Wednesday, May 28, 2014

Xung đột Biển Đông : Cơ hội để bớt lệ thuộc vào hàng Trung Quốc


Vải vóc do Trung Quốc sản xuất tại một cửa hàng ở Bắc Kinh, 13/05/2014.

Vải vóc do Trung Quốc sản xuất tại một cửa hàng ở Bắc Kinh, 13/05/2014-REUTERS/Kim Kyung-Hoon

RFI-Thụy My
Tình hình tại Biển Đông càng nóng lên với việc Trung Quốc ngang nhiên đặt giàn khoan Hải Dương Thạch Du 981 (HYSY 981) ngay giữa vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam tại Hoàng Sa, thì người dân càng phải nghĩ đến nguy cơ chiến tranh có thể xảy ra, trong lúc nền kinh tế Việt Nam đang lệ thuộc rất nhiều vào Trung Quốc, từ sản xuất cho đến hàng hóa tiêu dùng.
Theo thống kê của Bộ Công thương Việt Nam năm 2013, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc đạt 13,3 tỉ đô la (chiếm 28%), chủ yếu là nông sản và nguyên liệu thô. Trong khi đó kim ngạch nhập khẩu từ Trung Quốc lên đến gần 37 tỉ đô la (1% tổng xuất khẩu của Trung Quốc), gồm là nguyên vật liệu, linh kiện, trang thiết bị, hàng tiêu dùng…
Đặc biệt đối với ngành dệt may, da giày, lãnh vực quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam, nguyên liệu phần lớn nhập từ Trung Quốc. Đồng thời các mặt hàng thời trang Trung Quốc lâu nay cũng chiếm lĩnh thị trường Việt Nam, thì vấn đề này càng lớn. Được biết từ giữa tháng Năm, Hiệp hội Dệt may Việt Nam đã yêu cầu các công ty trong ngành chủ động tìm kiếm các thị trường khác để nhập nguyên liệu.
Tuy nhiên khi trao đổi với RFI Việt ngữ, ông Diệp Thành Kiệt, Phó chủ tịch Hiệp hội Dệt may Thêu đan Thành phố Hồ Chí Minh vẫn cho rằng, chiến sự không thể nào xảy ra, và dù gì đi nữa, chính phủ Việt Nam lẫn Trung Quốc đều sẽ tránh việc trả đũa kinh tế.
Ông giải thích : Trung Quốc đang có xu hướng chuyển các đơn hàng với số lượng lớn sang Việt Nam, và các nhà máy sản xuất nguyên liệu cũng rất cần bán hàng. Trung Quốc cũng nhập khẩu nhiều mặt hàng của Việt Nam. Đặt giả thiết nếu Bắc Kinh ngưng xuất nguyên vật liệu, thì thật ra chỉ những ngành sản xuất các mặt hàng cấp trung và thấp mới bị ảnh hưởng, và về lâu về dài thị phần của Trung Quốc tại Việt Nam sẽ bị các nước khác giành được phần nào.
Còn hàng Việt xuất qua Trung Quốc thì đa số là nông sản - mà người nông dân Việt Nam vẫn bán qua biên giới dù nhiều rủi ro đối với khách hàng dễ dãi này. Nếu bị trắc trở, sẽ là dịp khiến nông dân và thương nhân phải tìm cách nâng cao phẩm chất để bán được với giá trị cao hơn.
Bên cạnh đó, « công xưởng thế giới » không phải một sớm một chiều mà thay đổi được cơ cấu sản xuất, trong khi người tiêu thụ Việt vốn dễ tính hơn một số nước láng giềng khác.
Ông Diệp Thành Kiệt tin rằng với giá lao động ngày càng cao, Trung Quốc không chỉ xem Việt Nam là thị trường tiêu thụ, mà nhiều nhà đầu tư của nước này sẽ tiếp tục dịch chuyển nhà máy sang Việt Nam để giảm giá thành sản xuất.
Về phía người tiêu dùng, chị Nguyễn Lê Như Ý ở Thành phố Hồ Chí Minh cho biết nhiều người tiêu thụ hiện nay rất có ý thức tránh dùng hàng Trung Quốc, vì tuy giá rẻ nhưng đa số là chất lượng tồi, thậm chí độc hại.
Chỉ trên Facebook đã có rất nhiều trang cổ vũ cho việc tẩy chay hàng Trung Quốc, ưu tiên mua hàng Việt Nam, với rất nhiều thông tin được cập nhật giúp người tiêu dùng sáng suốt khi lựa chọn.
Thật ra với những hiệp định tự do thương mại (FTA) đã có và đang được đàm phán, cũng như Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) nếu thành công, sẽ là một trong những lối thoát cho nền kinh tế Việt Nam để có thể bớt dần sự lệ thuộc vào Trung Quốc. Không những để đa dạng hóa nguồn cung cũng như khách hàng, nâng cao chất lượng sản phẩm và nghiệp vụ, giúp kinh tế thăng bằng hơn về lâu về dài, mà còn minh bạch hóa những giao dịch với những đối tác nghiêm túc và biết tôn trọng môi trường, tôn trọng những chuẩn mực quốc tế về vệ sinh, lao động…
Dư luận cho rằng trong cái rủi biết đâu lại có cái may. Bên cạnh cơ hội « thoát Trung » về mặt chính trị, còn có cơ may dần thoát khỏi tình trạng hàng hóa Trung Quốc tràn ngập Việt Nam, nuốt chửng lợi nhuận từ các thị trường khác khiến nền kinh tế mãi phụ thuộc vào người khổng lồ phương bắc.

Tạp chí xã hội 28/05/2014
(14:56)

Láng giềng 'hay chơi xấu'

BBC-4:50 GMT - thứ tư, 28 tháng 5, 2014

Đã xảy ra các cuộc biểu tình chống Trung Quốc vì vụ giàn khoan

Hôm 28/5, các tờ báo trực thuộc Đảng Cộng Sản và chính phủ Việt Nam chỉ trích Trung Quốc mạnh mẽ, trong lúc quan hệ song phương đang xấu đi.
Báo điện tử của Chính phủ nói Việt Nam luôn “ăn ở” với Trung Quốc “như bát nước đầy”, tuy nhiên Bắc Kinh lại tìm cách “hất bát nước đó đi”.
“Khi bát nước đã đổ đi thì không thể lấy lại được nữa,” tờ này viết.
Bài báo nói: “Người Việt còn coi trọng, chú ý giữ gìn quan hệ láng giềng với các lân quốc hơn thế nữa, bởi người ta có thể ‘chọn bạn mà chơi, chọn nơi mà ở’, hàng xóm xấu bụng có thể dọn đi nơi khác, nhưng bên cạnh một nước láng giềng lớn mà cứ hay chơi xấu thì phải gồng mình chịu đựng chứ biết dọn đi đâu!”

Cơ quan ngôn luận của Chính phủ còn cho rằng Việt Nam đã thể hiện tinh thần “hào hiệp và cao thượng” khi cho phép tàu quân sự Trung Quốc vào lãnh hải Việt Nam tham gia tìm kiếm máy bay MH370 bị mất tích, động thái mà “nhiều quốc gia sẽ từ chối”.

“Công thư năm 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng cũng ra đời với tinh thần hào hiệp như vậy, khi Trung Quốc đang đứng trước nguy cơ bị tấn công quân sự bởi các đồng minh của chính quyền Đài Loan…Vậy nhưng trong các vấn đề liên quan đến chủ quyền biển đảo, Việt Nam chỉ nhận được những cách đáp trả không hề ‘chính nhân quân tử’ từ phía người láng giềng lớn.”

"Họ sử dụng bộ máy tuyên truyền khổng lồ để vu cáo, bôi nhọ Việt Nam, làm hoen ố hình ảnh của Việt Nam trước cộng đồng quốc tế."-Trang web Đảng Cộng sản Việt Nam

Trong khi đó, trang web Đảng Cộng Sản cáo buộc Trung Quốc mưu đồ “độc chiếm biển Đông, chà đạp lên pháp luật quốc tế, quay lưng lại với tình cảm hữu nghị truyền thống lâu đời giữa nhân dân hai nước”.

“Họ không từ một thủ đoạn nào, miễn là thực hiện được ý đồ ‘biến không có tranh chấp thành có tranh chấp’ ‘biến của người thành của mình’. Họ ra sức kích động nhằm chia rẽ, phân hoá khối đại đoàn kết của nhân dân ta. Họ sử dụng bộ máy tuyên truyền khổng lồ để vu cáo, bôi nhọ Việt Nam, làm hoen ố hình ảnh của Việt Nam trước cộng đồng quốc tế.”

‘Liên minh chính nghĩa’

Báo chí Việt Nam cũng trích lời ý kiến của một số tướng quân đội cho rằng “không có vùng cấm” để Việt Nam liên minh với các nước nếu có xung đột với Trung Quốc.
“Việt Nam xác định mình là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế. Nếu các nước cùng chống lại việc Trung Quốc gây rối an ninh hàng hải, Việt Nam không có lý do gì không hợp tác với các nước để chống lại hành vi đó,” ông Phan Kỳ, thiếu tướng và là nguyên trưởng khoa Đường lối học thuyết quân sự Viện Chiến lược Quốc phòng được trích dẫn trên tờ Lao Động.
Ông Kỳ cũng cho rằng chủ trương không liên minh của Việt Nam chỉ áp dụng với “người chính nghĩa” chứ không phải với “kẻ xâm lược”, nên không chịu sự ràng buộc gì.

"Trong các vấn đề liên quan đến chủ quyền biển đảo, Việt Nam chỉ nhận được những cách đáp trả không hề ‘chính nhân quân tử’ từ phía người láng giềng lớn."-Trang web Chính phủ Việt Nam

“Tất cả các nước có lợi ích chính đáng muốn giúp đỡ, ta đều hoan nghênh.”

