Tuesday, February 4, 2014

TRUNG QUỐC: MỐI NGUY KHÓ LƯỜNG CỦA CÁC QUỐC GIA VEN BIỂN ĐÔNG

DVO- 05/02/2014     -Phải chăng tàu sân bay Trung Quốc cũng được bảo kê nên có quyền dọa nạt, tự tung tự tác sẵn sàng tấn công các quốc gia nhỏ khác mà không sợ bị giáng trả?

Tàu sân bay là biểu tượng sức mạnh quốc gia. Không có tàu sân bay, lực lượng hải quân chỉ được gọi là hải quân bờ, bởi, thiếu không quân tham gia, hỗ trợ, thì tàu mặt nước không thể tác chiến xa bờ. Với Trung Quốc, hơn nữa, nó còn là công cụ để thực hiện giấc mơ “cường quốc biển”…Chính vì thế, tàu sân bay là lực lượng luôn luôn mang tính chiến lược, có tính răn đe mạnh của bất kỳ quốc gia nào sở hữu nó.
Tàu sân bay Trung Quốc ra đời trong bối cảnh ngặt nghèo, không thuận lợi.

Về tương quan lực lượng. Đó là khi các hạm đội tàu sân bay Mỹ vượt trội về số lượng và chất lượng, đương nhiên, vượt trội cả bề dày về kinh nghiệm tác chiến, vận hành...đang hoành hoành chiếm thế thượng phong trên Thái Bình Dương.

Về thách thức. Nếu như Liên Xô ngày xưa và Trung Quốc ngày nay tìm trăm phương ngàn kế để tiêu diệt hạm đội tàu sân bay Mỹ vẫn chưa có kết quả, thì tàu sân bay Trung Quốc phải hoạt động trong một khu vực “ao nhà Biển Đông” mà có rất nhiều loại vũ khí tiên tiến, lợi dụng vào địa thế, có khả năng sẽ bị tiêu diệt là rất cao.
Cho nên, nói rằng, Trung Quốc đóng tàu sân bay để cùng với thực lực hiện có, đối đầu với Mỹ và liên minh quân sự Mỹ-Nhật Bản, đánh bật dược Mỹ ra khỏi chuỗi đảo thứ nhất là duy ý chí bởi đây là mục tiêu không thể đạt được trong một tương lai gần và khó đoán định trong một tương lai xa.
Thế nhưng, Trung Quốc vẫn đang gấp rút huấn luyện trên tàu sân bay Liêu Ninh, đóng thêm tàu sân bay mới…phải chăng các nhà quân sự Trung Quốc đang chạy đua tàu sân bay với Mỹ?
Dĩ nhiên họ chẳng dại dột như vậy. Trung Quốc cần phải có tàu sân bay để nhằm vào mục tiêu khác: Các nước nhỏ , yếu, ven Biển Đông.

Khu nhận diện phòng không (ADIZ) trên Biển Đông

Nhật Bản tung tin Trung Quốc đang chuẩn bị tuyên bố khu ADIZ trên Biển Đông. Mỹ hứng tin và cảnh cáo “nếu Trung Quốc lập ADIZ trên Biển Đông, Mỹ sẽ thay đổi tư thế quân sự”. Trung Quốc thì tuyên bố mập mờ rằng “ Lập ADIZ trên Biển Đông là quyền của Trung Quốc, nhưng hiện tại thì chưa vì chưa có dấu hiệu an ninh Trung Quốc bị thách thức từ hướng Biển Đông”…
Như vậy trên Biển Đông, có 3 “ông lớn” đã gửi đến cho các nước trong khối ASEAN những thông điệp ý nghĩa khác nhau.
Nhật Bản thì cảnh báo cho các nước ven Biển Đông hành động sắp tới của Trung Quốc để các “tiểu quốc” hiểu rằng, họ và Nhật Bản đều là “nạn nhân” nên phải có biện pháp…với ai đó để ngăn chặn, đối phó.
Mỹ thì sẽ sẵn sàng cho việc bày binh bố trận lực lượng quân sự trên Biển Đông.
Trung Quốc thì đe dọa ASEAN, nếu như các anh phản đối lệnh cấm đánh bắt cá của tỉnh Hải Nam ban hành, tức là thách thức đến an ninh, chủ quyền Trung Quốc thì sẽ lập vùng ADIZ. sau khi hạm đội tàu sân bay chính thức đi vào hoạt động…
Khối ASEAN nói chung và các nước ven Biển Đông nói riêng đã trở thành tâm điểm của một cuộc chiến địa chính trị trên khu vực châu Á-TBD. Mỹ và Nhật Bản dùng con bài Trung Quốc để lôi kéo, còn Trung Quốc thì trấn an và đe dọa và chắc chắn việc lập ADIZ trên Biển Đông của Trung Quốc chỉ là vấn đề khi nào thì hạm đội tàu sân bay đủ điều kiện hoạt động mà thôi.
Sức răn đe của tàu sân bay Trung Quốc là gì?
Có thể thấy, dù Trung Quốc có làm căng với Nhật Bản, khiêu khích Mỹ như thế nào chăng nữa thì Biển Đông mới là mục tiêu chiến lược hàng đầu của Trung Quốc.
Với Biển Đông, Trung Quốc bảo vệ được tuyến đường hàng hải sống còn của mình đồng thời khống chế được Nhật Bản. Đây là nước cờ đầu tiên trước khi đi nước cờ thứ hai là chọc thủng chuỗi đảo bao vây trên biển Hoa Đông của Mỹ và Nhật Bản.
Bất luận thế nào, khi cái gọi là “con đường sinh mệnh” của Trung Quốc mà chưa nắm được thì không bao giờ Trung Quốc gây chiến với Mỹ và Nhật Bản trên biển Hoa Đông.
Trên Biển Đông, khi hạm đội tàu sân bay hoạt động, lập tức Trung Quốc sẽ tuyên bố vùng ADIZ. Đến đây có 2 lựa chọn cực kỳ khó khăn cho các quốc gia ven Biển Đông.
Một là, nếu chấp nhận vùng ADIZ của Trung Quốc thì coi như công nhận chủ quyền của Trung Quốc hoặc nếu không chấp nhận thì phải đối đầu với tàu sân bay của Trung Quốc.
Hai là, với vũ khí tiên tiến hiện đại, lại có ưu thế về địa lý, các quốc gia ven Biển Đông có đủ khả năng để đánh chìm tàu sân bay Trung Quốc, nhưng vấn đề đặt ra là bao giờ và khi nào thì tiến hành?
Nếu bắn chìm nó, tức làm cho hơn 5000 con người phải ôm phao cứu sinh và một tài sản khổng lồ cùng với biểu tượng sức mạnh Trung Quốc chìm xuống đáy biển là sẵn sàng chấp nhận một cuộc chiến toàn lực với Trung Quốc.
Nếu không thì có nghĩa là tàu sân bay Trung Quốc được an toàn, nó sẽ hung hăng phát huy hết sức mạnh, lợi thế, lúc đó, Trung Quốc sẽ áp đặt được những gì họ muốn. Và Biển Đông thành “ao nhà” chỉ là vấn đề thời gian.
Như vậy, sức răn đe của tàu sân bay Trung Quốc có tính răn đe “kép”. Nghĩa là không phải từ chính nó mà từ kẻ “bảo kê” cho nó, trong khi đó nó vừa là công cụ và phương tiện cực kỳ nguy hiểm, lợi hại để đạt được mục đích.
Tàu sân bay Liêu Ninh-biểu tượng sức mạnh Trung Quốc
Tàu sân bay Liêu Ninh-biểu tượng sức mạnh Trung Quốc
Xung đột quân sự xảy ra, nếu Trung Quốc đưa hạm đội tàu sân bay vào tham chiến, Nhật Bản và Mỹ nếu có điều kiện sẽ không một chút do dự bắn chìm ngay tức khắc, bởi vì Mỹ và Nhật Bản cũng là nước lớn. Nói nôm na là kẻ “bảo kê” cho tàu sân bay ô chưa to bằng Mỹ hay Nhật Bản. Cho nên, mục tiêu tác chiến chủ yếu của tàu sân bay Trung Quốc không phải là Mỹ và Nhật Bản. Nhưng với các quốc gia nhỏ thì sự lựa chọn hết sức khó khăn.
Dấu mốc lịch sử

Với Việt Nam, lịch sử cho thấy đã không dưới một lần kẻ thù buộc Việt Nam phải có những lựa chọn khắc nghiệt như vậy.

Ngày 2/8/1964 Mỹ điều tàu khu trục Maddox khiêu khích trắng trợn Việt Nam tại vịnh Bắc Bộ buộc Việt Nam phải đứng trước 2 lựa chọn khắc nghiệt: Hoặc là đụng vào nó là chấp nhận một cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân vô cùng khốc liệt của Mỹ vào miền Bắc hoặc sợ, thì chủ quyền Việt Nam bị xâm hại.
Cuối cùng cụm từ “sự kiện vịnh Bắc Bộ” đã xuất hiện trong lịch sử chiến tranh của Mỹ và Việt Nam mà thế giới không lạ lẫm. Việt Nam chọn chủ quyền và sẵn sàng chấp nhận lời đe dọa và hành động của Mỹ sau đó sẽ biến miền Bắc Việt Nam trở lại “thời kỳ đồ đá”.

Mỹ nói là Mỹ làm và nếu không có hơn 4000 máy bay các loại của Mỹ bị bắn hạ với một “khách sạn Hinton Hà Nội” luôn “hiếu khách” thì tình hình đã rất khác với mọi hình dung, tưởng tượng!
Ngày nay cũng vậy thôi, Việt Nam chọn chủ quyền, vì chủ quyền, Việt Nam dám đánh bất cứ kẻ thù nào xâm phạm.

Lê Ngọc Thống

“Mùa chặt chém” của quán vỉa hè

Thứ tư 05/02/2014 07:39

ANTĐ - Dịch vụ ăn uống tăng giá chóng mặt, mất vệ sinh, thậm chí thực phẩm lưu cữu từ trong năm… là thực tế mà không ít người gặp phải trong những ngày đầu xuân.

