi nhận thức khá đơn giản, không thể biện minh cho người đứng trên cương vị lãnh đạo của đảng lãnh đạo và chỉ có hai cách giải thích về phát ngôn và hành động của ông Nguyễn Phú Trong như sau: 

Một là mặc dù ông mang danh giáo sư, tiến sĩ ngành xây dựng đảng nhưng ông không biết gì về chủ nghĩa xã hội, về chủ nghĩa Marx – Lenin. Ông Trọng cũng không biết Hồ Chí Minh không có tư tưởng nào cả ngoài chủ nghĩa Marx – Lenin nhưng ông vẫn cố nói lấy được là nhờ có bác đảng, toàn dân chọn lựa chủ nghĩa Marx – Lenin nên đất nước, dân tộc Việt Nam mới giành được độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc...

Hai là ông biết rõ chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa Marx – Lenin, tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh đều là thứ rác rưởi, không có nhân dân Việt Nam nào chọn lựa nó cả như chính ông có lần vô tình hay vì lý do ngẫu hứng nào đó buột miệng nói không biết đến hết thế kỷ này đã có xã hội chủ nghĩa hoàn chỉnh chưa? Vậy mà trong những ngày như thế này, ngày thành lập đảng ông lại quay ngoắc 180 độ hô hào chủ nghĩa xã hội là sự lựa chọn đúng đắn của bác đảng, của nhân dân Việt Nam.

Dù kiến thức, nhân cách của ông tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng có nằm trong trường hợp một hay trường hợp hai đều không đủ chuẩn đức độ, tài năng lãnh đạo quốc gia, kể cả lãnh đạo một đảng độc quyền lãnh đạo và không phải chỉ có ông trọng là lãnh đạo duy nhất vô nhân cách, kém tài, kém đức nói một đường làm một nẻo mà hầu hết lãnh đạo đời đầu, đời giữa, đời cuối của đảng CSVN đều là như thế, đều cùng một giuộc với nhau.

Đến hôm nay hầu như mọi người Việt Nam, những ai có quan tâm đến đất nước đều nhận ra tất cả lãnh đạo các đời cộng sản không thể hiện được cá tính lãnh đạo trong sáng, đáng kính trọng và không những năng lực lãnh đạo CSVN yếu kém mà họ còn mang thêm thói xấu dối lem lẻm, dối không biết ngượng mồm, nói dối đến độ trơ trẻn, mở mồm ra là biết dối nhưng vẫn cứ nói dối như cách ông tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng thể hiện trong bài diễn văn 85 năm ngày thành lập đảng. 

Chính vì lẽ đó, chính vì những kẻ lãnh đạo vô đạo, kém tài nhưng dư thừa lưu manh, dối trá của một đảng lãnh đạo, độc quyền chính trị, là một trong số nguyên nhân khiến cho dân, nước cứ loay hoay trong loạn lạc nhiễu nhương, băng hoại đạo đức lối sống và cứ mãi đắm chìm trong vũng lầy đói nghèo, lạc hậu, chậm tiến...



____________________________________

Chú thích:


Trí tuệ, bản lĩnh và chính danh của người CSVN!?

Hoàng Thanh Trúc (Danlambao) - “Ở Việt Nam không có một lực lượng chính trị nào khác, ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam có đủ bản lĩnh, trí tuệ, kinh nghiệm, uy tín và khả năng lãnh đạo đất nước” (TBT/CSVN/Nguyễn Phú Trọng) - Giống như vậy nhưng ví von một cách khác cho toàn dân ta dễ hiểu hơn: “Ở Việt Nam không có một thứ nào khác ngoài cái toilet là có đủ điều kiện khả năng uy tín tốt nhất để lãnh đạo quản lý chất thải xú uế nặng mùi của mọi người”.

