Friday, July 4, 2014

Tổng Bí thư: “Ngư dân còn bám biển là Tổ quốc còn chủ quyền“

VOV.VN -Tổng Bí thư nêu rõ, cùng với phát triển kinh tế và đời sống, Phú Quý phải làm tốt nhiệm vụ giữ gìn an ninh trật tự, giữ gìn độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ.
Ngày 3/7, trong chuyến thăm và làm việc tại tỉnh Bình Thuận, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã ra thăm huyện đảo Phú Quý. Đây là lần đầu tiên, Tổng Bí thư ra thăm cán bộ, nhân dân và chiến sĩ ở huyện đảo này. Cùng đi với Tổng Bí thư có lãnh đạo một số Bộ, ban, ngành của Trung ương. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nêu rõ: Cùng với phát triển kinh tế và đời sống, huyện đảo phải làm tốt nhiệm vụ giữ gìn an ninh trật tự, an toàn xã hội, giữ gìn độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ.
 
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tặng quà các gia đình liệt sĩ ở xã Tam Thanh, huyện đảo Phú Quý
Huyện đảo Phú Quý nằm ở vị trí tiền tiêu đặc biệt quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế biển, đảo và nhiệm vụ an ninh – quốc phòng. Huyện đảo có 3 xã với hơn 27 nghìn người. Kinh tế biển được xác định là ngành kinh tế mũi nhọn của huyện, tập trung đầu tư, phát triển cả về năng lực khai thác, chế biến, nuôi trồng và bảo vệ nguồn lợi thủy sản. Hoạt động kinh tế biển của ngư dân gắn liền với nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển đảo.
Tại xã Tam Thanh, trung tâm giao lưu kinh tế trọng điểm của huyện, cán bộ và nhân dân vui mừng chào đón nhà lãnh đạo cao nhất của Đảng tới thăm. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã dành thời gian trao đổi trực tiếp với cán bộ, nhân dân về việc tổ chức và hoạt động ngư nghiệp; về ngư trường, dịch vụ, chế biến, tiêu thụ hải sản; về việc học hành, cung cấp nước ngọt, điện; về cách thức sinh hoạt đảng khi có những đảng viên bám biển dài ngày…
 
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nói chuyện với cán bộ, nhân dân xã Tam Thanh, huyện đảo Phú Quý
Ngư dân Huỳnh Triển, 69 tuổi, bộc bạch về những khó khăn khi khai thác, đánh bắt nhất là ở ngư trường khu vực quần đảo Hoàng Sa sau khi phía Trung Quốc hạ đặt giàn khoan Hải Dương 981 trái phép tại vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam. Ngư dân Huỳnh Triển đề nghị Chính phủ cho vay dài hạn hay bằng cách nào đó để để dân sắm tàu lớn, máy lớn bám biển dài ngày và để người dân tiếp tục khai thác đánh bắt ở Hoàng Sa, Trường Sa.
Tổng Bí thư rất vui khi được biết ngư dân Tam Thanh đã tham gia nghiệp đoàn nghề cá và tổ chức các tổ đoàn kết khi khai thác xa bờ. Bà con đã được sử dụng điện với giá như trong đất liền. Xã đã phổ cập trung học cơ sở và có 2 trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng chia sẻ những khó khăn mà cán bộ và nhân dân xã Tam Thanh nói riêng, huyện Phú Quý nói chung đang gặp phải do ở xa đất liền, thường xuyên bị ảnh hưởng bởi thời tiết, khó khăn về ngư trường đánh bắt...
Tổng Bí thư mong rằng xã Tam Thanh nói riêng và huyện Phú Quý cần tiếp tục phát huy thế mạnh vươn khơi, bám biển, trong đó nhấn mạnh: “Đánh bắt xa bờ là chủ trương chiến lược. Muốn đánh bắt xa bờ tốt phải có phương tiện tốt, tổ chức công việc tốt, tổ chức hợp tác liên doanh, có nghiệp đoàn, có chế biến, có dịch vụ đi kèm, tổ chức tốt thì mới làm được. Đánh bắt xa bờ phải kết hợp với bảo vệ độc lập chủ quyền của Tổ quốc, bảo vệ môi trường, bảo vệ ngư trường của chúng ta”.
 
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng dâng hương và dâng hoa tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh
Làm việc với cán bộ chủ chốt của huyện Phú Quý, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đề nghị huyện cùng với việc đánh bắt phải phát triển nuôi trồng thủy hải sản đề kết hợp, bổ sung cho nhau, đồng thời giải quyết việc làm cho lao động. Huyện đảo từng bước khai thác điều kiện tự nhiên và thế mạnh tại chỗ để trồng trọt, chăn nuôi những cây, con phù hợp, từng bước có thể tự túc được những nhu cầu thiết yếu, không phụ thuộc hoàn toàn vào đất liền. Lâu dài trên đảo phải có hồ chứa nước ngọt; phải trồng cây, trồng rừng để duy trì nguồn nước ngầm; quan tâm tới phát triển giáo dục và y tế.
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đề nghị huyện đảo phải làm tốt nhiệm vụ bảo đảm an ninh quốc phòng tại một vị trí chiến lược của hệ thống phòng thủ ven biển phía Nam nước ta.
Tổng Bí thư cũng đề nghị Đảng bộ huyện Phú Quý tập trung làm tốt  công tác xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh, hệ thống chính quyền tốt, thủ tục hành chính thông thoáng, chống cho được tham ô, nhũng nhiễu, lãng phí
Thăm các lực lượng vũ trang của huyện đảo Phú Quý, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng biểu dương và chúc mừng những thành tích trong công tác, lao động và sẵn sàng chiến đấu của các đơn vị. Tổng Bí thư lưu ý dự báo thời gian tới tình hình vẫn còn nhiều khó khăn, phức tạp vì vậy lực lượng vũ trang trên đảo không được phép chủ quan, không một phút lơ là, mất cảnh giác, luôn sẵn sàng chiến đấu. Cùng với việc phát huy truyền thống anh hùng, các đơn vị công an, bộ đội phải nêu cao tinh thần trách nhiệm, phối hợp nhịp nhàng, dự báo và nắm chắc tình hình để đề ra các phương án đối phó, tuyệt đối không được để bị động, bất ngờ cả ở trong nội địa và ngoài biển khơi, bảo vệ ngư dân, ngư trường.
Tổng Bí thư chúc cán bộ, nhân dân và chiến sĩ huyện đảo Phú Quốc cùng nhau đoàn kết, chung sức xây dựng đảo phát triển bền vững, giàu mạnh hơn nữa, đúng như tên gọi của đảo là đảo Phú Quý.
Chiều nay, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tới thăm Công ty trách nhiệm hữu hạn Hải Nam- một doanh nghiệp tư nhân chuyên sản xuất, chế biến thủy sản và nông sản tại thành phố Phan Thiết. Tổng Bí thư và các thành viên đoàn công tác đã thăm dây chuyền và tìm hiểu một mô hình sản xuất theo hướng chuyên sâu, theo chuỗi liên kết giữa nguyên liệu, sản xuất, chế biến, tiêu thụ, xuất khẩu.
Các sản phẩm của Công ty như thủy sản, nấm mèo, bánh tráng, yến sào đã vào được các thị trường khó tính như Nhật Bản, châu Âu. Không chỉ tập trung vào sản xuất, Công ty còn chú ý tới công tác xã hội, chăm lo đời sống của người lao động, xây dựng văn hóa doanh nghiệp.
Trước đó, chiều 2/7, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã tới dâng hương, dâng hoa tưởng nhớ Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Bảo tàng Hồ Chí Minh tại Bình Thuận; thăm di tích trường Dục Thanh. Tổng Bí thư xúc động khi  xem những hiện vật, nghe những câu chuyện về thời gian Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Phan Thiết, Bình Thuận.
Năm 1910, thầy giáo Nguyễn Tất Thành (tên gọi của Bác Hồ lúc 20 tuổi) đã dừng chân dạy học tại đây, truyền thụ tới học sinh không chỉ kiến thức mà còn khơi dậy lòng yêu nước, yêu con người trong thanh niên. Tháng 2/1911, thầy giáo Nguyễn Tất Thành rời trường Dục Thanh vào Sài Gòn để sau đó ra nước ngoài tiếp tục bôn ba tìm đường cứu nước./.
Vũ Duy/VOV

Né tránh hay 'câu giờ' không thay đổi được tình thế

Đã hơn 2 tháng trời kể từ khi Trung Cộng đưa giàn khoan khủng Hải Dương-981 cùng lực lượng tàu bảo vệ các loại vào sâu trong vùng biển thuộc lãnh hải của Việt Nam. 


Đủ mọi loại an ninh, cảnh sát, dân phòng đứng sau hàng rào sắt chận đường người biểu tình chống Trung quốc ở Hà Nội ngày 18/5/2014. (Hình: HOANG DINH NAM/AFP/Getty Images)

Đọc báo thì thấy Trung Cộng ngày càng ngang ngược và ít nhất, đã coi vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam là ao nhà của họ, họ muốn làm gì thì làm. Tha hồ điều bao nhiêu tàu, kể cả máy bay quân sự đến bảo vệ giàn khoan, hung hăng đâm húc tàu cá của ngư dân và tàu của lực lượng cảnh sát biển, lực lượng kiểm ngư Việt Nam, tha hồ muốn đưa thêm mấy giàn khoan nữa thì đưa…

Trong khi đó, nhà cầm quyền Việt Nam làm gì?

Họ đẩy ngư dân ra làm “lá chắn sống”, để mặc cho lực lượng tàu chấp pháp Việt Nam nhọc nhằn đối phó với tàu bảo vệ của Trung Quốc đông, lớn mạnh và hiện đại hơn gấp bội, còn họ ngồi ở Ba Đình chơi trò mỵ dân.

Sau một thời gian im lặng như không hề tồn tại khi giặc đã vào đến cửa nhà, các nhân vật lãnh đạo cao cấp nhất của Việt Nam bắt đầu xuất hiện, tuyên bố chỗ nọ chỗ kia.

Người thì “chém gió” ở ngoài nước, tuy chỉ mới vài câu khá mạnh mà dân chúng đã hết sức vui mừng, chỉ có điều sau đó không thấy hành động gì khác. Người thì đi thăm hỏi, vỗ vể, khích lệ ngư dân, cảnh sát biển, tuyên bố sẽ giữ vững chủ quyền, rằng cả dân tộc này sẽ không cúi đầu, rằng sẽ đòi lại Hoàng Sa Trường Sa mà nếu đời này không đòi được thì đời con cháu…

Người khác lại nhắn nhủ người dân hãy tiếp tục kiên nhẫn, bình tĩnh, bởi không ai chọn được láng giềng, có thế nào thì cũng phải ăn đời ở kiếp với nhau…

Bên cạnh đó, họ thả cho dân làm những việc yêu nước kiểu như những phong trào “cả nước hướng về Trường Sa Hoàng Sa”, “chung tay đóng góp cho biển Đông, cho ngư dân”, khuyến khích công nhân, dân nghèo nhịn ăn nhịn mặc để hỗ trợ cho ngư dân…Nhưng tất nhiên, không được biểu lộ lòng yêu nước bằng cách xuống đường biểu tình phản đối Trung Quốc vì như vậy sẽ làm Trung Quốc giận.

Tương tự, những cái gì có thể xoa dịu được phần nào sự bức xúc, phẫn nộ của người dân nhưng lại không chọc giận Trung Cộng thì họ làm. Ví dụ như cam kết sẽ không liên minh quân sự, không tìm kiếm đồng minh với bất cứ nước nào, cũng không kiện Trung Cộng ra tòa án quốc tế v.v…

Thật ra, ai có hiểu biết cũng thấy rõ rằng tham vọng của Trung Cộng là chiếm gần như toàn bộ biển Đông, tiếp theo thực hiện giấc mơ Trung Hoa vươn lên thay thế Hoa Kỳ lãnh đạo thế giới. Và trên chặng đường dài đó, bước đầu tiên là phải giải quyết Việt Nam, một cái gai vừa khó nhổ do chí khí quật cường của dân tộc Việt, nhưng cũng vừa rất dễ do nhà cầm quyền Việt Nam đã bị Trung Cộng mua chuộc, gài bẫy, trói tay từ lâu.