Truyền thông của Đảng cũng tỏ ra rất cứng rắn trong ngôn từ, nói rằng không chừa bất kỳ giải pháp nào khi giải quyết tranh chấp với Trung Quốc.
Thông Tấn Xã Việt Nam trích lời đại tá quân đội Vũ Khanh nói rằng “Việt Nam kiên quyết không để cho bất kỳ quốc gia, thế lực nào xâm phạm chủ quyền. Việt Nam sẽ áp dụng mọi biện pháp phù hợp cần thiết để bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng.”

Trong khi đó,website của Đảng Cộng sản cảnh báo Bắc Kinh rằng “Việt Nam không để bất cứ quốc gia nào uy hiếp, xâm phạm từng tấc đất, từng mét nước biển của mình”.
“Việt Nam luôn mong muốn hòa bình hữu nghị, luôn hết sức kiềm chế, chân thành bày tỏ mọi thiện chí …Nhưng Trung Quốc vẫn cố tình vu khống, đổ lỗi cho Việt Nam và tiếp tục sử dụng sức mạnh, gia tăng các hành động uy hiếp, xâm phạm ngày càng nghiêm trọng hơn. Nếu Trung Quốc tiếp tục leo thang bằng vũ lực thì người Việt Nam sẽ đồng lòng đứng lên bảo vệ đất nước mình,” tờ báo Đảng viết.

Báo điện tử của Chính phủ nhắc đến chuyện Việt Nam sẽ “không loại trừ” khả năng đưa Trung Quốc ra công pháp quốc tế.
“Việt Nam đã rất nhiều lần khẳng định quan điểm trước hết muốn kiên định, kiên trì bằng con đường trao đổi ngoại giao để bảo vệ lợi ích chính đáng của mình… Nhưng cây muốn lặng mà gió chẳng dừng,” trang này viết.

VN cần 'bà con xa' hay 'láng giềng gần'?

13:17 GMT - thứ tư, 28 tháng 5, 2014
Quan hệ Việt Nam và Trung Quốc đang căng thẳng vì vụ giàn khoan
Không phải ngẫu nhiên và cũng chưa có gì chứng tỏ thiện ý khi An Ninh Thủ Đô vừa có bài “Các nghị sĩ hối thúc chính quyền Mỹ cứng rắn trước hành động nguy hiểm của Trung Quốc”.
Trang báo thường chiếm một vị trí xứng đáng trong danh mục bán chỉ định của báo đảng và luôn công kích phong trào dân chủ nhân quyền trong nước cùng “sự can thiệp thô bạo và trắng trợn của Mỹ vào Việt Nam” gần đây đã bộc lộ nỗi âu lo lẫn sốt ruột không thể che giấu: hơn bao giờ hết, giới lãnh đạo Việt Nam lại cần đến “bà con xa” hơn là “láng giềng gần”.

Lo âu và rối loạn


Công tâm mà xét, phép thử Bắc Kinh mang tên giàn khoan Haiyang Shiyou 981 ở biển Đông chỉ trong hai tuần lễ đã mang lại một hiệu nghiệm chưa từng có: toàn bộ đời sống chính trị và cả tâm thế xã hội Việt Nam bị rối loạn.
“Kỳ án” biểu tình bạo loạn ở Bình Dương có lẽ đã làm cho phần lớn giới chính khách Hà Nội, vốn còn so đo tính toán trong trò chơi đu dây giữa Bắc Kinh và Washington, phải giật mình.
Lần đầu tiên từ sau cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc 1979 đến nay, những người làm công tác tình báo của Việt Nam chắc hẳn phải quá nặng lòng với câu hỏi: làm thế nào và sẽ ra sao khi những dấu hiệu của lực lượng “thân Trung” đã và sẽ nổi lên quyết liệt đến mức sống mái trên mảnh đất thường được xem là “ao làng” của Bắc Kinh?
Phép thử Bắc Kinh cũng đã chứng tỏ được xung lực ứng nghiệm của nó: ngay khi nội trị Việt Nam rối loạn, lời cầu cứu của Hà Nội đã không còn được cộng đồng quốc tế đáp từ như trước đây.
Nếu quả đúng với thâm ý của Trung Nam Hải và đòn nhúng tay hiểm ác của họ, cuộc bạo loạn đốt phá lan rộng dữ dội ở Bình Dương và hàng loạt cái chết của công nhân Trung Quốc ở Hà Tĩnh đã làm cho hình ảnh một Việt Nam “ổn định chính trị và xã hội” trở nên phai tàn rất nhanh trong cảm nhận của thế giới.
Hệ quả kéo theo không tránh khỏi là làn sóng đầu tư nước ngoài vào quốc gia có tỷ lệ thất nghiệp thực tế có thể lên đến 20% này đang có nguy cơ bị chựng lại.
Cùng lúc, làn sóng thoái vốn của nhiều doanh nghiệp Trung Quốc, Đài Loan và vài nước khác lại có chiều hướng xung kích.
Rồi như một hiệu lệnh đồng loạt, nhiều dấu hiệu cho thấy quân đội Trung Quốc đang thầm lặng di chuyển áp sát biên giới phía Bắc. Vài ngày gần đây đã thổi nhẹ loạt đồn đoán về một cuộc chiến tranh có thể nổ ra vào bất cứ thời điểm nào…

Cầu cứu

Phó Tổng thống Mỹ Joe Biden và Thủ tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường
Phản ứng của phương Tây ra sao? Vào đúng thời điểm kỷ niệm bốn chục năm quan hệ Việt - Pháp, giới ngoại giao Paris vẫn giữ đúng chuẩn mực văn hóa, và vấn đề mà họ có vẻ quan tâm nhất cũng chính là chủ đề “xây dựng văn hóa” mà Ban chấp hành trung ương đảng cộng sản Việt Nam miên man bàn thảo trong hội nghị trung ương 9, cho dù ngay cạnh hội nghị này là mối hiểm họa bất cần văn minh của người anh em “núi liền núi, sông liền sông”.
Trong khi đó, với tính khí lạnh lẽo sương mù vốn có, người Anh càng khó mặn mà với một khu vực mà họ chẳng có ích lợi gì ngoài cú vồ hụt Nam Kỳ vào năm 1946.
Chưa có bất cứ tín hiệu cứu sinh nào từ Tây Âu, Hà Nội chỉ còn trông chờ vào chính sách “xoay trục” sang châu Á - Thái Bình Dương của Hoa Kỳ.
Thế nhưng điều lạ lùng là sau thành công kéo tỷ lệ thất nghiệp từ 9,9% năm 2009 xuống chỉ còn 6,3% vào đầu năm nay, chính quyền Obama lại dường như chọn hướng tiếp tục phát huy thắng lợi này, cũng là để tạo dựng uy tín cho ứng cử viên đảng Dân chủ trong cuộc chạy đua vào Nhà Trắng vài năm tới, thay vì dành mối chú tâm cho một địa chỉ vẫn bị đánh giá “độ tin cậy giữa hai quốc gia là rất thấp”.
Thực tế, chỉ vài tiếng nói của vài nghị sĩ Mỹ không đủ làm cho gió lặng trên biển Đông bạc sóng bởi vòi rồng Trung quốc. Thậm chí đến lúc này, một nghị sĩ Mỹ còn nói thẳng: “Việt Nam không hẳn là bạn của Hoa Kỳ”.
Có lẽ nhiều năm sau, câu nói đó sẽ đi vào lịch sử, nếu so đo với chính sách “Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước” và gần 10 “đối tác chiến lược toàn diện” trên danh mục của Hà Nội tới nay, trong đó Bắc Kinh luôn tiến chiếm vị trí số 1.
Tình thế nan nguy chưa từng có như thế chắc chắn đã khiến cho đảng cầm quyền, chính phủ và quốc hội Việt Nam không còn thể thờ ơ với vận mệnh dân tộc và sinh mạng chính trị của họ.
Như một hiệu lệnh đồng loạt, trong khi Quốc hội khai mạc kỳ họp giữa năm bằng một tuyên bố có từ “Trung Quốc” và do đó khác về bản chất với cả hai bài diễn văn khơi mào và kết thúc hội nghị trương ương 9 của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng ít ngày trước đó, Phái đoàn thường trực Việt Nam bên cạnh Liên hiệp quốc cũng bắt đầu ban bố một tuyên cáo về “Trung Quốc đe dọa nghiêm trọng hòa bình”.
Nhưng đáng kể nhất là Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, chính khách cao cấp tỏ ra có tiếng nói “thoát Trung” mạnh mẽ nhất trong hàng ngũ lãnh đạo đảng cho đến giờ.
Nhân chuyến dự Diễn đàn kinh tế thế giới Đông Á ở Philippines, Thủ tướng Dũng đã có vẻ khiến Bắc Kinh phải đôi chút lo ngại về một liên minh quân sự giữa hai quốc gia - nạn nhân của chính sách bành trướng biển khơi và “vùng chủ quyền lãnh thổ di động”.
Dường như là lần đầu tiên, ông Dũng tuyên bố công khai ở nước ngoài về “mối đe dọa của Trung Quốc”.
Nhưng có một chi tiết rất đáng chú ý: nước ngoài đó lại là Philippines - quốc gia vừa đạt được hiệp ước tương trợ quốc phòng với Mỹ trong chuyến công du Manila của ông Barak Obama cuối tháng 4/2014.
Điều an ủi có lẽ là duy nhất cho sự thất vọng của Hà Nội là dù sao cú ra tay đầy tính toán của Trung Quốc tại Biển Đông cũng bắt buộc những người bảo thủ ở Việt Nam phải nhìn lại một quy luật kinh điển: trong hai cái xấu, hãy lựa chọn cái nào đỡ xấu hơn.