Không phải từ quá khứ mà mới đây thôi - Ngày 2/2/2015 trong diễn văn kỷ niệm 85 ngày thành lập Đảng CSVN ông Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định với công luận rằng: "Ở Việt Nam không có một lực lượng chính trị nào khác, ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam có đủ bản lĩnh, trí tuệ, kinh nghiệm, uy tín và khả năng lãnh đạo đất nước”. Cùng ngày (2/2/15) ông Giáo sư Vũ Minh Giang nguyên thành viên Hội đồng Lý luận Trung ương của Đảng Cộng sản VN trả lời phóng viên BBC trong phiên “hội luận Bàn Tròn” rằng: Đảng Cộng sản Việt Nam đang cầm quyền với sự “chính danh” bởi vì các nước khác (trên thế giới) công nhận chính quyền do Đảng lãnh đạo, điều đó có nghĩa là (tại Việt Nam) Đảng lãnh đạo củng hợp hiến, hợp pháp đó chứ.(*) 

Theo lời này của Giáo sư Vũ Minh Giang thì cũng không thể không ví von sự chính danh của “đảng ta” với cô gái bán dâm cho dân ta dễ hiểu: 

“Các nước khác (trên thế giới) công nhận người vợ được cởi truồng với chồng điều đó có nghĩa là (tại CH/XHCN/Việt Nam) cô gái bán dâm củng hợp pháp, hợp hiến đó chứ”! (bởi cả 2 củng truổng cời như nhau mà!) 

GS “Lý Luận Đảng” Vũ Minh Giang - TS “xây dựng đảng” Nguyễn Phú Trọng

Thiệt là vui, một ngài là “tiến sĩ” Tổng bí thư /đảng và một ngài là “giáo sư” lý luận đảng, cả 2 nhả ngọc phun châu khiến nhiều người dân Việt “quay mặt vào đâu cũng phải ghìm cơn mửa” (mượn lời nhà thơ Bùi Minh Quốc). Ở đây trong vị trí là người dân đóng thuế nuôi nhà nước và “đảng ta” xin có chút lạm bàn về trí tuệ tầm cao của nhị vị.

Khác với súc vật, con người sinh ra sau tập đi là phải tập ăn, tập nói để tạo nên nhân cách, đã là nhà “khoa bảng” có số má trong xã hội khi mở miệng với công luận nhân dân khẳng định một điều gì đó thiết nghĩ nên uốn lưỡi vài lần để nếu lời nói của mình không có chân lý thì chí ít củng mang một bản chất lương thiện có tri thức chứ không thể nói cho sướng cái mồm nhưng giá trị như bản sao của phường bịp bợm vô học.

Đề cập nội hàm này như thế theo nhị vị có thể là nặng lời “phạm thượng”, tuy nhiên không còn cách nói nào khác dù người viết rất không muốn mình vô tình là: (theo lời tuyên giáo CSVN) “các đối tượng xuyên tạc, lật ngược, bác bỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn trong các bài phát biểu của những đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước” .

Hoàn toàn không xuyên tạc hay lật ngược vấn đề nhưng vì nếu không là lưu manh bịp bợm thì chỉ có tuyên truyền lừa dối không đúng sự thật với toàn dân mới cho rằng: “Ở Việt Nam không có một lực lượng chính trị nào khác, ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam có đủ bản lĩnh, trí tuệ, kinh nghiệm, uy tín và khả năng lãnh đạo đất nước ”. 

Lý luận nào cho nó quang minh chính đại? Khi mà ngày nay không ai là không biết, ngay từ lúc cướp được chính quyền đảng CSVN tồn tại bằng cách đàn áp khủng bố thủ tiêu tất cả các đảng phái khác, ngay cả đảng “dân chủ” đối lập cò mồi trá hình của chính đảng CSVN lập ra để tuyên truyền với nhân dân củng bị bức tử khi họ thấy không còn cần thiết và rành rành trong điều 4 hiến pháp do đảng đẻ ra chính họ ghi rằng “...Đảng CSVN là lực lượng duy nhất lãnh đạo Nhà nước và xã hội ” vậy thì “Lực lượng chính trị nào khác” tồn tại song hành cạnh tranh với đảng CSVN từ trước đến nay để ông TBT Trọng cân đong đo đếm mà khẳng định trơ tráo cường điệu rằng: Chỉ có đảng Cộng sản Việt Nam là có đủ bản lĩnh, trí tuệ, kinh nghiệm, uy tín và khả năng lãnh đạo đất nước? Trong khi mà mọi người không cần nhìn ra xa xôi, chỉ gần thôi, khối Asean, tuyệt đại đa số 9/11 quốc gia láng giềng văn minh dân chủ giàu mạnh hơn Việt Nam nhiều lần ngay trong hệ thống lãnh đạo chính trị xã hội các quốc gia ấy không thấy bóng dáng đảng CS đâu cả!?. 

