Friday, February 6, 2015

Vì sao hàng loạt doanh nhân bị bắt?

Anh Vũ - Thông tín viên RFA
2015-02-06
Ts. Nguyễn Quang A-RFA photo
Vài năm trở lại đây, hiện tượng các quan chức lãnh đạo cao cấp nhà nước VN dấu mặt, đứng sau các nhóm lợi ích là hiện tượng hết sức phổ biến.
Các doanh nhân thuộc các nhóm lợi ích đó có thể chi phối, thao túng, điều khiển cán bộ quản lý, để từ đó có những quyết định, chủ trương tạo ra siêu lợi nhuận cho nhóm của mình mà bất chấp thiệt hại của Nhà nước và nhân dân.
Theo Thời báo KTSG, một quan chức Quốc hội cho biết: “Các đại gia là hiện thân của chủ nghĩa tư bản thân hữu. Họ tận dụng được thời cơ, mối quan hệ, sự khiếm khuyết trong hệ thống pháp luật, tận dụng được thời điểm lịch sử, và Nhà nước thì buông lỏng quản lý. Dù có trở nên giàu có, những doanh nhân như thế “không phải tài ba gì”.
Tại buổi họp báo Chính phủ chiều 30.1.2015 vừa qua, nói về tình trạng “có khá nhiều doanh nhân, lãnh đạo doanh nghiệp lớn bị bắt giữ trong thời gian vừa qua”. Bộ trưởng - Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Nguyễn Văn Nên cho rằng “Mặc dù không muốn, nhưng chúng ta không còn cách nào khác”
TS. Phạm Chí Dũng cho rằng, phát biểu này có liên quan đến việc gần đây cơ quan CA đã bắt giữ ông Hà Văn Thắm và ĐBQH Châu Thị Thu Nga, và theo ông việc tổ chức họp báo để thông báo việc này là điều hết sức bất thường.
Từ Sài gòn, TS. Phạm Chí Dũng cho biết:
“Việc bắt các doanh nhân, chủ doanh nghiệp vì họ liên quan đến vấn đề tội phạm kinh tế thì Bộ CA đã tiến hành bắt thường xuyên. Nhưng chỉ có điều cho tới gần đây, thì mới xuất hiện lời thanh minh  của một quan chức cấp cao, cho rằng “Phải bắt doanh nhân vì không còn cách khác”. Thì đấy là điều đặc biệt, có nghĩa là đến bây giờ thì họ mới nói ra, họ mới thanh minh. Tại sao họ không thanh minh từ trước đây? Và tại sao chỉ thanh minh đối với các trường hợp của ông Hà Văn Thắm hay bà Châu Thị Thu Nga mà không phải là những trường hợp khác? Hay là vì do ông Hà Văn Thắm bị đồn đoán là có liên quan đến một quan chức cấp cao, còn bà Châu Thị Thu Nga cũng liên quan đến một quan chức cấp cao khác?
Đây là một việc mang đậm tính chính trị nhằm biện minh cho việc làm của chính phủ, song cũng là cách để họ thông báo tới các ông “kễnh” đứng đằng sau các nhân vật vừa bị bắt một cách chính thức. TS. Nguyễn Quang A, Nguyên Viện trưởng Viện phản biện IDS khẳng định:
“Những vụ án đối với doanh nhân như thế cho thấy đấy là bàn tay của chính trị, bởi vì những doanh nghiệp của các đại gia thì đằng sau nó bao giờ cũng có một ông “kễnh” nào đó bảo kê. Và trong các cuộc đánh nhau về chính trị, thì người ta thường dùng các con tốt như thế, theo kiểu rung cây dọa khỉ. Để cho các ông “kễnh”đứng đằng sau đó biết mặt để mà chùn các hành động này, hành động kia”
Người bên này bắt người của bên kia để tạo ra một cái sức ép, sau đó là một sự dàn xếp trước mắt về nhân sự trong nội bộ. Tới khi không thể dàn xếp với nhau được nữa thì lúc đó họ sẽ làm tung tóe lên, khi đó sẽ là một cuộc chiến công khai.
TS Phạm Chí Dũng
Việc bắt bớ các doanh nhân không nhằm mục đích trừng trị và các đại gia chỉ là nạn nhân trong cuộc chiến phe phái mà thôi, TS. Nguyễn Quang A nhận định:
“Tôi nghĩ rằng việc gọi là triệt hạ sân sau thì cũng có một cái lý của nó, nhưng tôi nghĩ đó chỉ là một lý do phụ mà thôi. Mà lý do thực sự là họ muốn đánh thẳng vào các ông “kễnh”đứng đằng sau đó. Chứ còn các đại gia đó họ chỉ là những kẻ theo đóm ăn tàn bị vạ lây thôi.”
Trước các sự kiện quan trọng của Đảng, đặc biệt là vấn đề có liên quan đến vấn đề nhân sự, thì sẽ xảy ra tình trạng bắt một số doanh nhân là sân sau thuộc phe ông nọ ông kia. TS. Phạm Chí Dũng nói:
“Việc bắt các doanh nhân không phải là một đòn của Đảng và Nhà nước nhắm vào khối doanh nhân, tại vì chẳng ai đi làm cái trò như thế cả. Mà ở đây, họ chỉ xoáy vào một số ít các doanh nhân nào đó, mà các doanh nhân đó theo dư luận đồn đoán thì họ là sân sau, sân trước của một số chính khách nào đó. Việc đó nó liên quan đến sự kiện về nhân sự, vỉ chỉ có nhân sự mới có thể xảy ra tình trạng bắt bớ như thế này, nếu không vì nhân sự thì chưa chắc có chuyện này. Cho nên dư luận đồn đoán hay các chuyên gia đánh giá thì tôi thấy cũng có lý. Người bên này bắt người của bên kia để tạo ra một cái sức ép, sau đó là một sự dàn xếp trước mắt về nhân sự trong nội bộ. Tới khi không thể dàn xếp với nhau được nữa thì lúc đó họ sẽ làm tung tóe lên, khi đó sẽ là một cuộc chiến công khai.”
Trả lời câu hỏi, việc bắt các doanh nhân vào những thời điểm nhạy cảm như thế là sự vô tình hay chủ ý và nhằm mục đích gì?
Đây thực chất là việc đấu đá, là vấn đề đã trở thành quy luật và thường xảy ra vào những thời điểm được coi là nhạy cảm. TS. Nguyễn Quang A cho biết:
“Việc này tôi nghĩ rằng là hoàn toàn có chủ ý và đã diễn ra khá thường xuyên, lặp đi lặp lại ở VN nhiều lần rồi chứ không phải chỉ đến bây giờ. Chúng ta hãy nhớ lại kể từ vụ MPU18 cũng là đấu đá trên thượng đỉnh, rồi đến các vụ gọi là xôn xao dư luận thí dụ như vụ Bầu Kiên hay vụ ông (Hà Văn) Thắm chẳng hạn. Tất cả đều theo một hình mẫu khá là dễ hiểu.”
pham-chi-dung
TS. Phạm Chí Dũng
Tình trạng trên sẽ xảy ra liên tiếp từ nay cho tới khi công tác nhân sự của Đại hội Đảng XII được các phe phái trong Đảng thỏa thuận ngã ngũ xong xuôi, và đây là điều nguy hiểm. TS. Phạm Chí Dũng ghi nhận:
“Các trường hợp Ngân hàng Xây dựng, bà Châu Thị Thu Nga hay ông Hà Văn Thắm… đều liên quan đến thời gian trước các HN quan trọng về nhân sự. Tôi cho rằng đây là một hiện tượng đặc thù về chính trị mới xuất hiện ở VN từ năm 2012 tới nay, với một tần suất tương đối dày đặc. Đây có lẽ là một chiêu thức chính trị mà các chính khách, những người được coi là cầm cân nảy mực và những nhà kỹ trị ở VN sẽ áp dụng từ nay đến Đại hội XII, để họ thanh toán nốt những gì mà họ cần phải thanh toán. Nhưng điều đó hoàn toàn không có lợi gì cho dân chúng cả.”
Theo UB Kiểm tra TƯ Đảng cho biết, xung quanh một số nhân vật chủ chốt có vai trò quan trọng trong các quyết sách về kinh tế của Nhà nước hiện nay, đã thấp thoáng sự hiện diện của các doanh nhân. Sự hoạt động của các nhóm lợi ích là sự cấu kết giữa những Doanh nhân với các quan chức trong bộ máy Đảng và  Nhà nước là nguyên nhân làm cho kinh tế đất nước suy kiệt.

Việt Nam 2015: Nguy cơ xâm lược kinh tế

Nam Nguyên, phóng viên RFA
2015-02-06

vncb-622.jpg
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Xây dựng (VNCB).Photo courtesy of NLĐ
Thời sự kinh tế tài chính tuần qua khá sôi nổi với hai sự kiện, thứ nhất Ngân hàng Nhà nước mua lại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Xây dựng (VNCB) với giá 0đ và được cho là một hình thức quốc hữu hóa; thứ hai một gói kích cầu bất động sản 50.000 tỷ đồng sắp được tung ra. Cùng lúc báo chí nhà nước đặt nhiều dấu hỏi về tiến trình tái cơ cấu nền kinh tế tài chính, thì lại nổi bật sự kiện Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng khẳng định mục tiêu tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội năm 2015 đạt 6,2%.