Các quán ăn vỉa hè ngày Tết khá đông khách, giá tăng cao so với ngày thường
Bấm bụng trả tiền
Ngay từ đêm 30 Tết, các hàng quán trên phố cổ như Đường Thành, Hàng Nón, Hàng Mành, Hàng Điếu, Hàng Gà, Tạ Hiện,... đã mở cửa để phục vụ khách. Với những người bán hàng, Tết là dịp để họ thả sức tăng giá, thậm chí gấp đôi so với ngày thường. Nhiều thực khách sau khi thưởng thức chỉ còn cách bấm bụng chi tiền, dù biết hết sức vô lý. Chị Nguyễn Phương Anh, ở phường Giảng Võ, quận Ba Đình cho hay, vào ngày mùng 5 Tết, sau khi cùng chồng và các con du xuân, do quá ngán với những món ăn nhiều thịt và chất béo trong dịp Tết nên cả gia đình ghé vào một quán bún riêu để thay đổi khẩu vị. Đến khi trả tiền, chị Phương Anh sững sờ khi nghe người bán hàng thản nhiên tính tiền 4 bát bún riêu cộng với 4 cốc trà đá, tổng cộng 320.000 đồng. Nghĩ mình nghe nhầm, chị Phương Anh hỏi lại thì người bán hàng tỏ vẻ khó chịu: “Giá thực phẩm, giá thuê người làm tăng lên, tăng giá là chuyện đương nhiên...”. Mặc dù biết trước vào ngày này, các quán ăn vỉa hè được dịp “chém” nhưng chị không nghĩ họ lại tăng nhiều đến vậy. “Dù biết mình bị chặt đẹp nhưng sợ cãi cọ xui xẻo đầu năm nên đành bấm bụng trả tiền” - chị Phương Anh chép miệng.

Dọc nhiều tuyến phố, những quán ăn vỉa hè bán phở, bún, miến trong suốt những ngày Tết đã được người bán tăng giá từ 20.000 - 25.000 đồng/bát lên 50.000 - 70.000 đồng/bát. Lý giải cho mức giá “phi mã” này, một số người bán hàng cho hay, bên cạnh giá thực phẩm tăng, thì việc mọi người được nghỉ ngơi trong khi họ vẫn miệt mài phục vụ khách nên giá tăng so với ngày thường cũng là điều dễ hiểu. Theo khảo sát, không nhiều quán ăn có tiêu chí “giữ nguyên giá - chất lượng” như những ngày thường. Ngoài bún, phở, miến thì bánh cuốn cũng là món ăn thu hút khá nhiều khách hàng và giá cũng tăng gấp đôi so với thời điểm trước Tết.

Điều đáng nói, mặc dù được người bán hàng lý giải do giá thực phẩm tăng nên giá bán tăng, nhưng trên thực tế hầu hết những loại thực phẩm dùng để chế biến đều được họ mua từ trong năm, với giá dành riêng cho nhà hàng nên không hề có chuyện tăng giá. Cũng bởi thực phẩm lưu cữu lâu ngày, thậm chí không được bảo quản hợp lý nên dù đã được “phù phép” bằng gia vị song không ít khách hàng phàn nàn chỉ cần ăn là phát hiện ra ngay. Thêm vào đó, do đông khách lại không đủ người phục vụ nên bát đĩa được nhân viên các cửa hàng rửa qua loa, đại khái, thậm chí chậu nước rửa bát đục ngầu vẫn được họ tráng đi, tráng lại, không buồn thay chậu nước mới.

Đỏ mắt tìm… cơm hộp
Cho đến thời điểm này, chỉ có các quán ăn vỉa hè mở cửa phục vụ người dân đi chơi Tết còn tại những địa điểm tập trung nhiều văn phòng, công ty, hầu hết những quán ăn cố định vẫn chưa mở cửa trở lại. Do vậy, đối với những người phải đi làm sớm, từ mùng 5- 6 Tết thì rất khó khăn để tìm được quán ăn trưa ngon, bổ, rẻ. Đi làm từ ngày mùng 5 Tết, chị Nguyễn Thu Thủy, nhân viên ngân hàng trên phố Ngô Quyền, quận Hoàn Kiếm cùng các đồng nghiệp gọi hàng chục cuộc điện thoại đến các dịch vụ đặt cơm hộp, nhưng không thấy hồi âm, nếu có người nhấc máy cũng chỉ nhận được những câu trả lời do chưa có người làm, người giao hàng nên phải ngoài rằm tháng Giêng mới kinh doanh trở lại.

Để giải quyết được khó khăn trong việc tìm chỗ ăn trưa sau Tết, và quan trọng hơn để tránh được việc bị ngộ độc do ăn phải thực phẩm không hợp vệ sinh, không ít người đã chọn giải pháp mang cơm hộp, mì bát,...đi làm. Theo bác sĩ Trần Thị Thu Hà, bệnh viện Bạch Mai, thời tiết năm nay nắng đẹp, thuận lợi cho người dân đi chơi Tết nhưng đây cũng là thời điểm dễ gây ngộ độc thực phẩm. Bởi, môi trường nóng, ẩm là yếu tố thuận lợi để các vi khuẩn, độc tố của vi khuẩn sinh sôi và phát triển nhanh hơn. Đặc biệt ở các loại thực phẩm có nhiều dầu, đạm như thịt, cá, hải sản… nếu không được chế biến kỹ, nấu xong không ăn ngay, không được bảo quản cẩn thận… thì nguy cơ gây ngộ độc càng cao. Chưa nói đến việc các quán ăn sử dụng thực phẩm lưu cữu từ trong năm, không đảm bảo vệ sinh,... sẽ gây ra tác hại khôn lường cho người dùng. Do vậy bác sỹ Hà đưa ra lời khuyên, nếu nhỡ nhàng phải ăn bên ngoài, mọi người nên chọn quán ăn quen, hợp vệ sinh. Với những người phải đi làm sớm sau Tết nên chủ động chuẩn bị bữa ăn trưa cho mình, tránh ảnh hưởng đến sức khỏe trong những ngày đi làm đầu năm.
Ngọc Bảo

Thư khiếu nại về việc ngăn chặn công dân Phạm Chí Dũng xuất cảnh

Kính gửi: Ngài Nguyễn Tấn Dũng - Thủ tướng chính phủ
Đồng kính gửi: Ngài Phạm Bình Minh - Phó thủ tướng chính phủ kiêm Bộ trưởng ngoại giao
Ngài Trần Đại Quang - Bộ trưởng Bộ Công an

Thành phố Hồ Chí Minh ngày 5 tháng 2 năm 2014

Nhà báo độc lập Phạm Chí Dũng
Sau vụ việc bị ngăn chặn xuất cảnh ở sân bay Tân Sơn Nhất vào ngày 1/2/2014, cho đến giờ tôi vẫn không dám thật sự nghi ngờ rằng chính những người trong chính giới cấp cao của Chính phủ Việt Nam đã tìm cách “dập tắt tiếng nói” của tôi - như cụm từ mà UN Watch (Tổ chức giám sát nhân quyền thuộc Liên hiệp quốc) lên án một ngày sau khi xảy ra vụ việc trên. 

Dù vậy, một số dư luận trong giới quan sát độc lập và cả “không tự do” ở Việt Nam lại cho rằng không loại trừ khả năng đã có sự can thiệp vừa thầm lặng vừa thô lỗ của một thế lực đang tồn tại ngay trong lòng đảng và nhà nước cầm quyền - nhóm những người mà có thể bởi những nguyên do đủ tế nhị và không thiếu phức hợp về chính trị đối nội lẫn nỗi ám ảnh tốt đẹp khôn nguôi từ một chính thể phương Bắc, đã thường tìm cách dập tắt tiếng nói của nhóm người đang mong muốn một tinh thần xích lại hơn nữa với phương Tây. Thậm chí trong nhận thức của “nhóm người phương Bắc”, một thứ định chế như Hiệp định đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương (TPP) là không cần thiết hoặc phải bị ngăn cản. 
Vụ việc ngăn cản việc xuất cảnh đối với tôi lại xảy ra ngay trước thềm cuộc Kiểm điểm định kỳ phổ quát về nhân quyền Việt Nam (UPR) diễn ra tại Genève vào ngày 5/2/2014. Bên lề UPR, tôi được tổ chức UN Watch mời với tư cách diễn giả và đóng góp tham luận - hoạt động được xem như một trong những cơ sở để Hội đồng nhân quyền Liên hiệp quốc xem xét bản báo cáo “thực hiện đến 80% yêu cầu về nhân quyền của Liên hiệp quốc” do Bộ trưởng ngoại giao Phạm Bình Minh tuyên bố, cũng như những biện giải “luôn chăm lo và bảo đảm quyền con người” do Nhà nước Việt Nam tuyên ngôn.
Dưới đây là những nội dung chính của Thư khiếu nại này:

I. Bất chấp những vận động nhiệt tình và thiện ý của Văn phòng Cao ủy nhân quyền Liên hiệp quốc, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ và cộng đồng quốc tế đối với Bộ Ngoại giao Việt Nam, chuyến đi Genève của tôi vào ngày 1/2/2014 từ sân bay Tân Sơn Nhất đã bị Cục quản lý xuất nhập cảnh thuộc Bộ Công an và cơ quan an ninh thuộc Công an TP. Hồ Chí Minh ngăn chặn, đồng thời lập biên bản thu giữ hộ chiếu của tôi.

Dù với lý do “kiểm tra nhân thân trên hộ chiếu”, song các sĩ quan an ninh cửa khẩu sân bay lại ngay lập tức dùng vũ lực tước máy điện thoại di động của tôi. Sau đó, trong một phòng cách ly, một sĩ quan an ninh mặc thường phục tự giới thiệu là Đức, cán bộ của Phòng PA81 thuộc Công an TP.HCM đã thông báo miệng với tôi rằng tôi không được xuất cảnh vì “hội thảo ở Thụy Sĩ bị các thế lực thù địch lợi dụng nhằm xuyên tạc và nói xấu nhà nước Việt Nam”. 

Tôi đã kinh ngạc với bản thông báo miệng như trên. Tôi thật sự nghi ngờ về việc viên sĩ quan an ninh này không biết đến sự kiện Nhà nước Việt Nam vừa được chấp thuận tham gia vào Hội đồng nhân quyền Liên hiệp quốc với tỷ lệ phiếu thuận áp đảo đến 96% - như một quốc gia được cộng đồng tiến bộ trên thế giới kỳ vọng gần như tuyệt đối vào điều được coi là “lòng thành chính trị”. 