Trước những mục tiêu, chiến lược rõ ràng như vậy, việc cố gắng nhịn nhục, tìm mọi cách để gìn giữ mối quan hệ giữa hai bên theo cái cách mà nhà cầm quyền Việt Nam đã và đang làm bao lâu nay là hoàn toàn thất bại. Dù nhà nước Việt Nam có cố tránh chiến tranh bằng mọi giá, họ cũng chỉ kéo dài thêm được một thời gian, vấn đề có đánh hay không, và bao giờ, hoàn toàn tùy thuộc vào ý muốn của Bắc Kinh.

Chưa kể, khác với Hoa Kỳ hay các nước văn minh tự do dân chủ khác, đấu tranh với một nhà nước độc tài như Trung Cộng mà sử dụng sức ép từ truyền thông hay dư luận trong ngoài theo kiểu “quan ngại, phản đối, kịch liệt lên án” rồi không làm gì, là không ăn thua.

Trung Cộng không sợ dân, không sợ báo chí như các nước dân chủ. Báo chí truyền thông, luật pháp nằm trong tay nhà cầm quyền. Còn người dân Trung Hoa, lâu nay Bắc Kinh đã tuyên truyền tẩy não, kích động lòng tự hào dân tộc, tự hào nước lớn cho dân chúng nên họ tin theo và cho là chính phủ đúng còn những nước láng giềng mới sai trái.

Bắc Kinh thật ra cũng chẳng sợ dư luận quốc tế. Khi nào thế giới phản ứng căng quá thì tạm thời lùi lại một bước, rồi khi mạnh hơn, khi có cơ hội, lại dấn tới. Không có đồng minh bạn bè nhưng Bắc Kinh vẫn có thể sử dụng ưu thế nước lớn và đồng tiền để mua chuộc một số nước, khiến các nước này đứng ngoài cuộc những sự kiện tranh chấp trên biển Đông, biển Hoa Đông.

Như vậy, tất cả những biện pháp đối phó nửa vời của nhà cầm quyền Việt Nam lâu nay nhằm mục đích gì?

Thứ nhất, để chứng minh với người dân rằng họ vẫn đang làm tất cả để bảo vệ chủ quyền, rằng họ đang kiên trì theo đuổi đường lối hòa bình chứ không phải họ hèn, họ bán nước. Thứ hai, để thế giới thấy Việt Nam là nạn nhân và ủng hộ.

Mục đích đó có thể đạt được trong thời gian ngắn hạn, nhưng sau đó lại gây ra những hậu quả tệ hại hơn. Giống như một người bị ung thư giai đoạn cuối nhưng lại né tránh đối diện với sự thật, chỉ tiêm thuốc an thần và sử dụng những biện pháp như chữa ghẻ, cuối cùng cũng phải chết.

Đối với quốc tế, lúc đầu khi Trung Cộng mới đưa giàn khoan vào vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam và nhà nước Việt Nam lên tiếng, đa số các nước đều ủng hộ Việt Nam, chỉ trích mạnh mẽ Trung Cộng. Khiến Bắc Kinh sau đó phải tiến hành chiến dịch tuyên truyền chống lại Việt Nam mà họ gọi là “làm cho thế giới hiểu rõ sự thật” và những hành động “đáp trả” lại.

Trong đó có việc đi trước một bước, kiện Việt Nam ra trước Liên Hiệp Quốc, với những “bằng chứng” thừa nhận Trường Sa Hoàng Sa là của Trung Cộng, từ phía chính phủ nước VNDCCH trước đây.

Nhưng sau một thời gian, thấy Việt Nam không có phản ứng gì mạnh mẽ khác hơn, trái lại các lãnh đạo Việt Nam cứ phát biểu “trống đánh xuôi kèn thổi ngược”, bất nhất, thậm chí Hà Nội vẫn tỏ ra muốn duy trì mối quan hệ với Bắc Kinh. Dư luận quốc tế liền ngãng ra, chuyển sang những sự kiện mới nóng bỏng hơn.

Đối với người dân Việt Nam, sau một thời gian phẫn nộ, mỏi mòn chờ đợi những phản ứng tích cực, dứt khoát hơn từ phía nhà cầm quyền, cũng dần dần nản chí trước những hành động “nói nhiều mà làm chẳng bao nhiêu”. Trước sự trì trệ, bạc nhược không hề muốn thay đổi trong chính sách ngoại giao, quốc phòng của nhà nước cộng sản Việt Nam.

Những người yêu nước, nóng lòng quan tâm đến vận mệnh đất nước, tiếp tục bày tỏ tâm trạng bức bối, căm giận, tuyệt vọng trên các trang blog, trang mạng xã hội. Còn lại đa số người dân tiếp tục quay cuồng với cơm áo gạo tiền và bao nhiêu mối lo toan hàng ngày.

Trong khi đó, Trung Cộng, thông qua phép thử giàn khoan Hải Dương 981 đã hoàn toàn hiểu rõ tâm trạng, nội tình của nhà cầm quyền Việt Nam, nên tiếp tục công khai làm những gì chúng muốn mà cũng chưa cần phải trừng phạt Việt Nam nặng hơn.

Quan sát tất cả những việc làm, cách đối phó lại với Trung Cộng của nhả cầm quyền Việt Nam trong suốt thời gian qua, không có cách hiểu, cách lý giải nào hơn là họ đã giương cờ trắng đầu hàng giặc, thậm chí đã bán nước từ lâu.

Và ngay đến cả hai chữ bán nước bây giờ họ cũng chằng thèm sợ, chẳng thèm quan tâm nữa.

Điều quan tâm duy nhất của họ bây giờ chỉ là làm sao kéo dài được chế độ thêm một thời gian, tiếp tục giữ ghế và kiếm chác thêm. Việc trả nợ hay đòi lại chủ quyền những vùng đất, biển, đào đã mất, họ ủy thác lại cho… con cháu.

Người ta đã nói nhiều về sự tàn ác, đặc biệt đối với nhân dân mình, của các nhà nước cộng sản khác nhau trên thế giới từ Liên Xô, Đông Đức, Rumani…, Trung Quốc, Việt Nam, Bắc Hàn, Cambodia…Nhưng với nhà nước cộng sản Việt Nam, cần phải nói thêm, chưa thấy một nhà cầm quyền nào vô trách nhiệm với dân với nước như vậy. (SC)
07-04- 2014 2:04:19 PM
 Song Chi/Người Việt

PICS:Phẫn nộ những vụ CSGT đánh... trọng thương người vi phạm

(Kienthuc.net.vn) - Chỉ vì một vi phạm nhẹ, nhiều CSGT sẵn sàng rượt đuổi, chặn đầu xe, tát vào mặt, dùng dùi cui đập vào đầu, thậm chí nổ súng... vào dân.


Khoảng 9h ngày 2/7/2014, tại đường chân cầu vượt Phú Lương dẫn ra QL 5 hướng Hải Phòng – Hà Nội, thuộc Phường Nhị Châu (TP Hải Dương) một vụ tai nạn giao thông xảy ra khiến anh Đỗ Hải Nam (SN 1970, phường Quang Trung, TP Hải Dương) bị đập đầu xuống đường, nguy kịch.


Các nhân chứng cho biết, anh Nam đi qua đoạn đường rẽ không xi nhan, một CSGT đã đuổi theo, khiến anh giật mình, phanh gấp và ngã xuống đường dẫn đến chấn thương sọ não nặng.


Trước đó, hôm cuối tháng 6/2014, 2 bé gái đang đèo nhau đi trên một chiếc xe đạp ở TP Hải Dương thì bất ngờ bị xe của một CSGT tông vào, một bé gái phải nhập viện cấp cứu. Một số người chứng kiến vụ việc cho rằng viên CSGT trong lúc đuổi người vi phạm đã tông vào 2 bé trên. Trao đổi với báo chí, đại diện Đội CGST TP Hải Dương xác nhận có vụ tai nạn trên, tuy nhiên bé gái chỉ bị xây xát nhẹ và đã xuất viện.


Hồi tháng 5/2013, trên đường Hùng Vương đoạn qua Nhà máy nước Đà Lạt (P.9, TP Đà Lạt) đã xảy ra một vụ CSGT tông phải người dân khi đuổi người vi phạm. Nguyên nhân do viên CSGT đã lấn sang phần đường ngược chiều để áp sát đối tượng vi phạm, nên đâm vào người dân đang lưu thông. Cú va chạm khiến 2 chiến sĩ cảnh sát giao thông bị thương, người bị tông là anh Lộc ngã văng ra ngoài bất tỉnh, phải nhập viện cấp cứu.


Vào khoảng 15h50 ngày 16/7/2013, trên đường Quang Trung (khu vực trước cổng chợ Nam Thành, P.Đông Vệ, TP Thanh Hóa) đã xảy ra vụ việc CSGT nổ súng nghiêm trọng làm 2 người bị thương ở gò má và vai, máu chảy đầm đìa. Nguyên nhân do viên CSGT thấy 2 người này vi phạm giao thông, đã đuổi theo xe và nổ súng bắn.


Lúc 15h ngày 27/6, Lê Ngọc Vũ điều khiển xe máy biển số 38H1-9966 chở theo sau là Nguyễn Sĩ Long (cả 2 đều 18 tuổi, ở Thạch Hà - Hà Tĩnh) đi trên quốc lộ 1A. Đang đi, Long và Vũ bị cảnh sát giao thông yêu cầu dừng xe kiểm tra. Vũ quay đầu xe bỏ chạy. Vừa chạy được khoảng 20m thì một CSGT dùng chân đạp ngã xe ra giữa đường. Hậu quả Long ngồi sau không kịp xử lý, chân bị cuốn vào bánh sau xe máy, chấn thương nặng, nhập viện cấp cứu.


Trung tuần tháng 6/2012, một clip ngắn 36 giây được tung lên mạng ghi lại hình ảnh một người mặc sắc phục CSGT mang hàm Thiếu tá cầm gậy điều khiển giao thông ôm cổ một người tài xế xe tải vừa mở cửa bước xuống, ghì kéo ra chỗ chiếc xe máy đỗ giữa đường phố rồi tát vào mặt và dùng gậy điều khiển giao thông vụt vào đầu tài xế khiến anh này không dám chống cự.


Vụ việc trên xảy ra tại TP Ninh Bình, viên cảnh sát là thiếu tá Hoàng Văn Trọng (thuộc Đội CSGT - Công an TP Ninh Bình). Khi có sự can ngăn của một người mặc sắc phục CSGT khác (mang quân hàm Trung úy) thì ông Trọng mới dừng hành vi đánh người lại.


Tối 24/4/2010, tại quốc lộ 1A thuộc địa phận thôn Như Xuân, xã Vĩnh Phương, TP Nha Trang, thượng sĩ Vũ Văn Duy (CSGT huyện Diên khánh) và công an viên Nguyễn Trọng Hiếu (xã Diên Phú, huyện Diên Khánh) trong lúc làm nhiệm vụ thấy anh Huỳnh Tấn Nam (21 tuổi, bảo vệ tổng kho DFC) đi xe máy không đội mũ bảo hiểm đã rồ ga truy đuổi.


Khi 2 xe va vào nhau, viên CSGT ngồi sau cầm dùi cui vụt mạnh vào lưng anh Nam, khiến anh bị ngã trọng thương phải nhập viện. Kết quả giám định cho thấy anh Nam bị thương tật vĩnh viễn 77%.

Thứ Bảy, 05/07/2014 - 05:44
Minh Hiếu (Tổng hợp)

Kinh hoàng phát hiện xác chết trong tư thế quỳ gối

(Kienthuc.net.vn) - Người dân đi tập thể dục buổi sáng trên đường hoảng hồn phát hiện thi thể người đàn ông chết trong tư thế quỳ gối.

Kinh hoàng phát hiện xác chết trong tư thế quỳ gối
 Hiện trường vụ việc.

Một số nhân chứng cho biết, khi đó họ nhìn thấy người đàn ông đang quỳ gối bên xe máy. Ban đầu, họ tưởng người này đang làm gì đó, nhưng khi tiến lại gần, họ hoảng hồn phát hiện người đàn ông đã chết bên cạnh xe máy. Ngay lập tức, những người dân liền báo công an. 

Qua quan sát của PV Kiến Thức, người đàn ông chết trong tư thế quỳ gối khoảng 40 tuổi, đầu cắm thẳng xuống đất và vẫn đội mũ bảo hiểm, bên cạnh chiếc xe máy mang BKS tỉnh Thái Bình. Nhiều người dân khu vực, nghi ngờ người đàn ông xấu số này có thể người này chết do sốc thuốc.