Khả năng phục hồi mong manh

Trò chuyện với Nam Nguyên trước thềm năm mới Ất Mùi, chuyên gia tài chính Bùi Kiến Thành từ Hà Nội nhận định rằng, với tình trạng lạm phát ở mức 3%-4% và một chính sách tiền tệ tương đối mở rộng hơn một chút thì có cơ sở để nền kinh tế phần nào phục hồi, nhưng khả năng rất là mong manh, hiện nay nền kinh tế Việt Nam không có mảng nào có thể gọi là có sức để bùng lên. Các lĩnh vực đầu tư nước ngoài như may mặc hay là điện thoại … thì đó là đầu tư nước ngoài là chính, chứ còn đầu tư trong nước chưa thấy triển vọng phục hồi, trong khi hàng trăm nghìn doanh nghiệp vẫn gặp khó khăn, vì không đủ vốn tự có, đi vay với lãi suất 10% trở lên thì doanh nghiệp cũng không thể nào phát triển được. Chuyên gia Bùi Kiến Thành nhấn mạnh:
Tình hình kinh tế Việt Nam chưa ra khỏi tình trạng bế tắc cho nên việc nói sẽ là tăng 6,2% GDP thì những cái đó từ đâu đến. Các chuyên gia nhìn khắp mọi nơi chưa thật sự  rõ những nguồn ấy là như thế nào.
-Bùi Kiến Thành
“Tình hình kinh tế Việt Nam chưa ra khỏi tình trạng bế tắc cho nên việc nói sẽ là tăng 6,2% GDP thì những cái đó từ đâu đến. Các chuyên gia nhìn khắp mọi nơi chưa thật sự  rõ những nguồn ấy là như thế nào. Nguy hiểm hơn nữa sẽ có những hiệp định thương mại tự do được ký kết, được áp dụng có nghĩa hàng rào thuế quan sẽ bị xóa bỏ. có nghĩa hàng Việt Nam sẽ được xâm nhập trên thị trường thế giới và hàng hóa thế giới sẽ xâm nhập thị trường Việt Nam một cách mạnh hơn. Nhưng mà khổ một nỗi là Việt nam không có hàng để bán cho thế giới, còn thế giới thì ào ạt hàng hóa đủ thứ với chất lượng tốt với giá tốt đi vào Việt Nam như sóng thần. Thế thì doanh nghiệp trong nước có cạnh tranh nổi với hàng nhập khẩu hay không. Doanh nghiệp trong nước có gì để bán ra nước ngoài, tình hình kinh tế Việt Nam rất khó khăn ở chỗ, mình mở cửa cho người ta vào trùng trùng điệp điệp, trong khi người ta mở cửa thị trường cho mình thì mình chẳng có gì để bán.
Tình hình đó là một vấn đề rất nguy hiểm, nguy cơ Việt Nam sẽ bị hàng hóa nước ngoài, cũng như tài chánh nước ngoài vào Việt Nam đầu tư và phát triển có thể nói là khống chế, hay có thể nói là một cách xâm lược kinh tế đối với Việt Nam. Nguy cơ rõ ràng ở trước mắt.”
Vietnam-economy-032309-305.jpg
Ảnh minh họa kinh tế Việt Nam.
Trên Saigon Times Online, ngày 1/2/2015 chuyên gia TS Trần Du Lịch nhận định rằng, nền kinh tế Việt Nam trong năm qua giống như con người ở trong tình trạng ốm không ra ốm mà khỏe không ra khỏe, vẫn cứ ở trong trạng thái mà ông gọi là dầm dừ. Điều TS Trần Du Lịch bày tỏ sự e ngại nhiều nhất là thị trường nội địa, trong bối cảnh quản lý chưa tốt, cách kinh doanh của doanh nghiệp chưa sòng phẳng với nạn hàng gian hàng giả, hàng nhái gia tăng.
Vẫn theo TS Trần Du Lịch và Saigon Times Online, tình trạng hàng lậu qua biên giới, thật giả lẫn lộn đang làm cho doanh nghiệp chân chính trong nước gặp nhiều khó khăn. Vị chuyên gia nêu thí dụ hàng Trung Quốc giả nhãn hiệu Việt Nam có thể tiêu thụ được ngay chính ở thị trường trong nước đang gia tăng ngày càng cao. TS Trần Du Lịch cho rằng đây là trách nhiệm của nhà nước và nếu không giải quyết được vấn đề này thì doanh nghiệp Việt Nam sẽ sớm chết.

Quốc hữu hóa ngân hàng thương mại để ổn định?

Ngày 5/2/2015 báo điện tử Dân Trí đưa tin, Ngân hàng Nhà nước quyết định mua lại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Xây Dựng với giá 0 đồng. Một ngày trước hôm 4/2/2015, Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Phước Thanh nhìn nhận với báo Đầu tư Chứng khoán, việc Ngân hàng Thương mại Cổ phần Xây Dựng trở thành 100% vốn nhà nước có thể hiểu là trường hợp quốc hữu hóa đầu tiên với một ngân hàng thương mại ở Việt Nam. Phó Thống Đốc nhấn mạnh là câu chuyện quốc hữu hóa ngân hàng cũng đã được triển khai ở các quốc gia khác trên thế giới.
Nhận định về sự kiện Ngân hàng Xây dựng đã mất hết vốn sở hữu được Ngân hàng Nhà nước mua lại với giá 0 đồng, chuyên gia Tài chánh Bùi Kiến Thành phát biểu:
“Theo tôi, chính sách của nhà nước muốn tránh việc phá sản ngân hàng, muốn tránh sự đổ vỡ dây chuyền xảy ra nếu những người chủ tài khoản ở những ngân hàng yếu kém khác lo sợ. Trong luật của Việt Nam bảo hiểm tiền gởi chỉ có 50 triệu đồng thôi, tức là nếu một ngân hàng phá sản thì tất cả những người chủ tài khoản chỉ được đền bù mỗi người 50 triệu đồng, còn lại có thể nói là mất tất cả, những ai gởi 1 tỷ, 5 tỷ hay 7 tỷ cũng đều bị mất hết. Không hiểu với trường hợp quốc hữu hóa như thế này thì Ngân hàng Nhà nước có trách nhiệm với các chủ tài khoản như thế nào. Nếu không phải là phá sản mà Ngân hàng Nhà nước là sở hữu chủ của ngân hàng ấy thì theo tôi ngân hàng ấy vẫn còn tồn tại trên pháp lý.”
Ông Bùi Kiến Thành nói rằng, với tư cách một người quan sát ông chưa thấy sự rõ ràng về khung pháp lý, xử lý rốt ráo về vấn đề này. Ngân hàng Nhà nước là ông chủ mới, nhưng những người chủ cũ có còn trách nhiệm gì không đối với những việc đã qua, thí dụ các khoản nợ xấu chẳng hạn. Và cần chờ xem những quyết định mới từ Ngân hàng Nhà nước về vụ này.
Theo Dân Trí Online, Phó Thống Đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Phước Thanh giải thích là việc quốc hữu hóa VNCB không phải là mục tiêu kinh doanh mà là ổn định chính trị, xã hội. Để ổn định chính trị, xã hội thì phải có tiền trả cho người gửi tiền. VNCB đang ngập trong nợ chưa thể cho sáp nhập vào ngân hàng khác, khi tình hình ổn định Ngân hàng Nhà nước sẽ triển khai việc sáp nhập vào một ngân hàng khác và không loại trừ việc bán VNCB cho một ngân hàng khác để thu hồi vốn nhà nước về. Phó Thống đốc nhấn mạnh, sẽ có những ngân hàng phải phá sản, nhưng trong bối cảnh hiện tại chính phủ chưa muốn một ngân hàng nào phá sản cả.
Ngân hàng xây dựng VNCB là một minh chứng về việc này, qua hình thức mua bán sáp nhập ngân hàng họ có thể mua với giá 0 đồng hay 1 đô la như ở nước ngoài. Cái đó chỉ là về hình thức thôi, thực chất nợ xấu của VNCB ai phải gánh chịu, cũng như tất cả nợ xấu của hệ thống ngân hàng hiện nay ai phải gánh chịu.
-TS Phạm Chí Dũng
Tiến sĩ kinh tế Phạm Chí Dũng, một nhà phản biện độc lập ở TP.HCM từng tiên đoán sớm muộn sẽ diễn ra tình trạng phá sản hàng loạt ngân hàng thương mại cho rằng, Ngân hàng Nhà nước đang bắt đầu việc bắt buộc, thay vì tự nguyện tái cơ cấu của các ngân hàng yếu kém.
“Ngân hàng xây dựng VNCB là một minh chứng về việc này, qua hình thức mua bán sáp nhập ngân hàng họ có thể mua với giá 0 đồng hay 1 đô la như ở nước ngoài. Cái đó chỉ là về hình thức thôi, thực chất nợ xấu của VNCB ai phải gánh chịu, cũng như tất cả nợ xấu của hệ thống ngân hàng hiện nay ai phải gánh chịu. Tất cả các ngân hàng hiện nay theo chỉ thị của Ngân hàng Nhà nước là tới 30/6/2015 phải bán ít nhất 60% nợ xấu cho Công ty quản lý tài sản quốc gia (VAMC). Nhưng vấn đề là sau khi mua được số nợ xấu đó rồi Ngân hàng Nhà nước và VAMC sẽ xử lý số nợ xấu đó như thế nào, thì đối với Ngân hàng Xây dựng cũng tương tự như vậy thôi. Mặc dù sáp nhập như vậy hay là quốc hữu hóa hoặc một cách nào đó để giải quyết Ngân hàng Xây dựng, nhưng mà cuối cùng cũng chưa giải quyết được vấn đề thực chất nợ xấu và nợ của Ngân hàng Xây dựng là như thế nào.”
Một trong những diễn biến tài chính khác diễn ra trước thềm năm mới Ất Mùi, ngày 1/2/2015 Đất Việt Online đưa tin Ngân hàng Nhà nước đang chờ Chính phủ phê duyệt gói tín dụng 50.000 tỷ đồng hỗ trợ phân khúc nhà ở thương mại. Theo đó lãi suất cho vay sẽ là 7%/ năm kéo dài trong 10 năm, sau đó người vay sẽ chịu lãi suất điều chỉnh theo lãi suất ngân hàng thương mại.
Điểm đáng nói là đề xuất gói 50.000 tỷ được đưa ra trong khi đã có gói 30.000 tỷ kích cầu nhà ở xã hội hết hiệu lực vào 1/6/ 2016. Các chuyên gia cho là gói 30.000 tỷ đã thất bại vì chỉ giải ngân được 1/3 gói, trong đó chỉ có 12.000 hộ gia đình được vay tồng cộng 6.000 tỷ; các công ty bất động sản vay được 4.000 tỷ.
Nhận định về gói 50.000 tỷ nhằm hỗ trợ nhà ở thương mại, chuyên gia Bùi Kiến Thành nói rằng gói này kỳ vọng giúp các nhà đầu tư hoàn tất các dự án tạm gọi là phân khúc nhà ở cao cấp và người mua nhà có phương tiện tài chánh. Ông nhấn mạnh:
“Như vậy cũng chỉ giải quyết được một phần nào của phân khúc bất động sản đương đóng băng thôi. Chứ không giải quyết được vấn đề bất động sản một cách cơ bản, là mình có sản xuất ra cái mà thị trường cần hay không và sản xuất ra rồi thì thị trường đấy có nguồn tài chính để mua hay không. Ai mua ai có tiền mua, điều này chưa có lời giải, hiện giờ bất động sản chất lượng cao tồn kho rất là lớn, 50.000 tỷ đồng chưa giải quyết được vấn đề gì cho bất động sản cao cấp cả. Có thể nó trở thành những món nợ xấu nữa, tại vì những người sau này đi vay 50.000 tỷ ấy người ta có khả năng hoàn trả nợ hay không. Điều kiện cho vay thời hạn tương đối ngắn lãi suất hơi cao ai có mức thu nhập đủ khả năng vay và hoàn trả vốn; hay là lại có tầng lớp đầu cơ mua đi bán lại khi bán không được thì có khả năng tạo ra nợ xấu nữa. Đây là vấn đề nghiêm trọng Nhà nước cần suy nghĩ tính toán chu đáo.”
Tình hình kinh tế tài chánh của Việt Nam đầu năm 2015 vẫn còn nhiều vướng mắc tồn tại, liệu những người cầm trịch có đủ khả năng gỡ cuộn chỉ rối để ổn định tình hình và thực hiện mục tiêu tăng trưởng 6,2% như Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đề ra hay không. Theo các chuyên gia tiến độ tái cơ cấu nền kinh tế vừa chậm vừa không thực chất, cho nên năm mới Ất Mùi, guồng máy Nhà nước sẽ vẫn còn rất nhiều vấn đề phải giải quyết.