'Độ tin cậy rất thấp'

EU cho rằng Việt Nam chưa thật sự tiến bộ về nhân quyền
Vốn thường bị lên án là ‘sen đầm quốc tế” cùng chính sách “diễn biến hòa bình”, nhưng ít nhất người Mỹ đã chưa từng biểu lộ ý chí xâm lăng bằng mọi giá như Trung Quốc tại ít nhất khu vực biển Đông.
Thậm chí ngược lại, Mỹ và phương Tây lại đang có trong tay cái bánh mà Việt Nam quá thèm muốn để xử lý khủng hoảng kinh tế - xã hội: Hiệp định đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương (TPP) - điều mà Trung Quốc không hề có; hoặc chỉ là cán cân xuất siêu của Đại Hán vào Việt Nam tăng chẵn 100 lần trong hơn 10 năm qua.
Tâm lý người Việt “ngả vào vòng tay phương Tây” cũng bởi thế đang có chiều hướng đột biến so với mối nghi kỵ đậm chất “thù địch” như trước đây.
Rất nhiều khả năng là Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và một phần lớn còn lại, nếu không muốn nói là tất cả, giới lãnh đạo Hà Nội đang rất mong đợi giữa họ với Washington sẽ thiết lập được một bản hiệp ước quân sự nào đó, nhằm ngay lập tức tạo thành “lá chắn biển Đông” trước cơn thủy triều đỏ rực thèm khát của Bắc Kinh.
Philippines lại chính là một bài học quá cận kề đối với Việt Nam. Chỉ ba năm trước, vùng lãnh hải của quốc gia nhỏ bé này còn liên tục bị Trung Quốc đe dọa xâm lấn và chiếm đảo.
Thế nhưng cùng với mối quan hệ khắng khít với Washington và hạm đội 7, lần đầu tiên người Phi đã dám kiện gã khổng lồ Trung Quốc ra tòa án quốc tế. Cũng cho đến nay, hải quân Trung Quốc hoàn toàn chưa dám động binh - hành động chẳng tương xứng chút nào với tuyên bố “nhổ nước bọt” của họ trước đây.
Bài học quốc tế đã sẵn có và kinh nghiệm cũng không thiếu. Nhưng câu hỏi hóc búa đối với Hà Nội là làm thế nào họ chinh phục được “bà con xa” vào lúc này, khi “độ tin cậy giữa hai quốc gia là rất thấp”?
Không chỉ “thấp” về mối quan hệ “đối tác toàn diện” mà chưa hề mang hơi hướng “chiến lược” nào, những gì mà một chính quyền thường hứa hẹn “luôn quan tâm và bảo đảm các quyền con người” lại chẳng thể cảm hóa được Quốc hội và do đó là chính phủ Mỹ.
Ngược hẳn với tuyên bố “Việt Nam đã thực hiện hơn 80% khuyến nghị về nhân quyền của Hội đồng nhân quyền Liên hiệp quốc” của một trong những nhân vật được coi là ứng viên cho chức vụ thủ tướng Việt Nam trong tương lai không xa - Phó thủ tướng kiêm bộ trưởng ngoại giao Phạm Bình Minh, giới chính khách Liên minh châu Âu lại mát mẻ rằng có đến 85% khuyến nghị của các quốc gia đã chưa hề được Hà Nội đụng chạm đến.
Lời trần tình chua cay này được nêu ra trong một cuộc hội thảo về Kiểm điểm định kỳ phổ quát về nhân quyền Việt Nam diễn ra mới đây tại Hà Nội.

Bà con xa?


Minh chứng hùng hồn và gần gũi nhất cho chủ đề nhân quyền Việt Nam lại vừa xảy đến vào ngày Chủ nhật 18/5/2014, khi cuộc biểu tình ôn hòa phản đối Trung Quốc can thiệp vào biển Đông của người dân Hà Nội, Sài Gòn và Vinh đã bị chính quyền các nơi đàn áp thô bạo.
Các hãng tin quốc tế lập tức loan tin “Bắt bớ diễn ra khắp nơi, những người biểu thị lòng yêu nước bị đánh đập dã man…”
Rất tương đồng với ý nghĩa của gần hai chục cuộc đàn áp biểu tình ôn hòa chống Trung Quốc từ giữa năm 2011 đến nay, cuộc đàn áp gần nhất ở Việt Nam đã bộc lộ một sai lầm chính trị đủ lớn của chính quyền: không còn phân biệt nổi đâu là biểu tình quá khích và đâu là biểu tình ôn hòa.
Một sai lầm bị đại đa số nhân dân cho là vong quốc và sẽ góp thêm lòng nhiệt tình vào tình thế mất nước.
Chính sai lầm mang tính hệ thống trên đang và sẽ dồn đẩy giới cầm quyền Việt Nam vào ngõ cụt: Làm thế nào để nếu chiến tranh Trung - Việt nổ ra, mà tương lai này trở nên khá dễ đoán trong 2-3 năm tới, chính quyền Việt Nam có thể ít nhất huy động được dân chúng xuống đường biểu thị “chính nghĩa”, trước khi nói đến một cuộc tổng động viên nào đó, mà không bị người dân quay lưng bởi quá khứ trấn áp biểu tình không khoan nhượng?
Làm thế nào để Hà Nội vớt vát chút niềm tin quốc tế trong bối cảnh họa xâm lăng đang cận kề và mối họa mất nước hoàn toàn không xa xôi?
Và thực tế hơn rất nhiều lần là làm thế nào để Việt Nam có được “lá chắn biển Đông”, nếu chính quyền bảo thủ của quốc gia này vẫn không thể chấp nhận những khái niệm cơ bản nhất về giá trị nhân quyền, như một bài học rất giá trị khác - Miến Điện - đã tích lũy từ ba năm qua và thật ứng với câu tục ngữ Việt Nam “Bà con xa hơn láng giềng gần”?
Bài viết thể hiện quan điểm riêng của nhà báo tự do Phạm Chí Dũng từ TP. HCM.

Việt Nam tính chiến lược dài hạn đối phó với Trung Quốc


HÀ NỘI (NV) - Việt Nam đang chuẩn bị một chiến lược dài hạn đối phó với Trung Quốc để Bắc Kinh từ bỏ những hành động xâm lăng tương tự trong tương lai.

Ðây là một số điều được ông Carl Thayer, một chuyên viên về Việt Nam của Học Viện Quốc Phòng Hoàng Gia Úc, phân tích trong một bài viết trên tạp chí thời sự The Diplomat. Trong đó, ông tiết lộ Hà Nội từng đề nghị những cuộc họp tay ba gồm cả Mỹ, Nhật và Việt Nam hợp tác đối phó với Trung Quốc trên Biển Ðông.


Một chiếc tàu hải cảnh của Trung Quốc phun vòi rồng tấn công một tàu kiểm ngư của Việt Nam trong cuộc đối đầu vụ giàn khoan HD 981, phía Nam quần đảo Hoàng Sa hồi tuần qua. (Hình: AP/Photo)

Ông và một số chuyên viên khác về các vấn đề Việt Nam và Trung Quốc tới Hà Nội những ngày gần đây, được tham khảo ý kiến với hy vọng tìm giải pháp đối phó nào ít xấu nhất.

Ông Thayer dựa trên những trao đổi riêng tư với một số viên chức chính quyền và chuyên viên an ninh quốc phòng, viết rằng, “Việt Nam đang lập kế hoạch dài hạn để ngăn cản Trung Quốc đừng tái diễn những trò tương tự như đưa giàn khoan HD981 cắm ở phía Nam quần đảo Hoàng Sa bất chấp sự chống đối quyết liệt của Việt Nam.”

Những gì được ông Thayer nêu ra chỉ là một số ý kiến đang được bàn tán qua lại, hiện không phải là chính sách chính thức được nhà nước Việt Nam chấp thuận.

Cốt lõi của chiến lược đang được chuẩn bị là tránh kình chống trực diện với Trung Quốc mà chỉ nhằm ép họ đem giàn khoan HD 981 ra khỏi vùng biển đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Các chiến lược gia của Việt Nam cũng muốn ngăn cản Bắc Kinh có các hành động tương tự trong tương lai.

Hiện nay người ta thấy Việt Nam đang cân nhắc hai chiến lược nhằm răn đe Bắc Kinh.

-Thứ nhất, dùng đòn bẩy của mối quan hệ liên minh giữa Hoa Kỳ với Nhật Bản và Philippines.

-Thứ hai, trong trường hợp xảy ra xung đột võ trang, thì “cả hai đều bảo đảm thiệt hại.”

Các giới chức Việt Nam nhấn mạnh trong các cuộc thảo luận riêng tư rằng tất cả các hoạt động được thực hiện theo chiến lược mới này sẽ hoàn toàn minh bạch để giảm thiểu tính toán sai lầm từ Trung Quốc.

Mục đích chính của chiến lược mới của Việt Nam không phải là để đối chọi với Trung Quốc, mà chỉ là răn đe họ bằng cách tạo ra những tình huống mà Bắc Kinh phải lựa chọn, hoặc giữ nguyên trạng (tuyên bố tranh chấp chủ quyền) hoặc leo thang. Theo chiều hướng này sẽ nguy hiểm cho Trung Quốc vì lực lượng Việt Nam sẽ hoạt động bên cạnh hai đồng minh của Mỹ theo đuổi hòa bình.

Trước khi xảy ra vụ giàn khoan HD981, Việt Nam đã đề nghị cuộc đối thoại an ninh tay ba với Hoa Kỳ và Nhật Bản. Ðiều này được Nhật Bản tiếp nhận với sự dè dặt nhưng hiện đề nghị vẫn còn đang để trên bàn chứ chưa bị bác bỏ. Trong tình thế hiện tại, một cuộc dàn xếp tay ba có thể dùng như lộ trình để tiến đến một chiến lược đa quốc gia răn đe Trung Quốc.

Việt Nam đã tiếp cận Nhật Bản và Philippines trong nỗ lực nâng cao sự tương tác, phối hợp giữa các lực lượng trên biển của họ, gồm cả cảnh sát biển và hải quân.