Trước hành động ngăn cản vô lý của cơ quan an ninh, tôi cũng không thể rũ bỏ được tâm trạng nghi vấn về điều được coi là “không giả dối” liên quan đến 14 điều cam kết mà Nhà nước Việt Nam đã nêu ra trước Đại hội đồng Liên hiệp quốc vào tháng 8/2013 và công cuộc UPR đầu tháng 2/2014. 

Một trong những yêu cầu chủ chốt của Hội đồng nhân quyền Liên hiệp quốc đối với UPR nhân quyền Việt Nam lại là sự tham gia của xã hội dân sự, và Liên hiệp quốc hoàn toàn khuyến khích các nhóm dân sự và các cá nhân Việt Nam như tôi tham dự cuộc kiểm điểm mang tính thành thực mà không phải là giả dối này.

Nhưng thực tế về quyền xuất cảnh ở Việt Nam lại quá dị biệt với những lời cam kết của nhà nước này về quyền đi lại công dân. Vào giữa tháng Giêng năm 2014, một blogger ở TP. Hồ Chí Minh là Thành Nguyễn đã bị cơ quan an ninh cửa khẩu ngăn chặn chuyến bay tới Mỹ, dù blogger này đã được tòa lãnh sự Hoa Kỳ cấp visa. Theo blogger Thành Nguyễn, phía cơ quan an ninh chỉ đưa ra một lý do rất mơ hồ trong việc ngăn chặn là “bảo vệ an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội’.

Theo thống kê sơ bộ của giới hoạt động dân chủ và nhân quyền ở Việt Nam, từ đầu năm 2013 đến nay đã có khoảng 10 trường hợp cá nhân bị ngăn chặn xuất cảnh tại các cửa khẩu, tương tự vụ việc của tôi.

Cũng có thông tin trong giới hoạt động dân chủ và nhân quyền ở Việt Nam cho biết hiện đang tồn tại một danh sách lên đến khoảng 2,000 người bị cơ quan an ninh cấm xuất cảnh, trong đó nhiều trường hợp bị ngăn chặn thuộc về các cựu tù nhân lương tâm và những người bất đồng chính kiến.

Ngày 3/2/2014, Hội những người bị cấm xuất cảnh đã được thành lập với tư cách một nhóm phản biện độc lập ở Việt Nam. Bản danh sách chưa đầy đủ mà hội này cung cấp cho thấy có ít nhất 40 người mà vì lý do chính trị và bất đồng chính kiến đã bị cơ quan an ninh Việt Nam không cho xuất cảnh hoặc bị thu giữ hộ chiếu…

II. Ngay trước thềm UPR diễn ra ngày 5/2/2014 tại Thụy Sĩ, hành động các cơ quan an ninh Việt Nam ngăn chặn việc xuất cảnh đối với tôi đã vi phạm nghiêm trọng quyền tự do đi lại của công dân - được ghi nhận tại điều 12 của Công ước Quốc tế về các quyền dân sự và chính trị mà Việt Nam đã tham gia từ năm 1982; vi phạm nghiêm trọng Điều 23 của Hiến pháp Việt Nam có hiệu lực từ ngày 1/1/2014 mà theo đó “Công dân có quyền tự do đi lại và cư trú ở trong nước, có quyền ra nước ngoài và từ nước ngoài về nước. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”.

Với tư cách một công dân, tôi không vi phạm bất cứ quy định nào về pháp luật xuất nhập cảnh ở Việt Nam. Trong khi biên bản của Công an cửa khẩu Tân Sơn Nhất cho rằng “phát hiện ông Phạm Chí Dũng là người chưa được xuất cảnh theo đề nghị của Công an thành phố Hồ Chí Minh”, tôi lại chưa từng được cơ quan an ninh TP.HCM thông báo về cá nhân tôi không được xuất cảnh.

Ngược với Biên bản số 166/BB-A72-TSN ngày 1/2/2014 của Công an cửa khẩu Tân Sơn Nhất viện ra đề nghị của Công an thành phố Hồ Chí Minh không cho tôi xuất cảnh dựa vào Nghị định số 136/2007/NĐ-CP ngày 17/7/2007 của Chính phủ, tôi không hề vi phạm bất kỳ nội dung nào thuộc Điều 21 của Nghị định 136/2007/NĐ-CP, theo đó: “Công dân Việt Nam ở trong nước chưa được xuất cảnh nếu thuộc một trong những trường hợp sau đây:

1. Đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc có liên quan đến công tác điều tra tội phạm.
2. Đang có nghĩa vụ chấp hành bản án hình sự.
3. Đang có nghĩa vụ chấp hành bản án dân sự, kinh tế; đang chờ để giải quyết tranh chấp về dân sự, kinh tế.
4. Đang có nghĩa vụ chấp hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính, nghĩa vụ nộp thuế và những nghĩa vụ khác về tài chính trừ trường hợp có đặt tiền, đặt tài sản hoặc có biện pháp bảo đảm khác để thực hiện nghĩa vụ đó.
5. Vì lý do ngăn chặn dịch bệnh nguy hiểm lây lan.
6. Vì lý do bảo vệ an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội.
7. Có hành vi vi phạm hành chính về xuất nhập cảnh theo quy định của Chính phủ”.

Từ mộc góc nhìn khác, Điểm 3 của Điều 12 của Công ước quốc tế về quyền dân sự và chính trị nêu rõ các quyền này sẽ “không phải chịu bất kỳ hạn chế nào, trừ những hạn chế do luật định và là cần thiết để bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự công cộng, sức khoẻ hoặc đạo đức xã hội hoặc các quyền tự do của người khác, và phải phù hợp với những quyền khác được Công ước này công nhận”. Còn Điều 12 của Hiến pháp quy định “Nước cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam … tuân thủ Hiến chương Liên hiệp quốc và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên…”. 

Như thế, những sự hạn chế quyền tự do đi lại phải do luật định, mà Nghị định 136/2007/NĐ-CP không phải là luật và không thể viện dẫn nghị định này để cản trở tôi hay bất cứ công dân khác nào xuất cảnh.

Ngay giả như có thể áp dụng Nghị định 136/2007/NĐ-CP thì hành động ngăn cản tôi xuất cảnh cũng đã vi phạm thủ tục của chính nghị định đó. Khoản 1 của Điều 22 nghị định trên quy định thẩm quyền quyết định chưa cho công dân xuất cảnh như sau: chỉ có Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, tòa án hay cơ quan thi hành án có thể quyết định chưa cho xuất cảnh theo các khoản 1, 2 và 3 của Điều 21; Bộ trưởng và chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố quyết định chưa cho xuất cảnh theo khoản 4 Điều 21; Bộ trưởng Bộ Y tế theo khoản 5; Bộ trưởng Bộ Công an theo khoản 6; và Thủ trưởng cơ quan Quản lý xuất nhập cảnh - Bộ Công an quyết định chưa cho xuất cảnh đối với những người nêu tại khoản 7 của Điều 21.

Đề nghị của công an thành phố Hồ Chí Minh” như được viện dẫn trong biên bản 166/BB-A72-TSN (đã nêu trên) không phải là quyết định của Công an thành phố Hồ Chí Minh (trong trường hợp này Công an thành phố Hồ Chí Minh cũng không có thẩm quyền ấy mà chỉ Bộ trưởng Bộ công an mới có thẩm quyền). Thế nhưng người ký quyết định chưa cho xuất cảnh trong biên bản trên lại là Thượng tá Phạm Quốc Hùng, Phó trưởng đồn công an của khẩu Tân Sơn Nhất. Do vậy, quyết định nêu trong biên bản 166/BB-A72-TSN là một quyết định hành chính hoàn toàn trái pháp luật.

III. Hành động ngăn chặn xuất cảnh đối với những người như tôi đã làm xấu đi rất nhiều hình ảnh của Nhà nước Việt Nam trong con mắt cộng đồng quốc tế, chứng minh không thể sinh động và cập nhật hơn về việc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam - một thành viên vừa được bầu của Hội đồng nhân quyền Liên Hiệp quốc - lại vừa ngang nhiên vi phạm các cam kết về nhân quyền của Liên hiệp quốc, vi phạm Công ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia, đồng thời vi phạm hiến pháp của chính nhà nước này.

Trong trường hợp này, tôi hoàn toàn có quyền và có thể kiện Công an thành phố Hồ Chí Minh đã phạm pháp vì không cho tôi xuất cảnh. Tôi cũng hoàn toàn có quyền và có thể kiện Cộng Hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ra trước Hội đồng Nhân quyền (HRC) của Liên Hiệp Quốc về sự vi phạm này, tương tự như các vụPeltonen kiện nhà nước Phần Lan (mã số 4922/92) hay vụ Celepli kiện nhà nước Thụy Điển (mã số 456/91)… 

Cũng trong trường hợp này, tôi sẽ yêu cầu HRC xem xét nghiêm minh, yêu cầu Chính phủ Việt Nam nghiêm trị hành vi phạm pháp, tôn trọng công ước quốc tế, tôn trọng hiến pháp của chính nhà nước này và có những biện pháp thích đáng để không xảy ra những vụ phạm pháp tương tự với mọi công dân Việt Nam.

Vụ việc ngăn chặn xuất cảnh đối với tôi lại lồng trong khung cảnh nhiều chủ đề về quyền con người ở Việt Nam về dân sinh, dân quyền và chính trị vẫn còn thụt lùi sâu sắc, bất chấp rất nhiều hứa hẹn “sẽ cải thiện” từ phía một nhà nước Việt Nam đương đại luôn tuyên xưng “của dân, do dân và vì dân”.

Việt Nam đương đại ấy vừa chợt lóe chút hy vọng bởi bản thông điệp đầu năm của Thủ tướng chính phủ với 20 lần từ “dân chủ” được viện dẫn, cùng các khái niệm mang chỉ dấu cải cách nhất thời như “đổi mới thể chế”, “xóa độc quyền”, và đặc biệt là cụm từ “nắm chắc ngọn cờ dân chủ” và “người dân được làm tất cả những gì pháp luật không cấm”.