Con cá gỗ Hoàng

Hoàng Ngọc Trâm
RFA-2015-02-06
024_492073.jpg

Cảnh đồng quê VN- AFP photo
Khi biến cố 30 tháng 4 năm 1975 xảy ra tại Việt Nam, tôi được mười ba tuổi. Gia đình tôi có có chín người, gồm ba mẹ và bảy anh em tôi. Chính phủ thay đổi nên ba tôi bị mất việc làm, gia đình không có một nguồn thu nhập nào.
Một hôm mẹ mua một bao gạo hai mươi ký bằng tem phiếu mang về. Một bao gạo tròn, hôi mùi mốc, toàn sâu và mọt. Mẹ đổ gạo ra trước hiên nhà, dùng sàng để sàng cho sạch sâu. Những con sâu gạo mập úc núc, trắng phau bò lổn ngổn khắp nơi. Ban đầu tôi sợ lắm, hét toáng lên, không dám đến gần, nhưng mẹ bảo: “Đừng sợ, giúp mẹ nhặt những con sâu, bỏ vào bị nilông rồi đem liệng vào thùng rác, đừng phí một hạt gạo nào vì gạo là những hạt ngọc quý giá của trời đất.”
Tôi lấy hết can đảm, lượm những cục gạo bị sâu nhả tơ làm thành kén, rũ cho rớt những hạt gạo vào thùng gạo, lấy ở chính giữa ra một con sâu bọc trong kén chuẩn bị biến thành bướm. Những con mọt thì nhiều vô số, bò tứ tán rất nhanh. Mọt đục những hạt gạo chui vào nằm chính giữa. Chọn những hạt gạo có màu xám đen, bên trong là một con mọt, tôi bấm cho vỡ hạt gạo lấy con mọt ra rồi giữ lại hạt gạo vỡ kia. Tôi giúp mẹ tôi làm sạch gạo, quét dọn và bắt hết những con sâu cùng mọt, thế mà sau đó vài tuần, trong nhà tôi có một đám bướm đêm nhỏ xíu màu xam xám bay loanh quanh. Mẹ tôi bảo bướm đêm này là từ những con sâu gạo. Từ đó tôi không còn sợ sâu nữa.
Chỉ có bấy nhiêu gạo và một ít đậu đen, mẹ mua thêm khoai lang khô bảo tôi nấu mỗi ngày một ít, để có đủ thức ăn cho gia đình trong vòng sáu tháng. Những bếp dầu hôi (còn được gọi là lò xô) được xếp vào xó bếp, thay vào đó là một chiếc lò mùn cưa và một lò trấu.
Gần nhà tôi có một nhà máy xay lúa và một nhà máy cưa gỗ. Mỗi buổi chiều, tôi cùng với đứa em trai bảy tuổi, xách hai cái bao đến lò xay lúa để xin trấu và qua nhà máy cưa để xin mạt cưa. Nấu ăn bằng trấu thì bị khói nhiều, hơn nữa phải mất thời gian ngồi bên cạnh lò để canh và gạt tro nên tôi thích nấu ăn bằng mạt cưa hơn. Chỉ khi nào không xin được mạt cưa, tôi mới nấu ăn bằng trấu. Mỗi ngày, tôi thức dậy sớm, dệnh một lò mạt cưa để hầm khoai lang khô với muối cho cả nhà ăn sáng và ăn trưa. Mỗi người được một chén khoai lang khô đã hầm chín, muốn ăn lúc nào tuỳ thích, miễn là giúp cho mình không bị đói. Chị em tôi thường ăn một miếng khoai rồi uống một ngụm nước, chỉ cần nửa chén khoai là đủ no cho buổi ăn sáng, nửa chén còn lại chị em tôi để dành ăn trưa.
Sau khi hầm khoai, lửa trong lò mạt cưa đủ để tôi tiếp tục hầm một nồi cháo đậu đen. Cháo chín, tôi múc vào chín cái chén nhỏ, đặt ngay ngắn trên bàn để cả nhà ăn tối. Vừa làm việc nhà, tôi thường hát nghêu ngao. Bị cấm không được hát ‘nhạc vàng’, tôi bắt đầu tập hát cho thuộc lời những bài hát ‘cách mạng’. Ba tôi đi đâu về nghe tôi hát nhạc ‘cách mạng’ thì thường bảo: “Đừng hát nữa. Những bài hát đó có hay ho gì đâu, chỉ toàn là chuyện sắt máu và ‘bánh vẽ’ mà thôi.” Tôi nghe vậy liền im lặng tuy không hiểu.
Fish_Carving_350.jpg
Con cá gỗ
Trước kia, buổi ăn tối của gia đình tôi cũng là lúc cả nhà quây quần trò chuyện với nhau. Bữa ăn tối thường kéo dài hơn một tiếng đồng hồ. Ba tôi luôn bắt đầu bằng một câu chuyện triết lý gì đó, rồi mẹ và các anh tôi tham gia vào bàn luận. Ba là một người rất dân chủ, ông luôn nghe vợ và các con phát biểu ý kiến rồi cùng nhau bàn bạc để tìm ra cốt lõi của vấn đề hoặc những điều hay lẽ phải, chứ không hề đặt để hoặc cả quyết về một vấn đề nào cả. Tôi và các em nhỏ chỉ lắng nghe và học hỏi. Anh lớn của tôi thường kể những câu chuyện vui, cả nhà luôn cười vui trong bữa ăn. Mẹ thường nấu ba bốn món thức ăn khác nhau, và chúng tôi được lựa chọn thức ăn mình ưa thích để gắp vào chén. Người lớn thì thường giúp gỡ cá cho những đứa trẻ để chúng khỏi bị hóc xương.
Từ khi bữa ăn tối của gia đình chỉ còn có cháo đậu đen, câu chuyện ba tôi bắt đầu thường là một câu chuyện buồn gì đó xảy ra trong ngày, hoặc ba mẹ và các anh bàn bạc với nhau về công việc gì có thể làm để kiếm gạo. Mỗi người chỉ có một chén cháo nhỏ với một cái muỗng, chỉ cần vài phút là hết chén cháo, ai nấy cũng thòm thèm và bụng vẫn còn đói. Bữa ăn tối thường kết thúc nhanh chóng và thiếu tiếng cười.
Trong một bữa ăn tối, anh lớn của tôi lấy ra một con cá gỗ, đặt vào một cái đĩa rồi để giữa bàn. Anh tôii: “Từ hôm nay nhà mình sẽ có món cá muối ăn với cháo. Mỗi lần múc một muỗng cháo đưa vào miệng thì nhìn vào con cá một lần. Những đứa nhỏ thì phải nhìn kỹ và nhìn cẩn thận để không bị hóc xương.” Cả nhà cười ồ lên vì câu chuyện con cá gỗ đã được nghe anh tôi kể trước kia như là một câu truyện cười, vậy mà bây giờ gia đình cũng bắt đầu thực hiện phương pháp ‘cá gỗ’. Thế là từ đó, bữa ăn tối lại kéo dài thêm ra với những câu chuyện cùng những trận cười vì có đứa nhỏ bị phát hiện là ‘nhìn cá lâu quá nên bị ăn mặn’, hoặc ‘nhìn cá nhanh quá nên bị hóc xương’.
***
Bốn mươi năm trôi qua, đất nước tôi giờ đây vẫn còn rất nhiều người dùng con ‘cá gỗ’ kia trong bữa ăn. Giờ đây tôi khôn lớn để hiểu được từ ‘bánh vẽ’ mà ba tôi nói hồi đó. Cho đến khi nào mọi người dân của đất nước tôi mới thoát khỏi cuộc sống khốn khổ?