Cơ quan chức năng đang tiến hành khám nghiệm tử thi để làm rõ nguyên nhân cái chết của người đàn ông này.
Thứ Bảy, 05/07/2014 - 09:37
Tiến Dũng

BẬT MÍ: TRUNG QUỐC CÔNG BỐ HCM CHÍNH LÀ THIẾU TÁ HỒ QUANG THUỘC QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN TRUNG QUỐC!

Báo Cương Sơn (冈山) loan tải hình Hồ Chí Minh tham gia đấu tranh chống xâm lược. (ghi chú: Hồ Chí Minh có chữ x màu trắng và dấu chấm đỏ).... Nguồn: Quân ủy Cương Sơn (CPC).

Thiếu tá Hồ Quang (Hồ Chí Minh) phục vụ trong Quân đội Nhân dân Giải phóng Trung Quốc, tại quân khu Quảng Châu, Vũ Hán.

Nguồn:Lưu trữ Quân ủy Trung ương Trung Quốc (CPC).
 

alt
alt

  


"...Điều này cho thấy Việt Nam đã mất chủ quyền từ lời tuyên bố của Mao Trạch Đông vào ngày 01/10/1965"

-

Phạm Quế Dương (Thông Luận) - Trước đây tôi đã viết bài về cuốn sách “Tìm hiểu về cuộc đời Hồ Chí Minh.” của tác giả Hồ Tuấn Hùng, người Đài Loan, Thái Văn dịch ra tiếng Việt. Cuốn sách khẳng định ông Nguyễn Ái Quốc đã mất năm 1932, Chủ tịch Hồ Chí Minh là người Đài Loan, họ tộc với tác giả.

Bây giờ tôi lại vừa đọc tập tài liệu “Giặc Hán đốt phá Nhà Nam”, dày 141 trang khổ lớn của tác giả Huỳnh Tâm, cũng là người Trung Quốc, xác định Chủ Tịch Hồ Chí Minh là Hồ Tập Chương.

Tài liệu viết: “Theo hồ sơ của nhà tù Hương Cảng, Nguyễn Tất Thành đang lâm nguy, bởi bị nhiều bệnh do trác tráng, say đắm phong trần làm cơ thể hao mòn, mang bệnh truyền nhiễm cấp độ cao hết thuốc trị liệu, có thể chết bất cứ giờ nào và nghiêm trọng hơn, ông ta mắc phải nghiện ngập với “Nàng tiên nâu”.

Năm 1932,  Nguyễn Tất Thành qua đời tại nhà tù Hương Cảng, hưởng dương 40 tuổi (1892-1932). Người thân tên Hzyen Buhb (Hồ Vinh-Nguyễn Vinh) đến nhận xác và tất cả vật dụng cá nhân của tử tù và đem đi hỏa táng. Tro cốt vủa Nguyễn Tất Thành (mã số 00567) lưu trữ tại nghĩa trang Kuntsevo Moscow Rusian … Tài liệu này được lưu trữ tại nhà tù Hương Cảng.

Ghi chú gia phả và sự nghiệp của Hồ Tập Chương trong Hồ sơ HTC 4567 lưu trữ tại Quân ủy Trung ương (CPC) và tình báo Hoa Nam Trung Quốc như sau:

“Đương sự được đảng cộng sản Trung Quốc huấn luyện hơn một thập niên tại Học viện Hoàng Phố, Vân Nam.Việc đào tạo một điệp viên xuất sắc rất công phu và phải kiên nhẫn trước tình hình chính trị. Kết quả Trung Quốc dốc hết nhân lực,  tài khí, tài vật lập ra một thế lực mới tại Việt Nam và tình báo Hoa Nam thổi lên một Hồ Chí Minh làm Chủ tịch nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ”.

Kèm theo đó,  tài liệu đưa ảnh chân dung mẹ Hồ Tập Chương,  gia đình người Hẹ từ Đài Loan vừa di cư đến Hồng Kông và ảnh Hồ Tập Chương cùng em trai thời niên thiếu (nguồn ảnh: Tư liệu Đô Sảnh Hồng Kông và tình báo Hoa Nam).

Cuốn sách này còn có những dòng sau đây:

“Chúng ta cùng nhau khám phá một tài liệu hiếm có về việc “Trăm năm trồng người.” của Mao Trạch Đông chỉ thị cho Hồ Chí Minh thực hiện tại Việt Nam. Hồ Chí Minh hăng hái, đẩy mạnh việc giáo dục thiếu nhi lên hàng đầu, xem đó là một chân lý hoàn hảo một chiến lược dài hơi trong việc Hán hóa Việt Nam,  và từ đó âm thầm đưa đất nước Việt Nam mỗi lúc một xa dần đặc tính của dân tộc mình …”

Khẩu hiệu “Vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng người.” xuất hiện theo hướng dẫn của cộng sản họ Mao. Cùng lúc lấy thời gian che khuất dân trí Việt Nam,  bằng cách đẩy mạnh chiến tranh. Một lần nữa họ Hồ hối hả mở cửa Aỉ Chi Lăng và lách qua biên giới mời Đảng Cộng Sản Trung Quốc tràn vào lãnh thổ bằng đường bộ,  đường biển,   v v… hậu động thủ hỗ trợ cho Hồ Chí Minh thực hiện tốt mệnh lệnh “Tiêu diệt kẻ thù không đồng chủng.”.

“Hồ vay nợ chiến tranh cao ngất trời,  phải nhượng những phần đất cho Trung Quốc với tổng số trên 14 làng xã từ Tây Bắc qua Đông Bắc. Trung Quốc rất hài lòng với cách trả nợ của người vay nợ,  đổ quân ào ạt vào Việt Nam, theo công bố tháng 11 năm 1968 của Nhà nước Trung Quốc.

Hồ Chí Minh xuất thân từ lò huấn luyện Hoàng Phố, thề trung thành với bản quốc,  cúc cung phụng sự Quốc tế Cộng Sản, chấp nhận chiến dịch liên quân với Trung Quốc. Nhìn lại lịch sử thành lập ĐCSVN, bắt đầu từ lúc xây dựng lực lượng quân sự,  Hồ Chí Minh là ai mà tự dưng có quân đội, vũ khí, tài chính, hệ thống tuyên truyền vv…nếu không phải do người Hán. Không có Trung Quốc thì lấy đâu ra người và vũ khí vì thuở ấy người Việt Nam theo cộng sản chẳng có mấy ai. Quân binh của Hồ Chí Minh hầu như là con số không, do đó, tất cả mạng sống đều được Trung Quốc bảo đảm, cung cấp và nuôi dưỡng”.

“Cho nên Mao Trạch Đông mạnh miệng lấy quyết định thay cho người chủ nhà tuyên bố, vì họ Hồ chỉ có hai bàn tay trắng: Hoa Kỳ đưa quân vào Việt Nam, đối với tôi được coi như cuộc xâm lược và tấn công biên thùy Trung Quốc”.

Điều này cho thấy Việt Nam đã mất chủ quyền từ lời tuyên bố của Mao Trạch Đông vào ngày 01/10/1965.

Tài liệu còn đăng tấm ảnh nhà ga Bích San với chú thích: ”Trước năm 1940 nhà ga Bích San thuộc lãnh thổ của Việt Nam, chính Hồ Chí Minh đã nhượng phần đất này cho Trung Quốc để đổi lấy viện trợ…”

“Nếu họ Hồ không phải là người Hán tất nhiên việc đi cầu viện sẽ về tay không. Đằng này mà mỗi khi ông ta chỉ xin viện trợ có một, tức thì lại được mười. Trung Quốc quá phóng khoáng trong viện trợ cho họ Hồ, dĩ nhiên trong tính cách phóng khoáng ấy phải theo quyết sách quốc gia”.

“Hồ Chí Minh vừa đến “Biệt điện” Bắc Kinh gỡ bộ râu cải trang, mặc áo bông nguyên Hán, ông ta khoe khoang với Chu Ân Lai về bộ râu và nhại : San trừ nhiêu râu rậm dung lực đích đã”. Hàm ý họ Hồ: Gỡ bỏ được râu, tất nhiên, đất nước Việt Nam gỡ ra rồi lại buộc vào như chơi …”.

“Ngày 19/4/1961, Chu Ân Lai khẩn bách có mặt tại biên giới Việt Trung, triệu họ Hồ đến Cao Bằng báo cáo thành bại chiến trường.

Mùa xuân năm 1965, Hồ Chí Minh lại bí mật đi Trung Quốc, theo kế hoạch của tình báo Hoa Nam để gặp Mao Trạch tại quê nhà của Mao Trạch Đông ở Hồ Nam để xin ý kiến.

Tôi rất quí trọng Chủ tịch Hồ Chí Minh, luôn tự hào 45 năm được làm “Người lính Bác Hồ”. Tôi đã nhiều lần vào Nghệ An thăm quê Bác và lễ mộ thân mẫu Bác. Đọc quyển sách của Hồ Tuấn Hùng đã rất bất bình. Nay lại đọc tập tài liệu này của Huỳnh Tâm tôi càng bức xúc. Tại sao Trung Quốc cho phổ biến công khai những tài liệu này! Ý đồ của họ là gì? Thời nay là thời đại thông tin, trẻ già trong nước ngoài nước rất nhiều người biêt, chắc hẳn bộ máy của Đảng và Nhà nước cũng phải biết rõ. Nhưng, sao lại lặng im vô trách nhiệm đến thế. Tôi đề nghị các vị lãnh đạo và cơ quan chức năng cần làm sáng tỏ và công bố rộng rãi để sự thực được bảo vệ và tôn trọng.

Hà Nội,ngày 10/6/2014

Phạm Quế Dương

MỘT NGHI ÁN LỊCH SỬ NGUYỄN ÁI QUỐC VÀ HỒ CHÍ MINH: MỘT HAY HAI NGƯỜI? – TRẦN BÌNH NAM

Source:  http://vantuyen.net/2014/07/05/mot-nghi-an-lich-su-nguyen-ai-quoc-va-ho-chi-minh-mot-hay-hai-nguoi-tran-binh-nam/