Việt Nam hy vọng diễn tập chung và các hình thức diễn tập khác trên biển, gồm cả tuần tra chung trên Biển Ðông. Các cuộc diễn tập chung sẽ diễn ra ở xa vị trí đang có sự căng thẳng. Chúng có thể diễn ra trên biển xa và ở vùng biển đặc quyền kinh tế của Việt Nam nhưng có cái đường “lưỡi bò” của Trung Quốc vắt ngang.

Việt Nam cũng đang cân nhắc tiếp cận Hoa Kỳ. Một trong những đề nghị là tiến hành thỏa hiệp hợp tác lực lượng Cảnh Sát Biển của hai nước. Tàu Cảnh Sát Biển Mỹ có thể được đưa tới vùng biển Việt Nam tập huấn chung. Mỗi bên có thể trao đổi quan sát viên.

Việt Nam gần đây ký tham gia Sáng Kiến Chống Phổ Biến Võ Khí Sát Thương Hàng Loạt. Ðiều này cho Việt Nam cơ hội được Mỹ yểm trợ phát triển khả năng tuần tra vùng biển của mình. Trước đây từng có tin Việt Nam muốn mua máy bay tuần tra biển Orion P-3 của Mỹ. Hoa Kỳ có thể cho một máy bay tuần tra làm hàng mẫu mà Việt Nam dự tính mua để bay biểu diễn với các viên chức quân sự Việt Nam ngồi trên đó.

Thêm nữa, các máy bay tuần tra biển không võ trang của Hải Quân Mỹ trú tại Philippines (theo thỏa hiệp tăng cường hợp tác quốc phòng Philippines-Mỹ mới ký gần đây) có thể được đưa tới Việt Nam tạm thời. Họ có thể có những chuyến bay tuần tra biển chung với Việt Nam. Viên chức Mỹ có thể bay trên máy bay tuần tra của Việt Nam và ngược lại.

Các viên chức và phân tích gia của Việt Nam dự đoán Trung Quốc còn biểu diễn các hành động ngang ngược trên Biển Ðông ít ra là từ tháng 5 đến tháng 8. Ðây là cơ hội để Hoa Kỳ và Nhật Bản tổ chức một số cuộc tập huấn hải quân và bay tuần tiễu trên biển với Việt Nam trước khi có lực lượng Trung Quốc xuất hiện trong khoảng thời gia vừa kể. Chi tiết về các hoạt động sẽ hoàn toàn minh bạch đối với các nước trong vùng, kể cả Trung Quốc.

Chiến lược gián tiếp của Việt Nam cung cấp cơ hội cho Hoa Kỳ bày tỏ quan điểm thực tiễn từng loan báo là chống chủ trương ép buộc hay đe dọa để giải quyết tranh chấp lãnh thổ.

Chiến lược gián tiếp của Việt Nam không đòi hỏi Mỹ phải kình chống Trung Quốc trực tiếp. Chiến lược này đẩy trách nhiệm về phía Trung Quốc để nước này quyết định nên hay không nên gánh cái sự nguy hiểm khi tấn công một lực lượng Hải Quân và Không Quân của Việt Nam với những nước khác phối hợp hoạt động gồm Hoa Kỳ và các đồng minh Philippines và Nhật Bản.

Chiến lược thứ nhì của Việt Nam có thể là răn đe “cả hai bảo đảm bị thiệt hại” khi tình thế giữa Việt Nam và Trung Quốc tồi tệ đến mức xảy ra xung đột võ trang.

Các chiến lược gia Việt Nam biện luận rằng mục đích của chiến lược này không phải để đánh bại Trung Quốc mà chỉ gây thiệt hại đủ nghiêm trọng và tâm lý bất an để hãng bảo hiểm hàng hải quốc tế Lloyd's đòi bảo phí tăng vọt và các nhà đầu tư tại Trung Quốc bỏ chạy.

Theo chiến lược này, nếu xung đột võ trang xảy ra, Việt Nam sẽ ưu tiên đánh các tàu hàng mang cờ Trung Quốc và các tàu chở dầu hoạt động ở vùng cực Nam Biển Ðông. Việt Nam hiện có hỏa tiễn phòng vệ biển (mua của Nga) có khả năng bắn tới căn cứ hải quân Trung quốc trên đảo Hải Nam và ở đảo Phú Lâm trong quần đảo Hoàng Sa.

Một số chiến lược gia Việt Nam cũng biện luận rằng Việt Nam nên mua nhanh chóng một số lượng lớn hỏa tiễn tầm xa có thể bắn tới Thượng Hải hoặc Hồng Kông. Trong trường hợp chiến tranh xảy ra, hai địa danh vừa kể và các thành phố khác có thể là mục tiêu bị tấn công để gây xáo trộn lớn lao cho nền kinh tế Trung Quốc. Ðiều này sẽ gây tác động đến toàn cầu. Các nhà kế hoạch của Việt Nam tin rằng các cường quốc sẽ can thiệp để chống lại tham vọng bành trướng của Bắc Kinh. (TN)

05-28- 2014 5:52:21 PM

Trung Quốc tuyên án 55 người trong phiên xử tập thể

BẮC KINH, Trung Quốc (AFP) - Nhà cầm quyền tỉnh Tân Cương vừa tuyên án 55 người trong phiên xử tập thể, tổ chức tại một vận động trường, theo tin từ giới truyền thông nhà nước hôm Thứ Tư.

Những người này bị cáo buộc các tội danh gồm cả khủng bố và bạo động, trong nỗ lực đàn áp tình trạng chống đối đang ngày càng tăng cao ở nơi có đa số dân theo Hồi Giáo này.


Khung cảnh phiên tòa. Các bị cáo phải đứng chen chúc trên các xe tải và bị công an ấn đầu cúi về phía trước. (Hình: Getty Images)

Khoảng 7,000 người dân và các giới chức đảng Cộng Sản Trung Quốc tại khu vực Ili đã đến tham dự “cuộc họp tập thể để chứng kiến việc tuyên án, bắt giữ tội phạm, trừng phạt một nhóm gồm các thành phần khủng bố,” theo một bản tin của Tân Hoa Xã.

Các bản án đưa ra ở vận động trường này gồm có tội sát nhân, ly khai, cũng như tổ chức, cầm đầu hay tham gia vào một nhóm khủng bố, chứa chấp kẻ phạm pháp và hiếp dâm.

Có ba người bị án tử hình vì dùng dao và các võ khí khác giết chết một gia đình bốn người hồi năm ngoái “dùng các phương thức cực kỳ tàn độc,” bản tin cho hay.

Tại vận động trường này, công an cũng loan báo chính thức bắt giam 38 nghi can và bắt thêm 27 người khác.

Hình ảnh loan tải cho thấy công an võ trang canh gác khu vực, và những người bị cáo buộc là có tội phải đứng chen chúc trên các xe tải và bị công an ấn đầu cúi về phía trước.

Vụ này có vẻ là để chứng tỏ “quyết tâm của nhà nước nhằm tiêu diệt ba thành phần khủng bố bạo động là ly khai, quá khích và khủng bố,” theo lời phó bí thư đảng bộ cộng sản địa phương Ili.

Trung Quốc thường dùng các phiên xử tập thể trong thập niên 80 và 90 để là hình thức răn đe công chúng trong thời gian có bất ổn xã hội vào lúc đưa ra chính sách cải cách, nhưng sau đó phương thức này dần dần ít thấy sử dụng.

Bắc Kinh hồi cuối tuần qua đã cho hay sẽ mở chiến dịch trấn áp khủng bố kéo dài một năm sau khi xảy ra một loạt các cuộc tấn công, bị nhà nước cho là do thành phần chống đối ở Tân Cương gây ra.

Hôm 30 Tháng Tư, vào ngày cuối cuộc viếng thăm của Chủ Tịch Nhà Nước Trung Quốc Tập Cận Bình tại khu vực Tân Cương, những kẻ tấn công đã giết chết một người và làm bị thương 79 người khác tại một nhà ga ở thủ phủ Urumqi. (V.Giang)

05-28-2014 5:19:44 PM

Dùng công pháp quốc tế phá mưu TQ T

Tiến sĩ Nguyễn Vân Nam Gửi cho BBC từ Tp. Hồ Chí Minh 
13:05 GMT - thứ tư, 28 tháng 5, 2014
Không còn nghi nghờ gì nữa, mục tiêu của Trung Quốc là kiểm soát để tiến đến thôn tính Biển Đông.
Cũng có một số ý kiến quốc tế cho rằng Trung Quốc tính già hoá non trên Biển Đông, và đang lộ ra nhiều điểm sai trái, kẽ hở.
Thật ra Trung Quốc có rất ít kẽ hở. Họ đã rào trước đón sau rất kỹ về mặt pháp lý để hầu như không thể bị kiện; đồng thời kiên định thực hiện chiến lược giải quyết tranh chấp song phương nhằm chủ động phòng ngừa những khả năng bị kiện còn lại khác.
Ngày 25/8/2006, Trung Quốc gửi Liên Hiệpp Quốc tuyên bố bảo lưu theo Điều 298 của UNCLOS, không chấp nhận cả 4 cơ quan tài phán giải quyết tranh chấp qui định tại Điều 287 khoản 1 UNCLOS đối với tất cả các loại tranh chấp được quy định tại điểm a, b, c Khoản 1 Điều 298; cũng như loại trừ quyền tài phán của Tòa án biển quốc tế đối với toàn bộ tranh chấp liên quan đến chủ quyền các đảo.
Như vậy, thực tế Trung Quốc đã loại trừ hầu hết các loại tranh chấp trên Biển Đông ra khỏi quyền tài phán của một cơ quan tài phán quốc tế.