Nếu những gì được xem là “thành tâm chính trị” cần và phải được thể hiện đúng thời điểm và không còn cơ hội cho sự chậm trễ, thái độ đó cần phải bứt phá và vượt bỏ những rào cản bảo thủ và cực đoan, không để bất cứ một thế lực nào tìm cách ngăn trở con đường dân tộc Việt Nam hội nhập toàn vẹn với thế giới, đặc biệt hòa nhập và hòa giải về các quyền con người.

Hôm nay 5/2/2014, đúng vào ngày cuộc UPR về nhân quyền Việt Nam diễn ra ở Genève, tôi chính thức viết “Thư khiếu nại về ngăn chặn công dân Phạm Chí Dũng xuất cảnh” gửi đến Ngài Nguyễn Tấn Dũng - Thủ tướng chính phủ cùng các cơ quan liên quan là Bộ Ngoại giao và Bộ Công an Việt Nam.

Trên căn bản Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị, 14 điều cam kết của Nhà nước Việt Nam trước Đại hội đồng nhân quyền Liên hiệp quốc, tư cách thành viên Hội đồng nhân quyền Liên hiệp quốc của Nhà nước Việt Nam, Hiến pháp và các văn bản liên quan của Việt Nam về xuất nhập cảnh, tôi đề nghị cá nhân tôi và những trường hợp như tôi phải được Nhà nước Việt Nam giải quyết thủ tục xuất cảnh và nhập cảnh một cách tôn trọng theo các quyền công dân, không bị sách nhiễu hoặc bị xúc phạm bởi bất cứ một hành vi tùy tiện hoặc trái pháp luật nào từ bất cứ cơ quan quản lý nào.

Ngày 5 tháng 2 năm 2014

Phạm Chí Dũng
Nhà báo độc lập
Địa chỉ: 298/4 Nguyễn Trọng Tuyển, Phường 1, quận Tân Bình, TP.HCM

NGÀN NGƯỜI DỰ HỘI TÔN VINH KHÍ THẾ CHIẾN THẮNG NGOẠI XÂM

DVO- 05/02/2014     -Sáng mùng 5 Tết Giáp Ngọ, hàng nghìn người dân trẩy hội gò Đống Đa (Hà Nội) để kỷ niệm 225 năm chiến thắng của vua Quang Trung trước quân xâm lược nhà Thanh.
Hội gò Đống Đa diễn ra hàng năm vào ngày mùng 5 tết Nguyên đán tại gò Đống Đa, phường Quang Trung, quận Đống Đa, Hà Nội. Đây là lễ hội chiến thắng, được tổ chức để tưởng nhớ tới công tích lẫy lừng của vua Quang Trung - người anh hùng trong lịch sử chống giặc ngoại xâm của dân tộc.
Hội gò Đống Đa diễn ra hàng năm vào ngày mùng 5 tết Nguyên đán tại gò Đống Đa, phường Quang Trung, quận Đống Đa, Hà Nội. Đây là lễ hội chiến thắng, được tổ chức để tưởng nhớ tới công tích lẫy lừng của vua Quang Trung - người anh hùng trong lịch sử chống giặc ngoại xâm của dân tộc.

225 năm trước, dưới sự lãnh đạo của người anh hùng áo vải Quang Trung - Nguyễn Huệ tiến quân ra kinh thành Thăng Long, đánh tan 29 vạn quân Thanh.
225 năm trước, dưới sự lãnh đạo của người anh hùng áo vải Quang Trung - Nguyễn Huệ tiến quân ra kinh thành Thăng Long, đánh tan 29 vạn quân Thanh.

Do thời tiết mát mẻ hơn năm trước nên ngay từ sáng sớm đã có hàng nghìn người dân và du khách thập phương đến tham dự lễ kỷ niệm 225 năm chiến thắng Ngọc Hồi - Đống Đa (1789-2014).
Do thời tiết mát mẻ hơn năm trước nên ngay từ sáng sớm đã có hàng nghìn người dân và du khách thập phương đến tham dự lễ kỷ niệm 225 năm chiến thắng Ngọc Hồi - Đống Đa (1789-2014).

Trải qua bao nhiêu mùa lễ hội, hội gò vẫn được duy trì được những nghi lễ truyền thống. Mở đầu là các nghi thức dâng hương, tế lễ, rước kiệu vua Quang Trung, rước rồng lửa của đội tế phường Quang Trung, Trung Liệt (Đống Đa); quận Hai Bà Trưng và Yên Tử (Quảng Ninh).
Trải qua bao nhiêu mùa lễ hội, hội gò vẫn được duy trì được những nghi lễ truyền thống. Mở đầu là các nghi thức dâng hương, tế lễ, rước kiệu vua Quang Trung, rước rồng lửa của đội tế phường Quang Trung, Trung Liệt (Đống Đa); quận Hai Bà Trưng và Yên Tử (Quảng Ninh).

Năm nay, lễ hội gò Đống Đa được sinh động hơn với những màn tái hiện trận đánh lịch sử Ngọc Hồi – Đống Đa.
Năm nay, lễ hội gò Đống Đa được sinh động hơn với những màn tái hiện trận đánh lịch sử Ngọc Hồi – Đống Đa.

Hình ảnh quân Thanh xâm lược hung hãn được tái hiện trên sân khấu
Hình ảnh quân Thanh xâm lược hung hãn được tái hiện trên sân khấu.

Và người anh hùng Quang Trung dẫn đầu đoàn quân áo vải đánh tan đội quân tàn bạo.
Và người anh hùng Quang Trung dẫn đầu đoàn quân áo vải đánh tan đội quân tàn bạo.

Hình ảnh Quang Trung Đại Đế cùng công chúa Ngọc Hân mang cành đào báo tin chiến thắng.
Hình ảnh Quang Trung Đại Đế cùng công chúa Ngọc Hân mang cành đào báo tin chiến thắng.

Những hình ảnh này để lại trong lòng người chảy hội những cảm xúc tự hào về một dân tộc oai hùng, về truyền thống chống giặc ngoại xâm vẻ vang của dân tộc.
Những hình ảnh này để lại trong lòng người chảy hội những cảm xúc tự hào về một dân tộc oai hùng, về truyền thống chống giặc ngoại xâm vẻ vang của dân tộc.
Trống trận Tây Sơn
Trống trận Tây Sơn.

. Biểu diễn võ thuật cổ truyền
Biểu diễn võ thuật cổ truyền.

Dâng hương Quang Trung Đại Đế (Tổng hợp VNE, TTO, KT)

Dâng hương Quang Trung Đại Đế.

Việt Nam bị 'nội công,' 'ngoại kích' về nhân quyền

HÀ NỘI (NV) Tới lượt UN Watch lên tiếng tố cáo Việt Nam ngang nhiên xâm hại nhân quyền. Ðại diện cho tổ chức này kêu gọi Hội Ðồng Nhân Quyền và Cao Ủy Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc lên tiếng.
UN Watch là một tổ chức phi chính phủ, thực hiện công việc giám sát về dân chủ, nhân quyền, hỗ trợ cho Liên Hiệp Quốc.
UN Watch quyết định sẽ tổ chức một hội thảo về “Trách nhiệm của Việt Nam trong vai trò thành viên Hội Ðồng Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc,” ở Geneve, đúng vào thời điểm cộng đồng quốc tế nghe Việt Nam trình bày Báo cáo về nhân quyền, tại cuộc kiểm điểm định kỳ quen được gọi tắt là UPR vào ngày 5 tháng 2 sắp tới.