1Ngày 14/1/2013  trang điện tử Thông Luận đăng một tài liệu nhan đề: “Hồ Chí Minh Sinh Bình Khảo”của nhà biên khảo Hồ Tuấn Hùng người Đài Loan. Thái Tuấn dịch ra Việt ngữ nhan đề “Tìm hiểu về cuộc đời của Hồ Chí Minh” hoàn tất vào đầu năm 2013 . Trang điện tử Đối Thoại đăng ngày 16/2/2013.
Đọc qua cuốn sách dịch người ta tưởng là chuyện dã sử nói chơi lúc trà dư tửu hậu. Nhưng đọc kỹ thì không phải vậy. Cuốn sách của ông Hồ Tuấn Hùng viết một cách có phương pháp, trưng dẫn tài liệu  xác thực và kết luận một cách có tính khoa học. Danh nhân lịch sử của đảng Cộng sản Việt Nam cũng như của phong trào Cộng sản quốc tế được biết dưới tên Nguyễn Ái Quốc và sau đó là Hồ Chí Minh vốn được xem là một người thật ra là hai người khác nhau. Theo ông Hồ Tuấn Hùng sự thật lịch sử là:
Ông Hồ Chí Minh, người được đảng Cộng sản Việt Nam xem là “cha già dân tộc” là một người Tàu sinh năm 1901 thuộc sắc tộc Khách Gia sinh tại huyện Miêu Lật, địa khu Đồng La, Đài Loan. Trái lại, người có tên Nguyễn Ái Quốc là người Việt Nam sinh năm 1890 tại huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Ông có tên khai sinh là Nguyễn Tất Thành. Năm 1911 ông trốn ra nước ngoài tìm đường chống ách thực dân Pháp. Đến Pháp ông theo phong trào Cộng sản quốc tế và được Quốc tế Cộng sản phái về hoạt động cho phong trào Cộng sản quốc tế tại Trung quốc và đã chết vì bệnh lao năm 1932 tại Trung quốc hoặc tại một địa danh nào đó giữa Trung quốc và Liên xô.
Sự thật ở đâu?
Nghi án lịch sử này bắt đầu với phong trào Cộng sản tại Nga. Năm 1917 cuộc cách mạng Bôn Sê Vích (Bolshevik) tại Nga thành công. Mạc Tư Khoa trở thành trung tâm lãnh đạo các đảng Cộng sản tại Âu châu và là trung tâm thu hút các phong trào xã hội cấp tiến trên thế giới, như phong trào chống phong kiến tại Trung quốc và phong trào chống thuộc địa  tại Đông Dương, Miến Điện, Mã Lai …. Trung quốc có Chu Ân Lai, Đặng Tiểu Bình, Mao Trạch Đông, Việt Nam có Nguyễn Ái Quốc, Miến Điện có ông Aung San (thân sinh của bà Aung San Suu Kyi).
Đảng Cộng sản Nga thấy được sự quan trọng của mình cho thành lập Quốc tế Cộng sản (The Communist International – Cominterm) để lãnh đạo phong trào Cộng sản trên toàn thế giới, nhất là Á châu.  Các phong trào có tính quốc gia như Trung quốc chống phong kiến, Việt Nam chống thực dân Pháp và Miến Điện chống thực dân Anh dần dà đều đặt mình dưới sự lãnh đạo của Quốc tế Cộng sản để có: (1) một chủ thuyết hành động, và (2) được yểm trợ tài chánh.
Nguyễn Tất Thành từ Việt Nam đến Paris năm 1911 bằng nghề phụ bếp trên tàu Amiral Latouche Trevil, theo tàu đến Marseille, Tây phi, Bắc Mỹ, Anh quốc, mãi đến năm 1917 ông mới định cư tại Paris. Ông lấy tên là Nguyễn Ái Quốc và tích cực hoạt động chống ách đô hộ của Pháp tại Việt Nam. Tại đây Nguyễn Ái Quốc làm quen với hai nhà hoạt động cách mạng Phan Chu Trinh và Phan Văn Trường. Lúc đầu ông là thành viên của đảng Xã hội Pháp. Sau đó, năm 1920 ông gia nhập đảng Cộng sản Pháp. Ông bị cảnh sát Pháp phối hợp với mật thám tại Đông Dương theo dõi rất kỹ. Giữa năm 1923 đảng Cộng sản Pháp gởi ông đi Nga học chủ thuyết Mác Xít tại Đại học Lao động Phương đông chuẩn bị làm đặc phái viên cho Quốc tế Cộng sản tại Á châu.
Giữa năm 1924 ông được tham gia Hội nghị V của Quốc tế Cộng sản triệu tập tại Mạc Tư Khoa và cuối năm ông được gởi về Quảng Châu (Canton), Trung quốc  để làm việc với các đại diện Cộng sản Á châu gồm Trung hoa, Nhật Bản, Đài Loan. Nguyễn Ái Quốc phụ tá cho Michael Borodin, ủy viên lãnh đạo phân bộ Quốc tế Cộng sản Á châu. Tại đây, năm 1925  Nguyễn Ái Quốc tập họp một số thanh niên từ Việt Nam trốn qua thành lập “Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội” đặt dưới sự lãnh đạo của Quốc tế Cộng sản.
Tháng 10 năm 1926 ông kết hôn với bà Tăng Tuyết Minh do sự giới thiệu của bà Đặng Dĩnh Siêu (vợ của Chu Ân Lai) lúc đó đang hoạt động trong Hội Phụ nữ Quảng Châu. Đám cưới có sự hiện diện của Borodin.
Thời kỳ này Quốc Dân Đảng của bác sĩ Tôn Dật Tiên và đảng Cộng sản Trung quốc hợp tác với nhau (theo sách lược của Quốc tế Cộng sản) nên Nguyễn Ái Quốc sống và làm việc thoải mái tại Quảng Châu. Nhưng đến tháng 4/1927 liên minh Quốc Dân Đảng và Cộng sản tan vỡ, Nguyễn Ái Quốc bị lùng bắt bỏ vợ chạy trốn về Mạc Tư Khoa chờ lệnh và mất liên lạc với bà TăngTuyết Minh từ đó.Tại Mạc Tư Khoa ông được Quốc tế Cộng sản gởi trở lại Paris và du hành công tác tại một số nước Âu châu như Thụy Sĩ, Bĩ, Ý … Cuối năm 1928 từ Ý Nguyễn Ái Quốc đi tàu thủy trở lại Á châu đến Bangkok tổ chức và vận động Việt Kiều Thái Lan tham gia phong trào Cộng sản. Tại đây ông bị bệnh lao phổi phải ở lại để chữa trị, đến đầu năm 1930 ông mới trở về Quảng châu do nhu cầu kéo các phe nhóm cộng sản Đông Dương gồm Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng và Đông Dương cộng sản Liên đoàn đang bất hòa lại với nhau.
Qua nhiều buổi họp dưới sự chủ trì của Nguyễn Ái Quốc, ngày 3/2/1930 bảy đại biểu của 3 khuynh hướng đồng ý thành lập Đảng Cộng Sản Việt Nam (sau theo chỉ thị của Quốc tế Cộng sản đổi tên thành Đảng Cộng sản Đông Dương). Trong số 7 nhân vật thành lập đảng ngoài Nguyễn Ái Quốc có Hồ Tập Chương thuộc đảng Cộng sản Trung quốc và cũng là thành viên của Quốc tế Cộng sản. Hồ Tập Chương là nhân vật dính liền với cuộc đời của Nguyễn Á Quốc sau này.
Năm 1931 Nguyễn Ái Quốc được cử làm đại biểu Quốc tế Cộng sản trụ sở đặt tại Hương Cảng, phụ trách Cục Nam Dương. Thời gian này chính quyền Anh tại Hương Cảng bắt đầu hợp tác với Pháp làm khó dễ những nhà cách mạng Việt Nam, và cục Quốc tế Cộng sản Viễn Đông bị theo dõi.
Tại Việt Nam Pháp ghép Nguyễn Ái Quốc vào tội phá họai trị an tuyên án tử hình vắng mặt và yêu cầu chính quyền Anh dẫn độ. Ngày 6/6/1931 Nguyễn Ái Quốc bị cảnh sát Hương Cảng bắt. Quốc tế Cộng sản thuê luật sư Frank Loseby một luật sư người Anh hành nghề tại Hương Cảng bênh vực cho ông. Tòa Hương Cảng trục xuất Nguyễn Ái Quốc đi Singapore. Nhưng Singapore không nhận, ông phải trở lại Hương Cảng và bị kết tội nhập cảnh trái phép.
Luật sư Loseby đưa vụ kiện lên tòa cao ở Luân Đôn. Tòa Luân Đôn phán quyết phóng thích và trục xuất ông ra khỏi Hương Cảng đi đâu tùy ý. Luật sư Loseby gíup ông đi Thượng Hải để ông tìm đường đi Mạc Tư Khoa trị bệnh. Nhưng giữa đường, khoảng mùa Thu năm 1932 hay đầu năm 1933 Nguyễn Ái Quốc chết vì bệnh lao tại một địa danh nào đó trên đường đi.
Sự việc Nguyễn Ái Quốc qua đời được nhóm lưu học sinh Việt Nam tại trường Đại học Phương Đông ở Mạc Tư Khoa ghi nhận. Họ cử hành một lễ truy điệu và một phái viên Quốc tế Cộng sản có đến thăm hỏi chia buồn.
Nhưng sau đó Quốc tế Cộng sản thầy cần người có uy tín như Nguyễn Ái Quốc để phát triển phong trào Cộng sản tại Đông Dương nên dấu nhẹm và tìm cách xóa dấu vết việc Nguyễn Ái Quốc chết và lên kế hoạch dùng phái viên của Quốc tế Cộng sản Hồ Tập Chương có khuôn mặt hao hao giống Nguyễn Ái Quốc và từng làm việc với nhau để làm sống lại nhân vật Nguyễn Ái Quốc.
Hồ Tập Chương sinh ngày 11/10/1901 tại Đài Loan thời kỳ Nhật chiếm đóng. Theo chương trình của Nhật ông học chữ Nhật và chữ Hán. Năm 20 tuổi ông tốt nghiệp Đại Học Công Nghiệp Đài Loan và mở tiệm bán thuốc Đông Y, dùng thì giờ còn lại kết hợp bạn bè, nghiên cứu chủ nghĩa Cộng sản chống ách cai trị của Nhật .
Năm 1926 ông lập gia đình với bà Lâm Quế, năm 1929 có con gái đầu lòng là Hồ Tố Mai. Sau đó ông trốn đi Thượng Hải gia nhập Đảng Cộng sản Trung quốc và trở thành một ủy viên của Quốc tế Cộng sản. Cuối năm 1931 (hay đầu năm 1932) ông bị Quốc Dân Đảng bắt tại Quảng châu. Sau khi được trả tự do ông được điều về hoạt động tại biên giới Việt Trung và Thái Lan.
Năm 1933 Quốc tế Cộng sản gọi Hồ Tập Chương về Mạc Tư Khoa điều tra về một công tác bị nghi ngờ trong năm 1930. Ban điều tra gồm 3 người: Dmitry Manuilsky, Vera Vasilieva và Khang Sinh. Khang Sinh cũng là đảng viên đảng Cộng sản Trung quốc phụ trách mật vụ. Bà Vera Vasilieva đã bênh vực Hồ Tập Chương và ông khỏi bị án tử hình.
2
Trong quá trình điều tra, bà Vasilieva thấy quá khứ của Hồ Tập Chương khá giống với quá khứ của Nguyễn Ái Quốc và lại là người  cùng với Nguyễn Ái Quốc thành lập đảng Cộng sản Đông Dương nên nảy ra sáng kiến và đề nghị với Quốc tế Cộng sản dùng Hồ Tập Chương thay thế Nguyễn Ái Quốc. Cũng có giả thuyết rằng Quốc tế Cộng sản đã có kế  hoạch thay thế rồi và việc gọi Hồ Tập Chương đến Mạc Tư Khoa điều tra là một phần của kế hoạch thay thế.
Một chương trình 2 điểm được thực hiện: (1) huấn luyện Hồ Tập Chương để thay thế nhân thân Nguyễn Ái Quốc. Chương trình huấn luyện này kéo dài 5 năm từ 1933 đến 1938 tại trường Đại Học Lenin chuyên nghiên cứu vấn đề dân tộc và chủ nghĩa thực dân thuộc chuyên ngành của Nguyễn Ái Quốc, đồng thời học những tập quán thói quen của Nguyễn Ái Quốc, và các ngôn ngữ Nguyễn Ái Quốc thông thạo như Việt ngữ, Pháp và Anh Ngữ. (2) Ngụy tạo sự việc để che dấu cái chết của Nguyễn Ái Quốc cho rằng cái tin chết trước đây chỉ là cái cớ để Nguyễn Ái Quốc dễ trốn tránh.
Thời gian này Hồ Tập Chương không được liên lạc với gia đình  và thân nhân ở Đài Loan nghĩ rằng ông đã chết. Năm 1938 sau khi chương trình huấn luyện hoàn tất, Hồ Tập Chương mang bí danh Hồ Quang  được gởi về Trung quốc hoạt động dưới danh phận Nguyễn Ái Quốc tái sinh.
Lúc này lực lượng của Mao Trạch Đông sau cuộc Vạn lý Trường chinh (1934-1935) thành công, đã an toàn ở Diên An và Mao Trạch Đông không muốn bị ràng buộc chặt chẽ với Quốc tế cộng sản như trước. Đó là lý do tại sao Hồ Quang thay vì đi thẳng về Quảng Tây để chuẩn bị cho công tác Đông Dương lại được Quốc tế Cộng sản gởi về Diên An để (theo một giả thuyết) truyền lệnh của Quốc tế cộng sản và trao đổi chương trình hoạt động. Theo quan điểm của Quốc tế cộng sản nhu cầu liên minh với Quốc Dân Đảng để chống Nhật vẫn còn là một nhu cầu cấp thiết.
Việc Hồ Tập Chương thay thế Nguyễn Ái Quốc phục vụ cho quyền lợi của Quốc tế Cộng sản, cho đảng Cộng sản Trung quốc và cho đảng Cộng sản Việt Nam nên các tổ chức đều chọn thái độ im lặng. Quốc tế Cộng sản có một cán bộ uy tín dưới lốt Nguyễn Ái Quốc để phát triển chủ nghĩa Cộng sản tại Á châu và Đông Nam Á. Trung quốc có người của mình trong đảng Cộng sản Việt Nam. Còn đảng Cộng sản Việt Nam thì có người lãnh đạo phong trào đấu tranh chống Pháp lúc này đang là lúc thuận lợi hơn lúc nào hết do Mặt Trận Bình Dân đang cầm quyền tại Pháp (1936- 1938).