Song phương và hai Đảng

Những thoả thuận song phương với Trung Quốc rất nguy hiểm, vì họ có thể dùng nó để loại trừ các nghĩa vụ quốc tế của mình.
Nguyên tắc tối cao của công pháp quốc tế là tôn trọng chủ quyền quốc gia, tôn trọng sự thoả thuận giữa các nước, nên những thoả thuận song phương như vậy có khả năng và hiệu lực loại trừ những nghĩa vụ quốc tế mà một trong hai nước đã ký kết.
Tức là với một thoả thuận song phương, Trung Quốc có thể loại trừ được những điều mà họ muốn loại trừ, nhưng không thể hoặc chưa kịp loại trừ khi ký kết các thỏa thuận quốc tế.
Ngư dân Việt Nam 'hoàn toàn có thể khởi kiện Trung Quốc'
Chẳng hạn, nếu Việt Nam và Trung Quốc thỏa thuận không sử dụng quân đội và vũ khí trong tranh chấp lãnh thổ, nghĩa là chỉ đồng ý không sử dụng một trong những hình thức sử dụng vũ lực thôi, thì điều đó sẽ loại trừ nghĩa vụ không được sử dụng vũ lực nói chung (không được sử dụng bất cứ hình thức vũ lực nào) theo Điều 279 UNCLOS và Điều 2 khoản 4 Hiến chương LHQ mà VN và TQ phải tuân thủ.
Ngoài ra, Trung Quốc còn có thể ép Việt Nam thực hiện những điều cam kết song phương với họ. Nhưng chính họ lại có thể không thực hiện, bởi trong quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc, có những loại thỏa thuận song phương không có hiệu lực quốc tế chẳng hạn thỏa thuận giữa hai đảng Cộng sản và do đó họ không sợ bị phán xử.
Điều này là cực kỳ nguy hiểm. Chính vì vậy, việc cần làm hiện này là phải đưa Trung Quốc vào một cơ chế giải quyết tranh chấp đa phương trong công pháp quốc tế.

Cơ hội cho mục tiêu lớn

Thời điểm Trung Quốc đưa giàn khoan vào là khá bất ngờ, khi mọi người có cảm giác tình hình có vẻ yên ổn. Nhưng đó có thể là phép thử đầu tiên xem phản ứng của Việt Nam và công luận quốc tế, để TQ thu thập và đánh giá đầy đủ thông tin cần thiết cho những bước nghiêm trọng tiếp theo.
Cho nên, mục tiêu của Việt Nam không thể chỉ là đuổi giàn khoan xâm phạm chủ quyền vùng biển Việt Nam. Đây là cơ hội để Việt Nam đạt được các mục tiêu lớn hơn. Buộc Trung Quốc vào một cơ chế giải quyết tranh chấp đa phương, đó là mục tiêu quan trọng đầu tiên.
Mục tiêu thứ hai là bẻ gãy sự tự tin ngạo mạn kiểu Trung Quốc, khiến họ phải thay đổi chiến lược ở biển Đông. Mục tiêu thứ ba là phòng vệ chủ động. Khi Trung Quốc bị buộc phải tham gia cơ chế giải quyết tranh chấp của toà án quốc tế, họ sẽ không thể dùng vũ lực được nữa.
"Khi toà án đang thụ lý giải quyết tranh chấp, các bên có nghĩa vụ không được làm tình hình nghiêm trọng hơn"

 Theo Hiến chương Liên hiệp quốc và UNCLOS, khi toà án đang thụ lý giải quyết tranh chấp, các bên có nghĩa vụ không được làm tình hình nghiêm trọng hơn. Nghĩa là với đơn kiện như vậy, Trung Quốc bị buộc không được dùng vũ lực hoặc các mưu mô khác có khả năng làm hiện trạng bị tồi tệ thêm.
Theo Điều 287 khoản 1 UNCLOS khi xẩy ra tranh chấp, các nước thành viên có thể chọn bốn cơ quan tài phán: Toà án quốc tế ở Hà Lan (International Court of Justice, ICJ); Toà án luật biển quốc tế (International Tribunal for the Law of the Sea, ITLOS) ở Hamburg, Đức; Toà trọng tài theo phụ lục 7 của UNCLOS; và Toà trọng tài theo phụ lục 8 cho những tranh chấp đặc biệt.
Mới nghe thì rất dễ, nhưng không hề đơn giản: Toà ICJ ở Hà Lan chỉ có thẩm quyền xét xử nếu được cả hai bên cùng công nhận thẩm quyền.
Về nguyên tắc, các nước ký UNCLOS đều chịu phán quyết của toà án luật biển quốc tế. Nhưng mỗi nước khi ký UNCLOS đều có quyền tuyên bố bảo lưu, không chấp nhận thẩm quyền phán xử của toà án quốc tế trong những lĩnh vực nhất định. Đây là trường hợp của Trung Quốc với tuyên bố bảo lưu hợp lệ theo Điều 298 UNCLOS .
Do đó, trước tiên, đơn kiện của Việt Nam phải không lọt vào vùng loại trừ của Trung Quốc. Thứ hai, đơn kiện này phải được một cơ quan tài phán quốc tế dễ dàng chấp nhận. Đây là cái khó, nhưng có giải pháp.
Việt Nam phải kiện Trung Quốc vi phạm một nghĩa vụ căn bản của thành viên Liên Hiệp quốc mà Trung Quốc không thể loại trừ. Đó chính là khoản 4 điều 2 Hiến chương Liên hiệp quốc và điều 279 UNCLOS.
Các điều khoản này đều nhấn mạnh rằng các nước thành viên có nghĩa vụ giải quyết tranh chấp bằng con đường hoà bình, không được sử dụng vũ lực, và nghĩa vụ này không bị loại trừ bởi bất kỳ tuyên bố nào.
Thế nào là sử dụng vũ lực (use of force) trong quan hệ quốc tế, thì vẫn còn tranh cãi. Và bởi vì còn tranh cãi, nên cần phải có cơ quan tài phán quốc tế độc lập. Đó chính là thuận lợi cho Việt Nam. Các hành vi sử dụng vũ lực này là dùng tàu hải giám, hải cảnh, tuần ngư … thuộc sở hữu nhà nước Trung Quốc phá hỏng, đánh chìm tàu Việt Nam.
Nghiêm trọng hơn là tàu của Trung Quốc đã gây thương tích cho con người.
Như vậy, chúng ta có thể khởi kiện Trung Quốc sử dụng vũ lực vi phạm khoản 4 điều 2 Hiến chương Liên hiệp quốc và điều 279 UNCLOS ra toà án luật biển quốc tế. Nội dung kiện này không nằm trong vùng loại trừ của Trung Quốc. Họ có thể không đồng ý.


Nhưng theo quy định của UNLOS, nếu một bên không đồng ý thì phải chuyển qua toà trọng tài theo phụ lục 7. Toà trọng tài này sẽ không thể tuyên là việc sử dụng vũ lực không thuộc thẩm quyền xét xử của mình, bởi đó là nghĩa vụ căn bản mà Trung Quốc không thể loại trừ.
Ngoài kiện kết tội, Việt Nam còn có thể khởi kiện yêu cầu xác định hành vi. Đó là yêu cầu toà án luật biển quốc tế khẳng định hành vi tàu Trung Quốc đâm vào làm hư hỏng tàu Việt Nam, gây thương tích cho người Việt Nam là hành vi sử dụng vũ lực.
Trong đó, đặc biệt là yếu tố đã gây tổn thương đến con người. Đây là trường hợp lý giải và áp dụng UNCLOS thuộc thẩm quyền của toà án luật biển. Ở nước ngoài, kiểu kiện yêu cầu toà án khẳng định một hành vi, một sự việc như vậy khá phổ biến (kiện không có bị đơn).
Để giải quyết, toà sẽ phải mời Trung Quốc, nhưng không phải trong tư cách bị đơn. Và như thế, họ vẫn bị buộc phải tham gia vào cơ chế giải quyết tranh chấp đa phương.
Đây là một giải pháp khởi kiện tốt nhất, vì khả năng thắng lợi rất cao và đặc biệt là không làm Trung Quốc mất mặt. Sau khi toà ra phán quyết hành vi vũ lực của Trung Quốc, nếu thấy cần thiết, chúng ta có thể sẽ tiếp tục khởi kiện kết tội họ.
Cũng có khả năng dù toà phán quyết thế nào, Trung Quốc vẫn cậy thế nước lớn, không chấp nhận và cứ làm theo ý chí của mình. Nhưng với việc khởi kiện, Việt Nam đã đập nát sự tự tin của họ, buộc họ phải bị động thay đổi chiến lược, chứ không thể hoàn toàn hành động ngang ngược, trâng tráo theo ý mình.
Trung Quốc khó có thể còn lu loa nói càn như ‘rất ngạc nhiên, sửng sốt’. Họ sẽ chùn tay trong hành động làm tình hình tồi tệ thêm …
Với Việt Nam, kiểu kiện thế này thuận lợi về mặt thủ tục hình thức, nhưng cái cơ bản nhất và khó nhất là cách sử dụng ngôn ngữ pháp lý quốc tế và lập luận. Đây là kiểu kiện liên quan đến một khái niệm căn bản trong quan hệ quốc tế và khái niệm này vẫn còn chưa được định nghĩa thống nhất, rõ ràng.
Thế nào là sử dụng vũ lực? Vũ lực là gì? Tuy nhiên, nếu Trung Quốc đã gây ra tổn thương đối với con người, mà cụ thể ở đây là các kiểm ngư và ngư dân, thì rất nghiêm trọng. Nó là một yếu tố quan trọng cấu thành hành vi sử dụng vũ lực, không thể chối cãi.