Ðại diện một số nhóm dân sự tại Việt Nam đang trình bày về thực trạng nhân quyền ở Việt Nam tại Geneve hồi cuối tháng 1, 2014. (Hình: Internet)
UN Watch đã gửi thư mời ông Phạm Chí Dũng, một nhà báo tự do tại Việt Nam, cựu cán bộ Ban An Ninh-Nội Chính của Thành Ủy thành phố Sài Gòn, người từng bị bắt hồi tháng 7 năm 2012, với cáo buộc “âm lưu lật đổ chính quyền,” “tuyên truyền chống nhà nước,” đến tháng 2 năm 2013 được “đình chỉ điều tra,” cuối năm 2013 tuyên bố ly khai Ðảng CSVN. Ông Dũng được mời trình bày một tham luận về “Vai trò của các NGO nhằm thúc đẩy nhân quyền cho Việt Nam.”
Sau khi UN Watch gửi thư mời ông Dũng, Cao Ủy Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc đã gửi công văn cho Bộ Ngoại Giao Việt Nam và đại diện thường trực của chính quyền Việt Nam tại Genève, đề nghị hỗ trợ ông Dũng đến Geneve.
Công văn này nhấn mạnh, một trong những yêu cầu chính đối với Việt Nam tại UPR lần này là sự có mặt của các tổ chức dân sự. Tuy nhiên ông Dũng vẫn không thể xuất cảnh, thậm chí còn bị tịch thu hộ chiếu khi ông đến phi trường Tân Sơn Nhất hôm 1 tháng 2.
UN Watch nhận định, cách hành xử của chính quyền Việt Nam đối với ông Dũng là “thô bạo.” Cũng vì vậy, theo Un Watch, Hội Ðồng Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc và Cao Ủy Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc cần lên tiếng để bảo vệ những người hoạt động cho nhân quyền tại Việt Nam.
Ngoài UN Watch, nhiều tổ chức quốc tế hoạt động cho nhân quyền liên tục hối thúc công đồng quốc tế phải hành động để ngăn chặn tình trạng vi phạm nhân quyền tại Việt Nam.
Ngày 23 tháng 1, trong buổi họp báo để công bố báo cáo về tình trạng nhân quyền toàn cầu, đại diện của tổ chức Quan Sát Nhân Quyền (Human Rights Watch ố HRW), nhấn mạnh, Việt Nam đã qua mặt Miến Ðiện về số tù nhân chính trị và có thể là quốc gia dẫn đầu Ðông Nam Á trong việc đàn áp những người bất đồng chính kiến.
Tuần kế đó, khi công bố một báo cáo khác về nhân quyền, đại diện cho Freedom House - một tổ chức quốc tế cũng hoạt động cho nhân quyền ố nhận định, Việt Nam là trường hợp tiêu biểu cho một quốc gia mà ở đó đàn áp là vấn đề nghiêm trọng, đặc biệt là đàn áp về tự do ngôn luận.
Mới đây, HRW nhấn mạnh, Liên Hiệp Quốc cần tăng áp lực để Việt Nam đưa ra các cam kết có thể chứng thực về việc cải thiện nhân quyền tại buổi kiểm điểm định kỳ về nhân quyền vào ngày 5 tháng 2.
Ðồng hành với các tổ chức quốc tế vừa kể, đại diện một số nhóm dân sự đã tìm cách thoát khỏi Việt Nam để cùng nhau tiếp xúc với chính quyền, quốc hội một số quốc gia nhằm trình bày về thực trạng nhân quyền Việt Nam.
Thành viên của các nhóm dân sự này cũng đã đến Geneve để trình bày thêm với cộng đồng quốc tế trước khi đại diện chính quyền Việt Nam báo cáo về nhân quyền tại Việt Nam theo thủ tục UPR.
Ngoài ra, ngay vào thời điểm này, ông Ðặng Xương Hùng, người từng là vụ phó Vụ Biên Giới phía Tây của Ban Biên Giới, thuộc Bộ Ngoại Giao Việt Nam, sau đó là tham tán công sứ, phụ trách lãnh sự của phái đoàn Việt Nam tại Liên Hiệp Quốc, Tổ chức Thương Mại Thế Giới và các tổ chức quốc tế khác ở Geneva, Thụy Sĩ, trong giai đoạn từ 2008 ố 2012, đã tìm tới Geneve, xin tị nạn chính trị tại Thụy Sĩ.
Tháng 10 năm ngoái, ông Hùng tuyên bố ly khai Ðảng CSVN và bắt đầu tham gia vào cuộc đấu tranh cho dân chủ và nhân quyền tại Việt Nam.
Trong một thư ngỏ gửi các đồng nghiệp cũ sẽ tham dự buổi “Kiểm điểm định kỳ về nhân quyền ở Việt Nam,” ông Hùng khuyên các viên chức ngoại giao Việt Nam đừng làm “những hành động nhỏ nhen mà các bạn vẫn làm lâu nay.”
Qua thư ngỏ của ông Hùng, người ta mới biết, khi thực hiện thủ tục UPR lần đầu hồi năm 2009, phía Việt Nam đã cử người đi xếp hàng sớm để giành chỗ cho những quốc gia “thân hữu” của Việt Nam (Lào, Cuba) trình bày các tham luận nhằm “che chắn” vi phạm nhân quyền của Việt Nam. Hạn chế thời gian góp ý, chất vấn Việt Nam của các quốc gia khác.
Cũng qua thư ngỏ của ông Hùng, người ta mới biết các viên chức ngoại giao của Việt Nam tại Geneve đã đi nhặt hết những tài liệu bất lợi cho Việt Nam về nhân quyền để đem về vứt vào sọt rác.
Áp lực từ bên ngoài có vẻ như đang tác động đến công chúng trong nước. Hôm 2 tháng 2, ông Phạm Bình Minh, phó thủ tướng kiêm ngoại trưởng chủ động lên đài truyền hình quốc gia để giới thiệu về UPR sắp tới.
Ông Minh nói rằng, Việt Nam đã thực hiện được 80% khuyến nghị của cộng đồng quốc tế từ UPR lần đầu (2009) và phân bua “dù có làm tốt đến đâu thì vẫn luôn có những thế lực tìm cách để chỉ trích Việt Nam về nhân quyền,” trong khi “quốc gia nào cũng có vấn đề về quyền con người.” (G.Ð)

Phi trường Tân Sơn Nhất rối loạn vì quá đông

Chờ 1 tiếng rưỡi vẫn chưa ‘check in’
SÀI GÒN (NV) Ðông nghẹt những ngày trước Tết cho đến sau Tết, Tân Sơn Nhất tiếp tục xuất hiện những dòng dài người chờ đợi làm thủ tục lên máy bay. Thời gian kéo dài khiến ai nấy đều mỏi mệt, và bắt đầu xuất hiện tình trạng rối loạn vì máy bay sắp cất cánh mà khách hàng vẫn chưa được “check in.”



Cảnh xếp hàng làm thủ tục lên máy bay tại phi trường Tân Sơn Nhất. (Hình: báo Thanh Niên)

Tại nhà ga nội địa của phi trường Tân Sơn Nhất sáng ngày 4 tháng 2, 2014, tức mùng 5 Tết Giáp Ngọ, rất nhiều khách hàng sốt ruột vì chờ hơn một tiếng đồng hồ vẫn chưa đến lượt làm thủ tục lên máy bay. Khi chỉ còn 10 phút nữa là máy bay cất cánh, một số hành khách đáp chuyến bay đi Phú Quốc đã phải rời bỏ hàng ngũ, cầu cứu nhân viên phi trường. Ðược ưu tiên đi qua cổng kiểm soát, những người này vừa kịp ngồi vào ghế là máy bay cất cánh.
Theo báo Thanh Niên, rất đông hành khách bị kẹt lại Sài Gòn vì không tìm được vé máy bay trở về quê sau Tết. Báo này cho rằng, ga nội địa “đông bất thường” trong ngày mùng 5 Tết vì có quá đông khách lên máy bay vào giờ chót.
Một khách hàng tên Nguyễn Ngọc Thu cho biết, đứng xếp hàng suốt nửa tiếng đồng hồ vẫn không “nhích được một bước nào.” Một số hành khách khác thì nói rằng, đã phải có mặt tại phi trường Tân Sơn Nhất ba tiếng đồng hồ trước giờ bay, mới đủ thời gian đi vào bên trong. Một người đàn ông kể: “Tôi đi Phú Quốc chuyến bay khởi hành lúc 7 giờ sáng, nên từ 3 giờ sáng đã trở dậy để đến 4 giờ sáng có mặt tại sân bay.”
Dư luận cho rằng, chưa bao giờ nhà ga nội địa phi trường Tân Sơn Nhất “căng thẳng” không kém nhà ga quốc tế trong những ngày tết này.

Cũng theo báo Thanh Niên, các con đường dẫn từ các tỉnh vào Sài Gòn cũng dầy đặc xe cộ hôm 4 tháng 2, 2014, tức mùng 5 Tết Giáp Ngọ. Từ ngày này, người dân từ các tỉnh Ðồng Nai, Bình Dương, Bà Rịa-Vũng Tàu, miền Tây... bắt đầu đổ xô về. Vì vậy, hầu hết các quốc lộ chính dẫn vào Sài Gòn hầu như không còn chỗ chen chân. (PL)

Tết: bệnh nhân nhập viện tăng gấp 3, nhiều người trẻ tự tử

05/02/2014 06:00 (GMT + 7)
TT - Số bệnh nhân nhập viện tết này đông gấp ba lần tết 2013. Đặc biệt là bệnh nhân tai nạn giao thông, ngộ độc...
* Nhiều ca tự tử
Theo ông Nguyễn Tiến Quyết - giám đốc Bệnh viện Việt Đức, trong những ngày tết trung bình mỗi ngày có 120 bệnh nhân vào khoa cấp cứu của bệnh viện này, trong đó có nạn nhân tai nạn giao thông, tai nạn do pháo nổ, tai nạn sinh hoạt...
Mới mồng 4 tết, Bệnh viện Việt Đức đã có gần 550 bệnh nhân điều trị nội trú. “Cả 30 ca nặng đang thở máy tại bệnh viện chúng tôi thì có đến 28 ca là tai nạn do va chạm xe máy tại đường liên xã, liên thôn, hỏi thì người nhà nào cũng bảo là bệnh nhân không uống rượu” - ông Quyết cho biết.
Trong khi đó, Trung tâm chống độc Bệnh viện Bạch Mai cũng nhận bốn trường hợp ngộ độc rượu trong hai ngày mồng 2 và mồng 3 tết. Trong đó có ba trường hợp ngộ độc cấp do quá chén, một trường hợp rất nặng là anh P.Đ.C. (32 tuổi, ở Thanh Trì, Hà Nội). Theo lời kể của gia đình, bệnh nhân đã uống rượu các loại rải rác từ 30 tháng chạp đến mồng 2 tết. Khi nhập viện vào chiều mồng 3 tết, bệnh nhân đã ở trong tình trạng máu gần như chuyển thành axit, bệnh nhân suy thận, thở khó rồi chuyển sang thở dốc liên hồi, mất phản xạ và tử vong mồng 4 tết. Bác sĩ Nguyễn Đàm Chính, Trung tâm chống độc Bệnh viện Bạch Mai, cho biết mặc dù chưa có kết quả xét nghiệm nhưng các dấu hiệu lâm sàng cho biết bệnh nhân kể trên bị ngộ độc methanol có trong rượu.
Cũng theo bác sĩ Chính, mặc dù những năm trước, tết nhất người ta thường nghĩ nhiều đến việc vui mừng, rất ít ca tự tử nhập viện, nhưng tết này thì ngày nào cũng gặp những trường hợp vào viện do ngộ độc thuốc diệt cỏ, thuốc trừ sâu... được bệnh nhân dùng để tự tử. Bên cạnh đó là các trường hợp say rượu uống nhầm... dầu hỏa và nước javel tẩy rửa bồn cầu. “Rất nhiều người vào viện do tự tử chỉ 21-22 tuổi, đều uống thuốc trừ sâu hoặc thuốc diệt cỏ loại độc tính cao là Paraquat. Mà khi đã uống loại thuốc diệt cỏ này thì 80-100% tử vong, những người cứu được thì chi phí điều trị rất cao” - bác sĩ Chính cho biết.
Tại TP.HCM, phòng nghiệp vụ y Sở Y tế TP.HCM cho biết thống kê số liệu từ 61 bệnh viện trên địa bàn TP cho thấy trong sáu ngày tết (từ 29 tháng chạp đến hết mồng 4 tết Giáp Ngọ), các bệnh viện đã tiếp nhận khám cấp cứu và điều trị cho 1.466 trường hợp bị tai nạn giao thông, không có tử vong. Trong đó có 115 trường hợp bị chấn thương sọ não.
Trong sáu ngày tết nói trên, các bệnh viện đã tiếp nhận khám cấp cứu, tai nạn tổng cộng 14.169 trường hợp. Trong đó có gần 7.700 trường hợp phải nhập viện điều trị nội trú và các bác sĩ phải vất vả mổ cấp cứu 1.262 trường hợp trong những ngày tết. Đáng lưu ý, việc cấm đốt pháo đã thực hiện từ lâu nhưng vẫn có bốn trường hợp bệnh nhân bị tai nạn do pháo nổ phải đi cấp cứu.
Theo báo cáo của Bộ Y tế, số người nhập viện khám bệnh, cấp cứu, bị tai nạn giao thông hoặc tai nạn pháo nổ vào viện đều tăng mạnh so với tết 2013. Trong đó số người vào viện khám bệnh và cấp cứu tăng gấp ba lần so với tết 2013. Khi đến khoa A9 Bệnh viện Bạch Mai chiều mồng 4 tết, chúng tôi không khỏi bùi ngùi khi người nhà bệnh nhân vẫn phải trải chiếu nằm rất đông hai bên cửa ra vào của khoa, trong khi ngoài phố mọi người vẫn đang trong ngày nghỉ và tấp nập du xuân.
LAN ANH - L.TH.H.
253 người chết vì tai nạn giao thông trong 8 ngày tết
Ủy ban An toàn giao thông quốc gia cho biết trong tám ngày tết (từ 28-1 đến 4-2), cả nước đã xảy ra 530 vụ tai nạn giao thông, làm chết 253 người, bị thương 563 người. So với tám ngày Tết Quý Tỵ 2013 tăng 161 vụ, giảm 56 người chết, tăng 230 người bị thương. Tính riêng mồng 4 tết xảy ra 72 vụ tai nạn giao thông, làm chết 41 người, bị thương 82 người.
Đường bộ là lĩnh vực xảy ra nhiều tai nạn giao thông nhất với 522 vụ, làm chết 246 người. Đường sắt xảy ra 7 vụ, làm chết 6 người, bị thương 1 người. Đường thủy nội địa xảy ra 1 vụ, làm 1 người chết.
Trong tám ngày tết, lực lượng cảnh sát giao thông toàn quốc đã kiểm tra, xử lý 25.865 trường hợp vi phạm trật tự an toàn giao thông, thu nộp Kho bạc Nhà nước gần 11 tỉ đồng.
TUẤN PHÙNG