Đến Diên An, Hồ Quang trao mật lệnh của Quốc tế Cộng sản cho Mao Trạch Đông là cần tiếp tục hợp tác với Tưởng giới Thạch trong một mặt trận chống Nhật Bản. Sau đó đảng cộng sản Trung quốc đưa Hồ Quang về Quảng Tây.
Về Quế Lâm, Hồ Quang làm việc cho Bát lộ quân dưới quyền của tướng Lý Khắc Nông chuẩn bị cho công tác Đông Dương. Thời gian này Hồ Quang theo học khóa đào tạo cán bộ du kích chiến của Mao Trạch Đông và hoàn tất trong năm 1939.
Tháng 2/1940 Hồ Quang đi Côn Minh và qua đảng Cộng sản Trung quốc đã liên lạc được với Đảng bộ hải ngoại vừa được thành lập của đảng Cộng sản Đông Dương.  Giữa năm 1940 khi gặp một số cán bộ từ Việt Nam mới qua trong đó có Võ Nguyên Giáp (Giáp rời nước tháng 5/1940) Hồ Quang được giới thiệu là đồng chí Nguyễn Ái Quốc làm mọi người rất phấn khởi vì đã gặp được lãnh tụ! Hồ Quang định gởi Võ Nguyên Giáp và Hoàng Văn Hoan lên Diên An học tập chủ thuyết Cộng sản và chương trình kháng Nhật, một chương trình do Khang Sinh phụ trách.
Trong khi chờ đợi thì tình hình Âu châu biến chuyển. Tháng 6/1940  Đức quốc xã chiếm Paris. Toàn quyền Decoux tại Đông Dương đặt mình dưới quyền của chính phủ Vichy do Thống chế Pétain lãnh đạo hợp tác với Đức. Nhật vốn liên minh với Đức nên buộc lòng Decoux phải để cho quân đội Nhật vào Đông Dương.
Hồ Quang thấy tình hình thuận lợi vì Pháp đã núng thế nên hủy bỏ việc gởi Hoàng Văn Hoan và Võ Nguyên Giáp đi học và chuyển toàn bộ nhân sự và phương tiện về sát biên giới chuẩn bị lập chiến khu trong nước, đồng thời tháng 12/1940 Hồ Quang thành lập một ngoại vi của đảng hoạt động công khai gọi là “Việt Nam độc lập đồng minh hội”, gọi tắc là Việt Minh để quy tụ quần chúng chuẩn bị phát động du kích chiến vừa chống thực dân Pháp vừa chống phát xít Nhật.
Tháng 2 năm 1941 Hồ Quang chính thức trở về Việt Nam sống tại hang Pắc Bó, một hang núi nằm phía bắc cách thành phố Cao Bằng 55 km gần biên giới Trung quốc. Tháng 5, Hồ Quang triệu tập Hội nghị VIII Đảng Cộng sản Đông Dương ra quyết nghị thành lập và phát triển căn cứ địa du kích, chung quyết sự thành lập “Mặt trận Việt Minh” và do đề nghị của Hồ Quang bầu Trường Chinh làm Tổng bí thư Đảng. Mặt Trận “Việt Minh” thông qua Cương Lĩnh quy định mục tiêu lật đổ thực dân Pháp và phát xít Nhật, thành lập Chính phủ cách mạng của nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, lấy cờ đỏ sao vàng làm quốc kỳ.
Tháng 8/1942 Hồ Quang rời Pắc Bó đi Trùng Khánh để gặp Chu Ân Lai. Đế tránh sự theo dõi của Quốc Dân Đảng, Hồ Quang đóng vai Hoa kiều, lấy tên là Hồ Chí Minh, ký giả của báo Tân Văn. Đây là lần đầu tiên Nguyễn Ái Quốc dùng danh xưng Hồ Chí Minh trong giấy tờ.
Trên đường Hồ Chí Minh bị Quốc Dân Đảng nghi là gián điệp bắt và đưa về Quảng Tây. Nhờ có cuộc vận động rộng lớn của Chu Ân Lai với sự yểm trợ của các hãng thông tấn quốc tế bên cạnh chính phủ Quốc Dân Đảng, tháng 9/1943 Hồ Chí Minh được trả tự do.
Trong 14 tháng bị giam giữ ông Hồ Chí Minh đã trải qua 18 nhà tù trong 13 huyện tại tỉnh Quảng Tây. Thời gian này Hồ Chí Minh viết “Ngục Trung thư” gồm 134 bài thơ bằng chữ Hán.
Sau khi được trả tự do, Hồ Chí Minh tạm trú tại Trung quốc dưới sự bảo hộ của tướng Trương Phát Khuê, một danh tướng của Trung hoa Dân quốc. Mãi đến tháng 8/1944 ông mới trở về Cao Bằng.
Ngày 15/8/1945 Nhật đầu hàng đồng minh, Hồ Chí Minh cùng với các đồng chí nhanh chân chiếm chính quyền ngày 19/8 trước khi quân đội đồng minh vào tước khí giới quân đội Nhật. Ngày 2/9/1945 tại vườn hoa Ba Đình Hồ Chí Minh, được toàn dân và thế giới tưởng là người thanh niên Nguyễn Ái Quốc năm xưa, tuyên bố thành lập nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa.
Cuộc đời hai người làm một của Nguyễn Ái Quốc và Hồ Tập Chương (Hồ Chí Minh) là một phát hiện lịch sử ly kỳ. Nhưng nếu nhìn dưới lăng kính thế giới, đặc biệt là lịch sử  phát triển của chủ nghĩa cộng sản và phong trào xã hội chống phong kiến và thực dân tại Á châu thì không có gì ly kỳ.
Lịch sử Âu châu cho chúng ta nhiều tiền lệ. Hôn nhân giữa con cái vua chúa nước này với vua chúa nước khác đưa đến việc người nước này làm vua nước kia không phải là chuyện hiếm. Người dân Âu châu không xem đó là chuyện lạ. Tại Á châu, Quốc tế Cộng sản lãnh đạo phong trào xã hội và chống đế quốc, việc dùng cán bộ người nước này lãnh đạo phong trào đấu tranh của nước khác cũng chỉ là một cách sắp xếp công việc của một tổ chức cách mạng quốc tế. Nguyễn Ái Quốc (người Việt Nam) chết, Quốc tế Cộng sản dùng Hồ Tập Chương (người Tàu) thay Nguyễn Ái Quốc cũng chỉ là nhu cầu phát triển chủ nghĩa.
Lịch sử sẽ đi qua không ai quan tâm nếu Hồ Chí Minh không nổi bật trong lịch sử thế giới với sự thắng trận tại Điện biên Phủ chấm dứt chế độ cai trị của Pháp tại Đông Dương và nhất là vai trò của ông trong cuộc chiến tranh 1954-1975 thắng Hoa Kỳ và thống nhất Việt Nam dưới chế độ Cộng sản.
Còn nữa, mối quan hệ đặc biệt gữa Trung quốc và Việt Nam trong suốt hai ngàn năm lịch sử, qua đó Việt Nam liên tục đấu tranh để giữ gìn bản thể và nền độc lập của mình, và hiện nay mối quan hệ càng tế nhị hơn nữa khi Trung quốc đang dần trở thành một siêu cường tranh chấp ảnh hưỏng quốc tế với Hoa Kỳ trên một địa lý Việt Nam đang nằm ở giữa làm cho nghi án “một người Hoa dưới lốt một người Việt” từng lãnh đạo thành công cuộc cách mạng Việt Nam và được đảng Cộng sản Việt Nam tôn vinh là “cha già dân tộc” trở thành hết sức cấn cái .
Các biến chuyển lịch sử tại Việt Nam trong thế kỷ 20 làm cho Hồ Chí Minh trở thành một đối tượng lý thú đối với các sử gia cũng như các nhà nghiên cứu trên thế giới.
Và các nhà nghiên cứu về Hồ Chí Minh đều vấp phải một điều là: lịch sử của người thanh niên tên là Nguyễn Tất Thành, người Nghệ an, sinh năm 1890, năm 21 tuổi xuống tàu đi Pháp tìm đường chống Pháp giành độc lập, tham gia phong trào Cộng sản quốc tế, lãnh đạo thành công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, trở thành chủ tịch Hồ Chí Minh, mất ngày 2/9/1969, sáu năm trước khi các đồng chí của ông hoàn tất cuộc cách mạng vô sản thống nhất đất nước dưới một chính quyền Cộng sản không phải là một lịch sử đơn giản.
Có quá nhiều nghi vấn. Năm 2000, giáo sư William J. Duiker người Mỹ xuất bản cuốn “Ho Chi Minh: A life” (Hồ Chí Minh: Một cuộc đời). Năm 2003 bà Sophie Quinn-Judge, người Anh xuất bản cuốn “Ho Chi Minh: The Missing Years 1919-1941” (Hồ Chí Minh: Những năm tháng 1919-1941 không có dữ liệu). Cả hai đều đồng ý rằng: cuộc đời của Nguyễn Ái Quốc/Hồ Chí Minh có quá nhiều bóng mờ chưa thể soi sáng được. Bóng mờ phủ lên trên quá trình đấu tranh của ông, bóng mờ trên tình duyên, bóng mờ trên các sáng tác, bóng mờ trong quan hệ đối với gia đình …
Có thể bà Quinn-Judge có mối hoài nghi Nguyễn Ái Quốc và Hồ Chí Minh là hai người. Nhưng vốn cẩn trọng bà không thể kết luận gì khi chưa có dữ kiện chắc chắn trong tay. Bà đã lặn lội đến Mạc Tư Khoa lục lọi kho tài liệu của Quốc tế Cộng sản được giải mật sau khi Liên bang Xô viết sụp đổ để tìm biết quan hệ thật sự giữa Quốc tế Cộng sản và Hồ Chí Minh và ông Nguyễn Ái Quốc đã làm gì tại Nga trong những năm tháng ở đó: 1924-1925 và 1933-1938. Bà cho biết hồ sơ của Quốc tế Cộng sản chỉ được giải mật một phần nên bà không tìm được câu trả lời điều bà muốn truy cứu. Tại Aix-en-Provence, miền nam nước Pháp, nơi lưu trữ hồ sơ thuộc địa của Pháp bà tìm thấy nhiều tài liệu ghi tin tức nghi ngờ liên quan đến cái chết của Nguyễn Ái Quốc năm 1932, nhưng cảnh sát Pháp không quả quyết. Và Pháp vẫn để mở vấn đề Nguyễn Ái Quốc/Hồ Chí Minh mà không có một kết luận dứt khoát.
Trong ba nơi tồn trữ hồ sơ về Nguyễn Ái Quốc/Hồ Chí Minh thì ngoài Liên bang Xô viết, có lẽ hồ sơ của đảng Cộng sản Trung quốc là đầy đủ nhất. Nhưng Trung quốc chưa mở hồ sơ.
Riêng Việt Nam thì vụ Nguyễn Ái Quốc/Hồ Chí Minh là một điều hoàn toàn bí ẩn. Chẳng những không được lưu trữ mà còn có nỗ lực xóa dấu vết lịch sử như cuốn “Vừa đi đường vừa kể chuyện” của Trần Lan đăng tải trên 88 số Nhân Dân Nhật báo (từ số 2006 đến  số 2094) trong năm 1961.Nếu có một số đồng chí của ông Hồ Chí Minh biết thì họ cũng đã lần lượt qua đời.
Các nhà nghiên cứu Hồ Chí Minh nhìn đâu cũng thấy bóng mờ vì cho đến đầu thế kỷ 21 không có dữ kiện gì để họ nghi ngờ Nguyễn Ái Quốc và Hồ Chí Minh là hai người.
Nhưng nếu giả thuyết đó là hai nhân vật khác nhau đóng chung một tuồng thì cuộc đời của Nguyễn Ái Quốc/Hồ Chí Minh không còn có bóng mờ, không có gì là bí hiểm. Tài liệu “Hồ Chí Minh Sinh Bình Khảo” của nhà biên khảo Hồ Tuấn Hùng người Đài Loan, Thái Tuấn dịch ra Việt ngữ nhan đề “Tìm hiểu về cuộc đời của Hồ Chí Minh” hoàn tất vào đầu năm 2013 như đã giới thiệu trên đã giúp giải mã một số bí ẩn về Nguyễn Ái Quốc/Hồ Chí Minh:
Cuộc tình giữa Nguyễn Ái Quốc và Tăng Tuyết Minh
Năm 1924 Nguyễn Ái Quốc từ Mạc Tư Khoa về hoạt động tại Quảng Châu làm việc cho Michael Borodin, ủy viên Quốc tế Cộng sản phụ trách Á châu. Không khí Quảng Châu thập niên 1920 là một không khí cách mạng trong phong trào Tôn Dật Tiên và phong trào Cộng sản quốc tế. Tăng Tuyết minh là một phụ nữ Trung quốc trẻ tuổi cấp tiến gần gũi với các bà Đặng Dĩnh Siêu (vợ Chu Ân Lai) và Thái Sướng (vợ một đồng chí của Chu Ân Lai) trong hội “Phụ nữ” do Cộng sản tổ chức. Nguyễn Ái Quốc thường lui tới hội này và quen biết với Tăng Tuyết Minh. Do sự giới  thiệu của bà Đặng Dĩnh Siêu, năm 1926 Nguyễn Ái Quốc (36 tuổi) kết hôn với Tăng Tuyết Minh (21 tuổi) và được tạm trú trong căn gác nhà của Borodin.
Đầu tháng 4/1927 sự hợp tác Quốc-Cộng đầu tiên tan vỡ. Bị lùng bắt Nguyễn Ái Quốc bỏ Quảng Châu cùng phái đoàn Quốc tế Cộng sản chạy trốn lên Thượng Hải rồi sau đó đi Mạc Tư Khoa. Bà Tăng Tuyết Minh mang thai nhưng theo lời khuyên của mẹ phá thai để tránh liên hệ với Nguyễn Ái Quốc trong không khí khủng bố và thanh trừng các thành phần Cộng sản của Tưởng Giới Thạch. Từ đó không có quan hệ giữa hai người và mối tình ngắn ngủi giữa hai người xem như chấm dứt. Năm 1931 Nguyễn  Ái Quốc chết bà Tăng Ttuyết Minh không hề hay biết, bà vẫn chung thủy ở vậy suốt đời và qua đời năm 1991.