Có thể trong nhận xét “thông minh trí tuệ” đó của ông TBT/ Ng Phú Trọng suy cho cùng nó cũng đúng và chính xác với “thuộc tính” bản lĩnh, trí tuệ, kinh nghiệm, uy tín của riêng đảng CSVN mà từ thực tế chứng minh chỉ ra từng thứ một như sau đây:

Về “bản lĩnh” - trừ CS Nga và Trung cộng ra thì không có một đảng phái nào khác trên thế giới (còn hơn cả Bắc Hàn) có đủ “bản lĩnh rùng rợn” như CSVN, liên tục không ngưng nghỉ từ 1953 đến 1956 trên toàn miền Bắc mỗi ngày đêm “đảng ta” lựa ra hơn 150 người dân vô tội đấu tố CCRĐ để giết như giết gà vịt lên tới 172.000 người (thống kê chính thức) để “Bác và đảng” có số liệu cụ thể chứng minh báo công với quốc tế CS Nga Tàu...

Về “trí tuệ” - Đảng CSVN lập công bằng chính núi xương sông máu đồng bào mình như thế là để được CS Tàu cung cấp vũ khí kèm theo sứ mạng làm tay sai thay Tàu cộng đánh Mỹ, lấy mạng sống hàng triệu người Việt Nam đẩy Mỹ ra khỏi khu vực để Tàu cộng rảnh tay thay đổi diện mạo địa chính trị một mình một cõi ăn cướp ngược lại đất đai biên giới biển đảo quê nhà của VN làm cho “trí tuệ CSVN” nâng lên một tầm cao mới của sự không biết xấu hổ khi tha thiết kêu gào Mỹ quay lại: "...mong muốn Mỹ tiếp tục có những tiếng nói mạnh mẽ hơn, những hành động thiết thực hơn, vào việc giải quyết các tranh chấp ở khu vực Biển Đông thông qua luật pháp quốc tế"!? (Phát ngôn viên Bộ ngoại Giao CSVN Lê Hải Bình)... Quả là trí tuệ thế giới quan đáng nguyền rủa của đảng CSVN là tuyệt vời? 

Còn “kinh nghiệm và uy tín”? - Quốc tế và trong nước ai củng biết CSVN rất có kinh nghiệm về “tráo trở, lật lọng” dù thò tay ký HĐ Geneve 1954 và HĐ Hòa Bình Paris 1973 trước cộng đồng quốc tế cam kết rằng: “Sự tái thống nhất Việt Nam sẽ được thực hiện từng bước bằng các biện pháp hòa bình trên cơ sở bàn bạc và thỏa thuận giữa miền Bắc và miền Nam Việt Nam, không bên nào cưỡng ép hoặc thôn tính bên nào. Thời gian thống nhất sẽ do miền Bắc và miền Nam Việt Nam thỏa thuận. Trong khi chờ đợi thống nhất, ranh giới và khu phi quân sự tại vĩ tuyến 17 tạm thời duy trì theo như quy định tại Hiệp định Genève.” (Điều khoản HĐ Paris). Và kinh nghiệm ấy nó cụ thể lăn theo sau bánh xích chiến xa T54 vượt vĩ tuyến 17 tấn công miền Nam tiến vào dinh Độc Lập 30/4/1975. 

Và cũng vì thế mà “uy tín” của đảng CSVN rất lớn, lớn tới độ trong tổng số 193 đảng phái chính trị, CP/quốc gia trên thế giới chỉ vỏn vẹn có 6 nhà nước đã và đang là chế độ CS: Lào, Trung cộng, Cuba, Triều Tiên, Nga, Campuchia (chưa tới 0,5/% thành viên trong Liên Hiệp Quốc) tin là như vậy để gửi điện chào mừng “sinh nhật” 85 tuổi của đảng CSVN ngày 2/2 vừa qua? Quả là sự uy tín “rực rỡ” đầy thuyết phục made in Nguyễn Phú Trọng!?.