Hoàng Ngọc Trâm

1/2015

Chuyến xe buýt cuối cùng

Nguyễn Đức TuấnRFA-2015-02-051.jpg
Trạm xe bus đường Hàm Nghi, Saigon trước 1975-File photo
Đã bao nhiêu năm rồi sau ngày khó quên ấy, mặc dù cũng còn gặp lại Sang nhiều lần, nhưng chưa lần nào tôi hỏi hắn nguyên do vì sao có mặt ở Sài gòn vào tuần lễ cuối tháng tư, trong khi nhiệm sở hắn ở Vĩnh Long và thời gian này học trò chưa nghỉ hè, bởi chúng tôi đều là nhà giáo, biết rõ lịch trình làm việc của nhau. Tôi chả thắc mắc, bởi vì bạn bè vắng nhau lâu ngày, cứ có dịp gặp lại nhau là đã vui, hơi đâu nghĩ suy về chuyện ấy ?
Tôi ghé nhà hắn ở một hẻm nhỏ đường Calmette vào khoảng gần 1 giờ trưa và ở chơi đến gần 6 giờ mới kiếu từ, đi ngược đường trở ra bùng binh Sài gòn để đón bus quay về Gò Vấp.
Qua khỏi đường Hồ Văn Ngà, tôi thấy khung cảnh có hơi kỳ dị, khác với buổi trưa. Mọi người dường như hối hả để tránh một cơn mưa trong khi trời vẫn còn tốt, tuy có hơi u ám. Ra đến đường Phạm Ngũ Lão thì cảnh ấy càng trông thấy rõ, người ta không chỉ đi vội mà có người còn như chạy, và chớp mắt tôi hiểu ngay vì sao: không rõ vì lý do gì, các phương tiện giao thông công cộng đột nhiên vắng ngắt, ngay bùng binh Sài gòn, nơi thường khi có đậu ít nhất vài ba chiếc bus, bấy giờ không có một chiếc nào, trên một dãy đường chỉ thấy người lao nhao, lố nhố, họ chạy tới chạy lui như những con thú lạc đàn, người đứng thì ngoảnh mặt về một hướng, dáo dác trông.
Lát sau, có một chuyến bus xuất hiện ở đàng xa nhưng nhìn tấm biển, tôi biết đó không phải là xe mình muốn đón. Cũng có một nhóm đông người chờ xe Sài gòn – Gò Vấp như tôi, bởi họ đứng ngay tại trạm có ghi rõ tuyến đường. Năm phút, mười phút, mười lăm phút, hai mươi phút, xe về Gò Vấp vẫn bặt tăm, mãi đến hai mươi lăm phút nếu tôi còn nhớ rõ, xe này mới hiện ra, lừ lừ tiến đến với dáng nhọc mệt. Bà con vui vẻ kêu to và chạy ùa đến... Chính do sự đùn đẩy của những người phía sau, tôi lên được xe và đi miết về phía băng cuối, vì không còn chỗ ngồi. Hành khách lên không ngớt, chỉ vài phút sau, khi xe lịch bịch nổ máy to thì đó đúng là một hộp cá mòi, nóng nực và hôi hám, tất cả mong xe mau chạy đi, nhưng nó cứ đậu mãi và nổ máy, thở khói mù mịt ra phía sau. Nhiều tiếng hô to “Tới đi, bác tài ! Tới đi, bác tài !” Rõ là ai cũng sốt ruột.
Khoảng mười phút sau, xe mới lăn bánh. Nó đánh một vòng về hướng rạp Đại Nam rồi mới đổ ra bùng binh chợ Sài gòn, nơi tôi nhận ra bóng mươi nhân viên cảnh sát và cảnh sát dã chiến đang đứng chận ngang đường Lê Lợi, hai anh cảnh sát làm nhiệm vụ điều hòa giao thông, dùng tay chỉ trỏ về hướng đường Lê Lai, bảo xe cộ chạy về hướng ấy. Người trên xe bàn tán, không biết phía Quốc hội có chuyện gì, nhưng khi xe đổ vào đường Lê văn Duyệt và quành ra đường Gia Long, chạy đến phía sau dinh Độc Lập, tôi thấy nơi đây không những có cảnh sát, cảnh sát dã chiến mà còn có cả bóng áo xanh của quân lực Việt nam cộng hòa. Một chiếc xe thiết giáp còn đậu ở đó nữa.
Một anh lính chận ngang đường, không cho xe chạy tới và chỉ ra phía đường Thủ khoa Huân. Tôi nghĩ “Đúng là chạy lòng vòng, có chạy ra đó cũng không thể ra đường Lê Lợi, mà đường còn lại chỉ có Lê Thánh Tôn mà thôi !”
Quả vậy, phải mất gần 20 phút đồng hồ, xe mới ra được tới đường Tự Do, hướng về phía Hai Bà Trưng. Đường rộng, thoải mái, gió mát, nhưng khi đến ngã tư Thống Nhất, ai nấy hết hồn khi nhìn về phía dinh Độc Lập, thấy có quân đội án ngữ ở đó. Vài người to nhỏ: “Chẳng lẽ có đảo chánh nữa ?” Người ta nghĩ như vậy, đâu ai ngờ rằng đó là những giờ phút cuối cùng của đất nước miền Nam !
Chuyến xe buýt không còn chạy theo lộ trình bình thường nữa, đến ngã tư Phan Thanh Giản, xe không thể đi tiếp qua Tân Định mà dừng lại cho khách xuống để tự đi bộ, quẹo qua đường này để về phía Đa Kao. Vì nhà tôi ở tận Gò Vấp nên không phải xuống xe, từ chỗ đó tôi đã có thể có một chỗ để ngồi, nghĩ tơ lơ mơ về tình hình biến động nhưng chưa có một ý thức nào rõ ràng về sự việc sẽ đến ở ngày mai.
Khi tôi về tới nhà, mẹ tôi vui mừng thấy rõ, bà đã biết chuyện lộn xộn ở Sài gòn và sợ tôi bị kẹt, tối không biết ngủ ở đâu. Đài phát thanh đã loan tin giới nghiêm và tình trạng khẩn trương trên toàn cõi miền Nam nhưng không nói rõ là Việt cộng đã tràn về.
Tôi ăn cơm chiều ngoài sân sau và ngó về phía tây, nơi có phi trường Tân Sơn Nhất. Trên trời, có 2 chiếc F5 bay vòng quanh, một chiếc thả khói trắng thành vệt, tôi không rõ đó là phi vụ gì. Tình hình có vẻ nghiêm trọng, lúc ở Sài gòn, tôi có nghe vài tiếng súng lốp bốp nổ, nhưng bây giờ thì hơi im ắng, cái im ắng bình thường của một khu phố ngoại ô. Mẹ tôi cũng bước ra sân sau, tham gia bình luận với tôi, dù cả hai đều không nắm rõ tình hình. Tôi có 3 người em, hai trai và một gái, nhưng lúc ấy thằng em kế tôi còn nằm ở trung tâm huấn luyện thủy quân lục chiến Sóng Thần, cô em gái chả hiểu gì còn thằng út thì năm ấy hãy còn nhỏ lắm. Trên mẹ tôi có một người lớn hơn là bà ngoại tôi, nhà khi ấy ít người vì cha tôi và ông ngoại tôi đều đã chết.
Như những người đàn bà khác, bà tôi và mẹ tôi thì lo lắng chuyện chợ búa, gạo thóc, do kinh nghiệm thời Pháp Nhật cũng như thời Ngô Đình Diệm, cứ nghe tin có giới nghiêm thì hôm sau giá cả lại tăng lên. Tôi không quan tâm lắm đến những chuyện đó, vì xưa nay chuyện ấy là chuyện của các bà. Tôi nghĩ chuyện của tôi, đó là đi dạy và đi học, dù năm ấy tôi là sinh viên cao học năm thứ hai, cũng ít khi đến giảng đường. Tôi đã biết chuyện chị Yến, con gái lớn của dì Ba tôi đã đi Mỹ hôm 26 cùng một cô bạn tên Rose, làm chung ở hãng IBM, không dè đó là chuyến đi định mệnh, chị sẽ không về và tôi chỉ gặp lại chị 21 năm sau tại San Francisco, đó là bà chị đã dạy tôi tiếng Pháp lúc còn thơ, tôi trọn đời nhớ ơn chị.
Đêm ngoại thành im ắng càng im ắng hơn khi có giới nghiêm. Sau 7 giờ, số người đi lại thưa dần, tôi nói chuyện láp giáp với gia đình một lúc thì đi nằm, bâng khuâng nghĩ ngợi nhưng không chuyện gì ra chuyện gì, đến lúc mỏi mắt thì thiếp đi...
Ngày hôm sau: trong im ắng của một thành phố trong tình trạng khẩn trương, tiếng phi cơ bay ù ù, cánh quạt đánh xoành xoạch. Đó là những chuyến trực thăng Chinook đi bốc những người Mỹ rời Việt Nam, xa lánh vĩnh viễn thủ đô hoa lệ Sài gòn. Tôi không nhìn thấy UH-1B, mặc dù sau này được xem qua phim tài liệu nói về cuộc đại di tản khỏi thành phố Sài gòn, đặc biệt là phim Les Souvenirs du Vietnam.
Đêm 28 tháng tư không còn im ắng nữa. Trời mưa to, ngoài đường xe cộ rộn rịp nhưng không phải là xe dân sự mà là quân xa, những chiếc GMC phủ bạt bịt bùng và thiết giáp, xe tăng di chuyển hàng đoàn có hơn trăm chiếc, chúng hết từ Gia Định chạy vào lại từ Gò Vấp chạy ra, tiêng bánh xe lẹt xẹt cán trên đường mưa, tiếng xích ầm ầm, tiếng các anh lính nói chuyện với nhau chen trong tiếng rào rào của mưa, lâu lâu lại có một vài tiếng súng nổ, đó là những gì tôi ghi nhận vào đêm mưa não nùng đó. Cảnh ấy kéo dài suốt từ 7 giờ cho đến gần 10 giờ, tôi lịm đi vào giấc ngủ mang theo những ấn tượng mơ hồ, người cuối cùng mà tôi nghĩ đến là Quế, cô bồ nhỏ của tôi, sau lần gặp hôm 24 và nhất là sau ngày chủ nhật, không biết cô bé thế nào, tình hình bất ổn như thế này, vào ban ngày tôi cũng không cỡi xe đi thăm, vì đoán cũng chẳng ra sao...
Đêm 29 tháng tư 1975, một đêm kinh hoàng. Vào gần 8 giờ, trong khi nằm lim dim, tôi nghe một tiếng rít lớn trong không, tiếng đạn đại bác hay súng cối. Đầu đạn chưa nổ, tôi đã hô to “Cả nhà xuống sàn nằm ngay. Pháo kích đó !”
Tiếng rít kéo dài vài giây, tôi định hướng âm thanh thì biết nó bay về hướng Tân Sơn Nhất hoặc Bộ Tổng tham mưu. Quả vậy, tiếng nổ ở phía tây. Không lâu sau, lại tiếng rít thứ hai và tiếng nổ cũng ở phía đó. Tôi bảo: “Không sao đâu, mục tiêu ở xa, ra ngoài coi đầu đạn bay chơi... !” Và tôi lôi hai đứa em tôi ra ngoài. Trời trong, ánh phản quang từ mặt đất cho chúng tôi thấy rõ đầu đạn bay từ hướng đông, có lẽ được bắn từ phía Lái Thiêu, Thủ Đức hay Biên Hòa và tôi khẳng định ngay đó là đạn của Việt cộng, bởi vì nếu ta phản ta, lảm đảo chánh như năm 1961 hay 1963 thì đạn phải bay về hướng Sài gòn.
Tôi hồi hộp và sốt ruột chờ đợi, trong lòng cứ rộn lên câu nói “Sao không bắn trả lại đi, mấy cha ?”  Không có chiếc máy bay thám thính nào bay lên cả... Nhưng đâu cần máy bay ? Điện về Thủ Đức hay Biên Hòa là có ngay tọa độ của Việt cộng.
Tôi không rõ phía Quốc gia đã hành xử như thế nào vì từ lúc ấy cho đến ngày mất nước, đài phát thanh và truyền hình Sài gòn không còn đưa tin tức gì về chiến cuộc, nó như một giấc mộng hãi hùng mà người ta muốn quên hay không muốn nhắc đến.
Sau hơn 10 phút nhận pháo liên tục, tôi mừng rỡ khi nghe tiếng thuốc tống nổ ở phía Tân Sơn Nhất và bảo “Quân đội mình phản pháo rồi kìa !” Quả vậy, lần này tiếng rít bay ngược chiều từ tây sang đông, tôi thấy đạn bay đúng hướng, thể như đôi đàng ngó thấy nhau, nhưng tôi biết rằng đó chỉ là cảm giác, kỹ thuật nhà nghề của pháo binh mà...
Trong khoảng 15 phút, hai đàng bắn qua bắn lại nhau, không rõ số thiệt hai là bao nhiêu, chỉ biết sau đó tiếng súng phía Việt cộng thưa dần rồi im hẳn, phía Quốc gia bắn thêm một, hai phát cũng im theo. Tôi nghĩ thật là may, Sài gòn thoát cơn An Lộc địa !
Đêm ấy tôi ngủ không yên, mặc dù không còn tiếng súng. Đài phát thanh không loan tin tức, tôi không biết tình hình sẽ diễn tiến thế nào. Phiền nỗi mẹ tôi đã bán chiếc máy thu thanh có băng sóng ngắn từ mấy tháng qua, tôi không thể nghe đài BBC, còn lại chiếc máy transistor cà tàng thì chỉ có băng sóng trung mà máy này bắt đài VOA cũng khó, chỉ nghe nheo nhéo đài Radio Pékin, chương trình tiếng Pháp vào giấc khuya...
Một cảm giác mơ hồ xâm lấn lấy hồn tôi, nhưng đó quyết không phải là sự dépression về vấn đề thua cuộc. Tôi không bao giờ nghĩ miền Nam sẽ thua, mặc dù tổng thống Thiệu đã buồn bã than phiền rằng người Mỹ đã bỏ chúng ta, than ôi !...
Vâng, cho đến ngày nay, tôi vẫn không tin rằng miền Nam thua miền Bắc. Tuy nhiên, sự việc phũ phàng là sáng hôm sau, khi tôi còn chưa tỉnh giấc thì ngoài đường đã có nhộn nhịp tiếng người đi. Tôi nhanh tay khoác mùng và chạy ra thì thấy đó là những thường dân áo trắng, áo đen và có cả màu áo ka-ki xanh xao tàn lụi. Trong một thoáng, tôi nhận ra ngay một chiếc mũ tai bèo và thảng thốt kêu lên: “Trời ơi, Việt cộng đi ngờ ngờ !”
Phải, không nhầm lẫn tí nào, bởi gần như ngay sau đó, tôi thấy súng AK, thấy cờ Giải phóng miền Nam. Đoàn người đông lắm, già có, trẻ có, trai có, gái có. Họ nối đuôi nhau đi hai bên đường, nói cười nho nhỏ. Từ trong xóm, người lớn, trẻ em thi nhau chạy ra xem, như xem một hiện tượng lạ. Tôi hiểu trong tiếng pháo ầm ĩ đêm qua họ đã tập kết về phía ngoại thành và nằm chờ ở đó để đợi giờ J, giờ tiến về tiếp quản thành phố Sài gòn, Sài gòn diễm lệ của tôi !
Buồn, buồn muốn khóc. Tôi dửng dưng nhìn các bà, các cô khá quen mặt từ trong ấp ùa ra, tay bưng những sọt, những rỗ đựng cờ Giải phóng 2 màu với ngôi sao vàng cắt may rất vội. Họ thi nhau phân phát cho mọi người, trong đó có cả tôi. Tôi lắc đầu, không nhận, và đi vào nhà, miệng lẩm bẩm “Có thể nào ? Có thể nào ?...”
Nhưng đó vẫn là định mệnh oan nghiệt rắc lên con tim và tròng mắt của hàng triệu dân chúng miền Nam.
Vào gần 11 giờ, trên băng tần 9, tôi nghe tiếng đầu hàng của tướng Dương Văn Minh. Chịu không nổi, tôi chạy ra ngoài, hét lên “C'est odieux !” Mẹ tôi hiểu, dì út tôi hiểu, vì các người giỏi tiếng Pháp, và cả dượng Henri Georges, tất nhiên, vì ông là người gốc Pháp. Tôi muốn khóc lắm, nhưng không biết khóc ở đâu.
Thế là ván bài đã lật ngửa. Chữ CAPITULATION làm tôi nhói đau hơn cả chữ LA CHUTE DE SAIGON. Vâng, bởi vì thực tề dân miền Nam đâu có đầu hàng ? Bằng chứng là sự tuẫn tiết của hàng loạt các tướng lãnh miền Nam.
Trong khi đài truyền hình loan đi những tin tức buồn thì ngoài đường, đoàn người ban nãy thưa dần và tiếp theo sau là những quân nhân mất mũ, mất súng, mất giày thất thểu đi về. Cả nhà tôi chạy ra, nhìn ngong ngóng. Tôi biết bà tôi và mẹ tôi trông thằng em tôi. Tôi bảo: “Chưa đâu, ngoại ơi, má ơi. Chắc phải đến chiều nó mới về tới, từ Biên Hòa về đây hơn 30 cây số chứ có ít đâu ?”
Gần 3 giờ chiều, em tôi về tới, khoảng 5 giờ là bạn nghề nghiệp của nó (bộ binh), từ đâu đó ở miền Trung cũng về, tơi tả hơn, chân không có được chiếc dép. Cả nhà ngồi ăn cơm, nói đủ chuyện, nhưng chưa nhìn thấy được toàn cảnh ngày mai. Tôi nói đùa: “Trưa này, đài phát thanh Sài gòn chính thức trở thành đài phát thanh của Cộng hòa miền Nam Việt nam, vào lúc 1 giờ trưa, ông Trịnh Công Sơn có lên và hát bài Nối vòng tay lớn, kêu gọi sự hòa giải Bắc Nam, xóa bỏ hận thù, nhưng nghe mà chua xót... Ai ngờ được chiến cuộc lại kết thúc bi đát như thế này ? “Gia tài của mẹ để lại cho con: một lũ bội tình” hóa ra là như thế...”
Tôi trở lại Luật khoa khoảng vài ngày sau với tư cách một sinh viên năm thứ 2 ban Cao học. Ngỡ ngàng, tấm biển ngày nào biến đi đâu mất, thay vào đó là tấm biển mới với dòng chữ Trường đại học kinh tế. Tôi đi lông nhông để tìm bạn cũ nhưng chẳng thấy một ai, toan về thì gặp thầy Phỏng, giáo sư Anh văn của chúng tôi những năm học ở Petrus Ký. Hơn 6 năm trời mới gặp lại nhau nhưng trông thầy vẫn thế, nếu không muốn nói là trẻ hơn, bô trai hơn, thầy đi chiếc xe đạp của Tây màu đen trông thật luxe, khiến tôi phải trầm trồ. Hai thầy trò đứng ven đường Phan Đình Phùng nói chuyện với nhau khoảng nửa tiếng rồi chia tay. Đó xem như là lần cuối cùng tôi trở lại luật khoa đại học. Sau đó tôi bay sang quận 10, thăm cô bồ mấy hôm rồi không gặp. Trong lúc chuyện trò, cô nhắc tôi chuyện đi sang quận 8 coi bói năm nào: “Anh thấy không, bà thầy bói nói thật hay, hai ba lần bảo rằng anh nhất định không dính vào binh nghiệp.”
Đúng, chính quyền đổi thay, có lẽ tôi không bao giờ trở về đời ắc ê mang oằn vai ba lô và súng đạn, nhưng tôi thấy buồn khi nhớ đến những thằng bạn đã chết của tôi sau mùa hè đỏ lửa 1972. Muôn đời tôi oán Việt cộng, nguyên do thì có nhiều, không thể nào kể hết ra trong một bài viết ngắn.
Trải qua gần đúng 40 năm, cậu thanh niên 25 tuổi ngày nào đã trở thành ông lão 65, tôi có thể tạm kết thúc như vầy: All can be forgiven but not forgotten, một câu mà nghe nói nữ tài tử Jane Fonda (sinh cùng ngày với tôi, chỉ khác năm) đã nhận lãnh bởi các cựu chiến binh Hoa kỳ, khi cô xin lỗi về việc đã sang Hà Nội tuyên truyền phản chiến năm 1972 và chụp hình bên cạnh khẩu súng phòng không chống B52.
Xin gửi bài này cho chú ruột tôi là đại tá VNCH Nguyễn Đức Nhiễm đang cùng vợ và các con, các cháu sống lưu lạc ở Sugarland, USA và anh chú bác tôi là trung úy Nguyễn Đức Thiện trong ban Kiểm soát quân sự tạm thời TP Hồ Chí Minh, cấp hàm năm 1975, nay ra sao thì tôi không rõ vì đã cắt đứt quan hệ với quê nhà từ năm 1978 và nhất là tôi cũng tha phương nơi đất khách 24 năm nay.
Cũng xin tặng bà con còn nhớ về ngày đau buồn của miền Nam 40 năm về trước.