Năm 1949 Mao chiếm lục địa. Ngày 19/5/1950 bà Tăng Tuyết Minh đọc báo thấy Chủ tịch Mao Trạch Đông chúc mừng sinh nhật thứ 60 của Hồ Chí Minh/Nguyễn Ái Quốc (lúc đó đang ở chiến khu Việt Bắc) tưởng rằng chồng cũ của mình còn sống. Bà tìm cách hỏi đại sứ  Hoàng Văn Hoan tại tòa đại sứ Việt Nam ở Bắc Kinh và chính quyền Trung quốc để xin liên lạc với chồng nhưng cả hai nơi đều im lặng. Lý do đơn giản là Hoàng Văn Hoan và chính quyền Trung quốc đều biết Hồ Chí Minh ở Việt Bắc không phải là Nguyễn Ái Quốc, chồng cũ của bà.
Năm 1956 sau Hiệp Định Geneve, Hồ Chí Minh trở về Hà nội. Tại Quảng Châu có phong trào “đại minh, đại phóng” phong trào phụ nữ Quảng châu đặt vấn đề “trinh tiết” của bà Tăng Tuyết Minh. Lời khai của bà tăng Tuyết Minh không thuyết phục. Chính quyền Quảng Châu gởi văn thư lên Hội phụ nữ (lúc đó do bà Thái Sướng làm Chủ tịch) hỏi ý kiến. Bà Thái Sướng gởi văn thư giải thích sự việc và yêu cầu ỉm việc này vì quan hệ tế nhị giữa hai nước Việt – Trung.
Về phần Hồ Chí Minh, ông chưa một lần thắc mắc về sự sống  chết của Tăng Tuyết Minh. Người ta bảo ông vô tình. Nhưng ông không vô tình . Ông mang lốt Nguyễn Ái Quốc, nhưng ông biết ông không phải là người chồng xưa của Tăng Tuyết Minh.
Quan hệ tình ái giữa Nguyễn Ái Quốc và Nguyễn thị Minh Khai
Chạy trốn Quốc Dân Đảng về đến Mạc Tư Khoa năm 1927, Nguyễn Ái Quốc được gởi đi công tác tại một số nước Âu châu và Thái Lan. Năm 1930 Nguyễn Ái Quốc trở về Hương Cảng dàn xếp sự bất hòa giữa các khuynh hướng Cộng sản Việt Nam, và thành lập đảng Cộng sản Đông Dương ngày 2/3/1930. Từ đó đến đầu năm 1931 Nguyễn Ái Quốc làm việc tại Hương Cảng với bí danh P.C. Lin và gặp Nguyễn Thị Minh Khai. Quan hệ tình cảm phát triển và hai người (theo một giả thuyết) đã sống với nhau như vợ chồng với sự đồng ý ngầm của các đồng chí. Tháng 4/1932 Minh Khai bị cảnh sát Hương Cảng bắt, và 2 tháng sau Nguyễn Ái Quốc cũng bị bắt nốt. Nguyễn Ái Quốc sau đó bị tòa án Luân Đôn trục xuất ra khỏi Hương Cảng. Ông chết vì bệnh lao trên đường đi Mạc Tư Khoa. Riêng bà Minh Khai bị giam 3 năm cho đến năm 1935 mới được trả tự do. Với quan hệ giữa bà và Nguyễn Ái Quốc hai nhân vật quan trọng của đảng Cộng sản Việt Nam, việc bà biết Nguyễn Ái Quốc chết có thể xem là một việc đương nhiên.
Năm 1935 bà cùng hai Ủy viên khác của đảng Cộng sản Đông  Dương là Lê Hồng Phong và Hoàng Văn Nộn đi Mạc Tư Khoa tham dự hội nghị Quốc tế Cộng sản lần thứ 7. Lúc đó tại Mạc Tư Khoa, Hồ Tập Chương với chức danh Bí thư của Cục Viễn Đông Quốc tế Cộng sản đang học tập để chuẩn bị đóng vai Nguyễn Ái Quốc. Hồ Tập Chương được giới thiệu với bí danh P.C.Lin và tham dự Hội nghị VII với tư cách quan sát viên. Trong hồ sơ tham dự đại hội VII bà Minh Khai khai đã có chồng là P.C. Lin. Dù có một P.C. Lin tại đại hội, nhưng Minh Khai biết không phải là chồng của mình. Bà phát triển tình cảm với Lê Hồng Phong và làm lễ cưới nhau tại Mạc Tư Khoa trước mắt P.C. Lin (Hồ Tập Chương) là một việc tự nhiên. Dư luận thắc mắc về hôn nhân giữa Lê Hồng Phong và Minh Khai cho rằng Nguyễn Ái Quốc từng yêu bà Minh Khai là cướp vợ của bạn, và Nguyễn Thị Minh Khai không chung thủy vì thành hôn với Lê Hồng Phong với sự hiện diện của P.C. Lin. Và mối tình tay ba này không thể giải thích được nếu P.C. Lin ở Mạc Tư Khoa năm 1935 không phải là Hồ Tập Chương mà là Nguyễn Ái Quốc.
Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm họ hàng ở Nghệ An
Năm 1945 khi Hồ Chí Minh (được thế giới xem là Nguyễn Ái Quốc) tuyên bố thành lập nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa tại Hà Nội thì người anh Nguyễn Sinh Khiêm và bà chị ruột là Nguyễn Thị Thanh có ra Hà Nội thăm. Nhưng hình như đảng Cộng sản lấy lý do “Bác” còn việc nước đa sự không tiện gặp. Và đã không có một ghi chép hay một hình ảnh nào còn lưu lại về cuộc thăm viếng này. Điều này dễ hiểu vì Hồ Chí Minh không thể gặp ông Khiêm và bà Thanh mà không lộ hình tích.
Mãi đến tháng 6/1957 sau khi song thân Nguyễn Ái Quốc đã chết, người anh và người  chị đều đã qua đời (ông Khiêm năm 1950, bà Thanh năm 1954) ông Hồ Chí Minh mới về Nam Đàn thăm bà con. Lúc nầy trong gia tộc chỉ còn những người còn quá nhỏ khi ông bỏ nước ra đi để có thể phân biệt Nguyễn Tất Thành và “bác” Hồ Chí Minh .
Về tài liệu gọi là loạt bài  “Vừa đi đường vừa kể chuyện” của Trần Lan
Trần Lan theo dư luận cũng chính là Hồ Chí Minh, một phụ nữ ông có mối quan hệ thân tình. Tài liệu này đăng trên nhiều số Nhật Báo Nhân Dân trong năm 1961 nói về cuộc đời làm cách mạng của mình từ khi bỏ nước ra đi năm 1911 làm dư luận rất ngạc nhiên. Ông Hồ Chí Minh lúc đó đã nổi tiếng toàn thế giới, ông không có nhu cầu mang tên một người khác để viết báo  ca tụng mình.
Hơn nữa tài liệu đó cũng không ca tụng gì Hồ Chí Minh nhiều, mà chỉ ghi lại câu chuyện “Bác” kể lại cho đoàn tùy tùng tháp tùng ông từ Phủ Chủ tịch ở Tuyên Quang vượt rừng vượt núi đi quan sát chiến dịch biên giới năm 1950 với mục đích chứng minh “Bác” và Nguyễn Ái Quốc là một người. Nhưng một số chi tiết trong câu chuyện lại vô tình chứng minh “bác” không thể là Nguyễn Ái Quốc
“Bác” kể lại chuyện bác là Nguyễn Tất Thành, Nguyễn Ái Quốc đi Pháp hoạt động như thế nào một cách liên tục cho đến năm 1950 lúc bác đang đi chiến dịch biên giới. Nhưng trong câu chuyện người thuật chuyện là Trần Lan không nói trong thời gian 1933 đến 1938 bác làm gì ở Mạc tư Khoa. Thời gian tế nhị này không có gì để nói vì Nguyễn Ái Quốc vừa chết và Quốc tế Cộng sản đang cải tạo Hồ Tập Chương đóng vai Nguyễn Ái Quốc. Dùng người khác thay mình thuật chuyện ông Hồ có ẩn ý nói ông có kể nhưng (có thể) người thuật chuyện không ghi lại thôi.
Một nơi khác khác trong tài liệu “Vừa đi vừa kể chuyện” ông Hồ Chí Minh nói năm 1942 khi từ Việt Bắc đi Trung quốc ông bị bắt. Ông kể ông đã lợi dụng sự tiếp xúc với tù nhân để học tiếng Quan thọai. Thế nhưng dấu đầu lòi đuôi, trong thời gian 14 tháng ở tù ông đã sáng tác 134 bài thơ bằng chữ Hán mà chỉ những người tinh thông chữ Hán mới làm nổi.
Về tập “Ngục Trung Nhật Ký”
Chính quyền đảng Cộng sản Việt Nam đã làm ầm ĩ tập thơ ‘Ngục Trung Nhật Ký’” còn gọi là  “Nhật ký trong tù” gồm 134 bài thơ bằng chữ Hán ông Hồ Chí Minh làm trong thời gian (1942) ông bị Quốc Dân Đảng bắt tại QuảngTây để quảng bá văn tài của “Bác” .
Tháng 5/1960 nhà xuất bản Ngoại văn Hà Nội cho xuất bản tập “Nhật Ký trong tù” gồm 100 bài thơ dịch ra Việt ngữ. Chính phủ Trung quốc cũng cho in lại phần chữ Hán dưới nhan đề “Nhật Trung Nhật ký thi sao”. Cuối năm 1977 Viện Văn học Việt Nam cho lập một tiểu tổ nghiên cứu và bổ túc Nhật ký. Năm 1983 nhà Xuất bản Văn Học cho in 113 bài. Đến tháng 5/1990 nhân kỷ niệm 100 năm sinh nhật Hồ Chí Minh, nhà Xuất bản Văn Học bổ túc thêm 21 bài tổng cộng 134 bài.
Theo một đề án phân tích thơ văn của giáo sư Hoàng Tranh ở Quảng Tây năm 1992 thì một số thơ trong “Nhật ký trong tù” dùng từ ngữ và phương ngôn thuộc sắc tộc “Khách Gia” được chuyển hóa ra Trung Văn một cách nhuần nhuyễn và nghệ thuật. Tác giả không thể là Nguyễn Ái Quốc vì Nguyễn Ái Quốc không thể giỏi Hán văn như vậy, chưa nói việc làm sao ông nắm vững ngôn từ của sắc tộc Khách gia ở Đài Loan. Qua “Nhật ký trong tù” đảng Cộng sản Việt Nam muốn quảng bá trí tuệ và văn tài của Hồ Chí Minh, nhưng vô tình đã làm lộ Hồ Chí Minh không phải là Nguyễn Ái Quốc.
Thời gian đảng Cộng sản Việt Nam có nhiều nỗ lực chứng minh Hồ Chi” Minh là Nguyễn Ái Quốc
Thời gian này đều rơi vào thập niên 1950-1960 sau khi ký Hiệp Định Geneve chia đôi đất nước, và Hồ Chí Minh đã trở về Hà Nội với tư cách Chủ tịch đảng và nhà nước Việt Nam:
(1) Năm 1957 lần đầu  tiên Hồ Chí Minh trở về thăm quê nhà ở Nam Đàn
(2) Năm 1961 Nhân Dân Nhật  Báo đăng tải loạt bài “Vừa đi đường vừa kể chuyện”.
(3) Năm 1960 Hồ Chí Minh cho mời vợ chồng luật sư Frank Loseby người đã cứu Nguyễn Ái Quốc ra khỏi nhà tù Anh quốc ở Hương Cảng năm 1931 tới Hà Nội. Luật sư Loseby qua tin tức tưởng Nguyễn Ái Quốc đã chết. Nhưng thông tin truyền miệng của đảng Cộng sản Việt Nam cho thấy đó chỉ là tin bịa đặt để ông có thể chạy trốn khỏi Hương Cảng. Và luật sư Loseby không có lý do gì để không tin. Dạng hình Nguyễn Ái Quốc và Hồ Chí Minh khác nhau chút ít thì luật sư cũng nghĩ do thời gian cách biệt 28 năm. Lúc đó luật sư Loseby đã 80 tuổi. Hơn nữa đối với người Tây Phương người Á châu nào trông cũng giống nhau khó phân biệt (năm 1946 Hồ Chí Minh đến Paris dự hội nghị Fontainebleau nhận là Nguyễn Ái Quốc cũng không người Pháp nào từng biết Nguyễn Ái Quốc của những năm 1919, 1920 thắc mắc có thể cũng vì vậy)
Người ta có thể đặt giả thuyết rằng trong thời gian đấu tranh cách mạng dưới sự chỉ đạo và nhờ vả Quốc tế Cộng sản qua trung gian Liên bang Xô viết và Trung quốc, đảng Cộng sản Việt Nam và đàn em thân tín chung quanh Hồ Chí Minh chưa quan tâm đến nhân thân của Hồ Chí Minh là một người Hoa và không phải là Nguyễn Ái Quốc.
Nhưng sau Hiệp Định Geneve, cuộc đấu tranh chống Pháp xem như đã thành công, một chính quyền đã được thiết lập tại Hà Nội. Việc Hồ Chí Minh, một người Đài Loan làm chủ tịch nước trở thành cấn cái cho Đảng và cho chính cá nhân Hồ Chí Minh. Cho nên đảng Cộng sản Việt Nam, đảng Cộng sản Trung quốc và cá nhân Hồ Chí Minh có nhu cầu chứng minh Hồ Chí Minh và Nguyễn Ái Quốc là một.
Cuốn sách “Tìm hiểu về cuộc đời của Hồ Chí Minh” của Hồ Tuấn Hùng với lối sưu tầm khoa học dẫn chứng đầy đủ và khả tín bắt đầu vén hẵn lên bức màn che đậy lai lịch của Hồ Chí Minh.
Tại sao lại chọn lúc này?
Vấn đề đặt ra là sự thật này ảnh hưởng thế nào đến cuộc tranh chấp biển đảo hiện nay giữa Trung quốc và Việt Nam. Cuốn sách bằng Hoa Ngữ của ông Hồ Tuấn Hùng do nhà xuất bản “Bạch Tượng Văn Hóa” xuất bản tại Đài Loan tháng 11/2008 là thời điểm quan hệ giữa Trung quốc và Việt Nam bề ngoài “16 chữ vàng” và “4 tốt”, nhưng bên trong bắt đầu trở nên căng thẳng./.
© Trần Bình Nam
Feb. 26, 2013
binhnam@sbcglobal.net
http://www.tranbinhnam.com
Tài liệu tham khảo:
1.“Tìm hiểu về cuộc đời của Hồ Chí Minh” bản dịch Việt ngữ của Thái Tuấn (2013) cuốn “Hồ Chí Minh Sinh Bình Khảo” bằng Hán văn của Hồ Tuấn Hùng (2003)
2.“Ho Chi Minh: A Life” của William J. Duiker (2000)
3.“Ho Chi Minh: The Missing Years 1919-1941” của Sophie Quinn-Judge (2003)
4.“Vừa đi đường vừa kể chuyện” của Trần Dân Tiên (1961)
5.Hình Nguyễn Ái Quốc/J.C.Lin  trích từ cuốn “Ho Chi Minh: A Life” của William J. Duiker.