TRUNG QUỐC ĐƯA CHIẾN HẠM VÀO ẤN ĐỘ DƯƠNG

BẮC KINH, Trung Quốc (AP) - Một hải đội Trung Quốc gồm ba chiến hạm vừa hoàn tất cuộc thao dượt trong vùng Ấn Ðộ Dương và di chuyển về phía Tây Thái Bình Dương. Ðiều này cho thấy khả năng hoạt động rộng khắp của Hải Quân Trung Quốc trong lúc cuộc tranh chấp biển đảo với các quốc gia láng giềng trở nên căng thẳng hơn.




Một chiến hạm mang số 989 của Trung Quốc. (Hình: CCTV)


Ðài truyền hình CCTV của nhà nước Trung Quốc hôm Thứ Ba cho hay hải đội này gồm chiếc Changbaishan, tàu đổ bộ lớn nhất của Hải Quân Trung Quốc, cùng hai khu trục hạm. Nguồn tin này cho hay hải đội đến Ấn Ðộ Dương hôm 29 Tháng Giêng và thực hiện một loạt các cuộc thực tập chống hải tặc, cấp cứu trên biển và đối phó với tai nạn.

Tuy không trực tiếp nhắm vào Ấn Ðộ, cuộc thao dượt cho thấy khả năng đối đầu quân sự của Trung Quốc với các cường quốc Á Châu khác. Ấn Ðộ và Trung Quốc từng giao chiến với nhau do tranh chấp lãnh thổ trên rặng núi Hy Mã Lạp Sơn và Bắc Kinh là một đồng minh thân thiết của Pakistan, địch thủ lâu năm của Ấn Ðộ.


CCTV cho biết hải đội này vượt qua eo biển Lombok gần đảo Bali của Indonesia trước khi quay về hướng Bắc, tới Philippines. Hải đội này dự trù sẽ về bến nhà qua ngả Biển Ðông, nơi Bắc Kinh có tranh chấp với các quốc gia khác, kể cả Philippines và Việt Nam. 

TRẦN THẮNG LỢI..NGUYỄN ÁI QUỐC VÀ "ĐẢNG TA"


Phạm Thị Hoài (Pro&contra) - Tác giả bài “Đảng ta” là Hồ Chí Minh, sử dụng bút danh Trần Thắng Lợi. Nghiên cứu việc ông Hồ sử dụng những bút danh nào vào mục đích nào và thời điểm nào hẳn là việc thú vị. Trong trên dưới 50-60 bút danh, Trần Thắng Lợi chỉ được ông Hồ dùng một lần. Với thời gian, chúng ta đã đủ làm quen với việc ông Hồ không có gì áy náy khi sử dụng một bút danh lạ hoắc để ca tụng bản thân. Mới đây tôi phải bật cười khi đọc tác phẩm Giấc ngủ mười năm [10] của Hồ Chí Minh với bút danh Trần Lực, trong đó ông Hồ cho một nông dân người Nùng tên Nông Văn Minh làm nhân vật xưng tôi viết thư “dâng lên Cụ Hồ để cảm ơn Người và chúc Người mạnh khoẻ“. Té ra chữ Người viết hoa này là sáng tạo của chính Người từ thuở ấy để chỉ riêng Người. Song trong bài “Đảng ta”, Trần Thắng Lợi làm một việc độc nhất vô nhị: Với 8 chữ lạ lùng nhất trong toàn bộ trước tác của Hồ Chí Minh: “ngoài đồng chí Nguyễn Ái Quốc và tôi”, Trần Thắng Lợi tức Hồ Chí Minh đã hiển ngôn rằng mình và Nguyễn Ái Quốc là hai người khác nhau...

*

Bài “Đảng ta” của Hồ Chí Minh [1], đăng trong tập san Sinh hoạt Nội bộ [2] số 13, tháng 1-1949, là một bài báo đặc biệt. Một mặt, nó thường xuyên được các nhà tuyên giáo của Đảng trích dẫn và lấy làm điểm tựa. Thậm chí cụm từ “Đảng ta” từ đây được coi như một phát kiến độc đáo, mặc dù nó đã xuất hiện trong các văn kiện Đảng từ trước 1945 và cũng được chính Hồ Chí Minh dưới bút danh X.Y.Z dùng tràn ngập trong tác phẩm Sửa đổi lề lối làm việc từ năm 1947. Mặt khác, bài báo này chứa đúng 8 chữ mà cho đến nay không một nhà truyền bá lịch sử Đảng nào dám hay muốn đụng vào. Tám chữ lạ lùng này lại nằm trong một đoạn văn cũng gây kha khá rắc rối, khiến bài báo rơi vào số phận kì quặc: vừa bị né tránh vừa được ca ngợi hết lời.

Đoạn đó như sau:

Một nước mà ba đảng cộng sản. Cả ba nhóm đều ngầm hiểu như thế là sai. Quần chúng đều hiểu rằng như thế là không đúng. Cả ba nhóm đều tìm cách để đi đến thống nhất. Nhưng bệnh hẹp hòi và cách làm không khéo, cho nên càng muốn gần nhau, lại càng xa nhau.

Cuối năm 1929, đồng chí Nguyễn Ái Quốc trở lại Tàu, cùng với đại biểu các nhóm khai hội ở Hương Cảng.

Trong 7, 8 đại biểu, ngoài đồng chí Nguyễn Ái Quốc và tôi, nay chỉ còn đồng chí Hồ Tùng Mậu và đồng chí Trịnh Đình Cửu, đồng chí Tản Anh và vài đồng chí nữa đều oanh liệt hy sinh cho Đảng và cho dân tộc lâu trước ngày Cách mạng Tháng Tám.

Để giữ bí mật, các đại biểu khai hội bên sân đá banh của người Tàu. Vừa giả xem đá banh, vừa bàn bạc về Đảng.

Sau cuộc bàn bạc sôi nổi, và sau lời giải thích rõ ràng của đồng chí Nguyễn Ái Quốc, mọi người đều tán thành thống nhất cả ba nhóm thành một đảng.

Thế là Đảng ta chân chính thành lập.

Đó là ngày lịch sử mồng 6-1-1930.”

Hai câu hỏi phiền hà nhất liên quan đến Hội nghị thành lập Đảng đều tập trung trong đoạn văn này. Thứ nhất, thời điểm. Thứ hai, nhân sự.

Về thời điểm, trong “Báo cáo gửi Quốc tế Cộng sản ngày 18-2-1930″ [3], Nguyễn Ái Quốc ghi rõ: “Lập tức tôi đi Trung Quốc, tới đó vào ngày 23-12. Sau đó, tôi triệu tập các đại biểu của 2 nhóm (Đông Dương và An Nam). Chúng tôi họp vào ngày mồng 6-1… Các đại biểu trở về An Nam ngày 8-2“. Trong “Sơ thảo lịch sử phong trào cộng sản Đông Dương” [4] viết năm 1933, Tổng Bí thư thứ ba của Đảng, ông Hà Huy Tập, cũng nhiều lần nhắc chính xác ngày 6 tháng Giêng là ngày diễn ra Hội nghị hợp nhất. Tuy trong “Tư liệu bổ sung về nguồn gốc các tổ chức cộng sản ở Đông Dương” [5] viết trước đó, dưới bút danh Giôdép Marát, ông ghi thời điểm này là tháng 2-1930, song lại có một chú thích của biên tập cho tư liệu này như sau: “Từ giữa năm 1932 đến đầu năm 1933, các tác phẩm của đồng chí Hà Huy Tập đều viết ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam là 3-2-1930. Đến giữa năm 1933, đồng chí đã cải chính lại là 6-1 chứ không phải 3-2.”