Gia Lai:Đổi bằng lái xe, hàng trăm người dân “phát hiện” mình dùng... bằng giả

Dân trí -Sở Giao thông vận tải tỉnh Gia Lai cho biết, trong quá trình đi đổi giấy phép lái xe từ bằng giấy sang bằng nhựa, nhiều người dân mới “phát hiện” mình đang sử dụng bằng lái xe giả (!).
Ông Tăng Xuân Kiên - Trưởng phòng Quản lý phương tiện người lái - Sở Giao thông vận tải tỉnh Gia Lai - cho biết, trong quá trình thực hiện đổi bằng lái xe (giấy phép lái xe) từ bằng giấy sang bằng nhựa cho người dân trên địa bàn tỉnh năm 2014, Phòng đã phát hiện 108 trường hợp sử dụng bằng lái giả (trong đó ô tô là 21 trường hợp, mô tô là 87). Điều đáng nói, những trường hợp này đều không biết bằng của mình là bằng giả (?!).

Những bằng lái này được làm giả rất tinh vi như: có những giấy phép lái xe mô tô thật được cấp sau đó được sửa lại thành lái phép lái xe của người khác; hoặc dùng phôi giả (bằng các thiết bị scan giấy phép lái xe). Không chỉ làm bằng giả mà nhiều trường hợp còn giả luôn cả hồ sơ gốc rất tinh vi.

GPLX giả nhìn như thật
GPLX giả nhìn như thật

Sau khi phát hiện bằng giả của người dân, cán bộ Sở Giao thông hỏi thì dân trả lời họ không biết bằng của mình là giả, họ bỏ tiền ra mua nhưng cứ nghĩ là mua được bằng thật!

Hồ sơ giả chữ kí vừa bằng công nghệ scan và mạo chữ ký
Hồ sơ giả chữ kí vừa bằng "công nghệ" scan và mạo chữ ký

Tất cả các trường hợp bị phát hiện dùng giấy phép lái xe giả đều bị Sở GTVT thu giữ giấy phép lái xe và hồ sơ giả, đồng thời ra quyết định cấm những trường hợp này không được tham gia sát hạch lái xe trong vòng 5 năm; đồng nghĩa với việc không được điều khiển các phương tiện giao thông cơ giới trong khoảng thời gian trên.

Ông Kiên nhận định, việc dùng phương tiện giao thông để mưu sinh đối với người dân là quan trọng nhưng tính mạng của những người tham gia giao thông còn quan trong hơn.
Thứ Sáu, 06/02/2015 - 18:40
Thiên Thư

LS Lê Công Định tranh luận về luật với 8 cán bộ CA

Lê Công Định - Sáng nay tôi lại đến trụ sở ủy ban nhân dân phường trình diện theo định kỳ hàng tháng. Sau thủ tục chào hỏi thông thường, đại diện chính quyền địa phương xuất hiện, nhưng lại là một anh Phó Chủ tịch phường. Bắt tay anh mà mắt tôi cứ nhìn ra ngoài cửa phòng như tìm ai khác. Ngoài phố một màu trắng xóa, không thấy ai. Bỗng tôi nhớ mấy câu trong bản nhạc bất hủ của nhạc sĩ Trường Sa: “Phố vẫn hoang vu từ lúc em đi …” Rồi tự nhủ, “lời nào gian dối cũng xin qua rồi!”

Quay trở về thực tại…, trước mặt tôi là 8 người đàn ông, 2 dân sự và 6 công an. Khi tôi đưa ra bản “Báo cáo chấp hành án tháng 1/2015” theo thường lệ, bầu không khí của căn phòng trở nên căng thẳng, vì lời lẽ tôi viết như sau chăng (?):“Vào ngày 22/1/2015, từ 23g15 đến 23g45, công an khu vực thuộc phường Tân Phú đã đến kiểm tra việc “chấp hành án quản chế” của tôi tại nhà riêng một cách vô lối mà không dựa trên bất kỳ văn bản pháp lý nào. Thêm vào đó công an khu vực lại tự ý lập biên bản và mời tôi lên trụ sở công an phường làm việc một cách không cần thiết vào sáng ngày 26/1/2015. Theo tôi đó là sự lạm quyền và cần phải chấm dứt.”

Hầu như suốt buổi làm việc, tôi và các anh công an tranh luận về cách diễn giải luật. Tôi mang theo hai văn bản luật pháp về cư trú và quản chế để “nói có sách mách có chứng”, nhưng các anh lại hiểu theo cách khác mà tôi không đồng ý. Vì các anh không nêu ra được văn bản luật biện minh cho cách hiểu của mình, nên chúng tôi đành kết thúc tranh luận và tôi nói rõ: “Tôi ghi nhận ý kiến của các anh, nhưng trừ phi các anh đưa ra quy định luật pháp nào nêu cụ thể cách diễn giải đó thì tôi chấp hành, bằng không tôi sẽ làm theo văn bản luật tôi có!” Các anh đáp lại rằng: “Chúng tôi chỉ có ý nhắc nhở, chứ không phạt anh, từ “xử lý” không có nghĩa là “xử phạt” nên anh không cần nhạy cảm như thế (!)” Tôi trình bày,“tôi là công dân và không thích công an khám nhà mình vào ban đêm, nên trừ phi có bằng chứng tôi vi phạm pháp luật, các anh không nên làm như vậy.”