Tan nát Quốc lộ 55

Khoảng 2 tháng trở lại nay, nhiều “ổ voi”, điểm nứt nẻ, sụt lún đã và đang xuất hiện một cách “chóng mặt” trên Quốc lộ 55 (đoạn đi qua 2 xã Lộc Thành và Lộc Nam, huyện Bảo Lâm). Hàng ngày, tuyến đường này phải “gánh” một lượng xe tải trọng lớn khiến nhiều đoạn bị cày nát!

Một “ổ voi” trên Quốc lộ 55 (đoạn đi qua thôn 16, xã Lộc Thành)

Một “ổ voi” trên Quốc lộ 55 (đoạn đi qua thôn 16, xã Lộc Thành)

Quốc lộ 55 là tuyến đường nối từ Quốc lộ 20 chạy qua 2 xã Lộc Thành, Lộc Nam (huyện Bảo Lâm) và huyện Hàm Thuận Bắc (tỉnh Bình Thuận) đến Quốc lộ 1. Theo ghi nhận của chúng tôi, hiện tuyến đường này đang ngày một bị xuống cấp nghiêm trọng. Chỉ tính riêng đoạn chạy qua xã Lộc Thành (có chiều dài khoảng 7km) đã xuất hiện tới 6 hố lớn có độ sâu từ 40 - 50cm, gây cản trở giao thông. Cùng với đó, là chi chít những vết nứt nẻ và dày đặc ổ gà có nguy cơ tạo thành những ổ voi lớn. Ông Lê Quang Tâm, Trưởng thôn 16 (xã Lộc Thành), cho biết: “Trước đây, vốn dĩ tuyến đường này đã xuống cấp, nhưng chưa đến nỗi tan nát như hiện nay. Hơn nữa, xe trọng tải lớn rất ít khi lưu thông qua lại, nên thỉnh thoảng bà con chúng tôi lại chung tay đổ đất, đá để sửa chữa. Nhưng khoảng 2 tháng nay (từ khi có Trạm cân ở thị trấn Đạ M’ri, huyện Đạ Huoai), thì xe trọng tải lớn lại chuyển hướng chạy qua đây và cày nát hết đường. Theo quan sát của tôi, trung bình mỗi ngày có đến hàng chục xe container, xe tải đủ các loại ì ạch “bò” qua tuyến đường này. Thấy đường ngày một bị xuống cấp nghiêm trọng, chúng tôi đã phản ánh lên trên, nhưng đến nay vẫn chưa thấy động tĩnh gì!”.
 
Qua tìm hiểu của chúng tôi, nguyên nhân chính làm đường bị hư hỏng như hiện nay, là do lượng xe tải trọng lớn từ Quốc lộ 20 chuyển hướng qua đây ngày một nhiều để né tránh trạm cân. Anh Trần Thành (một người dân thôn 16, xã Lộc Thành, cạnh nhà có ổ voi) phản ánh: “Ổ voi trước cửa nhà tôi và những ổ voi khác trên tuyến đường này đều mới xuất hiện khoảng nửa tháng nay. Xe tải trọng lớn chạy nhiều, làm cho các ổ voi ngày một bị lún sâu và rộng thêm. Do vậy, khi các phương tiện khác như xe khách, xe bán tải… chạy qua buộc phải tìm đường né và lấn vào lề đường làm cho cống rãnh cũng bể nát. Tại ổ voi này, hầu như ngày nào cũng có người chạy xe máy bị té ngã. Thậm chí, nhiều xe tải, xe container chạy qua không quen đường đã bị “sập bẫy” mắc lầy!”.
 
Tương tự, tại một ổ voi khác ở thôn 15 (xã Lộc Thành), toàn bộ mặt đường Quốc lộ 55 đang dần bị xới tung. Theo người dân sống xung quanh khu vực này, họ thường xuyên chứng kiến cảnh xe tải trọng lớn mắc lầy tại đây không phải là chuyện lạ. Hiện nay, tại ổ voi này, nhiều mảng nhựa nóng bị đùn lên cao khiến mặt đường chỗ lồi, chỗ lõm. Những ngày gần đây, do trời mưa lớn nên toàn bộ mặt đường bị đọng nước. Do vậy, hầu hết xe máy khi đi qua đây buộc phải chạy vào thềm nhà dân mới đi được. Trong lúc đó, các xe tải trọng lớn cứ tiếp tục cày xới mặt đường làm cho ổ voi ngày càng sâu và rộng thêm. Các loại xe du lịch, xe tắc xi qua lại đoạn này đều bị ngập gầm và bị “chết” máy. Đáng nói hơn, ngay tại vị trí này tập trung rất đông quán hàng, ki ốt buôn bán của người dân. Vì vậy, việc đường bị hư hỏng nặng không chỉ cản trở các phương tiện qua lại mà còn làm ảnh hưởng rất lớn tới việc buôn bán của họ. Ông Nguyễn Văn Thạch, chủ một quán phở tại khu vực này, cho hay: “Từ khi ổ voi này xuất hiện, việc buôn bán của gia đình tôi dường như bị đình trệ. Nghĩ cho cùng khi đi tới chỗ này, người nào cũng mong chạy qua cho nhanh, chứ mấy ai nghĩ đến chuyện dừng lại để ăn uống nữa!”. 
 
Không chỉ tại xã Lộc Thành, ngay cả đoạn qua xã Lộc Nam trên tuyến đường này cũng bị hư hỏng nghiêm trọng. Một cán bộ UBND xã Lộc Nam xác nhận, chính những xe chở quá tải né trạm cân trên Quốc lộ 20 đi qua đây đã làm cho đường bị xuống cấp nghiêm trọng. Trước đây, khi đường chưa xuất hiện những hố sâu thì lượng xe trọng tải lớn chạy qua đây rất đông, nhiều lúc còn nối đuôi nhau thành cả đoàn lên đến chục chiếc. Nhưng thời gian gần đây, lượng xe trọng tải lớn qua lại ít hơn vì đường quá xấu.
 
Theo ông Vương Khả Kim, Chủ tịch UBND huyện Bảo Lâm, thì việc Quốc lộ 55 bị xuống cấp đã được huyện ghi nhận bằng văn bản qua thực tế kiểm tra. Qua đó, huyện Bảo Lâm cũng đã có báo cáo gởi UBND tỉnh, Sở Giao thông - Vận tải tỉnh Lâm Đồng và Tổng Cục Đường bộ Việt Nam để đề nghị xem xét, nâng cấp và sửa chữa. Thế nhưng, huyện Bảo Lâm vẫn chưa nhận được thông tin nào. Hiện tại đang là thời điểm mùa mưa, nếu không kịp thời khắc phục thì tình trạng đường bị hư hỏng sẽ càng nghiêm trọng và làm ảnh hưởng tới việc lưu thông.
 

Thứ sáu, 04/07/2014 15:18
Theo Khánh Phúc (Báo Lâm Đồng)

Báo Trung Quốc tự tiện “đổi tên” biển Nhật Bản thành Đông Hải

MINH CƯỜNG-06:15 05/07/2014
BizLIVE - Trong thời gian Chủ tịch Tập Cận Bình thăm Hàn Quốc, một tờ báo có ảnh hưởng của Trung Quốc đăng quảng cáo từ một nhóm vận động Hàn đề nghị đổi tên Biển Nhật Bản thành Đông Hải, BBC đưa tin.