Ngư dân nhờ luật pháp quốc tế

UNLOS bảo vệ rất chặt chẽ quyền đánh cá. Khoản 2 điều 20 quy chế toà án luật biển quốc tế ghi rõ đây toà án quốc tế (duy nhất) cho phép các chủ thể không phải là nhà nước có thể khởi kiện đối với các tranh chấp liên quan đến cách hiểu và áp dụng UNLOS. Một thuận lợi lớn mà Việt Nam chưa vận dụng.
Cá nhân ngư dân hoặc qua các hiệp hội nghề, tổ chức nghề cá đều có thể khởi kiện được TQ"
Trung Quốc đang cản trở tự do đánh bắt, gây thiệt hại đến tài sản và tính mạng ngư dân. Nếu soi vào UNLOS thì Trung Quốc có rất nhiều vi phạm. Nhưng điều chủ yếu ở đây là phải xem xét kỹ với những hành vi sử dụng vũ lực đó, ngư dân Việt Nam đã có thể khởi kiện được Trung Quốc chưa?
Cá nhân ngư dân hoặc qua các hiệp hội nghề, tổ chức nghề cá đều có thể khởi kiện được.
Tuy nhiên, dù là cá cá nhân hay hiệp hội, tổ chức nghề cá thì khi ra toà án luật biển quốc tế họ cũng gặp khó khăn lẫn thuận lợi như nhà nước tiến hành kiện.
Nhưng nếu biết lập luận, có thể họ sẽ không rơi vào những trường hợp tuyên bố loại trừ của Trung Quốc.
Ở đây, khó khăn lớn nhất đối với ngư dân Việt Nam là quá trình thu thập chứng cớ. Ngư dân đi đánh cá bị tàu Trung Quốc đâm hư hỏng, phun vòi rồng nước, bắn cháy, cướp tài sản và hải sản, thì phải thu thập được chứng cớ.
Đặc biệt, những chứng cớ đó phải được lấy theo chuẩn mực quốc tế. Nhà nước, các hội đoàn và nhân dân cả nước có thể hỗ trợ ngư dân bằng kinh phí, trang bị máy móc đủ điều kiện để thu thập chứng cớ, chứ bản thân ngư dân là rất khó tự thân xoay sở.
Tuy nhiên, ngư dân Việt Nam cũng có thuận lợi. Mặc dù Trung Quốc đã có bảo lưu kín kẽ, nhưng câu hỏi đặt ra ở đây là: quyền bảo lưu này có hiệu lực đối với nhà nước Trung Quốc chỉ khi nguyên đơn là một Nhà nước, hay cả khi là ngư dân?
Thường thì sự rõ ràng là tốt, nhưng về pháp lý đôi khi không rõ ràng cũng là thuận lợi cho mình.
Cái khó của Việt Nam hiện nay là sự loại trừ của Trung Quốc, chứ Việt Nam không sợ không đủ cơ sở lập luận.
Bản thân ngư dân Viêt Nam, hay tổ chức nghề cá rất khó tự làm hồ sơ kiện Trung Quốc.
Họ cần được giúp đỡ của những luật sư thật sự thông thạo công pháp quốc tế, hướng dẫn cụ thể về trình tự lấy chứng cứ, cách lấy, và ở mỗi loại chứng cứ thì điểm gì là điểm không thể không có.
Sau khi ngư dân thu thập xong chứng cứ, nên gửi đến luật sư để đánh giá đã đủ chưa. Nếu đủ sẽ phát đơn khởi kiện. Và họ nên uỷ quyền cho một công ty luật nước ngoài khởi kiện đến toà án biển quốc tế.
Bài viết thể hiện quan điểm của giáo sư-tiến sỹ luật Nguyễn Vân Nam, Đại học Humbold, CHLB Đức, hiện đang hành nghề tại TP Hồ Chí Minh.

Ảnh: Lớp bồi dưỡng lý luận chính trị

Học, học hoài, học mãi...học lên xh..chó ngáp ..luôn. :)

Truyền thông TQ cảnh báo Việt Nam

BBC-14:54 GMT - thứ tư, 28 tháng 5, 2014
Nhiều cuộc va chạm đã xảy ra giữa lực lượng Việt Nam và TQ trên biển Đông kể từ hôm 02/05
Truyền thông Trung Quốc đổ lỗi cho Việt Nam sau khi một tàu cá Việt Nam bị chìm trong vụ va chạm với tàu Trung Quốc tại vùng tranh chấp trên Biển Đông.
“Tàu Việt Nam đã bị lật sau khi cố đâm vào giàn khoan dầu của chúng ta. Những người trên thuyền đã được cứu và Trung Quốc cảnh báo Việt Nam phải dừng gây rối,” Tờ Tin tức Bắc Kinh nói.
Nhật báo Tuổi trẻ Bắc Kinh đưa tin Việt Nam đã “phớt lờ cảnh báo” và “cản trở” hoạt động của giàn khoan Trung Quốc. Tờ này dẫn lời ông Dịch Tiên Lương, một quan chức ngoại giao ở Bắc Kinh, nói rằng Việt Nam “khiêu khích” nhưng Trung Quốc sẽ giữ “bình tĩnh và kiểm soát”.
Lý Quốc Cường, một sử gia tại Viện Khoa học-Xã hội Trung Quốc nói với China Daily rằng mục đích của “việc quấy rối liên tục từ phía Việt Nam” không chỉ là nhằm cản trở doanh nghiệp Trung Quốc, mà còn giúp Hà Nội đòi hỏi chủ quyền trên vùng biển của Trung Quốc.
Cùng chung suy nghĩ đó, Lưu Hoà Bình, một nhà bình luận của Đài Truyền hình Vệ tinh Thẩm Quyến, nói rằng Việt Nam muốn “ép” Bắc Kinh “rút lui” và “đòi chia lợi ích kinh tế” trên Nam Hải (biển Đông).
“Thời tiết trên Nam Hải khá bình lặng trong những ngày này, vì thế không có lý do gì để các tàu cá và tàu thương mại va chạm thường xuyên như thế…Trung Quốc cảnh báo Việt Nam rằng nếu Hà Nội tiếp tục sử dụng thuyền cá giả danh để gây sự, Trung Quốc sẽ không ngần ngại mà đáp trả, và thậm chí là đâm chìm những chiếc tàu này,” ông Lưu nói.
Ông Vương Hiểu Bằng, một chuyên gia hàng hải thuộc viện Khoa học-Xã hội Trung Quốc nói với Hoàn cầu Thời báo rằng Bắc Kinh nên chuẩn bị về cả “sức mạnh tinh thần và vật chất cho những quấy nhiễu liên tục từ Việt Nam”.
“Hà Nội đã nỗ lực mở rộng vùng tranh chấp trên Nam Hải bằng việc tuyên bố chủ quyền với quần đảo không hề có tranh chấp là Tây Sa [Hoàng Sa], và tìm kiếm “hành động pháp lý” về vấn đề đó. Philippines đã nộp đơn lên tòa án quốc tế và Hoa Kỳ hiện đang khuyến khích Việt Nam hành động tương tự. Các quốc gia sẽ liên tục đưa Trung Quốc ra tòa trong tương lai,” ông này cảnh báo.

‘Nhật Bản có mưu đồ xấu’

Ông Tần Cương nói Nhật đang làm 'ngư ông đắc lợi' trong vùng biển tranh chấp

Đồng thòi truyền thông Trung Quốc chỉ trích Nhật Bản vì có “mưu đồ không trong sáng” khi “ủng hộ” Việt Nam trong vụ va chạm.
Chánh văn phòng Nội các Nhật Yoshihide Suga nói sau vụ việc rằng “các bên liên quan phải tránh có các hành động đơn phương làm gia tăng căng thẳng”.
Bình luận về quan điểm của ông Suga, phát ngôn nhân của bộ Ngoại giao Trung Quốc Tần Cương nói lãnh đạo Nhật Bản đang cố gắng làm “ngư ông đắc lợi trong vùng biển tranh chấp nhằm đạt những mưu đồ không trong sáng”.
"Ông ta [Shinzo Abe] muốn đẩy các nước Đông Nam Á, bao gồm Việt Nam và Philippines, lên tuyến đầu. Bằng cách ủng hộ các nước này trong xung đột với Trung Quốc, Nhật Bản đang nỗ lực đẩy căng thẳng ngoại giao ra khỏi Đông Bắc Á"-Bài viết trên Đại Công Báo
 Một bài báo trên Tân Hoa Xã nói rằng Nhật Bản muốn “tái cân bằng quyền lực trong khu vực” bằng việc ủng hộ Việt Nam và Philippines với các “động thái khiêu khích” của hai quốc gia này.
“Thủ tướng Nhật Shinzo Abe đã có những hỗ trợ nhỏ nhưng mang tính biểu tượng cho các quốc gia có tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc,” Tân Hoa Xã nói, cho biết thêm rằng Tokyo đã đề nghị gửi tàu tuần tra đến biển Đông để “gìn giữ hòa bình và ổn định trong khu vực”.
Một bài viết trên nhật báo Đại Công Báo bình luận rằng ông Abe ủng hộ Việt Nam và Philippines với “ý đồ rõ ràng”.
“Ông ta muốn đẩy các nước Đông Nam Á, bao gồm Việt Nam và Philippines, lên tuyến đầu. Bằng cách ủng hộ các nước này trong xung đột với Trung Quốc, Nhật Bản đang nỗ lực đẩy căng thẳng ngoại giao ra khỏi Đông Bắc Á.”
Bài bình luận cảnh báo Việt Nam rằng Nhật Bản có một “nghị trình ngầm”.
“Liệu Hà Nội có sẵn sàng trở thành tay súng dưới trướng Tokyo? Bởi những lý do lịch sử, Việt Nam luôn cảnh giác với Mỹ và Nhật. Hai nước này càng thân thiện, Hà Nội sẽ càng nghi ngờ bởi không ai cho không ai thứ gì cả,” Đại Công Báo viết.