Còn nói về sự “chính danh” của đảng CSVN theo tri thức của GS “lý luận gia” Vũ Minh Giang lại “thông thái” bốc mùi cao trào hơn nữa. Ngài giáo sư này đặt ra một câu hỏi rồi tự khẳng định với mọi người rằng: "Tại sao các nước khác trên thế giới công nhận chính quyền do Đảng lãnh đạo? Điều đó có nghĩa là tại VN Đảng CS lãnh đạo là hợp hiến, hợp pháp đó chứ?(*) 

Nhìn hình ảnh vị “giáo sư” này, rất tiếc qua lời phát biểu ấy không thể không nghĩ đến “một tư duy con nít trong não bộ người lớn” khi mà một công dân Việt Nam kiến thức bình thường thôi cũng hiểu rằng trừ 5 quốc gia CS/XHCN độc tài, độc đảng, toàn trị còn sót lại (trong đó có VN) thì tuyệt đại bộ phận hơn 180 quốc gia đa nguyên hay tư bản tự do dân chủ trên thế giới mọi chính đảng cầm quyền lãnh đạo quốc gia dù dưới hình thức chính trị nào cũng đều do người dân sở tại chọn lựa trực tiếp hay gián tiếp từ nhiều đảng phái tham chính khác nhau ứng cử công khai trong quang minh chính trực, nó vô cùng khác biệt với hài kịch “độc diễn” bịp bợm đảng cử dân bầu thông qua cánh tay nối dài của đảng là MTTQ tại Việt Nam làm đạo diễn. 

Thật hài hước tội nghiệp đến não lòng, mang hàm thông thái là “giáo sư” từng công du nước ngoài nhưng vẫn tỉnh rụi mở miệng hót lên rằng: Điều đó có nghĩa là tại VN Đảng CS lãnh đạo là hợp hiến, hợp pháp đó chứ? - Vâng! thưa ông giáo sư “lý luận gia” Vũ Minh Giang - rất hợp hiến và hợp pháp như... một cô gái mãi dâm vứt bỏ đạo đức “cởi quần” để bán trôn nuôi miệng đối với ông giáo sư là cao quí ngang bằng với một phụ nữ, người vợ “cởi quần” với chồng mình để tạo nên hạnh phúc gia đình duy trì nòi giống làm nên những tế bào của xã hội, 2 hành vi, nhân cách khác nhau như đen, trắng trong một phạm trù đạo đức không thể nào nhầm lẫn được. 

Giống như vậy một đảng phái được “nhân quyền” tự do chọn lựa từ nhiều đảng phái ứng cử khác nhau để lãnh đạo quốc gia đó gọi là “đảng chính danh”. Ngược lại một đảng phái độc quyền, độc diễn, tự giành quyền duy nhất cầm quyền cai trị đất nước tất yếu không có danh từ nào khác để gọi đó là “đảng tiếm danh”. Đã bạc mái đầu rồi, mong ngài GS “lý luận gia” Vũ Minh Giang tỉnh lại giùm. 

Cuối bài viết - Không xuyên tạc, lật ngược, bác bỏ những vấn đề lý luận, chỉ lấy hình ảnh thực tế thay lời nhân dân nói: Một đảng phái “chính danh” có trí tuệ và uy tín nhất thiết tuyệt đối phải biết đặt quyền lợi, nhân cách, quốc gia dân tộc lên hàng tối thượng...

“Vị thế và Nhân cách một dân tộc không thể lớn lên cùng thiên hạ 
khi nhắm mắt cúi đầu tôn thờ một thứ phế thải của dân tộc khác”.

Hình ảnh này chắc rằng nó thể hiện trí tuệ, bản lĩnh và chính danh của đảng CSVN theo tư duy thông minh “khác người” của nhị vị GS “Lý Luận Đảng” Vũ Minh Giang và TS “xây dựng đảng” Nguyễn Phú Trọng!?