Báo Trung Quốc tự tiện “đổi tên” biển Nhật Bản thành Đông Hải 
Báo Thanh Niên của Trung Quốc đột nhiên đăng quảng cáo về biển đảo giữa Hàn và Nhật. Ảnh BBC

Trang Thanh Niên ra ở Bắc Kinh đăng quảng cáo hỏi bạn đọc có biết rằng “trong suốt 1000 năm, vùng biển giữa Nam Hàn và Nhật Bản có tên gọi là Đông Hải”?
Cả Hàn Quốc và Nhật Bản đều đang có cách gọi khác nhau về vùng biển này và có tranh chấp về đảo Dokdo ở đây.

Seoul gọi đây là Đông Hải hay East Sea, còn phía Nhật gọi đó là Biển Nhật Bản.

Nay, một nhóm vận động dân sự của Hàn Quốc nêu ra ý kiến rằng “có nhiều chứng cớ trong bản đồ cổ của Trung Quốc và Châu Âu” gọi tên vùng biển này là Đông Hải.
Theo hãng tin Yonhap hôm 4/7/2014, đây là lần đầu tiên một tờ báo chính thống do Đoàn Thanh niên Cộng sản Trung Quốc làm chủ, chạy quảng cáo về cách gọi tên Đông Hải.

Các sử gia Hàn tin rằng tên ban đầu của vùng biển này là Đông Hải nhưng sau tên Biển Nhật Bản trở nên phổ biến hơn cùng thời gian chế độ thuộc địa của Nhật được áp đặt cho cả bán đảo Triều Tiên và sau cuộc chiến 1950-1953.

Hồi tháng 9/2012, chính phủ Nhật Bản cho đăng trên các báo trong nước quảng bá về chủ quyền đối với đảo Takeshima mà Hàn Quốc gọi là Dokdo (Độc đảo).
Cùng lúc, Hàn Quốc cũng tăng thêm ngân sách quảng cáo trên báo chí nhằm tuyên truyền về chủ quyền biển đảo.

Hiện trong cả khu vực Đông Á và Đông Nam Á, các quốc gia đều không đồng ý được với nhau về tên của các vùng biển.

Trung Quốc gọi vùng biển phía Nam là Nam Hải, trong khi Việt Nam gọi là Biển Đông và Philippines gọi đó là biển Tây Philippine, theo đúng cách nhìn địa lý của từng nước.

Giàn khoan Trung Quốc “khoan” luôn cả ngành du lịch Việt Nam

Khách sạn Crown Plaza (Đà Nẵng) mất 20% lượng khách sau khi xảy ra sự kiện Biển Đông. Ảnh: Internet

Khách sạn Crown Plaza (Đà Nẵng) mất 20% lượng khách sau khi xảy ra sự kiện Biển Đông. Ảnh: Internet
Những căng thẳng trên biển Đông kéo theo các ảnh hưởng về kinh tế, trong đó doanh thu từ ngành du lịch sụt giảm là một trong những thiệt hại có thể thấy ngay. Quan trọng hơn, mỗi du khách hủy tour đến Việt Nam sẽ kéo theo những lời truyền miệng, thay đổi cái nhìn của du khách quốc tế về một điểm đến an bình như Việt Nam bấy lâu nay cố gắng xây dựng. 
Khi năm 2013 kết thúc, giới phân tích thị trường đã đánh giá năm 2014 sẽ là một năm sáng sủa cho ngành du lịch Việt Nam. Những chỉ số thống kê về lượng khách đến, tỉ lệ đặt phòng khách sạn, chi dùng du khách... đều tăng so với năm trước. Mọi chuyện tốt đẹp cho đến khi những căng thẳng được chính quyền Trung Quốc "kéo" theo giàn khoan Hải Dương 981 vào vùng biển đặc quyền kinh tế của Việt Nam. 
Sáng 2.7, công ty chuyên điều tra thị trường Grant Thornton Việt Nam công bố khảo sát ngành du lịch khách sạn năm 2014. Theo đó, kể từ khi biển Đông "dậy sóng", có ít nhất 15.000 phòng khách sạn bị hủy bởi những lo ngại về tình hình căng thẳng. Con số này chẳng là gì nếu biết rằng đây mới chỉ là khảo sát trên 18 khách sạn 4-5 sao. Toàn quốc hiện có 686 khách sạn từ 3-5 sao. 
Có mặt tại Việt Nam từ năm 1993, ông Kenneth Atkinson - Chủ tịch điều hành Grant Thornton Việt Nam, là người am hiểu sâu sắc nền kinh tế Việt Nam.
"Những vụ gây rối tại Bình Dương và Hà Tĩnh làm du khách, đặc biệt là khách Trung Quốc, e ngại khi đến Việt Nam nhưng đó chưa phải là lý do chính." Ông này nói, "Thực tế du khách không mấy ai đến những nơi xảy ra các vụ gây rối. Sự tuyên truyền của chính quyền Trung Quốc đối với những người sống ở lục địa và Hongkong khiến họ e ngại khi đến Việt Nam". 
Chỉ trong vòng 2 tháng, khách sạn Crown Plaza (Đà Nẵng), nơi có sòng bạc và lượng khách chủ yếu đến từ Trung Quốc, đã sụt giảm 20% lượng du khách. 
Như phân tích của ông Kenneth Atkinson, yếu tố chính trị tác động rất mạnh và ngay tức thì đến các chỉ số thống kê kinh tế. Chính quyền Trung Quốc không ngừng dùng mọi biện pháp để tuyên truyền sai lệch về chủ quyền biển đảo của Việt Nam đối với quốc tế. Đối với người dân trong nước họ vẽ lên một tình hình bất ổn để tạo tâm lý e ngại khi muốn đến Việt Nam.  
Mạnh dạn hơn nữa trong việc sử dụng các bằng chứng, minh bạch thông tin và cả biện pháp pháp lý trước quốc tế lúc này chính là cách để Việt Nam bảo vệ chủ quyền biển đảo và còn để bảo vệ chính nền kinh tế của mình. Bởi, nói như trùm tuyên truyền của phát xít Đức - Paul Josepp Gobbels, sự dối trá được lập đi lập lại nhiều lần sẽ khiến người ta tin là sự thật. 
                 Trung Bảo

Phụ thuộc Trung Quốc vì kinh tế bị các nhóm lợi ích chi phối

HÀ NỘI (NV) - Thảo luận về tự chủ kinh tế, nhiều chuyên gia tin rằng sự phụ thuộc Trung Quốc về kinh tế là do kinh tế Việt Nam bị các “nhóm lợi ích” chi phối.



Dự án xây dựng cảng Vĩnh Tân ở Bình Thuận do nhà thầu Trung Quốc đảm nhận có rất nhiều tai tiếng. (Hình: Thanh Niên)

Thực tế cho thấy, Việt Nam đã trao gần như toàn bộ các hợp đồng EPC (NV: Engineering, Procurement and Construction contract - hợp đồng tổng thầu, loại hợp đồng mà nhà thầu thực hiện toàn bộ các công việc từ thiết kế kỹ thuật hoặc thiết kế bản vẽ thi công, cung ứng vật tư, thiết bị đến thi công và chạy thử rồi mới bàn giao cho chủ đầu tư) cho nhà thầu Trung Quốc: 23/24 dự án xi măng, 15/20 dự án nhiệt điện đốt than, 5/6 dự án hóa chất, 2/2 dự án chế biến khoảng sản, chưa kể các dự án giao thông, chưa kể ưu tiên cho thuê rừng và đất rừng ở biên giới.

Khi bàn về tự chủ kinh tế, ông Lê Ðăng Doanh, một chuyên gia kinh tế, tiếp tục thắc mắc tại sao lại xảy ra điều đó. Thực tế vừa kể đem lại bao nhiêu lợi ích quốc gia, bao nhiêu lợi ích cho các nhòm, các cá nhân?

Ông Doanh nhấn mạnh, Trung Quốc là “thầy” về mua chuộc, đút lót. Tình trạng kinh tế Việt Nam phụ thuộc vào Trung Quốc phải chăng là do bị các nhóm lợi ích chi phối quá mạnh.

Không chỉ giành được phần lớn các hợp đồng thông qua đấu thầu, các doanh nghiệp Trung Quốc còn đang dốc tiền mua lại các doanh nghiệp khác ở Việt Nam, chẳng hạn mua lại Công Ty CP của Thái Lan để nắm quyền chi phối toàn bộ thị trường thức ăn gia súc, gia cầm ở Việt Nam.

Theo thống kê của Hải Quan CSVN, năm 2012, Việt Nam nhập cảng các loại hàng hóa, nguyên liệu từ Trung Quốc có giá trị 28.8 tỉ Mỹ kim, trong khi Trung Quốc cho biết, năm 2012, lượng hàng hóa, nguyên liệu mà Trung Quốc xuất cảng sang Việt Nam trị giá 34 tỉ Mỹ kim. Chênh lệch giữa thống kê nhập cảng và xuất cảng giữa hai bên là 5,2 tỉ Mỹ kim và ông Doanh nhận xét, khoản chênh lệch lớn bất thường đó phải chăng là qua đường tiểu ngạch.

Ông Nguyễn Văn Thụ, chủ tịch Hiệp Hội Doanh Nghiệp Cơ Khí Việt Nam, lặp lại điều mà nhiều người từng thắc mắc, vì sao nhà thầu Trung Quốc thường xuyên không thực hiện đúng hợp đồng, chất lượng công trình và thiết bị kém, già thành công trình thường xuyên cao hơn giá dự kiến... nhưng hầu hết các dự án vẫn tiếp tục được giao cho các nhà thầu Trung Quốc và chẳng ai ngăn chặn các nhà thầu này đưa từ Trung Quốc sang những loại vật tư, phụ tùng vốn có sẵn tại Việt Nam, cũng như đưa cả lao động phổ thông sang làm việc tại các công trình mà họ là tổng thầu?

Theo ông Thụ, bởi Trung Quốc thắng thầu hầu hết các dự án ở Việt Nam nên nay, khi tổ chức đấu thầu quốc tế chỉ có các nhà thầu Trung Quốc tham gia, nhà thầu của các nước khác không muốn tham gia nữa.

Ông Thụ khẳng định, thực trạng vừa kể là do các chủ đầu tư không có lương tâm.

Ông Thụ cho biết, Hiệp Hội Doanh Nghiệp Cơ Khí Việt Nam đã gửi văn bản cho thủ tướng và chủ tịch nhà nước, đề nghị kiểm tra lại toàn bộ các dự án do Trung Quốc đang thi công dở dang để huy động doanh nghiệp Việt Nam và các nhà thầu ngoại quốc khác hoàn tất những dự án này.

Ông Doanh cho rằng, vì các nhóm lợi ích chi phối các dự án đầu tư nên đã phát sinh nhiều “sơ hở không đáng có” khiến kinh tế Việt Nam phụ thuộc vào Trung Quốc. Ông Doanh đề nghị phải minh bạch và làm rõ trách nhiệm cá nhân.

Hồi hạ tuần tháng trước, sau khi các chuyên gia kinh tế, báo giới liên tục cảnh báo kinh tế Việt Nam lệ thuộc Trung Quốc. Nếu Trung Quốc gây áp lực bằng cách cắt đứt quan hệ kinh tế - thương mại, kinh tế Việt Nam sẽ suy sụp, thông tấn xã Việt Nam đã thực hiện cuộc phỏng vấn ông ông Trương Tấn Sang, chủ tịch nhà nước Việt Nam. Trong cuộc phỏng vấn đó, ông Sang tuyên bố, không để kinh tế Việt Nam phụ thuộc Trung Quốc.

Nhân vật là chủ tịch nhà nước Việt Nam cho biết, Việt Nam theo đường lối “đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ” để “bảo đảm cùng có lợi và dứt khoát không để phụ thuộc vào bất kỳ quốc gia nào trong cả kinh tế lẫn chính trị” song nhìn nhận, “một số lĩnh vực thực hiện không đúng chủ trương này, ảnh hưởng không tốt đến nền kinh tế” và thừa nhận nhập siêu từ Trung Quốc “càng ngày càng lớn, liên tục” và trong đó có “các nguyên vật liệu đầu vào cho sản xuất.” (G.Ð)

07-04- 2014 4:28:30 PM