Một anh an ninh ở Bộ Công an cùng dự khán, tỏ vẻ giận dữ rằng: “Anh viết như vậy khác nào chửi chúng tôi!” Tôi ngạc nhiên, “câu nào trong bản báo cáo đó được hiểu là “chửi” thế?” Anh ấy đáp, “anh có chửi hay không tự anh hiểu!”Tôi nói một cách thẳng thắn rằng: “Thứ nhất, không câu nào hàm ý chửi các anh. Thứ hai, rõ ràng các anh không quen nghe lời góp ý thẳng của dân, nên ai nói như vậy đều hiểu ngay là chửi.” Anh ấy đề nghị tôi viết lại bản báo cáo và bỏ đoạn nêu trên, tôi hơi cao giọng: “Tôi không việc gì phải viết lại, nhận hay không là chuyện của các anh. Nó thể hiện thái độ của tôi, chứ không phải là sự khiếu nại để có thể tách ra thành một văn bản khác.”

Một anh an ninh ở quận chuyển sang đề tài khác, hỏi rằng: “Trong một lần bình luận câu nói của Tổng thống Obama về Bắc Triều Tiên trên facebook, anh bảo các chế độ độc tài rồi sẽ sụp đổ. Ý anh là gì?” Tôi đáp, “mọi chế độ độc tài trên thế giới đều sẽ phải thay đổi, kể cả Việt Nam.” Anh ấy nói, “vậy chế độ ở Việt Nam sẽ thay đổi hay sụp đổ?” Tôi giải thích, “sụp đổ là một trong hai hình thức của thay đổi, nếu chuyển đổi như Myanma thì đó là sự thay đổi tốt đẹp, còn sụp đổ như các nước Đông Âu lại là sự thay đổi tệ hại.” Anh an ninh ở Bộ Công an gật gù, “tôi đồng ý với anh rằng sụp đổ là một hình thức của thay đổi, nhưng tùy theo cách nhìn của mỗi người mà nó tốt hay xấu thôi.” Tôi quay sang cám ơn anh vì đã hiểu đúng ý tôi muốn nói.

Một anh an ninh ở Sở Công an hỏi: “Nhóm 8406 kêu gọi xóa bỏ Điều 4 của Hiến pháp, anh nghĩ sao?” Tôi trả lời ngay rằng tôi hoàn toàn ủng hộ lời kêu gọi đó. Anh ấy hỏi lại, “tức là anh cũng muốn xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng?” Tôi giải thích, “Điều 4 duy trì sự độc quyền lãnh đạo của Đảng Cộng Sản, bỏ Điều 4 là xóa sự độc quyền đó, chứ không phải xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản; trong một thể chế đa đảng nếu tranh cử công bằng và nhận được sự tín nhiệm của toàn dân thì Đảng Cộng Sản hoàn toàn có thể cầm quyền và tôi sẽ ủng hộ điều đó bởi tôi cổ súy một nền dân chủ thật sự.”

Các anh an ninh hỏi tại sao tôi ca ngợi tuyên ngôn của nhóm Rapper Nah-Sơn, tôi đáp rằng tôi mong giới trẻ ngày nay nhìn nhận đa chiều các vấn đề xã hội, chứ không chỉ một chiều theo lời tuyên truyền của nhà nước, bởi lẽ thời đại ngày nay đã khác mươi năm trước, thông tin nhiều hơn, những giáo điều không còn phù hợp với thực tiễn của một nền kinh tế đang phát triển, tuổi trẻ dễ và cần tiếp nhận cái mới để góp phần phát triển đất nước.

Các anh an ninh tỏ vẻ khó chịu khi nhắc đến việc tôi tham gia hội luận trên mạng truyền thông của BBC vào ngày 22/1/2015, rồi giả vờ hỏi tôi đã nói gì trên đó. Tôi đáp khi được phóng viên BBC hỏi về các video clip “nhận tội” trong quá trình điều tra vụ án năm 2009, tôi đã nêu rõ rằng các đoạn chiếu trên truyền hình không phản ánh chính xác toàn bộ nội dung và mạch ý tưởng trong phần tường trình của tôi với cơ quan điều tra, vì đã bị cắt dán với mục đích tuyên truyền. Các anh giải thích rằng, “cắt dán là bình thường, giống như anh viết trên facebook vậy thôi (?)” Tôi không đồng ý và trả lời, “biên tập các bài viết trên facebook khác với việc tường thuật sai lệch có chủ đích.” 

“Hơn nữa, tôi nói tiếp, lúc tôi phản đối việc đặt camera trong quá trình thẩm vấn, điều tra viên đã giải thích rằng việc thu hình là để báo cáo cấp trên chứ không nhằm chiếu trên phương tiện truyền thông đại chúng, nên tôi chấp nhận, nhưng cuối cùng các video clip đó vẫn xuất hiện mà tôi không biết.” 

“Đó là sự man trá không thể chấp nhận,” tôi kết thúc. 

Anh an ninh ở Bộ Công an bảo, “quay phim lúc điều tra là bình thường.”

Tôi đành bật cười, chẳng lẽ tôi phải giải thích với anh rằng quay phim là bình thường thật, nhưng tiết lộ các thước phim ấy trong quá trình điều tra vụ án chính là sự tiết lộ hồ sơ vụ án, một hành vi vi phạm luật tố tụng hình sự rõ ràng và công nhiên của cơ quan điều tra. Sau này, tôi còn biết, một nhà ngoại giao châu Âu, sau khi xem video clip về tôi năm 2009, từng bày tỏ quan ngại rằng hành động đó đã vượt khỏi các chuẩn mực văn minh và quan niệm pháp lý được thừa nhận rộng rãi trên toàn thế giới. Làm sao giải thích cho các anh hiểu đây? Tôi thầm cầu Chúa ban phép mầu giúp tôi.

Buổi làm việc kéo dài từ 9 giờ đến quá 11 giờ mới kết thúc. Tôi bước ra khỏi cổng đến nơi đỗ xe và chợt nghe văng vẳng một giọng hát não nề từ đĩa nhạc phát to của quán cà phê phía đối diện: “Đời là vạn ngày sầu, biết tìm vui chốn nào?” Ái chà, tôi bỗng nhẩm đếm, còn đúng một năm nữa mới hết thời gian quản chế. Vậy là còn 365 ngày sầu nơi chốn này!

Trần Đại Quang và thanh bảo kiếm côn đồ

Lê Nam Khoa (Danlambao) - Nhân dịp Kỷ niệm 85 đảng thành lập cho sứ mệnh cắt mạng nhân dân, trùm côn an đọc diễn văn và ví von lực lượng côn an là “Thanh bảo kiếm” bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ XHCN (*) và côn an sẽ luôn "Phấn đấu thực hiện lý tưởng cao đẹp là lấy hạnh phúc của nhân dân làm niềm vui, lẽ sống"!!! Lấy hay cướp lấy hạnh phúc của nhân dân???

Trần Đại Quang nói rằng: "Dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, lực lượng CAND luôn quán triệt sâu sắc và thực hiện nghiêm túc các quan điểm, chủ trương của Đảng". Điều này xác định chính phủ, nhà nước... chẳng là cái đinh gì đối với Bộ côn an. Tập đoàn "còn đảng còn mình" này rõ ràng và dứt khoát là một công cụ của đảng cộng sản. Chính vì thế mà cũng theo tên thủ lãnh của bầy đàn côn đồ này, tổ chức đảng trong Bộ côn an đã được quy định trong điều lệ đảng với việc thành lập Đảng ủy Công an Trung ương nhằm "chuyển từ cơ chế lãnh đạo đảm bảo sang lãnh đạo tuyệt đối"

Dưới sự lãnh đạo tuyệt đối của đảng đó, Trần Đại Quang cho rằng "Mỗi chiến công, thành tích của Công an nhân dân đều bắt nguồn từ sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng và Bác Hồ kính yêu". Cũng bởi do mọi thứ đều bắt nguồn từ Hồ Tập Chương cho nên côn an là bộ phận đi đầu trong việc bao vây, ngăn chận, đánh đập, bắt giam bỏ tù những người yêu nước. Chiến công và thành tích của Bộ côn an là bắt giam nhà văn Nguyễn Quang Lập, bỏ tù Nguyễn Hữu Vinh... là những người chống lại sự bành trướng xâm lược của Bắc Kinh.

Châm ngôn của Bộ côn an là "còn đảng còn mình", chính vì vậy mà trong cái "thứ tự trung thành" Trần Đại Quang trước sau vẫn nói rằng tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc và nhân dân. Đảng trước, mới đến Tổ quốc và Nhân dân xếp hàng sau cùng. 

Tráo trở hơn cả là câu nói về "lý tưởng" của đám côn an: "Phấn đấu thực hiện lý tưởng cao đẹp là lấy hạnh phúc của nhân dân làm niềm vui, lẽ sống". Thử hỏi Trần Đại Quang có dám làm một cuộc trưng cầu dân ý tự do hỏi người dân xem côn an đảng lấy (1) hạnh phúc hay (2) tiền lót đường của nhân dân làm niềm vui?

Chính xác hơn, chúng ta nên hiểu câu trên như sau: Lý tưởng cao đẹp của côn an đảng (mà chúng lúc nào cũng mạo danh là công an nhân dân, là CƯỚP LẤY hạnh phúc của nhân dân làm niềm vui và lẽ sống của chúng.

Đơn giản vì đối với chúng chỉ có một "lý tưởng" duy nhất:



___________________________________

Hoan hô 364 cán bộ GTVT không nhận tiền hối lộ của dân!!!


Bạn đọc Danlambao - Trong tinh thần "Phấn đấu thực hiện lý tưởng cao đẹp là lấy hạnh phúc của nhân dân làm niềm vui, lẽ sống", Cục CSGT của Bộ côn an đã"Biểu dương 364 lượt cán bộ CSGT không nhận tiền của lái xe vi phạm". Còn lại hàng mấy chục ngàn cán bộ khác thì không được, nhất định không được vì đã"CƯỚP lấy hạnh phúc của nhân dân làm niềm vui, lẽ sống"!

Theo cục thu tiền mãi lộ thì qua công tác tuần tra, kiểm soát, lực lượng này đã lập biên bản xử lý trên 1 triệu trường hợp vi phạm Luật Giao thông đường bộ. Với trên 1 triệu "sự cố" này chỉ có 364 lượt cán bộ chê tiền còn lại bao nhiêu là hốt liền và hốt hết.

Thú thật người đọc báo cũng không rõ "lượt" cán bộ là gì, và theo nguồn tin báo chí thì thống kê trên chỉ là của quý 4 của năm 2014 dành cho 5 địa phương Sài Gòn, Bà Rịa - Vũng Tàu, Cần Thơ, Long An, Trà Vinh. Nếu tính luôn cả năm thì chắc cũng khoản 4 triệu trường hợp luật giao thông mà chỉ có đâu chừng 1000 quân chốt đường là "liêm khiết". 

Thảo nào trả tiền mua được một chân vào "nghề" CSGT thì sau đó với áo vàng sỏi đá cũng thành cơm.