‘Tình bằng hữu với Malaysia’

Quan hệ Malaysia - Trung Quốc phần nào bị ảnh hưởng bởi chuyến bay bí ẩn MH370

Thủ tướng Malaysia Najib Razak bắt đầu chuyến thăm Trung Quốc trong vòng một tuần từ thứ Ba.
Truyền thông Trung Quốc đưa tin vắn về việc ông Razak hạ cánh ở Tây An, tỉnh Thiểm Tây. Thủ tướng Malaysia dự kiến sẽ đến Bắc Kinh vào thứ Tư và đối thoại với Chủ tịch Tập Cận Bình và các nhà lãnh đạo Trung Quốc khác trong một “bữa tiệc tối riêng tư”.
Năm nay đánh dấu mốc 40 năm quan hệ ngoại giao giữa Trung Quốc và Malaysia, tuy vậy quan hệ này bị ảnh hưởng sự cố máy bay mất tích của hãng hàng không Malaysia Airlines.
Hầu hết các hành khách trên chuyến bay MH370 là người Trung Quốc. Người thân của họ cáo buộc chính quyền Malaysia xử lý kém trong việc tìm kiếm chiếc máy bay bị mất tích từ tháng Ba.
Trong cuộc họp riêng giữa quan chức quốc phòng hai bên vào thứ Ba, Phạm Trường Long, phó chủ tịch Quân ủy Trung ương Trung Quốc, thúc giục Bộ trưởng Quốc phòng Malaysia Hishamuddin Hussein “tiếp tục tìm kiếm máy bay mất tích”, Nhân dân Nhật báo đưa tin.
Cựu đại sứ Trung Quốc tại Malaysia Vương Xuân Quý nói với Hoàn cầu Thời báo bản tiếng Trung rằng ông Razak đã “nồng nhiệt chào đón” chủ tịch Trung Quốc khi ông Tập đến thăm Malaysia vào tháng 10/2013.
Ông Vương cũng cho rằng việc mở một bữa tiệc tối riêng tư thể hiện “tình bằng hữu giữa hai nhà lãnh đạo và sự trở lại của lòng hiếu khách”.
Bài báo nói rằng Malaysia sẽ đảm nhiệm vai trò chủ tịch ASEAN từ Myanmar trong năm tới.
“Malaysia và Trung Quốc cùng chung quan điểm về vấn đề Nam Hải, rằng cần phải phản đối sự can thiệp từ bên ngoài,” ông Vương nói.

Vì sao VN vẫn trì hoãn kiện TQ?

Quốc Phương BBC Việt ngữ 09:03 GMT - thứ tư, 28 tháng 5, 2014  
Lãnh đạo Việt Nam

Việt Nam vẫn e ngại làm mất lòng Trung Quốc và muốn giữ quan hệ hữu nghị, theo nhà bình luận

Việt Nam vẫn 'chần chừ' chưa kiện Trung Quốc ra các cơ quan tài phán quốc tế về vụ giàn khoan Hải Dương 981 cũng như vụ Hoàng Sa bị 'cưỡng chiếm' là do lãnh đạo còn 'e ngại' động chạm tới 'quan hệ hữu nghị với Trung Quốc' và thiếu một sự thống nhất 'quyết tâm' trong nội bộ lãnh đạo từ Đảng tới Quốc hội, theo một nhà nghiên cứu từ trong nước.
Tình trạng thiếu thống nhất về 'quyết tâm' chính trị này này cũng làm Việt Nam 'bỏ lỡ' cơ hội phối hợp lập trường với Philippines khi nước này kiện Trung Quốc về vụ bản đồ đường lưỡi bò, theo một chuyên gia luật quốc tế, cựu Phó Vụ trưởng Ban Biên giới chính phủ của Việt Nam.
rao đổi với BBC hôm 27/5/2014 từ Hà Nội, PGS. TS. Hoàng Ngọc Giao, hiện là Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chính sách pháp luật & Phát triển (thuộc Vusta) nêu nghi vấn về lý do Việt Nam 'chần chừ'.
Ông Giao nói: "Phải chăng là do phải níu kéo quan hệ '16 chữ vàng và tinh thần 4 tốt', phải níu kéo quan hệ giữa hai Đảng Cộng sản, để làm sao đó một mặt cố gắng đấu tranh bảo vệ chủ quyền, nhưng mặt khác vẫn giữ quan hệ đó?
"Theo tôi quan điểm đó chưa chắc đã được lòng dân, bởi lẽ đối với dân tộc Việt Nam, chủ quyền quốc gia, lãnh thổ là thiêng liêng, dân tộc Việt Nam đã bao nhiêu thế kỷ chịu nhiều chiến tranh chỉ để bảo vệ chủ quyền lãnh thổ đó.
"Thế thì bây giờ đường lối chính trị của một Đảng không khẳng định điều đó, mà lại vẫn níu kéo vì quan hệ, tôi e rằng sẽ không được sự ủng hộ của nhân dân.
"Và điều đó sẽ không thuận lợi trong việc mà hiện nay Việt Nam, trong tình hình nước sôi, lửa bỏng như thế này, toàn dân quyết tâm bảo vệ chủ quyền mà lại có sự chần chừ."

'Còn thiếu mạnh mẽ'


Lãnh đạo Việt Nam

Việt Nam cần mạnh mẽ, quyết đoán hơn với Trung Quốc, vừa cần sớm ra luật biểu tình, theo nhà bình luận

Nhà nghiên cứu bình luận rằng trong khi các phát ngôn của Thủ tướng Chính phủ Việt Nam ở các diễn đàn tại Philippines mới đây tỏ ra hợp 'lòng dân', thì lập trường từ Quốc hội và Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam 'còn thiếu mạnh mẽ'.
Ông nói: "Qua những gì Thủ tướng đã thể hiện qua Hội nghị Thượng đỉnh Asean vừa rồi, cũng như qua những lời tuyên bố của Thủ tướng tại Philippines, cho thấy các tuyên bố của Thủ tướng phản ánh được lòng dân.
"Nó thể hiện ý chí quyết tâm, bản lĩnh kiên cường của người dân, và vì thế cho nên với những gì tôi biết, nhân dân Việt Nam rất ủng hộ tuyên bố khẳng định lập trường của Việt Nam trong câu chuyện Trung Quốc xâm lấn ở Biển Đông và rất ủng hộ Thủ tướng.
"Tuy nhiên, những phản ứng từ các cơ quan liên quan, kể cả Đảng và Quốc hội, thì dường như thông qua báo chí, chúng ta thấy, chưa được mạnh mẽ, ở mức cần phải có, chưa được mạnh mẽ."
Nhà nghiên cứu bình luận rằng trong khi các phát ngôn của Thủ tướng Chính phủ Việt Nam ở các diễn đàn tại Philippines mới đây tỏ ra hợp 'lòng dân', thì lập trường từ Quốc hội và Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam 'còn thiếu mạnh mẽ'.
Ông nói: "Qua những gì Thủ tướng đã thể hiện qua Hội nghị Thượng đỉnh Asean vừa rồi, cũng như qua những lời tuyên bố của Thủ tướng tại Philippines, cho thấy các tuyên bố của Thủ tướng phản ánh được lòng dân.
"Nó thể hiện ý chí quyết tâm, bản lĩnh kiên cường của người dân, và vì thế cho nên với những gì tôi biết, nhân dân Việt Nam rất ủng hộ tuyên bố khẳng định lập trường của Việt Nam trong câu chuyện Trung Quốc xâm lấn ở Biển Đông và rất ủng hộ Thủ tướng.
"Tuy nhiên, những phản ứng từ các cơ quan liên quan, kể cả Đảng và Quốc hội, thì dường như thông qua báo chí, chúng ta thấy, chưa được mạnh mẽ, ở mức cần phải có, chưa được mạnh mẽ."
Mặt khác theo nhà nghiên cứu, Việt Nam cần có một lập trường rõ ràng, kiên định và sự tôn trọng về quyền được hiến định của người dân về mặt quyền biểu tình của họ và không nên tùy tiện lúc thì 'động viên' khi cần, lúc thì lại 'ngăn cấm'.
Theo tôi, quyền biểu tình là quyền đã được hiến định, tức là đã được Hiến pháp ghi nhận, vì thế cho nên chính quyền không nên sử dụng quyền biểu tình như một công cụ chính trị"-PGS. TS. Hoàng Ngọc Giao
Ông Giao nói: "Theo tôi, quyền biểu tình là quyền đã được hiến định, tức là đã được Hiến pháp ghi nhận, vì thế cho nên chính quyền không nên sử dụng quyền biểu tình như một công cụ chính trị.
"Không nên như vậy, luôn luôn phải tạo điều kiện để quyền này được thực hiện, không thể có lúc thì động viên đi biểu tình, lúc thì lại ngăn cấm biểu tình, cái đó là không ổn, nó không phù hợp với Hiến pháp."
Nhà nghiên cứu cho rằng chính quyền, trong đó có Quốc hội và các đại biểu quốc hội có trách nhiệm phải xây dựng và ban hành càng sớm càng tốt luật biểu tình, một điều mà ông cho rằng vừa tốt cho người dân, vừa tốt cho nhà nước và cả việc đấu tranh bảo vệ chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam.

'Bỏ lỡ cơ hội'

Lãnh đạo VN và Philippines
Hiện chưa rõ Việt Nam sẽ làm gì sau khi đã 'xích lại' gần với Philippines sau vụ giàn khoan.
Xem xét nguyên nhân Việt Nam được cho là đã bỏ lỡ cơ hội để phối hợp lập trường với Philippines khi quốc gia láng giềng Đông Nam Á này yêu cầu tài phán quốc tế đánh giá 'đường lưỡi bò của Trung Quốc' trên Biển Đông, và đến nay vẫn chưa quyết định cùng tham gia cùng Philippines 'kiện Trung Quốc', ông Giao bình luận:
"Vấn đề là quyết tâm của Chính phủ Việt Nam tới mức nào, chứ đáng nhẽ khi Philippines tiến hành khởi kiện và đưa yêu cầu này ra, thì chính phủ Việt Nam lúc ấy nên đã cùng với Philippines để tham gia vụ kiện này.
"Nhưng có lẽ do Chính phủ Việt Nam vẫn đang kiên nhẫn, kiên trì, hy vọng rằng Trung Quốc sẽ không có những hành vi thô bạo để xâm chiếm các khu vực thuộc vùng biển của Việt Nam, và có lẽ chính vì lẽ đó, Chính phủ Việt Nam chưa quyết định tham gia cùng Philippines,"Sợ rằng, e ngại rằng nếu tham gia cùng với Philippines, rất có thể thúc đẩy nhanh việc xâm lấn của Trung Quốc xuống phía Nam, vào các vùng biển của Việt Nam.
"Và hy vọng quan hệ song phương tốt đẹp có thể giúp cho được việc Trung Quốc sẽ không có những hành động xâm chiếm vùng biển của Việt Nam.
"Thế nhưng rất tiếc, thực tế cuộc sống đã cho thấy tính toán đó đã sai lầm. Trung Quốc không bao giờ từ bỏ mưu toan và ý đồ bá chủ cũng như các bước đi của họ tiếp theo để xâm lấn, thôn tính xuống phía Nam Trường Sa và ở trong Biển Đông."
 