Tuy vậy, ngày 3 tháng 2 chứ không phải ngày 6 tháng 1 vẫn được thông qua trong Nghị quyết sửa đổi ngày sinh “cho phù hợp với sự thật” của Đại hội Đảng Toàn quốc lần thứ III ngày 10-9-1960 như sau: “Từ mấy chục năm nay, Đảng ta lấy ngày 6 tháng Giêng dương lịch làm ngày kỷ niệm thành lập Đảng. Nay căn cứ theo các văn kiện và tài liệu lịch sử, thì ngày bắt đầu cuộc Hội nghị hợp nhất để thành lập Đảng là ngày 3-2-1930 dương lịch, tức là ngày 5 tháng 1 theo âm lịch.” [6]

Nếu quả có sự nhầm lẫn kéo dài ba mươi năm, rằng đó là ngày 6 tháng 1 âm, thì phải chuyển thành ngày 4 tháng 2 dương, chứ không thể bỗng nhiên lui xuống, thành ngày 5 tháng 1 âm tức 3 tháng 2 dương được. Cách lí giải âm-dương này không thuyết phục. Rút cuộc thì hội nghị đã kéo dài bao nhiêu ngày và kết thúc vào ngày nào? Năm ngày, từ 03-2 đến 07-2 hay hơn một tháng, từ 06-1 đến 07-1? Và “các văn kiện và tài liệu lịch sử” nào đã dẫn đến “sự thật” đó? Theo ông Nguyễn Minh Cần [7], lí do được đưa ra rất giản dị, vì “các đồng chí Liên Xô cho biết ngày đó mới đúng theo tài liệu lưu trữ của Liên Xô” và ông Hồ Chí Minh ngồi trên chủ tịch đoàn của Đại hội đã gạt phăng, không cho thảo luận về việc sửa đổi ngày thành lập đó. Cùng với “các đồng chí Liên Xô”, dường như lời giải cho câu đố về ngày tháng ấy đã vĩnh viễn bị vùi vào quá khứ. Tất nhiên ngày 6 tháng 1 hay ngày 3 tháng 2 hay một ngày nào khác không khiến Đảng Cộng sản Việt Nam mang một lí lịch ít hay nhiều vẻ vang hơn, song vấn đề thời điểm ngày thành lập cho thấy thái độ dễ dãi, tùy tiện và cả độc đoán của Đảng với chính lịch sử của mình, huống gì với lịch sử chung của dân tộc.

Về nhân sự, “Báo cáo tóm tắt hội nghị” [8] ngày 7-2-1930 ghi rõ ngay ở mục I: “Có mặt: 1.Một đại biểu của Quốc tế Cộng sản; 2. Hai đại biểu của Đông Dương Cộng sản Đảng; 3. Hai đại biểu của An Nam Cộng sản Đảng.” Như thế, tổng cộng là 5 người. Đó là: Nguyễn Ái Quốc (Quốc tế Cộng sản), Trịnh Đình Cửu và Nguyễn Đức Cảnh (Đông Dương Cộng sản Đảng), Nguyễn Thiệu và Châu Văn Liêm (An Nam Cộng sản Đảng). Tuy nhiên, nhiều tài liệu khác của Đảng sau này ghi thêm hai người của Quốc tế Cộng sản cũng có mặt với tư cách khách dự thính trong Hội nghị, đó là Hồ Tùng Mậu và Lê Hồng Sơn. Vậy chúng ta có khả năng thứ hai: 7 người, đã khác so với Báo cáo ngày 7-2 [9].

Song dường như còn có một khả năng thứ ba, gợi nên từ đoạn văn nêu trên.

Tác giả bài “Đảng ta” là Hồ Chí Minh, sử dụng bút danh Trần Thắng Lợi. Nghiên cứu việc ông Hồ sử dụng những bút danh nào vào mục đích nào và thời điểm nào hẳn là việc thú vị. Trong trên dưới 50-60 bút danh, Trần Thắng Lợi chỉ được ông Hồ dùng một lần. Với thời gian, chúng ta đã đủ làm quen với việc ông Hồ không có gì áy náy khi sử dụng một bút danh lạ hoắc để ca tụng bản thân. Mới đây tôi phải bật cười khi đọc tác phẩm Giấc ngủ mười năm [10] của Hồ Chí Minh với bút danh Trần Lực, trong đó ông Hồ cho một nông dân người Nùng tên Nông Văn Minh làm nhân vật xưng tôi viết thư “dâng lên Cụ Hồ để cảm ơn Người và chúc Người mạnh khoẻ“. Té ra chữ Người viết hoa này là sáng tạo của chính Người từ thuở ấy để chỉ riêng Người. Song trong bài “Đảng ta”, Trần Thắng Lợi làm một việc độc nhất vô nhị: Với 8 chữ lạ lùng nhất trong toàn bộ trước tác của Hồ Chí Minh: ngoài đồng chí Nguyễn Ái Quốc và tôi”, Trần Thắng Lợi tức Hồ Chí Minh đã hiển ngôn rằng mình và Nguyễn Ái Quốc là hai người khác nhau.

Người đọc không bối rối mới là lạ. Mấy chữ trước đó, “trong 7, 8 đại biểu“, khiến đã rối lại càng rối thêm. Vậy số người tham dự Hội nghị thành lập Đảng không phải là 5, không phải là 7, mà có thể là 8, và người thứ 8 này phải là Trần Thắng Lợi tức Hồ Chí Minh. Tôi phải thừa nhận rằng lí giải của tác giả cuốn Hồ Chí Minh sinh bình khảo ở đoạn này có vẻ gỡ được mối bòng bong, đồng thời cũng góp phần giải thích vì sao Hồ Chí Minh có một vị trí tối thượng trong Đảng Cộng sản Việt Nam, trong khi Nguyễn Ái Quốc từng bị các lãnh tụ lừng lẫy khác của Đảng kịch liệt phê bình. Ngay trong năm 1930, Hội nghị  Trung ương tháng 10 đã xóa bỏ bản “Chính cương của Đảng” do Nguyễn Ái Quốc thảo và được Hội nghị hợp nhất thông qua bằng bản “Luận cương chính trị” của Trần Phú. Chỉ 3 năm sau ngày thành lập Đảng, ông Hà Huy Tập nhận định: “Đồng chí Nguyễn Ái Quốc là người đã có sáng kiến đề ra và lãnh đạo công cuộc thống nhất. Nhưng đồng chí đã phạm một loại sai lầm cơ hội chủ nghĩa trong thời gian hội nghị hợp nhất mà chúng ta không thể bỏ qua.” [11]

Song rất tiếc rằng giả thuyết xuất phát từ cuốn Hồ Chí Minh sinh bình khảo vấp phải một mâu thuẫn khó nhằn: nếu ông Hồ Tập Chương tức Hồ Chí Minh quả thật đã thay thế ông Nguyễn Ái Quốc mất năm 1932 [12] thì vào thời điểm năm 1949 khi viết bài “Đảng ta”, ông Hồ Tập Chương tức Hồ Chí Minh không thể nói rằng tất cả đã hi sinh, ngoài mình và Nguyễn Ái Quốc cũng như Hồ Tùng Mậu và Trịnh Đình Cửu còn sống. Rốt cuộc thì 5, 7 hay 8 người đã tham dự hội nghị thành lập Đảng? Rốt cuộc thì Hồ Chí Minh tức Trần Thắng Lợi và Nguyễn Ái Quốc là hai hay một người?

Tất cả những câu hỏi ấy đến nay đều bị né tránh.


© 2014 pro&contra


__________________________________

Phụ lục:

Trần Thắng Lợi - Đảng ta

(Tặng các đồng chí chi bộ)

Năm 1847, Mác và Ăngghen phát biểu “Tuyên ngôn Đảng Cộng sản”. Sau 70 năm cách mạng Nga thành công. Sau 98 năm cách mạng Việt Nam thành công. Hiện nay, nước nào cũng có Đảng Cộng sản và chủ nghĩa cộng sản đang lan tràn khắp thế giới. 20 triệu đảng viên cộng sản khắp các nước đang hăng hái lãnh đạo hàng trăm triệu người lao động và dân tộc bị áp bức, đấu tranh cho cuộc giải phóng của mình, cho một xã hội mới, cho chủ nghĩa cộng sản.

Đảng ta tuy trẻ trung, nhưng đã lập được những công trạng rất to tát.

Nhân ngày kỷ niệm thành lập Đảng, tôi nhắc lại vài mẩu chuyện của Đảng cho các đồng chí trẻ biết, chứ không phải viết lịch sử Đảng.

Năm 1921, trong cuộc Đại hội của Đảng Xã hội Pháp mở ở Tua (Tours), Đảng ấy chia làm hai phái. Phái thiểu số thì cứ giữ lấy Đảng Xã hội cũ. Phái đa số thì lập thành Đảng Cộng sản Pháp. Trong phái này có một người cộng sản đầu tiên của Đông Dương là đồng chí Nguyễn Ái Quốc. Từ đó, chủ nghĩa cộng sản bắt đầu vượt qua lưới sắt của chủ nghĩa đế quốc Pháp và dần dần thấm vào nước ta.
Năm 1925, đồng chí Nguyễn Ái Quốc cùng anh em cách mạng Việt Nam ở Quảng Châu tổ chức Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội. Hội này đưa thanh niên trong nước ra Quảng Châu, huấn luyện họ, rồi phái họ trở về tuyên truyền và tổ chức khắp cả nước.

Năm 1929, trong khi đồng chí Nguyễn Ái Quốc đi vắng, Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí hội khai toàn quốc Đại hội ở Hương Cảng. Đại biểu Bắc Kỳ đề nghị tổ chức đảng cộng sản, bị gạt đi, liền bỏ hội nghị ra về.

Sau đó, trong nước dần dần thành lập ba nhóm cộng sản: Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng và Đông Dương cộng sản Liên đoàn.

Một nước mà ba đảng cộng sản. Cả ba nhóm đều ngầm hiểu như thế là sai. Quần chúng đều hiểu rằng như thế là không đúng. Cả ba nhóm đều tìm cách để đi đến thống nhất. Nhưng bệnh hẹp hòi và cách làm không khéo, cho nên càng muốn gần nhau, lại càng xa nhau.

Cuối năm 1929, đồng chí Nguyễn Ái Quốc trở lại Tàu, cùng với đại biểu các nhóm khai hội ở Hương Cảng.

Trong 7, 8 đại biểu, ngoài đồng chí Nguyễn Ái Quốc và tôi, nay chỉ còn đồng chí Hồ Tùng Mậu và đồng chí Trịnh Đình Cửu, đồng chí Tản Anh và vài đồng chí nữa đều oanh liệt hy sinh cho Đảng và cho dân tộc lâu trước ngày Cách mạng Tháng Tám.