Thứ trưởng Quốc phòng VN gặp cố vấn Ngoại trưởng Mỹ

Quan chức cấp cao của quân đội Việt Nam cũng nói rằng nhiều lĩnh vực hợp tác, trong đó bao gồm an ninh biển, “đã có bước phát triển mới”.
Quan chức cấp cao của quân đội Việt Nam cũng nói rằng nhiều lĩnh vực hợp tác, trong đó bao gồm an ninh biển, “đã có bước phát triển mới”.
VOA-06.02.2015
Thứ trưởng Quốc phòng Nguyễn Chí Vịnh hôm qua (5/2) đã gặp ông Thomas Shannon, cố vấn Ngoại trưởng Mỹ trong chuyến công du tới Việt Nam.

Theo báo chí trong nước, ông Vịnh đã “đánh giá cao việc Hoa Kỳ dỡ bỏ một phần cấm vận vũ khí với Việt Nam và đề nghị sớm dỡ bỏ hoàn toàn lệnh cấm vận này”.

Ngoài ra, quan chức cấp cao của quân đội Việt Nam cũng nói rằng nhiều lĩnh vực hợp tác, trong đó bao gồm an ninh biển, “đã có bước phát triển mới”.

Ông Vịnh cũng bày tỏ hy vọng rằng quan hệ Việt – Mỹ “ngày càng đi vào chiều sâu, thiết thực và hiệu quả”.

Chuyến thăm của ông  Shannon diễn ra ít lâu sau khi hai quốc gia cựu thù tổ chức cuộc đối thoại thường niên về quốc phòng, an ninh và chính trị.

Ông Puneet Talwar, Trợ lý Ngoại trưởng Mỹ về các vấn đề quân sự và chính trị, dẫn đầu phái đoàn ngoại giao Hoa Kỳ tham gia sự kiện này.

Trong cuộc trả lời phỏng vấn VOA Việt Ngữ sau cuộc đối thoại, ông Talwar cho biết rằng an ninh biển, nhất là vấn đề tự do hàng hải, là một trong các vấn đề quan trọng trong cuộc họp song phương.

Ông cũng cho biết thêm rằng Mỹ sẽ tiếp tục hỗ trợ củng cố lực lượng tuần duyên mà Việt Nam gọi là cảnh sát biển.

Ông nói: “Chúng tôi đã và đang tăng cường hợp tác để giúp đỡ Việt Nam phát triển lực lượng tuần duyên. Chúng tôi rất tự hào về điều đó, và chúng tôi cũng hy vọng rằng phía đối tác Việt Nam sẽ đánh giá như vậy.  Đúng, chúng tôi đã cung cấp cho Việt Nam tàu tuần tra và chúng tôi sẽ tiếp tục thực hiện điều đó để giúp lực lượng tuần duyên của Việt Nam cải thiện khả năng”.

Cuộc đối thoại tiếp theo về quốc phòng, an ninh và chính trị Việt – Mỹ tiếp theo sẽ diễn ra ở thủ đô Washington của Hoa Kỳ vào năm 2016.

2015 được coi là năm quan trọng trong mối bang giao Hà Nội – Washington khi hai nước kỷ niệm 20 năm bình thường hóa quan hệ ngoại giao.

Thời gian qua đã có nhiều hoạt động hướng tới ngày lễ này. Hồi cuối tháng Một vừa qua đã diễn ra một buổi hội thảo nhìn lại hai thập kỷ quan hệ giữa hai quốc gia cựu thù với sự tham gia của nhiều học giả và quan chức của cả hai phía.

Ông Ted Osius, Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam, phát biểu: “Mục tiêu của Hoa Kỳ rất rõ ràng: chúng tôi muốn giúp Việt Nam trở thành một quốc gia lớn mạnh, giàu có và độc lập, tôn trọng luật pháp và nhân quyền.”

Theo VNA, VOA

Kẻ thù của tiến trình dân chủ hoá ở Việt Nam



Nguyễn Hưng Quốc
VOA-05.02.2015
Kẻ thù của dân chủ ở Việt Nam, trước hết, là chế độ độc tài. Nhưng tại sao chế độ độc tài ấy vẫn cứ vững mạnh? Câu trả lời dĩ nhiên không phải vì cái chế độ ấy…vững mạnh. Vấn đề, bởi vậy, cần được đẩy xa hơn: Tại sao chế độ ấy vẫn vững mạnh, tiếp tục vững mạnh; và dù bị dân chúng căm ghét, không có dấu hiệu gì lung lay và yếu ớt cả? Nói cách khác, cần tìm các kẻ thù của dân chủ ở ngoài chế độ độc tài.

Nhìn vấn đề như vậy, theo tôi, có hai kẻ thù chính: Một là óc tư lợi và hai là chủ nghĩa thực tiễn (realism).

Trước hết, về tư lợi, xin lưu ý là có nhiều hình thức độc tài khác nhau, từ độc tài quân chủ đến độc tài quân phiệt, độc tài cá nhân và độc tài đảng trị. Về bản chất, các hình thức độc tài ấy giống nhau: thâu tóm quyền lực và quyền lợi vào trong tay của một người hoặc một nhóm người cùng lúc với việc tước bỏ mọi thứ quyền (rights) căn bản của đại đa số quần chúng. Về mức độ độc ác, chà đạp lên quyền làm người, chúng cũng không khác nhau mấy: số nạn nhân bị giết chết dưới chế độ độc tài đảng trị của Stalin, Mao Trạch Đông và Pol Pot không hề thua kém số nạn nhân do độc tài cá nhân của Hitler sát hại. Có điều đáng buồn là, về tuổi thọ, trong thời kỳ hiện đại, loại độc tài đảng trị tồn tại lâu và khó đánh gục nhất. Lý do đơn giản: dưới chế độ đảng trị, quyền lực và quyền lợi được san sẻ cho nhiều người, do đó, lực lượng của họ rất đông và vì đông, nên cũng vững mạnh. Ví dụ ở Việt Nam, quyền lực tối cao nằm trong tay mười mấy người trong Bộ Chính trị, tuy nhiên, dưới Bộ Chính trị, có mấy trăm người trong Trung ương đảng cũng có rất nhiều quyền lực; xuống nữa, thấp hơn, tận các địa phương nhỏ, mấy triệu đảng viên cũng có những quyền lực và quyền lợi hơn hẳn dân chúng: Chính mấy triệu đảng viên ấy , vì tư lợi của họ, hay nói theo lời đại tá Trần Đăng Thanh, vì những cuốn sổ hưu của họ, trở thành những nguồn hỗ trợ cho chính quyền độc tài, làm cho chính quyền, ít nhất, cho tới nay, hầu như bất khả xâm phạm.

Nhưng kẻ thù ấy, thật ra, chưa phải là kẻ thù chính. Số lượng đảng viên đông thì đông thật nhưng dù sao cũng không nhằm nhò gì so với 90 triệu dân. Nếu tất cả dân chúng, hay chỉ cần vài trăm ngàn người dân đổ ra đường biểu tình chống lại độc tài thì, trước sức ép của thế giới, cả mấy triệu đảng viên cũng chịu bó tay. Kinh nghiệm từ các cuộc cách mạng trên thế giới từ xưa đến nay, cụ thể hơn hết, những năm gần đây tại Trung Đông và Bắc Phi, cho thấy điều đó. Độc tài có thể ra lệnh cho quân đội xả súng vào cả hàng ngàn người, thậm chí, hàng chục ngàn người, nhưng không có ai dám ra lệnh bắn cả hàng trăm ngàn người, đặc biệt trong thời hiện đại, khi, với hệ thống truyền thông đại chúng vừa tinh vi vừa nhanh chóng, việc tàn sát ấy dễ dàng lan rộng khiến cả thế giới lên án và can thiệp.

Thế thì tại sao trong một quốc gia có gần 100 triệu người không thể hoặc chưa thể có mấy trăm ngàn người xuống đường biểu tình đòi tự do và dân chủ? Câu trả lời đầu tiên, dễ hiện ra nhất, là vì sợ. Nhưng theo tôi, câu trả lời ấy chưa phải là vấn đề căn bản. Chỉ cần theo dõi dân tình tại Việt Nam hiện nay, chúng ta thấy ngay vấn đề chính của đại đa số quần chúng không phải là sự sợ hãi mà chủ yếu là người ta không thực sự quan tâm đến xu hướng dân chủ hoá. Họ không đoái hoài đến chính trị. Họ vô cảm trước hoạ độc tài. Với họ, Việt Nam do ai cai trị và cai trị thế nào không quan trọng. Điều quan trọng nhất, với họ, là họ có thể làm ăn, mua sắm xe cộ và nhà cửa. Bởi vậy, điều họ cần nhất là sự ổn định về chính trị và những cơ hội để làm giàu hoặc ít nhất, kiếm sống. Lâu nay, chúng ta thường gọi đó là tâm lý vô cảm hay chủ nghĩa mặc-kệ-nó, tuy nhiên, ẩn giấu đằng sau sự vô cảm ấy chính là óc tư lợi, chỉ nghĩ đến những lợi ích của bản thân mình và gia đình mình hơn là quyền lợi chung cho cả đất nước.

Bên cạnh óc tư lợi của các đảng viên cũng như của dân chúng nói chung, tiến trình dân chủ hóa còn có một kẻ thù khác nữa: chủ nghĩa thực tiễn (realism) của các cường quốc trên thế giới.

Trong chính trị học, khái niệm chủ nghĩa thực tiễn được sử dụng nhiều nhất trong lãnh vực quan hệ quốc tế. Nói một cách vắn tắt, chủ nghĩa thực tiễn chủ trương, một, trong quan hệ quốc tế, không có một quyền lực nào bên ngoài hay ở trên có khả năng chi phối cách hành xử giữa các quốc gia với nhau; hai, yếu tố chính quyết định sự lựa chọn của mỗi quốc gia là quyền lợi của chính nước ấy; và ba, quan hệ quốc tế, do đó, thay đổi theo từng lợi ích cụ thể chứ không phải là một ý thức hệ nào cố định cả. Trong ý nghĩa ấy, có thể nói hầu hết, nếu không muốn nói là tất cả, các chính sách ngoại giao của Tây phương đều xuất phát từ quan điểm thực tiễn luận. Trên lý thuyết, họ hay nói đến vấn đề nhân quyền như một nền tảng ngoại giao, nhưng trên thực tế, mọi quyết định của họ đều tùy thuộc vào quyền lợi của quốc gia họ. Trong lịch sử, kể cả lịch sử rất gần, hơn nữa, kéo dài đến tận ngày nay, Mỹ cũng như hầu hết các quốc gia Tây phương đều duy trì quan hệ mật thiết với nhiều quốc gia còn chìm đắm dưới họa độc tài. Như với Ai Cập dưới thời Hosni Mubarak hay Pakistan và Saudi Arabia hiện nay.