Thế nhưng rất tiếc, thực tế cuộc sống đã cho thấy tính toán đó đã sai lầm. Trung Quốc không bao giờ từ bỏ mưu toan và ý đồ bá chủ cũng như các bước đi của họ tiếp theo để xâm lấn, thôn tính xuống phía Nam Trường Sa và ở trong Biển Đông"
PGS. TS. Hoàng Ngọc Giao
Ông Giao nói: "Ở thời điểm này, trước tình hình như thế, tôi hy vọng Chính phủ Việt Nam sẽ có một quyết đoán, có một quyết định cùng với Philippines, hợp tác với Philippines, trong vụ kiện mà Philippines đã đưa ra trước trọng tài quốc tế
"Theo tôi, đấy cũng là một động thái về mặt pháp lý có thể nói là rất cần thiết để tăng cường sức mạnh trong việc đẩy lùi giàn khoan Hải Dương 981 ra khỏi vùng biển của Việt Nam, cũng như đối phó lại với những hành vi xâm chiếm của Trung Quốc."
Gần đây, một số nhà quan sát châu Á quốc tế cũng bày tỏ quan ngại về động thái của Trung Quốc xung quanh vụ giàn khoan ở Hoàng Sa. Hôm 23/5, GS. Jean-Francois Huchet, nhà nghiên cứu Trung Quốc đương đại từ Viện INALCO, Paris nói với BBC rẳng Trung Quốc có thể đang mắc 'sai lầm'.
Trung Quốc có thể đang phạm một sai lầm khi họ đang muốn bước đi quá nhanh trong vấn đề này"-GS. Jean-Francois Huchet
Ông nói: "Trung Quốc hiện nay đang muốn mở rộng vùng ảnh hưởng của mình và đẩy lui, đẩy hẳn Hoa Kỳ ra khỏi châu Á, để họ có thể thống lãnh khu vực, không chỉ về mặt kinh tế như trong 20 năm trở lại đây, mà còn thống trị về mặt quân sự và bảo vệ các nguồn năng lượng.
"Cho nên đây không chỉ là vấn đề về dầu lửa, câu chuyện đi xa hơn thế rất nhiều, thế nhưng Trung Quốc có thể đang phạm một sai lầm khi họ đang muốn bước đi quá nhanh trong vấn đề này."
Còn một nhà nghiên cứu khác, TS. Jean-Francois Sabouret, nguyên Giám đốc Mạng lưới Châu Á (Réseau Asie) từ Paris cho rằng Trung Quốc có thể sẽ lấn tới trong vụ giàn khoan nếu Việt Nam 'đơn độc':
"Nếu họ, Trung Quốc thấy Việt Nam có sự hậu thuẫn, chẳng hạn được sự bảo vệ rõ ràng từ Nga hay Mỹ, thì có lẽ họ còn phải nghĩ lại, nhưng nếu Việt Nam hoàn toàn đơn độc, thì thế nào?
"Việt Nam nên khẩn trương chuẩn bị một kịch bản ứng phó xung đột chớp nhoáng, thậm chí là chiến tranh," nhà nghiên cứu nói với BBC.

Mỹ, Nhật lên tiếng sau vụ đâm tàu

BBC-06:23 GMT - thứ tư, 28 tháng 5, 2014

Giới quan sát lo ngại những vụ xung đột liên tục sẽ dẫn đến thiệt hại về nhân mạng

Hoa Kỳ và Nhật Bản vừa lên tiếng bày tỏ quan ngại sau vụ va chạm gần giàn khoan của Trung Quốc trên vùng biển tranh chấp khiến một tàu cá của Việt Nam bị chìm.
Đài truyền hình Nhật NTDTV dẫn lời Bộ trưởng Quốc phòng Nhật Itsunori Onodera nói: "Chúng tôi thấy việc tàu cá Việt Nam có thể bị nhiều tàu cá Trung Quốc bao vây và đâm chìm là điều báo động."

"Những việc như thế này xảy ra ngay cả khi tàu hải giám của Trung Quốc đang có mặt trong khu vực không phải là một tín hiệu tốt cho tương lai," ông nói với các phóng viên.
"Có lẽ bạn thực sự phải đặt câu hỏi rằng vì sao một chiếc tàu cá, với nhiệm vụ đơn giản là đánh bắt cá, lại đâm một tàu khác như vậy."

"Thật không thể tin nổi."

Trong khi đó, Chánh văn phòng Nội các Nhật Yoshihide Suga cũng được NTDTV dẫn lời nói:
"Bất chấp việc nhiều nước đã yêu cầu Trung Quốc phải tránh có những hành động đơn phương, nước này vẫn tuyên bố sẽ tiếp tục hoạt động khoan thăm dò."
"Tôi cho rằng đây là một quyết định rất đáng tiếc."
Còn hãng thông tấn AFP dẫn lời ông Suga nói rằng việc Trung Quốc đâm chìm tàu Việt Nam là 'một hành động vô cùng nguy hiểm'.
"Có lẽ bạn thực sự phải đặt câu hỏi rằng vì sao một chiếc tàu cá, với nhiệm vụ đơn giản là đánh bắt cá, lại đâm một tàu khác như vậy."-Bộ trưởng Quốc phòng Nhật Itsunori Onodera"

"Điều quan trọng lúc này là các bên liên quan phải tránh có các hành động đơn phương và xử lý các vấn đề một cách bình tĩnh, theo đúng luật pháp quốc tế," ông nói thêm.

Hoa Kỳ thận trọng

Phía Hoa Kỳ tỏ ra thận trọng hơn trước sự việc xảy ra hôm 26/5.

Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ Jen Psaki được hãng thông tấn AP dẫn lời trong buổi họp báo thường nhật hôm 27/5 cho biết Hoa Kỳ chưa thể kiểm chứng độc lập về thông tin một tàu cá Việt Nam bị đâm chìm.

 
Công ty dầu khí Trung Quốc hôm 27/5 thông báo đã hoàn thành giai đoạn khoan đầu tiên

Tuy nhiên bà cũng bày tỏ quan ngại trước "những hành động nguy hiểm và sự khiêu khích của các tàu Trung Quốc đang hoạt động trong khu vực tranh chấp."
"Chúng tôi tiếp tục kêu gọi tất cả các bên liên quan kiềm chế và thực hiện các bước nhằm tháo gỡ căng thẳng", bà nói thêm.
Trong khi đó, truyền thông Việt Nam dẫn lời một thượng nghị sĩ Mỹ nói việc Trung Quốc đâm chìm tàu Việt Nam là hành động “cực kỳ nguy hiểm, đơn phương của Trung Quốc”.
Thượng nghị sĩ Ben Cardin thuộc Đảng Cộng hòa đang thăm Việt Nam và tổ chức họp báo hôm 28/5.

Báo Tuổi Trẻ tường thuật lời nói của ông Cardin: “Riêng về việc Trung Quốc đâm chìm tàu Việt Nam, đây là hành động cực kỳ nguy hiểm, đơn phương của Trung Quốc.
Vụ việc này xảy ra cách giàn khoan nhiều dặm. Đó là hành vi nguy hiểm không thể chấp nhận được, gây thiệt hại lớn về tài sản và tính mạng. Cần phải làm sao xuống thang tình hình.”
Phát biểu trong chuyến thăm một căn cứ hải quân hôm 27/5, Tổng thống Philippines Benigno Aquino III nói nước của ông đang tiếp tục quan sát diễn biến xung đột hiện nay giữa Việt Nam và Trung Quốc.

"Chúng tôi đang cố gắng rút ra bài học đúng cho mình."-Tổng thống Philippines Benigno Aquino"
"Chúng tôi đang cố gắng rút ra bài học đúng cho mình," ông được hãng thông tấn AP dẫn lời nói.
"Quân đội, lực lượng tuần duyên và các cơ quan khác của chúng tôi đã xem xét những kịch bản có khả năng để có những phản ứng phù hợp".

Trước đó, hôm 26/5, Việt Nam tố cáo tàu Trung Quốc đã đâm chìm một tàu cá Đà Nẵng ở khu vực Nam Tây Nam giàn khoan Hải Dương 981, cách giàn khoan này 17 hải lý.
Trong khi đó, ngày 27/5, Tân Hoa Xã xác nhận tàu cá Việt Nam bị chìm, nhưng nói vụ việc xảy ra vì tàu Việt Nam "tiến hành quấy nhiễu và đâm va tàu cá của thành phố Đông Phương, tỉnh Hải Nam”.
"Các ngư dân trên tàu đã được cứu kịp thời," Tân Hoa Xã nói.
Tân Hoa Xã cáo buộc từ ngày 2/5, Việt Nam "nhiều lần cử các loại tàu tiến hành quấy nhiễu việc tác nghiệp khoan thăm dò” của công ty Trung Quốc.
Hôm 26/5, truyền thông trong nước cũng đưa tin về vụ một tàu cá từ huyện đảo Lý Sơn bị "một tàu lạ" đâm chìm khi đang đánh bắt trên ngư trường Vịnh Bắc Bộ khiến thuyền trưởng Đặng Văn Giùm tử nạn, một thuyền viên mất tích.