Để giữ bí mật, các đại biểu khai hội bên sân đá banh của người Tàu. Vừa giả xem đá banh, vừa bàn bạc về Đảng.

Sau cuộc bàn bạc sôi nổi, và sau lời giải thích rõ ràng của đồng chí Nguyễn Ái Quốc, mọi người đều tán thành thống nhất cả ba nhóm thành một đảng.

Thế là Đảng ta chân chính thành lập.

Đó là ngày lịch sử mồng 6-1-1930.

Sự thống nhất làm cho đảng viên và quần chúng cả nước rất vui mừng và thêm hăng hái. Do đó mà Đảng phát triển rất mau, hoạt động rất mạnh. Từ đó trở đi, phong trào cách mạng ở nước ta đều do Đảng ta lãnh đạo.

Vì có một chủ nghĩa cách mạng nhất, một tổ chức chặt chẽ nhất, chí hy sinh tận tuỵ không bờ bến của đảng viên, có sự hăng hái vô cùng của quần chúng, nên Đảng ta thành lập không bao lâu, đã lãnh đạo được cuộc khởi nghĩa Nghệ Tĩnh, thành lập Xô viết Nghệ An. Nếu so sánh lịch sử cách mạng các nước, chúng ta có thể nói rằng Xô viết Nghệ An đối với Việt Nam cũng hơi giống cách mạng 1905 Nga.

Xô viết Nghệ An đã lôi cuốn được cả công nhân, nông dân và học sinh. Đã lập nên chính quyền nhân dân. Đã làm cho giặc Pháp kinh sợ. Thật là một cuộc cách mạng oanh liệt đầu tiên do giai cấp vô sản Việt Nam lãnh đạo.

Giặc Pháp đàn áp một cách vô cùng dã man. Hàng ngàn hàng vạn đảng viên và quần chúng bị giết chết, bị tù đày. Giặc Pháp đã xoa tay mừng rằng cách mạng Việt Nam, cộng sản Việt Nam hết rồi. Chúng nào có hiểu: Có thể ngăn sông, có thể đào núi, nhưng không có lực lượng nào có thể ngăn trở chủ nghĩa cộng sản phát triển và thực hiện.

Sau trận khủng bố ghê gớm 1930-1931, năm 1933 Đảng lại hoạt động mạnh và càng ngày càng mạnh.

Nói đến đây, tôi phải nhắc đến những đảng viên đã vì Đảng, vì giai cấp, vì dân tộc mà oanh liệt hy sinh như đồng chí Lê Hồng Phong, Trần Phú, Hoàng Văn Thụ, Nguyễn Đức Cảnh, Nguyễn Văn Cừ, Lương Khánh Thiện, Minh Khai, cùng trăm nghìn đồng chí khác. Và những thanh niên cộng sản anh dũng như Trọng Con, Hồng Quang. Máu xương của các tiên liệt đã thấm nhuần gốc rễ của Đảng ta, làm cho cây nó càng vững, ngành nó càng to, và kết quả khai hoa ngày càng rực rỡ.

Thế giới đại chiến lần thứ hai bùng nổ. Một lần nữa thực dân Pháp ra tay khủng bố. Nhiều đảng viên bị bắt, bị tù. Nhưng Đảng ta vẫn đứng vững. Đảng giao cho một số đồng chí thảo kế hoạch đánh Nhật chống Pháp. Các đồng chí ấy khai hội trên một bãi cỏ ở Quảng Tây. Trong 6,7 người, tôi chỉ nhớ tên các đồng chí Phùng Tự Do (đã hy sinh ở Na Rì, Bắc Cạn), Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp.

Muốn đánh giặc, phải có quân đội. Đội du kích đầu tiên của nước ta lập ở Cao Bằng, với 12 người, trong đó có hai nữ đồng chí. Đội này do các đồng chí Lê Quảng Ba, Hoàng Sâm và Bằng Giang phụ trách. Toàn đội chỉ có một khẩu “pạc-hoọc”, hai khẩu súng kíp và giáo mác. Thấy vậy, người khác có thể cười rằng đó là trò chơi trẻ con. Nhưng chính từ cái hạt cỏn con đó mà nay đã phát triển thành hàng chục vạn Vệ quốc quân và hàng trăm vạn dân quân du kích đang oanh liệt kháng chiến từ Bắc đến Nam, làm cho giặc Pháp phải kinh hồn, thế giới phải khen phục.

Trong mấy tháng, đội du kích số một ấy phát triển đã khá. Đảng giao cho đồng chí Võ Nguyên Giáp cải tổ thành đội Nam tiến. Khi đã lấy lại sáu tỉnh Việt Bắc và đã lập chính quyền nhân dân, đội Nam tiến đổi tên là Quân Giải phóng. Cách mạng Tháng Tám thành công, Chính phủ Cộng hoà thành lập, Quân Giải phóng trở nên Vệ quốc quân.

Năm nay, Đảng ta mới 19 tuổi. Nhưng suốt 19 năm ấy, năm nào cũng là một năm đấu tranh dũng cảm. Kinh qua bao nhiêu cơn sóng gió, bao nhiêu bước khó khăn, càng nhiều gian nan, Đảng ta càng nhiều rèn luyện, càng thêm vững chắc và rộng lớn. Nhờ chính sách đúng, lãnh đạo chắc, kỷ luật nghiêm, nhờ tư tưởng thống nhất, mà Đảng ta và dân tộc ta được những thắng lợi vẻ vang ngày nay.

Tuy vậy, chúng ta tuyệt đối không được tự kiêu, tự đại.

Chúng ta có nhiều thành công, nhưng chúng ta cũng còn nhiều khuyết điểm. Mỗi đồng chí ta cần phải mạnh dạn và thành thật kiểm điểm mình, kiểm điểm đồng chí mình.

- Đã bỏ hết bệnh chủ quan, hẹp hòi chưa?
- Đã bỏ hết tư ý tiểu khí chưa?
- Đã luôn cố gắng học tập, luôn luôn cầu tiến bộ chưa?
- Đã thực hiện đoàn kết 100% chưa?
- Đã thật cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư chưa?
- Đã thật là người kiểu mẫu trong phong trào thi đua ái quốc chưa?

Nếu chưa thì phải làm cho kỳ được.

Sứ mệnh của Đảng ta rất to. Công việc Đảng ta rất nhiều. Đảng đòi hỏi chúng ta phải làm trọn nhiệm vụ của đảng viên.

Không có vinh dự nào to bằng cái vinh hạnh được làm đảng viên của Đảng Cộng sản. Vì vậy, bất kỳ ở hoàn cảnh nào, làm công việc gì, chúng ta cũng phải kiên quyết làm cho xứng đáng với vinh hạnh ấy. Như thế, thì dân tộc giải phóng nhất định thành công, thế giới cách mạng nhất định thành công.

Trần Thắng Lợi

(Viết đầu năm 1949. Tập san Sinh hoạt nội bộ, số 13, tháng 1-1949. Ban Chấp hành tỉnh Đảng bộ Hà Đông xuất bản thành sách năm 1950)

NguồnHồ Chí Minh toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội 2000, tập 5

[1] Hồ Chí Minh toàn tập, tập 5, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội 2000

[2] Theo thông tin trên Tạp chí Cộng sản: “Tạp chí Sinh hoạt Nội bộ ra đời tháng 8-1947, với tư cách là ‘cơ quan trung ương huấn luyện công tác và lý luận’. Nhưng vì hồi bấy giờ Đảng không ra công khai, cho nên trên bìa số 1 ghi là ‘của Cứu quốc Hội’, từ số 2 đến số 13 ghi là ‘của Đoàn thể’, và từ số 14 (ra tháng 2-1949) ghi là ‘của Đảng’… Tạp chí Sinh hoạt Nội bộ do đồng chí Trường Chinh, Tổng Bí thư Đảng, trực tiếp phụ trách. Đồng chí Trường Chinh định ra kế hoạch từng số và phân công người viết bài… Từ khi ra đời (tháng 8-1947) cho đến tháng 3-1950, Sinh hoạt Nội bộ đã xuất bản được 20 số. Từ tháng 3-1950, tạp chí Sinh hoạt Nội bộ  đình bản, và sau đó được thay thế bằng Tạp chí Cộng sản.”

[3] Hồ Chí Minh, sđd, tập 3

[4] Nguyên bản tiếng Pháp “Essai d’histoire du mouvement communiste en Indochine”, tác giả là Hồng Thế Công, một bút danh của Hà Huy Tập.

[5] Văn kiện Đảng, tập 4

[6] Văn kiện Đảng, tập 21

[7] Nguyễn Minh Cần, Đảng Cộng sản Việt Nam qua những biến động trong phong trào cộng sản quốc tếbản lưu hành trên Internet

[8] Văn kiện Đảng, tập 2

[9] Điều đáng lưu ý là đầu năm 1949, khi Hồ Chí Minh viết bài “Đảng ta”, Nguyễn Đức Cảnh, Châu Văn Liêm và Lê Hồng Sơn (tức Tản Anh) đã bị chính quyền thực dân Pháp giết hại từ lâu, nhưng trong số người còn lại có Nguyễn Thiệu, khi đó ở miền Nam, mà ông Hồ không hề nhắc đến. Hai năm sau, khi Hồ Tùng Mậu cũng hi sinh trong kháng chiến, hai người duy nhất còn lại ngoài Nguyễn Ái Quốc là Nguyễn Thiệu và Trịnh Đình Cửu. Cả hai ông đều chỉ lên tới những chức vụ hữu danh vô thực bậc trung trong bộ máy lãnh đạo của Đảng, một trở thành Giám đốc Viện Bảo tàng Cách mạng, một trở thành Phó Giám đốc Trường Đảng Nguyễn Ái Quốc, nay là Học viện Hồ Chí Minh.

[10] Tổng bộ Việt Minh xuất bản năm 1949. Hồ Chí Minh, sđd, tập 5

[11] Hà Huy Tập, “Essai d’histoire du mouvement communiste en Indochine”, bài đã dẫn

[12] Trong bài “Kỷ niệm 3 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Đông Dương” 1933, Văn kiện Đảng, tập 4, ông Hà Huy Tập cũng nói rõ rằng “đồng chí Nguyễn Ái Quốc bị ám sát trong các nhà tù địa ngục của Hồng Công.