Từ những kinh nghiệm ấy, chúng ta có thể đặt vấn đề: Liệu Mỹ và Tây phương có đẩy mạnh sự hợp tác chiến lược với Việt Nam trong khi Việt Nam vẫn còn độc tài và tiếp tục chà đạp lên nhân quyền hay không? Theo cách trả lời phỏng vấn của một số quan chức trong guồng máy chính trị ở Mỹ và Tây phương nói chung thì dường như là không. Họ lớn tiếng tuyên bố việc cải thiện nhân quyền là một trong những điều kiện căn bản của mọi sự hợp tác có tầm chiến lược. Với họ, dường như đó là một nguyên tắc. Nhưng đó chỉ là những lời tuyên bố. Khi việc hợp tác thực sự có lợi, người ta sẽ bất chấp tất cả những nguyên tắc và các điều kiện ấy như điều họ vẫn làm đối với các chế độ độc tài khác ở Nam Mỹ, Bắc Phi, Trung Đông từ trước đến nay. Nói cách khác, trở ngại chính trong quan hệ giữa Việt Nam và Mỹ cũng như với các quốc gia Tây phương hiện nay không phải vấn đề dân chủ hay nhân quyền mà thực ra là vấn đề tin cậy: chính quyền Việt Nam phải làm sao cho thế giới thấy là họ có một chiến lược rõ ràng, đặc biệt, trong quan hệ với Trung Quốc. Tuy nhiên, sự tin cậy chỉ có thể đạt được khi người ta chia sẻ một bảng giá trị chung; trong bảng giá trị ấy, nhân quyền lại là một trung tâm. Do đó, mặc dù bị chìm phía dưới, nhân quyền vẫn là một yếu tố quan trọng trong bất cứ một liên minh nào với Tây phương. Yếu tố trung tâm này chỉ bị gạt qua một bên trong trường hợp sự liên minh trở thành thiết yếu, không thể không có.

Dĩ nhiên, người Việt, nhất là cộng đồng người Việt ở hải ngoại vẫn nên và cần tiếp tục vận động để Mỹ và Tây phương tăng cường áp lực lên chính quyền Việt Nam để cải thiện nhân quyền, nhưng cũng không nên quên tất cả những nhà lãnh đạo Tây phương đều là những nhà thực tiễn luận (realist): Cuối cùng, điều họ làm là những gì có lợi nhất cho đất nước họ.

Chứ không phải là ý thức hệ hay ý tưởng. Kể cả các ý tưởng về dân chủ và nhân quyền.

* Blog của Tiến sĩ Nguyễn Hưng Quốc là blog cá nhân. Các bài viết trên blog được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ.

Tết về trên vùng cao Thanh Hóa

Nhóm phóng viên tường trình từ VNRFA-2015-02-05
thanh-hoa-622.jpg
Chợ ở Ngọc Lặc, Thanh Hóa.RFA PHOTO
Tỉnh Thanh Hóa được xếp vào một trong những tỉnh rộng nhất Việt Nam, đồng thời cũng là một trong những tỉnh có số gia đình nghèo đói nhiều nhất Việt Nam và có số cán bộ địa phương nhiều nhất Việt Nam. Tháng Chạp về, không khí đón Tết râm rang khắp mọi nơi, riêng một số huyện như Thường Xuân, Như Xuân, Ngọc Lặc, Quan Hóa, Tết vẫn là một giấc chiêm bao ban trưa mà ở đó, cảm giác nửa say nửa tỉnh, nửa đói nửa buồn, nửa tồn tại nửa mơ hồ vẫn vây bủa.

Lấy gì mà ăn Tết?

Ông Hà, người Thái Trắng, sống ở Thường Xuân, Thanh Hóa, chia sẻ:
“Đời sống của mình thì giản dị đơn sơ nhưng mà hàng hóa đắt đỏ nên không có tiền sắm Tết đâu. Báo chí thì vẫn nói là đủ ăn, có Tết. Bây giờ hàng hóa nhiều, thịt gà nhiều nhưng mà đắt đỏ lắm, đâu có tiền, chỉ là tự cung tự cấp, miếng rau miếng thịt mình nuôi thôi, quần áo đẹp hay đồ trong lễ hội Tết thì không có, còn khó khăn nhiều lắm!”
Theo ông Hà, ngay cả trong ngày thường, việc kiếm đủ một ngày hai bữa cơm đã là quá khó khăn đối với bà con dân tộc thiểu số Thái Trắng, huống gì chuyện mua rượu, thịt về ăn Tết. Mọi năm, bà con dành dụm để ăn Tết nhưng năm nay không dành dụm được nữa vì diện tích đất canh tác đã bị co cụm, không đủ lúa để ăn, không thể nào dành dụm được mà có Tết.
Rút kinh nghiệm nhiều năm trước, bà con quyết không đón Tết nữa, nghĩa là không còn ý nghĩ thịt heo, dưa kiệu, bánh tét trữ trong nhà ba ngày Tết mà chỉ cần mua một chiếc bánh chưng về thờ ba ngày Tết là đủ. Mọi năm, để có được một cái Tết ấm áp, nhiều gia đình phải mua nợ, ghi sổ ở các đại lý và trả góp với lãi suất có khi lên đến 150% so với giá thị trường.
Đương nhiên việc bán trả góp như vậy đối với bà con là nhân đạo vì không có các cửa hàng này, bà con không biết lấy gì mà xài Tết. Nhưng ra Giêng, trả mãi cho đến gần hết năm mới xong món nợ. Cuối cùng, chuẩn bị Tết trở lại, phải ghi sổ tiếp tục món nợ khác, quanh năm suốt tháng lẩn quẩn trong sổ nợ, bà con sợ lắm!
Hiện tại, suốt ba tháng nay, bà con dân tộc thiểu số đã bắt đầu khan hiếm lương thực, chỉ ăn cơm khoai độn, sắn độn mỗi ngày hai bữa để cầm hơi. Thức ăn ngoài cơm chỉ có cà pháo dầm muối. Cũng may đây là món ngon của người thiểu số, chỉ cần ra ngoài rừng hái một rổ, về phơi hơi héo một chút rồi bỏ vào nước muối mà dầm cho đến khi trái cà chín ngấy trong nước muối, vớt ra ăn chung với cơm, vừa có vị chua chua, mặn mặn lại giòn giòn. Với bà con thiếu ăn, không có gì thú vị và ngon hơn món này trong những ngày giá lạnh. Nhưng món cơm cà cũng chỉ kéo dài chừng nửa tháng, sau đó mỗi khi ăn vào có cảm giác ợ chua và nóng cuống họng rất khó chịu.
thanh-hoa-400.jpg
Một ngôi nhà khá giả của người Thái Trắng ở Ngọc Lặc, Thanh Hóa. RFA PHOTO.
Hiện tại, người đồng bào thiểu số ở miền núi Thanh Hóa vẫn chưa có cảm giác Tết về, mặc dù hoa rừng đã chớm nở nhiều nơi, chim rừng cũng đã hót lảnh lót đón Xuân nhưng những mái nhà tranh vách nứa vẫn nằm heo hút nơi rừng sâu, vẫn im ỉm đóng cửa và khói lam chiều chiều ám gợi những bữa cơm đạm bạc, thiếu thốn, đói khổ. Với con người nơi núi rừng, Tết vẫn còn xa lắm, Tết vẫn chỉ mới về nơi thềm nhà của người có tiền, có quyền chức, Tết như một giấc mơ ban trưa, âm âm mùi vị nhưng không có thực.
Ông Hà cho biết thêm là hiện nay, vẫn còn nhiều gia đình chưa trả hết nợ hợp tác xã, nợ chồng nợ chất, nợ từ nhiều năm trước tích tụ lại. Mỗi năm, người dân trả không biết bao nhiêu khoản thuế và nếu không trả thì các cán bộ địa phương sẽ dùng biện pháp mạnh, không ngoại trừ tịch thu tài sản. Thường thì tài sản của bà con cũng chẳng có gì ngoài chiếc xe máy hay chiếc xe đạp để đi làm. Bị tạm thu, thậm chí tịch thu thì coi như hết đường làm ăn.

Cán bộ nhiều như sâu bọ

Ông Trị, sống ở huyện Ngọc Lặc, Thanh Hóa, chia sẻ:
“Khó khăn thực sự, họ không có gì luôn, đất trồng lúa nước cũng không có, chỉ có cây sắn, cây ngô thôi. Dân trí cũng thấp, họ ít được đi ra ngoài, họ không nghĩ được việc đi ra ngoài làm mà họ cũng chẳng biết được nghề gì để đi làm thuê, họ chỉ biết đi rừng kiếm củi về nấu ăn thôi!”
Theo ông Trị, Tết năm nay, bà con thiểu số miền núi đều rơi vào cảnh nhà trống hoác, nợ thuế vẫn chưa thanh toán hết, nhiều gia đình đọng nợ từ nhiều năm trước. Một cái Tết buồn đang đến. Kể từ năm 2000, nhà nước không thu thuế nông nghiệp với bà con nông dân nữa nhưng bù vào đó, các khoản dịch vụ thủy lợi, dịch vụ hợp tác xã lại tăng cao. Đồng thời, dịch vụ phục vụ Đảng, phục vụ cán bộ tăng vùn vụt khiến cho người dân chóng mặt.
Chỉ riêng khoản thuế đóng để nuôi cán bộ mà theo như ông Trị nhận xét là đông còn hơn sâu bọ, có nhiều xã có cả ngàn cán bộ, từ cán bộ đoàn, cán bộ cộng tác theo mảng, cán bộ phòng chống tham nhũng, cán bộ phòng chống tệ nạn, cán bộ hỗ trợ thu thuế… Kính thưa các loại cán bộ mà nhân dân chưa bao giờ bầu ra cũng như nhân dân chưa bao giờ nhìn thấy mặt họ nhưng tên tuổi của họ vẫn tồn tại và suất thuế mà nhân dân phải đóng để nuôi họ luôn là nỗi ám ảnh mùa gặt.
Nhiều vụ lúa, người nông dân chỉ thu hoạch chưa đến hai chục bao lúa, mọi vốn liếng dành dụm đều bỏ vào chưa tới hai chục bao lúa đó nhưng số lúa phải đóng thuế đã lên đến mười tám bao. Như vậy, bà con nông dân phải van nài, lạy lục cán bộ thu thuế ngay trên đồng ruộng để khất lại mùa sau sẽ đóng tiếp khoản nợ.
Thường thì đến mùa gặt, cán bộ xã xuống tận đồng ruộng, mang theo cân, bao và sổ thuế để khi bà con gặt lúa xong thì họ đọc luôn con số nợ và xúc lúa vào bao, bỏ lên cân để trừ nợ. Người nông dân đôi khi khổ qúa phải tổ chức gặt trộm vào ngày chủ nhật hoặc gặt vào ban đêm rồi giấu lúa sang nhà khác ít nợ hơn để dành dụm mà ăn mùa đói kém. Nói chung là việc thu thuế của cán bộ xã ở các huyện miền núi Thanh Hóa còn khắt khe và ghê gớm hơn cả việc sưu tô thuế thời phong kiến.
Sở dĩ có chuyện cay đắng này là do bộ máy cầm quyền địa phương quá đông, nhiều lúc nhúc như sâu bọ, mà họ chỉ là cán bộ cộng tác, không có lương chính thức của nhà nước nên việc thu thuế càng nhiều thì đời sống của họ càng phất lên, họ có cái để ăn nhậu, cà phê. Chính vì gánh cái ách thuế nhà nông quá nặng để nuôi cái ổ cán bộ lúc nhúc này mà người nông dân nợ nần triền miên, đói khổ triền miên.
Một mùa Tết nữa đang về trên vùng cao Thanh Hóa, hoa rừng đã nở trắng các rẻo đồi, khí trời thanh thoát, thơm tho. Nhưng lòng người vẫn còn u ám vì cái nghèo, cái đói, mùa Xuân vẫn chưa về nơi tâm hồn những đồng bào thiểu số đói khổ và chịu đựng.
Nhóm phóng viên tường trình từ Việt Nam.